Tag Archive | Dân tộc

Những bài nói, bài viết của Bác Hồ dành cho thương binh, liệt sỹ

Bác Hồ thăm các thương binh nặng ở trại điều dưỡng Bắc Ninh. Ảnh Internet

Trong cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho đất nước của nhân dân ta có biết bao nhiêu chiến sỹ cộng sản, quần chúng cách mạng, yêu nước đã ngã xuống hy sinh nơi chiến trường khốc liệt để xây nên giang sơn gấm vóc hôm nay, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của liệt sỹ đã làm cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”. Chiến tranh kết thúc, trong số những người con trở về từ trận tuyến cũng có không ít người đã để lại một phần máu thịt của mình, các anh trở về với những thương tật trên cơ thể vì lý tưởng cách mạng cao đẹp.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến thương binh, liệt sỹ là những người đã cống hiến xương máu, hy sinh tính mạng để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân. Dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn luôn dành thời gian để quan tâm, thăm hỏi, động viên các đồng chí thương binh, liệt sỹ cùng gia đình họ. Những tình cảm thiêng liêng Bác dành cho thương binh, liệt sỹ được thể hiện trong các bài nói, bài viết của Bác dưới đây:

1. Trong thư gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc” ngày 27-7-1947, Bác viết:

“Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang san, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp; cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe đọa; của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập; ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sỹ mà nay một số thành ra thương binh.

Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, lợi ích của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu.

Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người anh hùng ấy.

Trong lúc chống nạn đói kém, đồng bào ta đã từng mỗi tuần nhịn ăn một bữa, để giúp các đồng bào bị đói. Bây giờ chống nạn ngoại xâm, tôi chắc đồng bào ta sẽ vui lòng vài ba tháng nhịn ăn một bữa để giúp các chiến sỹ bị thương.

Ngày 27-7 là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh.

… Luôn luôn tin vào lòng nhường cơm sẻ áo của đồng bào, tôi chắc rằng “Ngày thương binh” sẽ có kết quả mỹ mãn.

Tôi xin xung phong gửi một chiếc áo lót lụa mà chị em phụ nữ đã biếu tôi, một tháng lương của tôi, một bữa ăn của tôi và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng (1.127,00)”.

2. Trong thư gửi anh em thương binh và bệnh binh tháng 7-1948, Bác viết:

“Các đồng chí đã hy sinh một phần xương máu vì Tổ quốc, chẳng may bị thương, bị bệnh trước khi quân thù hoàn toàn bị tiêu diệt, kháng chiến được hoàn toàn thành công.

Chắc các đồng chí không khỏi phân vân. Nhưng các đồng chí nên một mặt nuôi lại sức khỏe, một mặt cố gắng học tập. Khi đã khôi phục sức khỏe, các đồng chí sẽ hăng hái tham gia công tác tăng gia sản xuất, để giúp ích cho Tổ quốc, cũng như các đồng chí đã anh dũng giữ gìn non sông, các đồng chí sẽ trở nên những người chiến sĩ kiểu mẫu ở hậu phương cũng như các đồng chí đã làm người chiến sĩ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận. Tôi cùng đồng bào luôn nhớ đến các đồng chí”.

3. Trong thư gửi cho đồng bào chiến sỹ Nam Bộ, Nam Trung Bộ ngày 23- 9- 1949, Người viết:

“Hôm nay, cuộc kháng chiến oanh liệt ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ vừa đúng hai năm. Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ, và nhân dân toàn quốc nghiêng mình trước linh hồn các chiến sỹ và đồng bào đã hy sinh vì Tổ quốc. Tôi gửi lời an ủi tới những chiến sỹ và đồng bào bị thương, bị địch giam cầm hoặc đang bị khổ sở nơi địch chiếm đóng…”

4. Trong thư gửi cụ Vũ Đình Tụng – Bộ trưởng Bộ Thương binh về phát động phong trào đón thương binh về làng tháng 7-1951, Người cũng nhắc lại:

“Anh em thương binh đã hy sinh một phần xương máu để giữ gìn Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, đã tận trung với nước, tận hiếu với dân. Anh em đã làm tròn nhiệm vụ, anh em không đòi hỏi gì cả.

… Song đối với những người con trung hiếu ấy. Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng?

… Mỗi xã phải tùy theo sự cố gắng và khả năng chung mà đón một số anh em thương binh. Giúp lâu dài chứ không phải chỉ giúp một thời gian…

… Như thế thì đồng bào mỗi xã được thỏa mãn lòng ao ước báo đáp anh em thương binh, mà anh em thương binh thì được yên ổn về vật chất và vui vẻ về tinh thần và có dịp tham gia hoạt động có ích cho xã hội”.

5. Trong thư gửi phụ nữ nhân ngày 8-3-1952, Bác viết:

“… Tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sỹ đã hy sinh cho Tổ quốc …

… Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ, cùng vợ con của liệt sỹ.

… Các bà mẹ chiến sỹ và các chị em đã giúp thương binh, đã hòa lẫn lòng yêu thương không bờ bến, mà giúp chiến sỹ và chăm sóc thương binh như con em ruột thịt của mình”.

6. Trong thư gửi cụ Vũ Đình Tụng – Bộ trưởng Bộ Thương binh – Cựu binh ngày 27-7-1952, Người nhắc nhở:

“Phải coi việc giúp đỡ thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ là nghĩa vụ chứ không phải là việc làm phúc…

… Về phần anh em thương binh, bệnh binh:

– Phải hòa mình với nhân dân, tôn trọng nhân dân, tránh phiền nhiễu nhân dân.

– Phải tránh tâm lý “công thần”, coi thường lao động, coi thường kỷ luật.

– Chớ bi quan, chán nản, phải luôn luôn cố gắng. Ngày nay anh em sẽ tùy điều kiện mà xung phong tăng gia sản xuất …

– Đồng bào sẵn sàng giúp đỡ, anh em có quyết tâm thì anh em nhất định dần dần tự túc được”.

7. Diễn từ trong buổi lễ đặt vòng hoa ở Đài Liệt sĩ ở Ba Đình – Hà Nội ngày 31-12-1954:

“… Các liệt sỹ hy sinh, nhưng công trạng to lớn của các liệt sỹ đã ghi sâu vào lòng toàn dân và non sông đất nước.

Các liệt sỹ đã hy sinh, nhưng chí khí dũng cảm của các liệt sỹ thấm nhuần vào tâm hồn của toàn quân và dân ta trong cuộc đấu tranh đặng giành hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ trong nước.

Máu nóng của các liệt sỹ đã nhuộm lá Quốc kỳ vẻ vang càng thêm thắm đỏ.
Tiếng thơm của các liệt sỹ muôn đời lưu truyền sử xanh.

Một nén hương thanh.
Vài lời an ủi.
Anh linh của các liệt sỹ bất diệt!
Tổ quốc Việt Nam vĩ đại muôn năm”.

8. Trong buổi đón giao thừa ở Trường Thương binh hỏng mắt Hà Nội năm 1956, Bác nói:

“Các chú tàn nhưng không phế”.

9. Trong thư gửi cụ Vũ Đình Tụng – Bộ trưởng Bộ Thương binh ngày 27-7-1956, Bác Hồ viết:

“… Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sỹ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ”.

Bác Hồ viếng Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội. Ảnh Internet

10. Trong thư gửi anh em thương binh, bệnh binh Trại an dưỡng Hà Nam tháng 6-1957, Bác viết:

“… Các chú là những chiến sỹ đã được quân đội nhân dân rèn luyện về đạo đức và kỷ luật cách mạng, là những người con đã hy sinh một phần xương máu để bảo vệ nước nhà. Vậy các chú cần phải giữ vững truyền thống tốt đẹp và vẻ vang của quân đội cách mạng là: Giữ gìn kỷ luật, đoàn kết chặt chẽ, thật sự đoàn kết, thương yêu giữa anh em thương bệnh binh với nhau, giữa thương, bệnh binh với cán bộ và nhân dân giúp việc ở Trại, giữa thương, bệnh binh trong Trại với đồng bào chung quanh”.

11. Trong thư gửi anh em thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sỹ ngày 27-7-1959, Bác Hồ cũng đã căn dặn:

“… Trong năm qua, các gia đình liệt sỹ và anh em thương binh, bệnh binh đã đóng góp khá nhiều vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Nhiều gia đình liệt sỹ đã hăng hái tham gia Tổ đổi công và Hợp tác xã nông nghiệp và đã đạt được thành tích khá trong việc sản xuất và tiết kiệm. Tôi chúc các gia đình ấy trở thành những gia đình cách mạng gương mẫu …”.

12. Trong diễn văn đọc tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (ngày 5-1-1960), đoạn nói về thương binh liệt sỹ, Bác Hồ đã nói như sau:

“… Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sỹ của Đảng ta, của dân ta …

… Máu đào của các liệt sỹ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sỹ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sỹ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sỹ để vượt tất cả khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sỹ chuyển lại cho chúng ta…”.

13. Trong Di chúc thiêng liêng của Người, Bác Hồ của chúng ta đã căn dặn biết bao điều hệ trọng về công tác Lao động – Thương binh và Xã hội:

“Đầu tiên là công việc đối với con người. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sỹ, dân quân, du kích, than niên xung phong …), Đảng, Chính phủ và đồng bào ta phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

Đối với các liệt sỹ, thì mỗi địa phương (thành phố, làng, xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh, liệt sỹ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền cùng Hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”.

(Bản viết tháng 5-1968, Bộ Chính trị khóa VI công bố ngày 19-8-1989).

Đã 64 năm trôi qua kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn “Ngày thương binh”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vẫn đang nỗ lực thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, gắng sức đền ơn, đáp nghĩa những người có công với nước. Các chủ trương, chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công đã phát huy cao độ truyền thống “uống nước nhớ nguồn” – truyền thống tốt đẹp đã có từ hàng ngàn năm nay của dân tộc Việt Nam, tiếp thêm ngọn lửa của tình đoàn kết và lòng yêu nước trong các thế hệ con Lạc cháu Hồng. Những câu nói, bài viết của Bác đã và sẽ mãi mãi là phương châm hành động, lẽ sống của thương binh, gia đình liệt sỹ, định hướng cho các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa” của nhân dân ta./.

Thu Hiền (tổng hợp)

bqllang.gov.vn

“Bác sống như trời đất của ta/ Yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa”

Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi.” (Trích Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 161-162.).

Đó là câu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời các nhà báo nước ngoài, đầu năm 1946, ở thời điểm nước ta mới giành được độc lập, đang đứng trước muôn vàn khó khăn, thù trong, giặc ngoài, cùng những khó khăn chồng chất về kinh tế tài chính kiệt quệ… Gửi thông điệp này tới các nhà báo, chính là Hồ Chí Minh muốn tuyên bố với quốc dân đồng bào mục đích phấn đấu của cả đời Người là vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, không màng tới danh lợi. Lời tuyên bố trên của Bác đã trở thành khát vọng của cả dân tộc Việt Nam và đã từng bước được thực hiện. Còn phần sau của lời tuyên bố, là ước nguyện của riêng Người, một mong muốn hết sức bình dị, tự nhiên, đời thường, nhưng đã tạo nên một nét văn hoá Hồ Chí Minh, chính là điều chúng tôi muốn nhắc đến trong bài viết này.

1.Trong hơn 60 năm hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến sức lực và trí tuệ để thực hiện mong muốn tột bậc cho Tổ quốc, nhân dân và nhân loại. Còn ước nguyện cho riêng mình chưa được thực hiện. Người không thể:

Thảnh thơi vui thú thanh nhàn,
Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao

(Trích Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđ d, t.11, tr.245)

Tuy nhiên, trong những điều kiện và hoàn cảnh cho phép, Người vẫn tìm và tạo được cho mình một không gian nho nhỏ để tận hưởng cuộc sống hài hòa với thiên nhiên, hưởng thụ những giá trị cuộc sống do thiên nhiên ban tặng. Đồng thời, vì sự phát triển chung của đất nước, Người cũng sớm đưa ra những chủ trương bảo vệ môi trường, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên… Cả cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có hai người Bạn Lớn, đó là Con người và Thiên nhiên. Yêu thương quý trọng con người, đồng thời rất yêu quý thiên nhiên. Đó cũng chính là cội nguồn của tình yêu Tổ quốc. Triết lý sống hài hòa với thiên nhiên, giản dị, yêu lao động của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một giá trị vĩnh hằng. Chúng ta có thể hiểu được điều này qua những di sản mà Người để lại trên hành trình tìm đường cứu nước, trong những năm kháng chiến và qua những câu chuyện kể về cuộc sống đời thường của Bác…

Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, khi dừng chân dạy học ở trường Dục Thanh, Phan Thiết, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã để lại nhiều dấu ấn ở Phan Thiết, trong đó có cây khế anh chăm sóc từ 100 năm trước, hiện nay vẫn tốt tươi. Khi hoạt động ở vùng Đông Bắc Thái Lan trong những năm 1928, 1929, tại các địa điểm có nhiều Việt kiều như Phì Chịt, Uđon Thani, Sacon Nakhon, bản Mạy, thuộc tỉnh Nakhon Phanom còn để lại nhiều dấu ấn của Nguyễn Ái Quốc. Tháng 1 năm 2004, Làng Hữu nghị Việt – Thái ở bản Mạy, trong đó trung tâm hoạt động là di tích Nhà Hợp tác, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ở và làm việc đã được xây dựng lại. Tham quan địa điểm di tích này, chúng ta sẽ bắt gặp cây dừa, cây khế Bác trồng từ 80 năm về trước.

