Tag Archive | Hồ Chí Minh

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (IV)

Phái đoàn từ giã Biarritz đi paris – đi thǎm phong cảnh trong xứ basque
và dự những cuộc vui nhà quê – Bộ trưởng bộ quân giới từ paris xuống thǎm chủ tịch.

Ngày 15 tháng 6

Được tin Thượng sứ D’Argenlieu từ Sài Gòn về đến Paris.

11 nghị viên Algériens lập thành phái dân chủ, tên là “Union démocratique du Manifeste Algérien”. Chủ tịch là ông Ferhat Abbas, Phó Chủ tịch Saadane và Nolefai, Thư ký Boutaren.

Ngày 16 tháng 6

Phái đoàn ta từ giã Biarritz đi Paris.

Hôm nay, Cụ Chủ tịch và mấy tuỳ viên đi xem làng mạc gần Biarritz, giáp giới Tây Ban Nha. Nước Pháp và Tây Ban Nha chỉ cách nhau một giòng suối nhỏ. Bên kia suối cách vài trǎm thước lại có chòi canh của Tây Ban Nha. Có một con đường xe lửa thông nước Pháp với Tây Ban Nha, nhưng vì tình thế chính trị, hiện nay hai bên đều đóng biên giới.

Ngày 17 tháng 6

Đi thǎm phong cảnh miền núi Pyrénée. Dân làng Sare đặc biệt tổ chức một cuộc múa và một trận đánh cầu “Pelote” để hoan nghênh Cụ Chủ tịch. 20 trẻ em gái và 20 cô thiếu nữ mặc áo quần địa phương, do một người thầy dậy múa chỉ huy múa theo nhịp âm nhạc. Pelote là một thứ cầu riêng của xứ Basque. Quả cầu giống quả cầu vợt (tennis) nhưng nặng hơn. Vợt thì đan bằng mây, dài hơn cánh tay, hình giống cái liềm, nòng vũm và rộng, đút tay vào được. Người đánh cầu chia làm hai phe, mỗi bên 4 người, đánh vào bức tường rất cao và rộng. Người phe A đánh vào tường, cầu nhảy ra, người phe B đón cầu đánh vào tường. Đánh đi đánh lại, bên nào đánh hụt bên ấy thua.

Người đến xem rất đông. Khi cuộc đánh cầu và cuộc múa xong, các chức việc trong làng mời Cụ Chủ tịch và anh em tuỳ viên đi uống rượu. Trẻ em xúm xít chung quanh. Cụ Chủ tịch chụp một bức ảnh với các em để làm kỷ niệm.

Trong khi chuyện trò, người làng nói một cách thật thà rằng: trong làng người nào cũng có buôn lậu, vì vùng này gần biên giới Tây Ban Nha.

Hôm nay các báo bắt đầu nói về việc nước ta.

Ở Pháp thì vấn đề tǎng lương 25% cho những người lao động đương là vấn đề chính và gay go.

Đời sống của dân Pháp còn hạn chế. Thí dụ: bánh mì mỗi người mỗi ngày được 300 gam, rượu vang mỗi tháng 2 lít. Bơ mỗi tháng 50 gam, đường mỗi tháng nửa cân, thịt mỗi tuần 100 gam. Thuốc lá mỗi tháng 6 gói thuốc (mỗi gói 20 điếu) và 1 gói thuốc rời. áo quần và giầy, theo người làm trong lữ quán nói thì từ lúc chiến tranh đến giờ, họ chỉ mua được một bộ quần áo và một đôi giầy.

Ngày 18 tháng 6

Dân Pháp kỷ niệm kháng chiến. Khắp cả nước đều có cuộc vui. Sáng sớm, Cụ Chủ tịch đặt vòng hoa trước Đài chiến sĩ trận vong. Buổi chiều, dân sự nhảy đầm, đồng thời có cuộc “Múa bò”. Người ta làm con bò giả bằng giấy, do hai người đội đi. Trên sừng bò cột các thứ pháo hoa. Khi pháo cháy thì bò xông vào những đám đông, mọi người đều reo cười, chạy tán loạn. Trò này giống trò múa sư tử ở ta.

Những việc chính trị trọng yếu trong ngày hôm nay:

Đại giáo chủ Hồi Hồi thân Đức mà từ trước đến nay bị giam lỏng ở Pháp, hôm vừa rồi trốn đi. Báo Pháp và báo thế giới ầm ĩ nói về việc đó.

Nước ý sắp sửa bỏ vua để lập chính phủ Cộng hoà.

Ở Palestine, dân Do Thái bạo động.

Các báo đều đǎng kết quả cuộc tuyển cử ngày 2 tháng 6 vừa qua, so với cuộc tuyển cử ngày 21 tháng 10 nǎm ngoái.

Tuyển cử ngày 21-10-45

Tuyển cử ngày 2-6-46

Số phiếu

Số nghị viên

Số phiếu

Số nghị viên

458 vạn

148

M.R.P

659

165

500 –

Cộng sản

414

50

419 –

137

Xã hội

418

123

288 –

1)

Cộng hoà tự do

252

63

201 –

39

Phái tả

229

40

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (III)

Một chặng bay dài nhất: 2613 cây số – biarritz, nơi cụ dừng chân trước khi đến paris –
kiều bào khắp thế giới đánh điện về biarritz.

Ngày 9 tháng 6

Sáng nay, được tin Paris nói: Chính phủ Pháp mời Hồ Chủ tịch đến Cannes (Pháp) tạm nghỉ, chờ Chính phủ mới thành lập, sẽ đón Cụ Chủ tịch về Paris.

Cụ Chủ tịch và mấy anh em trong phái đoàn đi xem Kim tự tháp Sekharat.

Tháp này lâu đời hơn tháp ở Le Caire. Và ở đây có những “mả chôn bò” đời xưa.

Mả ở trong một cái hầm sâu và rộng thênh thang. Vào xem phải có đèn đuốc. Cách một đoạn lại có một mả bò. Bây giờ chỉ còn hòm chứ bò không còn nữa. Hòm làm bằng đá, mài trơn lỳ hoặc có chạm trổ, dài hơn 3 thước tây, ngang chừng 2 thước, cao hơn 2 thước, đặt trên những bệ bằng đá. Đó cũng là những công trình to tát.

Vì tôn giáo đời xưa xem bò là một thứ súc vật thiêng liêng, cho nên kính trọng nó như thế. Bây giờ ở ấn Độ cũng vẫn còn kính trọng bò.

ở đây, đền chùa đời xưa di tích còn nhiều. Những di tích đó tỏ cho chúng ta biết rằng: nghề kiến trúc và chạm trổ hồi đó rất khéo. Nhiều tường vách trong đền chùa có những bức vẽ, tả đời sống của vua chúa đời đó, màu sắc vẫn còn tươi. Nhớ lại trong Viện khảo cổ có những cành lá và những xác người đã cách mấy ngàn nǎm vẫn còn nguyên vẹn, chứng tỏ rằng nghề chế thuốc đời xưa giỏi lắm.

Hiện nay có một nhà bác học người Pháp phụ trách xây dựng đắp lại những đền đài ở Sakharat.

Ngày 10 tháng 6

Hôm nay lại được điện Paris nói khác với điện hôm qua, mời Hồ Chủ tịch đến Biarritz, chứ không phải đến Cannes. Anh em có người đề nghị đi xem Ismalia ở trên kênh Suez. Có người lại đề nghị nghỉ cho khoẻ để mai đi.

Đi dạo các hàng bán sách. Người ta nói: ở đây có nhiều thứ sách Pháp mà bên Pháp không có bán, vì ở đây giấy rẻ, dễ in hơn. Cũng như xe hơi Pháp, ở Pháp lại khó mua hơn ở đây.

Khát nước, Cụ Chủ tịch vào hàng cà phê uống nước chanh. Hàng này cây nhiều, sân mát, khách ngồi đầy cả trong ngoài. Đương ngồi uống nước thì có một người đi lại, nói một cách rất lễ phép xin chụp ảnh Hồ Chủ tịch.

Anh em mỗi người mua một ít sách, rồi về soạn sửa để mai đi.

Ngày 11 tháng 6

Sáng sớm từ giã Le Caire, bay đến Bengasi, 1.090 cây số. Nghỉ lại ǎn cơm. Ǎn rồi lại bay. Bengasi thuộc xứ Tripolitaine, trước là thuộc địa ý, nay có quân đội Anh đóng. Có một ít tù binh Đức làm công tại trường bay.

Gần chiều thì bay đến Biskra, 1.523 cây số.

Thế là hôm nay bay xa nhất, cộng = 2.613 cây số.

Đến nơi thì có ông Tỉnh trưởng và ông Huyện trưởng người Pháp đón tiếp. Khí trời nóng nực, thành phố sơ sài. Nghỉ một lát, đi thǎm vườn cây chà là của ông Ben Ali, người Arabe, hội viên thành phố. Ông là nhà quý tộc bản xứ, có qua học ở Pháp.

