Tag Archive | Dân tộc

Nửa thế kỷ giữ ảnh Bác Hồ

Bà Nguyễn Thị Chuyên với bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh mua từ cuối năm 1954 Ảnh: Nguyên Nhung

TTCT – Trong ngôi nhà gỗ cổ ba gian ở thôn Hạ Lũng (quận Hải An, Hải Phòng) của cụ bà Nguyễn Thị Chuyên có một tấm ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh treo trang trọng. Bức ảnh đen trắng treo áp vào hàng rui, mè bằng gỗ lim nâu bóng. Trong ảnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh trông không giống như những bức chân dung thường thấy, vẫn đôi mắt sáng, vầng trán tinh anh nhưng trông Người trẻ và gầy hơn, phía dưới ảnh ghi: “Hồ – Chí – Minh. Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Đó là bức ảnh mà bà Chuyên mua về từ cuối năm 1954, khi Hải Phòng còn chưa hoàn toàn giải phóng và gìn giữ đến bây giờ.

Hơn nửa thế kỷ trước, đó là những ngày Hải Phòng còn ngột ngạt trong sự kìm kẹp của giặc Pháp trong 300 ngày giải giáp vũ khí sau khi Hiệp định Geneve về đình chiến ở Đông Dương được ký kết. Theo hiệp định, Hải Phòng và Kiến An là khu vực quân Pháp tập kết 300 ngày để rút khỏi miền Bắc. Đây cũng là nơi cuối cùng của miền Bắc được giải phóng.
Hạ Lũng là một làng trồng rau màu và hoa ở ngoại ô. Sớm sớm, người làng mang rau củ, hoa trái vào bán trong phố. Đôi mắt giăng mây, cụ Chuyên chậm rãi kể: “Hôm đó bán hết gánh hàng hoa, tôi quảy quang gánh đi vào cửa hàng tạp hóa gần chợ Sắt để mua kim chỉ, nhòm vào gian trong thấy treo bốn bức ảnh đã đóng sẵn trong khung kính. Ảnh chụp một ông cụ, mắt sáng, mũi thẳng, miệng rộng, tai to, nét nào ra nét ấy, đẹp quá.

Thấy tôi cứ ngẩn ra nhìn, người bán hàng bảo đấy là ông Chủ tịch nước. Hồi ấy đã nghe nói nhiều về ông Hồ rồi, dân tình đồn đại là ông đang kéo quân về đây đuổi giặc Pháp đi, nước mình sẽ tự làm chủ, thế là tôi mừng quá lấy hết tiền bán hoa ra đòi mua bức ảnh to nhất. Hồi ấy vẫn tiêu bằng tiền “gánh dưa”, tức đồng tiền Đông Dương có in hình người gánh dưa, lâu ngày quá không nhớ là bao nhiêu nhưng cũng gần hết số tiền tôi bán gánh hoa hôm ấy. Người bán hàng giúp tôi bọc kỹ bức ảnh, khuyên nên lấy cái nón đậy lên trên kẻo bị chú ý.
Bấy giờ, lính Tây, mật thám và người của các đảng phái phản động nhan nhản, tôi cũng lo lắm, sợ nhỡ nó phát hiện ảnh Cụ Hồ mà tịch thu mất. May sao, đận ấy chúng đang dồn dịch người ra mấy cái tàu “há mồm” cuối cùng đỗ ngoài cửa biển để vào Nam, tôi đi thoát về nhà. Ông nhà tôi bảo: “Sắp qua 300 ngày, Pháp chuẩn bị rút hết rồi, để tôi treo lên mái nhà, chỗ cái tràng kỷ tiếp khách này cho mọi người biết Cụ Hồ”.

“Đó là bức ảnh Bác Hồ duy nhất ở làng lúc ấy nên người ta đến xem đông lắm – bà Chuyên nhớ lại – Ai cũng trầm trồ thán phục vì danh tiếng ông cụ lúc ấy đã vang trong dân từ lâu. Hôm 19-5-1955, cả nhà tôi lên phố dự mittinh ở quảng trường Nhà hát lớn để mừng thành phố quê hương giải phóng. Người ta bảo “Hôm nay là sinh nhật Cụ Hồ”. Cái hôm cụ về Hải Phòng lần thứ hai vào mùng 2-6-1955, tôi đang bán hoa ở bờ sông Lấp, nom rõ ôtô chở cụ chạy chầm chậm qua. Ông cụ giống y trong bức ảnh treo ở nhà tôi. Dân mình đổ ra đón đông lắm, hàng vạn người tập trung hai bên đường vỗ tay, reo hò”.

Dưới mái ngói cổ kính của ngôi nhà gỗ có tuổi đời hơn một thế kỷ đã diễn ra bao biến cố nhưng bức ảnh luôn được gìn giữ cẩn thận, treo trang trọng trên cao giữa gian phòng khách. Năm 1968, cơn bão số 7 cấp 12 quét qua làng, nhà bay hết ngói, may sao tấm ảnh với cái khung bằng gỗ thông dầu vẫn nguyên vẹn. Rồi năm 2009, khi ngôi nhà đã xuống cấp phải dỡ ra làm lại, bà Chuyên sai con cháu bọc cất bức ảnh cẩn thận để khi nhà làm xong lại đem tấm ảnh treo đúng chỗ cũ.
Sau hơn nửa thế kỷ, bức ảnh hầu như không thay đổi, vẫn khung gỗ thông lên nước đen bóng, mặt kính vẫn trong veo như ngày mới mua về khiến chân dung Cụ Hồ hiện sáng rõ từng đường nét. Hỏi vì sao giữ bức ảnh Cụ Hồ được lâu đến thế, bà Chuyên chỉ trả lời giản dị: “Cụ Hồ vì dân vì nước, ai nhìn ảnh cũng thấy đẹp thì tại sao lại không treo, không giữ”. Rồi bà nhắc con cháu cẩn thận khi bắc thang lấy ảnh xuống cho chúng tôi chụp lại…

Theo bà Chu Ngọc Lan – Trưởng phòng Kiểm kê – Bảo quản, Bảo tàng Hồ Chí Minh, đây là bức ảnh được nhà nhiếp ảnh Vũ Năng An chụp năm 1950. Tuy nhiên, Bảo tàng không có thông tin về việc ảnh được in ấn ở đâu, phát hành như thế nào…

NGUYÊN NHUNG
Theo tuoitre.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Lời kêu gọi mang hồn Tổ quốc

Cầu truyền hình kỷ niệm 65 năm Ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946/19-12-2011)

QĐND Online – Những tia nắng ấm áp của phương Nam dường như hòa vào tiết trời mùa đông lạnh giá đất Bắc khiến không khí của chương trình cầu truyền hình kỷ niệm 65 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946/19-12-2011) với chủ đề “Tiếng gọi của non sông” trở nên ấp áp, thiêng liêng. Chương trình do Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh phối hợp với Quân khu 7, Báo Quân đội nhân dân, Đài Phát thanh-truyền hình Hà Nội tổ chức vào 20 giờ ngày 19-12, tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (Hà Nội), Bảo tàng lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ (TP Hồ Chí Minh).

Trung tướng Nguyễn Tuấn Dũng- Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thiếu tướng Lê Phúc Nguyên – Tổng Biên tập Báo Quân đội nhân dân và các đại biểu tham dự chương trình. Ảnh: Trọng Hải

Đến dự tại hai điểm cầu có: đồng chí Nguyễn Thị Thu Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; Trung tướng Nguyễn Tuấn Dũng- Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Trung tướng Phùng Khắc Đăng, Phó chủ tịch Hội CCB Việt Nam; Thiếu tướng Lê Phúc Nguyên – Tổng Biên tập Báo Quân đội nhân dân; Trung tướng Phạm Văn Dỹ- Chính uỷ Quân khu 7 và đông đảo các đại biểu, cựu chiến binh, khán giả ở hai điểm cầu và kiều bào ở nước ngoài theo dõi qua màn ảnh truyền hình.

65 năm trước, vào ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Tiếng gọi vang dậy non sông ấy đã khơi gợi mạnh mẽ truyền thống anh hùng, bất khuất, làm cho cả dân tộc ta đứng lên để bảo vệ thành quả độc lập với ý chí: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Một quyết định lịch sử đã tạo nên một trong những trang sử hào hùng trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Bài hát “Tổ quốc tôi chưa đẹp thế bao giờ”, do NSND Quang Thọ và dàn hợp xướng trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật quân đội biểu diễn. Ảnh: Trọng Hải

Cầu truyền hình “Tiếng gọi của non sông” là một trong những hoạt động có ý nghĩa, tích cực góp phần vào việc tuyên truyền, động viên nhân dân, cán bộ thi đua phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ 11 của Đảng Cộng sản Việt Nam, học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng thời đây cũng là dịp để các thế hệ Việt Nam hôm nay cùng ôn lại truyền thống yêu nước của nhân dân ta.

Mở đầu chương trình, những lời ca của bài hát “Tổ quốc tôi chưa đẹp thế bao giờ”, do NSND Quang Thọ và dàn hợp xướng trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật quân đội biểu diễn thể hiện không khí hào hùng của một thời chiến đấu kiên cường của quân và dân ta.

Tại điểm cầu Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam, khu vực sân khấu cột cờ Hà Nội như một “đài lửa” thiêng liêng để thế hệ ngày nay tưởng nhớ công lao hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ đã quên mình bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc.

Đại tá Nguyễn Trọng Hàm – Trưởng ban liên lạc truyền thống chiến sĩ quyết tử Liên khu I Anh hùng Hà Nội – Trung đoàn thủ đô trong buổi giao lưu. Ảnh: Trọng Hải

Những thước phim tư liệu quý giá về một thời chiến đấu anh hùng của dân tộc được phát trong chương trình hoà trong từng lời ca, điệu nhạc vang lên tại hai điểm cầu đã để lại ấn tượng sâu sắc với đông đảo khán giả.

