Tag Archive | Dân tộc

Giải phóng Thủ Đô 10/10/1954: Những chuyện bây giờ mới kể

Nhân dân Hà Nội mừng đón đoàn quân giải phóng ngày 10/10/1954. Ảnh:Tư liệu

Tiếp quản Sở Trước bạ

Hà Nội có Sở Trước bạ và quản thủ điền thổ do người Pháp lập ra từ những năm đầu thế kỷ XX khi tiến hành mở mang thành phố (vì vậy Sở mang tên quản lý ruộng đất – điền thổ – chứ chưa phải quản lý nhà đất như tên gọi ngày nay). Bên cạnh đó là Sở Địa chính phụ trách đất đai cả xứ Bắc kỳ. Lại có Phòng Pháp chế nhà cửa tại tòa Thị chính nơi người dân đến giao dịch mua bán bất động sản.

Tháng 9/1954, cơ sở báo cho cán bộ ta biết đối phương có âm mưu mang theo vào Sài Gòn tất cả những hồ sơ, tài liệu về nhà đất Hà Nội. Những hồ sơ gốc này được bảo mật và sắp xếp trong những ô, ngăn tủ chuyên dụng, bảo đảm yêu cầu tra cứu sử dụng tiện lợi.

Vậy mà tất cả những hồ sơ nhà cửa đất cát sở hữu công và tư nhân, qua đó có thể vẽ lại chân dung diện mạo Thăng Long Hà Nội xưa, đang bị đóng hòm, chuyển xuống Hải Phòng rồi lên tàu thủy đưa vào Nam. Mục đích thâm hiểm của đối phương là sẽ gây cho Hà Nội rối loạn về quản lý nhà đất. Mất hồ sơ gốc thì người dân sẽ dựa vào đâu, chính quyền sẽ dựa trên cơ sở nào để hoạch định phát triển thành phố, để giải quyết những vụ phân chia tài sản, tranh chấp nhà cửa đất đai? Người dân sống ở nhà quê phải có ruộng vườn, ở thành thị phải có nhà đất. Không một tấc cắm dùi là câu tục ngữ nói lên sự gắn bó mật thiết giữa đất với người.

Bất chấp mọi hiểm nguy, những người làm việc ở sở quản lý điền thổ đã bí mật mang từng chồng hồ sơ đi phân tán cất giấu. Cho đến khi ô tô nhà binh xịch đỗ trước cổng sở thì nhân viên vắng mặt, những hòm tài liệu rõ ràng được khóa, niêm phong cẩn thận đã không cánh mà bay!

Vậy mà đúng ngày quy định, khi cán bộ ta về tiếp quản thì các công chức, nhân viên Sở Trước bạ và quản lý điền thổ có mặt đông đủ và các hòm, gói, cặp hồ sơ nhà đất được chở tới cơ quan, sắp xếp gọn gàng trật tự như cũ, trong các ngăn, tủ đúng theo quy tắc quản lý tiên tiến, khoa học, văn minh. Và bất ngờ, ông giám đốc Sở Trước bạ Trần Văn Du xuất hiện, bàn giao cho cán bộ tiếp quản toàn bộ hồ sơ, tài liệu, tài sản của Sở. Mấy ngày qua ông phải đi trốn vì lo bị ngụy quyền bắt vào Sài Gòn, cho dù được hứa hẹn đi theo họ thì sẽ được trọng dụng, lương tăng cao hơn rất nhiều. Và chính ông, những ngày qua đã cùng nhân viên tích cực cất giấu, phân tán những bộ hồ sơ vô giá.

Mấy ai biết những người làm việc trông coi giấy tờ sổ sách điền thổ một thời chưa xa ấy đã lặng lẽ góp phần nhỏ bé vào thành công to lớn tiếp quản Thủ đô và cũng nhờ đó, việc quy hoạch mở mang thành phố, công tác quản lý nhà đất ở Hà Nội những năm sau này được nền nếp, ổn định, để lại tín xác cho những “sổ đỏ” hôm nay.

Trong số công chức lưu dung (danh từ chỉ những người làm việc dưới chế độ cũ ở lại làm việc sau ngày giải phóng Thủ đô) duy nhất có ông Du được Ủy ban Hành chính Hà Nội giữ nguyên chức Giám đốc Sở. Gia đình ông cũng được công nhận là “cơ sở kháng chiến”, được tặng Bằng khen.

“Không phải gạo đâu”

Hà Nội giải phóng được 15 ngày thì dân thành phố nhao lên vì… thiếu gạo ăn. Bề ngoài không khí vẫn vui tưng bừng. Cổng chào dựng khắp nơi, cờ đỏ sao vàng, đèn hoa kết treo lộng lẫy. Tiếng hát sol lá sol, đêm múa sạp vui tưng bừng. Nhưng gạo?…

Những năm người Pháp tạm chiếm Hà Nội, các gia đình được ăn gạo “bông” từ Sài Gòn chở ra. Nhiều người chê gạo bán theo sổ nhân khẩu tuy rẻ nhưng thổi không ngon cơm nên vẫn đong gạo quê từ các “đại lý” có nguồn từ lính ngụy ăn cướp chở về và từ bà con nông dân ngoại thành gánh vào bán lẻ. Lúc này, Hà Nội thiếu gạo! Bọn đầu cơ thính nhạy tung tin gây hoang mang. Các nhà giàu tích trữ gạo. Giá gạo tăng vòn vọt. Đài nước ngoài đưa tin chính phủ Hồ Chí Minh để dân đói!

Theo ngành lương thực báo cáo thì ta không thiếu lương thực. Nhưng khó khăn trước mắt vì các kho của nhà nước chỉ trữ thóc, việc xay xát dựa vào thủ công. Phương tiện vận chuyển rất thiếu thốn. Những người gánh gạo bán rong chẳng hiểu sao mất hút sau ngày tiếp quản. Mà tâm lý người tiêu dùng ở thành phố mới giải phóng rất dễ bị kích động.

Thế rồi. Thật đáng ngạc nhiên, người ta thấy từng đoàn ô tô chở gạo về các kho trong nội thành. Những kho gạo mậu dịch mới đặt thêm ở phố hàng Chiếu, hàng Khoai gần chợ Đồng Xuân chợ Bắc Qua, ga xe lửa đầu cầu Long Biên là nơi ngày đêm rất đông người tụ họp buôn bán. Theo đoàn xe tải là những anh bộ đội áo xanh mũ nan giày vải. Các anh khuân những bao đay căng phồng, nặng trịch, xếp cao tận nóc kho. Nhìn kho, nhìn gạo, các bà nội trợ bảo nhau:

– Cứ nghe tin đồn nhảm nữa đi!

Chẳng ai đong gạo tích trữ nữa, việc làm này bị dư luận lên án mạnh mẽ. Nhưng cái chính là có thêm nhiều cửa hàng bán lẻ cho khách mua dễ dàng, mua không hạn chế. Người ta còn bảo nhau:

– Ra cảng Phà Đen mà xem, hàng trăm tấn gạo phủ bạt nằm chờ ô tô chuyển vào kho kia kìa.

Chính các bà nội trợ là những người “làm công tác tư tưởng” hiệu quả nhất. Chỉ trong ít ngày, thị trường lương thực ổn định, lòng dân yên.

Là một trong những người được “trưng dụng” tham gia công tác đột xuất ngày ấy, người viết bài này quen bác công nhân bát tê (ngày nay gọi là cửu vạn) biệt danh tên Ba Tạ vì trong một cuộc thi tài ông đã vác nổi trên vai ba tạ gạo. Ba Tạ nốc rượu như uống nước lã, thuộc Kiều, mê truyện Tam quốc. Chiều tà trên phố hàng Muối, ông Ba Tạ mượn chén tự hào khoe mình góp phần phục vụ “chiến dịch” chạy gạo cho dân Hà Nội ngày đầu tiếp quản. Bất chợt ông vỗ đùi khen:

– Cụ Hồ thánh thật! Việt Minh giỏi thật!

Rồi ông ghé tai tôi, nói nhỏ:

– Phục các anh sát đất. Tình cờ tôi phát hiện có nhiều bao không phải là bao gạo!

Một đời làm phu khuân vác, cái vai ông chạm vào bao tải là biết bên trong đựng gạo hay những hạt không phải gạo. Nhưng ông đã giữ kín điều mình biết rõ, vì một điều gì đấy hết sức thiêng liêng.

Hôm nay, tự nhiên ngồi nhớ đến ông Ba Tạ. Ông là người đã góp phần giữ cho dân tình thành phố này yên ổn trong những ngày đầu chính quyền ta tiếp quản thành công. 55 năm đã qua, xin kể lại chuyện này.

Theo baotintuc.vn
Lê Văn Ba (Cựu tù Chính trị Hỏa Lò)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Lời nhắc nhở của Bác kính yêu

Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với Đại đoàn quân Tiên Phong tại Đền Hùng. Ảnh: Tư liệu

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

Theo chủ trương của Đảng, các cơ quan Trung ương, các Bộ ngành rời căn cứ Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, tiếp tục sự nghiệp cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã vạch ra.

Tính mạng, tài sản nhân dân là trên hết

Một trong những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lúc đó là tổ chức tốt việc tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Kế hoạch tiếp quản Thủ đô Hà Nội được Trung ương Đảng chỉ đạo thống nhất và hết sức chặt chẽ. Ngày 19/7/1954, Hội đồng Chính phủ thông qua 8 chính sách đối với Thủ đô Hà Nội cũng như các thành phố mới được giải phóng và 10 điều kỷ luật của bộ đội, cán bộ, công nhân và công an khi vào thành phố.

Ngày 6/9/1954, Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng uỷ tiếp quản Thủ đô Hà Nội do đồng chí Trần Quốc Hoàn – Ủy viên Trung ương Đảng – Bộ trưởng Bộ Công an làm Bí thư. Đặc biệt, trước khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho bộ đội, công an và cán bộ. Người nhắc nhở: “Có thể những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn không chịu khuất phục nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường sa vào tội lỗi. Cho nên bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “viên đạn bọc đường” vì nó làm hại mình mà mình không thấy”

Bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng, lực lượng CAND đã kịp thời rút kinh nghiệm trong việc duy trì trật tự cách mạng ở những nơi quân Pháp bị ta tiến công phải rút chạy như thị xã Hà Nam, Phát Diệm, thành phố Nam Định, để xây dựng kế hoạch tiếp quản thủ đô Hà Nội chặt chẽ và sát hợp. Căn cứ vào nhu cầu tiếp quản Thủ đô Hà Nội của Trung ương, Bộ Công an xác định nhiệm vụ của CAND là: “Thiết lập trật tự cách mạng, đả kích bọn gián điệp phản động, bọn tàn binh cũ và bọn côn đồ đang phá hoại để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và bảo vệ các cơ quan xí nghiệp, kho tàng của quốc gia”.

Biện pháp cụ thể khi vào tiếp quản thủ đô Hà Nội của lực lượng CAND là: “Ra sức xây dựng cơ sở, điều tra tìm kiếm bọn tay sai địch cài lại, những âm mưu hoạt động của chúng, chú trọng nắm tình hình bọn tàn binh côn đồ, lưu manh, đặc biệt là danh sách, địa chỉ, lý lịch, chỗ ở của bọn đầu sỏ, thu thập tình hình chính trị xã hội, tranh thủ số nhân viên cũ tình nguyện ở lại với ta, giữ gìn tài liệu, dụng cụ”. Đồng thời mở các lớp tập huấn về công tác tiếp quản. Nhằm quán triệt tình hình nắm vững chính sách, kỷ luật khi vào tiếp quản thủ đô Hà Nội. Bồi dưỡng nghiệp vụ về thu hồi các cơ quan công sở của địch. Mặt khác, lực lượng công an xác định trách nhiệm phục vụ và nắm tình hình các cơ quan, xí nghiệp, kho tàng. Có kế hoạch bảo vệ các cơ quan đó, hạn chế thấp nhất thiệt hại về cơ sở vật chất khi tiếp quản.

Ngày tiếp quản Thủ đô đã đi vào lịch sử. Ảnh: Tư liệu

Ngày đi vào lịch sử

Lực lượng Cảnh vệ CAND có nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước về tiếp quản thủ đô. Trung ương giao cho đồng chí Lê Thanh Nghị – Uỷ viên Trung ương Đảng thành lập một tổ công tác tiền trạm để gấp rút tiến hành những công việc chuẩn bị đón Bác và các đồng chí lãnh đạo cấp cao về lại Thủ đô Hà Nội.

Trên tinh thần đó, đồng chí Lê Thanh Nghị nhanh chóng thành lập tổ tiền trạm và trực tiếp chỉ định những đồng chí tham gia gồm: Đồng chí Tạ Quang Chiến (Văn phòng Phủ Thủ tướng) phụ trách Thanh niên xung phong làm Tổ trưởng; đồng chí Phan Văn Xoàn và đồng chí Quách Quý Hợi (Cục Cảnh vệ); đồng chí Nông Đức Chiến (Bộ Tổng Tham mưu); đồng chí Tạ Đình Hiểu (Chính uỷ Trung đoàn 600). Tổ công tác nhanh chóng xây dựng kế hoạch bảo vệ trên đường về, tính toán từng trạm nghỉ dừng chân, phối hợp với Ban Tài chính Quản trị Trung ương lo địa điểm nơi ở và làm việc của Bác, bố trí lực lượng trinh sát, phối hợp lực lượng công an địa phương có liên quan kết hợp bảo vệ.

Ngày 8/10/1954, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đã về Hà Nội trực tiếp chỉ đạo công tác tiếp quản. Bộ trưởng đã chỉ định gần 200 trinh sát vào nội thành bám sát các mục tiêu quan trọng như Sở Mật thám và các cơ sở của địch trong thành phố. Ta còn bố trí lực lượng bảo vệ an ninh – trật tự dọc các tuyến đường chuẩn bị cho các lực lượng vào tiếp quản thủ đô. Ngay buổi chiều 8/10/1954 tướng Mát – xông (Masson), Tư lệnh các đơn vị thoái triệt đã tổ chức lễ cuốn cờ trong thành Hoàng Diệu (Hà Nội).