Chiều tối, bên cạnh lữ quán có chiếu bóng ngoài sân, đứng trên hiên xem xuống cũng được. Đại khái chiếu truyện sau này:

“Nước quân chủ nọ có một ông vua trẻ con. Mẹ vua ở một nước bên Âu. Vua đi thǎm mẹ, theo trẻ con chơi đùa thích lắm. Lúc trở về nước, đi đến nửa đường thì được tin trong nước cách mệnh, lập nền cộng hoà. Vua bé chẳng những không buồn rầu mà lại vui mừng hớn hở, nói rằng: “Tôi không phải làm vua ngồi ngai vàng nữa! Tôi lại được chơi đùa vốc đất với trẻ con, sướng quá, sướng quá!”.

Tin tức: Báo “Rạng đông” (Aurore) đǎng: Đã mấy tháng nay, mấy vạn người trong thành phố này không được ǎn một miếng thịt tươi.

Ngày 12 tháng 6

Bay từ Biskra (Algérie) đến Biarritz, 1.525 cây số.

Vì chính phủ Pháp chưa thành lập, chưa có ai chính thức đón tiếp Hồ Chủ tịch, nên Cụ nghỉ lại ở Biarritz vài hôm.

Biarritz là một bãi bể nghỉ hè ở miền tây nam nước Pháp, gần Tây Ban Nha. Phong cảnh tuyệt đẹp. Lâu đài và lữ quán lịch sự rất nhiều.

Cụ Chủ tịch và phái đoàn ở lữ quán Carlton, là một lữ quán rất lịch sự ở Biarritz.

Ngày 13 tháng 6

Hôm nay nhiều đại biểu kiều bào ở khắp các nơi trong nước Pháp đến chào Cụ Chủ tịch. Nhiều anh em cùng vợ con đến chào Cụ. Lại rất nhiều kiều bào quyên tiền nhờ Cụ Chủ tịch đưa về cho Tổ quốc. Tuy số tiền không là bao, nhưng tấm lòng hǎng hái yêu nước thế thật là quý báu. Cụ Chủ tịch có gửi thơ cảm ơn các kiều bào đó.

Rồi kiều bào ở Pháp, ở Anh, ở Mỹ, ở Nouvelle Calédonie và các nơi khác khắp thế giới đều có gửi điện chúc mừng Cụ Chủ tịch và tỏ lòng yêu mến Tổ quốc.

Ngày 14 tháng 6

Hôm nay cũng như mọi ngày khác, sớm dậy thì Cụ Chủ tịch và anh em ra bãi bể chơi chừng một tiếng đồng hồ. Đến lúc về đã có kiều bào hoặc các nhân sĩ Pháp đến thǎm.

Các đoàn thể Pháp, như Tổng Công hội (C.G.T), Hội Pháp – Việt, v.v. có gửi điện chào mừng và hoan nghênh Cụ Chủ tịch.

Hội Pháp – Việt mới thành lập được mấy hôm trước. Mục đích của Hội là giúp cho Việt Nam độc lập. Trong Hội có tất cả các đảng phái. Trong Ban trị sự thì có những người danh tiếng như ông Justin Godart, ông Francis Jourdain, Tướng Petit, v.v.. Phụ nữ thì như bà Joliot Curie, một nhà khoa học nổi tiếng toàn thế giới, bà Braun đảng viên cộng sản, Phó Chủ tịch Quốc hội Pháp, bà Andrée Viollis, một nhà viết báo nổi tiếng khắp toàn cầu. Hội này mới ra một tờ báo hàng tuần nói về việc nước ta. Hội có giao thiệp mật thiết với kiều bào ta, nhưng hội viên toàn là người Pháp. Đã có một vài tỉnh lập ra Hội nhánh.

Về việc Hội nghị Việt – Pháp, chưa nhất định nơi nào. Các báo Pháp, báo thì nói sẽ khai tại Compiègne, báo thì nói sẽ khai tại Paris hoặc Chantilly, báo thì nói rõ sẽ khai tại Fontainebleau.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (II)

Từ ấn độ sang miền tiểu Á – Ai Cập, đất Anh đóng quân, nhưng Ai Cập không dự chiến – đi xem “thành phố ma”.

Ngày 4 tháng 6

Bay từ Calcutta tới Agra. Chừng 1.630 cây số.

Khí trời rất nóng.

Buổi chiều, Cụ Chủ tịch và anh em phái đoàn đi xem mấy nơi cổ tích ở Agra:

1. Lâu đài Delhi Gate do vua ấn Độ là Schab Djihan xây đắp từ thế kỷ thứ 17. Lâu đài này làm toàn bằng đá, rất to lớn và rộng rãi; kiến trúc rất khéo.

2. Lǎng Taj Mahab của bà Noor Mahab, vợ vua Schab Djihan xây bằng đá trắng. Chung quanh có vườn rộng, cây cối um tùm. Trước cửa có đài vuông cũng xây bằng đá trắng, giữa đài có hồ nước. Từ đài vào đến lǎng, hồ nước dài hơn hai trǎm thước, bờ hồ cũng toàn bằng đá trắng. Nền lǎng rất cao. Bốn góc có bốn tháp tròn, cũng bằng đá trắng, trong có bực thang lên đến ngọn tháp. Lǎng to lớn như một toà nhà vuông, hai từng trên, một từng hầm. Chạm trổ tỷ mỷ. Đi vào xem phải tháo giầy hoặc mang dép vải của những người ấn Độ chực sẵn cho thuê nơi cửa. Từng trên thì để mả giả. Dưới hầm mới chính là mả thật. Đứng bên mả mà nói to thì có tiếng vang dội khắp cả lǎng. Thường ngày có nhiều người ấn Độ vào cầu nguyện.

Ngày 5 tháng 6

Từ Agra bay đến Karachi, 1.140 cây số.

Ông Tổng đốc người Anh là Sir Mudi mời Cụ Chủ tịch đến nghỉ tại Phủ tổng đốc. Anh em phái đoàn thì ngủ tại lữ quán. Buổi trưa, quan tuỳ tùng đưa Cụ Chủ tịch đi xem thành phố Karachi. Thành phố này buôn bán và công nghệ không có gì mấy.

Xem thành phố rồi đi xà lúp ra bể chơi.

Karachi tuy nóng nực, nhưng trong Phủ tổng đốc khá mát mẻ. Phòng ngủ có buồng tắm. Có sách vở, báo chí, giấy bút. Có đồng hồ. Có giấy in rõ cho khách biết giờ nào ǎn, giờ nào có xe đi đâu, muốn giặt quần áo thì nên thế nào, v.v..

Cách sắp đặt rất thanh nhã và tiện lợi cho khách. Ǎn uống thì giản đơn nhưng mà lịch sự. Trong lúc nói chuyện, ông Tổng đốc nói rằng: Chính phủ Anh ở Luân Đôn đã báo tin cho ông ấy biết có Hồ Chủ tịch đi qua đó và dặn ông tiếp đãi.

Chiều, lúc ǎn cơm có gặp Phó Toàn quyền người Hà Lan vừa ở Nam Dương về. Ông ấy tỏ ý vấn đề Nam Dương cũng còn khó khǎn.

Ngày 6 tháng 6

Từ Karachi bay đến Habagna. Đoạn này dài nhất: 2.610 cây số.

Trưa đỗ lại ở Schaba để ǎn cơm và lấy dầu. ở đây cũng rất nóng. Nóng đến nỗi không có cây cỏ gì hết. Trên tàu bước xuống, hơi nóng như lửa đốt. Mọi người phải vội vàng đến nấp dưới bóng cánh máy bay. Muốn cho có bóng mát, người Anh làm những cây và cỏ bằng kẽm, sơn màu xanh biếc. Đứng xa, trông thấy tưởng là cây cỏ thật. Một điều mà ai nấy đều nhận thấy là trường bay của người Anh tổ chức rất chu đáo. Khách muốn ǎn cứ việc qua bàn giấy lấy bông, rồi vào phòng ǎn thì liền có người nhận bông và đưa thức ǎn cho. Mỗi sân bay đều có một cửa hàng nhỏ bán các thứ cần dùng cho khách, như bàn chải rǎng, thuốc rǎng, kính, kẹo, thuốc lá, xi đánh giầy, các báo chí, v.v..

Habagna là đất xứ Irak; thành phố chưa có gì, chỉ có trường bay và những nhà cửa cho nhân viên và lữ quán cho khách qua lại, do người Anh quản lý.

Ngày 7 tháng 6

Từ Habagna bay đến Le Caire, 1.386 cây số.

Khi qua Jérusalem, máy bay có bay một vòng trên kinh thành để mọi người được xem lǎng chúa Jésus. Tiếc là không có địa đồ chỗ đó, nên chỉ thấy cây cối nhà cửa, không biết lǎng ở nơi nào.