Để có được một Tổ quốc Việt Nam thống nhất, tươi đẹp hôm nay, chúng ta không thể quên công ơn của Đảng, Bác Hồ kính yêu và bao máu xương của những anh hùng liệt sĩ, những người con ưu tú của dân tộc đã chiến đấu và hy sinh trong những năm tháng kháng chiến trường kỳ, gian khổ. Ca khúc “Ngày mùa”, sáng tác: Văn Cao, do tốp nữ trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội trình diễn thể hiện bản lĩnh kiên cường của người dân đất Việt trong gian khó vẫn vững lòng tin chiến thắng dựng xây Tổ quốc.

Lịch sử Việt Nam là lịch sử của đấu tranh chính nghĩa: dựng nước và giữ nước. Dân tộc Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình nhưng sẵn sàng đứng lên, xả thân để bảo vệ những giá trị của độc lập, tự do.

Các đại biểu tham gia chương trình. Ảnh: Trọng Hải

Ngày 29-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ. Người  xác định: “Tâm trí tôi luôn luôn bên cạnh mấy triệu đồng bào quyết chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ cho nền độc lập Việt Nam”.

Ngày 22-2-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại ra Lời hiệu triệu động viên quân và dân miền Nam giữ vững và đẩy mạnh kháng chiến. Người chỉ rõ: “Kháng chiến của ta là phải toàn diện, lâu dài, triệt để vận dụng cách đánh du kích, đánh khắp nơi, “còn một tấc đất, còn một người dân thì còn chiến đấu”. Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ, Người đã tặng quân và dân Nam Bộ danh hiệu “Thành đồng tổ quốc”.

Trong đêm đông lạnh giá của ngày 18-12-1946, bên chiếc bàn nhỏ của căn phòng gác 2 tại làng Vạn Phúc (Hà Nội), những dòng chữ đầu tiên của Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến đã được Hồ Chí Minh chấp bút, khởi đầu cho cuộc kháng chiến toàn dân lịch sử.

Trong Lời kêu gọi, Bác nhấn mạnh: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt thì phải đứng lên chống thực dân Pháp. Ai có súng cầm súng, ai có gươm cầm gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến, ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”…

Tiết mục biểu diễn thể hiện tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Ảnh: Trọng Hải

Tại buổi gặp mặt các cựu chiến binh tham gia chương trình, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh, các cựu chiến binh tiếp tục phát huy truyền thống của anh bộ đội Cụ Hồ và lời Bác đã căn dặn “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Đại diện cho các chiến sĩ tự vệ quyết tử Liên khu 1 năm xưa, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm – Trưởng ban liên lạc truyền thống chiến sĩ quyết tử Liên khu I anh hùng Hà Nội – Trung đoàn thủ đô bày tỏ: “Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, gần 20 em thiếu niên đã trốn gia đình không đi tản cư mà tham gia chiến đấu bảo vệ Hà Nội. Chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ 60 ngày đêm bầu trời Thủ đô. Hôm nay, vì điều kiện nên nhiều đồng chí không có mặt trong chương trình nhưng trong lòng các cựu chiến binh năm xưa luôn hướng về Hà Nội. Tôi mong muốn thế hệ trẻ ngày nay “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, xây dựng Việt Nam ngày càng giàu mạnh.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chi Minh là lời “Hịch cứu nước”, là “Tiếng gọi của non sông”, đã tác động mạnh mẽ đến trái tim và khối óc của mọi người Việt Nam yêu nước, khơi dây mạnh mẽ truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc.

Những lời kêu gọi của Người qua mỗi giai đoạn kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn là lời hiệu triệu toàn quân và toàn dân ta vượt qua mọi gian khổ, hy sinh để đi đến thắng lợi sau cùng. “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập,tự do!”.

Chương trình “Tiếng gọi của non sông” khép lại với những màn hát múa ca ngợi Tổ quốc, Đảng, Bác Hồ, thể hiện chí khí, tinh thần chiến đấu bất khuất của các thế hệ cha ông và góp phần thổi luồng sinh khí cho thế hệ ngày nay vững bước trên con đường xây dựng đất nước.

Khánh Huyền

qdnd.vn

Ba lần được gặp Bác Hồ

“Ba lần được gặp Bác là những kỷ niệm quý giá tôi không bao giờ quên. Những lời dạy của Bác đã thấm sâu vào trái tim, khối óc, giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ suốt chặng đường công tác và cả khi đã về hưu”, ông Trung xúc động nói.

>> Tình yêu thương làm thay đổi đời người

Năm nào cũng vậy, cứ đến dịp kỷ niệm ngày sinh Bác Hồ, ông Kiều Chí Trung lại dẫn cháu nội đến thăm bia kỷ niệm ngày Bác về thăm đập sông Đáy (Đan Phượng, Hà Nội). Ông tâm sự: “Nhờ Người mà tôi đã học được rất nhiều điều trong công tác cũng như đời sống. Tôi muốn con cháu mình được biết những câu chuyện sinh động về Người”.

Năm nay đã ngoài 80 tuổi, sức khỏe đã suy giảm nhiều nhưng kỷ niệm về những lần được gặp Bác vẫn còn nguyên vẹn trong ông Trung.

Ông Kiều Chí Trung quê gốc ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Năm 19 tuổi, ông tham gia cách mạng, hăng hái hoàn thành nhiều công tác về thanh niên, quân sự và được bổ nhiệm làm phó chủ tịch xã Cát Tài. Năm 1953 – 1954, nghe theo lời kêu gọi của Bác Hồ, ông lên đường nhập ngũ, chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên, góp phần “chia lửa với Điện Biên”. Năm 1955, ông được chọn ra Bắc tập kết.

Ông Trung dẫn cháu thăm bia tưởng niệm Bác Hồ về thăm đập sông Đáy (Đan Phượng, Hà Nội).

Tháng 6/1955, lần đầu tiên ông Trung được gặp Bác Hồ khi Bác đến thăm và nói chuyện với cán bộ miền Nam tập kết, học tập ở đoàn 301. “Người ân cần hỏi han về cuộc sống của chúng tôi, hỏi chúng tôi có gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt hay không, có nhớ nhà nhiều không…  rồi dặn dò chúng tôi cố gắng học tập tốt để giúp ích cho nước nhà. Cách nói chuyện thân tình và cởi mở của lãnh tụ làm chúng tôi xúc động vô cùng”.

Lần thứ hai ông Trung được gặp Bác khi đang làm thủy lợi tại Phủ Lý (Hà Nam). Bác về nói chuyện với nhân dân, lãnh đạo địa phương. Vừa nghe tin, ai ai cũng hồi hộp và háo hức. Dù đã được gặp Bác một lần nhưng ông Trung cũng không khỏi bồi hồi xúc động. Những câu chuyện sinh động về cách nghĩ, cách làm của Bác đã để lại cho ông những bài học sâu sắc trong việc làm thủy lợi.

Năm 1957, ông Trung được điều về làm trưởng ban quản lý công trình phân lũ đập sông Đáy, công trình bảo vệ Thủ đô. Đây là nơi ông được gặp Bác Hồ lần thứ ba và cũng là lần gặp để lại những ấn tượng sâu sắc nhất. “Sáng 17/7/1962, một tin vui lớn từ Thủ đô báo về, Bác Hồ sẽ đến thăm công trường tu bổ đập sông Đáy. Mọi người sung sướng đến bàng hoàng, tôi nghĩ đến Bác, bận trăm công nghìn việc mà vẫn thấu hiểu những khó khăn trước mùa lũ bão của chúng tôi”, ông Trung nói.

Bác Hồ về thăm đập Đáy năm 1962. (Ảnh tư liệu)

Ông Trung kể lại, Bác và các đồng chí lãnh đạo cùng đi lần lượt kiểm tra công trường đập sông Đáy rồi chỉ tay, bảo mọi người vào điếm canh đê làm việc tiếp. Bác nghe đại diện Bộ thủy lợi, UBND thành phố Hà Nội, tỉnh Hà Đông, Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội) báo cáo phương án phòng chống lụt bão và tiến độ thi công tu bổ đập sông Đáy. Bác yêu cầu tỉnh Sơn Tây cấp đủ đá, Hà Đông phải huy động nhân lực, Hà Nội đảm đương phần kỹ thuật.

Bác bảo: “Lụt nó không chờ các chú đâu, vì vậy các chú định làm mấy ngày nữa thì xong?”. Ông Trưởng ty Thủy lợi Hà Nội (Sở Thủy lợi Hà Nội) đáp: “Báo cáo Bác, bảy ngày xong ạ”. Bác cười nói: “Bác cho cả tám ngày. Nếu tám ngày không xong thì xấu hổ đấy”. Mọi người hứa làm thật tốt nhiệm vụ được giao. Bác vui vẻ hỏi: “Bây giờ ai phụ trách?”. Một đồng chí thưa: “Báo cáo Bác, đồng chi Kiều Chí Trung, trưởng ban công trình ạ!”. Bác nhìn ông Trung bằng cái nhìn tin tưởng. Ông Trung xúc động và hứa: ‘Cháu sẽ cố gắng làm đúng như lời Bác!”. Tan cuộc họp, Bác ra về thì dân công trên công trường và nhân dân vùng lân cận được tin đã kéo đến đông nghịt. Tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm” vang dậy cho tới khi Bác rời khỏi công trường.

Làm theo lời Bác, suốt 6 ngày đêm, ông Trung cùng anh em cả hai công trường tu bổ đập Đáy và đập Tràn, hoàn thành trước thời hạn hai ngày. Ông Trung lại vinh dự được giao thảo báo cáo gửi lên để Bác vui lòng.Năm 1987, ông Trung được nghỉ hưu. Tuy nhiên, nhớ lời dạy của Bác Hồ, ông  tiếp tục các công tác xã hội ở xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng như tham gia Hội đồng nhân dân xã, Mặt trận Tổ quốc và các hội đoạn khác.

Minh Nhương

baodatviet.vn

Có chí quyết làm được việc (*)

Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải ra làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó.

Chúng ta phải nhận rằng thanh niên ta rất hǎng hái. Nhưng chúng ta cũng phải nhận rằng phong trào thanh niên ta còn chật hẹp, mặc dầu từ Cách mạng Tháng Tám đến nay, thanh niên có cơ hội để phát triển một cách mau chóng và rộng rãi hơn.