Trở về nước, hoạt động ở vùng biên giới Việt – Trung, hay ở chiến khu Việt Bắc, khi sống ở thành phố, hay ở vùng rừng núi, Bác vẫn duy trì một cuộc sống, sinh hoạt, làm việc gần gũi với thiên nhiên. Ở Côn Minh, sáng nào Người cũng đi bộ một vòng quanh thành phố. Ở Liễu Châu, mùa đông Người vẫn tắm sông. Ở vùng núi, Người thích đi bộ, tắm suối. Do yêu cầu của công việc kháng chiến, một ngày Người đi bộ 40, 50 cây số là thường, và có thể đi như thế ngày nọ qua ngày kia. Những năm tháng kháng chiến chống Pháp, ở rừng, Bác chủ trương tránh ăn no, không ngủ trưa và hoạt động thân thể nhiều. Ngoài giờ làm việc, buổi sáng thể dục, buổi chiều làm vườn, lúc cần đi vác củi cùng đồng bào.

Ở chiến khu Việt Bắc, Bác chỉ thị cho các đồng chí giúp việc chọn địa điểm làm nhà cho Người phải đảm bảo các yếu tố sau:

Trên có núi
Dưới có sông
Có đất ta trồng
Có bãi ta vui.
Tiện đường sang tổng bộ
Thuận lối tới Trung ương
Nhà thoáng, ráo, kín mái
Gần dân, không gần đường.”

Bác còn nói làm lán chỉ được dựa vào cây, không được chặt cây. Đoàn công tác của Bác đi đến đâu thì lại dựng lán ở, cuốc đất trồng rau, trồng bầu, bí. Nhiều khi rau chưa kịp thu hoạch thì đã phải di chuyển. Những lúc rảnh rỗi, Người cùng các chiến sĩ ra suối câu cá, bắt cua, bắt ốc để cải thiện bữa ăn vốn chỉ có rau rừng, nổi tiếng là rau tàu bay, tuy “ăn nhẹ cả người, nhưng lại ngửi thấy mùi xăng”, như Bác vẫn đùa. Dọc đường kháng chiến, Người qua nhiều miền quê của đất nước, từ đồng bằng, đến vùng núi cao, rừng rậm, suối sâu… càng đi càng thấy đất nước tươi đẹp. Những lúc dừng chân nghỉ ở dọc đường, gối đầu trên ba lô, Người lại mơ về một ngày không xa, đất nước sạch bóng quân xâm lược, để toàn dân cùng chung tay xây dựng đất nước đẹp giàu.

Trở về Thủ đô Hà Nội, ở khu Phủ Chủ tịch, Người vẫn sống như ở chiến khu, ở trong nhà sàn quen thuộc, chứ không ở trong ngôi nhà Phủ Chủ tịch lộng lẫy cao sang. Cõi Bác xưa giờ đây là nơi tụ họp của hàng trăm loài cây, có đường xoài hoa trắng nắng đu đưa, hồ nước lặng sôi tăm cá, bưởi cam, thơm cạnh cây dừa nghiêng nghiêng soi bóng nước; có hàng bụt mọc chân trong nước, cạnh rễ đa kiên trì. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: Cái nhà sàn của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng, và trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại, thì cái nhà nho nhỏ đó cũng luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn. Một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao.

Yêu thiên nhiên là tình cảm vốn có của Bác. Nó không chỉ biểu lộ hàng ngày trong cuộc sống, trong lối sống, mà khi có dịp đã biểu lộ thành thơ. Nhạy cảm và tinh tế, Bác đã để lại cho chúng ta nhiều bài thơ tức cảnh bằng chữ Hán thấm đẫm tình yêu, tri kỷ với thiên nhiên, những bài thơ không chỉ có hình ảnh “trăng”, “sông, suối”, “chim rừng”, “hoa núi”, “nghiên mực”, mà có cả những sản vật của thiên nhiên “cháo bẹ”, “rau măng”, “thịt rừng quay”, “ngô nếp nướng”. Tất cả phản ánh hiện thực cuộc sống ở chiến khu Việt Bắc.

Khi mới về nước, Bác ở Pác Bó, suối Lênin, nơi đầu nguồn cách mạng, chỉ với mấy câu thơ, đã miêu tả chân thực hoạt động cách mạng của Người, tràn đầy lạc quan, giữa núi rừng thiên nhiên. Bác đã vẽ nên cho chúng ta bức tranh thiên nhiên phong cảnh núi rừng miền Bắc: non xanh, nước biếc; cảnh vật yên bình thanh cao. Và đặc biệt thiên nhiên trong thơ Bác đã giao hoà với nhịp sống của người chiến sỹ cách mạng. Cháo bẹ, rau măng là những sản vật từ thiên nhiên đã cùng Bác sống trong những ngày gian khổ nhất:

Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông trên dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Tập thơ “Nhật ký trong tù”, được Bác sáng tác trong điều kiện lao tù khắc nghiệt, vậy mà có nhiều bài thơ vẫn tràn ngập hình ảnh của thiên nhiên, Người đã lấy cái hiền dịu của thiên nhiên mà đối kháng với ác nghiệt của nhà tù. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai nhận xét: “Trong Nhật ký trong tù thiên nhiên chiếm một địa vị danh dự”. Thiên nhiên đẹp trong thơ Bác còn tượng trưng cho mơ ước, niềm vui, tương lai tươi sáng, khát vọng tự do, có thể dẫn ra đây một số bài thơ tiêu biểu, mà chắc rằng có rất nhiều người đã thuộc, từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường:

Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ.
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.
“Mặc dù bị trói chân tay
Chim ca rộn núi hương bay ngát rừng
Vui say ai cấm ta đừng
Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu

Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, cuộc sống khắc khổ khó khăn. Bác phải di chuyển chỗ ở liên tục. Lo kháng chiến, đánh giặc, nhưng trước cảnh đẹp của thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc, tâm hồn thơ của Người lại rung động và những tuyệt tác thơ chữ Hán ra đời. Bài Lên núi, Bác làm ở Lũng Dẻ, Lam Sơn:

Hai mươi tư tháng sáu,
Lên ngọn núi này chơi
Ngẩng đầu mặt trời đỏ,
Bên suối một nhành mai.
Bức tranh thiên nhiên cảnh vật Việt Bắc:
“Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay
Vượn hót chim kêu suốt cả ngày
Khách đến thì mời ngô nếp nướng
Săn về thường chén thịt rừng quay
Non xanh nước biếc tha hồ dạo
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say
Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này”
Hay như bài Nguyên tiêu Bác làm năm 1948:
“Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn mầu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.”

Bài Vô đề, Bác viết năm 1949, dường như công việc kháng chiến đã sang một giai đoạn mới, Bác có phần yên tâm hơn trước đà thắng lợi của quân dân ta, nên mới có hình ảnh đẹp hết sức dung dị:

“Đường non, khách tới hoa đầy
Rừng sâu, quân đến tung bay chim ngàn
Việc quân, việc nước đã bàn
Xách bương dắt trẻ ra vườn tưới rau”

Họa sĩ Diệp Minh Châu, người được ở cạnh để vẽ Bác trong thời gian ở Việt Bắc, nhận xét: Bác là một nhà nghệ thuật lớn, có một tâm hồn lớn về nghệ thuật mang đầy tính chất của nhà thơ Á Đông… trong cuộc sống Bác rất chú ý đến cái đẹp. Trong khi tìm chỗ làm nhà, ngoài việc đảm bảo an toàn, Bác còn chú ý tới vẻ đẹp thiên nhiên. Trên đường đi công tác, nếu chỗ nào có cảnh đẹp Bác thường dừng lại giây lát để thưởng thức. Có đêm hai Bác cháu đang nghe đài. Chợt Bác kéo hoạ sĩ trỏ ra khung cửa sổ. Một mảnh trăng lưỡi liềm vừa nhô ra khỏi núi, toả sắc huyền ảo xuống cánh rừng xa xa. Bác nói: của chú đấy. Cái gì đẹp và thơ mộng thì Bác cũng cho là của nghệ sĩ. Nhưng hoạ sĩ Diệp Minh Châu thì cho rằng thật ra là của Bác. Bác đã tạo ra một sắc thái mới cho trời đất, núi sông, cây cỏ và cả dân tộc.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người có nhiều thời gian được sống và làm việc cạnh Bác thì lại rất hiểu về cuộc sống và tâm hồn nghệ sĩ của Người, ông liên tưởng đến hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ: “Gió trăng chứa một thuyền đầy. Của kho vô tận biết ngay nào vơi” và nhận xét: “Hai câu thơ từ hàng trăm năm trước rất phù hợp với khung cảnh sống và lối sống của Hồ Chí Minh, thể hiện nguyện vọng và xu hướng của cuộc sống văn minh chân chính” (Trích Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh – Tinh hoa khí phách của dân tộc, nxb. Chính trị quốc gia, 2009, tr. 210)

Trong xã hội ngày nay, cuộc sống này dường như khác biệt. Nhịp sống đô thị, với những thành phố khổng lồ, nhà cao chọc trời, đầy tiện nghi nhân tạo, nhưng tiềm ẩn những nỗi bất an cho con người như môi trường ô nhiễm, phá hoại thiên nhiên, an toàn giao thông không đảm bảo. Xã hội “văn minh” như vậy lại tước đoạt đi của con người sự yên bình, thanh thản. Vùng rừng núi trùng trùng điệp điệp, đã bao năm che chở bộ đội, vây hãm quân thù, giờ đây đang bị chặt phá bừa bãi, để xảy ra bao hệ lụy tiếp theo như lũ lụt, sạt lở. Tất cả đều do con người không biết trân trọng, yêu quý thiên nhiên, coi thiên nhiên là bạn… Chúng ta hãy trở về với những lời căn dặn của Bác. Học tập tấm gương yêu thiên nhiên của Bác.