Ngày 9/10/1954, Uỷ ban Quân chính Hà Nội được thành lập. Theo kế hoạch tiếp quản thủ đô, các tổ tự vệ, công an nội thành làm nhiệm vụ dẫn đường cho các lực lượng tiếp thu từng công sở, xí nghiệp, vị trí quân sự, từng đường phố, thôn xã. Không khí những ngày này ở thủ đô Hà Nội thật náo nhiệt, đồng bào Hà Nội đổ ra kín hai bên đường với nhiều lời hô, lời chào, những cánh tay giương cao vẫy cờ, hoa, những nụ cười… Trên tất cả các xe tiến vào Hà Nội, anh chị em đứng lên nhoài người ra thành xe vẫy mũ, vẫy khăn và không cầm được nước mắt xúc động của giờ phút gặp gỡ ban đầu. Tiếp quản đến đâu có lực lượng bộ đội, công an, tự vệ canh gác bảo vệ đến đó.

Ngày 10/10/1954, theo sự phân công lực lượng công an Hà Nội tiếp quản Sở Mật thám, Sở Cảnh sát, Trại giam Hoả Lò và các quận, đồn cảnh sát của địch. Khi vào chiếm lĩnh, ta đã tuyên bố giải tán các tổ chức cũ của địch, thành lập các tổ chức mới của công an, đồng thời bảo vệ, quản lý toàn bộ cơ sở, tài liệu, phương tiện trong các cơ quan này.

Căn cứ vào chủ trương của Đảng uỷ tiếp quản và Uỷ ban Quân chính, công an Hà Nội đã tổ chức cho các đối tượng là ngụy quân, ngụy quyền, mật thám, chỉ điểm của địch ra trình báo. Qua công tác đăng ký đối tượng, kết hợp với lực lượng trinh sát và phát động quần chúng, công an Hà Nội đã nắm được 12.000 đối tượng các loại, trong đó có 203 sĩ quan, 2.840 hạ sĩ quan, hơn 7.800 ngụy quyền, gián điệp, mật vụ chỉ điểm của địch.

Về công tác bảo vệ lãnh tụ, trong vòng hai tháng, lực lượng Cảnh vệ CAND đã bảo vệ an toàn Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước trở lại Thủ đô Hà Nội. Những ngày đầu tiếp quản Thủ đô, Bác Hồ ở và làm việc trên tầng 2 của ngôi nhà trong nhà thương Đồn Thuỷ (nay là bệnh viện Trung ương Quân đội), có một trung đội lực lượng vũ trang – Trung đoàn 600 bảo vệ vòng ngoài, bên trong có lực lượng bảo vệ tiếp cận canh gác 24/24 giờ.

Mặc dù tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội ở Thủ đô Hà Nội những ngày mới giải phóng hết sức phức tạp, bọn phản động tay sai đế quốc Mỹ và Pháp như Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng, Phục Quốc.. liên tiếp chống phá, tìm cách cài lại bọn tay sai để thực hiện âm mưu phá hoại ta, nhất là tìm cách ám hại lãnh tụ, nhưng với sự chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ của Trung ương Đảng và trực tiếp là Bộ Công an, các lực lượng trong ngành công an đã bảo vệ an toàn Bác Hồ, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, các cơ quan Trung ương tiếp quản và duy trì ổn định an ninh – trật tự ở Thủ đô Hà Nội. Từ đây miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Theo Giadinh.net.vn (Nguyễn Đức Quí)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.v

Những người cận vệ Bác Hồ

Bảo vệ Bác Hồ thăm Đền Hùng năm 1962 (Ông Nguyễn Ngọc Cẩn ngồi thứ tư từ trái sang). Ảnh do ông Nguyễn Ngọc Cẩn cung cấp.

Từ năm 1967, sức khoẻ Bác Hồ đã giảm nhiều, bước chân đi không còn nhanh nhẹn như xưa; một lần cùng Bác Tôn xuất hiện trước đông đảo đồng bào, Bác Hồ bảo: “Để tôi nắm tay Cụ đi cho đỡ run, đồng bào khỏi thấy!”. Câu nói ấy của Bác Hồ đã khiến anh em Cảnh vệ và những người chứng kiến trào nước mắt, một sĩ quan Cảnh vệ nhớ lại.

Sáng tháng Năm rộn rã nắng đẹp. Ông Nguyễn Ngọc Cẩn và bà Lưu Thị Tính lại cùng các cựu sĩ quan Cảnh vệ vào Lăng viếng Bác, thăm lại Nhà sàn và Khu Di tích Phủ Chủ tịch, nơi họ đã có những năm tháng được bảo vệ Bác Hồ. Ông Cẩn và bà Tính có lẽ là đôi vợ chồng duy nhất cùng là Cảnh vệ, cùng được bảo vệ, phục vụ Bác Hồ và các đồng chí Bộ Chính trị tiền bối.

Ông Nguyễn Ngọc Cẩn có thời gian 20 năm làm công tác Cảnh vệ, từng được bảo vệ, phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Sinh năm 1933 tại Mê Linh (Hà Nội), ông Cẩn tham gia cách mạng từ sớm rồi đi thanh niên xung phong lên Việt Bắc. Sau khi về tiếp quản Thủ đô, ông được tuyển vào Cảnh vệ từ năm 1955. Xúc động nhớ lại lần đầu được gặp Bác, ông kể: Hôm ấy, tôi cùng anh Hoàng Hữu Kháng (Cục trưởng Cục Cảnh vệ) đi vào Nhà sàn. Bên bờ ao cá, chúng tôi thấy Bác đang nói chuyện với các đồng chí Phan Mỹ (Chánh Văn phòng Phủ Thủ tướng) và Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị. Anh Kháng lên tiếng chào Bác và hai đồng chí lãnh đạo, tôi thì quá xúc động cứ đứng ngây người mất một lát mới cất được lời chào. Đây là lần đầu tiên tôi được gặp Bác, nhìn thấy Bác gần như vậy. Bác mặc bộ quần áo bà ba giản dị, chân đi đôi dép cao su quen thuộc từ những năm kháng chiến ở Việt Bắc. Bác hỏi anh Kháng: “Chú này là ai?”. Sau khi nghe anh Kháng báo cáo, Bác nhìn tôi tỏ ý hài lòng: “Trông chú nhanh nhẹn, hoạt bát. Chú cố gắng phấn đấu, làm việc cho tốt!”.

Ngày ấy, mỗi lần Bác đi công tác nước ngoài, anh em Cảnh vệ tiễn Bác ngay tại Nhà sàn, chỉ một số ít được tháp tùng Bác sang sân bay Gia Lâm. Chúng tôi thường đứng thành hàng bên Nhà sàn, bịn rịn từ biệt và chúc Bác thượng lộ bình an. Bác lần lượt bắt tay từng người. Bác luôn nhắc nhở những anh em trẻ phải học tập nâng cao trình độ… Tôi nhớ một lần Bác đi công tác ở Liên Xô; khi Bác trở về, chúng tôi tổ chức đón Bác tại Nhà sàn. Bác ân cần hỏi thăm tình hình sức khỏe, gia đình của chúng tôi. Rồi Bác quay sang đồng chí lãnh đạo phòng là anh Nguyễn Tất Liêm, hỏi: Năm nay, chú có bố trí cho anh em nghỉ mát không? Anh Liêm báo cáo cụ thể với Bác, đơn vị đã bố trí cho anh em đi nghỉ mát, ai quê ở xa còn được kết hợp nghỉ phép… Bác tỏ ý hài lòng, rồi lấy quà chia cho chúng tôi.

Một vinh dự lớn lao với ông Cẩn và bà Tính. Năm 1961, ông bà lập gia đình với nhau. Trong đám cưới của đôi trẻ, Hồ Chủ tịch do bận công tác đã ủy nhiệm người thư kí của mình là đồng chí Vũ Kỳ đến mừng. Ông Cẩn nhớ lại: Trước ngày làm đám cưới, tôi suy nghĩ mãi rồi quyết định mời Bác đến dự, chúc phúc cho chúng tôi. Hôm ấy, trên đường đưa Bác từ Phủ Chủ tịch về Nhà sàn, khi đi bộ tới ao cá, tôi mạnh dạn: “Thưa Bác, cháu sắp lập gia đình. Hai vợ chồng cháu kính mời Bác đến dự đám cưới ạ!”. Bác nhìn tôi, đôi mắt Bác thật vui, rồi hỏi: “Vậy vợ chú là ai?”. Tôi trả lời: “Thưa Bác, vợ cháu là cô Tính, cũng là quân của anh Kháng ạ”…

Món quà cưới Bác Hồ dành cho vợ chồng ông Cẩn là một đôi hài nhung, mà mãi sau này hai ông bà mới biết đó chính là quà của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tặng Hồ Chủ tịch, để dùng giữ ấm đôi chân trong mùa đông.

Kỷ niệm khó phai mờ trong kí ức của vợ chồng ông Cẩn là tình cảm giữa Bác Hồ với Bác Tôn, hai vị lãnh tụ tiêu biểu cho đại đoàn kết dân tộc. Năm 1968, Bác Tôn tròn 80 tuổi, Bác Hồ đã đến chúc thọ người bạn già, ôm hôn thắm thiết và tặng Bác Tôn hai câu thơ: “Càng già, chí khí càng dai/ Chống Mỹ, cứu nước ít ai hơn Già“.

Những lần tiếp khách, đặc biệt là tiếp cán bộ, chiến sĩ Nam Bộ hay các cháu nhi đồng miền Nam, Bác Hồ đều nhắc bộ phận Văn phòng, Thư ký nhớ mời Bác Tôn cùng dự. Hình ảnh Bác Hồ, Bác Tôn tiếp và ôm hôn các đại biểu, dũng sĩ, các cháu nhi đồng là những thông điệp ấm áp, tràn đầy niềm tin vào khối đại đoàn kết dân tộc, vào thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Từ năm 1967, sức khoẻ Bác Hồ đã giảm nhiều, bước chân đi không còn nhanh nhẹn như xưa; một lần cùng Bác Tôn xuất hiện trước đông đảo đồng bào, Bác Hồ bảo: “Để tôi nắm tay Cụ đi cho đỡ run, đồng bào khỏi thấy!”. Câu nói ấy của Bác Hồ đã khiến anh em Cảnh vệ và những người chứng kiến trào nước mắt, thương hai Bác vô cùng.

Bác Hồ cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng và cán bộ, chiến sĩ Cảnh vệ (Xuân Quý Mão 1963). Ảnh: Tư liệu.

Ông Cẩn còn nhớ, Bác Tôn là người năng hoạt động, tập luyện thể thao, Bác rất thích đi xe đạp ra ngoại thành vào buổi sáng sớm. Về sau, anh em Cảnh vệ, bác sĩ lo ngại Bác Tôn tuổi đã cao, lỡ đi xe đạp mà bị ngã thì hậu quả khó lường. Anh em đề nghị Bác Tôn không đi xe đạp nữa, nhưng Bác cười hồn hậu: “Đạp xe để rèn luyện sức khỏe, đến ngày thống nhất đất nước còn có sức đi thăm đồng chí, đồng bào!”. Nghe Bác Tôn nói vậy, anh em Cảnh vệ hiểu lòng Bác, nhưng vẫn rất lo lắng, bèn báo cáo với đồng chí Lê Hữu Lập, người phụ trách bộ phận thư ký văn phòng của Bác Hồ và Bác Tôn.

Ngày 2/9/1969, ông Cẩn đón Bác Tôn từ nhà riêng ở 35 Trần Phú (Hà Nội) vào nơi Bác Hồ nằm nghỉ trong một căn nhà phía sau Nhà sàn. Ông cũng là người chứng kiến giờ phút Bác Hồ lâm chung, có Bác Tôn và các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước đứng quanh giường bệnh. Những dòng nước mắt chảy dài và tiếng khóc thổn thức của những người đồng chí, người học trò xuất sắc của Bác; không ai kìm nén được lòng mình trước tổn thất lớn lao của cả dân tộc… Ngay trong ngày hôm ấy, ông Cẩn đã ghi lại những dòng cảm xúc của mình vào một cuốn sổ: “Bác ơi, Bác đi xa thật rồi ư? Nỗi đau này quá lớn với chúng con, những người lính Cảnh vệ từng được bảo vệ, phục vụ Bác”…

Trước lúc tạm biệt tôi, ông Cẩn lại tỉ mỉ gói ghém cẩn thận những cuốn sổ của mình và những bức ảnh được chụp chung với Bác Hồ, vốn đã trở thành tài sản vô giá với gia đình ông. Tôi bắt chặt tay ông, đôi bàn tay ấm áp của người sĩ quan Cận vệ của Bác Hồ và Bác Tôn. Trong nắng tháng Năm rạng rỡ, mái tóc trắng như cước của ông bồng bềnh trên đôi mắt chứa đầy kỷ niệm.

Người chứng kiến việc Bác Hồ đề nghị Bác Tôn không nên đi xe đạp ra đường phố nữa, chính là bà Lưu Thị Tính. Bà Tính kể: Hôm ấy, như thường lệ tôi vào kiểm tra bảo đảm an toàn bữa ăn của Bác Hồ, thì đúng lúc Bác Hồ mời Bác Tôn dùng cơm. Sau bữa cơm, hai Bác đàm đạo khá lâu. Rồi Bác Hồ thân mật nói với Bác Tôn, đại ý: “Về tuổi tác thì Cụ hơn tôi, nhưng về nhiệm vụ Nhà nước phân công, thì tôi là cấp trên. Nay Cụ đã tuổi cao, sức yếu; đề nghị Cụ không nên đi xe đạp ra ngoài phố nữa, lỡ té ngã thì rất nguy hiểm… Cụ bảo trọng là phúc lớn cho đất nước”.

Theo CAND.com.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Nhân cách người cán bộ lãnh đạo quân đội

Trong cuộc đời hoạt động và lãnh đạo cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, cán bộ lãnh đạo, nhất là cán bộ lãnh đạo quân đội. Hệ thống quan điểm và tư tưởng của người về xây dựng phẩm chất và năng lực, nhân cách cho đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ quân đội nói riêng chứa đựng những nội dung lý luận sâu sắc và ý nghĩa thực tiễn lớn lao. Trong đó tư tưởng và quan điểm của người về vấn đề năng lực luôn có tác dụng định hướng và chỉ đạo việc bồi dưỡng nâng cao năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ quân đội nhất là trong giai đoạn hiện nay. Nhân cách của người cán bộ trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là sự tổng hòa các yếu tố về phẩm chất và năng lực, trong đó nổi lên là vấn đề năng lực và đạo đức. Việc rèn luyện nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý là một nhiệm vụ then chốt, thường xuyên của công tác cán bộ.

