Tag Archive | Độc lập

Ông lão 85 tuổi mê sưu tầm ảnh Bác Hồ

Ông Trần Phùng bên bộ sưu tập ảnh về Bác, bộ tài sản quý giá với ông.

(Dân trí) – Đã nhiều năm qua, các tấm ảnh về Bác mà cụ ông Trần Phùng (85 tuổi, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế) sưu tầm là tài sản quý giá nhất mà ông muốn cất giữ lại cho con cháu.

Sinh ra trong gia đình nghèo thuộc xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, từ nhỏ ông Phùng đã được nghe bố mẹ kể về con đường hoạt động cách mạng của Bác Hồ. Lớn lên đi học, cậu bé Phùng càng ý thức hơn về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với dân tộc. Chính điều này đã thôi thúc ông quyết tâm tham gia hoạt động cách mạng.

Khi còn học ở Truờng Quốc Học, ông hăng hái tham gia phong trào thanh niên chống thực dân Pháp. Năm 1948 ông lên đường nhập ngũ vào chiến đấu tại chiến trường Quân khu 4. Về sau ông được chuyển ra công tác tại Tổng cục Hậu cần, lo việc tiếp tế lương thực, súng đạn cho tiền tuyến.

Cũng trong thời gian này, ông bắt đầu sưu tầm những tư liệu, ảnh về Bác Hồ. Đáng tiếc, trong một lần tham gia chiến đấu những tư liệu đó bị thất lạc. Đến nay ông chỉ còn lưu giữ được một số bức ảnh mà ông cho rằng có ý nghĩa trong việc giáo dục người thân, con cháu về tấm gương của Bác.

Động cơ để ông sưu tầm ảnh Bác đơn giản chỉ xuất phát từ lòng kính trọng và sự yêu mến đối với Bác, một nhân cách cao cả về đạo đức cũng như lối sống giản dị, tính khiêm nhường đáng để thế hệ sau học hỏi. “Hễ thấy đâu có ảnh Bác là tôi sưu tầm, hoặc xin lại từ những người bạn cùng chiến đấu, cũng có thể là cắt lại từ các tờ tạp chí… Nhưng phần nhiều tôi mua lại từ một số người” – ông Phùng cho biết.

Với cá nhân ông, mỗi bức ảnh đều có ý nghĩa riêng của nó. Trong những bức ảnh đó, bức ảnh chụp cảnh Bác Hồ bắt tay Bác Tôn một cách thân mật làm ông ấn tượng nhất. Ngoài ra, có tấm chụp cảnh Bác đang trò chuyện với các cơ quan, đơn vị nơi Bác đến thăm và các tấm chụp cảnh Bác nói chuyện thân mật với các vị phụ lão, phụ nữ, thiếu nhi, bộ đội, nông dân… Đặc biệt, có một số tấm ảnh chụp cảnh sinh hoạt của Bác như đang ngồi trên bàn làm việc, cho cá ăn, chăm sóc cây cối, đang hút thuốc…

Một số bức ảnh ấn tượng nhất được ông Phùng đóng khung và treo ở vị trí trang trọng trong nhà.

Những bức ảnh sưu tầm về Bác qua các thời kỳ được ông lưu giữ một cách khá cẩn thận, đóng khung và treo ở vị trí trang trọng nhất trong nhà. Dù năm nay ông Phùng đã 85 tuổi nhưng vẫn hết sức minh mẫn khi nhớ lại ngày ông được gặp và nói chuyện cùng Bác. Ông xem đó là động lực giúp ông phấn đấu và sống tốt như hôm nay. Đồng thời là tấm gương cao cả cho các thế hệ sau học tập.

Nhìn lên khung ảnh, ông Phùng nhớ lại ngày ông vinh dự được gặp Bác Hồ. “Hồi ấy, tôi đang tham gia chiến đấu tại chiến trường Quân khu 4, nghe tin Bác vào thăm ai nấy đều mừng rỡ. Bản thân tôi cũng hồi hộp không kém vì được tận mắt ngắm dung nhan của Bác mà bấy lâu tôi ấp ủ. Buổi trò chuyện được tổ chức ở ngay giữa sân dưới sự chứng kiến của đông đảo cán bộ, chiến sĩ”.

Nhấp chén nước trà, ông Phùng kể tiếp: “Hôm đó Bác Hồ kể rất nhiều chuyện về quá trình hoạt động, con đường phát triển của cách mạng trong những năm tiếp theo. Bác không quên động viên anh em phát huy tinh thần yêu nước, niềm tin vào chiến đấu nhất định sẽ giành được thắng lợi. Bác hỏi thăm về đời sống của chiến sĩ có khó khăn gì không, cũng không quên dặn cán bộ phải quan tâm đến đời sống của chiến sĩ…”

Tấm ảnh chụp Bác đang ngồi nghỉ hút thuốc rất giản dị mà ông Phùng còn giữ được.

“Đến khi về Bác không quên dặn toàn thể cán bộ, chiến sĩ toàn Quân khu phải đảm bảo sức khoẻ mới có thể tiếp tục chiến đấu. Kẻ thù dù mạnh đến đâu nhưng nếu có niềm tin, sự đoàn kết một lòng thì nhất định sẽ giành được thắng lợi lớn. Những lời động viên chân thành của Bác đã giúp chúng tôi có thêm động lực để chiến đấu” – ông Phùng tâm sự.

Được biết ông Phùng còn là người trực tiếp chứng kiến lễ trao ấn, kiếm năm 1945 của vua Bảo Đại cho chính quyền cách mạng, chấm dứt sự tồn tại của triều đại phong kiến kéo dài hàng ngàn năm và mở ra một thời đại mới cho dân tộc.

Trải qua 36 năm tham gia hoạt động cách mạng, qua 2 cuộc kháng chiến, ông Phùng vinh dự nhận được nhiều Bằng khen, Giấy khen do Đảng, Nhà nước trao tặng. Do tuổi cao, năm 1984 ông được nhà nước cho nghỉ hưu trở về quê hương cùng vợ nuôi dạy con cái.

Đã đến tuổi 85 nhưng ông Phùng vẫn giữ được vẻ minh mẫn và một tinh thần yêu nước, yêu Bác Hồ nồng nàn.

Với những đóng góp đối với cách mạng, ông được nhà nước trao Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Ông là người có lối sống giản dị mang bản chất của người lính, người ông mẫu mực đối với con cháu, một tấm gương cho nhiều thế hệ trẻ chúng tôi trân trọng noi theo./.

Theo Dantri.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

42 năm người Kor ở Trà Bồng mang họ Bác Hồ

Báo tin tức – Vào đúng dịp kỷ niệm 121 năm ngày sinh Bác Hồ và tiến tới ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016, chúng tôi có dịp trở lại vùng đất quế Trà Bồng – nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi vào ngày 28/8/1959, cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên của đồng bào các dân tộc Trà Bồng giành thắng lợi, đánh một đòn chí mạng vào chính quyền tay sai Mỹ không chỉ riêng ở Quảng Ngãi mà cả miền Nam Việt Nam. Đặc biệt, cũng tại mảnh đất này cách đây gần 42 năm, tại buổi lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh do Huyện ủy Trà Bồng tổ chức, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ, đồng bào dân tộc Kor đã đề đạt nguyện vọng lên Trung ương được mang họ của Bác Hồ. Và từ đó đến nay người Kor Trà Bồng đều được mang họ Bác Hồ.

Già làng Hồ Chí Khánh trước bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ảnh: Đinh Hương- TTXVN

Đầu tháng 9/1969, người Kor Trà Bồng (Quảng Ngãi) đau buồn đón nhận tin Bác Hồ về cõi vĩnh hằng. Nước mắt ướt đẫm trên những khuôn mặt dạn dày sương gió, từng chịu đựng đắng cay gian khổ suốt bao nhiêu năm đấu tranh với kẻ thù để gìn giữ lời thề “Suốt đời theo Đảng, theo Bác Hồ làm cách mạng”, đã từng vang lên trong đại hội Gò Rô chống Mỹ (tháng 7/1958), và tiếp ngân vang trong cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi tháng 8/1959.

Già làng Hồ Chí Khánh, lão thành cách mạng xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng kể lại: Sáng ngày 9/9/1969, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Kor vượt núi, băng sông về chiến khu Trà Lãnh (nay thuộc huyện Tây Trà) dự lễ truy điệu Hồ Chủ tịch do Huyện ủy huyện Trà Bồng tổ chức, lắng nghe Di chúc của Người và Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Bức tượng Hồ Chủ tịch tạc từ thân cây quế được trang trọng đặt lên bàn thờ để mọi tấm lòng hướng về Người trong niềm đau thương xúc động. Tại buổi lễ này, các già làng người Kor đã đề đạt nguyện vọng của đồng bào “muốn mang họ Bác Hồ” thể hiện tấm lòng trung thành với Đảng, ghi nhớ công ơn và làm theo lời dạy của Cụ Hồ. Khi nhận được kiến nghị này, đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đảng đã điện trả lời, đại ý: Trung ương Đảng không chủ trương việc đồng bào mang họ Bác, nhưng đây là nguyện vọng của dân, tấm lòng của dân, nên Trung ương đồng ý. Từ đó đến nay, đã 42 năm người Kor vinh dự và tự hào được mang họ Bác Hồ – Người cha của 54 dân tộc anh em trong đại gia đình Việt Nam.

Vùng đất quế Trà Bồng năm xưa, nay là 2 huyện Trà Bồng và Tây Trà, đang chuyển mình từng ngày trong sự nghiệp đổi mới, xóa bỏ lạc hậu, đói nghèo, xây dựng quê hương giàu đẹp. Điện lưới quốc gia, trường học, trạm y tế, đường giao thông bê tông đã về tận các bản làng. Vùng căn cứ địa cách mạng trên núi Cà Đam – cao hơn 1.000 m so với mực nước biển đã kiêu hãnh trong 2 cuộc kháng chiến, giờ đây đang được khảo sát, quy hoạch chi tiết để xây dựng thành khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái.

Và trên mảnh đất ấy, lời thề suốt đời theo Đảng, theo Bác Hồ vẫn ngan ngát trong hương quế Trà Bồng. Già làng Hồ Chí Khánh – một trong những cán bộ lão thành của huyện Trà Bồng hiện ở thôn 2, xã Trà Thủy tự hào: Là con cháu của Bác Hồ, đồng bào dân tộc Kor Trà Bồng rất tự hào với truyền thống cách mạng của quê hương. Trong những năm gần đây, người Kor một lần nữa được tiếp thêm sức mạnh mới thông qua Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây là cuộc vận động lớn của Đảng, do đó mọi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện Trà Bồng đã có sự chuyển biến tích cực về nhận thức tư tưởng, ý thức rèn luyện đạo đức, lối sống; tinh thần tự phê bình và phê bình, ý thức, trách nhiệm của đảng viên đối với Đảng được nâng cao. Và ngày 22/5 tới, ngày toàn dân tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, là con cháu Bác Hồ, già cùng các con cháu là cử tri ở các bản làng sẽ hăng hái tham gia bầu cử để bầu ra những đại biểu tiêu biểu nhất của Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Nguyễn Đăng Lâm

baotintuc.vn

Truyền hình Thông tấn

Năm 69 (*)

TT – Khi nhớ lại năm 1969, tâm trí tôi luôn thấy hiện lên một màn mưa trắng trời, một triền sông ngầu đỏ, mênh mông cuộn xiết, nặng nề lao chảy như sắp cuốn phăng đi cả đôi bờ.