Lúc đến, Le Caire có đại biểu sứ thần Pháp ra đón. Hồ Chủ tịch đến nghỉ tại sứ quán Pháp. (Sứ thần đi vắng). Các anh em Phái đoàn thì nghỉ tại lữ quán.

Nghỉ lại đây 3 hôm.

Ngày 8 tháng 6

Theo phép lịch sự, Cụ Chủ tịch cùng Tướng Salan và Đại biểu Pháp đi thǎm vua Ai Cập. Nhà vua đi vắng. Nội vụ đại thần là ông Mahmoud Siouf Bey thay mặt vua ra tiếp chuyện và mời uống cà phê, một thứ cà phê gọi là cà phê Ai Cập hoặc cà phê Turque, có tiếng là rất ngon, pha trong chén nhỏ xíu.

Quan nội vụ đại thần có thay mặt vua đến chào lại Hồ Chủ tịch. Nhưng Cụ Chủ tịch đi vắng. Ông ấy để thư và danh thiếp lại tỏ ý cảm ơn.

Le Caire là kinh đô nước Ai Cập, ở gần Địa Trung Hải, nằm trên bờ sông Nil. Dân số hơn 2 triệu. Thành phố đắp theo kiểu mới. Nhà cửa, phố xá nguy nga, trồng cây hai bên. Trên chợ dưới thuyền, cảnh thật sầm uất.

Mấy nǎm chiến tranh, tuy có quân Anh đóng trong nước, nhưng Ai Cập không tham chiến. Người Ai Cập lợi dụng dịp đó mà buôn bán trở nên giàu có khá nhiều.

Có các thứ báo bằng tiếng Ai Cập, tiếng Pháp và tiếng Anh.

Ai Cập tuy trong vòng ảnh hưởng của nước Anh, nhưng người Ai Cập lại ham vǎn hoá Pháp. Người Pháp có mở nhiều trường học ở đây.

Lúc này Ai Cập đương yêu cầu Anh rút quân đội đi. Cuộc đàm phán chưa có kết quả, cho nên không khí có vẻ nặng nề.

Hồ Chủ tịch và phái đoàn đi xem Viện khảo cổ Ai Cập.

Viện này nổi tiếng trong thế giới. Lúc đến, có ông Giám đốc Viện Prioton ra tiếp và dẫn đi xem. Ông là một nhà bác học Pháp, rất giỏi về khoa khảo cổ. Trong Viện này có những quý vật từ đời thượng cổ, cách đây đã 4, 5 nghìn nǎm. Những ngai, hòm toàn bằng vàng của các vua chúa đời đó. Những pho tượng bằng đá, những thứ vòng, xuyến, chén, đĩa bằng ngọc, bằng vàng, chạm trổ cực khéo. Nếu đem những thứ đó so với ngày nay thì thấy rằng: thủ công nghệ đời nay không hơn gì đời xưa.

Gần chiều, đi xem “Thành phố ma”.

Đó là một nghĩa địa. ở gần bên thành phố. Nhà cửa, đường sá không khác một thành phố cho người sống ở. Nhưng suốt ngày lặng ngắt vắng tanh. Chiều lại mới có người đến cúng vái.

Cách đó không xa, có một pháo đài to lớn có lính Anh đóng. Đứng trên có thể xem suốt thành phố Le Caire. Pháo đài này đắp theo kiểu Mông Cổ. Trong cuộc đàm phán, Chính phủ Anh hứa trong vài tháng nữa sẽ trả pháo đài ấy cho Ai Cập.

Xem pháo đài rồi, đi xem Kim tự tháp. Xung quanh tháp, toàn là bãi cát, không có cây cối gì. Hình tháp ba góc, như cái bánh ú. Dưới to trên nhỏ, cao như hòn núi, toàn xây bằng những hòn đá vừa vuông vừa dài chừng 3, 4 thước tây. Đá đó đem từ nơi khác đến, cách đây có hàng trǎm dặm. Đời xưa chưa có máy móc, mà lấy được những hòn đá to như thế, đắp được những cái tháp cao như thế, thật là một công trình to lớn.

Gần bên tháp có một con thú bằng đá, đầu thì như đầu đàn bà, mình thì như mình sư tử, nằm trên cái bệ. Riêng cái bàn chân nó đã cao quá đầu người đứng. Đêm trời sáng trǎng, trông vào tượng đá, đượm một vẻ nghiêm trang thần bí lạ!

Chiều hôm nay, Sứ quán Pháp làm tiệc hoan nghênh Hồ Chủ tịch. Đến dự tiệc có các ông: Đô đốc Amalrich, giáo sư Jouguet, Tướng Salan, Nhà bác học Brioton, Bà Camborde, Bà De Bataille…

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (I)

Chặng bay đầu tiên: Gia Lâm – Pégou 1.368 cây số – Phong cảnh thành phố Calcutta – Lòng yêu nước của kiều bào ta ở bên nước Ấn Độ

Ngày 31 tháng 5

Từ tờ mờ sáng, hai bên đường từ Hà Nội sang Gia Lâm, anh em tự vệ đã đứng gác, cách 10 thước một người. Quần chúng rất đông.

Trong trường bay Gia Lâm, bộ đội ta, bộ đội Pháp, các đoàn thể, các bà con và đại biểu Hoa kiều đã chờ sẵn để tiễn chân Hồ Chủ tịch và phái đoàn. Khi xe Cụ Chủ tịch tới, tiếng hoan hô nổi dậy không ngớt. Cụ Chủ tịch, ông Phạm Vǎn Đồng, tướng Valuy và tướng Salan đi duyệt qua hai đạo binh Việt và Pháp. Quốc ca hai nước nổi dậy hùng hồn. Sau đó, các đại biểu tặng hoa. Hồ Chủ tịch cùng mọi người bắt tay ân cần từ biệt, rồi bước lên máy bay.

Hai chiếc máy bay Dakota kiểu Mỹ từ từ mở máy. Trên máy bay và dưới đất, khǎn tay vẫy lên như bướm bay, giữa tiếng hoan hô và tiếng máy nổ ầm ầm. Máy bay lượn quanh vòng rồi vượt nghiêng về phía tây.

Một chiếc cho anh em phái bộ. Một chiếc trên có Hồ Chủ tịch với ông Phạm Vǎn Đồng, ông Hoàng Minh Giám, bác sĩ Nguyễn Vǎn Luyện, ông Nguyễn Đệ và hai tuỳ tùng của Cụ Chủ tịch là các ông Vũ Đình Huỳnh, Đỗ Đình Thiện, cùng với tướng Salan, ông Darcy, đại uý Cartier. Những người làm tàu, có trung uý Oignon, ông Sehacgla, thiếu uý Séguineau, thiếu uý Poicar coi vô tuyến điện, ông Dumas coi máy. Máy bay Dakota trung bình mỗi giờ bay chừng 280 cây số. Hôm nay bay từ Hà Nội đến Pégou, một trường bay gần Rangoon (kinh đô Diến Điện) đúng 1.368 cây số.

Khi gần đến Rangoon gặp cơn giông, phải bay cao hơn 4.000 thước tây. Vì vậy mà có người lạnh, mà khó thở, đau lỗ tai.

Trường bay cách thành phố Rangoon xa, đi lại không tiện. Phải ngủ lại ở Pégou. Nhà ngủ rộng rãi, thoáng mát, có đủ điện, nước. Sự ǎn uống thì do người Anh cung cấp. Họ tiếp đãi một cách rất lịch sự.

Sân trường bay này khác với những trường bay khác, toàn lót bằng những tấm sắt mỏng, lỗ chỗ những lỗ tròn to bằng cá ũi bát. Mỗi tấm sắt rộng chừng một thước, dài hai thước tây. Họ lót cặp díp trên một tấm, dưới một tấm. Sân bay xây bằng cách này thực tiện và mau chóng hơn làm bằng đá hoặc ciment.

Ngày 1 tháng 6

Sớm dậy, sau bữa lót dạ, bay đến Calcutta thì nghỉ lại. 1.093 cây số.

Khi đến trường bay, có một thiếu tá người Anh coi trường bay, cùng với đại biểu Toàn quyền Anh và lãnh sự Pháp đến đón chào Hồ Chủ tịch. Lãnh sự Pháp đưa Cụ đến nghỉ tại lữ quán lớn nhất ở Calcutta là lữ quán The Great Eastern. Sẽ nghỉ lại ở đó hai ngày.

Ngày 2 tháng 6

Cụ Chủ tịch đi thǎm vị Toàn quyền Anh, rồi đi xem thành phố Calcutta.