Như mọi người cán bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị của đất nước, người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong lĩnh vực quân sự, lĩnh vực luôn đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc, quy định, chế độ của quân đội, lĩnh vực bao gồm những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ tiêu biểu trên mặt trận củng cố quốc phòng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân, thì càng phải thể hiện đầy đủ những phẩm chất nhân cách cần thiết đó. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong lĩnh vực quân sự còn phải thể hiện là những người tiêu biểu cho “nhân, trí, dũng, tín, liêm, trung”; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, tư cách của người cầm quân; coi trọng giữ gìn, phát huy bản chất, truyền thống của quân đội cách mạng; không ham danh lợi, chức quyền.

Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân cách người cán bộ thể hiện trước hết ở lòng “trung với nước, hiếu với dân”.Người coi trung với nước, hiếu với dân là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất của đạo đức cách mạng và là yếu tố cơ bản của nhân cách người cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trung với nước là dám xả thân vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, dẫu biết rằng đi làm cách mạng thì có thể bị tù đày, nhiều gian khổ, thậm trí hi sinh cả tính mạng. Ngày nay, trong hòa bình xây dựng, những điều kiện ấy không còn, nhưng những thử thách không kém phần nghiệt ngã vẫn còn đó đối với người cán bộ lãnh đạo. Có người không hy sinh bởi mũi tên, hòn đạn trong cuộc chiến đấu khốc liệt để bảo vệ Tổ quốc, nhưng trong hòa bình xây dựng lại bị “chết” bởi những “viên đạn bọc đường”, sa vào tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu – những căn bệnh mà Hồ Chí Minh coi là “giặc nội xâm”, thứ giặc ở trong lòng, nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm.

Trung với nước là phải đặt quyền lợi của Tổ quốc, của Đảng lên trên hết, trước hết. Người cán bộ lãnh đạo là người giữ trọng trách trong bộ máy của hệ thống chính trị càng cần có đức tính hy sinh cho lợi ích của Đảng, của Tổ quốc. Điều này càng đặc biệt quan trọng trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khi các lợi ích đặt ra cho mọi người, trong đó có lợi ích cá nhân trong mối quan hệ với lợi ích của tập thể và lợi ích của Tổ quốc. Theo Hồ Chí Minh cho rằng, không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý đến lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Trong lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, có lợi ích của cá nhân mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: vào Đảng là tự nguyện; nếu vào Đảng mà sợ hy sinh thì đừng vào Đảng hoặc khoan hẵng vào, để khi nào rèn được đức tính hy sinh rồi hãy vào. Mọi người, kể cả những cán bộ lãnh đạo, quản lý được khuyến khích làm giàu, nhưng đó là làm giàu chính đáng, chứ không phải làm giàu với bất cứ giá nào, làm giàu bất chấp đạo lý, làm giàu bằng tham nhũng, dùng mọi biện pháp kể cả vi phạm pháp luật để làm giầu, lấy của công làm của riêng đặt lợi ích của riêng mình lên trên tập thể.

Thực hiện đúng quan điểm của Hồ Chí Minh: “Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên là công bộc của dân, vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Sức mạnh của Đảng, của cả hệ thống chính trị là lấy từ nơi dân, cho nên dân luôn luôn là gốc của cách mạng, đúng như Hồ Chí Minh đã nêu và sau này, Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã tổng kết. Chúng ta không thể chấp nhận tình trạng hiện nay ở không ít nơi, không ít người trong bộ máy của hệ thống chính trị xa dân, không tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, mị dân, theo đuôi quần chúng. Người cán bộ phải luôn thấm nhuần quan điểm của Hồ Chí Minh: “việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố làm; việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố tránh”; phải làm cho dân giác ngộ; chớ có “vác mặt quan cách mạng” để “đè đầu cưỡi cổ nhân dân”; đừng có tưởng cứ “dán lên trán hai chữ cộng sản” là dân tin, dân yêu, dân kính, dân phục mà phải thực sự yêu dân, kính dân.

Còn “hiếu với dân” là bao hàm cả hiếu với cha mẹ, có tình yêu thương trong gia đình, nghĩa là có một “đời tư trong sáng”. Trong khái niệm “nhân cách” của một con người, thường người ta hiểu có điểm nhấn về mặt này nhiều hơn. Đứng trước dân, đang ở vị trí lãnh đạo, quản lý mà người cán bộ, đảng viên nêu gương xấu, gương mờ trong đời tư (chẳng hạn như tư cách đạo đức, lối sống không tốt; tác phong, phong cách chưa tốt; con cái hư; bản thân thì chưa đối xử tốt với vợ (chồng) con, với ông bà, cha mẹ, với anh em, v.v.) thì tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng không lãnh đạo, quản lý được ai một cách thực chất; nói không ai nghe, làm không ai theo, là đạo đức giả, gây phản cảm. Hiếu với dân không ở đâu xa, mà trước hết chính ngay ở trong gia đình, họ tộc, xóm giềng của bản thân người cán bộ lãnh đó.

Nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý còn biểu hiện ở đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư – điều mà Hồ Chí Minh rất coi trọng trong việc rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Cần, theo quan điểm của Hồ Chí Minh ngoài việc đòi hỏi người cán bộ phải cần cù, siêng năng, chịu khó, biết vượt qua khó khăn, gian khổ để làm việc, còn là yêu cầu tăng năng suất lao động. Đây là một quan điểm hợp với nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin khi coi năng suất lao động chính là một điều kiện cốt yếu để chủ nghĩa xã hội chiến thắng chủ nghĩa tư bản. Năng suất lao động của mỗi cá nhân là điều kiện để tạo thành năng suất lao động xã hội, nhưng điều đó mới chỉ nói lên phần nào sự phát triển kinh tế, chứ chưa phản ánh được nhiều tăng năng suất lao động xã hội. Đức tính “cần” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay là phải chú ý tới hiệu quả, chất lượng công tác, phải đo được bằng kết quả cụ thể của từng người, từng ngành, từng địa phương, từng đơn vị.

Kiệm, theo Hồ Chí Minh, đó là tiết kiệm. Đáng chú ý là tình trạng lãng phí ở nước ta hiện nay diễn ra khá nặng và đang có chiều hướng nghiêm trọng hơn. Hồ Chí Minh chỉ rõ: cần phải đi đôi với kiệm; cần mà không kiệm thì tiền như “gió vào nhà trống”. Thực tế hiện nay, lãng phí biểu hiện ở nhiều mặt: lãng phí tiền của trong đầu tư; lãng phí trong chi tiêu; lãng phí thì giờ, v.v.. Điều đáng chú ý nhất, đáng nhấn mạnh nhất trong quan điểm này của Hồ Chí Minh là ở chỗ, kiệm không có nghĩa là bủn xỉn, mà là việc gì đáng chi thì phải chi, việc gì chưa đáng chi thì khoan hẵng chi, việc gì không đáng chi thì dứt khoát không chi. Đây chính là bài học cơ bản nhất, lâu dài nhất, cần phải học cả đời người, đối với mọi đối tượng, từ con người bình thường và càng đặc biệt hơn đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Ngày nay, đời sống đã được cải thiện đáng kể so với trước đây, nhưng những nội dung cơ bản mà Hồ Chí Minh nêu ra trên đây còn nguyên giá trị, kể cả sau này khi nước ta đã trở nên giàu có, mỗi người, mỗi gia đình đều khá giả hơn. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý là những người nắm quyền, nắm tiền, nếu không chịu rèn luyện đức tính tiết kiệm theo quan điểm và tấm gương của Hồ Chí Minh thì rất dễ bị tha hoá nhân cách.

Liêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đức “liêm” của con người ta là điểm để phân biệt con người với con vật. Liêm là liêm khiết, là trong sạch, không tham ô, tham lam (cả tiền bạc, địa vị,v.v..). Đức tính liêm khiết là một biểu hiện rất rõ của nhân cách con người. Trong hoàn cảnh hiện nay, người cán bộ không những cần rèn cho mình đức tính không tham lam, không tham nhũng mà còn phải đấu tranh không khoan nhượng chống lại những biểu hiện tham nhũng. Hồ Chí Minh gọi tham ô, lãng phí, quan liêuvới đúng nghĩa của nó là “giặc nội xâm”. Chúng ta cần chú ý cách gọi của Người; nếu coi tham nhũng là “nạn” hay mạnh hơn là “quốc nạn”, thì phải dùng phương pháp chống nạn, quốc nạn; còn đã gọi đó là giặc thì phải dùng phương pháp chống giặc. Điều chú ý nữa trong vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề này là phải đề phòng và khắc phục bệnh tham danh vọng, địa vị. Trong thực tế, đã có không ít người tìm mọi cách “hạ bệ” nhau, nói xấu nhau, kèn cựa, níu kéo nhau, nịnh bợ, cơ hội,… trong công tác cán bộ, công tác nhân sự để kiếm chác chức vụ. Với những biện pháp, thủ đoạn để có được chức vụ này nọ hay gọi là “chạy chức, chạy quyền”, thì đó là điều đáng báo động về nhân cách người cán bộ, đảng viên.

Chính, theo quan điểm của Hồ Chí Minh là không tà, là thẳng thắn; việc thiện dù nhỏ cũng cố làm, việc ác dù nhỏ cũng cố tránh. Rèn luyện đức tính “chính” theo quan điểm của Hồ Chí Minh cũng có nghĩa là người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có thái độ rõ ràng, trong cuộc sống và công tác luôn yêu cái thiện, ghét cái ác; luôn hành động, làm gương cho mọi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý”.

Chí công vô tư là một đức tính nữa của nhân cách người cán bộ, đảng viên mà Hồ Chí Minh đề cập. Chí công vô tư là chống chủ nghĩa cá nhân – một thứ bệnh mà Hồ Chí Minh cho đó là “bệnh mẹ” đẻ ra muôn vàn “bệnh con”. Rèn đức tính này theo gương Hồ Chí Minh, người cán bộ phải luôn có ý thức và hành động chăm lo đến lợi ích của Đảng, của Tổ quốc. Với bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ coi chức Chủ tịch nước của mình là do dân uỷ thác và mình phải có bổn phận làm tròn cái sự uỷ thác đó. Trong điều kiện hiện nay, người cán bộ phải vừa tôn trọng tập thể, bảo đảm dân chủ, người cán bộ phải dám làm, dám chịu trách nhiệm, có tính quyết đoán mới có thể hoàn thành tốt mọi công việc và nhiệm vụ được giao.

Người cán bộ thể hiện ở thường xuyên nói đi đôi với làm. Đạo đức cách mạng không phải cứ tự nhiên mà có, mà phải là kết quả của sự rèn luyện thường xuyên trong suốt cuộc đời. Tự giác, tự nguyện, tự tu dưỡng nhân cách phải trở thành nếp sống hằng ngày của người cán bộ. Hồ Chí Minh quan niệm: “một con người hôm qua là vĩ đại, được mọi người yêu mến thì hôm nay không còn là vĩ đại nữa, nếu lòng mình không trong sáng”.

Nhân cách của người cán bộ còn biểu hiện ở mối quan hệ thống nhất giữa nói và làm, điều mà trong tác phẩm Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Nói thì phải làm”. Hiện nay, có không ít cán bộ chỉ nói mà không làm, nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về nói đi đôi với làm; Người còn làm nhiều hơn nói. Là người cán bộ mà nói không đi đôi với làm thì sẽ bị sa vào lối đạo đức giả, phản tác dụng trong việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đang tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước. Đất nước ta đang cần những tấm gương mẫu mực, luôn biết học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và chỉ có như vậy người cán bộ lãnh đạo nói chung, cán bộ lãnh đạo quân đội nói riêng sẽ tạo nên sức mạnh của toàn hệ thống chính trị thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người giữ chức vụ càng cao, trọng trách càng lớn càng phải đòi hỏi nhiều hơn về nhân cách, tư tưởng, phong cách. Nếu không là tấm gương sáng thì người cán bộ không thể nào lãnh đạo được quần chúng, đó là sự thật, là những điều đơn giản mà ai cũng có thể nhìn thấy.

Tâm Trang

bqllang.gov.vn

Bác Hồ nói về thi đua yêu nước

Nguồn: tagvn.com

Sinh thời, Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến vấn đề thi đua yêu nước, coi đó là một bộ phận không thể thiếu được trong công tác quản lý của Nhà nước, đồng thời là tấm gương mẫu mực trong mọi phong trào thi đua do chính Người khởi xướng.

Kể từ khi người viết “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”, ngày 11-6-1948 cho đến khi đi vào cõi bất tử. Người đã có hơn 40 bài nói, bài viết đề cập đến thi đua yêu nước.

Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Người đã mở đầu cho các phong trào thi đua yêu nước phát triển, lan rộng, trở thành các cao trào cách mạng của nhân dân, góp phần đắc lực vào thắng lợi của cách mạng nước ta.

Ngày 01-5-1952, tại Đại hội các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc, Người nhấn mạnh “Thi đua là yêu nước: Thi đua là một cách yêu nước thiết thực và tích cực… Yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất…”

Báo Nhân Dân, số 15, ngày 05-7-1951, đã đăng bài viết của Người với bút danh C.B: “Thi đua ái quốc, hiện tại và tương lai vẻ vang của nước ta”. Mở đầu bài báo, Người viết: “Thi đua ái quốc… Tức là làm cho nhân dân no, ấm, biết chữ, làm cho Tổ quốc độc lập, tự do”.

Trong thư gửi thanh niên về thi đua ái quốc, ngày 01-8-1951, Người ân cần chỉ bảo: “Thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ. Thi đua làm cho đoàn kết chặt chẽ thêm. Và đoàn kết chặt chẽ để thi đua mãi…”. “Thi đua không nên thiên về một phía. Phải điều hòa 3 nhiệm vụ với nhau: gia tăng sản xuất, công việc hàng ngày và học tập (chính trị, văn hóa, tình hình trong nước và thế giới).”

Trong lời kêu gọi thi đua chuẩn bị tổng phản công đăng trên Báo Sự Thật, số 116, ngày 01-8-1949, Người chỉ rõ: “Trong các việc thi đua ái quốc, cần phải nêu rõ tinh thần cần, kiệm, liêm, chính…”

Ngày 11-6-1948, Người ra lời kêu gọi thi đua ái quốc”, trong đó có đoạn: “Bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh, bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau:

Làm cho mau,
Làm cho tốt,
Làm cho nhiều…
Cách làm là: dựa vào:
Lực lương của dân,
Tinh thần của dân, để gây:
Hạnh phúc cho dân”.