Vậy nên nhiệm vụ của các bạn là phải tìm đủ mọi cách để gây một phong trào thanh niên to lớn và mạnh mẽ.

Theo ý tôi muốn đạt mục đích đó, thì mỗi thanh niên, nhất là một cán bộ phải kiên quyết làm bằng được những điều sau này:

a) Các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước (tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc).

b) Các việc đáng làm, thì có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được.

c) Ham làm những việc ích quốc lợi dân. Không ham địa vị và công danh phú quý.

d) Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc.

e) Quyết tâm làm gương về mặt: siêng nǎng, tiết kiệm, trong sạch.

f) Chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc. Nói ít làm nhiều, thân ái đoàn kết.

Như thế thì ai cũng phải yêu mến kính phục thanh niên và phong trào thanh niên nhất định sẽ ǎn sâu lan rộng.

Hiện nay thanh niên không thiếu gì nơi hoạt động, không thiếu gì công việc làm: nào ở bộ đội, dân quân du kích, nào mở mang bình dân học vụ, nào tǎng gia sản xuất, v.v..

Có chí làm thì quyết tìm ra việc và quyết làm được việc.

Tôi lại khuyên các bạn một điều nữa là chớ đặt những chương trình, kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được.

Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần dần đến khó, từ thấp dần dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hành được hẳn hoi, hơn là một trǎm chương trình to tát mà làm không được.

Đó là những kinh nghiệm của một người bạn có lịch duyệt thật thà đem bày tỏ với các bạn. Mong các bạn gắng sức và thành công.

HỒ CHÍ MINH
Trích thư gửi các bạn thanh niên 17-8-1947
Học tập đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh, NXB Thông tấn 2004

tuoitre.vn

Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin

Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý Luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.

……………………………………….

Ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tôi làm thuê ở Pa-ri, khi làm cho một cửa hàng phóng đại ảnh, khi thì vẽ “đồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa” (do một xưởng của người Pháp làm ra!). Hồi đó, tôi thường rải truyền đơn tố cáo tội ác bọn thực dân Pháp ở Việt Nam.

Lúc bấy giờ, tôi ủng hộ Cách mạng tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên. Tôi chưa hiểu hết tầm quan trọng lịch sử của nó. Tôi kính yêu Lênin vì Lênin là một người yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình; trước đó, tôi chưa hề đọc một quyển sách nào của Lênin viết.

Tôi tham gia Đảng Xã hội Pháp chẳng qua là vì các “ông bà” ấy – hồi đó tôi gọi các đồng chí của tôi như thế – đã tỏ ra đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Còn như đảng là gì, công đoàn là gì, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là gì, thì tôi chưa hiểu.

Hồi ấy, trong các chi bộ của Đảng Xã hội, người ta bàn cãi sôi nổi về vấn đề có nên ở lại trong Quốc tế thứ hai, hay là nên tổ chức một Quốc tế thứ hai rưỡi, hoặc tham gia Quốc tế thứ ba của Lênin? Tôi dự rất đều các cuộc họp một tuần hai hoặc ba lần. Tôi chăm chú nghe những người phát biểu ý kiến. Lúc đầu, tôi không hiểu được hết. Tại sao người ta bàn cãi hăng như vậy? Với Quốc tế thứ hai, hoặc thứ hai rưỡi, hay là thứ ba, thì người ta cũng đều làm được cách mạng cả, sao lại phải cãi nhau? Và còn Quốc tế thứ nhất nữa, người ta đã làm gì với nó rồi?

Điều mà tôi muốn biết hơn cả – và cũng chính là điều mà người ta không thảo luận trong cuộc họp là: Vậy thì cái quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa?

Trong một cuộc họp, tôi đã nêu câu hỏi ấy lên, câu hỏi quan trọng nhất đối với tôi. Có mấy đồng chí đã trả lời: Đó là quốc tế thứ ba, chứ không phải Quốc tế thứ hai. Và một đồng chí đã đưa cho tôi đọc Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo.

Trong luận cương ấy, có những chữ chính trị khó hiểu. Nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”

Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc thế thứ ba.

Trước kia, trong các cuộc họp chi bộ, tôi chỉ ngồi nghe người ta nói; tôi cảm thấy người nào cũng có lý cả, tôi không phân biệt được ai đúng ai sai. Nhưng từ đó tôi cũng xông vào những cuộc tranh luận. Tôi tham gia thảo luận sôi nổi. Mặc dù chưa biết đủ tiếng Pháp để nói hết ý nghĩ của mình, tôi vẫn đập mạnh những lời lẽ chống lại Lênin, chống lại Quốc tế thứ ba. Lý lẽ duy nhất của tôi là: Nếu đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu đồng chí không bênh vực cho các dân tộc thuộc địa thì đồng chí làm cái cách mạng gì?

Không chỉ tham gia các cuộc họp của chi bộ mà thôi, tôi còn đến những chi bộ khác để bênh vực lập trường “của tôi”. Ở đây, tôi cần nhắc thêm rằng các đồng chí Mác-xen Ca-sanh, Vay-ăng Cu-tuya-ri-ê, Mông-mút-xô và nhiều đồng chí khác đã giúp tôi hiểu thêm. Cuối cùng ở Đại hội thành phố Tua, tôi cùng các đồng chí ấy biểu quyết tán thành tham gia Quốc tế thứ ba.

Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý Luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.

Ở nước ta và ở Trung Quốc cũng vậy, có câu chuyên đời xưa về cái “cẩm nang” đầy phép lạ thần tình. Khi người ta gặp những khó khăn lớn, người ta mở cẩm nang ra, thì thấy ngay các giải pháp. Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi với thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh toàn tập
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000

tuoitre.vn

Chuyện pho tượng đồng Bác Hồ đầu tiên ở Thanh Hoá

Một năm sau ngày Bác Hồ mất, bức tượng Bác bằng đồng đầu tiên do các nghệ nhân làng Chè Đông, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa đúc đã ra khuôn trong niềm vui của hàng nghìn người.

>> Tình yêu thương làm thay đổi đời người

Ông Lê Văn Du bên tượng đồng Bác Hồ đầu tiên đúc tại Thanh Hóa năm 1970.

Sau khi tạc chân dung Bác, các nghệ nhân bắt tay vào làm khuôn đúc. Khâu này đòi hỏi kỹ thuật khá cao, họ phải mất nhiều thời gian và công sức. Vì lòng tôn kính với lãnh tụ nên nghệ nhân nào cũng cố gắng làm cẩn thận và hoàn chỉnh từng chi tiết. Xong khuôn là đến khâu chuẩn bị đồng đúc. Để có đủ đồng nguyên liệu, xã Thiệu Trung phát động phong trào quyên góp đồng. Phong trào vừa được phát động, người dân đã ùn ùn tới ủng hộ. Người chiếc bát, cái nồi, người thì mang đến chiếc mâm… chẳng bao lâu, lượng đồng đúc tượng Bác đã đủ, thậm chí còn dư khá nhiều.

Ngày 6/6/1970, mới mờ sáng, nhân dân trong xã từ già đến trẻ và cả người ở các địa phương khác cũng tập trung tai sân hợp tác xã Thiệu Trung háo hức xem đúc tượng Bác Hồ. Không ai bảo ai, mọi người cùng tiến vào thắp hương cho ông tổ đúc đồng Khổng Minh Không, với mong muốn ngài phù hộ cho buổi đúc được suôn sẻ. Khoảng 8-9 h, tất cả thợ đúc vào vị trí. 24 lò nấu đồng được huy động cùng một lúc nổi lửa. Mỗi lò có hai người thổi bễ, một người bỏ đồng vào lò, mỗi bễ nấu khoảng 40 kg đồng. Hơn một tiếng đồng hồ, đồng nóng chảy, các nghệ nhân gạt xỉ nổi lên bề mặt. Sau đó, theo sự phân công của người thợ cả, đồng ở 24 lò được phối hợp liên hoàn, rót vào cho đến khi đầy khuôn đúc.

Trong khoảng 24 giờ, tượng Bác Hồ vẫn được để trong khuôn. Sáng hôm sau, khuôn mới được tháo dỡ, làm sạch đất. Tiếng hò reo của đám đông vang lên như ngày hội. Lúc này, các nghệ nhân phụ trách đúc tượng mới thở phào nhẹ nhỏm. Pho tượng tiếp tục được họ gọt giũa để hoàn thiện. Sau đó, xã Thiệu Trung tổ chức cho các đội viên Thiếu niên Tiền phong căng cờ, biểu ngữ, rước tượng Bác từ sân hợp tác xã lên để ở hội trường UBND huyện Thiệu Hóa, với mong muốn Bác tiếp tục đưa đường, chỉ lối cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước.

Theo ông Trương Trọng Huy, Chủ tịch UBND xã Thiệu Trung, đây là bức tượng đồng Bác Hồ đầu tiên được đúc ở Thanh Hóa sau ngày Bác mất. Mới đây, nhân kỷ niệm sinh nhật Bác, xã đã mượn lại pho tượng để nhờ các nghệ nhân làng Chè Đông làm một phiên bản, đặt ở hội trường UBND xã, và coi đây là tấm lòng thành kính đối với vị cha già của dân tộc Việt Nam.

Văn Thanh

baodatviet.vn

Kỳ 3 – Dân chủ quá mới mẻ

TT – Thoát kiếp nô lệ, người dân VN háo hức đón chào ánh bình minh độc lập. Ngày ấy, dân chủ đối với dân ta còn quá mới mẻ. Đại đa số còn mù chữ và chưa hình dung QH là gì, nhưng đã cầm ngay lá phiếu đi bầu những người đại diện cho thể chế dân chủ đầu tiên của nước VN độc lập.

Tuổi Trẻ ghi lại hồi ức của ông Nguyễn Thiện Ngữ (đại biểu Quốc hội khóa I).