2. “Mây gió trăng hoa tuyết núi sông” là thiên tạo, không dành cho riêng ai. Ai có tâm hồn tha hồ mà rung động, tận hưởng. Bác của chúng ta không muốn riêng mình hưởng lộc, mà muốn tạo ra một thiên nhiên giàu đẹp cho cả nhân dân Việt Nam được chung hưởng. Cả cuộc đời Bác là một cuộc hành trình không biết mỏi vì độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Từ ngôi nhà tranh ở Kim Liên, Nam Đàn ra đi hơn 30 năm, Bác mới trở về Tổ quốc, thêm 15 năm nữa mới về đến Phủ Chủ tịch, Hà Nội. Con đường Người đã đi xuyên qua 3 đại dương, 4 châu lục, qua hơn 30 quốc gia, gặp gỡ bao nhiêu người, là tiếp xúc bấy nhiêu vùng đất mới. Về nước lãnh đạo cách mạng, khắp nẻo đường kháng chiến in dấu chân Người. Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, làm việc và sống ở Thủ đô Hà Nội. Cuộc sống của Bác rất mộc mạc đơn sơ. Bữa ăn của Người cũng giản dị, từ những sản vật thiên nhiên như dưa, cà, mắm, ớt. Và cũng với cơm nắm, muối vừng, cùng đoàn tuỳ tùng gọn nhẹ, Người đã có gần 700 cuộc đi thăm các địa phương, nhà máy, công trường… Trong những cuộc đi ấy, được gặp gỡ tiếp xúc với các tầng lớp nhân dân, gần gũi với thiên nhiên, dường như tình yêu đất nước, con người trong Bác lại được nhân lên gấp bội. Người luôn nghĩ cho dân, cho nước. Thăm mỗi địa phương, Bác rất quan tâm đến đời sống của nhân dân. Từ thực tế của mỗi địa phương, Bác chỉ đạo cho các đồng chí lãnh đạo chú ý đến phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản. Người nói:

“Nước ta ở về xứ nóng, khí hậu tốt,
Rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu.
Nhân dân dũng cảm và cần kiệm,
Các nước anh em giúp đỡ nhiều”

(Trích Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.543)

Người nhắc các địa phường cần có kế hoạch khai thác, sử dụng thiên nhiên để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho nhân dân. Thăm nước bạn, bắt gặp những cây xanh, bốn mùa không rụng lá, Bác lại nhớ tiếng chổi tre của người công nhân quét rác đêm khuya. Người đã nghĩ nhắc xin giống cây này về trồng ở Việt Nam để có mát cho mọi người, và để người lao công đỡ phải quét rác. Thương người nông dân vất vả sớm hôm, một nắng hai sương mà vẫn đói khổ không đủ ăn, trong những lần đi thăm Trung Quốc, Người đã nghiên cứu nền nông nghiệp của Trung Quốc và viết nhiều bài báo về những kinh nghiệm cấy và chăm sóc giống lúa nước của nông dân Trung Quốc để bà con nông dân ta học tập.

Một lão nông ở hợp tác xã Đại Xuân, xã Ứng Hòe, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương là một trong 27 người được Bác chọn cử đi học làm lúa xuân với nông dân Trung Quốc. Đại Xuân cũng là nơi áp dụng cấy lúa xuân đầu tiên ở miền Bắc nước ta, mở ra hướng mới cho sản xuất nông nghiệp, thay đổi cơ cấu thời vụ, tránh được mùa mưa bão. Từ kết quả cấy lúa xuân ở Đại Xuân đã phát triển sang các địa phương khác ở miền Bắc. Đời sống nông dân được nâng cao. ở Đại Xuân bà con vẫn gọi vụ lúa xuân là vụ lúa Bác Hồ.

Ngắm nhìn những tấm ảnh Bác Hồ đạp guồng chống úng, cầm gầu tát nước chống hạn với dân, lội ruộng cấy lúa, thăm bà con nông dân trong mùa gặt, tay Người nâng bông lúa xem từng hạt mẩy, hạt lép, lúc này Bác như một lão nông thực sự rất gần gũi với cuộc sống đời thường của bà con nông dân.

Những năm cuối đời, tại ngôi nhà sàn đơn sơ, Bác đã viết những dòng Di chúc gửi lại cho toàn Đảng, toàn dân. Và những dòng Bác viết cho riêng mình, lại làm cho chúng ta xúc động vô cùng. Người đề nghị thi hài của mình được hoả táng, tro đem chôn trên đồi, rồi xây nhà trồng cây để nhân dân đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi. Dẫu không còn ở trên đời, Người vẫn luôn luôn nghĩ đến nhân dân, thuận lợi cho người sống, đảm bảo vệ sinh môi trường, và để khi trở về cát bụi, Người vẫn được sống cùng thiên nhiên.

“Bác sống như trời đất của ta, yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa”. Không chỉ yêu thương, mà tình yêu đã được thể hiện bằng hành động, ngay từ rất sớm Bác đã có những chủ trương về bảo vệ môi trường. Sinh thời, dù bận trăm công nghìn việc Bác vẫn dành sự quan tâm chăm lo cho sự nghiệp “trồng cây” và “trồng người”. Đó là tầm nhìn của một vĩ nhân, với tầm nhìn xa trông rộng về lợi ích của việc trồng cây, ngoài việc lấy gỗ, ăn quả, cây còn có tác dụng chắn gió, chống xói mòn, bảo vệ cuộc sống. Mặt khác đây là một công việc từ cụ già đến các cháu thiếu nhi đều có thể tham gia, từ đó mà Người phát động thành phong trào lớn trong nhân dân. Bên cạnh những bài viết về Tết trồng cây giúp mọi người nhận biết về việc làm “tốn kém ít mà lợi ích nhiều” cả về kinh tế lẫn quốc phòng; Người còn nêu tấm gương mẫu mực cho phong trào trồng cây mà Người khởi xướng từ năm 1960.

Trồng cây làm kỷ niệm là một nét đẹp văn hoá, một việc làm lưu lại kỷ niệm lâu bền. Đi thăm các địa phương, Bác đã trồng cây kỷ niệm. Thăm các nước bạn Bác cũng trồng cây. Những cây xanh Bác Hồ trồng ở Việt Nam, hay trên đất bạn sẽ trường tồn với thời gian và còn mãi những kỷ niệm để nhớ về Người – một nét danh nhân của thời đại.

3. Tổ tiên, cha ông ta đã tốn biết bao xương máu để khai khẩn, giữ gìn bờ cõi. Chúng ta được thừa hưởng một đất nước Việt Nam tươi đẹp, liền một dải, từ mục Nam quan đến mũi Cà Mau. Ngày nay, chúng ta có điều kiện thuận lợi: thiên thời, địa lợi và nhân hoà để xây dựng một cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân ta. Tuy nhiên, chúng ta phải biết khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên, thiên nhiên môi trường để xây dựng đất nước ta to đẹp hơn, đàng hoàng hơn, nhưng không phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, xâm hại môi trường sống. Vấn đề sử dụng và khai thác thiên nhiên một cách hợp lý không chỉ là mối bận tâm của các lãnh đạo mà những người dân bình thường cũng cần quan tâm. Tốc độ đô thị hoá như hôm nay lại càng ngăn trở con người được tiếp cận và gần gũi với thiên nhiên. Do vậy phải sử dụng tài nguyên thiên nhiên như thế nào để nguồn tài nguyên không bị cạn kiệt mà ngày càng giàu và đa dạng hơn.

Giáo sư Trần Văn Giàu viết: “Con người là tinh anh của thiên nhiên, thiên nhiên như cha mẹ của con người. Nhưng không phải mỗi ai đều biết yêu thiên nhiên, đều biết gắn thiên nhiên với cuộc sống chiến đấu của mình. Biết yêu thiên nhiên, biết gắn thiên nhiên với cuộc sống chiến đấu là một biểu hiện của sự tiến bộ văn hoá, của trạng thái quân bình trong tâm hồn” (Trích Giáo sư nhà giáo nhân dân Trần Văn Giàu, Nxb. Giáo dục 1996, tr.458). Cuộc sống, chiến đấu của Bác luôn gắn bó với thiên nhiên. Người luôn coi thiên nhiên là bạn, luôn quan tâm, chăm lo và đề ra chiến lược bảo vệ người bạn thiên nhiên. Thế kỷ XXI, con người càng có xu hướng tiến gần hơn đến thiên nhiên, mong muốn sống chung với thiên nhiên với một xã hội ngày càng giàu mạnh và công bằng hơn, xanh sạch đẹp hơn, văn minh hơn. Càng thấy tầm nhìn xuyên thế kỷ của một vĩ nhân.

Một nét văn hóa Hồ Chí Minh – văn hóa ứng xử với thiên nhiên, cảnh vật, cỏ cây quanh ta mà chúng tôi phác hoạ vài nét trên đây, chính là một trong những giá trị văn hoá mà chúng ta cần khai thác và phát huy.

Theo Phạm Thị Lai, Bảo tàng Hồ Chí Minh
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tầm vóc lịch sử và hiệu ứng xã hội của Cách mạng tháng Tám năm 1945

(TCTG) – Thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của cuộc cách mạng làm thay đổi số phận của cả một dân tộc. Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhân dân ta đã vùng dậy, lật đổ ách thống trị của thực dân đế quốc và phong kiến, lập nên chính quyền cách mạng do nhân dân làm chủ trong cả nước, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập tự do. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi cùng với bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo và tuyên đọc đã khai sinh ra chế độ Dân chủ cộng hòa của Việt Nam. Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, chế độ thực dân phong kiến bị xóa bỏ, từ đây, Tổ quốc được độc lập, dân tộc và nhân dân ta được hưởng quyền tự do, hạnh phúc.

Ngót một thế kỷ với ách thống trị tàn bạo của đế quốc thực dân, nhân dân ta sống trong cảnh bị đọa đầy, đau khổ, bị chìm đắm trong những đêm dài tăm tối… đã chấm dứt. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thực sự là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc vĩ đại làm thay đổi số phận của cả một dân tộc, đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ tới tự do và làm chủ. Giải phóng để phát triển, giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc, mở ra những tiền đề và điều kiện để dân tộc ta chẳng những hồi sinh mà còn vững bước đi tới tương lai, trên con đường lớn của lịch sử Độc lập – Tự do và Hạnh phúc.

Là một cuộc cách mạng kiểu mới và điển hình trong một xã hội thuộc địa thực dân nửa phong kiến, Cách mạng tháng Tám, năm 1945 của Việt Nam được cổ vũ và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Cách mạng tháng Mười Nga, năm 1917 và thời đại mới do chính cuộc cách mạng đó sinh thành. Cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng chống đế quốc thực dân và phong kiến, đập tan mọi xích xiềng nô lệ, khẳng định những quyền cơ bản thiêng liêng của con người – quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Cách mạng đã thực hiện những quyền đó trên nền tảng của quyền tự quyết dân tộc, độc lập chủ quyền của dân tộc là cơ sở để thực hiện các quyền tự do, dân sinh và dân chủ của con người.

Tuyên ngôn Độc lập trở thành một văn kiện chính trị – pháp lý và thấm nhuần sâu sắc các giá trị nhân văn của thời đại mới đề cao dân chủ và tự do, công bằng và bình đẳng xã hội. Với con người – đó là quyền được tồn tại thực sự xứng đáng với những con người tự do, quyền được phát triển như một chủ thể nhân cách sáng tạo, ở đó, phẩm giá làm người được tôn trọng và những đè nén, áp bức, bất công làm nhục con người, thống trị dân tộc trong tình cảnh nô lệ bị xóa bỏ. Đi vào lịch sử và sống mãi với thời gian, Tuyên ngôn Độc lập gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, với ý chí và khí phách của dân tộc Việt Nam “Thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Bản Tuyên ngôn ấy thực sự là Tuyên ngôn Lập quốc, Tuyên ngôn Dựng nước của dân tộc Việt Nam trong thời hiện đại. Nó kế thừa truyền thống anh hùng, bất khuất của ông cha ta qua mọi triều đại, nó tiếp nối và phát triển sức sống mãnh liệt, giá trị và bản sắc văn hóa cũng như bản lĩnh chính trị của dân tộc ta qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước để làm thăng hoa trí tuệ và tâm hồn Việt Nam, chân lý và đạo lý Việt Nam trong kỷ nguyên độc lập tự do, trong thời đại mới mang tên Thời đại Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tuyên ngôn Độc lập mang tinh thần cách mạng triệt để, thấm đượm một triết lý phát triển đồng thời là thông điệp phát triển của Việt Nam trong thời đại mới. Đó là một áng thiên cổ hùng văn tiếp nối liền mạch với các áng thiên cổ hùng văn trước đó của ông cha ta với những âm hưởng hào sảng của Lý Thường Kiệt, dũng khí mãnh liệt của Trần Quốc Tuấn, trí tuệ và nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, trù tính định liệu việc lớn để an dân trị quốc của Nguyễn Huệ – Quang Trung.

Cách mạng tháng Tám đã dẫn tới Tuyên ngôn Độc lập và Tuyên ngôn Độc lập đã tổng kết và nâng cao tầm vóc của cuộc Cách mạng vĩ đại này, không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn có vị trí và ý nghĩa xứng đáng trong lịch sử chính trị thế giới hiện đại. Lịch sử càng lùi xa, những tư tưởng, giá trị và những bài học kinh nghiệm của các cuộc cách mạng chân chính do sức mạnh đoàn kết và sáng tạo của nhân dân làm nên càng trở nên sâu sắc và sống động.

Nhớ lại hơn 80 năm về trước, khi Đảng còn chưa ra đời, cách mạng còn đang ấp ủ những mầm mống sinh thành, trong tác phẩm nổi tiếng “Đường Kách mệnh” (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết: Cách mệnh là phá cái cũ lỗi thời, lạc hậu đổi ra cái mới tiến bộ, phát triển. Người còn nói rõ, muốn làm cách mệnh xã hội, trước hết phải cách mệnh chính bản thân mình đã.