Người mãi là nguồn cảm hứng lớn lao, là niềm tin tất thắng dạt dào…
Nguồn: sưu tầm

Thi đua trở thành một phong trào rộng khắp, liên tục trên tất cả các lĩnh vực. Trong thơ chúc Tết năm Kỷ Sửu (1949), Người viết:

“Người người thi đua
Ngành ngành thi đua
Ngày ngày thi đua
Ta nhất định thắng,
Địch nhất định thua”

Rõ ràng, bài thơ đó có ý nghĩa bao quát tính toàn diện, tính liên tục của thi đua.

Trong Lời kêu gọi thi đua, ngày 01-8-1949, Người một lần nữa nhấn mạnh tính liên tục của thi đua” “Tưởng lầm rằng thi đua chỉ nhất thời. Thật ra thi đua là phải trường kỳ”.

Thi đua phải thiết thực, gắn với công việc hàng ngày của mỗi người, đem lại lợi ích cho cá nhân, cho cộng đồng và cho đất nước. Cũng trên Lời kêu gọi nói trên, Người viết: “Tưởng lầm rằng thi đua là một công việc khác với những công việc làm hàng ngày. Thật ra, công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua”.

Người còn căn dặn: “Thi đua ái quốc phải có phương hướng đúng và vững… Phải có kế hoạch tỉ mỉ. Kế hoạch ấy phải do từng đơn vị nhỏ, từng gia đình, từng cá nhân bàn bạc kỹ, hiểu biết thấu, vui vẻ làm… Nội dung của kế hoạch phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực”.

Người yêu cầu mọi phong trào thi đua yêu nước đều phải có sơ kết, tổng kết, kịp thời biểu dương, nêu gương, khen thưởng. Những hình thức khen thưởng đều có tác dụng động viên, khích lệ những người tham gia phong trào. Trong Thư gửi thanh niên, ngày 01-8-1951, Người viết: “Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi”.

Một quan điểm hết sức quan trọng của Người là cán bộ, đảng viên phải luôn luôn gương mẫu đi đầu trong phong trào thi đua yêu nước. Trong tác phẩm “Đường kách mệnh” (1927), Người đã nêu 23 điều về “Tư cách một người cách mệnh”, trong đó có điều: “Nói thì phải làm”. Có lần, Người còn nhấn mạnh:

“Cán bộ xung trước,
Làng nước theo sau.
Việc khó đến đâu,
Cũng làm được hết”.

Trong bài phát biểu trước các chiến sĩ thi đua, ngày 03-5-1952, Người đã dạy: “Cán bộ phải thi đua với quần chúng, xung phong làm gương mẫu cho quần chúng để kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc chóng thành công”. Người cho rằng, một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền.

Và vẫn luôn là Người – hình ảnh vị lãnh tụ giản dị, gần gũi với triệu dân,
không lúc nào nguôi ưu tư về vận mệnh dân tộc.
Nguồn: sưu tầm

Trong Lời chào mừng Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ hai, Người căn dặn các anh hùng, chiến sĩ thi đua và mọi người” “Anh hùng, chiến sĩ thi đua đã là người tiên phong trong sản xuất, mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng… Các anh hùng và chiến sĩ thi đua cần phải luôn luôn dìu dắt, giúp đỡ những người chung quanh mình cùng tiến bộ. Mọi người đều phải cố gắng tiến kịp các anh hùng, chiến sĩ; anh hùng, chiến sĩ thì cần tiến mãi không ngừng”.

Trên 60 năm qua, hưởng ứng lời kêu gọi của Người, phong trào thi đua ái quốc được tiếp thêm sức mạnh, tiếp tục phát triển, góp phần làm nên những thắng lợi vĩ đại của đất nước, để lại những dấu ấn sâu đậm, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước, truyền thống anh hùng của dân tộc.

Thấm nhuần và thực hiện sáng tạo những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự nghiệp thi đua yêu nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, công tác thi đua khen thưởng cần tập trung khắc phục những yếu kém, tạo sự đồng bộ trong tổ chức thực hiện, thật sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.

Phong trào thi đua yêu nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị. Thi đua thực chất là công tác vận động quần chúng tham gia phong trào thực hiện những nhiệm vụ cụ thể.

Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nguyện chung sức, chung lòng, năng động, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, phát huy truyền thống yêu nước, biến các phong trào thi đua thành động lực cách mạng, thực hiện bằng được mục tiêu cao cả “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

Theo nguồn: http://www.impe-qn.org.vn
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ trong thơ các nhà sư

Tôi dừng lại khá lâu trong phòng thờ Bác Hồ mà theo sư bà là gian thờ đặc biệt. Tôi chăm chú xem những bài thơ của sư bà viết về Bác.

GIAO HƯỞNG

Chùa Cần Linh dù tên chữ hàm nghĩa rất hay, rất đẹp, song người dân thành phố Vinh vẫn thích gọi là chùa Sư Nữ, bởi vì từ trước đến nay các nhà sư trụ trì đều là sư nữ.

Sinh thời, “quan đốc học” Nguyễn Tài Đại (1921- 2005) có lần bộc bạch với tôi: Năm 1945 chừng mới 20 tuổi, sư cô Thích Diệu Niệm đã về trụ trì chùa Cần Linh. Ngôi chùa vốn đẹp nổi tiếng, từ ngày có sư cô “sắc nước hương trời” về trụ trì, chùa càng rực rỡ giữa hữu tình sông nước trời mây, càng nổi tiếng trong tâm thức người đời. Rồi một đồn mười mười, đồn trăm, hầu như tháng nào anh Đại cũng rủ mấy bạn trai vào chùa vãng cảnh để “tiện thể” được ngắm dung nhan “hơn hẳn các mỹ nhân trong tranh ta lẫn tranh Tàu” của sư cô trụ trì, nhờ đó anh Đại biết sư Thích Diệu Niệm có tài làm thơ.

Mùa thu Bính Tý (1996) mấy chủ nhật liền tôi chủ định vãng cảnh chùa Sư Nữ. Trong dòng người đến chùa sáng chủ nhật ấy, tôi nêu nguyện vọng muốn được gặp sư bà Thích Diệu Niệm, người suốt đời gắn bó với ngôi chùa này. Một ni cô lẳng lặng đi vào trong, lát sau ni cô ấy trở ra chắp hai tay trước ngực:

– Sư bà Thích Diệu Niệm mời lữ khách vào tham quan nội thất.

Sáng ấy, sư bà Thích Diệu Niệm dẫn tôi đi xem các công trình kiến trúc của chùa. Chùa được dựng cuối thời Lê, có gần 100 pho tượng. Năm 1992, chùa được xếp hạng là Di tích lịch sử – văn hóa Quốc gia.

Sư bà vui vẻ cho tôi biết: Chắp tay chào nhau cung kính không phải là đặc trưng của riêng nhà Phật, từ xưa cách chào này đã rất thông dụng trong xã hội Việt Nam. Hình ảnh chắp tay thể hiện ý nghĩa hiệp chưởng – liên hoa thủ. “Hiệp chưởng” (hai bàn tay chụm lại) biểu trưng cho sự hòa hợp bình đẳng, hiệp sức chung lòng vì mục đích tốt đẹp cao cả. “Liên hoa thủ” (bàn tay hoa sen), chắp tay là biểu trưng của nụ búp sen, tuy chưa nở nhưng vẫn đủ đầy đặc trưng tốt đẹp của hoa sen – loài hoa biểu trưng nhiều ý nghĩa trong giáo lý đạo Phật. Chắp tay xã giao là “trực chỉ nhân tâm kiến tính thành Phật”, hiểu nôm na là chúc mọi người đạo đức vẹn toàn, được vậy thì sẽ tiến tới thành Phật! Sau ngày người Pháp sang đô hộ nước ta, họ mang theo động tác bắt tay, kiểu chào của người phương Tây, dần người mình chạy theo mốt của người Tây mà đánh mất cái đặc trưng rất đẹp của tổ tiên mình!

Tôi dừng lại khá lâu trong gian phòng thờ Bác Hồ mà theo sư bà là gian thờ đặc biệt. Tôi chăm chú xem hết những bài thơ của sư bà viết về Bác và về tu hành. Những bài thơ được thể hiện trên giấy khổ lớn, có bài đã lồng vào khung lớn, có bài được sư bà dán trực tiếp lên tường của gian thờ. Dường như đoán biết vị khách lãng du tìm hiểu nội dung những bài thơ là có chủ địch, sư bà cho phép tôi chép vào sổ tay cả 9 bài thơ: Bác Hồ là Bồ Tát giáng Việt Nam, Ơn Bác Hồ, Kính viếng bà Hoàng Thị Loan từ mẫu, Kính viếng hương hồn liệt sĩ, Mùa Xuân đến, Đệ tử, Hòa đàm, Khuyên tu, Không đề.

Sư bà Thích Diệu Niệm đã viên tịch hơn 10 năm rồi, như một nén tâm nhang kính dâng hương hồn bà, tôi xin lược trích giới thiệu 4 khổ thơ thứ 1,4,5,9 và 2 câu kết bài thơ Bác Hồ là Bồ Tát giáng Việt Nam của sư bà khả kính:

BÁC HỒ LÀ BỒ TÁT GIÁNG VIỆT NAM

Có chính sách của Bác Hồ bảo đảm
Được tự do tín ngưỡng hợp lòng dân
Cả Việt Nam Phật giáo vững tinh thần
Tin tưởng Bác như mùa xuân hoa nở…
Lời Di chúc của Bác Hồ ghi tạc
Đoàn kết nhau gánh vác lấy non sông
Có tài năng và đạo đức chung lòng
Xây dựng nước nhà thành công vững chắc.
Công và của bỏ ra không ngần ngại
Quyết treo gương bác ái giữa toàn dần
Nghiên cứu trong đạo đức với tinh thần
Hồ Chủ tịch chí công – nhân độ nhất…
Bác đưa lại tự do và hạnh phúc
Phá xích xiềng áp bức, chống xâm lăng
Là vĩ nhân văn hóa vượt tài năng
Dựng lại nước phải chăng tài bậc Thánh
Nhìn ảnh Bác, cảm thấy người đạo hạnh
Bác Hồ là Bồ Tát giáng Việt Nam.

Ngày 23/1/2010, tôi và một đồng nghiệp đến Ban Quản lý dự án tôn tạo, mở rộng Khu Di tích lịch sử – văn hóa Nam Đàn. Sau đó, chúng tôi cùng ông Nguyễn Vương Lộc, Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL Nghệ An, lên Khu Di tích Kim Liên dâng hương viếng Bác. Từ làng Chùa, Hoàng Trù quê ngoại, khi chúng tôi chuẩn bị lên xe sang làng Sen, Kim Liên quê nội, bỗng gặp một đám khách từ ngoài cổng đang tiến vào, người vận áo dài cà sa màu vàng dẫn đầu, tiếp sau là các vị tăng ni, phật tử vận áo dài màu nâu.

Người dẫn đường đưa đoàn khách từ Vinh lên cho hay: Đây là đoàn khách từ TP Hồ Chí Minh ra, là khách của cơ quan anh, người dẫn đầu vận áo dài cà sa màu vàng là Thượng tọa Thích Thiện Chiếu, Phó Ban Từ thiện – xã hội trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Kỳ Quang 2, Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh. Đoàn ra Vinh mấy ngày, đầu chiều đoàn sẽ bay vào TP Hồ Chí Minh. Sáng nay, anh thay mặt cơ quan tháp tùng Thượng tọa Thích Thiện Chiếu và các thành viên trong đoàn lên dâng hương viếng Bác.

Từ giờ phút đó chúng tôi sáp nhập vào đoàn khách đến từ TP Hồ Chí Minh để cùng sang làng Sen, lên núi Động Tranh, xã Nam Giang viếng mộ bà Hoàng Thị Loan. Khi đoàn dừng nghỉ dưới chân núi Động Tranh, tôi thấy Thượng tọa Thích Thiện Chiếu sử dụng đầu ô-tô làm bàn và ông đứng viết. Lát sau Thượng tọa cùng với mọi người trong đoàn vào quán ngồi uống nước chè xanh, ăn kẹo lạc, Thượng tọa xúc động đọc bài thơ ông vừa sáng tác trên đường từ làng Chùa, làng Sen đến núi Động Tranh. Đọc xong, Thượng tọa đồng ý cho bấm ảnh bản gốc bài thơ để lưu giữ một kỷ niệm đáng nhớ được gặp vị Thượng tọa phương nam trên vùng đất thiêng liêng quê Bác.

SÁNG MÃI ƠN NGƯỜI

Chủ trương đoàn kết đến thành công
Tịch mặc vẫn yên quyết một lòng
Bác dạy tự do duy hữu nhất
Hồ công độc lập thị vô song
Chí linh hòa kiệt lừng Âu Á
Minh trí hùng anh giống Lạc Hồng
Vĩ tận ơn Người lưu sử sách
Đại đồng chủ nghĩ khắp non sông.

Theo dvt.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ ở Trường Sa

Bức ảnh Bác Hồ với chiến sĩ Hải quân đã trở thành kỷ vật truyền thống có ở hầu khắp các đơn vị hải quân. Ảnh T.D.H

Trên các đảo nổi, đảo chìm và trên từng nhà Dàn DKI của quần đảo Trường Sa, thời tiết vô cùng khắc nghiệt vẫn hiện hữu và tràn trề sức sống của cây bàng quả vuông – loại cây đặc trưng thích nghi sóng gió. Dù cuộc sống, sinh hoạt, chiến đấu còn khó khăn nơi đầu sóng ngọn gió nhưng với chiến sỹ và nhân dân trên đảo hình ảnh Bác Hồ kính yêu – hiện thân của niềm tin, ý chí, sự bao che rất ấm áp, thiêng liêng.

Tôi về Trường Sa trong những ngày đầu tháng năm nồng nàn nắng gió. Lần đầu tiên trong đời bâng khuâng đặt chân lên các đảo nổi, đảo chìm, các nhà Dàn DKI… đưa tầm mắt nhìn ra biển khơi ngút ngàn sóng bạc mới thấm thía đất nước mình rộng lớn vô cùng. Và, biển cả đại dương mênh mông vô cùng tận! Lần đầu tiên, đưa tay sờ vào cột mốc Bia chủ quyền trên đảo Trường Sa Lớn, chợt nghe trong hồn dâng lên tình yêu đất nước rớm lệ. Bởi lần đầu tiên được đến với Trường Sa nên với tôi cái gì cũng mới lạ, cũng đáng quý và được tôi “ghi chép” vào lòng! Đúng như người ta nói, đặc trưng của đảo thời tiết khí hậu quanh năm rất khắt nghiệt; mỗi năm chỉ có 3 tháng (giữa tháng giêng đến giữa tháng tư âm lịch) biển yên sóng lặng những tháng còn lại mưa nắng, bão giông rất thất thường.