>> Cuộc tổng tuyển cử của lòng dân
>> Quốc hội chất vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh

Những cử tri đầu tiên của người Việt

Không chỉ với trên 90% dân số còn mù chữ mà nhiều người trong giới trí thức cũng chưa biết QH là gì, tại sao phải có và người dân góp phần gì trong cơ quan này. Thế nhưng chính phủ phải làm cho toàn dân hiểu một cách cụ thể nhất, sớm nhất và đúng nhất.

Thời điểm này tôi là cán bộ Ủy ban hành chính lâm thời tỉnh Phú Thọ, đồng thời là ứng cử viên đại biểu QH. Tôi đã chứng kiến và tham gia sự kiện trọng đại này cùng bà con nhân dân Phú Thọ.

Từ nhiều tháng trước ngày bầu cử, tất cả cán bộ Việt Minh cấp cơ sở ngày đêm tuyên truyền, phổ biến tới nhân dân những kiến thức cơ bản nhất về QH nước VN dân chủ cộng hòa cùng quyền và nghĩa vụ của người dân VN.

Cán bộ phải ở bên dân khi làm đồng, xay gạo, lấy bèo, học chữ… cả đêm cũng như ngày chỉ để nói rằng: người có quyền trên đất nước chúng ta từ nay không phải là quan Tây, lính Nhật hay lý trưởng, chánh tổng, quan lại… mà là chính các cô bác anh chị.

Mọi người được cùng bàn chuyện đất nước bằng cách mỗi người sẽ bầu ra một số vị đại diện cho mình. Người đại diện đó sẽ tập trung trong một cơ quan gọi là QH để thực hiện ý muốn của dân.

Họ được gọi là đại biểu QH. Đại diện cho nhân dân tỉnh Phú Thọ chúng ta sẽ là năm người. Đây là danh sách những người được giới thiệu để nhân dân lựa chọn. Còn đây là thẻ cử tri…

Lúc này, quân của tướng Lư Hán (của Tưởng Giới Thạch) đã có mặt ở Phú Thọ. Chúng hợp tác với các đảng phái Quốc dân Đảng (Việt quốc), VN cách mạng đồng minh hội (Việt cách) trong nước ra sức chống phá tổng tuyển cử.

Ngày ngày chúng ôm súng canh gác các đường, chợ dọa nạt, gây khó dễ cho cử tri và người vận động. Đêm

4-1 chúng cho người xuống nhà dân thu thẻ cử tri và danh sách ứng cử viên rồi sai người tháo dỡ khẩu hiệu, apphich…

Chỉ còn khoảng 30 tiếng đồng hồ nữa là phòng bầu cử mở cửa… Ủy ban bầu cử quyết định cử cán bộ bằng mọi cách in ấn đầy đủ tài liệu, xuống từng nhà dân phân phát lần nữa. Trên các lề đường, quán chợ các cô gái công kênh nhau lên vai để treo dán apphich, khẩu hiệu.

Những tên lính Tàu hùng hổ chạy lại liền bị chị em bu lấy tranh cãi, giằng co. Trẻ em, người già bên ngoài hô hào, chế giễu, chê cười khiến chúng co cẳng lủi mất. Bà con đem đủ loại bàn ghế, phông, vải ra sân đình, trường học, cổng chợ… để trang trí nơi bỏ phiếu.

Hàng loạt hòm phiếu được khoan lỗ để bắt vít dính chặt xuống mặt bàn đề phòng kẻ gian cướp chạy. Tuy nhiên trước khi bỏ phiếu thì đinh vít được tháo ra để công khai kiểm tra hòm phiếu.

Nhiều người biết chữ bầu xong rồi còn ở lại đến tận trưa, chiều để đọc tên ứng viên, giới thiệu họ để cử tri lựa chọn. Có cụ già hơn 80 tuổi đi bộ từ sáng đến tối, vượt qua cả cánh rừng để đến điểm bầu. Khi đến nơi cụ xòe tay, tờ thẻ cử tri nhàu nát vì cụ giữ nó quá chặt… Tổng tuyển cử trên cả nước đã bầu ra được 333 đại biểu QH.

Những phiên họp độc đáo và thú vị

Phiên họp thứ hai của QH diễn ra tháng 11-1946 bàn về các vấn đề thông qua hiến pháp, quốc kỳ, quốc ca và kế hoạch kháng chiến cùng một số vấn đề cấp bách của dân sinh.

Tại hội trường Nhà hát lớn, chủ tịch đoàn ngồi phía trên, các đại biểu thuộc đảng Dân chủ ngồi bên phải với đồng phục càvạt nửa xanh nửa đỏ. Việt Minh, Hội Nghiên cứu chủ nghĩa mác-xít ngồi ở giữa.

Các đại biểu Việt quốc, Việt cách vì đến sau nên chỉ còn khoảng bên trái hội trường. Một đại biểu của họ đứng lên thắc mắc: Chúng tôi bị coi là cánh hữu hay sao mà phải ngồi đây?”.

Lập tức một đại biểu của Việt Minh ôn tồn nói: nếu sợ bị hiểu như vậy thì mời các anh đổi chỗ sang bên này! Hội trường bật cười…

Phiên họp đầu tiên của QH VN tổ chức ngày 2-3-1946 chứa đựng nhiều điều kỳ lạ, độc đáo, thú vị có một không hai, rất… VN và rất… 1946. Phiên họp chỉ diễn ra trong vài tiếng đồng hồ bàn về việc thành lập chính phủ.

Thật ra chính xác hơn là chỉ lấy biểu quyết để thông qua. Tất cả cùng giơ tay tán thành rồi bế mạc. Điều độc đáo và thú vị thứ hai là QH có 70 ông nghị (đại biểu QH) chẳng ai bầu, chẳng cần ứng cử nhưng vẫn nghiễm nhiên thành đại biểu. Cuộc họp này chỉ mang ý nghĩa công khai những điều đã được QH bàn thảo từ trước đó hàng tháng trời.

Linh hồn của phiên họp đầu tiên đã được quyết định trong cuộc họp tại Đình Bảng, Từ Sơn (Bắc Ninh). Cuộc họp ấy QH được “cắt” ra làm hai rồi đến khi họp chính thức lại hợp vào một.

Đó là khi phát xít đầu hàng đồng minh, quân Tưởng, Pháp, Mỹ, Anh… đều muốn có một chính phủ mới ở VN chịu sự ảnh hưởng của họ. Hai đảng phái của người Việt là Việt cách và Việt quốc cũng muốn nắm quyền và chịu ảnh hưởng nước ngoài.

Chính phủ ta tuy đã thành lập nhưng về mặt lý thuyết thì chưa được quốc tế công nhận. Muốn được công nhận thì chính phủ phải do QH bầu ra. QH phải do nhân dân thuộc các tầng lớp, tôn giáo, đảng phái chính trị… trong nước bầu ra.

Khi tổng tuyển cử thì các đảng phái khác biết chắc sẽ không thể chiếm ưu thế trong QH và quyền lực sẽ cơ bản do lực lượng Việt Minh nắm giữ nên chúng ra sức tẩy chay. Không một nhân vật nào của Việt quốc, Việt cách ứng cử.

Đến khi tổng tuyển cử đã xong, các đảng phái này cũng biết không thể lật được thế cờ nên họ chấp nhận thương lượng với Việt Minh để thành lập một chính phủ chính thức do QH bầu ra.

Việt Minh cũng muốn thực hiện đúng nhất tinh thần dân chủ của chính thể cộng hòa, nên tư tưởng của chúng ta là sẽ thành lập một chính phủ thể hiện tính hòa hợp dân tộc, đại đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân VN.

Mặt khác, VN lúc này cần ra mắt càng sớm càng tốt một chính phủ mới có tư cách đàng hoàng trước quốc tế để nắm quyền tự chủ quốc gia (do QH bầu ra) khiến không một quốc gia nào có thể kiếm cớ nhảy vào.

Vì vậy, tại Hà Nội, Bác Hồ và chính phủ lâm thời tiến hành đàm phán với các đảng phái khác. Tôi được biết cuộc đàm phán khá căng thẳng và cuối cùng Việt Minh đã đồng ý dành 70 ghế đại biểu QH cho Việt quốc, Việt cách.

Điều đó đồng nghĩa họ cũng sẽ có chân trong nội các chính phủ mới. Thế là đến khi phiên họp đầu tiên của QH khóa I diễn ra có thêm 70 đại biểu mà chưa từng được cử tri nào bầu. Và vì nội dung đã thông qua thương lượng nên việc thành lập chính phủ mới chỉ cần tuyên bố là xong. Phiên họp diễn ra có vài tiếng đồng hồ.

Công việc số 1 của QH là lập hiến. Hiến pháp đầu tiên của dân tộc ta đến nay vẫn được giới chuyên môn đánh giá rất cao đã thông qua trong phiên họp lần hai của QH khóa I. Tôi được biết thời điểm đó có hai bản dự thảo hiến pháp được gửi đến từng đại biểu.

Một bản do Bác Hồ và ủy ban soạn thảo (của Việt Minh) thực hiện. Một bản do Ủy ban kiến quốc (một tổ chức ngoài Việt Minh) thực hiện.

Bản hiến pháp do Hồ Chủ tịch soạn được đại biểu Đỗ Đức Dục, một thanh niên trí thức trong trung ương Đảng Dân chủ (một đảng đứng về phe Việt Minh) thuyết trình rất hùng hồn.

Do đáp ứng tính tiến bộ, trung chính, hợp lòng dân, hợp hoàn cảnh đất nước, dân tộc nên bản hiến pháp này đã được đại đa số đại biểu tán thành. Chỉ có hai đại biểu không tán thành. Một của các đảng đối lập và một của nhà tư sản dân tộc Nguyễn Sơn Hà, vì ông này muốn mở rộng tối đa quyền tự do kinh doanh.

Phần bàn về quốc kỳ là căng thẳng nhất. Phía Việt quốc, Việt cách muốn dùng cờ “thanh thiên bạch nhật” có ngôi sao trắng, viền xanh. Phía Việt Minh muốn dùng cờ đỏ sao vàng.