Bởi thế, muốn cho cách mệnh thắng lợi và đến nơi (tức là triệt để) thì Đảng cách mệnh, người cách mệnh phải có chủ nghĩa làm cốt, phải giữ chủ nghĩa cho vững và phải ít lòng tham muốn (ham muốn) về vật chất.

Trong hình thức dung dị của ngôn từ, đây thực sự là những quan niệm, những định nghĩa kinh điển về cách mạng và nhân cách của người cách mạng.

Với tư cách là tư tưởng, đây thực sự là những tư tưởng lớn, những dự cảm sâu sắc, ở tầm chiến lược, được vạch ra bởi một thiên tài – kết tinh sâu sắc và tốt đẹp nhất những tinh hoa của dân tộc và thời đại. Thiên tài ấy là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Thế kỷ XX – một thế kỷ anh hùng và bi tráng, thế kỷ đã sản sinh ra những cuộc cách mạng điển hình, mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, tiếp nối bởi Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Việt Nam, Cách mạng 1949 của Trung Quốc cũng như Cách mạng Cuba những năm 60 và những cuộc cách mạng khác…

Theo GS.TS Hoàng Chí Bảo
Hội đồng Lý luận Trung ương
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 15-7: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 15-7-1911, từ cảng Marseille, theo tàu Amiral Latouche Tréville, Nguyễn Tất Thành kết thúc hải trình đầu tiên khi cập bến cảng Le Havrre ở miền Bắc nước Pháp.

Ngày 15-7-1948, Bác gửi thư đến Hội nghị Văn hóa Toàn quốc lần thứ hai họp tại Phú Thọ, nêu rõ: “Trong sự nghiệp vĩ đại kháng chiến kiến quốc của dân tộc ta, văn hóa gánh một phần rất quan trọng… Nhiệm vụ của văn hóa chẳng những để cổ động tinh thần và lực lượng kháng chiến kiến quốc của quốc dân, mà còn phải nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới. Các nhà văn hóa phải có những tác phẩm xứng đáng, chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây giờ, mà còn để lưu truyền lịch sử oanh liệt kháng chiến kiến quốc cho hậu thế”.

Ngày 15-7-1950, Báo Sự Thật đăng bài “Phải sửa chữa căn bệnh cấp bậc” của Bác (ký tên XYZ), trong đó nêu rõ căn bệnh này có nguyên nhân: “Vì cán bộ chưa gột sạch óc quan liêu ngôi thứ; vì còn mang nặng chứng “quan cách mạng”; vì không hiểu rằng trong công việc cách mạng, công việc kháng chiến kiến quốc không so việc sang, việc hèn, mọi việc đều quan trọng… Thang thuốc hay nhất để chữa căn bệnh ấy là: Dùng cách phê bình và tự phê bình để rửa sạch đầu óc ngôi thứ, địa vị và chủ nghĩa cá nhân. Đặt công việc chung, lợi ích chung lên trên hết, trước hết”.

Ngày 15-7-1960, Bác tham dự kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa II và được toàn thể Quốc hội tín nhiệm tái giữ chức Chủ tịch nước. Trong lời phát biểu kết thúc kỳ họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Để xứng đáng với vinh dự to lớn là người đầy tớ tuyệt đối trung thành của nhân dân, các đại biểu Quốc hội và cán bộ chính quyền cần phải thực hành: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; gương mẫu về mọi mặt: Đoàn kết, công tác, học tập, lao động; luôn giữ vững tác phong khiêm tốn, chất phác hòa mình với quần chúng thành một khối”.

Ngày 15-7-1969, tiếp và trả lời phỏng vấn của nhà báo Charles Fourniau, đại diện thường trú của Đảng Cộng sản Pháp tại Hà Nội, Bác bày tỏ: “Lúc đầu, chính là do chủ nghĩa yêu nước mà tôi tin theo Lê-nin. Rồi từng bước một, tôi đi đến kết luận rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới… Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lê-nin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi như đồng chí đã biết…”. Đây cũng là cuộc trả lời phỏng vấn trực tiếp cuối cùng của Bác./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình cảm của bè bạn quốc tế khi đến viếng Ng­ười

Tại diễn đàn Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (Hà Nội – 1990), Tiến sĩ A.Atmet, Giám đốc Unesco khu vực Châu Á – Thái Bình Dương – đại diện đặc biệt của Tổng Giám đốc Unesco đã khẳng định: “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không chỉ là người giải phóng cho tổ quốc và nhân dân bị áp bức mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một tương lai hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”.

Trọn cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hy sinh cho hạnh phúc của cả dân tộc. Người quan tâm đến cuộc sống của mỗi con người nhưng không đòi hỏi gì cho riêng mình, không muốn nói về mình, không muốn nghe mọi người ca ngợi mình. Tất cả những phẩm chất cao quý, những nét đặc sắc thanh cao ấy đã kết thành sự vĩ đại của Người – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn. Chính vì vậy, ngay cả khi Người còn sống và sau khi Người qua đời đã có hàng ngàn, hàng vạn bài viết, những lời phát biểu đánh giá cao về sự nghiệp cách mạng, tư tưởng và đạo đức của Người.

Quảng trường Ba Đình vẫn vẹn nguyên như khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập của cả dân tộc trước sự chứng kiến của nửa triệu người Hà Nội ngày 2-9-1945, chỉ khác biệt ở chỗ là sự hiển diện của Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trang ngiêm đứng ở phía Tây của Quảng trường. Lòng tin và sự kính trọng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể nhìn thấy trên gương mặt của từng người khách tham quan đến từ mọi miền đất nước Việt Nam và khắp nơi trên thế giới, những người đã xếp hàng dài vài trăm mét để chờ đợi đến lượt mình bày tỏ lòng kính trọng đối với Người. Những dòng người vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày một thêm dài bất tận. Theo số liệu thống kê của Ban Quản lý Lăng, từ ngày mở cửa Lăng 29-8-1975 đến nay đã có hơn 40 triệu lượt người vào Lăng viếng Bác, trong đó có hơn 7 triệu lượt người nước ngoài đến từ 160 quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế. Không phân biệt quốc tịch, màu da, không phân biệt tôn giáo, đảng phái chính trị, mọi người đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh đều với một tình cảm kính trọng và yêu mến. Hầu hết các Đoàn nguyên thủ quốc gia, các đoàn đại biểu cấp cao các nước, khách du lịch khi đến thăm chính thức Việt Nam, đến làm việc hoặc tham quan Thủ đô Hà Nội đều dành thời gian đến Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh để viếng Người.

Có nhiều cách bạn bè quốc tế thể hiện tình cảm đối với Người: Có những dân tộc theo phong tục không được gặp mặt người đã mất, nhưng với lòng kính yêu Bác Hồ, họ vẫn đến trước Lăng để đặt vòng hoa tưởng niệm Người; có những đất nước như nước Cộng hoà U-krai-na, với mỗi đoàn đến viếng Bác, họ đều đặt vòng hoa viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đúng màu cờ của nước mình. Nhưng nhiều nhất vẫn là những dòng cảm tưởng khi đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh của khách tham quan, của bè bạn quốc tế ngày một thêm trang phần nào nói lên tình cảm của bè bạn quốc tế đối với Người.

Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vĩnh biệt chúng ta. Nhân dân Việt Nam và cả thế giới tiếc thương Người:

Ngài Hu-a-ri Bu-mê-điêng – Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Cộng hòa An-giê-ri dân chủ, đã ghi vào trang đầu sổ tang ngày 4-9-1969: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhà cách mạng đầu tiên đã chiến đấu chống những hình thức khác nhau của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc và là một trong những người mà bằng lời nói và hành động của mình, đã đập tan cơ cấu của sự tàn bạo và góp phần vào sự nghiệp chính nghĩa của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, đã giành lại nhân cách của mình trên lĩnh vực tinh thần, ngôn ngữ và kinh tế để làm cho các dân tộc đoàn kết lại với nhau, tiến tới một nền hòa bình mà đặc điểm của nó là tự do và đoàn kết, thống nhất.

Người mất đi là thế giới thứ ba mất một người dũng cảm vì cuộc chiến đấu của Người cũng là cuộc chiến đấu của tất cả các dân tộc bị áp bức của châu Phi, của Pa-le-xtin, của Việt Nam, của Châu Á và của thế giới thứ ba, để giành lại phẩm cách và danh dự cho mình. Cuộc đấu tranh đó sẽ còn tiếp tục cho đến thắng lợi hoàn toàn và Người sẽ vẫn là tượng trưng cao cả nhất cho cuộc đấu tranh này.

Mong rằng tấm gương của Người và cuộc chiến đấu của Người sẽ là kim chỉ nam hành động cho tất cả các dân tộc đang đấu tranh, cho thanh niên và cho các nhà lãnh đạo trên thế giới”.

Ngài Ap-đen Rát-man Ê-li-ri-a-li – Chủ tịch nước Cộng hòa Y-ê-men đã gửi điện chia buồn ngày 5-9-1969: “Chủ tịch Chủ Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ và người chiến sỹ vĩ đại đã dâng hiến cả cuộc đời cho tự do và công lý. Chúng tôi cảm thấy Châu Á đã mất đi một vị tư lệnh kiên cường, nhưng chúng tôi tin tưởng rằng sự nghiệp vĩ đại của Người mà nhân dân Việt Nam anh hùng cùng nhân dân các nước đang tiếp tục phấn đấu để thực hiện nhất định sẽ giành được thắng lợi to lớn”.

Thủ tướng Ấn Độ, P.J.Nê-ru đã viết trên Báo “Người yêu nước” của Ấn Độ, ngày 14-9-1969: “Người không chỉ là một con người yêu hòa bình mà còn là một nhân vật đặc biệt đáng yêu và hữu nghị, một con người không nghĩ gì đến mình, giản dị và khiêm tốn. Là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Người không chỉ giam mình trong tháp ngà. Về cơ bản, Người là một con người quần chúng, một lãnh tụ có sự kết hợp hiếm có giữa lòng khoan dung tột độ và ý chí kiên quyết. Nhận xét theo bất cứ tiêu chuẩn nào Người cũng là một nhân vật nổi bật nhất trong thời đại chúng ta”.

Chủ tịch Hội đồng Hoà bình thế giới Rô-met Chan-dra đã phát biểu nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“ Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do
Ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao.
Bất cứ nơi nào chiến đấu cho hoà bình và công lý
Ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao.
Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống đói nghèo
Ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao…”.

Sau khi Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành, số lượng khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh năm này luôn cao hơn năm trước. Dưới đây là những dòng cảm tưởng khi bè bạn quốc tế đến viếng Người:

Đoàn đại biểu Uỷ ban Văn hoá Đảng Cộng sản Mỹ, ngày 5-3-1983 đã ghi vào sổ cảm tưởng: “Chúng tôi có vinh dự lớn được thay mặt cho Uỷ ban Văn hoá Đảng Cộng sản Mỹ, cùng với nhân dân Việt Nam anh hùng đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh bất tử. Người luôn là nguồn cổ vũ lớn đối với nhân dân yêu chuộng hoà bình, với tất cả những người đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc và với tất cả nhân dân tiến bộ Mỹ. Hôm nay là một ngày xúc động nhất và tôi chia sẻ điều đó với Đảng và nhân dân nước tôi.

Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam anh dũng và để tưởng nhớ Người, chúng tôi luôn mong muốn cho sự đoàn kết bền chặt giữa hai dân tộc Mỹ – Việt”.

Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Ấn Độ, ngày 19-12-1989: “Được vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một niềm vinh dự to lớn của chúng tôi. Xin được bày tỏ lòng kính trọng của mình tới một nhân cách vĩ đại – Người đã cổ vũ và lãnh đạo nhân dân đất nước mình giành độc lập tự do cho dân tộc. Người đã đóng góp công lớn cho hoà bình và đoàn kết giữa các nước trên thế giới”.

Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Trương Đức Duy, ngày 30-12-1990 đã viết: “Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là cuộc đời cách mạng, cuộc đời vĩ đại, cuộc đời vẻ vang. Thật đáng khâm phục và đáng kính trọng biết bao nhiêu! Sau khi viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi thật vô cùng xúc động. Xin viết mấy dòng tỏ lòng tưởng nhớ:

Lãnh tụ vĩ đại
Công bộc nhân dân
Anh hùng dân tộc
Chiến sỹ quốc tế
Cả đời cách mạng
Cống hiến hết mình
Đức cao vọng trọng
Sáng như nhật nguyệt
Quý tình trọng nghĩa
Hữu nghị Trung – Việt
Bạn thân Hoa Hạ
Muôn đời truyền mãi”.