Nơi đất trời khắt nghiệt vậy, cuộc sống vẫn cứ sinh sôi, cây lá vẫn tươi xanh sau từng mùa bão nổi đi qua. Rau muống biển nở hoa tím ngời ven mặt nước; cây phong ba, bàng quả vuông cứ vươn cao như ưỡn tấm ngực chắn gió đại dương che chở con người. Bàng quả vuông nở hoa vào mùa xuân làm xao xuyến lòng người trên đảo và kết trái có hình thù bốn cạnh vuông vức rất đẹp và lạ mắt, món quà kỷ niệm của đảo với đất liền mỗi khi có chuyến công tác ra thăm…

Đi đến tất cả các đảo nổi, đảo chìm, nhà Dàn DKI và vào thăm 07 gia đình dân đầu tiên của huyện Cam Lâm (Khánh Hòa) tình nguyện ra Trường Sa Lớn định cư, tôi nhận ra một điều rất đặc biệt: Trong mỗi nơi tôi đến đều lập bàn thờ Bác Hồ kính yêu. Bàn thờ Bác được đặt nơi cao nhất, trang trọng nhất với hoa tươi, quả ngọt đơm đầy và được nhang khói mỗi ngày. Trong 7 hộ dân sống ở Trường Sa, có 2 hộ theo đạo Thiên chúa giáo, bàn thờ Bác Hồ được đặt cao hơn tượng chúa. Chị Nguyễn Thị Hạnh (người có đạo) nói: “Thờ Bác Hồ trong nhà thấy ấm áp và thêm vững tin”. Hầu hết những công dân đảo đều cho rằng ngoài thờ cúng ông bà, thờ cúng Bác Hồ để Bác linh thiêng phù hộ cho biển yên sóng lặng, cuộc sống yên bình trên đảo xa…

Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đảo Trường Sa.

Không ở đâu như ở Trường Sa, hình ảnh Bác Hồ thật gần gũi và ấm áp đến diệu kỳ. Hình ảnh Bác có ở khắp nơi: Tượng đồng lớn đặt tại Nhà Tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đảo, trong các hội trường, phòng họp, nhà khách Thủ đô, trên Tháp cao của tại các nhà Dàn DKI giữa sóng gió biển khơi với chòm râu trắng như cước, trong chiếc mũ Hải quân với nụ cười hiền hậu và rất đỗi gần gũi trong mỗi hộ dân…Đi giữa mênh mông trời nước Trường Sa, những câu thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu chợt ùa về:

“Bác ở Điện Biên. Bác ở Trường Sơn
Bác ở Trường Sa, Bác ở rừng biên giới
Đất nước gian nan mỗi lần gặp tới
Chúng con đi, có Bác ở bên mình”.

(Những khúc ca về Bác)

Bất cứ ở nơi đâu khó khăn, gian nan nhất đều có Bác gũi gần. Bác là hiện thân của niềm tin, dũng khí, bình dị mà thật lớn lao tỏa ánh nắng chan hòa sưởi ấm giá rét giữa phong ba; động viên cán bộ, chiến sỹ và nhân dân biết vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh chung sức chung lòng dựng xây non sông gấm vóc. Bác là hiện thân của sức mạnh đoàn kết, của tình quân dân gắn chặt vững bền như cây phong ba giữa miền đất đảo cắm sâu rễ vào từng thớ đất thiêng liêng, tỏa bóng mát giữa nghìn trùng khơi… Cảm xúc trong tôi chợt dâng tràn:

Trồng rau xanh trên đảo Trường Sa.

“Không ở đâu như ở Trường Sa
Hình ảnh Bác Hồ gũi gần
Hiện thân
Niềm tin, dũng khí…
Để anh lính đảo tui rèn ý chí
Vượt mọi hiểm nguy: bão dữ, phong ba
Sẵn sàng xả thân cho Tổ quốc sơn hà”

Đã bốn mươi hai năm rồi “vắng Bác”, nhưng trên mọi nẻo đường đất nước như vẫn còn in dấu chân Bác mới đi qua. Tháng năm về Trường Sa, ta gặp Người ở đấy…

Theo Thanh Hồng
Suckhoedoisong.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng.

Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho nên, đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng.

– Theo Hồ Chí Minh những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức cách mạng Việt Nam gồm những đặc điểm sau:

Một là, trung với nước hiếu với dân

Đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chất khác. Từ khái niệm cũ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” trong đạo đức truyền thống của xã hội phong kiến phương Đông, Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn là “trung với nước hiếu với dân”. Đó là một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức.

Trung với nước hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị-đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau.

Hai là, yêu thương con người.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo. Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Người dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức bóc lột. Người viết: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc,ai cũng được học hành”.

Hồ Chí Minh yêu thương đồng bào, đồng chí của Người, không phân biệt họ ở miền xuôi hay miền ngược, là trẻ hay già, trai hay gái… không phân biệt một ai, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người.

Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm khuyết điểm. Với tấm lòng bao dung của một người cha, Người căn dặn, chúng ta: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”.

Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người

Ba là, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Theo Hồ Chí Minh thì: Cần tức là lao động cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao, lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”. Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi“, không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù. Liêm tức là “luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân”, “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân“; phải trong sạch, không tham lam; “Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa”. Chính, nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn. Đối với mình: không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình. Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc: để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Chí công vô tư, Người nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc“. “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ“.

Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng.

Đó là tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản mà Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng mệnh đề “bốn phương vô sản đều là anh em“; là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc; là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với tất cả những người tiến bộ trên thế giới vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội, vì những mục tiêu lớn của thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước, các dân tộc.

Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế vô sản gắn liền với chủ nghĩa yêu nước, hơn nữa phải là chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những nguyên tắc cơ bản để định hướng sự lãnh đạo của Đảng và việc rèn luyện của mỗi người.

– Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức.

Cán bộ đảng viên phải đầu tầu gương mẫu “miệng nói tay làm”, phải nêu tấm gương đạo đức cách mạng trước quần chúng; cán bộ, đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Sống theo phương châm “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Cổ vũ “người tốt, việc tốt”, các điển hình tiêu biểu.

– Xây đi đôi với chống.

Xây dựng nền đạo đức cách mạng, giáo dục chuẩn mực đạo đức mới, khơi dậy ý thức tự giác, đạo đức lành mạnh ở mọi người, hướng mọi người vào cuộc đấu tranh cho sự trong sạch, lành mạnh về đạo đức. Nâng cao đạo đức cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân – nguồn gốc của mọi thứ tệ nạn, thứ giặc “nội xâm” phá từ trong ra.

– Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.

Người cũng khẳng định đạo đức không phải là thứ có sẵn trong mỗi người mà đạo đức là do con người tiếp thu được qua giáo dục và tạo thành nhờ bản thân tích cực tu dưỡng bền bỉ rèn luyện trong môi trường sống và trong cuộc đấu tranh cách mạng. Người đưa ra lời khuyên rất dễ hiểu: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Nâng cao đạo đức trong tình hình mới, Đảng và nhân dân ta quán triệt tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, ra sức bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức, vận dụng các nguyên tắc xây dựng đạo đức mà Người đã nêu ra.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức luôn luôn gắn liền với kinh tế. Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời hy sinh cho cách mạng để giành lấy độc lập và tự do là nhằm xoá bỏ áp bức, bóc lột, phát triển kinh tế đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, cho mỗi con người. Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển mọi mặt của xã hội; phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hoá, đạo đức, con người. Tinh thần này đã được thể hiện trong câu nói bất hủ của Hồ Chí Minh “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa“.

Học tập tư tưởng trong đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước tiếp tục cổ động phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ đổi mới, biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, dấy lên phong trào “người tốt việc tốt”, nêu gương sáng đạo đức cách mạng để mọi người tôn vinh và noi theo.

Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, bên cạnh việc xây dựng những phẩm chất đạo đức. Trung với nước, hiếu với dân, thương người, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, tinh thần quốc tế trong sáng nêu trong di sản của Người, chúng ta còn phải đấu tranh quyết liệt chống các tệ nạn xã hội nảy sinh trong nền kinh tế thị trường đang làm phương hại đến nền đạo đức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã sớm nhận ra sự nguy hiểm của bệnh “cá nhân”, đó là nguyên nhân đẻ ra các tệ nạn tiêu cực ảnh hưởng nghiêm trọng đến chế độ.

Ngay từ năm 1952, Người đã nêu rõ những tệ nạn cần phải chống gồm ba loại hình là tham ô, lãng phí, quan liêu. Người coi những tệ nạn đó là tội ác, là kẻ thù khá nguy hiểm của nhân dân, là bạn đồng minh của thực dân, phong kiến, là thứ “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng” phá từ trong phá ra. Người đã chỉ rõ tội lỗi của những kẻ tham ô, lãng phí quan liêu cũng nặng như tội lỗi “Việt gian, mật thám”. Người cho rằng: “Việc tranh đấu với kẻ địch ở tiền tuyến bằng súng, bằng gươm còn dễ, nhưng việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót”.

Cuộc sống đang đòi hỏi phải làm trong sạch Đảng và làm lành mạnh đời sống đạo đức của xã hội. Hai mặt đó phải tiến hành song song. Phải khắc phục các nguyên nhân đẻ ra các tệ nạn tiêu cực; càng phải khắc phục nguyên nhân đã để cho các tệ nạn tiêu cực phát triển. Trong cuộc đấu tranh này, phải lấy việc xây dựng Đảng làm nhiệm vụ then chốt, như đã được nêu ra trong nhiều Nghị quyết của Đảng.

Chúng ta càng thấm thía lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vẫn còn giữ nguyên tính thời sự, soi sáng cho Đảng và nhân dân ta hoàn thành sự nghiệp vẻ vang, xây dựng nền đạo đức Việt Nam ngang tầm với những yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới.

Theo Báo Bắc Kạn

bqllang.gov.v

Đạo đức và nhân cách: Đặc điểm số một của tư tưởng Hồ Chí Minh

Khái niệm “đạo đức” xuất hiện trong văn chương Trung Quốc rất sớm mà cho đến thời Đường, đại văn hào Hàn Dũ còn viết rằng: “Đạo đức là những từ chưa được khẳng định”. Khác với khái niệm “nhân nghĩa” đã được khẳng định rồi. Ngay bây giờ, người ta vẫn còn lờ mờ hiểu ở chỗ đó. Nếu theo Hàn Dũ thì “mỗi việc đều làm theo nhân nghĩa” thì còn gọi là đạo, còn “tự mình có thể bằng lòng với chính mình, không cần ỷ lại vào người khác” gọi là đức. Nói như Hàn Dũ cũng chưa được rõ lắm, nhưng định nghĩa của ông trong luận văn “Nguyên đạo” gợi được nhiều ý. Đạo của Nho là nhân nghĩa, Đạo của Phật là từ bi cứu khổ.

Đạo đức của Cụ Hồ như lời của Phạm Văn Đồng nói là: Trung với nước, hiếu với dân, là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, trong đó trung với nước, hiếu với dân thuộc về đạo, nói một cách khác đó là độc lập, chủ nghĩa xã hội; còn cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là thuộc về đức, là bộ phận quan trọng của đức, đức trong tư tưởng của Cụ Hồ còn rộng lớn hơn nhiều, đức có thể được định nghĩa như là những tính con người cần phải rèn luyện để thực hiện cái đạo cơ bản hơn. Cái ý của Hàn Dũ rằng: “Tự mình có thể bằng lòng với chính mình, không cần ỷ lại vào người khác gọi là đức”, có lẽ như vậy. Đạo là gốc rễ, đức là thân cành hoa quả, như vậy có đức thì đạo mới được thực hiện, có đạo thì đức mới nảy sinh và phát huy tác dụng.

Khi Cụ Hồ từ trần, thì ở Pháp rộ lên một loạt bài báo của những nhân vật tiếng tăm tuyên dương Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà lãnh tụ Cộng sản trên thế giới, đã đặc biệt chú trọng đến vấn đề đạo đức trong lý luận và trong thực tiễn, không vị lãnh tụ nào sánh bằng. Họ nhấn mạnh Hồ Chủ tịch của chúng ta đã đặt vị trí “ưu tiên cho đạo đức”. Và họ tìm cách cắt nghĩa cái điều hơi lạ ấy. Đối với họ sở dĩ như vậy là do ông Hồ chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Khổng Mạnh. Tôi đồng ý hoàn toàn với họ rằng Cụ Hồ là vị lãnh tụ Cách mạng đã đặt đạo đức ở “vị trí ưu tiên”. Tôi cũng đồng tình rằng tinh túy của tư tưởng Khổng Mạnh còn ảnh hưởng tích cực ở Việt, nhưng tôi cho rằng sở dĩ ở Việt Nam cả trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến, đạo đức được đặt ở vị trí ưu tiên và trước hết, điều ấy thuộc truyền thống dân tộc của một đất nước trong 2000 năm đã phải hằng mấy chục lần chống trả những kẻ xâm lược lớn mạnh hơn mình gấp bội. Muốn tồn tại, dân tộc Việt Nam không thể cậy vào số người mà phải dưa vào những con người chiến đấu. Lâu đời thành nếp tư tưởng quý trọng bậc nhất đạo đức, nhân cách, tính kiên cường bất khuất, đức quên mình vì nước vì dân… Đạo đức Cụ Hồ là đạo đức truyền thống Việt Nam. Ngày Lê-nin từ trần (1924) Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng sở dĩ các dân tộc Đông phương kính mến Lê-nin vì vị thầy của Cách mạng giải phóng dân tộc là một người: “Khinh thường xa hoa, yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị”. Cho nên khi mở lớp đào tạo cán bộ đầu tiên (1925), Hồ Chí Minh đã đặt ra 23 điều tư cách của người chiến sỹ được ghi trên trang đầu của sách giáo khoa “Đường Kách mệnh”. Chính vì vậy nên trong số các tiêu chuẩn bầu anh hùng quân đội trong kháng chiến, thì tiêu chuẩn đạo đức nhân cách được đặt lên hàng đầu trước cả những thành tích kỳ diệu.

Cán bộ hiện nay gồm có cả tài lẫn đức thì ước mong gì hơn? Nhưng nếu phải khiếm tài thì còn có thể hữu ích, chớ thiếu đức thì dùng vào đâu được?.