Có đại biểu nói: không thể thay đổi màu cờ đỏ vì nó đã thấm máu đồng bào ta vì độc lập, tự do bao thế hệ rồi. Phía kia chấp nhận màu đỏ nhưng đòi viền xanh. Phía Việt Minh vẫn không nghe. Cuối cùng thì cờ đỏ sao vàng đã là quốc kỳ thiêng liêng của dân tộc ta từ đó đến nay.

NGUYỄN THIỆN NGỮ (đại biểu Quốc hội khóa I)

Nguyên chủ tịch quốc hội Nguyễn Hữu Thọ: “Dân chủ không thể có bằng sự ban ơn…”

Năm 1988, trong khí thế đổi mới, tại Đại hội MTTQ VN TP.HCM, luật sư Nguyễn Hữu Thọ – chủ tịch MTTQ VN – đã phát biểu: “…Quốc hội (QH) là cơ quan quyền lực cao nhất nhưng cũng đấu tranh yếu ớt.

Những gì đạt được ở những phiên họp QH gần đây vẫn chưa phải là những điều cơ bản. Bãi miễn các chức vụ nhà nước là quyền của QH và Hội đồng nhân dân (HĐND), nhưng quyền ấy chưa bao giờ được sử dụng.

QH đã thế, HĐND còn yếu hơn. Chúng ta tốn tiền của, thì giờ để tổ chức bầu cử ra các cơ quan dân cử, để các cơ quan đó hội họp mỗi năm mấy lần, nhưng đã giải quyết được những gì phục vụ nhân dân?

Người ta chỉ thấy cơ quan thừa hành là ủy ban nhân dân là tổ chức chịu sự kiểm soát của HĐND, nhưng chủ tịch của UBND lại cũng là chủ tịch của HĐND. HĐND quyền lực như thế mà không có bộ máy đầy đủ, không có ngân sách, thậm chí còn không có cả trụ sở. Những điều khôi hài như thế vẫn chưa được đấu tranh để thay đổi.

Điều đau lòng là trong nhiều năm liền trôi qua, chúng ta vẫn còn duy trì những thứ hình thức, hữu danh vô thực đó. Khuyết điểm lớn của chúng ta là chưa có dân chủ thật sự. Nhiều nguyện vọng chính đáng của người dân chưa được đấu tranh thực hiện, người dân chưa thật sự chọn lựa được những người lãnh đạo theo sự tín nhiệm của họ.

Tất cả vấn đề là phải đấu tranh để thực hiện. Cuộc đấu tranh này không giống cuộc đấu tranh đối kháng với địch trước đây nhưng cũng phải diễn ra quyết liệt.

Nghị quyết Đại hội VI và những chủ trương đúng đắn của Đảng phải được đấu tranh để thể chế hóa thành luật. Khi đã có luật thì phải đấu tranh để luật được thi hành. Không có luật pháp thì không thể bảo đảm được quyền dân chủ.

Chức năng, nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, các cơ quan dân cử, các tổ chức quần chúng phải được phân định rõ ràng, không thể để tình trạng giẫm chân, bao biện làm thay tiếp tục xảy ra mãi được.

Tòa án phải có tính độc lập, không thể xử án theo những lệnh lạc đã được ra sẵn. Tôi cho rằng Mặt trận Tổ quốc cũng cần có một qui chế rõ ràng về mối quan hệ của mình với các cơ quan nhà nước.

Tôi nghĩ rằng dù cho đại hội này của Mặt trận Tổ quốc TP có thành công đến đâu, vấn đề vẫn tùy thuộc ở sự dũng cảm đấu tranh trong những ngày sắp tới. Dân chủ không thể có bằng sự ban ơn mà bằng sự đấu tranh”.

VÕ LINH HÀ ghi (TheoLuật sư Nguyễn Hữu Thọ gắn bó với dân tộc, với nhân dân, với cách mạng” – NXB Chính Trị Quốc Gia – 1996)

tuoitre.vn

Kỳ 2 – Quốc hội chất vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh

TT – Hai phiên họp đầu tiên của Quốc hội (QH) khóa đầu tiên đều nóng bỏng, căng thẳng. Phiên họp thứ nhất đứng trước nguy cơ bị tẩy chay, còn phiên họp thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh phải trả lời chất vấn trước QH.Trong những câu trả lời, chúng tôi đặc biệt chú ý những câu trả lời của Hồ Chủ tịch, lập trường thì rõ ràng, dứt khoát, hình thức thì đôi lúc dí dỏm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên thệ trước Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất ngày 2-3-1946 – Ảnh: Tư liệu TTXVN

>> Cuộc tổng tuyển cử của lòng dân

Kỳ họp căng thẳng

Để chuẩn bị về nội dung, địa điểm và thời gian cho kỳ họp đầu tiên của QH, nhiều cuộc họp liên tịch đã được tiến hành từ hạ tuần tháng 2-1946 giữa một bên là đại biểu của Chính phủ và các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh, một bên là đại biểu của VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội.

Theo sự thỏa thuận giữa hai bên thì QH sẽ bắt đầu họp vào 7g sáng ngày 3-3 tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội và sau đó tiếp tục họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh). Chính phủ đã căn cứ vào sự thỏa thuận đó mà báo tin cho các đại biểu QH biết và gửi giấy mời phóng viên báo chí trong nước và nước ngoài tham dự buổi họp khai mạc.

Nhưng đột nhiên chiều 1-3 ở nhiều nơi trong thành phố Hà Nội xuất hiện truyền đơn do Nguyễn Hải Thần ký tên kêu gọi nhân dân “tẩy chay QH”. Hành động này bộc lộ ý đồ phá hoại kỳ họp đầu tiên của QH.

Để đề phòng, ngay tối hôm đó Chính phủ đã báo tin cho các đại biểu QH biết là QH sẽ khai mạc vào 7g sáng 2-3 (trước ngày đã định một ngày) tại Nhà hát lớn Hà Nội và đề nghị các đại biểu chỉ có mặt đúng giờ họp rồi đi thẳng vào phòng họp mà không nên tập trung trước cửa Nhà hát lớn.

Theo đúng ngày giờ qui định, các đại biểu QH đã đến họp trước sự bất ngờ của bọn phá hoại và những bộ mặt ngơ ngác của bọn hiến binh Tưởng Giới Thạch đang tuần tiễu trên các ngả đường xung quanh Nhà hát lớn.

Ngồi trong phòng họp, các đại biểu QH rất nóng lòng chờ đợi khai mạc, vì đã quá 8g rồi mà vẫn chưa thấy Hồ Chủ tịch và các vị trong Chính phủ đến. Mọi người đều nghĩ đến vụ rải truyền đơn chiều hôm qua của bọn phản động nên không khỏi băn khoăn, lo lắng về những biến cố có thể xảy ra.

Lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước Quốc hội (*)

Lần này là lần thứ hai Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. VN chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận.

Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài.

Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

Tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân, trước thế giới: Tôi chỉ có một Đảng, Đảng VN.

Tuy trong quyết nghị không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết.

Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà.

Anh em trong Chính phủ mới sẽ dựa vào sức của Quốc hội và quốc dân, dầu nguy hiểm mấy cũng đi vào mục đích mà quốc dân và Quốc hội trao cho.

(*): Đọc tại phiên họp ngày 31-10-1946 của kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, sau khi được Quốc hội nhất trí giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới.

(Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 2000)

Vì thay đổi ngày họp nên từ 5g sáng 2-3, Hồ Chủ tịch cùng hai đồng chí tự vệ không vũ trang đến tận sào huyệt của VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội ở phố Ôn Như Hầu (nay là Nguyễn Gia Thiều), nơi mà anh em cán bộ Việt Minh và những người dân lương thiện phải tránh xa, báo cho họ biết là QH họp ngày 2-3 để họ cử đại biểu đến dự.

Khi Hồ Chủ tịch đến, họ chưa ngủ dậy. Bị đột ngột, bất ngờ, họ không nghĩ kịp cách đối phó mà chỉ tranh nhau đi dự QH. Hồ Chủ tịch phải đứng dàn xếp bảo ai đi, ai ở nhà.

Gần 9g, việc dàn xếp ở phố Ôn Như Hầu mới xong, Hồ Chủ tịch lên xe đi đến hội trường, các “đại biểu QH” do VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội cử đi dự họp QH ăn mặc quần áo sang trọng kéo theo sau vào ngồi đứng lô nhô ở phòng chờ của Nhà hát lớn. Họ phải chờ sự ưng thuận của QH mới được phép vào phòng họp. Đây chính là những người đến tận ngày hôm qua vẫn tiếp tục gây rối loạn khắp nơi.

Vẫn với bộ quần áo kaki bạc màu, đôi giày vải cũ thường ngày, Hồ Chủ tịch bước vào hội trường, theo sau là ông Vĩnh Thụy và các vị trong Chính phủ.

Hơn 300 đại biểu, cùng với nhiều khách và các nhà báo trong nước và nước ngoài đứng dậy hoan hô không ngớt khi thấy Hồ Chủ tịch. Mấy trăm cặp mắt đều đổ dồn vào Người. Tiếng vỗ tay và tiếng hoan hô chỉ dứt khi ban âm nhạc vệ quốc đoàn mặc đồng phục trắng bắt đầu cử quốc ca.

Hồ Chủ tịch bước tới máy phóng thanh, đứng im lặng một lát đưa cặp mắt trìu mến nhìn các đại biểu thay mặt các tầng lớp nhân dân cả nước về họp QH. Bằng một giọng xúc động, Người tuyên bố khai mạc đại hội, và bắt đầu đọc báo cáo về kết quả cuộc tổng tuyển cử ngày 6-1-1946. Sau đó, Hồ Chủ tịch chuyển đề nghị của Chính phủ với đại hội xin mở rộng thêm 70 đại biểu nữa trong QH và số ghế này sẽ dành cho VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội.

Toàn thể các đại biểu QH giơ tay biểu quyết và đồng thanh hô to “tán thành”.

Cuộc chất vấn đầu tiên tại Quốc hội

Để QH nghe các báo cáo và nhận định về các hoạt động của Hồ Chủ tịch và các phái đoàn QH và Chính phủ trong thời gian qua, giải quyết những vấn đề quan trọng do tình hình mới đề ra và thông qua bản hiến pháp đầu tiên của nước ta, Ban Thường trực QH triệu tập QH họp kỳ thứ hai vào ngày 28-10-1946 tại Hà Nội.

Tại kỳ họp này cụ Nguyễn Văn Tố, trưởng Ban Thường trực QH, trả lời các câu hỏi chất vấn về công tác của Ban thường trực QH. Hồ Chủ tịch và các bộ trưởng trả lời các câu hỏi và chất vấn về công tác của Chính phủ.

Trong những câu trả lời, chúng tôi đặc biệt chú ý những câu trả lời của Hồ Chủ tịch, lập trường thì rõ ràng, dứt khoát, hình thức thì đôi lúc dí dỏm, đề cập đến những vấn đề mà nhân dân ta rất quan tâm trong tình thế đất nước lúc bấy giờ.

Sau đây là những câu trả lời chất vấn của Hồ Chủ tịch:

* Về ông phó chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông nguyên bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Tường Tam và ông phó chủ tịch quân sự, ủy viên hội Vũ Hồng Khanh?

Những người bỏ việc đi kia họ không muốn gánh việc nước nhà, hoặc họ không đủ năng lực mà gánh nổi, nay chúng ta không có họ ở đây. Chúng ta cũng cứ gánh được như thường. Nhưng nếu các anh em ấy biết nghĩ lại, dối không nổi với lương tâm, với đồng bào, với Tổ quốc mà trở về thì chúng ta vẫn hoan nghênh.

Còn cái tin ông Nguyễn Hải Thần tự xưng là tổng tư lệnh hải, lục, không quân VN? VN không có hải, lục, không quân thì ông Nguyễn Hải Thần cứ việc mà làm tổng tư lệnh. Nhưng nếu ông Nguyễn Hải Thần tổ chức được hải, lục, không quân cho VN thì cố nhiên chúng ta hoan nghênh.

* Về ông Chu Bá Phượng, bộ trưởng Bộ Kinh tế:

Các báo Pháp có đăng vài tin (ông Chu Bá Phượng – đại biểu VN Quốc dân đảng, thành viên của phái đoàn Chính phủ đi dự hội nghị đàm phán ở Fontainebleau, khi sang Pháp có mang vàng theo để buôn lậu, bị nhà chức trách Pháp khám phá và làm khó dễ. Các báo Pháp đều có đăng tin và ông Phượng vẫn có mặt tại kỳ họp QH này) nhưng tin ấy có thật hay không thì đã qua rồi, vả lại cũng chẳng có ảnh hưởng gì lớn, xin thôi đừng nhắc đến.

Nếu trong Chính phủ còn có những người khác làm lỗi, thì lỗi ấy tôi xin chịu, xin gánh và xin lỗi với đồng bào.

Hồ Chủ tịch năm 1946

* Về tạm ước ngày 14-9?

Tạm ước ngày 14-9 có ảnh hưởng đến các hiệp ước kỳ sau này không? Trong xã hội loài người, cái gì mà chẳng có ảnh hưởng đến cái khác? Tuy vậy những sự điều đình sau này không bị ràng buộc được. Bản tạm ước này tùy theo sự thi hành thế nào, sẽ thúc đẩy cho những điều đình sau chóng tới kết quả một cách dễ dàng.

Còn nói rằng “tạm ước 14-9 là bất bình đẳng?” thì Chính phủ không dám nhận như thế. Với bản tạm ước ấy, mỗi bên nhân nhượng một ít, ta bảo đảm cho Pháp những quyền lợi kinh tế và văn hóa ở đây, thì Pháp cũng phải bảo đảm thi hành tự do dân chủ ở Nam bộ và thả các nhà ái quốc bị họ bắt bớ.

Còn nói Pháp không thành thật thi hành tạm ước, thì ta nói vơ đũa cả nắm. Pháp cũng có người tốt, người xấu. Tôi có thể nói quyết rằng nhân dân Pháp bây giờ đại đa số tán thành ta độc lập và thống nhất lãnh thổ.

* Vì sao Chính phủ đã đề nghị thay đổi quốc kỳ?

Chính phủ không bao giờ dám đề nghị thay đổi quốc kỳ, chỉ vì một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy lên, nên Chính phủ phải đề qua Ban Thường trực QH xét.

Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều. Lá cờ đỏ sao vàng đã nhuộm bao nhiêu máu chiến sĩ VN ở Nam bộ và Nam Trung bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn. Bây giờ trừ khi cả 25 triệu đồng bào, còn ra không ai có quyền gì mà đòi thay đổi nó. (Nói đến đây mắt Người sáng quắc lên, giọng Người vang to lên, và dằn mạnh từng tiếng một, trái hẳn với vẻ điềm đạm lúc thường).

* Về Chính phủ liêm khiết?

Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở các ủy ban là đông lắm và phức tạp lắm. Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương, và nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết.

…Sau khi trả lời và nghe cụ Nguyễn Văn Tố và các vị bộ trưởng trả lời các câu hỏi chất vấn của các đại biểu QH, Hồ Chủ tịch phát biểu:

“Chính phủ hiện thời mới thành lập hơn một năm hãy còn thanh niên. QH bầu ra được hơn tám tháng lại còn thanh niên hơn nữa. Vậy mà QH đã đặt những câu hỏi thật già dặn, sắc nét, khó trả lời, đề cập đến tất cả những vấn đề có quan hệ đến vận mệnh nước nhà. Với sự trưởng thành chính trị và sự quan tâm về việc nước ấy, ai dám bảo dân ta không có tư cách độc lập?”.

—————

Kỳ cuối:  Dân chủ quá mới mẻ

90% dân số VN còn mù chữ. Rất nhiều người chưa hiểu QH là gì thế mà họ đã bầu ra QH đầu tiên trong tình thế nước sôi lửa bỏng.

LÂM QUANG THỰ (đại biểu Quốc hội khóa)

tuoitre.vn

Kỳ 1 – Cuộc tổng tuyển cử của lòng dân

TT – Một ngày sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khai sinh, Bác Hồ đã nghĩ đến việc lập một thiết chế dân chủ, cái mà trước đó trong lịch sử dân tộc ta chưa hề có, dân ta chưa hề được hưởng… Và câu chuyện “tổng tuyển cử đầu tiên” (6-1-1946) đã được công bố trong cuốn sách Lâm Quang Thự – người con đất Quảng

Nhân dân Hà Nội bỏ phiếu bầu Quốc hội khóa I – Ảnh tư liệu

(Sách do Hội Khoa học lịch sử TP Đà Nẵng phối hợp Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản).

Bỏ được lá phiếu có chết cũng hả dạ

Ngày 3-9-1945, một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tại phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm thời, Hồ Chủ tịch đề nghị: “Trước do chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền bầu cử và ứng cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống”. (Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội, 1980, tập 1, trang 356).

Những đề nghị của Hồ Chủ tịch đáp ứng nguyện vọng thiết tha của đồng bào ta đã được Hội đồng Chính phủ nhất trí tán thành.

Thế là ngày 8-9-1945, tức là không đầy một tuần sau ngày nước VN dân chủ cộng hòa ra đời, Chính phủ ra sắc lệnh qui định trong thời gian hai tháng sẽ mở tổng tuyển cử trong cả nước bầu ra Quốc dân đại hội để ấn định hiến pháp cho nước VN dân chủ cộng hòa. Sau đó, Chính phủ ra sắc lệnh ngày 17-10-1945 qui định thể lệ tổng tuyển cử và sắc lệnh ngày 23-10-1945 ấn định ngày 6-1-1946 là ngày tiến hành tổng tuyển cử.

Đi đôi với việc ban hành các sắc lệnh về tổng tuyển cử, Chính phủ lâm thời công bố bản dự thảo hiến pháp đầu tiên để nhân dân tham gia ý kiến.

Trong lịch sử các dân tộc đấu tranh giành được độc lập, chưa bao giờ những sắc lệnh về tổng tuyển cử và dự án hiến pháp được công bố sớm như thế.

Trích lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày mai, mồng 6 tháng giêng năm 1946.

Ngày mai, là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ.

Ngày mai, là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử VN mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: Về mặt trận quân sự thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân VN ta đã:

Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ
Kiên quyết chống bọn thực dân
Kiên quyết tranh quyền độc lập

Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình và gánh vác việc nước.

Những người trúng cử sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng.

(Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2000)

Lần đầu tiên trong lịch sử nước nhà, nước VN mới thật sự là của toàn thể nhân dân VN “không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (điều 1 của dự án hiến pháp). Trong cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc dân đại hội, “tất cả công dân VN từ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử” (điều 2 của sắc lệnh ngày 17-10-1945).

Cuộc tổng tuyển cử đã được nhân dân cả nước từ Bắc đến Nam, từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược nhiệt liệt hưởng ứng. Ai nấy đều nô nức, phấn khởi tham gia chuẩn bị cho cuộc bầu cử và nóng lòng chờ ngày đi bỏ phiếu.

Quang cảnh ngày 6-1-1946 là một ngày hội lớn của nhân dân cả nước. Từ sáng sớm từng đoàn người ăn mặc chỉnh tề tấp nập đi bỏ phiếu. Ở nhiều nơi các cụ già, những người ốm không đi được thì đòi con cháu hoặc người hàng xóm cõng, cáng đến nơi bầu cử để tự tay mình bỏ lá phiếu vào hòm phiếu. Nhiều cụ đã nói: “Bây giờ có chết cũng hả dạ vì đã bỏ được lá phiếu góp phần xây dựng nền móng đầu tiên của nước VN dân chủ cộng hòa cho con cháu mình”.

Giữ lá phiếu trước thù trong giặc ngoài

Cuộc tổng tuyển cử tiến hành trong tình thế nước nhà lúc bấy giờ vô cùng khó khăn, phức tạp. Nửa vạn quân đội Anh và 18 vạn quân đội Tưởng Giới Thạch kéo vào nước ta giữa tháng 9-1945 – sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công – với danh nghĩa quân đội đồng minh để giải giáp quân đội Nhật bại trận.

Ở miền Nam, quân đội Pháp được quân đội Anh với Nhật yểm hộ đã quay trở lại đánh chiếm Sài Gòn và các tỉnh Nam bộ, cực Nam Trung bộ và Tây nguyên. Tại những nơi này, bất chấp cả lưỡi lê và mũi súng của quân thù, quần chúng đã hăng hái tham gia tổng tuyển cử với tất cả dũng khí cách mạng của mình.

Trong những vùng bị địch tạm chiếm đóng, nhân dân tập trung bỏ phiếu, quân Pháp và Việt gian kéo đến khủng bố, nhân dân phải mang hòm phiếu chạy đến một nơi khác và tiếp tục bỏ phiếu. Như ở xã Mỹ Hòa (Cần Thơ), trong ngày bầu cử nhân dân phải di chuyển hòm phiếu đến bốn địa điểm khác nhau để hoàn thành việc bỏ phiếu.

Tại vùng Tây nguyên như ở Buôn Krong, Prong (Đắc Lắc), nhân dân tập trung ở nhà làng để bỏ phiếu, địch tới bao vây, nhân dân chạy sâu vào rừng, địch lại tấn công vào rừng, nhân dân đi sâu vào khe suối, mang theo gạo ăn để bỏ phiếu. Tại nhiều đô thị như Nha Trang, Sài Gòn, Tân An, hàng chục cán bộ ta đã bị địch sát hại trong lúc tổ chức bầu cử.

Ở miền Bắc, bọn VN quốc dân đảng và VN cách mạng đồng minh hội theo gót quân đội Tưởng Giới Thạch kéo về nước với mưu đồ lật đổ Chính phủ ta, làm tay sai cho bọn thống trị phương Bắc.

Chúng không hi vọng gì nếu chúng đưa người ra ứng cử, nên dựa vào quân đội và hiến binh Tưởng Giới Thạch chống phá tổng tuyển cử một cách điên cuồng, âm mưu ám sát, bắt cóc những người được Mặt trận Việt Minh giới thiệu và ứng cử. Ngay tại Hà Nội, chúng mang cả tiểu liên đến Ngũ Xã ngăn không cho đặt hòm phiếu, chúng cấm cả nhân dân treo cờ, đồng bào Ngũ Xã phải kéo sang khu phố gần đó để bỏ phiếu.

Hi sinh cho cuộc tổng tuyển cử thắng lợi

Ở khắp nơi, sự đoàn kết đấu tranh đầy hi sinh dũng cảm của nhân dân ta đã đưa cuộc tổng tuyển cử đến thắng lợi vẻ vang. Ở miền Nam, tại các vùng bị quân Pháp tạm chiếm đóng, cử tri đã đi bỏ phiếu từ 65-85%, ở miền Bắc có 75-95% cử tri đi bỏ phiếu bầu.

Từ nhiều địa phương, đồng bào viết thư về đề nghị Hồ Chủ tịch không cần ra ứng cử ở một tỉnh nào, nhân dân cả nước sẽ bỏ phiếu cử Bác vào Quốc dân đại hội, ai cũng muốn được ghi tên Bác đầu tiên trên lá phiếu của mình. Bác đã viết một bức thư ngắn trả lời đề nghị này:

Tôi là một công dân của nước VN dân chủ cộng hòa, nên tôi không thể vượt qua khỏi thể lệ tổng tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội nên không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa. Xin cảm tạ đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm trọn nhiệm vụ người công dân trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới”.

Ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thu được 98,4% số phiếu bầu.

Trong cuộc tổng tuyển cử này, nhân dân cả nước đã bầu vào Quốc dân đại hội 333 đại biểu, trong đó Bắc bộ có 152 đại biểu, Trung bộ có 108 đại biểu và Nam bộ có 73 đại biểu.

————–

Kỳ sau: Quốc hội chất vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh

Không chỉ chất vấn các bộ trưởng, Quốc hội khóa đầu tiên đã chất vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều câu hỏi gai góc về vụ buôn lậu của bộ trưởng kinh tế Chu Bá Thượng, về đề nghị thay đổi quốc kỳ…

LÂM QUANG THỰ (đại biểu Quốc hội khóa I)

tuoitre.vn

Hồ Chủ tịch trả lời chất vấn qua lời kể Tướng Giáp

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về phần trả lời chất vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I cách đây gần 65 năm.

… Quốc hội khóa l, kỳ 2 khai mạc trọng thể vào sáng ngày 28/10 tại Nhà hát lớn thành phố. Quốc hội nghe báo cáo của Chính phủ về những công việc đã làm từ ngày thành lập, trong đó có cuộc đàm phán của Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Pháp tại Fontainebleau và việc ký Tạm ước ngày 14/9.

Ngày 31/10, các đại biểu chất vấn Chính phủ. Có 88 câu hỏi nêu lên thuộc các vấn đề quốc phòng, ngoại giao, kinh tế, tài chính, tư pháp, nội vụ. Những câu hỏi được chuyển tới các bộ hữu quan, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ trả lời về chính sách ngoại giao của Chính phủ, việc ký Tạm ước ngày 14/9, việc Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh tự ý bỏ đi.

Người nói: Về chính sách ngoại giao của Chính phủ và việc ký bản Tạm ước ngày 14/9 trong các báo cáo trước đã nói nhiều. Tóm lại đối với các nước dân chủ, hết sức gây thiện cảm. Các nước ấy tuy chưa công khai thừa nhận ta, nhưng ít nhiều thiện cảm với ta. Còn về ngoại giao với Pháp thì từ khi ký Hiệp định ngày 6/3, qua các Hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau đến Tạm ước ngày 14/9, Chính phủ quyết tâm giữ vững nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, đồng thời hợp tác thật thà và thân thiện với Pháp. Cố nhiên, người Pháp cũng phải cộng tác với ta trên nguyên tắc bình đẳng…

Người nói tiếp: Tạm ước này có ảnh hưởng tới các hiệp ước ký sau không? Trong xã hội loài người, có cái gì mà không ảnh hướng tới cái khác. Tuy vậy, những sự điều đình sau đây không thể vì bản tạm ước này mà bị ràng bó. Bản Tạm ước này tùy theo sự thi hành thế nào, sẽ tạo điều kiện đẩy cho những cuộc điều đình sau mau chóng đạt kết quả.

Người chuyển qua vấn đề khác: Về ông Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, ông Phó Chủ tịch Quân ủy hội Vũ Hồng Khanh, các ông ấy không có mặt ở đây. Lúc Nhà nước đương gặp bước khó khăn, quốc dân tin ở người nào trao người ấy làm công việc lớn mà các ông ấy lại bỏ đi thì các ông ấy phải hỏi lương tâm thế nào? Những người đã bỏ việc đi kia, họ không muốn gánh vác việc nước nhà hoặc họ cũng không đủ năng lực gánh vác, nay chúng ta không có họ ở đây chúng ta cũng cứ gánh vác được như thường. (Tiếng vỗ tay nổi lên). Nhưng nếu các anh em đấy biết nghĩ lại, dối không nổi lương tâm, với đồng bào, với Tổ quốc mà trở về, thì chúng ta vẫn hoan nghênh,

Trước khi bước xuống, Người nói: Nếu trong Chính phủ có các người khác lầm lỡ, thì lỗi ấy tôi xin chịu, xin gánh và xin lỗi với đồng bào.

Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1962Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1962.

Buổi chiều và buổi tối, các bộ trả lời những điều đại biểu đã hỏi. Nhưng khi các bộ giải đáp xong, nhiều đại biểu vẫn tiếp tục chất vấn. Chờ mọi người nêu hết những câu hỏi, một lần nữa, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ để trả lời. Vẫn bằng những lời lẽ giản dị, ôn tồn, Người nói:

Vấn đề Quốc kỳ, Chính phủ không bao giờ dám đòi thay đổi Quốc kỳ. Có một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy nên Chính phủ phải đệ qua Thường trực Quốc hội xét. Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều, lá cờ đỏ Sao Vàng đã nhuộm bao nhiêu máu các chiến sỹ Việt Nam ở Nam Bộ và Nam Trung bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn. Đôi mắt sáng rực, bằng giọng nói nhấn mạnh, Người tiếp: Bây giờ trừ 25 triệu đồng bào ra còn không ai có quyền gì mà đòi thay đổi Quốc kỳ. Cả hội trường vang lên tiếng vỗ tay, Bác nói tiếp:

Vấn đề liêm khiết của Chính phủ thì Chính phủ hiện thời đang cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở ủy ban làng đông lắm. Dù sao Chính phủ cũng đã hết sức làm gương. Và nếu làm gương không xong sẽ dùng pháp luật trừng trị những kẻ ăn hối lộ, đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết. (Tiếng vỗ tay hoan nghênh lại nổi lên).

Còn có đại biểu nói rằng bản Tạm ước ngày 14/9 là bất bình đẳng thì Chính phủ không dám nhận như thế. Với bản Tạm ước ấy, mỗi bên đều nhân nhượng ít nhiều, ta đảm bảo cho Pháp một phần những quyền lợi văn hóa ở đây thì Pháp cũng phải đảm bảo thi hành tự do dân chủ ở Nam bộ và thả các nhà ái quốc bị bắt bớ. Còn nói Pháp thành thật thi hành bản Tạm ước hay không thì ta hiểu rằng Pháp cũng có người tốt, có người xấu. Tôi có thể nói quyết rằng đa số nhân dân Pháp bây giờ tán thành chúng ta độc lập và thống nhất lãnh thổ…

Bằng những lời nói thật giản dị nhưng cũng thật sáng rõ, khúc chiết chặt chẽ, Bác tiếp tục trả lời tất cả những vấn đề mà các đại biểu đã nêu ra. Người nói xong, không ai hỏi gì thêm. Cuộc chất vấn Chính phủ kết thúc đúng vào nửa đêm…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

(Theo sách Hồi ký đại biểu Khóa I)

bee.net.vn

Tình yêu thương làm thay đổi đời người

Lời dặn của Bác nâng đỡ và theo trung tá Huỳnh Văn Rều suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, băng qua những dãy núi chót vót của rừng Trường Sơn, vượt trận địa đầy bom rơi pháo nổ với cái chết luôn rình rập từng ngày.

“Tình yêu thương bao la của Bác có sức lay động và cảm hóa con người rất lớn. Tôi học ở Bác phong cách giản dị, gần gũi và luôn quan tâm đến mọi người”, trung tá Huỳnh Văn Riều, nguyên Chính trị viên đại đội 4, Trung đoàn 228 pháo cao xạ phòng không, tâm sự với chúng tôi trong chuyến trở về chiến trường xưa ở tỉnh Kontum.

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, mang trong người chất độc da cam/dioxin và nỗi đau không thể có con, ông Huỳnh Văn Riều trở về mảnh đất miền Nam yêu thương, tiếp tục cống hiến sức mình cho đất nước, như lời Bác dặn dò năm nào.

Ba lần gặp Bác Hồ

Sinh ra và lớn lên ở vùng đất thép thành đồng, xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, 16 tuổi, ông Riều thoát ly đi kháng chiến, làm liên lạc cho Ủy ban Kháng chiến hành chính của xã Phước Hiệp. Khi tập kết ra Bắc, ông học kyx thuật vô tuyến điện, sau đó trở thành chính trị viên của Đại đội 4, Trung đoàn 228 pháo cao xạ phòng không 57 mm (thuộc Sư đoàn phòng không 367).

Trung tá Huỳnh Văn Riều (bên phải) trong hành trình trở về chiến trường xưa. Ảnh: Minh Chánh

Ông Riều nhớ mãi lần đầu gặp Bác, tháng 6.1958, trong đợt đón tiếp đoàn công tác của đồng chí Vô-rô-xi-lốp, Chủ tịch Đoàn chủ tịch Xô Viết tối cao Liên Xô (cũ) sang thăm Việt Nam. Lúc đó, ông Riều đứng trong đội ngũ vừa đón vừa bảo vệ đoàn. “Xe chở Bác từ cầu Long Biên vào Phủ Chủ tịch. Bác vẫy tay chào mọi người, tôi nhìn Bác, đôi mắt Người sáng ngời, da dẻ hồng hào, nụ cười ấm áp. Hình ảnh ấy in đậm trong lòng tôi”, ông Riều nhớ lại.

Ngày 22/12/1961, khi đang ở trạm chỉ huy của Bộ tư lệnh phòng không Sư đoàn phòng không 367, ông Riều lần thứ hai được gặp Bác. “Sở chỉ huy thông báo Bác đến thăm đơn vị hôm nay. Ai cũng hồi hộp.

9h, Bác đến. Bác thăm nhà ăn đầu tiên, rồi ghé xem nhà vệ sinh, sau đó mới đến phòng khách. Mọi người rất xúc động, Bác quan tâm đến cuộc sống đời thường của anh em vậy đó”, ông Riều kể. Sau khi vào phòng khách, Bác ân cần hỏi han mọi người và dặn dò các chiến sĩ, sĩ quan làm tốt nhiệm vụ, thông tin chính xác, cố gắng giữ vững bầu trời miền Bắc.

“Bác hỏi chúng tôi: “Ở đây có cháu nào người miền Nam không?”. Trong đơn vị ngày ấy chỉ có tôi và anh Nguyễn Văn Ri là dân miền Nam, nhưng tôi xúc động quá, anh Ri trả lời thay. Bác nhìn chúng tôi trìu mến và dặn dò: “Mỹ ngụy đang giày xéo quê hương miền Nam từng giờ từng ngày. Các cháu là con em miền Nam, phải học tập cho giỏi, chiến đấu cho cừ, góp phần đấu tranh giải phóng miền Nam, các cháu nhé!”. Bác nói ngắn gọn, giản dị nhưng chúng tôi ghi lòng tạc dạ sâu sắc”, ông Riều kể lại.

Lời dặn dò ấy đã nâng đỡ và theo ông suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, băng qua những dãy núi cao chót vót của rừng Trường Sơn, vượt qua những trận địa đầy bom rơi pháo nổ với cái chết luôn rình rập từng ngày.

Luôn làm theo lời Bác

Phường Cầu Kho, quận 1, nơi trung tá Riều sinh sống, một thời nổi tiếng vì tệ nạn mua bán ma túy. Năm 2004, thành phố thí điểm thành lập tổ cán sự xã hội, gồm các đảng viên hưu trí và cán bộ lão thành, chịu trách nhiệm tình nguyện quản lý và hỗ trợ những người hồi gia. Ông Riều lập tức đăng ký vào tổ này.

Sau gần 5 năm tổ cán sự xã hội hoạt động, tình trạng buôn bán ma túy công khai ở địa bàn giảm gần 90%, nhiều người hồi gia được vay vốn và có việc làm ổn định.

“Tôi luôn xác định, anh bộ đội Cụ Hồ phải thể hiện phẩm chất cả khi đã ngưng cầm súng. Phần lớn các cháu nghiện ma túy đều là con em người lao động nghèo, nên mình phải cố gắng giáo dục, cảm hóa và giúp đỡ họ”, ông Riều tâm sự. Dù tuổi cao, sức yếu nhưng vị trung tá này chưa khi ngơi nghỉ. Ông đến từng nhà các đối tượng hồi gia, trò chuyện và động viên từng người.

Năm 2007, được biết anh Đoàn Văn Thành ở khu phố 1, vừa hồi gia nhưng đã tái nghiện, ông Riều qua nhà anh Thành và nhắn nhủ với gia đình: “Khi nào Thành về nhà thì báo nó ra gặp chú. Chỉ cần nó hứa không hút ma túy thì chú đảm bảo công an không bắt”. Ông Riều tất tả chạy ngược chạy xuôi giới thiệu anh Thành vay vốn từ Qũy hỗ trợ người nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS. Cho tới nay, anh Thành vẫn giữ lời hứa xưa, chăm chỉ chạy xe ôm, sống hạnh phúc bên người vợ và đứa con đang tượng hình trong bụng mẹ.

“Con cám ơn chú đã giúp con, cho con cơ hội hoàn lương. Con hứa sẽ trở thành người tốt”, anh Thành viết thư gửi vị trung tá này.

Giữa năm 2008, ông Riều khởi xướng chương trình “Bạn giúp bạn” – một mô hình sinh hoạt nhóm đầu tiên của thành phố giữa các cán sự xã hội và người sau cai nghiện. Đều đặn mỗi tháng một lần, tổ cán sự xã hội tổ chức cho các đối tượng sau cai trên địa bàn phường (sau này nhân rộng ra toàn quận 1) gặp gỡ, sinh hoạt tập thể, giao lưu ca hát. Thỉnh thoảng, “Bạn giúp bạn” lại có kế hoạch đi dã ngoại. Những chuyến đi xa lên rừng xuống biển kéo mọi người xích lại gần nhau và không lưu luyến ma túy. “Chỉ cần vậy là tôi vui rồi, cháu ạ!”, ông Riều cười. Nụ cười hiền lành và mãn nguyện.

15 năm là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, 5 năm làm tổ trưởng tổ cán sự xã hội phường, bước chân ông Riều đã “mòn” tất cả con đường lớn đường nhỏ của phường Cầu Kho.

Năm 1969, trung tá Huỳnh Văn Riều bị nhiễm chất độc da cam trong một lần chạy xuống trận địa tìm đồng đội. Cùng thời điểm này, người pháo binh được tin Bác mất; anh cùng đồng đội nén chặt nỗi đau da cam/dioxin, làm lễ tang Bác. Rưng rưng nước mắt, ông thề: “Vì Tổ quốc, chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng”.

Thu Thảo

baodatviet.vn

Hồ Chí Minh trong lòng bạn bè thế giới

Cảm phục trước vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, nhiều chuyên gia và phóng viên nước ngoài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh với tất cả lòng kính trọng.

>> Olympiakos viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Giáo sư Sử học William J.Duiker viết trong công trình vĩ đại về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Min: “Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ thiên tài nhưng vô cùng giản dị, rất gần gũi với cuộc sống của người lao động và đặc biệt hơn, Người là một chính khách lỗi lạc, biết kết hợp tài tình nghệ thuật lãnh đạo để đưa con thuyền cách mạng Việt Nam mau chóng tới đích”.

Trong bài viết “Hồ Chí Minh – Chiến thắng một tầm nhìn” trên tạp chí In Asien của Đức, tác giả Dierk Szekielda cũng cho rằng, sự ngưỡng mộ của ông với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã thôi thúc ông viết bài báo này. Ông ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước và là người soi sáng con đường đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam, một người có phẩm chất phi thường.

Tổng thống Venezuela trân trọng đón nhận bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Còn trên tờ Time (Mỹ), nhà báo, tác giả cuốn “Việt Nam – một thiên sử” Stanley Karnow viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh như sau: “Một thân hình gầy gò, chòm râu dài, chiếc áo khoác cũ và đôi dép cao su đã mòn, Hồ Chí Minh đã tạo ra một hình ảnh hiền lành, giản dị. Nhưng Người là nhà cách mạng dày dạn kinh nghiệm và một nhà dân tộc chủ nghĩa nồng nhiệt, suốt đời đấu tranh cho một mục đích duy nhất: mang lại độc lập tự do cho dân tộc mình. Không có sự dao động trong niềm tin của Hồ Chí Minh, không thể lay chuyển ý chí của Người, ngay cả khi cuộc chiến tranh của Mỹ leo thang, tàn phá đất nước, người vẫn giữ niềm tin đối với nền độc lập của Việt Nam. Dưới con mắt phương Tây, điều dường như không thể tưởng tượng được là Hồ Chí Minh có thể cống hiến sự hy sinh to lớn như ông đã làm”. Và Time bình chọn Bác Hồ là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20.

Giáo sư Nhật Bản Singo Sibata khẳng định, Hồ Chí Minh là nhà lý luận tài giỏi trên mọi lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, tư tưởng … Lý luận của Người được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin, song là sự phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin trong thời đại ngày nay. 

Bích Diệp (Tổng hợp)

baodatviet.vn