Đoàn đại biểu Cơ quan Giám sát hành chính Ai Cập, ngày 10-3-1998: “Thay mặt cho Cơ quan Giám sát hành chính Ai Cập, xin cảm ơn đất nước Việt Nam đã đón tiếp chúng tôi nồng nhiệt. Đây là nơi ghi lại cuộc đấu tranh chống đế quốc và đây là biểu tượng của các dân tộc thế giới thứ ba, biểu tượng đó chính là Hồ Chí Minh vĩ đại – là biểu tượng tình đoàn kết giữa hai nước để đạt được những tiến bộ không ngừng vì lợi ích của nhân dân hai dân tộc Ai Cập – Việt Nam”.

Ngài Mohamad Ismail Mahshoor – Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Ap-ga-ni-xtan tại Việt Nam: “Ở nước tôi, nhân dân biết tới Bác Hồ như một người chiến sỹ đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân và sự tàn bạo. Bác Hồ là tấm gương sáng cho thanh niên Ap-ga-ni-xtan vì lòng yêu nước và sự cống hiến vô hạn cho nhân dân. Trẻ em Ap-ga-ni-xtan biết về Người như biểu tượng của lòng tốt, một người ông yêu trẻ. Trong sách báo chúng tôi có in rất nhiều hình ảnh Bác Hồ gặp thanh, thiếu niên với tình cảm rất mực yêu thương. Sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm, cứu nước của Bác Hồ là chủ đề nghiên cứu của những người yêu nước chúng tôi. Bác Hồ sẽ sống mãi trong trái tim của nhân loại”.

Gặp gỡ những vị khách nước ngoài đến thăm Cụm Di tích Lịch sử – Văn hóa Ba Đình trong những ngày tháng Tư này, chúng tôi đều thấy sự ngưỡng mộ và lòng kính trọng sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt nam.

Anh Giôn Hatđinh, người Ô-xtrây-lia, đang làm việc tại tờ Thời báo kinh tế Việt Nam nói: “Ông là một người có ảnh hưởng rất lớn không những đối với nhân dân Việt Nam mà còn đối với nhân dân của rất nhiều nước trên thế giới, không chỉ khi ông còn sống mà ngày nay cũng vậy. Mặc dù mỗi nước có một ngôn ngữ riêng nhưng khi bạn hỏi người nước ngoài về Việt Nam thì chắc chắn rằng họ sẽ nhắc đến Hồ Chí Minh trong câu trả lời”.

Anh Hatđinh đã gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Charisma”, từ chỉ những vị lãnh tụ có uy tín, có sức hút đối với quần chúng nhân dân. Theo anh, nhiều dân tộc trên thế giới có các anh hùng dân tộc nhưng không phải nước nào cũng có “Charisma”.

Anh Lơgêrốt, người Pháp, đang làm việc cho một dự án tại Hà Nội, khoe rằng anh rất ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh nên mỗi lần đến Hà Nội anh đều dành thời gian đi thăm quần thể Lăng, Bảo tàng và Khu Di tích của Người. Anh nói: “Hồ Chí Minh là biểu tượng cách mạng không chỉ của nhân dân Việt Nam mà còn của cả nhân loại. Vai trò của ông đối với đất nước Việt Nam là hết sức to lớn. Thật ấn tượng khi ông đã hiến dâng cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì hòa bình, vì hạnh phúc cho người dân trong khi không mảy may nghĩ đến lợi ích riêng tư”.

Một vài dòng trên đây cũng không nói được nhiều, chỉ mong rằng qua đây mọi người thấy rõ thêm phần nào về tình cảm và sự kính trọng của bè bạn thế giới đối với Bác kính yêu.

Nguyễn Thị Lan Hương
Văn phòng Ban Quản lý Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Ngày 25-7: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 25-7-1922, “Bức thư ngỏ” của Nguyễn Ái Quốc gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp Albert Sarraut được công bố trên báo “L’Humanité”(Nhân Đạo). Ngày 25-7-1945, từ Chiến khu Việt Bắc, thông qua viên chỉ huy đơn vị Tình báo Chiến lược Mỹ OSS A.Thomas, lãnh tụ Hồ Chí Minh đưa ra thông điệp đối với Chính phủ Pháp về nền độc lập của nhân dân Việt Nam sau khi đánh đổ phát xít Nhật ở Đông Dương, gồm 5 điểm: Xây dựng một nghị viện hỗn hợp Pháp – Việt trong quá trình hướng đến một nền độc lập hoàn toàn; quá trình đó xác định khoảng 5 năm và tối đa 10 năm; các nguồn lợi thiên nhiên phải được trả lại cho nhân dân; Việt Nam được hưởng mọi quyền tự do mà Liên hiệp quốc đã ban bố; cấm chỉ việc bán thuốc phiện.

Ngày 25-7-1949, kết thúc phiên họp của Chính phủ, khi đề cập đến nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, Bác nhận định: “Cũng như chim muốn bay cần phải có hai cánh, một cuộc chiến tranh muốn thắng lợi cần phải có hai lực lượng chính: Quân sự và chính trị. Ông Tôn Tử là một người thao lược giỏi nhất trong lịch sử và trong thế giới, có nói: Biết địch, biết ta, trăm trận, trăm thắng. Vậy ta cần phải biết Pháp, biết ta… Giặc Pháp mù quáng về chính trị, thoái bộ về quân sự. Cả hai cánh của họ đã yếu và chỉ có thể đưa họ đến thất bại. Bên ta, chính trị rõ ràng, quân sự tiến bộ mãi. Hai cánh của ta rất mạnh, ngày càng mạnh thêm, cho nên ta nhất định thắng lợi. Thêm vào đó, tình hình thế giới rất có lợi cho ta. Cánh ta đã vững, gió lại thuận chiều, quân và dân ta hãy cố gắng lên. Thắng lợi vẻ vang đã gần trước mắt”.

Ngày 25-7-1956, nói chuyện tại Liên hoan Thanh niên tích cực ngành Đường sắt, Bác khuyên: “Nếu không học văn hóa, không có trình độ văn hóa thì không học tập được kỹ thuật. Không học tập được kỹ thuật thì không theo kịp được nhu cầu kinh tế nước nhà. Nhưng phải chú ý học tập chính trị vì nếu chỉ học văn hóa, kỹ thuật mà không có chính trị thì như người nhắm mắt mà đi”.

Ngày 25-7-1963, kỷ niệm 10 năm ngày Khởi nghĩa Moncada, Bác gửi điện mừng tới các nhà lãnh đạo Cuba, khẳng định: “Nhân dân Việt Nam rất tự hào có người bạn chiến đấu là nhân dân Cuba anh hùng và coi những thắng lợi của nhân dân Cuba cũng như những thắng lợi của bản thân mình”.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 5-8: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 5-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nỗ lực để cứu vãn sự bế tắc của Hội nghị Fontainebleau bàn về quan hệ Việt – Pháp bằng các cuộc tiếp xúc với Chủ tịch Quốc hội, lãnh tụ Đảng Xã hội Vincent Auriol, Chủ tịch Hội Nhân quyền Pháp, GS. Emile Kalm, cùng một số nghị sĩ…

Tài liệu “Nhật ký hành trình” thuật lại công việc vị Chủ tịch nước Việt Nam đã làm: “Mỗi ngày, Cụ xem chừng 25 tờ báo, báo sáng, báo chiều, báo hàng tuần, báo ngoại quốc. Báo có tin tức gì hay, Cụ lấy bút chì đỏ làm dấu, rồi bảo anh em xem. Hôm nào nhiều khách thì Cụ thường thức xem báo đến hai giờ sáng. Anh em tùy tùng và các bác sĩ, cho đến cả vợ chồng ông Aubrac (chủ nhà) thấy Cụ thức khuya dậy sớm quá, ra sức khuyên Cụ đi nghỉ sớm. Nhưng không có kết quả mấy!”.

Ngày 5-8-1947, nhân dịp Đại hội Báo giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng và khích lệ: “Từ ngày kháng chiến, tuy hoàn cảnh khó khăn, các bạn đã cố gắng làm tròn nhiệm vụ. Thế là tốt lắm, nhưng các bạn cần phải cố gắng thêm”. Rồi Bác nhắc nhở: “Lời lẽ phải phổ thông, dễ hiểu, đường hoàng, vui vẻ, làm cho người xem báo có thú vị mà lại có bổ ích. Chiến sĩ ngoài mặt trận thì dùng súng chống địch, các bạn thì dùng bút chống địch. Kháng chiến nhất định thắng lợi và thành công”.

Cùng ngày, Bác ký sắc lệnh quy định chức Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia (lúc này là Võ Nguyên Giáp) có quyền hạn và chức vụ như một bộ trưởng và là một thành viên trong Hội đồng Chính phủ.

Tháng 8-1948, Bác viết thư gửi ông Trưởng ty Bình dân học vụ Hà Tĩnh khen việc “tỉnh Hà Tĩnh đã có mấy làng thanh toán nạn mù chữ”. Bác cũng có thư gửi đồng bào Quỳnh Côi (Thái Bình), huyện đầu tiên trong cả nước đã thanh toán nạn mù chữ, trong đó Bác khẳng định: “Đó là một thắng lợi vẻ vang. Thắng lợi đó là do sự săn sóc của các vị phụ lão, thân hào, thân sĩ; do sự giúp đỡ của các cơ quan đoàn thể; do sự tận tụy của nam nữ giáo viên; do lòng hăng hái của toàn thể đồng bào trong huyện. Chúng ta cũng phải nhắc đến sự đôn đốc của Nha và Ty Bình dân học vụ”.

Ngày 5-8-1965, nhân kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Quân chủng Hải quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bác viết thư bày tỏ: “Bác rất vui lòng khen ngợi thành tích vẻ vang về xây dựng và chiến đấu của các chú. Tuy còn non trẻ, Hải quân ta đã anh dũng chiến đấu, tích cực tiêu diệt địch, bắn rơi máy bay và đánh đuổi tàu chiến Mỹ, đoàn kết lập công, bảo vệ nhân dân, bảo vệ vùng trời và vùng biển của Tổ quốc. Các chú đã nêu cao truyền thống anh hùng của dân tộc ta…”.

Ngày 5-8-1968, nhân ngành Hậu cần Quân đội tổ chức hội nghị lái xe giỏi và thợ sửa chữa xe giỏi toàn quân, Bác gửi tặng lá cờ thêu mấy dòng đề từ:

“Yêu xe như con
Quý xăng như máu
Vượt mọi khó khăn
Hoàn thành nhiệm vụ”.

Ngày 5-8-1969, Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm ông bà Trịnh Đình Thảo và Đoàn cán bộ của Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình miền Nam Việt Nam vừa ra thăm miền Bắc./.

Huyền Trang (st)
Theo tvad.com.vn

bqllang.gov.vn

Ngày 11-8: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 11-8-1942, trên Báo Việt Nam Độc lập, Nguyễn Ái Quốc đăng bài thơ “Tặng Toàn quyền Đờ-Cu”, đả kích viên toàn quyền thực dân Pháp theo quan điểm đầu hàng của Chính phủ Pétain:

“Non nước Rồng Tiên rõ mịt mù
Lợi quyền phó mặc bố thằng Cu
Đối dân Nam Việt thì lên mặt
Gặp bọn Phù Tang chỉ đội khu
Về Pháp, không còn e chết đói
Ở đây hút máu béo ni-nu
Cũng như Thống chế Pêtanh vậy
Chú cứ cu cù mãi được ru!?”.

Ngày 11 tháng 8-1945, để chuẩn bị triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng, Bác đề nghị: “Nên họp ngay và cũng không nên kéo dài hội nghị. Chúng ta cần tranh thủ từng giây, từng phút, tình hình sẽ biến chuyển nhanh chóng. Không để lỡ cơ hội”, và thúc giục các đại biểu trên toàn quốc sớm về dự.

Ngày 11-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng gia chủ là ông bà Aubrac thăm Cung điện Chantilly, sau đó tiếp J.Sainteny – một chính khách thông hiểu tình hình Việt Nam và có khuynh hướng hòa hoãn.