Một mùa thu cùng một Hà Nội chưa từng thấy bao giờ trước đó và không bao giờ còn thấy lại nữa, mà bốn chục năm qua rồi không phai mờ trong ký ức.

Các cháu thiếu nhi Hà Nội vào viếng Bác Hồ tại hội trường Ba Đình
Ảnh: HỮU CẤY

1. Mùa thu gian nan, triền miên mưa bão. Năm nào cũng thế, nhưng chừng như càng vào sâu trong cuộc chiến thì lũ sông Hồng càng năm càng lớn thêm lên. Trước rằm tháng bảy đã rất nguy cấp, sau rằm còn nguy cấp hơn. Đến giữa tháng 8 thì thanh niên nam nữ cả phố tôi tất tật không trừ ai được tổng huy động đi hộ đê. Thật ra là toàn bộ thành phố. Đàn ông trai tráng trên mặt đê. Phụ nữ tham gia vận chuyển đất đá lên đê.

Tới ngày Quốc khánh mực nước đã xuống nhiều nhưng chúng tôi vẫn dốc sức tiếp tục tôn cao và đắp dày thêm đoạn đê xung yếu. Đến tảng sáng mồng bốn, đang ngủ thì tôi bị lay dậy để lên xe về nhà…

2. Lúc đó khoảng bảy giờ sáng, xe chúng tôi đang trên cầu Long Biên. Cả hai chiều của cây cầu độc đạo qua sông Hồng đều đông nghịt, chen chúc người và xe, chuyển động chầm chậm từng bước chân, từng vòng bánh. Không tiếng còi xe hơi, không tiếng chuông xe đạp, không một tiếng nói tiếng cười, không cả những tiếng chân bước mặc dù dòng người vẫn đang không ngừng chuyển động.

Mặt ướt nước mưa và đang mắt nhắm mắt mở nhưng chỉ trong chốc lát tôi đã nhận ra mọi người, tất cả, hàng ngàn con người, trên suốt dọc chiều dài gần hai cây số của cây cầu ngang qua luồng nước xiết đều đang vừa đi vừa khóc, đúng hơn là lặng khóc, khóc không thành tiếng.

Bởi vì im ắng vô cùng. Người đi bộ dọc hai bên lan can cầu, đi tay không hoặc đang gồng gánh, người đang đạp xe, người đang dắt xe, những người đang đứng trên các thùng xe tải, người ngồi trong các xe chở khách. Những anh bộ đội. Những người dân phố. Những người dân quê. Bước đi và khóc, trong mưa.

Tám đứa chúng tôi trên thùng xe và cả anh tài xế trong cabin đều là những kẻ từ trên trời rơi xuống. Cả tuần liền bám trụ đê, lội bùn đội đất, ngơi tay là lăn ra ngủ, chúng tôi bị mưa lũ cô lập với thế gian. Vậy nhưng chỉ giây lát thôi, nhìn nỗi thương đau nhất loạt cùng lúc của cả một dòng người đông nghịt đang nghẹn ngào bước đi trong mưa, chúng tôi hiểu ngay ra sự thể.

“Bác Hồ…”. Một ai đó trong chúng tôi thảng thốt thì thào, ngập ngừng. Không dám chắc chắn điều mình nghĩ, nhưng chúng tôi đều đã cảm nhận chắc chắn điều đó. Bởi vì đối với chúng tôi, ngay cả trong thời kỳ rất nhiều đau thương ấy thì một nỗi đau lớn lao, nặng nề, sâu thẳm và muôn người như một đến nhường ấy chỉ có thể là do một duyên cớ duy nhất ở trên đời mà thôi.

Đúng lúc đó, một đầu tàu xe lửa không kéo theo toa, một mình chạy không tải qua cầu, từ Hà Nội sang Gia Lâm, khi ngang qua chỗ chúng tôi đã bất thần rúc còi. Có thể nói đầu tàu ấy cất tiếng than. Không phải về sau mường tượng lại mà tôi nói thế, mà thật sự là như thế, đấy là tiếng kêu, như của con người. Lập tức, một chiếc tàu kéo neo đậu đâu đó ở mạn Phà Đen cũng cất lên tiếng còi. Rồi từ phía ga Gia Lâm, nhiều đầu xe lửa khác đồng loạt cất tiếng. Những tiếng còi tàu đớn đau khản đặc vang vọng trong màn mưa.

Phía dưới, bên chiếc xe chở chúng tôi, một phụ nữ đang dắt xe đạp bỗng bật khóc thành tiếng. Cả ngàn người không thể cầm lòng đã không cầm được nước mắt. Tiếng nức nở truyền dọc đoàn người, lan đi trên cầu, ngang qua triền sông…

3. Năm tháng trôi qua, giờ đây nhìn về thời điểm ấy, qua những bức ảnh và thước phim tư liệu, người ta thường thấy một Hà Nội nước mắt. Nhưng những ai từng thật sự trải qua những ngày đó khi nhớ lại đều sẽ nhớ đến một Hà Nội trầm lắng, cương nghị. Cả một thành phố cắn chặt răng lại chịu đựng để trụ vững, vượt qua nỗi đau tột cùng.

Hồ Chủ tịch qua đời, mất mát lớn lao đó đã khiến toàn dân sát cánh bên nhau hơn bao giờ hết, biến nỗi đau thương thành sức mạnh. Nghe những lời đó, ngày nay người ta có thể thấy là văn vẻ và đại ngôn. Song với những ai đã sống trong lòng Hà Nội vào mùa thu năm 1969 thì khi nghe nhắc lại những lời tưởng như là khẩu hiệu ấy sẽ nhìn thấy lại rõ ràng tâm trạng, ý chí, nghị lực, bản lĩnh của chính bản thân mình, gia đình mình, bạn bè, hàng xóm của mình ngày đó.

Với những người ở lứa tuổi chúng tôi, sinh ra trong những năm 1950, 1951, 1952, nhập ngũ từ khoảng năm 1968 trở về sau, nếu được hỏi năm nào là năm ác liệt nhất trong đời bộ đội đều nói là năm 1972, tuy nhiên gian khổ nhất, nguy nan nhất thì hầu hết xác định là năm 1969, 1970. Đấy là thời sau Mậu Thân, mà cũng nhiều người gọi là “thời kỳ đầu sau ngày Bác mất “.

Làm thế nào, nhờ vào đâu nhỉ mà đồng đội mình và chính bản thân mình có thể chịu đựng được, trụ vững được trong những ngày tháng vượt quá xa sức chịu đựng của con người như vậy để rồi vượt qua, gồng mình gượng dậy, vươn dậy; để rồi cuối cùng tiến được tới ngày toàn thắng?

Tháng 9-1969, ngày tập trung tân binh của khu đội Ba Đình lẽ ra là mồng bảy, đã phải lùi tới ngày 15. Một là vì nguyện vọng của anh em chúng tôi muốn được lưu lại Hà Nội trong tuần quốc tang để được xếp hàng cùng mọi người vào hội trường Ba Đình viếng Bác, hai là vì số lượng thanh niên tình nguyện nhập ngũ nhiều lên vô kể trong những ngày ấy. Tình nguyện một cách quyết liệt, mong mỏi được lên đường ngay, không chấp nhận nán chờ đến đợt sau. Tất nhiên không riêng khu Ba Đình, không riêng Hà Nội mà cả nước, địa phương nào cũng thế.

Đợt tân binh mùa thu năm ấy, được gọi là đợt 969, đoàn 969, là một đợt mà trong đó rất nhiều người là con trai cuối cùng hoặc là con trai độc nhất của các bà mẹ, nghĩa là những người vốn không thuộc vào diện được gọi tòng quân nhưng vẫn nhất định dứt áo ra đi lên đường chiến đấu.

Trong tiểu đoàn tân binh chúng tôi hồi đó có cả một số bạn học đã có giấy gọi vào đại học trong nước và cả nước ngoài. Có người đã trên tàu liên vận tới biên giới Việt – Trung rồi, nghe tin Bác mất thì xuống tàu, quay trở về Hà Nội nhập ngũ…

4. Ngày 30-4-1975, khắp cả nước đâu đâu cũng vang dậy bài ca Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Khi đó đang ở Sài Gòn, lần đầu tiên nghe thấy bài hát ấy, trước mắt những lính 969 chúng tôi, tất nhiên, một cách không thể nào khác được, hiện lên cảnh tượng Hà Nội mùa thu năm 1969. Mà với riêng tôi thì cụ thể là khoảnh khắc đó, trên cầu Long Biên, ngang qua giữa sông Hồng sóng xô cuồn cuộn, khoảnh khắc thoạt tiên và bất thần, choáng váng biết tin Hồ Chủ tịch đã qua đời.

Biết tin Bác mất nhưng không phải là do nghe thông báo qua đài phát thanh, mà là nhìn thấy tin đó ở thần sắc và tâm khảm của tất cả mọi người, cảm thấy tin đó từ trong không gian đất trời.

BẢO NINH (nhà văn)

(*) Trích đăng từ báo Văn Nghệ Trẻ.

_________________________

Chúng tôi khóc trong rừng miền Đông

40 năm rồi mà ký ức về những ngày tháng “đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa” vẫn làm trái tim 82 tuổi của nhà văn Sơn Tùng run lên vì xúc động. Ông kể với Tuổi Trẻ về một lễ tang đặc biệt nhất trong cuộc đời mình – lễ tang Bác Hồ trong chiến khu miền Đông Nam bộ tháng 9-1969.

Chúng tôi đóng quân tại trảng Tà Nốt, thượng nguồn sông Vàm Cỏ, sát Tân Biên, Tây Ninh. Ngày ấy tôi là người phụ trách kiêm phóng viên của báo Thanh Niên Giải Phóng. Lãnh đạo cơ quan có anh Đoàn Hồng Đoàn – bí thư trung ương Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng, anh Lê Thiết – phó chủ tịch Hội LHTN Giải phóng (chủ tịch là anh Trần Bạch Đằng lúc đó đang vào nội thành), anh Phan Minh Tánh, anh Mười Thu, nhân viên văn phòng có Hai Trung, Út Nhì, Năm Nhanh, Hồ Hữu Nhật, trạm xá có bác sĩ Bích Nga, phóng viên có Phạm Hậu, Tâm Tâm (Tiền Phong)…

Tôi nhớ từng người như vậy vì chúng tôi đã ngồi quanh chiếc đài để nghe tin tức chiến sự và các hoạt động mừng ngày 2-9. Tối hôm đó, chúng tôi còn tổ chức mừng Quốc khánh bằng một “bữa tiệc” với lạc rang, rượu đế và nước trà. Không có ly chén, chỉ có hai chén, một rót rượu, một rót trà, chúng tôi quay vòng, chuyền tay nhau. Và chờ đợi.