Thành phốalcutta rất rộng, hơn 4 triệu người. Trong lúc chiến tranh, quân đội Anh và Mỹ đóng ở đó rất đông. Bây giờ đã rút bớt nhiều. Có từng dãy phố cửa hàng vuông vắn chừng một thước tây, như một cái hòm. Hàng hoá sắp chung quanh, người chủ ngồi xếp bằng chễm chệ ngồi chính giữa tưởng như không bao giờ đứng dậy và cũng không có chỗ mà đứng dậy bước ra được nữa! Lại có 1 cửa hàng cũng vuông và to đúng như thế chồng trên cửa hàng đó.

Ngoài đường, từng lũ bò tự do đi nghênh ngang. Có lúc chúng nằm ngổn ngang giữa đường đi hoặc ngay trước hè phố. Người ta để mặc, không ai dám động đến, vì người ấn Độ xem bò là vật thiêng liêng.

Theo phong tục ở đây, đàn bà con gái rất ít đi ra ngoài. Buổi chiều gió mát, ngoài đường đông đặc đàn ông, nhưng không thấy đàn bà. Chiều hôm nay có cuộc đá bóng, hàng vạn người đi xem, mà không thấy một người đàn bà nào.

Tại các quán cơm, trong phòng đầy những người hầu. Một bàn 4, 5 người khách, cũng có đến 4, 5 người hầu.

Được tin Hồ Chủ tịch đến Calcutta, các báo ấn Độ và báo Anh đến phỏng vấn, và đǎng ảnh với tiểu sử của Hồ Chủ tịch. Họ mời Cụ Chủ tịch đến chơi, nhưng vì ít thì giờ Cụ chỉ đến thǎm được một báo. Cả toà soạn và công nhân xúm xít lại chào đón và tiếp đãi một cách thân mật. Các báo ấn Độ đều tỏ ý đồng tình với cuộc vận động độc lập của Việt Nam.

Có mấy kiều bào ta ở các tỉnh, nghe tin Hồ Chủ tịch đến Calcutta, cũng vội vã vượt mấy trǎm cây số về yết kiến. Nói chuyện mười phút đồng hồ, rồi lại vội vã ra về. Việc nhỏ mọn ấy cũng đủ tỏ tấm lòng yêu nước của đồng bào ta ở ngoại quốc.

Ngày 3 tháng 6

Hôm nay ông chủ tỉnh Chandernagor mời Hồ Chủ tịch đến chơi. Chandernagor là một thuộc địa của Pháp cách Calcutta chừng 60 cây số. Thật ra có thể nói thị trấn này là một bộ phận của Calcutta, vì từ Calcutta đến Chandernagor có nhà cửa phố xá liền nhau. ở Chandernagor rất yên tĩnh, buôn bán ít, không ồn ào như ở Calcutta. ở đây người ta cũng tiêu tiền ấn Độ, chứ không có tiền riêng.

Ông chủ tỉnh là một người thanh niên hoạt bát và nhã nhặn. Cả tỉnh chỉ có 4, 5 người Pháp. Hôm nay dân Chandernagor đang bầu cử một người nghị viên để tham gia quốc hội Pháp. Tất cả nǎm tỉnh thuộc địa Pháp ở ấn Độ được bầu một nghị viên. Ông nghị này là người ấn Độ.

ở Chandernagor, cũng có uớc 20 người kiều bào ta, vừa đàn ông, đàn bà và trẻ con. Trước kia ở Vân Nam, sau người Pháp đem về ở Chandernagor. Mọi người đều ở chung một nhà. Khi Cụ Chủ tịch đến thǎm, anh chị em vui mừng và cảm động lắm. Lúc Chủ tịch về, mấy chị phụ nữ cảm động khóc nức nở cố muốn giữ Cụ ở lại.

Buổi chiều, Cụ Chủ tịch thết tiệc Lãnh sự Pháp và những người tai mắt Pháp ở Calcutta và Chandernagor.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp

Bức thư gửi cho hai em

Đ.H.viết

Em Xuân và em Lan,

Chắc các em cũng như tất cả thanh niên, tất cả đồng bào. Các em yêu nước cho nên các em yêu mến Cụ Hồ. Vì Cụ Hồ chỉ biết có nước chứ không biết có mình. Vì nước có cụ Hồ mà làm cho chúng ta càng yêu mến nước.

Anh còn nhớ hôm nọ, cả ngày hai em tỏ vẻ bǎn khoǎn. Hỏi ra mới biết: hai em nghe nói Cụ Hồ ho. Hôm sau hai em vội vàng gửi gói thuốc ho biếu Cụ. Em Nhàn và mấy chị em khác cũng làm như các em.

Khi phái đoàn ta qua Pháp khai hội thì Chính phủ Pháp mời Cụ Hồ qua chơi. Thấy nói Cụ đi bằng tàu bay thì hai em tò mò hỏi han: Đi máy bay có nhọc mệt không? Mấy ngày đến nơi? Thậm chí có bạn em lại rủ nhau viết thơ cho Cụ, xin Cụ cho đi.

Ngày Cụ sắp lên đường, gió mưa như trút, và dù hai em ở xa, hai em cũng cố đi biểu tình cho được. Không khác gì cả, chỉ mong được đi đến Học xá, được trông thấy Cụ Hồ.

Các máy bay còn đương bǎng đường sang châu Âu mà anh đã tiếp được những bức điện của các em và các đoàn thể đánh theo hỏi thǎm tin của Cụ.

Những việc nhỏ đó tỏ cho anh biết rằng: hai em và các bạn luôn luôn nhớ Cụ Hồ, muốn biết Cụ mạnh giỏi thế nào ? Ǎn uống ra sao? Đi những đâu? Gặp những ai? Nói những chuyện gì? Người nước Pháp đối với Cụ thế nào? Người các nước khác đối với Cụ thế nào? Biết bao nhiêu là câu hỏi muốn được trả lời.

Mấy bạn anh và anh được cái may theo Cụ sang Âu châu. Cho nên muốn các em vui lòng – nhưng phải chǎm học nữa vào cơ!- chúng anh tặng các em món quà này. Chúng anh ghi chép hành trình và công việc mỗi ngày của Cụ gửi về cho các em xem. ồ như anh đã trông thấy Xuân và Lan cười, đòi xem ngay, đây các em đọc.

Đ.H.

cpv.org.vn

——————————–

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Nhận thức rõ để hành động tốt hơn theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Tổng kết 4 năm Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” không chỉ là dịp để chúng ta thống nhất đánh giá kết quả bước đầu sau gần 4 năm thực hiện Cuộc vận động, mà còn khẳng định thành tích, ưu điểm, chỉ rõ các hạn chế, thiếu sót và rút ra nhiều kinh nghiệm thiết thực cho những năm tiếp theo.

Bacho-GD-v11-1_53634074467037146059.jpgBác Hồ người Việt Nam đẹp nhất. Ảnh: Tuấn Anh

Triển khai Cuộc vận động là một quyết định đúng đắn, cần thiết; là sự tương hợp hài hòa giữa ý Đảng và lòng dân

Cách đây hơn 4 năm, tại Lễ kỷ niệm trọng thể 77 năm Ngày thành lập Đảng, Đảng ta đã phát động toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Hôm nay, nhìn lại, chúng ta đã có thể khẳng định: đó là một quyết định đúng đắn, cần thiết; là sự tương hợp hài hòa giữa ý Đảng và lòng dân; thể hiện tình cảm kính trọng, biết ơn sâu sắc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu; nguyện kế thừa, phát huy di sản tư tưởng và tấm gương đạo đức vô giá mà Người để lại.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà chúng ta tiến hành trong 4 năm qua đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể từ Trung ương đến các địa phương và toàn xã hội. Qua mỗi năm, Cuộc vận động có một chủ đề thiết thực, nội dung phong phú, bổ ích. Chúng ta đã thành lập và từng bước kiện toàn Ban chỉ đạo Cuộc vận động ở các cấp; xây dựng quy chế, chương trình, kế hoạch thực hiện cho toàn khóa và từng năm; hướng dẫn và cụ thể hóa các chuẩn mực hành động theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với 5 nội dung chủ yếu.

Ban chỉ đạo các cấp ngay từ đầu đã coi trọng công tác tuyên truyền, vận động việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh qua các hội thi kể chuyện về tấm gương đạo đức của Người, qua các tác phẩm, các lời dạy, đặc biệt là qua rất nhiều việc làm bình dị mà cao đẹp của Người, làm nổi bật tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”; “sửa đổi lối làm việc”; “nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”; xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”. Chúng ta đã tiến hành kiểm điểm 40 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người, đẩy mạnh phong trào thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đạo đức và tiêu cực xã hội. Trong chỉ đạo, chúng ta đã gắn nội dung Cuộc vận động với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước, của mỗi ban, bộ, ngành, đoàn thể, địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường hoạt động đối ngoại phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

BacHo.jpgTư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh muôn đời tỏa sáng. Ảnh: Tuấn Anh

Cuộc vận động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà Ban Chỉ đạo Trung ương và các tỉnh, thành phố phát động đã nhận được sự hưởng ứng tự giác và sâu rộng của hàng vạn nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ và những cây bút không chuyên. Chúng ta đã chú ý đúng mức tính đặc thù của các vùng, miền, các tôn giáo, dân tộc, các lứa tuổi; quan tâm đến nội dung “làm theo”; coi trọng việc phát hiện, biểu dương, cổ vũ, nhân rộng các tập thể, cá nhân gương mẫu, có thành tích xuất sắc trong thực hiện Cuộc vận động; tổ chức tốt các cuộc gặp mặt, giao lưu, tọa đàm, khen thưởng các điển hình tiên tiến; đưa nội dung “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” vào chương trình giáo dục trong các nhà trường; đưa Cuộc vận động lan tỏa trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên đang công tác, học tập ở nước ngoài và trong cộng đồng người Việt Nam sống xa Tổ quốc.

Qua 4 năm thực hiện Cuộc vận động, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc hơn về tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; về vị trí, vai trò của đạo đức đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội; nhận rõ đạo đức là “gốc” mỗi con người, nhất là người cách mạng, từ đó nâng cao ý thức thường xuyên trau dồi, rèn luyện bản thân để cái gốc đó ngày một tươi tốt, vững bền. Cuộc vận động đã góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao phẩm chất, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; ý thức và thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Nội dung “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, chống lãng phí, tham ô, chống thói quan liêu, vô trách nhiệm được nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện có hiệu quả. Qua thực hiện Cuộc vận động, công tác kiểm tra đảng, thanh tra nhà nước, bảo vệ pháp luật được đẩy mạnh, chúng ta đã phát hiện và xử lý kiên quyết, nghiêm minh các tập thể, cá nhân sai phạm.

Cuộc vận động lớn này đã gắn kết chặt chẽ với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; phong trào chăm sóc, giúp đỡ gia đình liệt sĩ, thương binh, gia đình chính sách; xây dựng nhà tình nghĩa, Quỹ “Vì người nghèo”; các đợt quyên góp, giúp đỡ đồng bào bị lũ lụt, cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; ủng hộ nạn nhân chất độc da cam; xây dựng Quỹ “Trái tim cho em”, Quỹ “Tấm lòng vàng”, Quỹ “Tấm lòng Việt”; hỗ trợ những người mắc bệnh hiểm nghèo… và nhiều phong trào, việc làm bổ ích khác.

Trong 4 năm qua, từ tác động tích cực của Cuộc vận động, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân được đẩy mạnh. Cải cách thủ tục hành chính có tiến bộ. Tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có một số chuyển biến. Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Quy chế Dân chủ ở cơ sở được thực hiện nghiêm túc hơn.

Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế thế giới tác động không thuận đến nước ta; ở trong nước, thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng, gây hậu quả nặng nề…, việc triển khai nghiêm túc chủ đề, nội dung của Cuộc vận động đã giúp các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị có thêm động lực để thực hiện chủ trương, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, của Quốc hội và Chính phủ về triển khai các nhóm giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý, phòng ngừa lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

Những thành tựu đạt được của đất nước, của mỗi ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong 4 năm qua, có sự đóng góp quan trọng của Cuộc vận động. Đây là một thực tế, một điều cần được khẳng định. Tuy không thể thống kê, lượng hóa đầy đủ kết quả của Cuộc vận động, song xét trên tổng thể, những chuyển biến tiến bộ từ mỗi người, mỗi cơ quan, đơn vị đến sự phát triển chung của các ngành, các lĩnh vực và cả nước đã nói lên giá trị to lớn và hiệu quả thiết thực của Cuộc vận động trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.

Cần có sự vào cuộc hơn nữa của cả hệ thống chính trị và toàn dân, toàn xã hội

Bên cạnh nỗ lực và thành tích quan trọng ban đầu, quá trình thực hiện Cuộc vận động trong 4 năm qua cũng bộc lộ một số hạn chế, thiếu sót cần khắc phục. Một số nơi chưa quan tâm đúng mức đến việc quán triệt mục đích, yêu cầu, ý nghĩa, nội dung và tầm quan trọng của Cuộc vận động, chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức, hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Việc xây dựng chương trình, kế hoạch và hướng dẫn thực hiện Cuộc vận động của ban chỉ đạo các cấp có lúc, có nơi, có việc còn lúng túng, bị động. Sự phối hợp giữa một số ban, ngành, đoàn thể, địa phương, đơn vị chưa nhịp nhàng, hiệu quả chưa cao. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo trên một số việc chưa sát hợp và kịp thời. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức kể cả cán bộ chủ chốt, còn thiếu tự giác, chưa gương mẫu trong việc thực hiện Cuộc vận động. Sự gắn kết, lồng ghép nội dung Cuộc vận động với thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành, địa phương, đơn vị ở một số nơi chưa tốt, chưa huy động được sức mạnh cả hệ thống chính trị hăng hái tham gia. Sự phối hợp giữa công tác tuyên giáo, công tác tổ chức – cán bộ, công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, thi đua, khen thưởng… chưa chặt chẽ, liên tục. Công tác tuyên truyền về Cuộc vận động còn có những hạn chế; nội dung, hình thức chưa thật phong phú, lôi cuốn.

Qua 4 năm thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm thiết thực:

Trước hết, phải tạo được sự thống nhất cao về nhận thức tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về ý nghĩa, tầm quan trọng, tác dụng to lớn, nhiều mặt của Cuộc vận động. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, đặc biệt là vai trò, trách nhiệm, tính gương mẫu của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị là yếu tố vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc huy động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tham gia.

Sự vào cuộc tích cực, chủ động của cả hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị có ý nghĩa, tác dụng to lớn đối với quá trình thực hiện Cuộc vận động. Đội ngũ cốt cán, trước hết là người đứng đầu cơ quan đảng, nhà nước, thủ trưởng mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp cần nêu cao trách nhiệm, tâm huyết với sự nghiệp chung, gương mẫu đi đầu trong công tác tuyên truyền, chỉ đạo và thực hiện Cuộc vận động.

Phải làm cho Cuộc vận động lan tỏa, thấm dần, bám rễ vững chắc trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, mỗi gia đình, mỗi người dân, trở thành lối sống đẹp, nếp sống đẹp, lẽ sống cao quý.

Thứ hai, phải xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung và hướng dẫn thực hiện Cuộc vận động một cách khoa học, thiết thực, sát hợp với tình hình, với nhiệm vụ của ngành, địa phương, đơn vị trong từng giai đoạn và suốt cả nhiệm kỳ; quá trình thực hiện, cần tìm tòi và bổ sung các giải pháp, bước đi phù hợp. Gắn kết một cách khéo léo, nhuần nhuyễn việc thực hiện Cuộc vận động với các phong trào thi đua yêu nước, với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị của các ngành, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp. Sự lồng ghép này vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, vừa tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí.

Thứ ba, phải xây dựng chuẩn mực đạo đức, lối sống phù hợp với từng loại hình công việc, từng loại đối tượng; các chuẩn mực này dễ nhớ, dễ thực hiện; tránh ôm đồm, chung chung, kiên quyết loại bỏ bệnh hình thức, phô trương. Phải coi việc thực hiện Cuộc vận động trước hết là vì nhu cầu, quyền lợi tự thân của mỗi người, mỗi gia đình, cộng đồng, đoàn thể; không chỉ thuần túy về đạo đức, lối sống mà cao hơn, là phục vụ trực tiếp cho sản xuất, công tác học tập, rèn luyện, cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi người, mỗi đơn vị.

Cần phát huy dân chủ thực sự, cải tiến nội dung, hình thức, phương pháp lấy ý kiến của quần chúng góp ý cho cán bộ, đảng viên, tạo điều kiện để quần chúng góp ý nhiều hơn, thẳng thắn, trách nhiệm hơn cho tổ chức, cho cán bộ và đảng viên.

Thứ tư, trong chỉ đạo và thực hiện, cần xác định quan điểm: đây là cuộc vận động lâu dài, tiến hành trong nhiều năm, cho nhiều thế hệ. Do đó, tránh tâm lý nôn nóng, chủ quan, kỳ vọng quá nhiều, quá sớm vào kết quả cuộc vận động trong khi cần phải có một thời gian và nỗ lực cần thiết. Mặt khác, khắc phục tư tưởng cầm chừng, hoài nghi, bàng quan, chưa thực sự quan tâm tới Cuộc vận động; cần điều chỉnh, bổ sung một số nội dung, giải pháp của công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện.

Hệ thống các văn bản hướng dẫn, đánh giá của Ban Chỉ đạo Trung ương và của ban chỉ đạo các cấp cần ngắn gọn, thống nhất, kịp thời, sát đúng với tình hình. Tiếp tục huy động các ban, ngành của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị chủ động, tích cực tham gia Cuộc vận động. Tổ chức đảng các cấp cần đưa việc thực hiện Cuộc vận động vào nội dung sinh hoạt đảng hằng tháng, vào kiểm điểm cuối năm của tổ chức đảng và đảng viên. Các cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị – xã hội cũng cần quy định việc thực hiện Cuộc vận động là một tiêu chí bắt buộc với công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên; coi đó là một trong những tiêu chuẩn bình xét thi đua, khen thưởng hằng tháng, hằng năm.

Thứ năm, về công tác chỉ đạo điểm: Trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện Cuộc vận động, cần chọn đúng, trúng điểm chỉ đạo; tập trung xây dựng, phát huy vai trò, tác dụng của các đơn vị làm điểm; tăng cường kiểm tra, đôn đốc; đúc rút kinh nghiệm sâu sắc để nhân ra diện rộng. Quan tâm xây dựng các điển hình là cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người thường xuyên tiếp xúc, phục vụ nhân dân, quản lý về tài chính, đất đai, công sản…

Qua việc tổng kết 4 năm triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chúng ta có đủ cơ sở thực tiễn, lý luận để báo cáo với Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, xin ý kiến và quyết tâm chính trị của Đại hội XI của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động, đưa hoạt động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thành công việc thường xuyên của cán bộ, đảng viên, của các chi bộ, tổ chức đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là một tấm gương về phẩm chất, đạo đức, lối sống, cấp trên phải gương mẫu trước cấp dưới, đảng viên và nhân dân, từ đó mà lan tỏa, tác động đến toàn dân, toàn xã hội.

Nông Đức Mạnh
Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Theo Tạp chí Cộng sản

hochiminhhoc.com

Thương binh Đặng Sỹ Ngọc -Tấm gương học tập và làm theo lời Bác.

Sau năm tháng tham gia chiến tranh, trở về với cuộc sống đời thường với mức thương tật 1/4, ông Đặng Sỹ Ngọc ở khối Trung Đông, phường Hưng Dũng vẫn luôn phát huy phẩm chất anhBộ đội Cụ Hồ, thương binh tàn nhưng không phế.

Năm ấy, chàng thanh niên Đặng Sỹ Ngọc vừa tròn 18 tuổi, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc  đã viết đơn tình nguyện bằng máu để xung phong vào bộ đội. Tháng 6 năm 1967, Đặng Sỹ Ngọc được biên chế vào đơn vị Đại đội 2, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 90, Sư đoàn 324 chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị. Những ngày lăn lộn trên chiến trường, ông thường ghi lại cuộc chiến tranh vĩ đại, những góc cạnh khốc liệt của chiến tranh. Trang nhật ký chiến trường của ông, đến năm 2006 đã được Nhà xuất bản Công an nhân dân cho ra mắt cuốn nhật ký “Trời xanh không biên giới”. Đây là một trong những cuốn nằm trong tủ sách “Mãi mãi tuổi 20”.

Trong 6 năm tham gia chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị, có đến 7 lần ông bị thương có những lúc ông tưởng chừng như không sống nổi, nhưng bằng nghị lực phi thường của người lính Cụ Hồ, sau khi lành vết thương ông lại tiếp tục vào chiến trường tham gia chiến đấu. Đến lần bị thương thứ 7, ông bị thương nặng ở ổ bụng và chân, ông được đơn vị cho về điều trị và an dưỡng tại Trại điều dưỡng Thương binh nặng thuộc Đoàn 202 Quân khu IV. Tại đây, ông đã gặp bà Nguyễn Thị Vân và hai người nên duyên vợ chồng. Rồi ba đứa con lần lượt ra đời. Để nuôi dạy con khôn lớn, hai vợ chồng phải vật lộn với cuộc sống đời thường. Ông làm đủ nghề như tham gia vào tổ thương binh quản lý thu phí tại chợ, rồi chuyển sang nghề làm xe lai.

Ông Đặng Sỹ Ngọc – Thương binh 1/4 ở khối Trung Đông, Phường Hưng Dũng, thành phố Vinh tâm sự: Là người lính của Bác, sau khi bị thương được Bác nhắc nhủ thương binh tàn nhưng không phế bản thân không ngừng trau dồi đạo đức, phấn đấu trong công việc để góp phần xây dựng quê hương và gia đình…

Được trở về với cuộc sống đời thường, người thương binh ấy vẫn không nguôi khi nhớ đến đồng đội đã ngã xuống. Ông Đặng Sỹ Ngọc đã cùng đồng đội thăm lại chiến trường xưa, nơi mà ông đã xem như một phần máu thịt của mình. Trong sự xô bồ của cuộc sống đời thường, nhưng người thương binh ấy vẫn luôn phát huy phẩm chất anh Bộ đội Cụ Hồ. Ngày ngày không kể nắng hay mưa, ông Ngọc lại rong ruổi trên đường làm nghề xe lai. Sau một ngày làm việc mệt nhọc, việc đầu tiên khi ông trở về nhà là bỏ một ít tiền vào ống tiết kiệm. Với số tiền ông bỏ vào ống tiết kiệm, ông đã mua quần áo trực tiếp trao tận tay cho các hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thăm lại chiến trường xưa và đi tìm mộ đồng đội. Mặc dù sức khỏe yếu, trong mỗi chuyến đi gặp nhiều khó khăn, vất vả. Nhưng cứ nghĩ đến đồng đội đã hy sinh xương máu cho tổ quốc, lại tiếp thêm sức mạnh trong mỗi lần ông đi tìm mộ liệt sỹ. Từ những trang nhật ký trong chiến trường ông đã tìm được ba liệt sỹ và một số đồng đội của mình. Đến nay, ông đã tìm được 6 mộ kiệt sỹ, tặng hàng trăm bộ quần áo cho hộ nghèo. Ở bất cứ hoàn cảnh nào, ông vẫn luôn là một con người mẫu mực, sống có nghĩa có tình. Noi theo tấm gương của cha, các con ông luôn chăm lo học tập. Giờ đây, các con của ông đều tốt nghiệp đại học và đã có việc làm ổn định.

Ông Nguyễn Đức Trung – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân phường Hưng Dũng – thành phố Vinh cho biết: Thương binh, cựu chiến binh Ông Đặng Sỹ Ngọc, Đảng bộ và nhân dân Hưng Dũng đều biết đến. Bởi ở Đặng Sỹ Ngọc luôn toát một điều sâu sắc nhất đó là học tập và làm theo lời Bác. Mặc dù là thương binh trở về với đời thường với mức thương tật cao nhưng thương binh, cựu chiến binh Đặng Sỹ Ngọc luôn phấn đấu lao động, tham gia các hoạt động xã hội. Có thể nói bằng những việc làm cụ thể  thương binh Đặng Sỹ Ngọc luôn là tấm gương tiêu biểu trong cuộc vận động học tập và làm theo lời Bác.

Chiến tranh đã lùi xa nhưng ký ức về một thời khói lửa vẫn còn nguyên vẹn trong ông. Ông Đặng Sỹ Ngọc vẫn luôn lưu giữ trang viết, những tấm ảnh, Huy hiệu, Huy chương, mấy mảnh bom, viên đạn… Thấy những việc làm của ông, có thể có người sẽ cho ông Ngọc là gàn nhưng việc làm của ông chính là tấm lòng biết yêu thương, biết sẻ chia. Ghi nhận những việc làm ý nghĩa của ông, ông đã được tặng thưởng nhiều Bằng khen, đặc biệt là Bằng khen của Thủ tướng chính phủ vì đã có thành tích trong thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo lời Bác.

Theo Lam Hà/vinhcty.gov.vn
Kim Yến
 (st)

 

 

 

Diễn vǎn tại lễ kỷ niệm Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2-9-1946) tổ chức tại Pari

Thưa các ngài,

Thưa các bà, các ông,

Thưa đồng bào thân mến,

Việc có mặt của nhiều nhân vật nổi tiếng, với một cử toạ đông đảo như thế này, khiến cho buổi lễ trọng thể này có một ý nghĩa sâu sắc.

Hôm nay, nhân dân Việt Nam kỷ niệm lần thứ nhất bản Tuyên ngôn long trọng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Các bạn thân mến! Sự có mặt của các bạn bên chúng tôi hôm nay thể hiện tình cảm hữu nghị của các bạn đối với nhân dân và đối với nước Cộng hoà của chúng tôi.

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đối với những đại diện của nước Pháp, những đại diện của các quốc gia dân chủ khác, cũng như đối với những đại diện nhân dân các nước là thành viên tương lai của Liên hiệp Pháp. Các bạn hãy tin tưởng rằng, nhân dân Việt Nam đánh giá cao mối thiện cảm đã được thể hiện bằng hành động của các bạn và sẽ giữ mãi kỷ niệm về nó.

Trong ngày lễ kỷ niệm này, ý nghĩ của tôi hướng về đất nước của tổ tiên, hướng về Tổ quốc xa xôi với tất cả tấm lòng tôn kính và yêu mến.

Tôi xin long trọng bày tỏ sự kính trọng đối với nhân dân Việt Nam anh dũng của chúng ta, đã nêu cao lý tưởng dân chủ và đã không lùi bước trước bất kỳ sự hy sinh nào để bảo vệ tự do của mình.

Chính là sự đoàn kết, đoàn kết hoàn toàn và không gì phá vỡ nổi của toàn thể nhân dân chúng ta đã khai sinh ra nước Cộng hoà của mình.

Lòng dũng cảm và tinh thần hy sinh đã gắn bó ý chí của mọi người Việt Nam từ Bắc chí Nam thành một khối sức mạnh, bất kỳ nguồn gốc họ ở đâu, theo tôn giáo hay thuộc giai tầng xã hội nào.

Trong buổi tối hôm nay, làm sao chúng ta lại không nghĩ tới đồng bào Nam Bộ với một tình cảm trìu mến đặc biệt. Nguyện vọng tha thiết nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam là Tổ quốc đang hồi sinh của chúng ta không bao giờ bị chia cắt và không gì chia cắt được.

Và, thưa đồng bào, tôi rất sung sướng nhận thấy rằng, đồng bào, những người đang sống trên đất Pháp, dù đến đây vì kế sinh nhai, để hoàn thành việc học hành hay để đóng góp cho cuộc kháng chiến của nước Pháp 1 , đồng bào đều biết xử sự như người con của một dân tộc đã có một nền vǎn hoá lâu đời, nhưng lại có đủ khả nǎng để trẻ lại. Tôi tin chắc rằng, với sự lịch thiệp và sự đối xử thân tình của mình, đồng bào có thể tranh thủ được sự quý mến và cảm tình của nhân dân Pháp đối với nước Việt Nam ta.

Tình hữu nghị Pháp – Việt là điều kiện cho sự chấn hưng nước ta, cũng như cho sự phát triển ảnh hưởng của nước Pháp ở châu á. Tôi tin chắc rằng một sự hợp tác chặt chẽ là có lợi cho cả hai bên. Chúng ta là hai dân tộc yêu chuộng công lý và tự do, quan tâm đến vǎn hoá, đến sự nảy nở của những tư tưởng đạo lý. Việc có chung những tình cảm trên làm hài hoà mối quan hệ của chúng ta, lý tưởng và lợi ích của chúng ta, tất cả đều khiến chúng ta xích lại gần nhau.

Nhưng tình hữu nghị chỉ là tình hữu nghị thực sự, thành thật và phong phú chừng nào nó hoàn toàn tự nguyện. Chúng ta giả thử tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước chúng ta cũng là tự nguyện.

Tôi tin tưởng rằng nước Pháp đã kháng chiến và giành được giải phóng sẵn sàng công nhận nền độc lập của chúng tôi, điều cần thiết phải có để một dân tộc mong muốn kết bạn với các dân tộc khác.

Nước Pháp mới đặt ra cho mình mục đích là giải phóng các dân tộc. Tại sao nước Pháp mới lại vô tình trước số phận của nhân dân các nước đang đeo đuổi những lý tưởng của chính mình?

Vả lại, hoàn toàn độc lập quyết không có nghĩa là đoạn tuyệt. Nước Việt Nam đã long trọng cam kết tôn trọng những lợi ích vǎn hoá và kinh tế của Pháp trên đất nước Việt Nam; hơn thế nữa, Việt Nam còn sẵn sàng phát triển nó bằng sự hợp tác anh em và trung thực. Việt Nam độc lập, chẳng những không làm hại đến lợi ích của Pháp, mà còn tǎng cường vị trí và củng cố uy tín của Pháp ở châu á.

Sự đóng góp của Việt Nam cho sự vĩ đại của nước Pháp và cho sức mạnh của Liên hiệp Pháp, điều đó tất nhiên tuỳ thuộc mức độ phồn vinh của Việt Nam, mà sự chia rẽ và chia cắt không thể mang lại phồn vinh. Thật là phi lý nếu toan tính dựa vào nước Việt Nam suy yếu, chia rẽ và bị chia cắt để đạt được sự hùng mạnh của Liên hiệp Pháp. Liên hiệp Pháp chỉ có được vai trò với điều kiện nó giữ được sự vững chắc, thống nhất và gắn bó của nó; và điều kiện đó chỉ có thể thực hiện được khi mỗi thành viên của nó cũng giữ được sự vững chắc, thống nhất và gắn bó của mình.

Đó là cái giá phải trả cho tương lai của Liên hiệp Pháp. Chúng ta biết rằng nhân dân tất cả các nước ở Pháp quốc hải ngoại 1 đều quan tâm đến việc thực hiện điều này. Thực vậy, việc liên kết các dân tộc tự do, bình đẳng và bác ái, gắn bó bởi một trong những sợi dây mạnh mẽ nhất, một lý tưởng chung, đó là lý tưởng dân chủ; việc liên kết đó hấp dẫn biết bao.

Liên hiệp Pháp sẽ có vai trò to lớn trong việc tổ chức xã hội loài người. Là một nước dân chủ, thành viên của Liên hiệp Pháp, nước Việt Nam mong muốn được đóng góp vào việc thiết lập và duy trì hoà bình và dân chủ trên thế giới, bên cạnh Liên hợp quốc.

Để cho mọi hy vọng trở thành hiện thực, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có một nguyện vọng cháy bỏng là mong mỏi Hội nghị Phôngtennơblô nhanh chóng đưa đến những kết quả cụ thể. Xin nhắc lại lời lẽ hùng hồn của chính Chủ tịch Hội đồng Chính phủ Gioócgiơ Biđôn là: “… Chúng ta có thể chờ đợi một cách chính đáng một tương lai tốt đẹp hơn trong quan hệ giữa hai nước chúng ta như một tấm gương lớn trên thế giới”.

Mong sao tình hữu nghị giữa nước Pháp và nước Việt Nam độc lập và thống nhất trở thành sự thực! Một tương lai biết bao xán lạn lẽ nào lại không mở ra trước hai nước chúng ta. Một tình hữu nghị như vậy giữa hai nước chỉ có lợi cho sự phồn vinh của Liên hiệp Pháp và sự bừng nở lý tưởng dân chủ trên thế giới.

– Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muôn nǎm!

– Nước Pháp mới muôn nǎm!

– Tình hữu nghị chặt chẽ, lâu dài và phong phú giữa Pháp và Việt Nam muôn nǎm!

Tài liệu tiếng Pháp,
bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

———————————-

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Trả lời phóng viên Hãng thông tấn A.F.P (1)

Chúng tôi muốn được độc lập trong khối Liên hiệp Pháp, và chúng tôi lại muốn rằng sự hợp tác đó phải chặt chẽ thân thiện và do ý muốn của chúng tôi. Vì lẽ đó mà chúng tôi không chịu nhận bị coi chỉ là một hội viên thường, bị hạn chế trong khối Liên hiệp Pháp. Sự cản trở chính trong cuộc đàm phán Việt – Pháp hiện nay là ở vấn đề trưng cầu dân ý ở Nam Bộ. Chúng tôi muốn rằng ngày giờ và phương thức của cuộc trưng cầu dân ý đó phải được định đoạt một cách nhanh chóng và phải có đủ các đảm bảo để dân chúng Nam Bộ được tự do phát biểu ý kiến của họ. Tôi rất lạc quan và rất hy vọng đi tới kết quả.

Tôi tin tưởng ở nước Pháp mới. Hai nước Việt và Pháp có thể đi đến sự thoả thuận vì cả hai nước đều cần phải tương trợ lẫn nhau vì quyền lợi chung của hai nước, cần phải đi đến một sự hiểu biết lẫn nhau càng nhanh chóng càng hay, để cùng có thể sẵn sàng bắt tay vào một công việc thiết thực.

Tôi muốn có thể sớm trở về nước Việt Nam được, để mang lại cho dân chúng Việt Nam bằng chứng mối cảm tình của nước Pháp đối với họ.

Trả lời ngày 2-9-1946.

Báo Cứu quốc, số 336, ngày 5-9-1946.
cpv.org.vn

————————————

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Thư gửi kiều bào Việt Nam ở Pháp

Cùng tất cả kiều bào yêu quý,

Từ ngày Phái bộ và tôi đến nước Pháp, và trong ngày kỷ niệm Quốc khánh (ngày mồng 2 tháng 9), kiều bào ta, nơi thì phái người, nơi thì gửi điện ủng hộ Chính phủ và tôi, nhiều kiều bào lại quyên tiền hoặc thuốc giúp Tổ quốc.

Lòng thân ái đó rất là quý, chúng tôi rất cảm động và cám ơn. Nay tôi và Phái bộ sắp trở về nước, chúng tôi gửi lời chào và khuyên tất cả anh chị em kiều bào:

1- Phải triệt để đoàn kết,

2- Ra sức tuyên truyền và ủng hộ bằng mọi phương diện cho Tổ quốc,

3- Thực hành khẩu hiệu ĐờI SốNG MớI: CầN, KIệM, LIÊM, CHíNH,

4- Mỗi người cần biết thạo một nghề để mai sau về nước giúp ích cho cuộc xây dựng nước Việt Nam mới.

Lời chào đoàn kết và thân ái
Pari, ngày 12 tháng 9 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Bản chụp bút tích,
lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Nói chuyện với các nhà báo Pháp tại biệt thự Roayan Môngxô

Tôi có vừa ý với kết quả của Hội nghị Phôngtennơblô không ? Có và không. Không, vì chúng tôi đến đây với hai vấn đề chính, nền độc lập của nước Việt Nam trong Liên hiệp Pháp, và vấn đề Nam Bộ thì chưa có vấn đề nào giải quyết cả. Có, vì ở đây tôi được thấy rõ một sự thân thiện thành thực của Chính phủ và dân chúng Pháp và đã có dịp gặp nhiều bạn Pháp và ngoại quốc. ở Phôngtennơblô, cũng đã đạt được một vài kết quả. Trước hết là cuộc hội nghị không tan vỡ hẳn mà chỉ gián đoạn vì điều kiện khó khǎn hiện thời, và chúng tôi đợi lại tiếp tục trong một thời gian rất ngắn. Tôi lạc quan và mong rằng chúng ta sẽ đi đến một kết quả vừa ý cả cho quyền lợi Pháp cũng như quyền lợi Việt Nam, và như vậy vì chúng tôi tin ở nước Pháp, nước Pháp mới đã là một trong những nước thực hiểu nền độc lập của các dân tộc và nền dân chủ. Tôi có thể nói xa hơn: không những số mệnh của khối Liên hiệp Pháp mà cả số mệnh của hoà bình thế giới sẽ do ở kết quả cuộc đàm phán Việt – Pháp. Chẳng có lý gì bi quan cả, nhất là hai dân tộc Việt và Pháp sinh ra để phải thoả thuận với nhau. Vậy về nước chúng tôi sẽ làm gì ? Chúng tôi sẽ gây một bầu không khí hoà bình và trật tự và thân thiện làm việc với người Pháp, vì người Pháp cũng như người Việt Nam, chúng ta đều cần bắt đầu một công việc có lợi. Một mặt khác, chúng tôi mong rằng người Pháp cũng sẽ có tình thân thiện và hoà bình như chúng tôi, và sau cùng, tôi muốn nói ở đây rằng dân tộc Việt Nam hết sức hy vọng rằng Hội nghị hoà bình sẽ đem lại hoà bình thế giới. Tôi tin ở sự khôn khéo và lòng nhân đạo của đại biểu các nước bạn chúng tôi. Đó, hy vọng của chúng tôi là như vậy trong lúc chờ đợi hội nghị lại tiếp tục một ngày gần đây.

Nói ngày 13-9-1946.

Báo Cứu quốc, số 346, ngày 15-9-1946.
cpv.org.vn

Lục quân ngày nay với các thứ binh khí

Đặc điểm của chiến tranh ngày nay là đánh thật nhanh để kết thúc những trận đánh trong một thời gian ngắn. Thứ binh khí thích hợp nhất cho lối đánh này là phi cơ, nên các nước đều hết sức khuếch trương không quân. Nhưng chỉ nhờ ở phi cơ đi ném bom hay dùng đại bác bắn phá không thể chiếm được thắng lợi trên mặt trận mà cần phải chú trọng đến lục quân. Dù đánh chớp nhoáng, dù đánh lâu dài, dù giữ thế công hay thế thủ, bao giờ cũng cần đến lục quân. Vì vậy, về quốc phòng, không thể không tổ chức lục quân được. Trong lục quân, người ta thường chia ra bộ binh, kỵ binh, pháo binh, công binh, chí trọng binh. Mỗi thứ binh ngũ ấy đều có binh khí riêng.

1. Bộ binh – Bộ binh ngoài súng trường, lưỡi lê, còn có súng máy hạng nhẹ, súng máy hạng nặng, súng bắn tạc đạn, đại bác bắn thẳng và đường queo, các máy thông tin, các tài liệu phòng hơi độc và hơi ngạt. Trước kia bộ binh thường áp dụng lối đánh tập đoàn hành động. Nhưng lối này đã bỏ từ lâu mà áp dụng lối đánh độc lập hành động để cho cá nhân được phép tuỳ cơ ứng biến. Lối đánh đã thay đổi, nên binh khí cũng tuỳ theo mà thay đổi. Người ta chia binh lực ra nhiều bộ đội nhỏ, trong đó mỗi binh sĩ đều có quyền sử dụng binh khí của mình, nên súng máy và súng bắn lựu đạn rất thích hợp cho những bộ đội độc lập tác chiến.

Trong bộ binh lại tổ chức thêm một bộ đội đặc biệt chuyên cầm máy xe tǎng, mạo hiểm xông vào tiến công bộ đội nào của bên địch không được địa hình tốt che chở.

Vì thế bộ binh ngày nay có thể vừa là kỵ binh, vừa là pháo binh được.

2. Kỵ binh – Kỵ binh xuất trận, lúc cần phải xung phong. Nhưng tự khi hoả khí phát triển, uy lực của kỵ binh đã giảm đi nhiều. Ngày nay, người ta chỉ lợi dụng sức hoạt động thần tốc của kỵ binh và uy lực của súng kỵ mã trong những trận đánh giáp lá cà.

Kỵ binh, ngoài súng trường, còn đem theo súng máy hạng nhẹ, súng máy hạng nặng và cả súng đại bác nữa. Để phòng ngự có hiệu quả, khi bên địch bắn dữ người ta đặt bên cạnh kỵ binh đoàn xe máy có lắp súng đại bác, và xe ô tô vận tải. Vì thế, kỵ binh cũng có thể độc lập chiến đấu được.

3. Pháo binh – Binh khí càng tiến bộ, chiến thuật càng đổi mới. Binh khí và chiến thuật bao giờ cũng đi đôi với nhau như hình với bóng. Từ sau cuộc Âu chiến, trước đến nay người ta đã phát minh ra rất nhiều các thứ súng đại bác, lòng rộng, bắn xa. Nào sơn pháo, dã pháo, nào bích kích pháo, cao xạ pháo, trọng pháo, không thiếu một thứ gì để tǎng gia uy lực của pháo binh.

Lại trên mặt trận phương pháp che giấu, phương pháp giả trang đã được nghiên cứu rất tinh xảo làm cho quân địch khó lòng mà tìm thấy đích để bắn. Vì thế trong pháo binh phải đặt thêm đội quan trắc chuyên xem xét mặt trận bên địch bằng những khí cụ rất tinh xảo như máy đo đạc, máy thu âm, máy tìm âm thanh phát ra từ đâu, đèn chiếu trên không, máy bay vô tuyến điện, máy chụp hình, v.v..

Trên mặt trận người ta còn thả hơi độc, hơi ngạt, nên thường lợi dụng đại bác để bắn những quả hơi sang mặt trận bên địch. Do đó trách nhiệm của pháo binh rất nặng nề.

4. Công binh – Nói đến công binh, có người cho là những người lính vác cuốc xẻng đi đào hào, đắp ụ, bắc cầu, xây cống. Đó là những công binh về thời trước. Còn công binh ngày nay phải hiểu biết những kỹ thuật về chiến tranh, phải là những đội quân cơ giới hoá biết dùng máy móc chạy bằng điện để kiến thiết trận địa, đào đường hầm, phá huỷ những chướng ngại vật trên cạn, dưới nước. Ngoài ra, công binh còn phải bắc dây điện tín, điện thoại, đặt máy vô tuyến điện, đặt đường sắt, bắc cầu qua sông, v.v..

Trong thời đại chiến tranh khoa học, nhất là từ khi phát minh ra nhiều binh khí chuyển vận bằng điện, công binh đã đóng vai tuồng quan trọng trong lục quân.

5. Chí trọng binh – Trước kia, chí trọng binh thường ở mặt sau quân đội, dùng lừa ngựa, xe cộ để vận tải lương thực, súng đạn và đi thành đội dài. Nhưng ngày nay, binh khí luôn luôn hoạt động trên mặt trận vừa xa, vừa rộng, vừa dài, nên việc vận tải binh khí, quân nhu, lương thực tiếp tế cho quân đội rất là vất vả, khó khǎn. Vì thế, chí trọng binh không thể đi đằng sau bộ đội như lúc hành quân mà phải tiến ra hoạt động tận phòng tuyến thứ nhất mới có thể cung cấp đầy đủ cho bộ đội về mọi phương tiện.

Q.Th.

Báo Cứu quốc, số 344, ngày 13-9-1946.
cpv.org.vn