Ngày 11-8-1961, Bác đi kiểm tra các đoạn đê xung yếu thuộc các xã Đông Mỹ, Sở Thượng, huyện Thanh Trì, Hà Nội, căn dặn lực lượng bảo vệ đê: “Dù nước to đến đâu, cũng phải giữ đê cho chắc. Phải đề phòng mực nước cao nhất, chớ chủ quan khi nước chưa rút hẳn. Phải bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và của cải của nhà nước ở hai vệ sông”.

Ngày 11-8-1963, Báo Nhân Dân đăng bài “Kinh nghiệm “3 xây, 3 chống” của Bác dưới bút danh “Chiến Sĩ”. Bài báo viết: “…Muốn xây dựng một lâu đài mới thì phải phá cái lều cũ ọp ẹp đi. Muốn xây dựng những tiến bộ mới trong nền kinh tế ta thì phải chống những cái cũ kỹ và lạc hậu, ví như chống lãng phí sức người, thời giờ và máy móc…”.

Tháng 8-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của nhà báo Australia nổi tiếng W.Burchett về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và đưa ra thông điệp: “…Chúng tôi không có xích mích gì với nhân dân Mỹ. Chúng tôi muốn sống hòa bình và hữu nghị với nhân dân Mỹ. Nhân dân chúng tôi được giáo dục theo tinh thần quốc tế chân chính. Trước đây chúng tôi đã chú ý phân biệt thực dân Pháp với nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình, thì ngày nay chúng tôi cũng chú ý phân biệt nhân dân Mỹ vĩ đại có truyền thống tự do, với bọn can thiệp và bọn quân phiệt ở Hoa Thịnh Đốn đang nâng đỡ chúng”.

Tháng 8-1963, đến thăm Hội nghị Tổng kết phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” của ngành giáo dục phổ thông và sư phạm, Bác góp ý: Cần chú trọng hơn nữa về đức dục; phải thực hiện tốt phương châm giáo dục kết hợp với lao động sản xuất trong giảng dạy và học tập; tránh lối dạy nhồi sọ, lối học như vẹt; cần kiệm xây dựng nhà trường và căn dặn: “Nhiệm vụ của các cô giáo, thầy giáo rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Muốn làm tròn nhiệm vụ đó thì phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, không ngừng bồi dưỡng đạo đức cách mạng, lập trường chính trị, phải ra sức đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”.

Ngày 11-8-1965, Bác ra sắc lệnh truy tặng Huân chương Chiến công cho liệt sỹ Nguyễn Bá Ngọc, 13 tuổi, ở xã Quang Trung, Quảng Xương, Thanh Hóa, đã dũng cảm cứu bạn khi máy bay Mỹ bắn phá và anh dũng hy sinh, một tấm gương tiêu biểu của thế hệ thiếu nhi thời “chống Mỹ cứu nước”.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

66 năm Cách mạng tháng Tám năm 1945 (19/8/1945) và sự ra đời của một bài ca bất hủ

Cố nhạc sỹ Xuân Oanh

Cách đây 66 năm, tháng 8 năm 1945, cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 đi vào giai đoạn kết thúc. Sau khi tiêu diệt phát xít Đức, Liên Xô chuyển sang tấn công tiêu diệt phát xít phương Đông là Nhật Bản. Phong trào đấu tranh chống Nhật bùng lên mạnh mẽ khiến Nhật Bản lâm vào tình trạng vô cùng nguy khốn. Thời cơ cách mạng đang mở ra trước con đường giải phóng của các dân tộc, Đảng ta đứng trước một cơ hội lịch sử ngàn năm có một, giờ phút có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh của đất nước.

Trong hoàn cảnh đó, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) trong 2 ngày 14 và 15 tháng 8 năm 1945 đã giải quyết một vấn đề trọng đại: Quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Đại biểu các Đảng bộ từ Bắc, Trung, Nam, từ các chiến khu và khu giải phóng về dự đông đủ. Hội nghị họp vào lúc phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh liền thành lập “Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc” để lãnh đạo khởi nghĩa trong cả nước. Trong tình hình hết sức khẩn trương, Đảng quyết định phát động và lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn bù nhìn tay sai của chúng trước khi quân đồng minh Anh, Pháp vào nước ta.

Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào ngày 15/8 gồm hơn 60 đại biểu thuộc các thành phần dân tộc, tôn giáo và các đoàn thể, đảng phái tề tựu trước mái đình Hồng Thái để bàn việc cứu nước, ý chí quyết chiến dâng lên mãnh liệt tại Đại hội Tân Trào. Các đại biểu đều tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng. Đại hội quy định quốc kỳ, quốc ca, 10 chính sách lớn và cử ra Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, tức là Chính phủ lâm thời sau này. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc, sau bao năm đấu tranh kiên cường vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đã được Đại hội nhất trí bầu làm Chủ tịch.

Nắm được thời cơ thuận lợi, nhiều địa phương đã nổi dậy giành chính quyền từ ngày 14-8. Ngày 15, Xứ ủy Bắc Kỳ trực tiếp chỉ thị cho Hà Nội khởi nghĩa. Hà Nội sống trong những ngày rạo rực chuẩn bị nổi dậy, các tầng lớp nhân dân nhất là thanh niên, hăng hái gia nhập các đoàn thể cứu quốc, tuyên truyền cho Việt Minh, thành lập các Đội Tự vệ chiến đấu.

Chiều 17, cuộc biểu tình của Tổng hội công chức biến thành cuộc mít tinh lớn của Việt Minh. Cờ đỏ sao vàng xuất hiện trên tầng hai Nhà hát Thành phố, đại biểu Việt Minh kêu gọi nhân dân đứng dậy giành chính quyền, lật đổ chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim. Ngọn lửa cách mạng bùng cháy, cả Hà Nội bừng bừng khí thế đấu tranh theo lời kêu gọi của Đảng.Cuộc biểu tình làm cho kẻ thù càng thêm hoảng hốt. Trái lại, quần chúng cách mạng phấn chấn, ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa.

Sáng ngày 19, hàng chục vạn nhân dân thành phố rầm rập tiến về Quảng trường Nhà hát Lớn. Đúng 11 giờ trưa, cuộc mít tinh bắt đầu. Lời kêu gọi khởi nghĩa của Đảng được quần chúng đón mừng bằng những tiếng reo hò và những khẩu hiệu hô vang khắp quảng trường:

Thành lập chính phủ Cộng hòa Dân chủ Việt Nam
Việt Nam hoàn toàn độc lập
Đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim.

Cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu tình tuần hành vĩ đại. Dòng người chia thành nhiều ngả, có các Đội Tự vệ chiến đấu dẫn đầu đi chiếm các công sở và chiếm lĩnh các vị trí xung yếu. Cổng phủ khâm sai đóng, nhiều người vượt qua hàng rào sắt nhảy vào bên trong chiếm lấy trụ sở cơ quan đầu não của địch. Cờ đỏ sao vàng được kéo lên cao tung bay trước gió. Ở trại Bảo an ninh, bọn Nhật cho xe tăng và quân lính chặn các ngã đường nhưng chúng không thể ngăn cản được làn sóng người đang cuồn cuộn tiến bước, sẵn sàng đạp bằng mọi trở ngại. Nhân dân Hà Nội đã hoàn toàn làm chủ thành phố của mình. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội đã cổ vũ tinh thần đấu tranh của toàn dân và tác dụng mạnh mẽ đến phong trào cách mạng của cả nước.

Trong vòng 10 ngày từ 19 đến 28 tháng 8 hầu hết các tỉnh và thành phố đều nổi dậy khởi nghĩa. Phát xít Nhật thua trận, chế độ quân chủ bị lật đổ. Chính quyền trong cả nước hoàn toàn về tay nhân dân ta. Từ đó, ngày 19/8 đi vào lịch sử của dân tộc, là ngày khởi nghĩa của Hà Nội, ngày đánh dấu cao trào Tổng khởi nghĩa trong cả nước, ngày Cách mạng tháng Tám thành công. Thắng lợi Cách mạng tháng Tám chính là kết quả của một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh và khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng lòng yêu nước là những nhân tố căn bản nhất làm nên thành công của cuộc Tổng khởi nghĩa lịch sử.

Mùa thu này, ca khúc bất hủ “Mười chín tháng Tám” lại vang lên vào một dịp đặc biệt của cả dân tộc Việt Nam, đó là những ngày rạng ngời niềm vui kỷ niệm chiến thắng Cách mạng tháng Tám lịch sử.

“Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày
Thề đem xương máu quyết lòng chiến đấu cho tương lai
Mười chín tháng Tám khi quốc dân căm hờn kêu thét
Tiến lên cùng hô mau diệt tan hết quân thù chung
Mười chín tháng Tám ánh sáng tự do đưa tới
Cờ bay nơi nơi muôn ánh sao vàng
Máu pha tươi đều trên lá cờ bay khắp chốn giang sơn”.

Nhạc sỹ Xuân Oanh – người đã viết nên những lời ca tiếng hát đi cùng lịch sử dân tộc ấy, nay đã không còn. Một chứng nhân lịch sử của dân tộc đã đi xa nhưng ca khúc để đời của ông còn mãi vang vọng theo chiều dài lịch sử dân tộc!

“Đã hơn 60 năm qua đi, nhưng tôi vẫn nhớ như in diễn biến những ngày ấy. Tôi khi đó đang là một chàng thanh niên 23 tuổi, sớm giác ngộ cách mạng, được nhà văn Nguyễn Đình Thi và một số đồng chí khác dìu dắt, hướng dẫn tham gia công tác tuyên truyền cách mạng, cụ thể là đi phát hành các Tờ báo Hồn nước, Cờ giải phóng. Tâm trạng của lớp trẻ chúng tôi lúc đó – nhất là những người ham hoạt động – luôn sôi lên bầu máu nóng muốn làm một điều gì đó đóng góp vào công cuộc cách mạng chung. Sáng sớm ngày 19/8, tôi nhập vào đoàn người đi từ Văn Điển lên Nhà hát Lớn Hà Nội. Mọi người hối hả, khẩn trương và vô cùng phấn khích. Là người yêu thích âm nhạc, trước đó đã từng sáng tác, tôi nảy ý định sáng tác một bài hát ngay trên đường đi. Thế là vừa đi, tôi vừa sáng tác. Được câu nào tôi dạy ngay cho những người quanh tôi hát và nhập vào đoàn người hôm ấy. Họ thuộc và hát trôi chảy, tôi lại nghĩ tiếp câu sau cho đến hết bài. Không hiểu sao, tôi cho ra đời bài hát khá dễ dàng, có thể nói là không mất công nghĩ ngợi nhiều. Sáng tác gần như một mạch. Chính cái không khí lịch sử, tình cảm của đồng bào đã giúp tôi sáng tác nhanh như vậy. Sau đó, tôi cũng không phải sửa chữa gì thêm, bởi mọi người rất hưởng ứng, tâm đắc, chẳng ai có “ý kiến” chỗ nào” – Cố nhạc sỹ Xuân Oanh nhớ lại.

Với giai điệu hào hùng nhịp nhịp bước, ca khúc vang lên người nghe không khỏi bồi hồi xúc động xen lẫn niềm tự hào dâng tràn:

“Người Việt Nam ta giữ vững trong tim lời thề
Mười chín tháng Tám chớ quên là ngày khởi nghĩa
Hạnh phúc sáng tô non sông Việt Nam
Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày
Thề đem xương máu quyết lòng chiến đấu cho tương lai
Mười chín tháng Tám khi quốc dân căm hờn kêu thét
Tiến lên cùng hô mau diệt tan hết quân thù chung”

Khi hỏi về tên bài hát, nhạc sĩ rất “thật thà”: Thú thực, lúc sáng tác trên đường, chẳng nghĩ gì đến tên bài hát, chỉ cố làm sao cho số đông người dễ hát, dễ thuộc. Sau khi hướng dẫn xong cả bài, khi mọi người đã hát trôi chảy, bỗng có một người nói: “Này nhạc sĩ ơi, thế bài hát này tên là gì?”. Khi ấy, tôi mới sực nhớ là chưa có tên. Tôi nghĩ mãi chẳng ra được tên gì, cuối cùng bèn nói: “Hôm nay là ngày 19/8. Lịch sử sẽ ghi nhớ mãi ngày này. Thôi, chẳng cần tìm kiếm gì cho mất công, tên bài là 19 tháng 8”. Sau đó tôi hỏi: “Mọi người thấy thế nào, được không?”. Tất cả thống nhất: “Được đấy, đúng rồi. Hay đấy!”. Thế là tôi yên tâm đặt tên cho đứa con tinh thần của mình. Bài hát Mười chín tháng Tám ra đời “một cách kỳ lạ” như vậy.