Nhưng suốt cả ngày rồi đến đêm, chiếc đài vẫn nói và Bác vẫn không xuất hiện. Anh em tôi ngồi trong những căn nhà – hầm bán âm bán dương để tránh pháo bầy và bom B52, không khí nặng nề. Hôm sau dường như cũng không chịu nổi, anh Thép Mới ở bên báo Giải Phóng cũng chạy sang, bần thần: “Sơn Phong (bút danh của tôi thời ở chiến khu) ạ, tao vừa sang nhờ bên kỹ thuật điện ra Bắc hỏi sao không thấy Bác, anh em băn khoăn lắm”. Chúng tôi lại chờ đợi. Chúng tôi không ngủ suốt đêm đó.

5g hôm sau, ngày 4-9-1969, giọng nghẹn ngào của phát thanh viên Tuyết Mai từ Đài Tiếng nói VN, vừa mới nghe được nửa câu đầu: “Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ nước VNDCCH…” cả căn hầm đã bật khóc, tiếng khóc nghẹn ngào rồi òa lên nức nở. Cả cơ quan khóc ròng.

Tôi nhớ người đầu tiên chạy đến ôm lấy tôi nấc lên từng đợt là giáo sư Lê Thiết – người bạn thân thiết của luật sư Nguyễn Hữu Thọ và KTS Huỳnh Tấn Phát – bỏ thành lên chiến khu, ngày đêm mong ước hòa bình được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Ông nghẹn giọng: “Tùng ơi, thế là không khi nào mình còn được gặp Bác Hồ nữa rồi”.

Cả cơ quan u ám. Cơm đã dọn ra nhưng không ai ăn, bữa sáng, rồi bữa trưa, bữa tối cũng vậy. Chỉ những ai có việc phải đi công tác thì đi, vừa đi vừa khóc.

Chúng tôi quyết định tổ chức lễ truy điệu Bác Hồ ngay trong rừng. Bàn thờ Bác được kết băng hoa, chị em đi về hằng ngày luôn thay hoa mới. Chúng tôi đeo những chiếc băng tang nửa đỏ nửa đen. Sáng ra, đều đặn những bát cơm được đặt lên bàn thờ – như ở nhà chúng tôi cúng cha mẹ mình.

Tôi nhớ nhất trong những ngày ấy, có một tờ báo từ Sài Gòn đưa lên có bài của giáo sư Lý Chánh Trung viết về Bác. Trên tờ Đối Diện, từ giữa Sài Gòn, ông viết về Bác Hồ cực kỳ trân trọng và cảm động. Có những câu tôi thuộc lòng đến tận hôm nay.

Cũng chính từ lúc đó, tôi bắt đầu ghi chép những chi tiết về tang lễ và tình cảm của đồng bào, đồng chí với Bác để viết tập Nhớ nguồn: trí thức, sinh viên nội thành, chiến khu, đồng bào trong ấp chiến lược… nhớ Bác, anh em trinh sát ở Tháp Mười còn để tang Bác trong mùa nước nổi không một tấc đất nào nhoi nổi trên mặt nước.

VIỆT HOÀI ghi

tuoitre.vn

Những vần thơ về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Người

TT – Một người không Phật mà rất Phật
Không tắm Hoàng Hà tắm sông Lam

Một người rất Mác mà ngoài Mác
Nghèo như chút nhút ngọt như cam

Một người quốc tế vì dân tộc
Một lòng sau trước nghĩa kết đoàn

Một người hóa thân thành dân nước
Không là thần thánh chẳng vua quan

Một người mang đủ bao khao khát
Như mọi con người ở trần gian

Cuộc đời vạn biến mà không khác
Một người toàn vẹn chỉ Việt Nam.

VIỆT PHƯƠNG (2005)

Ảnh tư liệu

Di chúc của Người

… Bác bình yên viết Di chúc ngay giữa ngày sinh nhật
Khi non sông đang chúc thọ Người
Dẫu ra đi cũng là ngày gieo hạt
Giấu niềm đau dưới một ngày vui.
Di chúc không viết lên đá, khắc lên vàng chói lọi
Mà trên bản tin hằng ngày, lật lại,
Sau bản tin một hôm, Người ký thác chuyện muôn đời.
Người không muốn lúc ra đi làm ta đột ngột
Bảo cái sinh cái tử cũng thường thôi
Câu thơ Đỗ Phủ “cổ lai hi”, Người sẽ nhắc
Bác chẳng muốn ta cau vầng trán nhìn quy luật
Bác không nói tuổi già, Bác bảo tám mươi xuân!
Lời văn trong suốt trong veo như nước mắt,
Cái nỗi đau đã lọc đến trong ngần.

Ôi, muôn vàn tình thương yêu tỏa ra từ lúc ấy
Muôn vàn tình thương yêu tràn lên khắp núi sông
Ngỡ như trên nghìn đỉnh non cao, vạn dòng nước chảy
Có tình thương của Bác bao trùm.

Người sắp xa nhân dân từng yêu suốt một đời
Xa miền Nam nửa thế kỷ rồi chẳng gặp
Xa các cháu nhi đồng, mùa hoa Tổ quốc
Gần Mác, Lênin, nhưng sắp chia tay đồng chí đấy rồi!

Di chúc Người viết cho ta, đâu phải vì Người
Bác sợ khi Bác đi rồi, ta sẽ lạnh
Sợ ta đau, sợ rồi ta lơ đễnh,
Sợ ta quên…
Người gửi lại một niềm tin
Còn như Người, Người đã hóa hương sen,
Trở về cái làng Sen muôn thuở
Mắt rưng lệ, ta đọc Di chúc Người từng câu từng chữ
Ngỡ như trước mắt, trên cao đâu đó, Bác nhìn.

CHẾ LAN VIÊN
(19-3-1976 – trích)

____________________

Thấm trong di chúc

… Quá thương đời và lo nỗi dân đau,
Bác cố tránh nói những lời ly biệt
Mượn câu thơ để khuây lòng thương tiếc.
Ôi lòng Người đo sao hết mông mênh
Nghĩ việc gì Bác cũng nghĩ từ dân
Nói về Đảng cũng vì dân mà nói,
Nước còn giặc, dân còn khi lạnh đói
Bác đắng lòng trong mỗi miếng cơm ăn,
Thắng quân thù dẫu phải mấy mươi năm
Nhưng hạt thóc rụng giữa đồng Bác tiếc.
Nguồn biển lớn uống muôn đời không hết
Vẫn kính nhường từng hạt nước trong sông.
Bác Hồ ơi! Vị muối mặn con ăn
Đã kết đậm bao tình thương của Bác,
Manh áo ấm con mặc khi trở rét
Đã dệt vào trăm mối Bác lo toan.
Phút giã từ trong ánh mắt đăm đăm
Nỗi ưu ái lại trào lên lần chót:
Hãy giữ đức cho trong, giữ lòng cho khiết
Sống kiệm cần, tương kết tương thân…

… Thế kỷ này đâu phải đã bình yên
Trái tim lớn nặng niềm đau mặt đất.
Tình bè bạn, phút ra đi, còn nhắc
Dao cắt lòng nhưng vẫn ngập yêu tin.

Lần đầu tiên Bác nói đến niềm riêng,
Cả nước khóc nghe những lời dặn cuối.
Ôi trời rộng và núi cao vời vợi
Sông biển nào sánh được Bác thương ta!
Bữa cơm ăn vẫn quen nhút quen cà,
Lúc nhắm mắt xin dân đừng tang chế.
Ôi tim Bác sao mà mênh mông thế!
Gương trong ngần cho muôn thuở cùng soi.

Triệu lòng người cùng cất gọi: Bác ơi!
“Muôn vàn tình thương yêu” Bác gửi lại trong lời.

VŨ QUẦN PHƯƠNG
(12-1969 – trích)

Về ba bản Di chúc của Bác Hồ

Di chúc của Bác có ba bản: bản viết năm 1965, bản viết năm 1968 và bản cuối cùng viết năm 1969. Những năm 1966, 1967 Bác chỉ xem chứ không sửa.

Bản di chúc viết năm 1965 gồm ba trang, Bác tự tay đánh máy (ghi rõ nhân dịp mừng 75 tuổi), đây là nội dung cơ bản của Di chúc, tương đối hoàn chỉnh so với những gì chúng ta đã biết.

Bản viết năm 1968 dài sáu trang, Bác viết tay hoàn toàn. Bác đã xem lại bản năm 1965, viết thêm về những việc cần làm của Đảng. Bác viết cả hai mặt giấy, đó là thói quen của Người, hoặc viết trên giấy một mặt, đã là giấy trắng thì bao giờ cũng viết tay trên cả hai mặt.

Bản cuối cùng năm 1969, chỉ có một trang, Bác viết thêm đoạn mở đầu của Di chúc. Đây cũng là bản viết tay, Bác viết trên mặt sau của tờ Tin Nhanh Tham Khảo Đặc Biệt của TTXVN mà ngày nào Bác cũng đọc để nắm tình hình đất nước và thế giới. Bản tin đề ngày 3-5-1969.

Cả ba bản thảo gốc Di chúc của Bác Hồ hiện còn nguyên hiện trạng, chất lượng tốt, được bảo quản tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng. Bản trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh là bản photocopy màu.

Tiến sĩ NGUYỄN THỊ TÌNH
(nguyên giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh)

tuoitre.vn

Báo Pháp viết về sự kiện Bác Hồ đến Marseille

Báo tin tức – Nhân kỷ niệm 100 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pháp, báo La Marseillaise, nhật báo của vùng Provence ở miền nam nước Pháp, đã dành trọn một trang khổ A3 và dòng tiêu đề chữ lớn ngay trang nhất của báo để giới thiệu sự kiện này, qua bài viết “Cách đây 100 năm, Hồ Chí Minh khám phá Marseille”.

Con tàu Đô đốc Latouche Tréville đã đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đến Pháp.

Báo đăng toàn văn bài phỏng vấn ông Nguyễn Văn Bổn, Phó Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp về những hoạt động của Bác khi tới thành phố Marseille của Pháp trên hành trình tìm đường cứu nước và sử dụng bức tranh minh họa vẽ Bác Hồ trên con tàu Đô đốc Latouche Tréville trên đường tới Pháp.

Trả lời các câu hỏi của phóng viên Leo Purguette, ông Nguyễn Văn Bổn đã giới thiệu với độc giả thành phố biển Marseille về sự kiện người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đặt chân tới thành phố này cách đây 1 thế kỷ, cũng như những nhận thức của Bác về các vấn đề “giai cấp,” “thuộc địa,” “chủ nghĩa xã hội”… trước khi Bác đi tìm đường cứu nước. Ông đã giúp độc giả Pháp tìm hiểu vì sao Bác Hồ lại tìm đường tới nước Pháp, thấy được ý nghĩa của những chuyến khám phá đầu tiên này đối với cả sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như tình cảm của kiều bào Việt Nam tại Pháp đối với Bác Hồ.

Báo La Marseillaise đăng bài viết đúng dịp triển lãm “Bác Hồ với nước Pháp” diễn ra tại thành phố Marseille.

Bà Hélène Luc, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt, nhấn mạnh, cuộc triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp tăng cường và phát triển những giá trị của tình đoàn kết Pháp – Việt.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nỗ lực phát triển tình đoàn kết giữa hai nước Việt Nam và Pháp. Những người cộng sản Pháp đầu tiên đã đón nhận người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc vào hàng ngũ của mình tại Đại hội Tours năm 1920. Sau đó, những nhà cách mạng Pháp như Henri Barbusse, Romain Roland đã hết lòng ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Nam trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và vận động công luận Pháp phản đối Hoa Kỳ xâm lược Việt Nam. Ngày nay, Hội hữu nghị Pháp – Việt sẽ tiếp tục ủng hộ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đưa ra nhiều sáng kiến ủng hộ cuộc đấu tranh đòi công lý cho các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam.

Lê Hà (P/v TTXVN tại Pháp)

baotintuc.vn

Trở lại nơi Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập

Báo tin tức – Vào những ngày đầu tháng 9 lịch sử, chúng tôi có dịp trở lại ngôi nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, nơi Bác Hồ đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước ngày 2/9/1945. Ngôi nhà này đã được công nhận là Di tích Lịch sử văn hóa vào ngày 29/4/1979.

Những dấu ấn lịch sử

Dịp này, cán bộ của điểm di tích 48 Hàng Ngang- 35 Hàng Cân (Bảo tàng Hà Nội) đang chuẩn bị triển lãm chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bản Tuyên ngôn độc lập” dự kiến diễn ra trong quý IV/2011. Bà Nguyễn Thị Mai, phụ trách điểm di tích này cho biết: “Trưng bày dự kiến chia làm 3 phần: Ngôi nhà Hàng Ngang nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Bản Tuyên ngôn độc lập; Tư tưởng Hồ Chí Minh trong Bản Tuyên ngôn độc lập; Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên định giữ vững nền độc lập tự do. Những tư liệu, hiện vật, ảnh giới thiệu… tại triển lãm lần này do Bảo tàng Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh và TTXVN hỗ trợ, cung cấp. Do điểm di tích này gắn với sự ra đời của Bản Tuyên ngôn độc lập nên triển lãm sẽ tập trung vào chủ đề này. Bản thân căn phòng, nơi Bác và các đồng chí Trung ương Đảng làm việc, tại tầng 2 của tòa nhà này, cũng đã là một minh chứng cho một thời khắc lịch sử của Cách mạng Việt Nam”.

Phần trưng bày ở tầng 1 tại 48 Hàng Ngang.

Theo bà Mai, trưng bày lần này sẽ có phần dành riêng liên quan đến chủ ngôi nhà 48 Hàng Ngang là gia đình nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô và lịch sử ngôi nhà 48 Hàng Ngang – nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử gắn liền với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. “Bên cạnh đó, triển lãm cũng làm nổi bật sự kế thừa truyền thống dân tộc của Bản Tuyên ngôn độc lập qua hai bản trích bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt- được nhìn nhận như là Bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Đại Việt thế kỷ XI và “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi – Bản Tuyên ngôn độc lập thứ 2 của Đại Việt thế kỷ XV. Và Bản Tuyên ngôn độc lập của Bác Hồ là kế thừa truyền thống đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc ta”, bà Mai cho biết thêm.

Nơi Bác Hồ họp với Thường vụ Trung ương Đảng (1945).

Nơi Bác Hồ viết Bản Tuyên ngôn độc lập (1945).

Được biết, trước đây, điểm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập chỉ có tầng 1 và tầng 2 của tòa nhà 48 Hàng Ngang; phần còn lại do Chi cục Thuế Hoàn Kiếm sử dụng. Năm 2008, di tích này đã được UBND thành phố Hà Nội khôi phục nguyên gốc gồm cả tòa nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân với diện tích mặt sàn hơn 443 m2. Trong khoảng thời gian năm 2008 – 2009, điểm di tích này tạm đóng cửa để tu sửa. Vào dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, nơi đây mới mở cửa trở lại với trưng bày chuyên đề “Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, diễn ra từ tháng 5/2010. Hiện nội dung trưng bày này vẫn tiếp tục tại tầng 1 của ngôi nhà 48 Hàng Ngang.

Được sự giới thiệu của cán bộ điểm di tích 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, chúng tôi đã có dịp gặp bà Hoàng Thị Minh Hồ, vợ ông Trịnh Văn Bô. Năm nay, dù 97 tuổi nhưng bà vẫn còn minh mẫn khi kể về những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Bà Hoàng Thị Minh Hồ kể: “Ngôi nhà đã được ông bà sửa sang, tôn tạo theo lối kiến trúc hiện đại thời thuộc Pháp. Nhà có 4 tầng, tầng 1 làm cửa hàng bán tơ lụa tại 48 Hàng Ngang, còn phía 35 Hàng Cân là nơi để xe, kho hàng. Tầng 2 và tầng 3 có nhiều phòng dùng làm phòng tiếp khách, phòng ăn, phòng ngủ. Tầng 4 ngoài phòng để ở còn có một sân thượng phơi phóng. Ngôi nhà chạy dài theo kiểu “nhà ống” truyền thống, mặt trước là cửa hàng, còn mặt sau quay ra 35 phố Hàng Cân.

Lưu bút của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong sổ lưu niệm của di tích 48 Hàng Ngang- 35 Hàng Cân.

Do nằm ngay giữa khu buôn bán nhộn nhịp nên ngôi nhà 48 Hàng Ngang đã được chọn làm địa điểm đón Bác Hồ. Hơn thế, gia đình ông bà Trịnh Văn Bô là một gia đình yêu nước, được giác ngộ cách mạng và là một trong những cơ sở cách mạng tại nội thành, nên nơi đây đã được chọn làm nơi ở và làm việc của Bác cùng các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng trước ngày khởi nghĩa. Các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh đã đưa Bác đến ngôi nhà này. Xe ô tô đưa Bác không đỗ ở cửa trước mà đi vòng lối cổng sau thuộc phố Hàng Cân, vào tận sân trong.

Bà Hoàng Thị Minh Hồ kể: “Dịp cuối tháng 8/1945, gia đình tôi chỉ biết có một “thượng cấp” đến ở và làm việc. Khi các anh Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh dẫn Bác vào nhà, chúng tôi ra chào. Tôi còn nhớ Bác mặc rất giản dị, áo nâu, quần soóc nâu, đội mũ dạ. Chúng tôi đưa Bác lên gác 3, nơi tôi đã dọn sẵn một buồng, nhưng Bác lại xuống tầng 2 ở luôn cùng các đồng chí và làm việc tại đó. Đến ngày 2/9, khi Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, gia đình tôi mới biết “thượng cấp” ở nhà chúng tôi chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bà Hoàng Thị Minh Hồ (thứ 2 từ trái sang).

“Những ngày tháng 8 này, tôi vẫn nhớ như in những ngày tháng hào hùng đó. Phố nào cũng có cờ đỏ sao vàng, người dân đổ ra đường đấu tranh, mít tinh giành độc lập. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố đất nước độc lập, người dân nào cũng vui vì từ nay không còn là người dân nô lệ nữa. Đó là điều sung sướng nhất”, bà Hoàng Thị Minh Hồ cho hay.

Làm sống động di tích

Đến điểm di tích 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, chúng tôi được chị Nguyễn Bích Hạnh, cán bộ điểm di tích dẫn đi thăm, giới thiệu về ngôi nhà, chỉ dẫn nơi Bác đã ở và làm việc tại ngôi nhà này từ ngày 25/8 đến đầu tháng 9/1945; nơi Bác cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định nhiều chủ trương quan trọng về đối nội, đối ngoại trong tình hình mới; về thể chế và thành phần của Chính phủ mới, về tổ chức ngày lễ Độc lập… Cũng chính tại căn phòng ở tầng 2 của ngôi nhà này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây cũng là văn kiện pháp lý, tuyên bố với toàn thế giới về quyền độc lập tự do của Việt Nam.

Chị Hạnh cho biết, du khách vào thăm điểm di tích này chủ yếu là khách nước ngoài; còn khách nội địa chủ yếu theo đoàn đến nhân dịp ngày lễ như thành lập Đoàn, dịp Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Bình quân khoảng 40 – 50 khách/ngày. Khảo sát ý kiến của các doanh nghiệp du lịch tại khu phố cổ cho thấy, khách quốc tế đến điểm di tích 48 Hàng Ngang vì muốn được chứng kiến nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Bản Tuyên ngôn độc lập. Tuy nhiên, hiện tại phần trưng bày chuyên đề về Bác ở đây không có gì mới so với hiện vật có tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, nơi mà nhiều du khách đã ghé thăm khi vào Lăng viếng Bác. Hiện tại dù căn nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân đã được khôi phục nguyên gốc, nhưng phần cho du khách tham quan vẫn chỉ là tầng 1 và tầng 2 của khối nhà 48 Hàng Ngang, nên họ chỉ ghé qua chụp vài bức ảnh lưu niệm rồi về.

Theo các doanh nghiệp du lịch, điểm di tích này chưa thực sự tạo thành điểm thu hút do chưa đa dạng phần nội dung. Bên cạnh giới thiệu với du khách về một điểm Bác Hồ đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, điểm di tích này có thể khôi phục, giới thiệu các nét văn hóa của người Hà Nội đầu thế kỷ 19, nhất là nơi đây từng là cửa hàng bán lụa nổi tiếng. Sự giới thiệu đa dạng về các hoạt động văn hóa như ngôi nhà cổ 87 Mã Mây là điều đáng để học tập, để di tích đến gần với cuộc sống. Có vậy mới tạo được sức hút với du khách.

Tầng 2, nơi Bác viết Bản Tuyên ngôn độc lập gồm hai căn phòng, một phòng tiếp khách và một phòng Bác ở. Phòng tiếp khách có ban công nhìn ra mặt phố Hàng Ngang, rộng chừng 50 m2, có cửa kính, cửa chớp, che rèm lụa trắng. Căn phòng nhỏ Bác ở có diện tích khoảng 20 m2, đồ đạc rất đơn sơ. Chính tại căn phòng nhỏ bé này, Bác Hồ đã khởi thảo Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bài và ảnh: Xuân Minh

baotintuc.vn

Những kỷ niệm của nhà báo nước ngoài cuối cùng phỏng vấn Bác Hồ

Báo tin tức – Chắc rất nhiều người khi nghĩ đến những người bạn Cuba thân thiết của nhân dân Việt Nam, đều nói đến nữ nhà báo Marta Rojas. Bà đã từng nhiều năm lặn lội trên đất nước Việt Nam trong thời gian chiến tranh, từ các tỉnh đồng bằng Bắc bộ cho tới những khu rừng bạt ngàn ở chiến trường miền Nam, và những bài báo của bà đã giúp cho nhân dân Cuba và Mỹ Latinh hiểu rõ thêm về cuộc đấu tranh chính nghĩa vì độc lập dân tộc của Việt Nam. Nhưng kỷ niệm không thể nào quên trong cuộc đời làm báo của bà Marta Rojas chính là cuộc phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tháng 7/1969, chỉ hai tháng trước khi Người mãi mãi đi xa. Đó cũng chính là cuộc phỏng vấn cuối cùng của một nhà báo nước ngoài với vị lãnh tụ vô vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam.

Nhà báo Marta Rojas và bức ảnh mà Bác Hồ ký tặng bà sau cuộc phỏng vấn vào tháng 7/1969. Ảnh: Hoài Nam

Chúng tôi đến gặp nhà báo Marta Rojas tại nhà riêng vào một ngày giữa tháng 8 với mong muốn được bà thuật lại kỷ niệm về những chuyến đi thực tế ở chiến trường Việt Nam, và đặc biệt là cuộc phỏng vấn lịch sử với Bác Hồ. Khi biết được ý định của chúng tôi, cảm xúc của bà Marta Rojas dường như dâng trào. Những hoài niệm về một thời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết ngay lập tức trở lại trong tâm trí của Marta Rojas. Với một trí nhớ tuyệt vời, một giọng kể ấm áp và đầy cuốn hút, câu chuyện của bà khiến chúng tôi cảm tưởng như tất cả vừa mới diễn ra hôm qua…

Marta Rojas và chị Phan Thị Quyên, vợ của anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi trong rừng Tây Ninh. Ảnh: tư liệu của bà Marta Rojas

Đó là vào năm 1965. Marta Rojas, một phóng viên trẻ của báo Revolucion (Cách mạng), nhận được chỉ thị trực tiếp của Tổng tư lệnh Fidel Castro với yêu cầu phải sớm sang Việt Nam để tìm hiểu và thông tin một cách sống động và chân thực nhất về cuộc chiến đấu anh dũng, quả cảm của nhân dân Việt Nam vì độc lập dân tộc. Ngay khi chuẩn bị lên đường, bà Marta Rojas đã ấp ủ ý định phải bằng mọi cách phỏng vấn được Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện lúc bấy giờ không cho phép nên bà đành phải gác lại “ước muốn cháy bỏng” đó với niềm tin sẽ có một ngày được gặp Bác Hồ. Năm đó bà Marta Rojas được đưa tới Campuchia và từ đó vượt rừng vào căn cứ địa của cách mạng miền Nam Việt Nam ở Tây Ninh. Trong thời gian ở cùng với các chiến sỹ cách mạng Việt Nam, bà đã viết hàng loạt bài báo để gửi về nước và nhờ đó nhân dân Cuba ở bên kia địa cầu càng hiểu thêm về cuộc kháng chiến trường kỳ đầy vất vả gian lao nhưng cũng vô cùng vẻ vang của nhân dân Việt Nam.

Nhà báo Marta Rojas (thứ tư từ phải sang) đang được các chiến sỹ quân giải phóng hướng dẫn cách lắp súng trong rừng Tây Ninh. Ảnh: tư liệu của bà Marta Rojas

Liên tiếp những năm sau đó bà Marta Rojas đều dành thời gian để đến với đất nước Việt Nam. Cũng vì tình yêu với đất nước hình chữ S mà bà đã tham gia tích cực vào các phong trào đoàn kết với Việt Nam và từng có mặt tại một số diễn đàn quốc tế với tư cách là một nhân chứng sống để tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ chống lại nhân dân Việt Nam. Và rồi tới năm 1969, trong một chuyến đi như bao chuyến đi khác mà bà thực hiện tới Việt Nam, Marta Rojas tiếp tục bày tỏ nguyện vọng được phỏng vấn Bác Hồ với các đồng chí lãnh đạo Việt Nam. Một ngày giữa tháng 7/1969 khi đang trọ tại khách sạn Thống Nhất, bà Marta Rojas bất ngờ nhận được một cuộc điện thoại của Tổng Biên tập báo Nhân Dân Hoàng Tùng với lời nhắn: “Sáng mai đúng 6 giờ 30 tôi sẽ đón đồng chí vào gặp Bác Hồ”.

Bà Marta Rojas bồi hồi nhớ lại: “Sáng hôm đó khi cùng với đồng chí Hoàng Tùng và một đồng chí phiên dịch vừa bước vào khuôn viên Phủ Chủ tịch thì tôi đã thấy từ xa một cụ già tươi cười tiến lại gần và chủ động chào tôi bằng tiếng Tây Ban Nha “Buenos días, Marta” (Chào buổi sáng đồng chí Marta). Sau một thoáng bất ngờ tôi nhận ra đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu mà tôi luôn ước ao được gặp mặt. Đã được đọc và nghe nhiều về Bác Hồ nhưng được gặp trực tiếp tôi mới cảm nhận hết được sự giản dị, gần gũi và lịch thiệp trong con người vĩ đại đó. Lúc đó Bác cũng hỏi thăm tôi về sức khỏe của đồng chí Fidel Castro và nói rằng bác rất thích đọc các bài diễn thuyết của vị Tổng tư lệnh đáng kính của nhân dân Cuba”.

Bà Marta Rojas (đội khăn rằn), nhà báo Raul Valdez Vivo (ngồi bên cạnh) đang được các chiến sỹ Quân giải phóng đưa qua sông. Ảnh: tư liệu của bà Marta Rojas.

Bà Marta Rojas kể rằng trong gần 30 phút đầu tiên của cuộc gặp gỡ đó, dường như bà trở thành người “bị phỏng vấn” khi Bác hỏi thăm về chuyến đi vào miền Nam đầu tiên của bà năm 1965. Bác cũng muốn biết về những cảm nhận của một nhà báo nước ngoài khi được tận mắt chứng kiến cuộc sống và tinh thần chiến đấu của các chiến sỹ ở miền Nam. Bà Marta Rojas vô cùng xúc động khi nhắc lại câu nói của Bác Hồ sau khi nghe bà tường thuật lại những trải nghiệm của mình rằng: “Nỗi đau và sự chịu đựng của nhân dân miền Nam cũng chính là nỗi khổ tâm của tôi. Tình yêu tôi dành cho nhân dân ở miền Nam cũng giống như nhân dân ở miền Bắc. Tôi luôn dành cả cuộc đời vì hạnh phúc của nhân dân mình”.

Bác Hồ cũng đề nghị bà Marta Rojas kể lại chuyến đi mà bà vừa thực hiện trước đó ít ngày vào khu vực vĩ tuyến 17 và hỏi thăm về lá cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở phía Bắc sông Bến Hải. “Bác nói rằng ngay ở những thời điểm khốc liệt nhất, hứng chịu nhiều nhất các đợt ném bom của kẻ thù thì lá cờ đó cũng không bao giờ ngừng tung bay. Quân và dân Việt Nam ở vùng đất lửa đó đã làm tất cả để bảo vệ lá cờ. Đó là biểu tượng của một nước Việt Nam thống nhất. Những tấm gương đó đã tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi trong cuộc chiến đấu trường kỳ”, nhà báo Marta Rojas hồi tưởng lại và cho biết thêm lúc đó bà nhận thấy trong ánh mắt của Bác Hồ một niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam.

Bà Marta Rojas cũng chia sẻ với Bác về tình hình của Cuba, cũng như tình cảm mà lãnh đạo và nhân dân Cuba anh em dành cho đất nước Việt Nam anh hùng. Bác Hồ đã gửi lời thăm hỏi tới các đồng chí lãnh đạo và nhân dân Cuba và kết luận bằng câu nói ví von: “Việt Nam và Cuba là hai người anh em ở hai nửa địa cầu. Khi Cuba ngủ thì Việt Nam thức để canh gác và khi Việt Nam ngủ thì Cuba thức để bảo vệ”.

Nhà báo Marta Rojas cũng nhớ lại một chi tiết vô cùng thú vị trước khi chia tay với Bác: “Với ước ao được phỏng vấn Bác Hồ nên trước mỗi chuyến đi tôi đều chuẩn bị một món quà để nếu có dịp gặp Người tôi sẽ tặng làm kỷ niệm. Trước chuyến đi năm 1969 đó, khi tôi đang còn đang loay hoay suy nghĩ xem chuẩn bị đồ lưu niệm gì thì đồng chí Celia Sanchez (thư ký của Tổng tư lệnh Fidel Castro) nói với tôi rằng nên mang một chiếc gạt tàn vì Bác Hồ có thói quen hút thuốc. Và đó là món quà tôi đã mang sang Việt Nam. Khi kết thúc cuộc phỏng vấn tôi đã đưa chiếc gạt tàn tặng Người. Bác Hồ rất vui vẻ nhận món quà của tôi và nói rằng Người đã bỏ thuốc rồi tuy nhiên chiếc gạt tàn đó vẫn rất có tác dụng. Vừa nói Bác vừa với tay lên bàn làm việc lấy những chiếc ghim giấy đặt vào chiếc gạt tàn”.

Bà Marta Rojas thổ lộ, điều đọng lại lớn nhất trong tâm trí của bà sau cuộc gặp gỡ đó chính là sự giản dị, chân thành và gần gũi trong con người vĩ đại của Bác Hồ. Sau này bà cũng đã có nhiều dịp thăm lại Việt Nam và mỗi lần trở lại bà đều nhận thấy những sự “thay da đổi thịt” của mảnh đất Việt Nam anh hùng đúng với mong muốn “xây dựng đất nước mười lần tươi đẹp hơn” của Bác.

Hoài Nam (P/v TTXVN tại Cuba)

baotintuc.vn

Về “Thủ đô kháng chiến” nghe kể chuyện Bác Hồ

Báo tin tức – Trong thời gian Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác Hồ đã có gần 6 năm sống và làm việc tại các địa điểm khác nhau trên đất Tuyên Quang. Đến tận bây giờ, những kỷ niệm và hình ảnh về Bác vẫn in đậm trong tâm trí nhiều đồng bào các dân tộc nơi đây. 

“Nhân dân nắng thì Bác cũng nắng”

Đã 66 năm trôi qua, nhưng kỷ niệm về Bác Hồ vẫn in đậm trong ký ức ông Viên Phúc Tần, 87 tuổi, thôn Cả, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang). Ông Tần kể: “Trước Cách mạng tháng Tám, tôi làm Thư ký Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh xã Kim Trận (nay là xã Tân Trào). Nhận chỉ đạo của cấp trên, tôi đã đi vận động cán bộ, nhân dân trong xã làm bè để đón Bác Hồ qua sông Phó Đáy về Tân Trào lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Trong thời gian Bác ở Tân Trào, tôi đã nhiều lần được gặp Bác. Có lần chúng tôi đi học Điều lệ Đảng về thì gặp Bác. Bác liền hỏi “Các cháu đi đâu về?”. Chúng tôi trả lời Bác là đi học về. Bác lại hỏi “Học cái gì?”. Chúng tôi trả lời: “Thưa Bác, chúng cháu đi học Các Mác ạ!”.

Lán Nà Lừa – nơi Bác Hồ đã sống và làm việc từ cuối tháng 5 đến 22/8/1945.

Tuy nhiên, kỷ niệm mà tôi nhớ nhất về Bác là vào năm 1961, Bác về lại Tân Trào, nói chuyện với bà con. Lúc đó, tôi đang là quyền Bí thư Đảng ủy xã Tân Trào. Biết Bác Hồ về thăm, bà con trong xã náo nức lắm. Ngay từ sáng sớm mọi người tập trung tại khu vực đình Tân Trào rất đông để nghe Bác nói chuyện. Trời nắng, một cán bộ bảo vệ lấy mấy tàu lá cọ để che cho Bác, Bác liền xua tay và bảo: “Không phải che cho Bác. Nhân dân nắng thì Bác cũng nắng”.

Cũng theo ông Tần, trong thời gian ở Tân Trào, Bác thường xuyên đi bộ và cải trang bằng chiếc khăn mặt trắng trùm lên đầu…

Rời nhà ông Tần chúng tôi tìm đến ngôi nhà sàn của ông Nguyễn Tiến Sự – người đã nhường nhà cho Bác Hồ sống và làm việc trong thời gian Người mới trở về từ Pác Bó. Ngôi nhà của ông Sự nằm cách cây đa Tân Trào khoảng 50 m. Giờ đây, ông Sự không còn nữa, nhưng các thế hệ con cháu ông vẫn luôn nhớ hình ảnh và những việc làm của Bác. Bà Hoàng Thị Mai, con dâu trưởng của ông Nguyễn Tiến Sự, năm nay đã 71 tuổi, kể lại: “Năm 1945, bố chồng tôi (ông Sự) là Chủ nhiệm Việt Minh xã Tân Trào. Một hôm, gia đình được giao nhiệm vụ đón tiếp bộ đội. Đến sẩm tối thì có một ông cụ mặc áo chàm dân tộc Nùng, đi giày vải, dẫn mấy người vào ngõ. Người trong làng được giới thiệu đó là đồng chí Thượng cấp và đều gọi Người là “Ông Cụ”. Gia đình dành một gian nhà để “Ông Cụ” ở và làm việc. Thường cứ 4 giờ sáng, “Ông Cụ” dậy và đánh thức mọi người dậy cùng tập thể dục, sau đó Cụ mới vào bàn làm việc. Thời gian rảnh Cụ dạy dân học chữ, trồng lúa, thực hiện nếp sống vệ sinh để tránh ốm đau bệnh tật, Cụ luôn gương mẫu đi đầu để mọi người làm theo. Sau đó, “Ông Cụ” chuyển lên lán Nà Lừa ở và làm việc. Và phải đến khi cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi, nước nhà giành độc lập, nhân dân trong huyện nô nức đi rước ảnh Chủ tịch nước thì tôi mới biết “Ông Cụ” là Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Người được Bác Hồ tặng quà cưới

Còn với bà Nông Thị Mơ, dân tộc Tày, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) – người vinh dự được Bác Hồ tặng quà trong ngày cưới, thì dù năm nay đã bước sang tuổi 87, nhưng mỗi khi nhắc đến Bác Hồ, bà vẫn bồi hồi xúc động.

Bà Nông Thị Mơ, dân tộc Tày, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, đang kể cho cháu nghe những kỷ niệm về Bác Hồ.

Tiếp chúng tôi trong ngôi nhà sàn theo kiến trúc truyền thống của dân tộc Tày, bà Mơ tâm sự: “Vào trung tuần tháng 6 năm 1945, vợ chồng tôi tổ chức lễ cưới. Và thật vinh dự cho vợ chồng tôi là hôm tổ chức lễ cưới, Bác Hồ đã tới dự và tặng vợ chồng tôi hai đồng. Số tiền đó được Bác để trong chiếc hộp hình chữ nhật. Bác dặn vợ chồng tôi phải sống hạnh phúc, suốt đời yêu thương nhau”.

Đã 66 năm trôi qua, chiếc hộp đựng tiền của Bác tặng vẫn được bà Mơ lưu giữ cẩn thận như một báu vật trong cuộc đời. Cũng theo bà Mơ, nhớ lời Bác dặn, dù hoàn cảnh gia đình nhiều khi rất khó khăn, nhưng vợ chồng bà luôn thương yêu nhau, chưa khi nào nặng lời với nhau. Hiện 5 người con của bà đều đã trưởng thành và có công ăn việc làm ổn định.

Không chỉ hạnh phúc vì được Bác tặng quà cưới, mà kỷ niệm về những ngày tham gia Việt Minh ở căn cứ địa cách mạng Tân Trào, hình ảnh “Ông Ké Cách mạng” vẫn in sâu trong tâm trí bà và những người dân nơi đây. Ngoài thời gian làm việc, Bác Hồ dành sự quan tâm, thăm hỏi mọi người trong làng. Người còn cùng với bà con lao động, nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ, động viên chị em phụ nữ hăng hái tăng gia sản xuất. Bác Hồ luôn động viên các chiến sỹ phải ăn thật no mới có sức đánh giặc, đem lại tự do cho đồng bào. Bà Mơ kể lại: “Thấy tôi và các chị em khác giã gạo, nấu cơm, Bác Hồ ân cần bảo “Các cô nấu cơm cho bộ đội cũng là đánh giặc đó…”.

Rời Tân Trào khi trời đã xế chiều, phong trào bê tông hóa đường giao thông nông thôn đang được bà con nơi đây triển khai rất khẩn trương để đưa Tân Trào thành vùng quê theo mô hình nông thôn mới. Ông Trần Khắc Viện, Bí thư Đảng ủy xã Tân Trào vui mừng cho biết: Phát huy truyền thống quê hương cách mạng và thực hiện lời dạy của Bác “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Những người thi đua là những người yêu nước nhất”, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong xã Tân Trào quyết tâm đoàn kết, cùng nhau thực hiện thành công các mục tiêu Đại hội Đảng bộ xã đã đề ra, phấn đấu đến năm 2015, thu nhập bình quân đầu người đạt 18 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới giảm dưới 20%; 95% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa…

Những địa danh ở Tuyên Quang Bác Hồ đã ở và làm việc

Thời kỳ tiền khởi nghĩa:
Ngày 21/5/1945: Bác Hồ từ Cao Bằng về tới làng Kim Long, xã Tân Trào (Sơn Dương). Bác ở và làm việc tại lán Nà Lừa tới 22/8/1945 thì rời Tân Trào về Thủ đô Hà Nội. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp:
– Làng Sảo, xã Hợp Thành (huyện Sơn Dương) từ 2/4 – 19/5/1947;
– Khuôn Đào, xã Trung Yên (huyện Sơn Dương) từ 29/11 – 3/12/1947;
– Khuổi Tấu, xã Hùng Lợi (huyện Yên Sơn) từ 4/12 – 7/12/1947;
– Lũng Tẩu, xã Tân Trào (huyện Sơn Dương) từ 12/9 – 16/12/1948 và từ 10/1 – 6/4/1949;
– Xóm 5, xã Trung Trực (huyện Yên Sơn) từ 19/12/1948 – 10/1/1949;
– Khâu Lấu – Vực Hồ, thôn Bòng, xã Tân Trào (huyện Sơn Dương) từ 6/4 – 12/5/1949 và từ 1/6 – 16/10/1949;
– Bản Chương, bản Cóc, xã Hùng Lợi (huyện Yên Sơn) và Làng Mạ, xã Linh Phú (huyện Chiêm Hóa) từ 16/5 – 30/5/1949;
– Hang Bòng, xã Tân Trào (huyện Sơn Dương) từ 17/10/1949 – 1/9/1950; từ 10/10/1950 – 4/2/1951 và từ 20/2/1951 – 30/12/1952;
– Xã Kim Bình (huyện Chiêm Hóa) từ ngày 5 – 19/2/1951. Tại đây, Bác đã làm việc, trực tiếp chỉ đạo Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II.
(Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang)

Quang Đán – Quang Cường

baotintuc.vn

Tấm lòng người dân Thái Lan với Bác Hồ

Báo tin tức – Nhiều thập niên qua, không chỉ cộng đồng Việt kiều mà cả người dân Thái, nhất là ở vùng Đông Bắc nước này, vẫn còn nhắc mãi về một người làm cách mạng có tên là Thầu Chín với tấm lòng thương yêu và trân trọng. Những tình cảm và kỷ niệm sâu sắc về Người luôn được nhân dân Thái Lan trân trọng giữ gìn và ngày càng được vun đắp, góp phần tăng cường mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước.

Nhà cách mạng Thầu Chín

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi khắp năm châu bốn biển. Người đã từng đến sống và hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở các tỉnh Udon Thani, Phichit, Nong Khai, Sakon Nakhon và một số nơi khác ở Thái Lan; để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc và tình cảm tốt đẹp với con người xứ sở này.

Biểu diễn văn nghệ kỷ niệm lần thứ 121 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tại Làng Hữu nghị Thái – Việt.

Làng hữu nghị Thái-Việt ở tỉnh Nakhon Phanom được xây dựng và khánh thành vào năm 2004, để ghi nhớ một thời Bác Hồ đã sống và hoạt động tại đây với tên là Thầu Chín. Đó đồng thời là một trong những biểu tượng minh chứng cho tình hữu nghị giữa hai nước, sự yêu quý ngưỡng mộ của nhân dân Thái Lan, nhân dân Việt Nam đối với Hồ Chủ tịch.

Thầu Chín là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Xiêm, nay là Vương quốc Thái Lan, trong thời gian từ năm 1928-1929. Thầu là tiếng Thái Lào, để gọi người nhiều tuổi và biểu thị sự tôn kính. Câu chuyện về cộng đồng người Việt cùng với Thầu Chín trên đất Xiêm ngày ấy đã vượt thời gian, trở thành một phần giá trị tài sản tinh thần, đặc biệt là ở những nơi dấu chân Người đã đi qua, giúp nở hoa hữu nghị.

Được Việt kiều và nhân dân yêu nước Thái che chở trước sự truy lùng của mật thám Pháp, Thầu Chín ở Nakhon Phanom cho đến tháng 11/1929 thì sang Trung Quốc, sau đó về Việt Nam chỉ đạo cách mạng. Ngoài bí danh Thầu Chín, một vài bí danh khác của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh cũng được Việt kiều tại Thái Lan nhắc đến với lòng kính trọng.

Theo tài liệu ghi nhận, từ bản Mạy ở Nakhon Phanom, nhà cách mạng Thầu Chín thường có mặt tại các bản Noọng Xén (cùng tỉnh Nakhon Phanom), bản Đông thuộc tỉnh Phichít, bản Noóng Ổn tỉnh Udon Thani…

Đến đâu Người cũng mang đến luồng sinh khí mới cho cuộc sống của bà con Việt kiều tại đó cùng với rất nhiều câu chuyện, rất nhiều thông tin được truyền đến bà con bằng phong cách nói chuyện rõ ràng và dễ hiểu, với sự hiểu biết rất rõ về tình hình kiều bào ở Thái Lan.

Bằng sự lôi cuốn và cảm hóa, Người mở mang tầm nhìn, cách nghĩ cho bà con qua các câu chuyện giản dị mà ẩn chứa nhân sinh quan sâu sắc, phổ biến cho bà con những kiến thức bổ ích về cách thức cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn quả, tìm chỗ đất thấp đào ao thả cá.

Người vận động bà con xin phép chính quyền sở tại mở lớp dựng trường dạy chữ Quốc ngữ cho con em, động viên người lớn học cả chữ Thái, chữ Việt để biết những điều cần thiết cho cuộc sống hiện tại, đồng thời tạo nền móng cho quá trình học tập lâu dài để có những kỹ năng tự phân tích, tự tổng hợp ứng dụng vào làm ăn.

Và bao trùm lên tất cả là học để làm người, để có khả năng làm chủ bản thân trong mọi hoàn cảnh, để đủ hiểu biết mà chung sống hòa hợp với các cộng đồng có văn hóa khác nhau.

Biểu tượng của tấm lòng cao cả

Nhân dịp lễ kỷ niệm lần thứ 121 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lần thứ 100 ngày Người ra đi tìm đường cứu nước vừa tổ chức ở Làng Hữu nghị Thái-Việt, Tỉnh trưởng tỉnh Nakhon Phanom, ông Lơngxặc Vinittraimôntri nói rằng, tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Thái Lan được vun đắp từ nhiều năm nay, nhất là từ thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động tại làng Najok trong những năm 1928-1929. Nơi đây đã trở thành khu di tích, địa điểm du lịch mang tính lịch sử và văn hóa quan trọng của Thái Lan.

Khi bản Mạy, bản Noóng Ổn, bản Noọng Xén… của xứ “chùa Vàng” đã thành địa chỉ khá đặc biệt trong biên niên giữ nước của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XX, những tình cảm và kỷ niệm tốt đẹp về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thái Lan tiếp tục được giữ gìn và là biểu tượng tốt đẹp cho tình hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc.

Khi dẫn đầu đoàn Việt Nam vừa sang thăm Thái Lan và trao các huân chương, huy chương và bằng khen cho bà con kiều bào có nhiều đóng góp với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, Thứ trưởng Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Người Việt Nam ở Nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn nói: “Thái Lan là địa bàn mà Bác Hồ của chúng ta đã sinh sống, học tập và hoạt động cách mạng. Tổ chức Việt kiều yêu nước tại Thái Lan cũng được Bác Hồ tổ chức, thành lập và xây dựng từ ban đầu cho nên quan hệ giữa nước ta với Thái Lan đang ngày càng được củng cố và phát triển tốt đẹp”. “Hy vọng trên đất nước Thái Lan, với sự kính trọng của nhân dân Thái dành cho Hồ Chủ tịch, các khu di tích lưu niệm về Bác Hồ ở bản Mạy và một số nơi khác sẽ được quan tâm và chúng ta sẽ cùng Thái Lan xây dựng những khu di tích đó xứng đáng với tình cảm, sự kính trọng của nhân dân hai nước dành cho Bác, xứng với vị thế và vai trò của Người trên thế giới”, Thứ trưởng nói thêm.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, các khu di tích và công trình ở Udon Thani, Khon Kaen cũng sẽ được Đảng và Chính phủ quan tâm đầu tư để tương xứng với một quốc gia có ngàn năm văn hiến như Việt Nam – đất nước luôn được bạn bè thế giới, trong đó có Thái Lan, ngưỡng mộ và khâm phục.

Bác Cao Văn San, Chủ tịch Tổng hội lâm thời người Việt Nam tại Thái Lan, cho hay, hai tiếng Bác Hồ hết sức thiêng liêng đối với kiều bào và tình cảm của Việt kiều đối với Bác Hồ là không bao giờ phai nhạt.

Vào dịp 19/5 hằng năm, bà con Việt kiều thường tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh của Bác, thắp hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh – một tấm gương sáng về đạo đức và sự tận tụy với Tổ quốc, nhân dân.

Bài và ảnh: Ngọc Tiến (P/v TTXVN tại Thái Lan)

baotintuc.vn

Người dành trọn đời viết sách về Bác Hồ

Báo tin tức -Ít ai biết tại tỉnh Hà Nam có một kỹ sư nông học đã cần mẫn bao năm sưu tầm, lưu giữ và rất tâm huyết với việc viết về Bác. Đó là ông Nguyễn Thế Nữu, ở xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên.

Ông Nữu năm nay đã 80 tuổi, nhưng vẫn rất khỏe mạnh và minh mẫn. Ông tiếp chúng tôi trong căn phòng rộng chừng 30 m2 được bài trí đơn giản. Ngoại trừ một bộ bàn ghế uống nước, một chiếc tivi, một chiếc máy vi tính, còn lại là sách được xếp cao đến tận nóc nhà. Phòng sách của ông có nhiều sách quý, hiếm trong và ngoài nước.

Ông Nữu bên tủ sách dày công sưu tập. Ảnh: Nguyễn Loan

Ông Nữu tự hào khoe, để có được bộ sưu tập với hơn chục ngàn cuốn sách này, ông đã phải lặn lội sưu tầm từ khi còn là sinh viên. Năm 1953, khi được cử sang Trung Quốc học chuyên ngành Nông học tại Viện Nông học Hoa Nam (Quảng Châu), ngoài thời gian học tập chuyên ngành, ông lặn lội khắp Quảng Châu để tìm các loại sách về chữ Hán và về Hồ Chủ tịch. Có bao nhiêu tiền ông bỏ hết vào việc mua sách. Ông kể: “Sau khi về nước nhận công tác ở Bộ Nông nghiệp, rồi làm việc tại Công ty Giống cây trồng Hà Nam Ninh, mặc dù bận công tác nhưng hễ có thời gian rảnh là tôi lại mày mò khắp các bảo tàng, thư viện ở Hà Nội, Hà Nam Ninh (cũ), rồi vào thư viện của các trường học để sưu tầm sách về Bác. Năm 1991, tôi có dịp quay lại Trung Quốc để học tập kinh nghiệm trồng giống lúa lai, tôi tranh thủ thời gian đi khắp các tỉnh như Hồ Nam, Quảng Châu… để tìm kiếm sách”.

Sưu tầm và viết sách về Bác Hồ là niềm đam mê cả đời của ông Nữu. Trong thời gian công tác, mặc dù bận nhiều việc, phải đi nhiều nơi nhưng không khi nào ông xa rời niềm đam mê này. Sẵn có vốn tiếng Hán trong tay, mỗi khi có thời gian rảnh là ông lại đem các quyển sách chữ Hán mà ông sưu tầm được ra dịch. Ông tâm sự: “Ngay khi về Ty Nông nghiệp của tỉnh Nam Định (sau là Sở Nông nghiệp Hà Nam Ninh), tôi đã xác định mình sẽ sống chết cùng cây lúa với vùng đất này. Sự nghiệp nghiên cứu khoa học và sưu tầm sách sẽ là động lực chính để mình thực hiện quyết tâm”. Năm 1991, ông nghỉ công tác. Lúc này ông dành trọn tâm trí mình vào công việc viết sách. Cuốn sách đầu tay ông cho ra mắt là cuốn “Thưởng thức thơ Hồ Chí Minh ngoài Ngục trung nhật ký” dài 643 trang do NXB Khoa học Xã hội phát hành năm 2005.

Nhắc đến cuốn sách đầu tay, mắt ông lại sáng lên: “Đây là cuốn sách về Bác Hồ mà tôi phải mất hơn 20 năm sưu tầm và dịch ra. Cuốn sách chủ yếu là thơ chữ Hán đã được tôi dịch ra tiếng Việt có bình luận”. Ông khoe: “Lúc đó tôi nhớ là mình được trả 5,5 triệu đồng tiền nhuận bút. Tôi dùng luôn số tiền này mua được 110 quyển sách vừa in ra đem đi tặng bạn bè”.

Cầm cuốn sách trên tay, chúng tôi lật trang đầu thấy ngay dòng chữ do Giáo sư Phong Lê, nguyên Viện trưởng Viện Văn học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) viết: “Đọc ông Nữu, tôi không thấy có sự khập khiễng nào so với bất kỳ các tác gia nghiên cứu văn học cả về vốn tri thức và năng lực phân tích cảm thụ”. Tôi vừa đọc đến đây, ông Nữu cười vui: “Tôi nghiên cứu sách là do niềm đam mê của mình. Còn viết sách là phần lớn để “trả nợ”. Số là, trong một dịp gặp Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, sau khi nói chuyện, giáo sư đã khuyên tôi nên dịch và tổng hợp lại thành sách để thế hệ sau có thêm một tài liệu đầy đủ về thơ Hồ Chí Minh. Thế là kế hoạch 25 cuốn sách về Bác, trong đó có 13 quyển về thơ ca, 12 quyển kể chuyện về Người ra đời. Ngay khi cuốn đầu tay còn đang trong dạng bản thảo, rất nhiều người đã động viên và nhận lời viết “Lời giới thiệu” cho sách như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, GS Phong Lê, GS Nguyễn Lân Dũng, PGS.TS Trần Đức Cường… Trước sự tin tưởng của mọi người, tôi như thấy mình phải cố gắng hoàn thành để trả nợ”.

Hiện tại, ngoài cuốn “Thưởng thức thơ Hồ Chí Minh ngoài Ngục trung nhật ký”, ông đã cho ra mắt thêm 2 cuốn sách nữa là “Từ điển Ngục trung nhật ký” dài 620 trang do NXB Nghệ An phát hành, và cuốn “Bác Hồ – Người trồng cây vĩ đại” dài 260 trang do NXB Nông nghiệp phát hành.

Hưng Phương

baotintuc.vn

Người đóng vai Bác Hồ thành công nhất

Báo tin tức – Với khoảng 35 vai diễn về Bác Hồ trong các thể loại sân khấu, điện ảnh, phim truyền hình… đến nay, nghệ sỹ Tiến Hợi (Nhà hát Kịch Hà Nội) “giữ kỷ lục” là người được đóng vai Bác Hồ nhiều nhất. Được “trời phú” cho đôi mắt sáng, cùng ngoại hình tương đối giống Bác, cộng thêm việc chịu khó nghiên cứu, tập luyện nên Tiến Hợi đã rất thành công khi thể hiện hình tượng Bác Hồ.

Người đóng Bác Hồ thành công nhất

Cơ duyên đưa Tiến Hợi đến với vai Bác Hồ bắt đầu từ năm 1987, lúc anh đang công tác tại đoàn kịch Trường Sơn. Khi ấy, đạo diễn Doãn Hoàng Giang dựng vở kịch “Đêm trắng”, vở kịch đầu tiên về Bác Hồ với việc chống tham nhũng. Trong vở diễn, Bác đã thức trắng đêm với bao trăn trở, đau đớn khi đưa ra quyết định xử tử Đại tá Cục trưởng Cục Quân nhu vì tội tham ô, biển thủ công quỹ. Trong số các diễn viên được thử vai Bác Hồ, Tiến Hợi là người có ngoại hình giống Bác nhất. Vậy là anh được đạo diễn giao đóng vai Bác Hồ. Nghệ sỹ Tiến Hợi tâm sự: “Lúc ấy, tôi vừa bất ngờ, vừa lo lắng. Bất ngờ vì mình còn trẻ nhưng lại được giao vai diễn lớn, nhưng tôi rất lo lắng vì không biết sức mình có đảm nhiệm được vai diễn quá tầm như vậy không…”.

Nghệ sĩ Tiến Hợi vào vai Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Được anh em trong đoàn động viên, Tiến Hợi dành rất nhiều công sức tìm tòi, nghiên cứu vai diễn của mình. Anh đề nghị được xem các phim tư liệu về Bác để bắt chước phong cách, thần thái, động tác của Bác trong khi làm việc, trong đời sống thường ngày… thu lại giọng nói của Bác vào băng ghi âm để về nghe… Ròng rã 3 tháng trời với một lịch trình gần như cố định: Sáng lên sàn diễn luyện tập, chiều xem phim tư liệu về Bác, tối về lại nghe băng ghi âm để luyện giọng sao cho giống giọng nói của Bác…

Đến tận bây giờ, nghệ sỹ Tiến Hợi vẫn nhớ như in cảm giác hồi hộp và vui mừng trong đêm đầu tiên công diễn vở “Đêm trắng” ở Nhà hát Lớn Hà Nội. Anh kể lại: “Sau buổi diễn, có khán giả đã vào tận phòng hóa trang xin gặp diễn viên đóng vai Bác Hồ, rồi họ rất ngạc nhiên vì thấy diễn viên đóng vai Bác Hồ còn trẻ quá. Sau này, vở kịch “Đêm trắng” được diễn gần 300 đêm ở các tỉnh, thành phía Bắc. Đi đến đâu, đoàn cũng được nhân dân nhiệt tình đón nhận, cổ vũ.

Sau thành công của vai Bác Hồ trong vở kịch “Đêm trắng”, Tiến Hợi đã được nhiều đạo diễn “để mắt” đến mỗi khi có một tác phẩn sân khấu, điện ảnh nào có sự xuất hiện của Bác Hồ. Khi quyết định bấm máy bộ phim truyện “Hẹn gặp lại Sài Gòn”, bộ phim kể về cuộc đời Hồ Chí Minh khi Người còn trẻ, đang nung nấu ước nguyện ra đi tìm đường cứu nước, đạo diễn Long Vân đã không ngần ngại chọn Tiến Hợi vào vai Nguyễn Tất Thành. Để thể hiện thành công vai diễn, Tiến Hợi đã vào Huế, tìm gặp các cụ già sống cùng thời với Bác để tìm hiểu xem thanh niên thời đó nghĩ gì, làm gì và sống như thế nào…? Từ đó, anh luyện tập và thể hiện vai diễn về một thanh niên trong sáng, giàu nghị lực, sống mộc mạc, chân chất… nhưng đầy lý tưởng và hoài bão. Đến năm 1997, đạo diễn Đặng Nhật Minh đã mời anh vào vai Hồ Chủ tịch lịch lãm, kiên định, trong phim “Hà Nội, mùa đông năm 46”. Và sau này, trong nhiều bộ phim, vở kịch sân khấu khác, nhiều đạo diễn đã tín nhiệm mời anh đóng vai Bác Hồ.

Kỷ niệm khó quên

Mỗi lần đóng vai Bác Hồ đều để lại những kỷ niệm đáng nhớ đối với nghệ sỹ Tiến Hợi. Nhưng có lẽ ấn tượng sâu sắc nhất đối với anh là khi anh đi diễn vở “Đêm trắng” ở Việt Trì (Phú Thọ). Khi ấy, mọi người đang chăm chú xem kịch, đến đoạn Bác trăn trở về việc quyết định xử tử vị cán bộ tham nhũng, có một cụ già đứng lên giơ tay: “Thưa Bác, cho cháu được phát biểu ý kiến”, khiến khán giả cười ồ. Nhưng cụ già vẫn nhất quyết đòi được “có ý kiến với Bác”, vậy là anh em trong đoàn đành đưa cụ vào sau cánh gà đợi. Khi nghệ sỹ Tiến Hợi từ sân khấu bước vào sau cánh gà, cụ già đã sụp xuống lạy, anh vội vàng đỡ cụ dậy và nói: “Cụ ơi, cháu chỉ là diễn viên đóng vai Bác Hồ thôi”, nhưng cụ bảo: “Tôi biết, nhưng giống quá, giống quá, tôi xem như thấy Bác đang đứng cạnh tôi…”. Hỏi ra mới biết, xưa cụ già có tham gia kháng chiến chống Pháp, đơn vị của cụ được đón Bác đến thăm, cụ đã được gặp và nói chuyện với Bác. Nay thấy anh đóng giống Bác quá nên không kiềm chế được cảm xúc của mình.

Nghệ sỹ Tiến Hợi tâm sự, khó khăn nhất trong việc đóng vai Bác là làm thế nào thể hiện được thần thái, cốt cách của Bác: Trước kẻ thù, Người sang trọng, lịch lãm, nhưng ánh mắt phải đanh thép. Trước đồng bào, nhân dân, chiến sỹ, Người lại hết sức trìu mến, yêu thương. Hay việc thể hiện cảm xúc của Bác như vui mừng, trăn trở, nóng giận… Suốt một thời gian dài nghiên cứu, tìm hiểu để đóng vai Bác Hồ, hình ảnh Bác Hồ đã in đậm trong anh, đến nỗi nhắm mắt lại là anh có thể hình dung được hình ảnh, giọng nói Bác Hồ trong từng giai đoạn lịch sử. “Được hóa thân vào một nhân vật nổi tiếng, một anh hùng dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh là niềm tự hào song áp lực cũng rất lớn, bởi hình tượng Bác Hồ đã ăn sâu vào tâm tưởng mỗi người dân Việt Nam. Để thuyết phục được khán giả, tôi đã phải cố gắng rất nhiều, sao cho từng cử chỉ, hành động, lời nói giống Bác nhất”, nghệ sĩ Tiến Hợi bộc bạch.

Phương Lan

baotintuc.vn

Những năm tháng Bác Hồ ở Luân Đôn

Báo tin tức –Một chiều tháng 5 đầy nắng, chúng tôi có mặt tại nơi trước đây là khách sạn danh tiếng của thủ đô Luân Đôn, nước Anh, khách sạn Carlton, nơi Bác Hồ đã từng làm việc, để kỷ niệm ngày sinh nhật Bác và một thế kỷ Bác dời bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước.

Theo bài viết “Hồ Chí Minh ở Luân Đôn” của Tiến sĩ John Callow, Giám đốc Thư viện tưởng nhớ Mác (Karl Marx), Bác Hồ của chúng ta đã làm rất nhiều việc trong thời gian ở Anh, từ cào tuyết trong trường học đến điều khiển hệ thống nước nóng rồi phụ bếp trong một khách sạn nhỏ là Drayton Court ở khu vực West Ealing, gần Quảng trường Soho, Luân Đôn.

Tòa nhà ngày nay được xây dựng trên nền của khách sạn Carlton cũ. Ảnh: Internet

Sau này, nhờ có kinh nghiệm làm việc bếp, Người được nhận vào làm việc rửa bát đĩa ở khách sạn danh tiếng Carlton ở Luân Đôn. Nhờ chăm chỉ và thông minh, một người đầu bếp đã nhận Người vào làm việc ở bộ phận của mình là nấu ăn phục vụ cho những bữa tiệc lớn. Cũng tại đây, Người đã chứng kiến sự xa hoa lãng phí thức ăn của những người giàu có. Những người đồng nghiệp thường thấy Người gói gọn lại những thức ăn thừa, có khi là cả một phần tư con gà và miếng bít tết to tướng, đưa cho nhà bếp để mang cho người nghèo. Người làm việc từ 5 giờ sáng đến trưa và từ 5 giờ chiều đến 10 giờ tối. Nhờ vậy Người có thời gian tìm hiểu về Luân Đôn và học tiếng Anh. Người thường ngồi trong Công viên Hype Park với một cuốn sách và một cái bút chì. Người làm việc không chỉ đơn giản để kiếm sống mà để tìm hiểu rõ bản chất điều gì ràng buộc dân tộc mình và các nước thuộc địa với các nước thực dân.

Tấm bảng tưởng niệm treo trên tòa nhà mới. Ảnh: Internet

Theo ông John Callow, chính trong thời gian ở nước Anh từ 1913-1917, Người đã lần đầu tiên đọc các tác phẩm của Mác và Ănghen (F. Engels). Những năm Người sống ở Anh đã góp phần định hình tư tưởng chính trị của Người. Hồ Chí Minh đã tìm ra và đến với chủ nghĩa Mác, không phải như là một học thuyết mà là lời kêu gọi giải phóng và hành động sáng tạo. Đây là một bước ngoặt trên con đường Người tìm hiểu thế giới và đem về đất nước mình những gì đã thấy được để giải phóng nhân dân mình.

Ông Len Aldis, Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh-Việt, người đã dành nhiều công sức để giúp xây dựng bảng tưởng niệm tại nơi Bác Hồ đã từng làm việc, cho biết: Cách khách sạn Carlton trước đây không xa (bây giờ là địa điểm của Đại sứ quán Niu Dilân), là nơi Các Mác ở, còn xa hơn một chút ở ngôi nhà số 37A phố Clerkenwell Green, sau này được xây dựng là Thư viện tưởng nhớ Các Mác năm 1933, có một phòng nhỏ nơi Lê Nin (V.I. Lenin) đã viết 17 số báo Tia sáng.

Đến thăm Luân Đôn khi đi qua công viên Hype Park, quảng trường Soho hay Thư viện Các Mác, vẫn thấy đâu đây hình ảnh Bác Hồ đang đọc sách hay làm việc cần mẫn và suy nghĩ về con đường giải phóng nước nhà.

Ngân Bình (P/v TTXVN tại Anh)

baotintuc.vn