Theo GS. Trần Văn Giàu
(Tạp chí Tia sáng)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.v

Lăng Bác Hồ, nơi toả sáng niềm tin

“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là trách nhiệm, là tình cảm thiêng liêng sâu nặng của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay sau khi Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X và Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương phát động, Thường vụ Đảng uỷ Bộ Tư lệnh đã xác định: Đây là thời cơ lớn để giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ vừa “hồng”, vừa “chuyên”; đồng thời chủ động tham mưu, đề xuất phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của công trình Lăng, đóng góp cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi Cuộc vận động.

Lăng Bác là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của đồng bào và bầu bạn quốc tế. Hàng ngày trung bình có khoảng 10 ngàn l­ượt đến viếng Bác. Mỗi người đến viếng Bác với tâm trạng, suy nghĩ riêng, nh­ng đều thể hiện tình cảm kính trọng, biết ơn Người, “Về bên Bác lòng ta trong sáng hơn”. Để góp phần vào thành công chung của Cuộc vận động, đơn vị đã chủ động tham mưu, đề xuất với các cơ quan Đảng, Nhà n­ớc và Bộ Quốc phòng đẩy mạnh các hoạt động đón tiếp, tuyên truyền, phát huy cao nhất ý nghĩa chính trị, văn hoá của công trình Lăng Bác. Nâng cao chất lượng công tác đón tiếp, phục vụ đồng bào, khách quốc tế đến viếng Bác tận tình, chu đáo, văn minh, lịch sự; tạo điều kiện thuận lợi cho các tập thể tổ chức: Lễ báo công, lễ giao ư­ớc thi đua, lễ kết nạp đảng viên, kết nạp đoàn viên, đội viên. Tiếp tục phối hợp với Bộ Lao động Thương binh- Xã hội, các tỉnh và đơn vị Quân đội đón tiếp nhiều đoàn Bà mẹ VNAH, gia đình chính sách, người có công, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, khu căn cứ cách mạng được về Thủ đô viếng Bác và tham quan các khu di tích. Đặc biệt, vào dịp 19/5 hàng năm, phối hợp với các cơ quan ở Trung ­ương, các tỉnh uỷ, thành uỷ, các đơn vị Quân đội, Công an lựa chọn những tấm gương tiêu biểu, xuất sắc trong phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về Lăng viếng Bác, báo công với Người, trao tặng Huy hiệu Bác Hồ, nhằm tuyên truyền, giáo dục các thế hệ người Việt Nam luôn “Nguyện sống, chiến đấu, lao động và học tập theo tấm gương Bác Hồ vĩ đại”.

Chủ tr­ương của Th­ờng vụ Đảng uỷ Bộ Tư­ lệnh đã được Đảng bộ và đơn vị triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Từng đảng uỷ cơ sở chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình hành động gắn với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cải tiến, đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt, trọng tâm là lãnh đạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt; thành lập ban chỉ đạo Cuộc vận động và cụ thể hoá tiêu chuẩn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sĩ sát hợp với yêu cầu nhiệm vụ y tế, kỹ thuật, bảo đảm an ninh, nghi lễ, đón tiếp, tuyên truyền và tôn tạo cảnh quan, môi tr­ờng khu vực Lăng.

Đơn vị đã thực hiện tốt đợt thi đua đặc biệt “Mừng Đảng, mừng Xuân, lập công dâng Bác”, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ y tế giữ gìn thi hài Bác, bảo đảm công tác an ninh, nghi lễ và SSCĐ; trong quý I/2007 đã đón tiếp tận tình chu đáo hơn 600 ngàn l­ượt người đến viếng Bác, tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm 2006; 100% cơ quan, đơn vị thực hành tiết kiệm điện, n­ớc trong sinh hoạt và chiếu sáng; quản lý, sử dụng vật t­, kinh phí, chặt chẽ, hiệu quả; tổ chức Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác” tại khu di tích Đá Chông và Đền Hùng- Phú Thọ; mỗi cán bộ, công nhân viên dành ít nhất 1 ngày l­ương ủng hộ quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” và tổ chức tặng t­ượng Bác Hồ cho Đền thờ Bác tại tỉnh Sóc Trăng.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sĩ đã tích cực, tự giác nghiên cứu, học tập các chuyên đề và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với trách nhiệm cao; nghiêm khắc kiểm điểm, liên hệ bản thân và đăng ký tu d­ỡng phấn đấu rèn luyện phẩm chất: Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự c­ờng, chủ động sáng tạo, say mê nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, v­ơn lên làm chủ vững chắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực sự tiêu biểu, gương mẫu về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô t­ư, xây dựng tác phong “Người chiến sĩ bên Lăng Bác” chính quy, mẫu mực.

Cuộc vận động đã thu hút được các tổ chức Đoàn thanh niên, công đoàn và Hội phụ nữ tham gia. Phong trào:”Xây dựng tủ sách Bác Hồ”; “Thanh niên học tập và làm theo lời Bác”; “Ngày đọc sách của thanh niên”; “Thi tìm hiểu những câu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; “Vọng gác thanh niên”; “V­ờn cây thanh niên”; “Công trình, sản phẩm dâng Bác”, giao l­ưu, tặng quà chiến sĩ mới… được đoàn viên thanh niên, đoàn viên công đoàn, hội viên phụ nữ hư­ởng ứng tích cực, tạo bầu không khí sôi nổi, phấn khởi, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau.

H­ớng tới kỷ niệm 117 năm Ngày sinh của Bác Hồ, Đảng bộ và đơn vị đang tập trung triển khai hoàn thành toàn diện, có chất lượng cao các nội dung của bước 1 Cuộc vận động. Tổ chức sôi nổi các hoạt động giáo dục, tuyên truyền, nghe nói chuyện chuyên đề, thi báo cáo viên kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với tuyên truyền Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cấp cơ sở và cấp Đảng bộ Bộ Tư­ lệnh; tổ chức cho các đồng chí thương binh, thân nhân liệt sĩ và cán bộ, công nhân viên viếng nghĩa trang liệt sĩ Tr­ờng Sơn; chuẩn bị chu đáo và tổ chức bầu cử Quốc hội khoá XII bảo đảm dân chủ, chặt chẽ, đúng pháp luật; lựa chọn những quần chúng ư­u tú kết nạp Đảng viên mới đợt 19/5 tại Lăng của Người.

Với khí thế thi đua: “Lập công dâng Bác”, toàn đơn vị đang thể hiện quyết tâm hoàn thành xuất sắc các mục tiêu: Huấn luyện giỏi, rèn luyện kỷ luật nghiêm, xây dựng đơn vị nền nếp chính quy, mẫu mực; xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu; giữ gìn tuyệt đối an toàn lâu dài thi hài Bác, tổ chức đón tiếp khách đến viếng Bác tận tình chu đáo. Để Lăng Bác mãi mãi là nơi hội tụ tình cảm và toả sáng niềm tin cho nhân dân ta và bầu bạn quốc tế, thực sự là nguồn cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Thiếu t­ướng Nguyễn Ngọc Lâm
Chính uỷ Bộ T­ư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Góp phần tìm hiểu giá trị lịch sử – văn hoá của Khu di tích Đá Chông

Ngôi nhà Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Bộ Chính trị đã làm việc tại Đá Chông từ năm 1960 đến năm 1969

Tìm hiểu giá trị lịch sử- văn hoá của Khu di tích Đá Chông chúng ta đã tiếp cận toàn diện từ nhiều hướng, nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Tuy nhiên những năm qua, do chưa có điều kiện khai thác nguồn tài liệu từ các trung tâm lưu trữ quốc gia, chúng ta chưa có khảo sát kỹ trong những năm từ 1960- 1964 Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Bộ Chính trị đã có những hoạt động gì tại đây, tại phòng họp tầng 1 ngôi nhà sàn nơi đã diễn ra việc họp Bộ Chính trị do Hồ Chủ tịch chủ trì.

Đương nhiên, chúng ta phải bắt đầu từ thực tiễn khách quan, một nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo công tác nghiên cứu. Vì chỉ có tuân thủ tính khách quan mới đạt được sự chân thật, đúng đắn, mới đáng tin cậy, tránh được những suy đoán chủ quan, xa rời thực tiễn. Cho đến nay, hầu hết các nhân chứng lịch sử đã cung cấp cho ta những tư liệu đáng tin cậy. Điều lạ lùng và bất ngờ cảm động là từ đồng chí Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đến mỗi người lính bảo vệ, từ đồng chí Thư ký gần gũi nhất của Bác đến một người dân thường, ai đã một lần gặp Bác thì hình ảnh Bác, lời Bác chỉ bảo như vẫn sống mãi, hiển hiện trong tâm thức của những người đang sống, trong sự nghiệp cách mạng mà họ đang đi theo con đường của Người đã chọn.

Tính đa dạng và thống nhất trong mỗi sự vật, hiện tượng đòi hỏi chúng ta phải biết phân tích, lựa chọn kể cả những ngẫu nhiên phức tạp của hiện tượng để từ đó tìm ra sự phát triển và tính liên tục của những sự kiện. Kết hợp cái lịch sử với cái lôgích cho phép chúng ta có thể phản ánh lịch sử nhưng phản ánh một cách khái quát với những mốc lịch sử chính mà không cần đi vào những chi tiết, và cũng có thể từ một sự thật được hé lộ đã cho chúng ta hình dung ra một bức tranh toàn cảnh của lịch sử. Trở lại vấn đề đi tìm sử liệu cho giai đoạn Bác và các đồng chí trong Bộ Chính trị sống và làm việc tại Khu Đá Chông từ 1960 – 1964, thông qua các nhân chứng lịch sử chúng ta có thể khẳng định: Nơi đây là nơi Bác đã chọn để xây dựng thành nơi làm việc của Trung ương, tất yếu từ nơi đây Bác và Trung ương có những quyết định trọng đại, liên quan đến một thời kỳ cách mạng sục sôi ở cả hai miền nước ta. Đó là lịch sử và lôgích của lịch sử cần tiếp tục làm sáng tỏ.

Nhiều vấn đề đã được thống nhất trình bày trong Báo cáo khoa học của Đề tài do Tiến sĩ Đặng Nam Điền – Chủ nhiệm đề tài báo cáo. Tôi thấy cần trình bày thêm những suy nghĩ của mình để được trao đổi làm rõ một số vấn đề tại cuộc Hội thảo khoa học này.

1. Trên dòng chảy của một nền văn minh và một trục “Thiên đạo” lớn.

Các nền văn minh của nhân loại đều gắn với lưu vực của những dòng sông lớn. Sông Hồng chảy qua những miền quê trù phú, từ xa xưa đã gìn giữ nền văn minh lúa nước độc đáo và rực rỡ. Sông Hồng gặp sông Đà rồi xuôi dọc xứ Đoài, tụ hội về trung tâm kinh kỳ Thăng Long. Hàng trăm di chỉ khảo cổ học tìm thấy ở nơi cư trú của người Việt cổ bên các triền sông đã làm sáng tỏ thời đại Hùng Vương, một thời đại có thật trong lịch sử bị huyền thoại hoá. Văn hoá khảo cổ học Gò Mun, Phùng Nguyên với đỉnh cao của nghề gốm nguyên thuỷ nước ta, các hoa văn trên gốm đạt đến trình độ tuyệt duyệt, phức tạp, đối xứng sinh động. Nền văn minh rực rỡ cổ xưa đó đã được hình thành và phát triển; đặc biệt được phân bố rộng khắp trên một dải sông núi đất đai suốt từ Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hoà Bình đến Hà Tây, Hà Nội, Bắc Ninh.

Đó là “hình sông”, còn “dáng núi” thì nhà Bác học Lê Quý Đôn sau khi quan sát Tản Viên Sơn đã ghi những dòng ký sự trữ tình và tráng lãm: “Mạch núi đi từ Mường Thanh xuống, tầng tầng lớp lớp kéo đến, liên miên chằng chịt, đến đây mọc ngang ra ba ngọn, mặt tả trông về sông Đà, phong cảnh tốt tươi, khí thế nghiêm chỉnh, có chỗ như tán quạt, lâu đài, ngọn giữa rất cao, phụng thờ thượng đẳng linh thần, đỉnh núi sườn non, chân núi có cung điện Thượng cung, Trung cung, Hạ cung; Thượng cung cao chót vót chọc trời suốt ngày mây mù bao bọc dày đặc” (Kiến văn tiểu lục NXB KHXH, HN 1977, tr 292).

Khu Đá Chông nằm giữa một miền đất kỳ vĩ tươi đẹp, nơi con sông Đà đến đây bỗng đổi hướng xuôi về hạ lưu, núi Tổ Ba Vì sừng sững như gần như xa. Từ đây phóng xa tầm mắt về phía Bắc là miền Trung du đất tổ Vua Hùng , phía sau là đồng bằng Bắc bộ, là Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến. Mượn cách nói của các nhà Sử học khi nói về “Trục Thiên đạo” của Hoàng thành Hà Nội (từ Hoàng thành Cửa Bắc đến Cột Cờ), chúng tôi gọi dải đất thiêng này là một Trục Thiên đạo lớn.

Trên Trục Thiên đạo lớn có một vùng đất “địa linh nhân kiệt” với biết bao huyền thoại, tồn tại vô số di chỉ khảo cổ, danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử văn hoá. (Ngay cả huyền tích, huyền thoại, truyện kể phảng phất những yếu tố tâm linh, nếu không đi ngược với lôgích của khoa học mà chỉ tạo đường viền làm nổi bật sự kiện, nhân vật thì bản thân nó cũng chứa đựng những giá trị lịch sử văn hoá). Vùng đất thiêng này chắc chắn chứa đụng trầm tích lịch sử văn hoá mà linh cảm của Người đã phát hiện ra và để lại dấu ấn của một thiên tài cá nhân đối với lịch sử.

Vào một ngày tháng 5 năm 1957, Bác đến thăm Sư đoàn 308 diễn tập thực binh, tập mẫu chiến thuật “Trung đoàn bộ binh tăng cường tiến công quân địch phòng ngự có chuẩn bị”. Cũng như khi Người đi công tác các tỉnh thường mang theo cơm nắm, thức ăn và Bác cháu cùng dùng bữa cơm đạm bạc. Ông Vũ Kỳ thư ký của Bác nhớ lại: Bác đã ngồi ăn cơm nắm bên “Ba ngọn núi” Đá Chông, chỗ đó đất phẳng, có một cây phượng vĩ; sau đó Người nằm nghỉ một lát ngay dưới gốc cây.

Bác Hồ đến khu vực Đá Chông có thể không phải chỉ một lần. Nhưng cái buổi trưa tháng 5 năm 1957 đó, cũng theo ông Vũ Kỳ: Người đã đứng ở vị trí “Ba ngọn núi” Đá Chông nhìn sông Đà trước mặt, thấy đây là nơi tụ thuỷ, dòng sông uốn khúc, cảnh vật tươi đẹp, gần dân, xa đường quốc lộ. Với tầm nhìn của nhà chiến lược thiên tài, Người nghĩ đến một cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù, phải tính đến việc lập một căn cứ dự phòng, khi cần thiết có thể đưa Bộ tham mưu của cách mạng trở về đây bảo đảm an toàn. Địa bàn Sơn Tây cũng như khu vực Đá Chông vốn là phên dậu phía Tây của Thủ đô, có thể coi như mảnh đất bàn đạp nằm tiếp giáp với chiến khu xưa và đồng bằng, thành phố. Người đã đi đến một quyết định quan trọng. Theo ý kiến của Người, khu vực Đá Chông được xây dựng thành nơi làm việc của Người và các đồng chí Trung ương khi có tình huống chiến tranh. Ngay sau đó, Tổng cục Hậu cần được lệnh lên khu đồi ấy xây dựng một số ngôi nhà cấp bốn. Đến năm 1960, trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh phá hoại đã quá rõ ràng, Cục Doanh trại được lệnh tiếp tục lên xây dựng khu căn cứ của Trung ương, bộ đội Công binh còn xây dựng một hệ thống công sự kiên cố và đặt tên là K9. Đặc biệt, Bác đã cắm cọc, nhắm hướng cho dựng một ngôi nhà chính làm nơi hội họp, nghỉ ngơi của Bác và các đồng chí trong Bộ Chính trị.

Từ đây, trên Trục Thiên đạo lớn, nơi tiếp nối mạch nguồn lịch sử đã có một đại ban doanh của cách mạng Việt Nam: Khu căn cứ Đá Chông. Nơi đây Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã từng sống và làm việc trong những năm 1960 – 1964, những năm cao trào của cách mạng Việt Nam.

2. Di tích Đá Chông còn đó những bí ẩn của lịch sử.

Lịch sử đã thừa nhận những đỉnh cao mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đạt tới: Nhà tư tưởng lớn, minh triết và nhà văn hoá kiệt xuất. Người là lãnh tụ vĩ đại của Đảng, của dân tộc, lại là một con người gần gũi, thân thiết với mọi người trong đời thường. Nét đặc trưng bao trùm con người Hồ Chí Minh là “vĩ đại trong sự giản dị, một sự giản dị vĩ đại”. Điều đó làm cho Hồ Chí Minh khi còn sống đã là một trong số hiếm hoi những nhân vật lỗi lạc được huyền thoại hoá. Sau khi Người qua đời, có nhiều điều được công bố, được nghiên cứu làm sáng tỏ khiến chúng ta không những ngạc nhiên mà còn vô cùng kính phục bởi khả năng tiên đoán tài tình của Người về năm 1945 Cách mạng Tháng 8 thành công và năm 1975 đất nước toàn thắng, đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào. Harison S.Salisbury là nhà báo Mỹ đầu tiên được Chính phủ ta cho phép vào Hà Nội tháng giêng năm 1967 để tìm hiểu cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân miền Bắc đã kể lại một câu chuyện: Cố chuyên gia xuất sắc về Việt Nam, ông Bernard Fali, người Pháp, đã có lần tha thiết yêu cầu Cụ Hồ cho biết một vài chi tiết về tiểu sử của Cụ. Cụ Hồ từ chối với một cái nháy mắt lanh lợi và nói: “Ông biết đấy, tôi là một người già, một người rất già, và người già thường ưa làm ra vẻ bí ẩn về mình. Tôi cũng thích giữ một số điều bí ẩn nhỏ. Chắc ông hiểu”.

Cho tới ngày nay, nhiều điều “bí ẩn nhỏ” ấy vẫn tồn tại. Những chi tiết chính xác về ngày sinh, về gia đình, về hoạt động của Cụ trong nhiều giai đoạn dài (đôi khi làm đến cả mười năm) và cả tên Cụ nữa (Báo văn nghệ số 20; 19/5/2007).

Gần đây, tôi được đọc một bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan về chuyện Bác có nói với ông Hoàng Đạo Thuý việc tìm một địa điểm để lo việc sau này, khi Người qua đời. Việc ấy diễn ra vào khoảng cuối năm 1956 đầu năm 1957 ông Thuý đã được đi cùng Bác tới khu Đá Chông. Sự kiện này hoàn toàn có thể đã xảy ra và không hề mâu thuẫn với chủ đích của Bác trong việc tìm một địa điểm làm nơi làm việc của Bác và Trung ương. Bởi vì, với Hồ Chí Minh, sự nghiệp lớn hành động luôn vì mục đích, động cơ cao cả. Bên cạnh đó Bác cũng là một con người bình thường với những vui buồn, với lẽ tử sinh của cuộc sống. Đọc lại Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh phần “Nguyên văn các bản viết Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng công bố tháng 8 năm 1989, Người có viết về việc “Hoả táng” và tìm một quả đồi gần Tam Đảo và Ba Vì mà xây mộ, bên trên xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi. Vậy là ngay trong những lời cuối cùng dặn lại về việc riêng, Người có nói đến việc tìm một quả đồi, Người vẫn dành cho nhân dân của Người.

Trong bản Di chúc của Người do Tổng Bí thư Lê Duẩn đọc trong Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình, phần nói về việc riêng có 79 chữ, ứng với 79 mùa xuân của Bác Hồ. Trong bản Di chúc công bố năm 1989 như đã nêu ở trên, Người nói về việc “hoả táng” và đặt tro xương vào một quả đồi trồng cây lên trên và xung quanh đồi.

Thể theo nguyện vọng rất thiết tha của toàn Đảng toàn dân ta, thi hài Bác đã được giữ gìn lâu dài để sau này đồng bào cả nước nhất là đồng bào miền Nam, bè bạn quốc tế có điều kiện tới viếng Bác, thể hiện tình cảm sâu nặng đối với Bác. Chính vì lẽ đó mà chúng ta đã xin phép Bác để điều này được làm khác với điều Bác dặn.

Như chúng ta đã biết, trong những năm chiến tranh ác liệt, để giữ gìn tuyệt đối an toàn lâu dài thi hài Bác, chúng ta đã tổ chức những cuộc hành quân bí mật đưa Người về những căn cứ an toàn, và Người đã về lại khu Đá Chông, yên nghỉ tại Đá Chông với thời gian tổng cộng tới hơn 4 năm.

Tất cả những điều đã trình bày trên đều là những “bí ẩn nhỏ” của lịch sử. Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Nông Đức Mạnh đã lên đặt tấm bia tưởng niệm tại nơi Người yên nghỉ và ghi dòng cảm tưởng “Tôi vô cùng xúc động được đến thăm khu di tích Đá Chông, một trong những nơi Bác Hồ đã làm việc và yên nghỉ, xin thắp nén hương thơm tưởng niệm Bác”.

Khu di tích Đá Chông là một vùng đất thiêng, nơi cán bộ và nhân dân tới tưởng niệm Bác Hồ, thể hiện tình cảm sâu đậm đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu.

3. Khu di tích Đá Chông một di sản văn hoá vật thể vô giá.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người nói và viết nhiều về đạo đức của người cách mạng và là tấm gương trong sáng tuyệt vời về đạo đức cách mạng. Người đã từng nói, đại ý: Người không ham danh lợi, nếu không phải vì nước mà phục vụ thì Người chỉ ưa thích trồng rau, hái củi, trò chuyện với những người bạn thân thiết, Người ưa sống gần gũi với thiên nhiên, ở Pác Bó, Tân Trào và cả Nhà sàn Phủ Chủ tịch cũng đều như vậy. Đó là một ngôi nhà nhỏ cạnh sông suối, có đất trồng rau, có cây xanh tươi tốt.

Điều này khiến cho ta có thể nghĩ tới ảnh hưởng và sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá phương Đông, tư tưởng đạo đức Lão Tử đề cao cách sống giản dị, đạm bạc và Trang Tử chủ trương quay về sống với thiên nhiên. Ai đã từng đến thăm Goocky Lêninxky ở Liên Xô, nơi Lênin đã từng sống và làm việc trong một ngôi nhà cạnh khu rừng, cũng có thể liên tưởng tới khu Đá Chông ở Việt Nam.

Bác Hồ đặt chân lên khu vực Đá Chông, từ tâm đức Người đã có ý nguyện riêng tạo ra một nơi sống và làm việc cho mọi người và bản thân mình, nơi đây đã mang dấu ấn của Người tạo ra nó, một cảnh quan đẹp, hài hoà, hữu ích.

Trước hết, phải nói về ngôi nhà sàn. Gọi là “Nhà sàn” vì nó mang dáng dấp của những ngôi nhà sàn nhỏ của đồng bào dân tộc thiểu số, cũng như ngôi nhà sàn nhỏ của Bác ở chiến khu Việt Bắc. Phần lớn các ngôi nhà sàn dựng lên bên những dòng suối để phòng tránh thú dữ, rắn rết. Những hàng cột nâng đỡ ngôi nhà tạo ra không gian thoáng rộng cho tầng dưới và dáng vẻ vững chắc của những hàng cột gợi cho ta nhiều liên tưởng thú vị.

Nhà nghiên cứu xã hội học văn hoá Đoàn Văn Chúc cho rằng kiểu nhà sàn của dân tộc Thái, Tày, Mường là mô phỏng hình con rùa, một totem- vật tổ của 3 bộ tộc trên. (xem Lời nói đầu cuốn sách “Vật tổ và cấm kỵ” của S.Frớt).

Trong ngôi nhà sàn, những hiện vật vẫn còn là hiện vật gốc, đó là chiếc giường một đơn sơ của Bác, bộ bàn ghế… tất cả vẫn được giữ gìn như khi Bác còn sống và làm việc tại đây.

Bên ngoài ngôi nhà là vườn cây Bác trồng, vườn cây lưu niệm của những vị khách quý và con đường bậc thang đi xuống bờ sông Đà trải đầy sỏi cuội, hai bên có hàng cây bông bụt của quê hương. Có thể nói, với tư cách là chủ thể văn hoá, Bác đã không chỉ giữ gìn vẻ đẹp tự nhiên nguyên sơ mà còn cải tạo điểm tô cho thiên nhiên, mang thiên nhiên trở lại phục vụ con người, biến thiên nhiên trở thành đối tượng của cái đẹp dành cho con người thưởng thức, hưởng thụ giá trị văn hoá. Đó là dấu ấn của một danh nhân văn hoá thế giới.

Trên đây là một số suy nghĩ về giá trị lịch sử- văn hoá của Khu di tích Đá Chông, một di tích lịch sử- văn hoá đặc biệt. Cũng như hết thảy mọi người, tôi đã đến nơi đây với một tấm lòng kính yêu và đời đời nhớ ơn Bác Hồ, để rồi cảm nhận tư tưởng tâm hồn được thanh lọc, để được sống và làm việc theo tấm gương của Bác Hồ vĩ đại.

Đại tá Trần Vũ Trang
Nguyên Phó CNCT BTL Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.v

Tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta

Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP LTS: Ngày 15-5, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam phối hợp với Viện Khoa học Xã hội nhân văn quân sự tổ chức Hội thảo khoa học: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam”, nhân kỷ niệm 50 năm bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp, Bộ Quốc phòng về xây dựng Quân đội từng bước tiến lên chính quy và hiện đại (5-1957/5-2007) và kỷ niệm 117 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi đến Hội thảo bản tham luận: “Tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta”. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung tham luận đã trình bày trong hội thảo.

Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – đội quân chủ lực đầu tiên, được thành lập theo chỉ thị của Bác Hồ. Ngay sau khi ra đời, đội đã đánh hai trận đầu toàn thắng. Tiếp đó, đội đã phát triển nhanh chóng thành nhiều đại đội, thống nhất với Cứu quốc quân, với lực lượng vũ trang cả nước, trở thành Việt Nam Giải phóng quân. Từ thời còn non trẻ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, Việt Nam Giải phóng quân, với lực lượng vũ trang địa phương và dân quân tự vệ cả nước đã cùng với toàn dân vùng lên tổng khởi nghĩa, đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi vĩ đại, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Tiếp đó, trong cuộc kháng chiến thần thánh 30 năm, quân và dân ta đã đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, giành lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Đánh thắng hai đội quân viễn chinh hùng mạnh, kể cả đội quân mạnh nhất thế giới là thắng lợi vĩ đại của quân đội ta, dân tộc ta. Đây là một thắng lợi mà trên thế giới, từ đối phương cho tới bạn bè đều cho rằng ta không thể làm nổi. Cho đến nay, chiến thắng ấy đã qua một phần ba thế kỷ mà biết bao nhà chiến lược, biết bao viện khoa học đã nghiên cứu, tìm tòi vì sao Việt Nam có thể thắng Pháp, thắng Mỹ. Mãi cho đến gần đây, nhiều chính khách và bạn bè quốc tế đến Việt Nam, gặp tôi, vẫn còn nêu lên câu hỏi: Vì sao Việt Nam có thể thắng Mỹ? Vì sao Việt Nam đánh thắng được B52 của Mỹ? Con trai tổng thống Ken-nơ-đi sang Việt Nam đã lên Pác Bó, khi về, gặp tôi hỏi vì sao các ngài ở trong cái hang núi, cùng với những người dân tộc thiểu số như vậy mà lại tin rằng sẽ chiến thắng? Vì sao Việt Nam có thể thắng, mà lại thắng vào lúc Pháp mạnh nhất, Mỹ mạnh nhất?

Còn đối với ta, là người trong cuộc, đương nhiên chúng ta đã rõ. Nhưng đây là một thắng lợi vĩ đại chưa từng có, do vậy, chúng ta vẫn phải tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi, luận giải ngày càng sâu thêm, rút ra những bài học cho sự nghiệp hôm nay và mai sau của đất nước.

Nhân dịp này, tôi muốn nói sâu hơn về Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự ra đời, quá trình trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta, góp phần lý giải tiếp điều mà Đại hội lần thứ VII của Đảng đã tổng kết, khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng cùng với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, lý luận tiên phong của Đảng Cộng sản.

Có thể nói: Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp truyền thống văn hoá Việt Nam, tinh hoa văn hoá phương Đông, phương Tây với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm cơ sở thế giới quan và phương pháp luận để đề ra đường lối cách mạng Việt Nam, tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, không qua giai đoạn phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội (giai cấp), giải phóng con người.

Như vậy, Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác – Lê-nin, con đường cách mạng Việt Nam đi theo con đường của cách mạng vô sản.

Lâu nay ta thường nói: Thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của chiến tranh cách mạng Việt Nam, là thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Nói như vậy là đúng, nhưng qua thực tiễn cách mạng ta thấy nói đầy đủ hơn, đó là thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Ta cũng thường nói Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Nói như vậy cũng đúng nhưng chưa đủ. Bởi vì, như trên đã nói, Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có sự tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, mà còn có truyền thống văn hóa Việt Nam, tinh hoa văn hóa phương Đông, tinh hoa văn hóa khác của phương Tây, còn có tư duy sáng tạo của Hồ Chí Minh phản ánh thực tiễn Việt Nam.

Hồ Chí Minh là người Việt Nam yêu nước đầu tiên trở thành người cộng sản khi đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, đỉnh cao của Tư tưởng nhân văn của nhân loại, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin một cách sáng tạo, có phân tích, có chọn lọc. Từ năm 1924, Người đã suy nghĩ đến những hạn chế lịch sử của chủ nghĩa Mác và thấy cần được bổ sung cho phù hợp với đặc điểm phương Đông, đặc điểm Việt Nam. Người đã tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin những nội dung phù hợp với cách mạng Việt Nam. Cái chủ yếu nhất mà Người tiếp thu về thế giới quan là mục tiêu cách mạng, về phương pháp luận là phép biện chứng duy vật. Có thể nói, Hồ Chí Minh đã “Việt Nam hoá”, “phương Đông hóa” chủ nghĩa Mác – Lê-nin như một số đồng chí đã nêu. Đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã có một sự chuyển biến nhảy vọt về chất, giải phóng dân tộc đã gắn với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước gắn với chủ nghĩa yêu nước chân chính.

Từ những nội dung trình bày trên, ta thấy Tư tưởng Hồ Chí Minh tuyệt đối không có gì đối lập với chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp thu nội dung chủ yếu của chủ nghĩa Mác – Lê nin, vận dụng và phát triển sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nếu cho rằng nêu cao Tư tưởng Hồ Chí Minh là hạ thấp chủ nghĩa Mác – Lê-nin là không hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh, là xuyên tạc Tư tưởng Hồ Chí Minh, là hạn chế phổ biến Tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải khẳng định, ở Việt Nam, nêu cao Tư tưởng Hồ Chí Minh là cách có hiệu quả nhất để bảo vệ và nêu cao chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Như vậy, điều đầu tiên, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh to lớn cho quân và dân ta chiến thắng mọi kẻ thù, đó là Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, với mục tiêu cách mạng là độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu cách mạng ấy cũng là mục tiêu của chiến tranh cách mạng, gắn cứu nước với cứu dân, giải phóng Tổ quốc và xây dựng chế độ mới tốt đẹp, thật sự đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Mục tiêu ấy đã đáp ứng khát vọng của toàn dân và khát vọng của mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội ta.

Trước đây, nhiều triều đại phong kiến cũng đã phát huy được truyền thống yêu nước của nhân dân và quân đội, đánh thắng kẻ thù lớn mạnh, nhưng đánh giặc xong thì đế vương là chủ, chứ dân không phải là chủ nên vẫn còn những hạn chế.

Từ khi có Bác Hồ và có Đảng, công cuộc giải phóng dân tộc đã gắn với giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nên sức mạnh ấy đã được nhân lên gấp bội.

Với mục tiêu chiến đấu đúng đắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại luôn coi trọng giáo dục cho quân đội ta truyền thống yêu nước, đấu tranh bất khuất của dân tộc, với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập, tự do!”. Người dạy cán bộ, chiến sĩ ta phải trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân. Tư tưởng và tấm gương vì nước, vì dân của Người đã khơi dậy cho cán bộ, chiến sĩ ta lòng yêu nước, thương dân sâu sắc. Đó là một động lực to lớn động viên quân đội ta nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Điều thứ hai, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh to lớn cho quân đội ta trưởng thành và chiến thắng, đó chính là Người đã lãnh đạo, xây dựng một quân đội luôn gắn bó với dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Thật sự là quân đội của nhân dân, của dân tộc, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mang bản chất của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam.

Lực lượng tham gia quân đội là những thanh niên yêu nước, con em của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đại bộ phận là con em công nhân, nông dân và nhân dân lao động. Qua giáo dục, rèn luyện trong quân đội, họ đã trở thành những cán bộ, chiến sĩ trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội.

Người dạy quân đội là con em của nhân dân nên phải có quan hệ gắn bó như ruột thịt với nhân dân, phải làm cho quân đội hết lòng thương yêu nhân dân, kính trọng, giúp đỡ, bảo vệ dân, được dân tin, dân phục, dân yêu. Quân đội không những đánh giặc giỏi mà còn biết dân vận giỏi, sản xuất giỏi. Phải luôn luôn “dựa vào dân” vì “có dân là có tất cả”. Sức mạnh của quân đội, sức mạnh của lực lượng vũ trang ba thứ quân, kết hợp với sức mạnh của toàn dân, tạo thành sức mạnh to lớn để chiến thắng mọi kẻ thù.

Quân đội của dân, chiến đấu vì dân, quan hệ với dân như cá với nước là một vấn đề thuộc bản chất của một quân đội kiểu mới, quân đội dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Chúng ta thật sự tự hào không những trong chiến tranh, mà trong hòa bình xây dựng, đặc biệt trong cuộc chống thiên tai khốc liệt diễn ra ở miền Trung, quân đội ta đã hết lòng thương yêu nhân dân, không quản hiểm nguy, đem hết sức mình cứu giúp nhân dân trong cơn hoạn nạn, một số đồng chí đã hy sinh vì nhiệm vụ để lại trong lòng nhân dân ta niềm thương tiếc vô hạn, đó là biểu hiện sáng ngời của truyền thống đoàn kết quân dân, của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

Điều thứ ba, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã chỉ cho quân đội ta phát huy tài thao lược, cách đánh giặc của dân tộc và học tập kinh nghiệm của các nước, đánh giặc với sức mạnh toàn dân, toàn diện, dám lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, kiên cường, dũng cảm, kết hợp với mưu trí, sáng tạo. Người thường nhắc nhở: đánh giặc phải “gan” và “khéo”, bởi vì quân đội ta luôn phải đánh với kẻ thù mạnh hơn mình gấp bội. Có dám đánh, quyết đánh mới tìm ra cách đánh sáng tạo, tức là biết đánh. Lấy yếu chống mạnh bao giờ cũng phải hết sức mưu trí, sáng tạo. Với cách đánh thông minh, sáng tạo, lực lượng nhỏ có thể tiêu diệt được kẻ địch lớn; vũ khí thô sơ, kém hiện đại có thể đánh bại vũ khí hiện đại. Một chính khách cao cấp của Mỹ đã từng nói: Nếu dân tộc các ngài chỉ anh hùng thôi, thì vũ khí hiện đại của chúng tôi có thể đè bẹp nhưng vì các ngài thông minh quá. Dũng cảm và thông minh đã làm cho sức 1 thành 10, thành 100. Những chiến công kỳ diệu của đặc công, biệt động, của trận Điện Biên Phủ, của “Điện Biên Phủ trên không”, của Xuân 1968, Xuân 1975 là những đỉnh cao của cách đánh giặc dũng cảm, kết hợp mưu trí, sáng tạo của quân và dân ta.

Điều thứ tư, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh để quân đội ta chiến thắng, đó là quan điểm thực tiễn, luôn xuất phát từ thực tiễn. Hồ Chí Minh coi trọng lý luận, nhưng luôn gắn lý luận với thực tiễn, luôn xuất phát từ thực tiễn để vận dụng lý luận, không giáo điều, máy móc.

Nhờ xuất phát từ thực tiễn, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, đề ra những chủ trương, chính sách cụ thể, phù hợp với thực tiễn xã hội Việt Nam và xu thế thời đại, tạo ra sức mạnh to lớn để giành thắng lợi trong cách mạng giải phóng dân tộc.

Trong lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh, nếu không thường xuyên bám sát thực tiễn, phân tích thực tiễn đúng đắn, đề ra quyết sách không phù hợp với thực tiễn thì nhất định bị thực tiễn “phê phán” ngay, phải trả giá ngay bằng xương máu, vì vậy, càng đòi hỏi phải nắm vững quan điểm thực tiễn.

Người luôn dạy cán bộ: Làm cách mạng tuyệt đối không được chủ quan, phải sâu sát thực tế, đánh giặc mà hiểu rõ địch, ta thì trăm trận trăm thắng.

Khi tình hình thực tiễn đã thay đổi, thì phải dám đổi mới, thay đổi quyết sách cũ, đề ra quyết sách mới cho phù hợp thực tiễn, có như vậy mới giành thắng lợi. Quyết định thay đổi phương châm từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” chuyển sang “đánh chắc, tiến chắc” trong chiến dịch Điện Biên Phủ; quyết định kịp thời chuyển kế hoạch chiến lược cơ bản giải phóng miền Nam trong hai năm sang kế hoạch thời cơ một năm, sáu tháng, hai tháng trước mùa mưa và ra lệnh tấn công thần tốc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là những ví dụ điển hình của sự vận dụng quan điển thực tiễn trong chỉ đạo đánh giặc.

Cuộc chiến đấu lâu dài 30 năm đánh thắng hai đế quốc to là một kỳ tích lịch sử hết sức vẻ vang đối với quân và dân ta. Thực tiễn này là một kho tàng kinh nghiệm vô cùng quý giá, đòi hỏi chúng ta phải hết sức coi trọng tổng kết, tiếp tục tổng kết một cách sâu sắc, toàn diện. Phải tổng kết một cách khách quan, khoa học với trách nhiệm cao đối với xương máu của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, làm rõ những kinh nghiệm thành công để tiếp tục kế thừa, vận dụng và phát huy, đồng thời làm cho rõ những kinh nghiệm không thành công để biết tránh trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Bám sát thực tiễn, phân tích nghiên cứu đúng thực tiễn, phát hiện ra quy luật, hành động theo quy luật, tuyệt đối không được giáo điều, máy móc, chống chủ quan duy ý chí là một yêu cầu cực kỳ quan trọng trong lãnh đạo cách mạng, cũng như lãnh đạo chiến tranh để giành thắng lợi.

Điều thứ năm, chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng, luôn giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là điều Bác Hồ luôn nhắc nhở, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân đối với thắng lợi của quân đội. Quân đội là lực lượng tin cậy của Đảng, của nhân dân để chống lại kẻ thù. Vì vậy, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quân đội ta mới giữ vững bản chất của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam, một đội quân thực sự của dân, luôn giữ vững mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Vì vậy, Người coi việc đặt quân đội dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng là vấn đề nguyên tắc, coi việc chăm lo giáo dục đảng viên, cán bộ về phẩm chất cách mạng, để phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong quân đội là nhân tố có ý nghĩa quyết định để đánh thắng kẻ thù.

Trên đây là những nội dung nói về Tư tưởng Hồ Chí Minh mà tôi cho là sâu sắc nhất đã góp phần tạo nên sức mạnh to lớn cho quân đội ta đánh thắng mọi kẻ thù, hoàn thành mọi nhiệm vụ, làm nên những kỳ tích tưởng chừng như không làm nổi.

Đó cũng là năm bài học mà chúng ta cần nắm vững để vận dụng vào sự nghiệp xây dựng quân đội trong tình hình mới.

Ngày nay, Tổ quốc ta đã hoàn toàn độc lập, thống nhất, đang ra sức xây dựng đất nước quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm cho đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chúng ta tiến vào thế kỷ XXI với cục diện thế giới đầy biến động. Cách mạng khoa học và công nghệ đang phát triển với nhịp độ siêu tốc. Cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc, xung đột tôn giáo diễn ra phức tạp, gay gắt. Xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa, với mặt tích cực và tiêu cực của nó, đang phát triển mạnh mẽ.

Trước tình hình ấy, quân và dân ta càng phải nắm vững quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước, hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng đất nước đi đôi với bảo vệ đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương, chúng ta càng phải nâng cao chất lượng chiến đấu của LLVT nhân dân, cả chủ lực, địa phương, dân quân tự vệ và công an nhân dân; xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, với bản lĩnh chính trị vững vàng và tri thức quân sự cao; coi trọng lực lượng thường trực, đồng thời coi trọng lực lượng hậu bị, coi đào tạo cán bộ là công tác trung tâm. Tiếp tục công tác nghiên cứu khoa học và kỹ thuật quân sự, kể cả kỹ thuật công nghệ cao, phát triển lên một bước mới học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh- học thuyết chiến tranh nhân dân trong điều kiện hiện đại.

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh với một đường lối tổng hợp, kết hợp quân sự với kinh tế, văn hoá và chính sách đối ngoại. Nắm vững xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trung tâm trong thời bình, bởi vì có kinh tế mạnh mới có quốc phòng mạnh. Tạo nên một sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, đại đoàn kết toàn dân, đủ sức để ngăn chặn mọi mưu đồ “diễn biến hòa bình”, hoặc gây ra chiến tranh, giữ vững hòa bình lâu dài, nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam XHCN trên đất liền, trên không và trên biển.

Nhân dịp kỷ niệm lịch sử, ngày mà trong giấy khai sinh của đội quân chủ lực đầu tiên, nhân dân ta, dân tộc ta đã ghi vào cái tên trìu mến là “Bộ đội Cụ Hồ”, với tư cách là người mà Bác và Đảng đã trao nhiệm vụ thành lập, lãnh đạo và chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam từ những ngày đầu, là một nhân chứng lịch sử đã đi suốt thế kỷ XX, một thế kỷ đầy thử thách khốc liệt và thắng lợi vẻ vang đối với dân tộc ta, tôi muốn nói với đồng bào, đồng chí, đặc biệt là thế hệ trẻ một chân lý đã ăn sâu trong tâm tư và tình cảm của tôi.

Chân lý ấy là: Làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, theo những điều mà Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lê-nin thì thắng lợi. Làm sai Tư tưởng Hồ Chí Minh thì thất bại.

Thế giới còn đổi thay, nhưng Tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi.
Thế giới còn đổi thay, nhưng chủ nghĩa Mác-Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi.

(Bài của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đăng trên báo Quân đội)

bqllang.gov.vn