Chiều 19-8-1945, bài hát in ở một hiệu sách và phát trên sóng phát thanh lúc nào, ông không biết. Anh em, bạn bè thông báo ông mới hay. Không ai biết, chính những giây phút xuất thần trong thời điểm lịch sử giúp nhạc sĩ Xuân Oanh sáng tác thành công ca khúc “Mười chín tháng Tám”, là bản hùng ca thời đại, cũng là bản hùng ca bất hủ, mãi mãi âm vang đi cùng năm tháng, cổ vũ, động viên toàn dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường đi lên phía trước./.

Phương Thúy (tổng hợp)

bqllang.gov.vn

Bài học về lãnh đạo quần chúng làm cách mạng

Chỉ trong vòng nửa tháng, từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân dân đã nổi dậy đồng loạt tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, “lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(1). Nhận định về nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, đồng chí Trường Chinh khẳng định: “Cuộc khởi nghĩa tháng Tám 1945 đã đạt được mục đích giành chính quyền, mục đích trực tiếp của mọi cuộc cách mạng, vì nó là sự nghiệp của toàn dân đoàn kết, kiên quyết chiến đấu để tự giải phóng, do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo”(2).

Cách mạng tháng Tám để lại những bài học lịch sử quý báu. Một trong những bài học luôn có ý nghĩa thực tiễn là bài học về phát động, tổ chức, hướng dẫn quần chúng tạo thành những cao trào sôi nổi hoàn thành những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng.

1. Ý Đảng hợp lòng dân là một cơ sở quyết định để có cao trào cách mạng

Đảng ta là một đội tiên phong của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Mục tiêu phấn đấu của Đảng cũng là nguyện vọng của đông đảo quần chúng. Đường lối, chủ trương của Đảng không phải dựa trên ý muốn chủ quan của một bộ phận mà căn cứ vào tình hình thực tiễn của đất nước, khả năng, nguyện vọng của quần chúng.

Vào thời kỳ tiền khởi nghĩa, nguyện vọng bức thiết của cả dân tộc lúc bấy giờ là thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của phát xít Nhật. Ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp, Đảng phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Ý Đảng hợp với lòng dân, khẩu hiệu cứu quốc có sức cổ vũ lớn đối với mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mỗi người dân yêu nước. Khắp các địa phương, từ rừng núi đến đồng bằng, thành thị đều nô nức khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa cướp chính quyền. Được lệnh khởi nghĩa, toàn dân đồng loạt vùng lên với khí thế mãnh liệt của lực lượng chính trị quần chúng đông đảo và lực lượng vũ trang, bán vũ trang. Ở một số địa phương, do điều kiện thông tin liên lạc nên lệnh khởi nghĩa của Trung ương tới muộn, đảng bộ và Mặt trận Việt Minh căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, vào phương hướng hành động của Đảng đã chủ động lãnh đạo quần chúng nổi dậy khởi nghĩa.

Bài học ý Đảng hợp với lòng dân thể hiện rất điển hình trong Cách mạng tháng Tám và được phát triển trong những thời kỳ cách mạng sau đó, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (khóa II) đến với sự mong chờ khát khao của đồng bào miền Nam đã làm bùng lên phong trào Đồng Khởi. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước đáp ứng nguyện vọng của nhân dân đã tạo nên những phong trào cách mạng trên nhiều lĩnh vực, đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới.

Những sai lầm, vấp váp của Đảng trong tiến hành cải cách ruộng đất, trong việc đề ra kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở Đại hội IV (1976) của Đảng đều có nguyên nhân do Đảng chủ quan, không nắm vững thực tiễn, không nắm bắt được nguyện vọng, khả năng của quần chúng nhân dân. Sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề với sự lãnh đạo của Đảng. Muốn phát huy được tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân, trước hết đường lối, chủ trương của Đảng phải coi lòng dân là một điểm xuất phát quan trọng hàng đầu.

2. Chăm lo đáp ứng nguyện vọng trước mắt và lâu dài của nhân dân

Vào đầu năm 1945, nạn đói diễn ra khủng khiếp ở các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Hai triệu người chết đói, hàng triệu người khác đang bị đói và có nguy cơ chết đói. Trước tình hình đó, Mặt trận Việt Minh kêu gọi: “Phá kho thóc Nhật cứu đói”. Hàng triệu nông dân nghèo dù chưa giác ngộ cao nhưng để cứu bố mẹ, vợ con và bản thân mình khỏi chết đói đã rầm rộ tham gia cuộc đấu tranh phá kho thóc Nhật. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quần chúng nhân dân từ hình thức đấu tranh cho quyền lợi kinh tế hằng ngày đến giác ngộ chính trị, đấu tranh cho độc lập dân tộc. Đi theo Việt Minh cứu nhà cũng chính là đi theo Việt Minh để cứu nước. Đó là nhận thức cụ thể, sâu sắc và biện chứng của nhân dân. Nhân dân được phát động vùng dậy với khí thế hừng hực khởi nghĩa chống Nhật giành chính quyền. Qua sự kiện lịch sử này, đồng chí Lê Duẩn đã rút ra kết luận: “Một khẩu hiệu sát đúng với tình thế cụ thể có sức dấy lên cả một phong trào”(3).

Trong cách mạng XHCN, chúng ta ngày càng nhận thức rõ lợi ích vật chất là động lực trực tiếp. Đảng và Nhà nước ta đã có đường lối, chính sách thường xuyên chăm lo đời sống của mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, mỗi người cần nhận thức đúng đắn mối quan hệ hài hoà giữa quyền lợi vật chất với quyền lợi tinh thần, lợi ích kinh tế với những vấn đề chính trị xã hội, quyền lợi trước mắt của bản thân, gia đình với mục tiêu chung của đất nước, của cách mạng. Đặc biệt, cần chống những quan niệm sai trái coi lợi ích vật chất là duy nhất, chỉ lo “ích kỷ phi gia”, bàng quan với cuộc sống khó khăn của người xung quanh, với sự nghiệp cách mạng của đất nước, của dân tộc.

3. Nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu xả thân vì nước của cán bộ, đảng viên.

Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, người cán bộ, đảng viên vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dám xả thân mình để hoạt động cách mạng. Họ tuyên truyền, vận động, tổ chức và hướng dẫn quần chúng đấu tranh. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người cán bộ, đảng viên đều nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu. Những nơi đòi hỏi phải hy sinh, khó khăn gian khổ thì “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Trong đoàn biểu tình, cán bộ, đảng viên đi hàng đầu. Trong chiến đấu, đảng viên xung phong lên phía trước. Đảng viên luôn nêu gương sáng dẫn dắt, cổ vũ quần chúng đi theo cách mạng. Nhờ vậy, trong Cách mạng tháng Tám, chỉ với 5.000 đảng viên mà Đảng đã phát động, tổ chức, lãnh đạo được phong trào cách mạng rộng lớn của toàn dân.

Sau khi cách mạng thành công, nhất là trong cách mạng XHCN, đảng viên, cán bộ thường được giao các cương vị công tác “có chức có quyền”. Từ đó, xuất hiện không ít “quan cách mạng” như Bác Hồ đã cảnh báo từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị suy thoái về phẩm chất đạo đức, quan liêu, tham nhũng, không những mất uy tín trước nhân dân, làm suy giảm uy tín của Đảng, mà còn đang là lực cản phong trào cách mạng của quần chúng. Tệ nạn này đã trở thành quốc nạn. Đảng phải thực sự dựa vào dân, kiên quyết loại trừ những “quan cách mạng”, làm trong sạch đội ngũ, khôi phục niềm tin của dân với Đảng.

Thấm nhuần nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo cuộc Cách mạng tháng Tám thắng lợi, để lại những bài học quý giá luôn nóng bỏng tính thời sự mà chúng ta cần nghiêm túc vận dụng có hiệu quả, đưa cách mạng nước ta tiếp tục giành những thắng lợi mới./.

—————–

(1) Hồ Chí Minh, toàn tập, NXBCTQG, H.1995, tập 6, tr.159.
(2) Trường Chinh, Cách mạng Tháng Tám, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tập 1, tr.374.
(3) Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội. 1975, tr.46-47.

Huyền Trang (st)
Theo Tạp chí Xây dựng Đảng

bqllang.gov.vn

Cách mạng tháng Tám và bài học xây dựng nhà nước pháp quyền

Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ rũ bùn đứng dậy làm chủ nhân đất nước. Dẫu buổi đầu đầy cam go thách thức nhưng người dân Việt Nam đã tự tay thực hiện quyền làm chủ, cầm lá phiếu bầu nên Quốc hội, chọn những người ưu tú nhất vào bộ máy nhà nước để lãnh đạo nhân dân chống thù trong giặc ngoài giữ vững nền độc lập.

Những kinh nghiệm trong buổi đầu lập nước ấy đang được kế thừa và phát huy trong quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN theo đường lối của Đảng.

Năm nay đã vào tuổi 93, Giáo sư Lưu Văn Đạt, Chủ tịch Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam dường như gắn trọn đời mình với sự nghiệp cách mạng mà ông đã nhiệt tình tham gia từ những năm đầu của cuộc kháng chiến kiến quốc. Mấy mươi năm công tác, dù ở cương vị nào, Giáo sư Lưu Văn Đạt cũng thể hiện sự uyên bác của một chuyên gia về pháp luật. Việc ra đời một nhà nước dân chủ ngay sau khi lật đổ ách thống trị thực dân phong kiến là một thành công vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cương vị người cầm lái con thuyền cách mạng. Chính Người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho đường lối xây dựng nhà nước pháp quyền khi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc. Bằng mục tiêu trong sáng, bằng uy tín, tài năng, đạo đức và tinh thần quyết tâm “dù có đốt cháy cả dải Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một di sản quý giá về tinh thần đoàn kết, hòa hợp dân tộc trong quá trình xây dựng nhà nước cách mạng.

Giáo sư Lưu Văn Đạt chia sẻ: “Điều mà tôi tâm đắc nhất là tinh thần đại đoàn kết dân tộc, trọng nhân tài của Hồ Chủ tịch. Bác nói là ai có tâm huyết thì Bác sẵn sàng tiếp nhận để làm việc cho đất nước. Lúc bấy giờ Đảng viên có bao nhiêu đâu, những người ngoài Đảng thì rất đông. Nhưng những người ngoài Đảng đều là những người ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Đảng và Hồ Chủ tịch. Hầu hết trí thức lúc bấy giờ đều đứng dưới lá cờ của Hồ Chủ tịch, sẵn sàng làm mọi việc giúp ích cho đất nước”.

Nhờ vậy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng được một Chính phủ đủ sức lãnh đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc thành công. Những trí thức phong kiến như Phạm Khắc Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn… rồi những trí thức mới như Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng… đều là nhân tài Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài cũng trở về góp sức xây dựng đất nước.

Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc – nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh phân tích: Thắng lợi lớn nhất, triệt để nhất của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là đánh đổ chế độ nô lệ, xây dựng nhà nước kiểu mới, nhà nước do dân và vì dân. Cuộc bầu cử Quốc hội tháng 1/1946 và sau đó là thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu là một bước đi có tính chiến lược, thể hiện sự tài ba của Bác. Bài học lớn trong xây dựng nhà nước của cuộc Cách mạng tháng Tám là sự thay đổi bản chất nhà nước. Nói như Bác Hồ là: “Nhà nước ấy không phải để đè đầu cưỡi cổ dân như chế độ thực dân phong kiến, mà bộ máy Chính phủ từ trung ương đến địa phương phải là công bộc của dân, phục vụ nhân dân”.

Theo Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc, tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đến khi Người gửi bản yêu sách 8 điều đến Hội nghị Versaill xây năm 1919. “Tám điểm yêu sách, đầu tiên Cụ chú ý vấn đề pháp luật, trong đó có một câu là “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Trong tác phẩm Đường kách mệnh thì Cụ lại nói là cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều. Đấy chính là quyền làm chủ, quyền lợi, quyền lực. Cuộc bầu cử tháng Giêng năm 46 để khẳng định cơ sở pháp lý của nhà nước. Nhà nước này là Nhà nước hợp hiến, hợp pháp, do dân cử, xác định không những cơ sở thực tế mà còn là cơ sở pháp lý của Nhà nước trong đối nội và đối ngoại” – Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc nói.

Phó Giáo sư Sử học Lê Mậu Hãn cho rằng thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã khẳng định tư thế của một dân tộc khát khao tự do, một quốc gia khát khao độc lập. Cả đời bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh đạo cách mạng thành công đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ là để thực hiện cho được hoài bão xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tư tưởng ấy là bài học rất quý. Phó Giáo sư Lê Mậu Hãn cho rằng: “Thắng lợi đó là thắng lợi của tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh mà Đảng tổ chức lãnh đạo. Và trong cuộc bầu cử đó toàn dân có quyền ứng cử và bầu cử. Cho nên đó là thắng lợi của tư tưởng dân tộc bình đẳng, dân chủ và đại đoàn kết. Đó là một bài học kinh nghiệm có giá trị đặc biệt khi hiện nay đặt vấn đề phải tích cực phát huy quyền dân chủ tự do cho nhân dân để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đang tiến lên trong điều kiện khó khăn”.

Theo Giáo sư Lưu Văn Đạt, để xây dựng nhà nước pháp quyền vững mạnh, không phải ở luật pháp – tức pháp trị, mà cái chính là đạo đức của người cán bộ cách mạng – tức đức trị. Tính vì dân của nhà nước phải được thể hiện bằng những việc hết sức cụ thể: “Có một phương châm Hồ Chủ tịch đề ra là cái gì có lợi cho dân thì hết sức làm, cái gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Điều này Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong kỳ nhậm chức cũng đã nhắc lại. Tôi nghĩ rằng nếu như tất cả công chức, viên chức của nhà nước, các nhà lãnh đạo luôn suy nghĩ đến phương châm đó chắc chắn là nhà nước pháp quyền của chúng ta sẽ thực sự là của dân, do dân và vì dân. Bởi vì cuối cùng là vì dân, vì dân là vì lợi ích của nhân dân, cái gì có lợi cho nhân dân thì làm”.

Nghị quyết Đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ XI xác định: Không ngừng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Việc nhanh chóng tổ chức bầu cử Quốc hội khóa XIII và hoàn thiện bộ máy nhà nước vừa qua đã thể hiện quyết tâm ấy của toàn Đảng toàn dân ta.

Đất nước đang kỳ vọng ở đường lối đổi mới của Đảng, vào quyết tâm của Chính phủ nói không với nạn quan liêu tham nhũng, quyết tâm xây dựng bộ máy công quyền hết lòng phục vụ dân, để nhà nước ta thực sự là nhà nước pháp quyền, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ./.

Huyền Trang (st)
Theo Vân Thiêng/vov.vn

bqllang.gov.vn

Học tập phương pháp giáo dục lý luận chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(ĐCSVN) – Lý luận giáo dục học cho chúng ta thấy rằng, nội dung giáo dục quyết định phương pháp giáo dục. Để chuyển tải tốt nội dung đòi hỏi nhà giáo dục phải biết kết hợp có hiệu quả nhiều phương pháp giáo dục phù hợp.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Tư tưởng về giáo dục lý luận chính trị của Hồ Chí Minh không bó hẹp trong việc giáo dục tri thức cho người học, mà còn có tính bao quát, sâu xa nhưng vô cùng sinh động, thiết thực nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ toàn diện, vừa hồng vừa chuyên, có chuyên môn, lý tưởng cách mạng, đạo đức cách mạng, sức khỏe, thẩm mỹ…

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân. Người yêu cầu: Tất cả các đảng viên phải cố gắng học tập, coi việc học tập lý luận và chính trị là một nhiệm vụ quan trọng của mình.

Để giáo dục lý luận chính trị đạt kết quả tốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một số phương pháp cơ bản, chủ yếu trong giáo dục lý luận chính trị.

Thứ nhất, Người xác định: Dạy và học lý luận chính trị“phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”, “phải biết tự động học tập”, phải“lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo mà giúp vào”. Hồ Chí Minh đề cao vấn đề tự học trong công tác giáo dục lý luận chính trị. Người nói: “Bác thường nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã cho mình là già, cho nên ít chịu học tập. Nghĩ như vậy là không đúng, 40 tuổi chưa phải là già. Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời” [Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 12, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.92]. Phải dành nhiều thời gian cho khâu tự học của học viên, bao gồm tự nghiên cứu làm đề cương, thảo luận, tranh luận, sinh hoạt tập thể theo nhóm, tổ hay cả lớp với những chủ đề thích hợp theo sự hướng dẫn của giảng viên.

Hai là, trong giáo dục và học lý luận chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn lưu ý phải thực hành phương pháp “nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ ”. Hồ Chí Minh dạy: “Phải khiêm tốn, thật thà. …, cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết. Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập” [Sđd, T.8, tr.499]. Đối với phương pháp này, Người không chỉ yêu cầu đối với người học mà còn đòi hỏi đối với người dạy phải độc lập suy nghĩ, đào sâu hiểu kỹ, suy nghĩ chín chắn mới có thể hiểu sâu lý luận, nâng cao tư tưởng, giữ vững lập trường. Hồ Chí Minh yêu cầu trong giảng dạy cần xác định nội dung cốt lõi trong toàn hệ thống. Chỉ có trên cơ sở bao quát toàn bộ thì mới xác định được vấn đề cốt lõi, nội dung chính, trọng tâm cần nắm vững và vận dụng; có như vậy mới khắc phục được tình trạng phiến diện, nhìn cây mà không thấy rừng hoặctình trạng chung chung, đại khái, chỉ biết rừng mà không biết các loại cây cụ thể. Đồng thời, trong huấn luyện phải chú ý vào rèn luyện phương pháp, kỹ năng, tạo cho người học nắm được bản chất của các quan điểm lý luận, có thể độc lập, tự chủ xử trí đúng công việc trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Ba là, công tác đào tạo lý luận chính trị phải thiết thực, cụ thể, phù hợp với đối tượng, với thực tiễn. Hồ Chí Minh cho rằng, công tác giảng dạy phải xuất phát từ tình hình cụ thể, phù hợp với từng đối tượng cán bộ… Nhằm “cốt yếu là phải làm cho người học hiểu thấu vấn đề. Nhưng hiểu thấu cũng có nhiều cách: có cách hiểu thấu thật tỉ mỉ, nhưng dạy theo cách đó thì phải tốn nhiều thì giờ. Trái lại cũng có cách dạy bao quát mà vẫn làm cho người học hiểu thấu được” [Sđd, T.6, tr.47]. Giảng viên cần hiểu rõ và nắm chắc nhu cầu nhận thức của người học và mối liên hệ giữa nội dung học tập với chức trách, nhiệm vụ của người học và thực tiễn địa phương, đơn vị công tác của họ.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy. Điều kiện có ý nghĩa quyết định hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị là đội ngũ và chất lượng giảng viên. Đội ngũ này phải đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, phải được lựa chọn cẩn thận, đòi hỏi phải được đào tạo cơ bản, có hệ thống, được bồi dưỡng thường xuyên, được tổ chức và quản lý chặt chẽ; phải đảm bảo về phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn. Người giảng viên lý luận chính trị phải là những người trung thành với đường lối chính trị của Đảng, tận tụy phục vụ lợi ích của nhân dân, có khả năng tổ chức và vận động thuyết phục quần chúng, có trình độ sư phạm.

Năm là, tổ chức quản lý học viên trong quá trình đào tạo. Muốn huấn luyện lý luận chính trị trước hết phải có tổ chức, có lãnh đạo sâu sát, tỉ mỉ và chu đáo. Tổ chức huấn luyện phải bám sát cả yêu cầu số lượng và chất lượng; đồng thời, Hồ Chí Minh quan tâm đến cách thức tổ chức lớp. “Đông quá thì dạy và học ít kết quả vì trình độ lý luận của người học chênh lệch, nên thu nhận không đều. Trình độ công tác thực tế của người học cũng khác nhau, nên chương trình không sát” [Sđd, tr.52].

Người phê phán việc mở lớp lung tung, chồng chéo lẫn nhau, tốn sức, tốn của của Đảng, Nhà nước và nhân dân, rời rạc không đâu vào đâu. Người cho rằng: “Vì mở nhiều lớp nên thiếu người giảng. Thiếu người giảng thì học viên đâm chán nản. Thiếu người giảng thì phải đi “bắt phu”, vì thế người đến giảng khi nào cũng hấp tấp, lướt qua lớp này một chút, lớp khác một chút như “chuồn chuồn đạp nước”, dạy không được chu đáo. Thiếu người giảng thì thường khi lại phải “bịt lỗ”, người “bịt lỗ” năng lực kém, nói sai, có hại cho học sinh, nghĩa là có hại cho Đoàn thể. Rốt cuộc chỉ tốn gạo mà học thì học táp nhoang” [Sđd, tr.52]. Các lớp huấn luyện phải được tổ chức thường xuyên; chương trình, giáo trình phải có tính hệ thống theo từng mức độ từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.

Sáu là, phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập của đội ngũ giảng viên và học viên của trường. Ngoài nguồn lực con người như là nhân tố quyết định, hiệu quả giáo dục lý luận chính trị còn phụ thuộc vào phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ cho việc dạy và học; là các loại tài liệu, giáo khoa, giáo trình, lớp học, bàn ghế, đồ dùng dạy học v.v… Đặc biệt, về tài liệu, Hồ Chí Minh cho rằng: “Trước hết phải lấy những tài liệu về chủ nghĩa Mác-Lênin làm gốc. Nhưng tài liệu phải lựa chọn, xếp đặt lại, vì trình độ người học không đều nhau, cần có tài liệu thích hợp với từng hạng. Tài liệu không thích hợp thì học không có ích lợi gì” [Sđd, T.6, tr.49]; các nhà kinh điển mácxít đã để lại một kho tàng kinh điển đồ sộ thông qua những bài nói, bài viết và những tác phẩm phản ánh những vấn đề – những nguyên lý cơ bản trên mặt trận lý luận, tư tưởng nhưng không phải là một bộ sách giáo khoa hay một bài giảng có sẵn. Vì vậy, sử dụng như thế nào cho có hiệu quả, cần phải có sự nghiên cứu, chọn lọc; nhưng không thể có chung một loại tài liệu cho mọi đối tượng.

Bác Hồ là người đã vận dụng tốt vấn đề này, tiêu biểu là việc Người biên soạn tác phẩm Đường Cách mệnh trong những năm 1925-1927 để huấn luyện các lớp đào tạo cán bộ đầu tiên của Đảng; một quyển sách vừa ngắn gọn, vừa dễ hiểu, vừa có sức thuyết phục phù hợp cách mạng Việt Nam. Bên cạnh đó, ngoài những tài liệu về chủ nghĩa Mác-Lênin, Bác còn đề cập đến một loại tài liệu khác, đó là: “Những chỉ thị, nghị quyết, luật, lệnh của Đoàn thể và Chính phủ” [Sđd, tr.50].

Trong công tác giáo dục lý luận chính trị, cán bộ không nên viết dài, nói dài, trừu tượng, mà phải nói và viết cho ngắn gọn, cô đọng, dễ hiểu, súc tích và sinh động thì người học mới tiếp thu được. Người dặn: “Viết dài mà rỗng, thì không tốt. Viết ngắn mà rỗng, cũng không hay. Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tếch. Nhưng trước hết phải chống thói đã rỗng lại dài” [Sđd, T.5, tr.300].

Để nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn nhiều vấn đề cần phải bàn và cần phải làm rất nhiều công việc mới có thể biến phương pháp của Người thành hiện thực. Thiết nghĩ, cần phải nghiên cứu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục lý luận chính trị, tập trung đẩy mạnh đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng trong Đảng, trước hết cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt các cấp; đổi mới nội dung, phương pháp học tập và giảng dạytrong hệ thống Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị, trong hệ thống giáo dục quốc dân; không ngừng nâng cao tính thiết thực và hiệu quả của chương trình học tập các môn lý luận chính trị. Có như vậy mới xây dựng được đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, có phẩm chất, đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ; kiên định lập trường giai cấp công nhân, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng; năng động, sáng tạo, vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách;đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao, tận tụy, sáng tạo./.

Theo http://www.cpv.org.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn