Tag Archive | Độc lập

Thống nhất nhận thức, đồng lòng, đồng thuận, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Bác Hồ thăm Hợp tác xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 1954, một hình ảnh hết sức gần gũi giữa một vị lãnh tụ và nhân dân - ảnh minh họa

Ngày 15/10/1949, trên tờ Báo Sự thật số 120 đã đăng bài “Dân vận” của tác giả X.Y.Z, một trong 150 bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Lãnh tụ kiệt xuất của Đảng và của dân tộc Việt Nam.

Về hình thức: Đây là một bài viết rất ngắn gọn, từ đầu đề (chỉ vỏn vẹn 2 từ), đến dung lượng (chỉ có 573 từ); được diễn đạt bằng ngôn ngữ giản dị, gần gũi với quần chúng; văn phong súc tích, có tính khái quát cao; cùng một kết cấu mạch lạc, chặt chẽ, sáng rõ, dễ nhớ, dễ thuộc và dễ làm theo.

Về nội dung: Bài báo “Dân vận” thể hiện đầy đủ và sâu sắc những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò to lớn của nhân dân và phương châm hành động trong công tác dân vận. Dù bài báo đã trải qua 62 năm, nhưng soi rọi vào thực tiễn hôm nay, vẫn còn nguyên giá trị và nóng hổi tính thời sự.

Trong bài báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ về quyền lợi, nghĩa vụ, vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên…”.

Thực tế đã chứng minh tư tưởng đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Ở địa phương nào thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở, thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, tổ chức công khai, minh bạch để dân bàn bạc góp ý tìm biện pháp tốt, công khai cho dân biết lợi ích của việc phải làm, phát triển mạnh, khai thác được nội lực, thì địa phương ấy nhanh chóng thay đổi theo chiều hướng ngày càng tốt hơn, mang lại kết quả thiết thực.

Ngược lại, nơi nào vì lý do gì đó, có thể là ảnh hưởng đến quyền lợi của một ai đó mà không dám công khai, minh bạch thì những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước chậm được triển khai thực hiện, hoặc thực hiện không hiệu quả, tình hình mọi mặt của địa phương đó trì trệ, tụt hậu. Mặt khác, nếu trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách có liên quan đến quyền lợi, lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân … mà không tổ chức bàn bạc dân chủ, không công khai minh bạch, sẽ phát sinh tình trạng gây thắc mắc, bất bình trong dân, dẫn đến khiếu kiện, khiếu nại sẽ ảnh hưởng đến ổn định xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng và chính quyền ở cơ sở, địa phương đó.

Trong công tác vận động nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “…Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân…”. Cụ thể hơn, Người chỉ ra phương pháp, nội dung để vận động nhân dân:“…tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được…” , “bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành…”.

Vai trò to lớn của nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh ở đoạn văn trên. Đúng với ý tứ mà Người thường nhắc đi, nhắc lại: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Bản chất của công tác dân vận chính là nhằm “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể đã giao cho…”. Nghĩa là phải tập hợp và huy động cho được sức mạnh của toàn dân (mọi người, mọi nhà, mọi đối tượng) vào các phong trào cách mạng.

Thực tế là như thế. Không có sức mạnh nào bằng sự đồng thuận, nhất trí cao của nhân dân khi đã nhận thức thấu đáo nội dung, ý nghĩa của vấn đề khi đi vào thực hiện. Việc thực hiện không đốt pháo, đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông được toàn dân thực hiện là một minh chứng sinh động nhất trong sự đồng thuận xã hội của nước ta. Nếu chủ trương, chính sách nào cũng được nhân dân bàn bạc, thảo luận thấu đáo chắc chắn khi đưa vào thực hiện sẽ thuận lợi và đạt kết quả.

Để đạt được kết quả cao trong công tác dân vận, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân đều phải phụ trách dân vận…” và người làm công tác dân vận phải “…óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh…”.

Về tầm quan trọng của công tác dân vận: Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Từ đó, chúng ta hiểu: Dân vận là cái gốc, là điểm xuất phát của mọi phong trào cách mạng của quần chúng và là sự khởi đầu của mọi thành công. Muốn sự nghiệp cách mạng thành công, trước hết phải biết tuyên truyền và vận động nhân dân – chính là làm tốt công tác dân vận.

Ngày nay, mỗi năm, cả hệ thống chính trị của nước ta tổ chức kỷ niệm ngày truyền thống công tác dân vận của Đảng (15/10) và ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo “Dân vận” (15/10/1949). Đó là sự nhận thức của một quá trình kế thừa, chiêm nghiệm và thông qua thực tiễn trong quá trình tổ chức vận động nhân dân thực hiện bảo vệ và xây dựng đất nước, thực hiện các phong trào hành động cách mạng.

Thiết nghĩ, nếu đồng lòng, đồng thuận, thống nhất nhận thức, đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chắc chắn đất nước ta, dân tộc ta sẽ trường tồn, giàu mạnh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như lòng mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Theo Xuân Triệu
(ubmttq.hochiminhcity.gov.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Quá trình nhận thức về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

(Ảnh minh hoạ).

(TCTG) – Thống nhất với tư tưởng các bậc thầy của giai cấp vô sản thế giới về những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh trong thực tiễn chỉ đạo cách mạng đã từng bước nêu ra những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

1. Chủ nghĩa xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội ưu việt, tiến bộ hơn các xã hội trước đó về các đặc trưng kinh tế, chính trị, văn hóa… Để có được xã hội đó, những người cộng sản phải phác thảo ra được những đặc trưng cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội. Nếu không phác thảo ra được những đặc trưng đó thì rất khó định hướng để xây dựng chủ nghĩa xã hội và biến nó trở thành hiện thực.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học đã phác thảo ra một số nét cơ bản về một xã hội tương lai với 6 đặc trưng:

Một là, cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp cơ khí.

Hai là, chủ nghĩa xã hội xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.

Ba là, chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới.

Bốn là, chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động.
Năm là, nhà nước trong chủ nghĩa xã hội là nhà nước kiểu mới, thể hiện sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động.

Sáu là, chủ nghĩa xã hội giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, thực hiện sự bình đẳng xã hội, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện.

Mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người khỏi mọi ách bóc lột về kinh tế và nô dịch về tinh thần, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện. Là kết quả của việc nhận thức tình hình kinh tế – xã hội cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trong sự đối chiếu, so sánh với chủ nghĩa tư bản đương thời, những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội được các nhà kinh điển đưa ra thể hiện trình độ phát triển cao hơn, tốt đẹp hơn của chủ nghĩa xã hội so với chủ nghĩa tư bản.

2. Thống nhất với tư tưởng các bậc thầy của giai cấp vô sản thế giới về những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh trong thực tiễn chỉ đạo cách mạng đã từng bước nêu ra những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Quan niệm khoa học, hệ thống của Người dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời có bổ sung một số đặc trưng phản ánh đặc điểm, truyền thống của Việt Nam. Trong đó, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và con người được thể hiện rõ, đó là, “nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống cuộc đời hạnh phúc”. Vì vậy, “nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của chúng ta hiện nay là phát triển sản xuất, để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Muốn có chủ nghĩa xã hội thì không có cách nào khác là phải dốc lực lượng của mọi người ra để sản xuất”(1).

Chủ nghĩa xã hội là “một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng”(2), trong đó có “công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến”(3). Người nhấn mạnh: “Chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình”(4), vì “chủ nghĩa xã hội là do quần chúng nhân dân tự mình xây dựng nên”, “là chế độ do nhân dân lao động làm chủ”(5), là xã hội “không có người bóc lột người, mọi người sung sướng, vẻ vang, tự do, bình đẳng”(6). Cũng theo lời Người, “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy chính quyền cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đầy tớ của dân”(7). Đặc biệt, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng… Xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt”(8). Luận đề tổng quát đó được Người cụ thể hóa là “chủ nghĩa xã hội nghĩa là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng”(9) và “chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”(10)…

3. Quán triệt những tư tưởng có tính chất định hướng, dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã không ngừng tìm tòi về mặt lý luận và tổng kết thực tiễn để đưa ra một mô hình chủ nghĩa xã hội phù hợp ở Việt Nam.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) của Đảng, gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991, mô hình chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng bao gồm 6 đặc trưng:

– Do nhân dân lao động làm chủ;

– Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu;

– Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

– Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân;

– Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ;

– Có quan hệ hữu nghị hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới;

Sau 5 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, với những đặc trưng ưu việt trên, nhân dân ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn: GDP bình quân hằng năm thời kỳ 1991-1995 đạt 8,2%, lạm phát từ 67,1% năm 1991 xuống còn 12,7% năm 1995. Đầu tư toàn xã hội bằng nguồn vốn trong và ngoài nước so với GDP năm 1990 là 15,8%, năm 1995 là 27,4%. Lương thực không những đủ ăn mà còn xuất khẩu mỗi năm 2 triệu tấn gạo.

Tiếp đó, trong 5 năm (1996-2000), mặc dù chịu tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực, cùng với thiên tai nghiêm trọng liên tiếp xảy ra nhưng nhân dân ta tiếp tục đạt nhiều thành tựu quan trọng: GDP tăng 7%/năm, giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân 5,7% so với mục tiêu đề ra 4,5 – 5%. Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2000 đạt 4,3 tỷ USD, gấp hơn 1,7 lần so với năm 1995. Trên cơ sở đó, Đại hội Đảng lần thứ IX (4-2001) đã khẳng định những thành tựu mà nhân dân ta thu được qua những năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội VII của Đảng, đồng thời giúp chúng ta nhận thức ngày càng rõ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong thời kỳ 2001-2005, vượt qua những khó khăn, thách thức, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta ra sức phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội IX và đã đạt những thành tựu rất quan trọng: tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 7,51%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế có bước tiến rất quan trọng.

Tại Đại hội Đảng lần thứ X (4-2006), trên cơ sở đánh giá những thành tựu to lớn mà nhân dân ta đạt được đã nhấn mạnh: “Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản”(11).

Trên cơ sở tổng kết, bổ sung, phát triển những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh năm 1991 và Đại hội X (4-2006), Đại hội Đảng lần thứ XI (1-2011) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 2011 (bổ sung, phát triển năm 2011), gọi tắt là Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó nêu rõ 8 đặc trưng của chủ nghĩa xã hội:

– Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;

– Do nhân dân làm chủ;

– Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp;

– Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

– Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;

– Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển;

– Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo;

– Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới;

Các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng được nêu trong Cương lĩnh (bổ sung phát triển năm 2011) là kết quả của công cuộc đổi mới, trước hết là đổi mới nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Đó cũng là thành quả của sự kết hợp hài hòa giữa cái phổ biến và cái đặc thù, cái chung và cái riêng để tạo nên mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, đồng thời cũng thể hiện bước phát triển quan trọng về tư duy lý luận của Đảng ta trong quá trình tìm tòi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm Việt Nam./.

(1), (3), (8), (9) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, t.10, tr.312, 13, 591, 317.
(2), (4), (5), (6) – Sđd, t.9, tr.24, 298, 299, 312.
(7) – Sđd, t.6, tr.515.
(10) – Sđd, t.8, tr.226.
(11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H, 2006, tr.68.

Theo tuyengiao.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nguồn lực con người – từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong sự nghiệp cách mạng từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta. Trên thực tế, Đảng ta đã luôn luôn cố gắng thực hiện mục tiêu đó. Sự nghiệp chăm lo cho hạnh phúc con người tuy chưa có nhiều thành công như mong muốn, song phần nào đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.

Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển như vũ bão, toàn cầu hoá trở thành xu thế tất yếu, kinh tế tri thức trở thành một đặc trưng của nền kinh tế thế giới thì vai trò động lực, vị trí trung tâm của con người trong quá trình phát triển đã thực sự được khẳng định. Con người và phát huy nhân tố con người thu hút sự quan tâm, chú ý, được thảo luận rộng rãi trên các diễn đàn trong nước và quốc tế. Trong tiến trình phát triển, cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh: Nhân tố con người đóng vai trò quyết định xu hướng vận động của thế giới đương đại. Luôn theo sát sự biến động của thời cuộc, đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò của nhân tố con người, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”(1); nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”(2). Con người thực sự là nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên của mọi tài nguyên, là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

Xây dựng và chăm lo cho con người ở nước ta trong những năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn, bước đầu góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu ấy, sự tác động của cơ chế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập có liên quan đến phát huy nhân tố con người, ảnh hưởng đến sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Làm thế nào xây dựng nguồn lực con người trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống, nhằm tìm kiếm những giải pháp kịp thời, phù hợp với yêu cầu của cuộc sống.

Kế thừa tinh hoa tư tưởng văn hoá dân tộc và nhân loại, tiếp thu, vận dụng, phát triển một cách sáng tạo học thuyết Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng về con người lên một tầm cao mới, hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Tuy không có một tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhưng tư tưởng về con người lại được hiểu thật đa dạng, phong phú, trở thành một tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng, cao cả nhất của sự nghiệp cách mạng mà Người theo đuổi. Nó trở thành mục tiêu, lý tưởng, được toả sáng trong từng suy nghĩ, cử chỉ, hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ hệ thống tư tưởng của Người, chúng ta thấy toát lên nội dung quan niệm về con người như sau:

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng. Người từng khẳng định: “Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”(3). Hồ Chí Minh không bao giờ xem xét con người một cách trừu tượng mà luôn xuất phát từ hoàn cảnh con người hiện thực cụ thể trong các quan hệ xã hội với nhiều bình diện, nhiều chiều khác nhau. Đặc biệt ở Hồ Chí Minh, bên cạnh những khái niệm phổ quát như giai cấp công nhân, giai cấp vô sản, nhân dân lao động, chúng ta đã thấy xuất hiện thêm các khái niệm mới: “Người nô lệ mất nước”, “Người cùng khổ”. Theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, đấy là những khái niệm xuất hiện đầy ấn tượng và là một cách tiếp cận riêng của Hồ Chí Minh trong quan niệm về con người. Có thể khẳng định: cách tiếp cận cơ bản nhất của Hồ Chí Minh vẫn là đặt con người trong mối quan hệ với cộng đồng dân tộc. Bởi vì, hơn bất cứ ai, Hồ Chí Minh luôn luôn ở trong lòng nhân dân, mang cùng một truyền thống anh hùng, gắn bó với con người, với nhân dân từ trong khối óc, khát vọng và con tim, trọn vẹn suốt cuộc đời.

Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội. Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn quan niệm con người, trong cấu trúc nhân cách, là một hệ thống bao gồm tổng hoà nhiều yếu tố hợp thành như: thể xác và tâm hồn, thể lực và trí tuệ, cái sinh vật và cái xã hội… Con người ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ai cũng có tính tốt tính xấu, có thiện có ác. Vấn đề là làm sao cho phần xấu mất dần đi, phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân; con người ta sinh ra, ai cũng lớn lên, già đi rồi chết; người ta ai cũng muốn sung sướng, mạnh khoẻ… Cách quan niệm như thế cho phép Hồ Chí Minh đạt tới cái nhìn toàn diện về con người; là cơ sở để Người hiểu, cảm thông, lo lắng cho con người. Đây là tư tưởng chủ đạo, bao trùm và xuyên suốt, vừa có ý nghĩa như tiền đề xuất phát đồng thời lại là mục đích trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhân tố con người là vốn quý nhất, là động lực vĩ đại, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả, nên phải bắt đầu từ nhân tố con người, vì con người, cho con người và trở về với con người.

1. Con người – nhân tố quý nhất, động lực quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Nhân tố con người là vốn quý nhất, quyết định thắng lợi được Hồ Chí Minh đề cập ở ba cấp độ là: Nhân dân nói chung; công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, cán bộ; mỗi một con người cụ thể – tức là nhân dân lao động (trừ bọn Việt gian, phản động). Hồ Chí Minh nói: “Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”; “cán bộ là gốc của công việc”; “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”; “chúng ta phải biết quý trọng con người, nhất là công nhân, vì công nhân là vốn quý nhất của xã hội”…

Tư tưởng “Dân vi bản”, “Dân vi quý” đã được bàn nhiều trong lịch sử mà tiêu biểu nhất là trong Nho giáo. Nhưng đến Hồ Chí Minh, tư tưởng “Dân vi bản”, “Dân vi quý” đã thể hiện một sắc thái mới, với tư thế mới. Nói đến “Dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là nói đến toàn thể nhân dân, nói đến dân chủ. Điều này được thể hiện rõ nét trong tác phẩm “Dân vận” (15-10-1949), Người viết:

“Nước ta là nước dân chủ.

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã tới chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(4).

Như vậy, Hồ Chí Minh luôn luôn đặt nhân dân vào địa vị cao nhất, địa vị làm chủ trong những vấn đề quan trọng nhất của cách mạng và xã hội: lợi ích, quyền hạn, công việc, trách nhiệm, chính quyền, đoàn thể (tức là Đảng), quyền hành và lực lượng đều nhằm vào mục tiêu: Của dân, do dân, vì dân, ở nơi dân. Nó xác định vai trò dân chủ: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Dân vừa là chủ nhưng dân vừa thực hiện công việc làm chủ, vừa là chủ thể, vừa là khách thể, vừa là lực lượng, động lực vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây dựng đời sống mới, tiến lên xã hội chủ nghĩa đều phải bắt đầu từ vốn con người, từ việc phát huy nhân tố con người. Nếu khinh dân, xem khinh việc sử dụng và phát huy nhân tố con người sẽ là một sai lầm rất to, rất có hại, có quan hệ mật thiết đến thành hay bại của sự nghiệp cách mạng.

Vai trò con người chính là vai trò của quần chúng nhân dân, người sáng tạo chân chính ra lịch sử chứ không phải “vài ba cá nhân anh hùng nào”, thể hiện qua các hoạt động thực tiễn cơ bản nhất: Lao động sản xuất, đấu tranh chính trị – xã hội và sáng tạo các giá trị văn hóa – tinh thần.

Hồ Chí Minh nói: “Vì chúng ta quên một lẽ rất đơn giản dễ hiểu: Tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”. “Tất cả của cải vật chất trong xã hội đều do công nhân và nông dân làm ra. Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn phát triển”; quần chúng còn là người sáng tác nữa (các giá trị văn hóa – tinh thần). Hồ Chí Minh giải thích cơ sở khoa học cho vai trò đó xuất phát từ chỗ: “Lực lượng dân chúng nhiều vô cùng… dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(5).

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người đóng vai trò là động lực to lớn, quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng “dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả” cho thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân tố con người là nguồn lực quan trọng nhất, nguồn lực của mọi nguồn lực. Vai trò ấy được Người kế thừa từ tư tưởng: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” để rồi khái quát ở tầm chân lý: “Dễ mười lần không dân cũng chịu; khó trăm lần dân liệu cũng xong”(6).

Trong quá trình giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa động lực và mục tiêu, Hồ Chí Minh chú ý đến mức độ mục tiêu đạt được trong điều kiện, cụ thể của từng giai đoạn cách mạng. Mà mục tiêu tổng quát là: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Mục tiêu đó biểu hiện thành các mục tiêu cụ thể:

Giai đoạn trước khi giành được chính quyền thì mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc. Người nói: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”. Sau khi giành được chính quyền, thì mục tiêu: Ăn, mặc, ở, học hành lại được ưu tiên hơn. Ngày 10-1-1946, tại cuộc họp của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Hồ Chí Minh yêu cầu chúng ta phải thực hiện ngay: “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”.

Sau năm 1954, miền Bắc đi vào khôi phục nền kinh tế, hoàn thành cải cách ruộng đất, tiến hành tốt việc sửa sai, từng bước phát triển kinh tế tập thể. Giai đoạn này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vào việc phải “nâng cao dần mức sống của nhân dân… đồng thời giảm nhẹ sự đóng góp của nông dân”. Bước sang năm 1958, kết thúc thời kỳ khôi phục kinh tế, mở đầu thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960), Hồ Chí Minh nói nhiều về chủ nghĩa xã hội những mục tiêu cơ bản nhằm giải phóng con người. Trong bối cảnh tập trung mọi nhân tài, vật lực cho phát triển kinh tế và tiến hành đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam, Hồ Chí Minh vẫn luôn quan tâm đến con người. Tại Hội nghị của Bộ Chính trị, ngày 30-7-1962, Hồ Chí Minh đặt vấn đề: Ta phải tính cách nào, nếu cần có thể giảm bớt một phần xây dựng, để giải quyết vấn đề ăn và mặc của quần chúng được tốt hơn nữa, đừng để cho tình hình đời sống căng thẳng quá. Vấn đề con người là hết sức quan trọng. Nhà máy cũng cần có thêm, có sớm, nhưng cần hơn là con người, là sự phấn khởi của quần chúng. Làm tất cả là do con người… Làm cho quần chúng hiểu chủ nghĩa xã hội đúng hơn.

Vào thời điểm đó, cách đặt vấn đề như vậy cho thấy chiều sâu mục tiêu con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt, thì mục tiêu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” lại ở bậc cao của thang giá trị dân tộc. Mục tiêu con người gắn chặt với chủ quyền dân tộc. Tại kỳ họp Quốc hội khóa III, ngày 10-4-1965, Hồ Chí Minh kêu gọi: Lúc này, chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước. Ngay trong thời điểm lịch sử vô cùng khó khăn đó, phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ 12, khóa III Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tháng 12-1965, Hồ Chí Minh lưu ý: “Chúng ta phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân, nhất là đời sống của các cháu, của các gia đình thương binh, liệt sỹ, đời sống của nhân dân ở các vùng bị bắn phá nhiều… những gia đình thu nhập thấp, đông con”.

Nếu Tờ báo Người cùng khổ, số 1, nêu mục tiêu là giải phóng con người thì sau này bản Di chúc của Người cũng nêu công việc đầu tiên là đối với con người. Điều đó cho thấy cái “bất biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là tất cả vì con người để ứng với cái “vạn biến” của lịch sử đặt ra. Hồ Chí Minh nói: “Tất cả những người lao động trên thế giới đều có một mục đích chung là thoát khỏi áp bức, bóc lột, được sống sung sướng tự do, tức là thực hiện chế độ cộng sản. Nhưng để đi đến mục đích ấy, mỗi nước phải tùy theo điều kiện thiết thực của mình mà tiến dần”.

Mục tiêu giải phóng con người về mặt chính trị-xã hội cũng được Hồ Chí Minh chú ý, nhấn mạnh. Giá trị và chiều sâu tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ở chỗ đã nhìn nhận và đánh giá vai trò của văn hóa-đạo đức-truyền thống trong tiến trình thực hiện mục tiêu phát triển con người.

Xét ở một khía cạnh nào đó, văn hóa – đạo đức – truyền thống là những yếu tố cấu thành đời sống tinh thần, tâm linh con người. Con người không chỉ tồn tại bằng đời sống vật chất, mà còn tồn tại cả trong đời sống tinh thần. Con người không chỉ chịu sự chi phối của các quy luật vật chất khách quan, mà còn chịu sự chi phối của các quy luật tình cảm, các chương trình kế thừa về văn hóa – đạo đức – truyền thống. Giải phóng con người về mặt chính trị – xã hội là điều kiện tiên quyết, nhưng mới chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ. Con người tồn tại hài hòa trong môi trường đã được nhân tạo hóa dưới dạng: Đạo đức, pháp luật, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo… gọi chung là văn hóa – đạo đức – truyền thống. Bản chất của nó được thể hiện trong các giá trị vật chất, tinh thần, tập trung nhất ở nhân cách và lối sống con người.

Lý tưởng mà suốt đời Hồ Chí Minh theo đuổi là mưu cầu độc lập cho dân tộc, người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Một xã hội mới theo Hồ Chí Minh quan niệm là một xã hội trong đó con người được tự do, bình đẳng, hạnh phúc. Con người có sự phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, có những quan hệ với tự nhiên, xã hội… trong sự biểu hiện cao nhất về văn hóa – đạo đức – truyền thống. Do đó, Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa xã hội là một xã hội lý tưởng, không chỉ ở thể chế chính trị dân chủ, cơ cấu kinh tế, kỹ thuật hiện đại, mà còn là một cơ cấu có giá trị văn hóa-đạo đức nhân bản. Sự phát triển kinh tế nếu không chú ý đến văn hóa – đạo đức thì không đạt tới sự phát triển bền vững. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, việc nhấn mạnh: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có những con người xã hội chủ nghĩa, muốn có những con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tức là con người có thể được phát triển sớm hơn so với sự phát triển kinh tế-xã hội. Xây dựng con người không chỉ bồi dưỡng về chính trị, văn hóa, chuyên môn kỹ thuật mà đặc biệt là đạo đức. Sự tiến bộ xã hội, sự tiến bộ của con người có thể dựa vào tiêu chí tiến bộ về văn hóa – đạo đức, coi như trình độ người trong phát triển. Ưu tiên văn hóa – đạo đức trong phát triển xã hội “là sự phát triển rút ngắn”, nhằm đạt tới mục tiêu con người, trong đó “phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Con đường phát triển rút ngắn, theo Hồ Chí Minh, không chỉ là “cơ cấu lại” hệ thống các chuẩn mực văn hóa – đạo đức khách quan, mà ở chỗ, nó hướng vào sự tự nhận thức, tự đánh giá, tự hoàn thiện về lối sống, nhân cách của mỗi người. Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, cải tạo cái cá nhân để từ đó cải tạo xã hội đồng thời với quá trình cải tạo xã hội để tạo điều kiện cho cải tạo cá nhân.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam theo tinh thần cách mạng và khoa học. Vấn đề con người gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa; mục tiêu giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Hồ Chí Minh kết luận “phải đem hết sức dân, tài dân, của dân làm lợi cho dân”; phải “dựa vào: lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân” và “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”.

2. Con người là trung tâm của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, phát huy nhân tố con người, phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục, đào tạo, dạy nghề, chăm sóc sức khoẻ, tạo việc làm, an sinh xã hội… Đầu tư cho con người chính là nhằm phát triển thể lực, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề; tính năng động và sức sáng tạo của con người; phát huy bản sắc nền văn hoá, truyền thống lịch sử dân tộc để hun đúc thành bản lĩnh, ý chí của con người trong lao động. Đó chính là nguồn nội lực, là yếu tố nội sinh, nếu được phát huy và sử dụng có hiệu quả sẽ là động lực, nguồn sức mạnh để phục vụ cho chính con người và xã hội.

Với tinh thần “phát huy nhân tố con người”, “làm cho sản xuất bung ra”, “giải phóng mọi năng lực sản xuất” trong nhân dân… được khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng (12-1986), đất nước đã từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội. Nước ta từ thiếu đói đã tiến đến hoàn thành mục tiêu “ăn no, mặc ấm” và vươn tới những mục tiêu cao hơn.

Lại một lần nữa, thực tế cho chúng ta thấy, khi nào chúng ta biết tôn trọng, yêu thương, tin tưởng, dựa vào nhân dân, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp với lòng người, quan tâm tới quyền lợi của nhân dân, tạo ra động lực cho người lao động… thì lúc đó chúng ta phát huy được nhân tố con người, khai thác và huy động được năng lực, khả năng của mỗi cá nhân và toàn dân tộc vào tiến trình cách mạng.

Bên cạnh những mặt tích cực thì mặt trái của cơ chế thị trường đã làm cho không ít cá nhân, tập thể, doanh nghiệp bị chìm đắm vào những lợi ích cá nhân, vì đồng tiền, vì lợi ích mà đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, của quốc gia dân tộc.

Trong sự hỗn độn giữa thiện và ác, giữa đúng và sai, giữa tích cực và hạn chế, ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh như mặt trời soi sáng cho con đường chúng ta đi. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nguồn lực con người nói riêng vẫn nguyên giá trị. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, những lời dạy về phát huy sức mạnh của phẩm chất và năng lực, những chỉ dẫn về cách dùng người, sử dụng cán bộ, những giải pháp để phát huy được nhân tố con người thực sự xứng tầm “là cái cẩm nang thần kỳ”, “bàn chỉ nam” cho sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay.

Mục tiêu xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh giữ vững, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó trước hết là cuộc cách mạng của con người, vì con người và do con người. Bởi, khi chúng ta nói về những ưu việt của chủ nghĩa xã hội thì những ưu việt đó không do ai đưa đến. Đó phải là kết quả những nỗ lực vượt bậc và bền bỉ của toàn dân ta với những con người phát triển cả về trí lực, cả về khả năng lao động và tính tích cực chính trị – xã hội và đạo đức, tình cảm trong sáng.

Trong sự nghiệp cách mạng từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta. Trên thực tế, Đảng ta đã luôn luôn cố gắng thực hiện mục tiêu đó. Sự nghiệp chăm lo cho hạnh phúc con người tuy chưa có nhiều thành công như mong muốn, song phần nào đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh” đã được Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu và coi đó là nhiệm vụ trung tâm. Lời dạy của Bác – “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” và “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” – đã trở thành tư tưởng xuyên suốt toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng ta với tư cách là Đảng cầm quyền.

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2015, Đảng ta xác định mục tiêu: Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển; tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người. Và trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (1-2011), Đảng ta đặt mục tiêu: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn, đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề”(7)./.

(1), (2), (7) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.41, 76, 216-217.
(3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.5, tr.644, 698, 295, 293.

PGS, TS. PHẠM NGỌC ANH

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Kỷ vật của Bác Hồ: Chiếc thước kẻ “Suy nghĩ kỹ”

(PL&XH) – Hôm ấy là ngày 16-7-1969. Bác đã yếu nhiều… Lúc chia tay Bác để hôm sau về Nam Định thì tôi nhận được mẩu giấy của anh Vũ Kỳ, hẹn 10g sáng hôm sau có mặt ở cổng Đỏ. Hôm sau khi đến nơi thì tôi được anh Kỳ thông báo: Bác mời ăn cơm trưa…

Từ nhà ăn, tôi theo Bác và anh Vũ Kỳ đến thăm Nhà sàn – nơi Bác nghỉ và làm việc. Khi tới bàn làm việc, Bác dừng lại và cầm cái thước gỗ ngắn lên, nói “Khi sang Châu Âu, tình cờ Bác nhặt được thanh gỗ, Bác sửa thành chiếc thước này đấy. Bác tặng cháu nhé”. Cây thước ấy chính là cây thước này, hôm nay tôi trân trọng mang đến tặng lại cho Bảo tàng Hồ Chí Minh. Trên cây thước có ghi 3 chữ SNK do chính tay Bác viết. Bác giải thích đó là chữ viết tắt của 3 chữ “Suy nghĩ kỹ”.

Tôi đã giữ chiếc thước này suốt mấy chục năm nay và mỗi khi dự định làm một việc gì quan trọng, tôi đều nhớ đến dòng chữ của Bác ghi trên thước, như nhớ một lời dạy, một phương châm sống.

Đó là những lời tâm sự đầy xúc động của Nghệ sĩ chèo Nguyễn Thị Kim Liên (người đã 3 lần được gặp Bác Hồ và được ăn cơm cùng Bác) tại buổi tiếp nhận tài liệu, hiện vật về Bác Hồ cho Bảo tàng Hồ Chí Minh cuối tháng 8 vừa qua.

Theo hồi tưởng của NSƯT Kim Liên, mặc dù thời gian của những lần gặp Bác đã trôi qua hơn 40 năm nhưng mỗi khi nhắc đến vẫn khiến bà không khỏi xúc động, rưng rưng.

Lần đầu tiên là vào năm 1963, khi biểu diễn trên sân khấu ở TP Nam Định, bà đóng vai cô Tâm – vai chính trong vở kịch “Chị Tâm Bến Cốc” của tác giả Tào Mạt. Kết thúc vở diễn, Bác lên sân khấu tặng một bó hoa tươi và nói: “Cô Tâm múa dẻo, hát hay. Cháu cố gắng học tập, làm được như cô Tâm nhé!”. Lần thứ 2 là tháng 12-1968, Đoàn chèo Nam Định lên Hà Nội biểu diễn vở “Trần Quốc Toản ra quân”. Anh chị em đang nghỉ ở nhà khách thì anh Vũ Kỳ đến cho biết sẽ đón bốn nữ diễn viên tiêu biểu vào thăm Bác, được nghe Bác trò chuyện. Trong số đó có Nghệ sĩ Kim Liên.

Và lần thứ 3, bà được cử theo Đoàn các nghệ sĩ Việt Nam sang Pháp biểu diễn. Khi về, bà được bình chọn là 1 trong 6 nghệ sĩ xuất sắc được Bác Hồ gắn Huy hiệu của Người. Chính trong lần đó, bà đã được Bác mời cơm, tặng cho chiếc thước kẻ quý giá này.

Cùng với chiếc thước kẻ gỗ mộc mạc, đơn sơ mà vô cùng quý giá còn có rất nhiều hiện vật khác được mọi người hiến tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh. Đó là những bức thư tay, bản gốc có chữ ký của Bác Hồ được gửi từ Trung Quốc cho đồng chí Tô (Phạm Văn Đồng) vào ngày 19-11-1967; thư của Bác gửi đồng chí Lê Văn Lương, ngày 23-2-1968 và ngày 28-2-1968… được bà Nguyễn Thị Bích Thuận, Đại tá, Nguyên Phó Cục trưởng Cục Cảnh vệ (Bộ Tư lệnh Cảnh vệ), Bộ Công An và cũng là phu nhân của đồng chí Lê Văn Lương trao tặng lại. Hoặc là khẩu súng More 707271 Bác Hồ tặng bà Trần Thị Ngô, vợ ông Phạm Kiệt, nay gia đình cũng tặng cho Bảo tàng để thêm vào bộ sưu tập hiện vật liên quan đến cuộc đời và quá trình hoạt động của Hồ Chủ tịch.

Trong cuốn hồi ký mang tên “Ký ức thời gian”, bà Nguyễn Thị Bích Thuận đã kể về những ngày tháng được làm việc bên cạnh Bác và được Bác dạy cho nhiều điều, không chỉ trong hoạt động cách mạng mà cả trong cuộc sống với con cái, gia đình, với đồng chí, đồng bào. Qua mỗi trang hồi ký của bà Thuận, hình ảnh vị lãnh tụ giản dị, quan tâm, yêu thương đồng chí, đồng bào đều được hiện lên rõ rệt.

Trong số những hiện vật này còn phải kể đến cuốn sách “Hồ Chí Minh – Một biên niên sử” của nhà văn Hellmut Kapfenberger, người Đức viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuốn sách được xuất bản tại Đức vào năm 2009. Đây là một trong những cuốn sách của các nhà văn nước ngoài viết về Người. Qua cuốn sách, tác giả người Đức đã khẳng định “Hồ Chí Minh là một con người mà không một cá nhân có ý thức nào đã từng sống trong nửa trước của thế kỷ lại có thể quên được…

Bức ảnh Bác Hồ tặng bà Nguyễn Thị Dung, cán bộ Bình dân học vụ có thành tích diệt giặc dốt

Một hiện vật nữa là bức phù điêu chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh của tác giả Gerhard Rommel (người Đức) gửi tặng Bảo tàng. Bức phù điêu được làm từ năm 1981, tác giả đã nhờ ông Hellmut Kapfenberger chuyển đến Việt Nam cùng lời nhắn nhủ: CHDC Đức (Đông Đức) trước đây đã có rất nhiều người đoàn kết trong phong trào ủng hộ Việt Nam. Chính vì thế, tôi đã mang món quà này đến trao tặng Bảo tàng để thể hiện tình cảm tốt đẹp của nhân dân Đức đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam.

Việc sưu tầm, tiếp nhận hiện vật về Bác vẫn được tiến hành nhằm bổ sung vào Bảo tàng, giúp thế hệ sau hiểu rõ thêm về con người vĩ đại, nhân cách trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Theo thống kê, năm 2010-2011, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã sưu tầm, tiếp nhận được 19 tài liệu, ảnh, hiện vật gốc, có giá trị; hơn 300 ảnh về hoạt động đối nội, đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh; ghi hồi ký hơn 40 nhân chứng là các đồng chí lão thành cách mạng, đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Thịnh An
Theo http://www.phapluatxahoi.vn
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề nâng cao tri thức của cán bộ, đảng viên

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá kiệt xuất đã từng nói: Tri thức không chỉ là nguồn ánh sáng nội lực mà còn là sức mạnh để mỗi cán bộ, đảng viên tổ chức, lãnh đạo quần chúng thực hiện những mục tiêu của cách mạng. Vì lẽ đó, để có thể gương mẫu, lôi cuốn quần chúng, mỗi cán bộ đảng viên của Đảng không chỉ cần có phẩm chất chính trị vững vàng, tư­ cách đạo đức trong sáng, mà còn phải luôn phấn đấu vươn lên để làm giàu vốn tri thức của chính bản thân mình bằng cách không ngừng học tập.

Nhận biết được tầm quan trọng của vấn đề cán bộ và năng lực lãnh đạo của người cán bộ đối với sự phát triển của phong trào cách mạng, từ cuộc đời hoạt động cách mạng bền bỉ của mình, từ thực tế công tác lựa chọn, đào tạo và sử dụng cán bộ, đảng viên của Đảng qua mỗi giai đoạn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra yêu cầu: Cán bộ phải là những người vừa hồng vừa chuyên. Song thực tiễn cho thấy, để người cán bộ đảng viên có đức vẹn tài, có vốn tri thức, có một năng lực trí tuệ nhất định, thì không thể không khổ công học tập, trau dồi kiến thức.

Dành trọn tuổi thanh niên của mình cho những năm tháng bôn ba tìm con đường cứu nước, khi tìm thấy “cẩm nang thần kỳ của Lênin”, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định trở về Tổ quốc, vạch ra con đường giải phóng đất nước và nhân dân khỏi kiếp nô lệ lầm than. Tuy nhiên, chính sách cai trị hà khắc, phương pháp cai trị “làm cho dân ngu để dễ trị” của thực dân Pháp đã làm cho đại đa số nhân dân ta mù chữ. Vì vậy, điều kiện xuất thân của phần lớn đội ngũ cán bộ, đảng viên thời kỳ Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền dường như chư­a hoặc ít có điều kiện học hành đến nơi đến chốn. Mặc dù rất trung thành và nhiệt tình, dũng cảm và sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn, như­ng “lý luận còn thiếu, kinh nghiệm còn ít”. Vì vậy, khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, mở ra một thời kỳ lịch sử mới với những nhiệm vụ mới hết sức nặng nề, bên cạnh việc chăm lo rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn quan tâm sâu sát đến vấn đề nâng cao trình độ năng lực cho mỗi cán bộ, đảng viên. Từ tình hình thực tiễn sau khi nước nhà được độc lập, cách mạng yêu cầu: Cán bộ đảng viên là người không chỉ tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, mà còn phải là người lãnh đạo quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối chủ trương của Đảng. Vì họ “1. Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng…2. Phải tổ chức sự thi hành cho đúng…3. Phải tổ chức sự kiểm soát…”(1), nên hơn lúc nào hết, điều kiện mới với những nhiệm vụ mới đòi hỏi người cán bộ đảng viên phải có năng lực lãnh đạo (bao gồm cả năng lực trí tuệ và khả năng tổ chức thực hiện). Yêu cầu này đã trở thành tiêu chuẩn, th­ước đo góp phần quan trọng vào vào việc đánh giá hiệu quả công việc của ngư­ời cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, muốn có đ­ược năng lực đó, dù đảm nhiệm cương vị công tác nào ng­ười cán bộ đảng viên cũng phải chịu khó học tập, rèn luyện, vì “cách mạng cũng là một nghề, làm nghề gì cũng phải học. Vậy làm cách mạng cũng phải học”(2).

Trở thành người đứng đầu nhà nước kiểu mới, nhà nước của dân do dân vì dân, dù bận trăm công nghìn việc, nhưng chăm lo xây dựng Đảng, chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng vừa hồng vừa chuyên vẫn là ưu tiên đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay trong năm đầu kháng chiến, năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh đến cách học của mỗi cán bộ đảng viên: Đó là Huấn luyện lý luận, Huấn luyện chính trị, Huấn luyện văn hoá và Huấn luyện nghề nghiệp. Việc này được thực hiện “trước hết là trong những cán bộ cốt cán của Đảng”. Cũng theo Người, cách học (huấn luyện) không phải theo lối áp đặt, nhồi sọ, bởi rằng: Học và hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin được. Hơn nữa, với mỗi người cán bộ đảng viên, những người đại diện cho “trí tuệ, lương tâm, danh dự của dân tộc” thì học lý luận, học trong sách vở thôi chư­a đủ, còn phải học kinh nghiệm của nhân dân. Khi đến thăm Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, tháng 9/1949 (nay là Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh), Người ghi câu mở đầu trong quyển sổ vàng là: “Học để làm việc, làm ng­ười, làm cán bộ”(3). Không chỉ có vậy, để xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân thì mỗi cán bộ dảng viên “không nên kiêu ngạo mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn”(4), nên còn phải được huấn luyện về chính trị. Đó là việc “xem báo, thảo luận và giải thích những vấn đề quan trọng”, là “thảo luận những nghị quyết, những chương trình, những tuyên ngôn của Đảng và Chính phủ”(5) và học những bài học kinh nghiệm của Đảng đư­ợc tổng kết qua mỗi kỳ Đại hội, vừa học vừa hành, đem lý luận áp dụng vào thực tiễn, bổ sung những kết luận mới đư­ợc rút ra từ thực tiễn sinh động của quá trình lãnh đạo cách mạng.

Ở giai đoạn cách mạng tiếp theo, tuy có yêu cầu cụ thể về nhiệm vụ khác nhau, song “để thạo việc”, đủ năng lực lãnh đạo, có thể giải quyết kịp thời, đúng đắn các vấn đề do tình hình cách mạng trong nước và thế giới đặt ra, người cán bộ đảng viên không thể lãnh đạo chung chung đ­ược. Hồ Chí Minh từng yêu cầu: Cán bộ chính trị cũng phải giỏi chuyên môn, “không biết, chỉ nói chính trị suông thì không thể lãnh đạo được”, vì vậy, họ phải có tri thức. Muốn đạt được điều đó, “tất cả cán bộ đảng viên của Đảng phải vì Đảng vì dân mà hăng hái phấn đấu. Phải chịu khó học tập chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật để nâng cao năng lực, làm cho kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống của nhân dân ngày càng no ấm, tươi vui”(6) và việc học này phải được “huấn luyện lâu dài”, không phải một sớm, một chiều. Vừa nhấn mạnh yêu cầu Đảng phải có kế hoạch huấn luyện, tạo điều kiện để cán bộ đảng viên nâng cao trình độ về mọi mặt, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đồng thời chỉ rõ việc phải chú trọng công tác huấn luyện cán bộ, lựa chọn cẩn thận người phụ trách công tác này. Từ việc chỉ rõ: “Những người lãnh đạo cần tham gia việc dạy” và “không nên bủn xỉn về các khoản chi tiêu trong việc huấn luyện”, đề cao việc được học tập và tinh thần tự giác học tập để nâng cao năng lực của mỗi cán bộ đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Khi cất nhắc cán bộ, phải xem kết quả học tập cũng như kết quả công tác khác mà định”(7).

Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã đi xa hơn 40 năm, nhưng lời Người ghi tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc tháng 9/1949: Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại vẫn còn đó. Giờ đây, đất nước ta đang từng ngày từng giờ đổi mới. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế n­ước nhà là mục tiêu mà Đảng, Nhà nư­ớc và nhân dân ta đang phấn đấu, để đưa nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp giàu mạnh. Muốn có khả năng tư duy độc lập, muốn có phư­ơng pháp làm việc khoa học, muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ và trở thành mực thư­ớc cho nhân dân thì mỗi người cán bộ, đảng viên càng phải luôn luôn chịu khó học hỏi, không ngừng tiến bộ. Và muốn sáng tạo, tránh giáo điều, giảm bớt sai lầm, vấp váp thì mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải làm giàu vốn tri thức của bản thân, phải trở thành một người cộng sản có văn hoá. Trong tác phẩm Đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng “Cách mạng tiến lên mãi, Đảng tiến lên mãi. Cho nên người cách mạng cũng phải tiến lên mãi”(8). Vì vậy cán bộ, đảng viên nhất thiết phải học và có học mới làm đư­ợc cán bộ tốt, cán bộ gương mẫu.

Tinh thần học tập và học tập không ngừng như Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời sẽ giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng tự tin vào bản thân mình, đồng thời nâng cao hơn nữa quyết tâm phấn đấu cho độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Chỉ có học tập và kiên trì học tập, phấn đấu để trở thành người cộng sản có học thức mới biến quyết tâm đó trở thành những hành động thiết thực, để họ, những cán bộ, đảng viên của Đảng xứng đáng vừa là ngư­ời lãnh đạo, ngư­ời đầy tớ trung thành của nhân dân như­ mong muốn của Người. Thế kỷ XXI, khi nhân loại đang bước vào nền văn minh trí tuệ, văn minh của nền kinh tế tri thức, khi UNESCO để ra 4 trọng tâm về việc học: Học để biết; Học để làm; Học để chung sống; Học để làm người thì lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về không ngừng học tập, nâng cao tri thức cách mạng càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết.

Muốn có tầm nhìn xa, muốn xử lý đúng mọi tình thế, muốn tiến bộ thì mỗi cán bộ đảng viên nhất định phải tự hoàn thiện mình suốt đời và vấn đề này không chỉ là yêu cầu cấp bách của Đảng, của cách mạng mà còn là hành động thiết thực của mỗi người trong việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hiện nay và mãi mãi về sau./.

Chú thích:
(1). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H.1996, t5., tr.285
(2). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.12, tr.224
(3). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.684
(4). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.285
(5). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.271
(6). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.231
(7). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.12, tr.212
(8). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.292

Theo Bùi Kim Hồng
Giám đốc Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Học tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học tự nhiên và công nghệ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội và nhân văn đã được nghiên cứu và trình bày trong nhiều tác phẩm, riêng về khoa học tự nhiên và công nghệ còn chưa được phổ biến thoả đáng. Giữa khoa học xã hội – nhân văn với khoa học tự nhiên và kỹ thuật (công nghệ) luôn có mối quan hệ khăng khít. Bài viết này trình bày một số vấn đề với những nét đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ để mong góp phần hoàn hảo hệ tư tưởng lớn.

Khoa học và công nghệ cho chiến thắng

Trong kháng chiến chống thực dân và chủ nghĩa đế quốc để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng để vạch ra các đường lối chiến lược cho chiến thắng mà nổi bật nhất là phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, thực hiện “tất cả cho chiến thắng”, trong đó có khoa học và công nghệ cho chiến thắng.

Kháng chiến chống lại kẻ thù có sức mạnh quân sự vào loại hàng đầu của thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh định hướng chiến lược là phải “trường kỳ kháng chiến” để “nhất định thắng lợi” với phương pháp phát triển chiến đấu “càng đánh càng mạnh”.

Để thực hiện định hướng chiến lược và phương pháp phát triển chiến đấu nói trên thì khoa học và công nghệ phải được chuẩn bị và được ưu tiên nguồn lực để phát triển sớm, trước hết là nguồn nhân lực mà chú trọng đặc biệt các nhân tài. Trong tình hình nước ta hồi giữa thế kỷ XX thì việc có các cơ sở ban đầu của công nghiệp quốc phòng, bảo đảm được các vũ khí thông dụng, nhất là vũ khí đặc biệt lợi hại của chiến tranh du kích, là cực kỳ quan trọng cho chiến thắng.

Thực tiễn đã chứng tỏ rằng, đường lối khoa học và công nghệ phục vụ công cuộc kháng chiến trên đây là rất đúng đắn và có hiệu quả cao.

Ngay từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trong Đảng đã chuẩn bị các vấn đề liên quan đến đấu tranh vũ trang, năm 1944 “chiến thuật du kích” được phổ biến và huấn luyện, trong đó trình bày khá chi tiết về các loại vũ khí của chiến thuật du kích, đặc biệt là các biện pháp công nghệ về phá hoại cơ sở địch, các phương tiện thông tin liên lạc…

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt qua nhiều hiểm nguy tới Pháp năm 1946, một mặt để đấu tranh ngoại giao, mặt khác thu hút về nước một số chuyên gia khoa học và công nghệ người Việt Nam yêu nước, trong đó có chuyên gia về vũ khí là đồng chí Trần Đại Nghĩa.

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc sắp bùng nổ, trên Báo Cứu quốc, giữa tháng 9 năm 1946 đã có bài phân tích và vai trò quyết định của lục quân, các loại binh khí công nghệ cần thiết cho lục quân kể cả xe tăng, các hình thức chiến tranh và vũ khí hiện đại lúc đó và “công việc khẩn cấp bấy giờ” là làm khí giới. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ thì ở rừng Việt Bắc đã hình thành và ngày càng phát triển một tổ hợp nghiên cứu và chế tạo, sản xuất các vũ khí từ đơn giản (lựu đạn, mìn..) đến hiện đại (Ba-dô-ka, SKZ).

Sau khi mở thông biên giới phía Bắc, bắt đầu có sự giúp đỡ vũ khí thì lực lượng quân giới trong nước đã trưởng thành, một mặt tiếp tục nghiên cứu, sản xuất phát triển lực lượng của mình, mặt khác tiếp thu công nghệ mới và thích nghi hoá các loại vũ khí cho phù hợp với điều kiện Việt Nam, nhất là điều kiện của khí hậu nhiệt đới ẩm. Như vậy khoa học và công nghệ quốc phòng đã thực hiện thành công tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực này, nghĩa là càng đánh càng mạnh.

Bác đã có bức thư nổi tiếng dưới đây trong kháng chiến chống Pháp

Thư gửi các ông Phạm Văn Bạch và Nguyễn Văn Tây.

Chú Bạch, chú Tây và các đồng chí.

Dưới đây là một cách giải thích rất đơn giản, dễ hiểu về con đường trường kỳ kháng chiến, viết ra cho anh em dùng.

Chào thân ái và quyết thắng.
Ngày 7 tháng 3 năm 1947.
Hồ

Sơ đồ giải thích của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trình bày quan điểm đó cho thấy tính biện chứng của quá trình này. Quỹ đạo của ta là một hình Pa-ra-bon dương, của kẻ thù là một hình Pa-ra-bon âm. Đoạn giao nhau tương ứng với lúc ta “gay go” và kẻ thù tạm thời có ưu thế. Tuy nhiên, do ta kiềm chế được kẻ địch qua giai đoạn “gay go”, cuối cùng cũng tiến tới thắng lợi (Xem sơ đồ).

Sau khi kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân thắng lợi, miền Bắc chuyển vào thời kỳ phục hồi kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội làm chỗ dựa cho giải phóng miền Nam và miền Nam lại chuyển sang thời kỳ đấu tranh chống Mỹ giải phóng dân tộc. Như vậy yêu cầu về khoa học và công nghệ cho chiến tranh giải phóng và bảo vệ đất nước càng cao, vì lần này công nghệ đứng hàng đầu thế giới.

Tiếp tục phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ quốc phòng, kết quả là chúng ta đã đối phó thành công với mọi loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại mà đối phương có (trừ vũ khí hạt nhân). Điển hình là thắng lợi của ta trong trận phá tan phong toả “thuỷ lôi từ tính” và “bom từ trường” và nhất là trận “Điện Biên Phủ trên không”. Đây là loại chiến tranh có nội dung chủ yếu của chiến tranh điện tử số hoá.

Khoa học và công nghệ gắn với sản xuất và xã hội

Ngày 18.5.1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài nói chuyện tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam, trong đó nhiệm vụ của khoa học được nhấn mạnh “chúng ta đều biết rằng trình độ khoa học, kỹ thuật của ta hiện nay còn thấp kém. Lề lối sản xuất chưa cải tiến được nhiều. Cách thức làm việc còn nặng nhọc. Năng suất lao động còn thấp. Phong tục tập quán lạc hậu nhiều”.

Nhiệm vụ của khoa học là ra sức cải biến những cái đó. Khoa học là tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh giữa giai cấp bị bóc lột và giai cấp bóc lột và đấu tranh giữa con người với thiên nhiên. Ở đây chỉ nói riêng về khoa học tự nhiên và kỹ thuật.

Khoa học phải tự sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi”.
Quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ là sự phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về khoa học và công nghệ trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những yếu tố của quan điểm về khoa học và công nghệ của tư tưởng Hồ Chí Minh có thể thấy là:

Thứ nhất là, khoa học và công nghệ liên kết chặt chẽ với sản xuất, nhất là của một nước còn nghèo, phục vụ sản xuất phát triển; đồng thời sản xuất lại cũng là động lực thúc đẩy khoa học và công nghệ phát triển. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta là nước chậm phát triển, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, chúng ta phải hết sức tranh thủ áp dụng các thành tựu từ thấp đến cao của khoa học và công nghệ trên thế giới, đồng thời từng bước xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ của nước ta hướng tới khoa học và công nghệ hiện đại. Khoa học và công nghệ làm cho sản xuất phát triển nhanh, tạo điều kiện nâng cao đời sống của nhân dân lao động, trước hết là bảo đảm các nhu cầu cơ bản, xoá đói giảm nghèo.

Thứ hai là, khoa học và công nghệ có nhiệm vụ phục vụ sự phát triển xã hội, “cải biến” xã hội nước ta, nghĩa là phát triển toàn diện văn hoá, vừa giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới, xoá bỏ các phong tục tập quán lạc hậu, tiến tới một xã hội văn minh. Khoa học và công nghệ cũng là một bộ phận của văn hoá, có ảnh hưởng quan trọng đến lối sống tinh thần của nhân dân góp phần xây dựng nền văn minh tinh thần tiến bộ của đất nước.

Thứ ba là, khoa học và công nghệ phải góp phần bảo vệ đất nước, khoa học và công nghệ phải luôn gắn chặt với quốc phòng, cung cấp cho quân đội các phương tiện chiến đấu, hậu cần. Đối với các chế độ của giai cấp bóc lột thì khoa học và công nghệ được sử dụng để xoá bỏ. Ngược lại trong chiến tranh giải phóng thì khoa học và công nghệ được sử dụng tối đa một cách sáng tạo để chiến thắng. Hơn nữa, đối với những nước mà kinh tế còn thấp kém như nước ta, vừa thoát khỏi chế độ thực dân lại phải huy động lực lượng toàn dân trường kỳ kháng chiến để bảo vệ độc lập dân tộc, thì sự phát triển khoa học và công nghệ lại từ quốc phòng, an ninh mở rộng ra kinh tế – xã hội.

Thứ tư là, khoa học và công nghệ bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi. Đúng là khoa học và công nghệ ở các nước tư bản phát triển rất cao và được giai cấp tư sản triệt để lợi dụng để củng cố chế độ bóc lột, nâng cao lợi nhuận. Nhưng chủ nghĩa xã hội cũng chứng tỏ tiềm năng phát triển nhanh, khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (ví dụ: sự phát triển ngành năng lượng nguyên tử và hàng không vũ trụ, các ngành công nghiệp nặng của Liên Xô trước đây và của Trung Quốc hiện nay). Ngày nay khi chuyển sang kinh tế tri thức thì vai trò của khoa học và công nghệ bảo đảm sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội càng quan trọng.

Việc thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ trong những năm qua đã góp phần rất quan trọng cho thắng lợi của hai cuộc kháng chiến và trong sự phát triển thắng lợi của đất nước ta. Ngày nay, bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ lại càng cần thiết.

Khoa học và công nghệ xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi

Vai trò của khoa học và công nghệ trong việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện ở các mặt: khoa học và công nghệ gắn với sản xuất bảo đảm thoả mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần ngày càng cao của nhân dân; khoa học và công nghệ bảo vệ môi trường thiên nhiên, trước mắt phải cải thiện môi trường hạn chế hậu quả của thiên tai và chiến tranh trước đây, của công nghiệp hoá hiện nay; khoa học và công nghệ phục vụ sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người.

Liên kết chặt chẽ giữa khoa học và công nghệ với sản xuất, một điểm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ. Ngày nay, trong thế giới hiện đại với sự phát triển chưa từng có của khoa học và công nghệ làm xuất hiện nền kinh tế tri thức. Đồng thời cùng với sự phát triển đó là xu thế toàn cầu hoá. Trong điều kiện như vậy càng phải phát huy cao hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ mà chủ yếu là vấn đề “nghệ thuật” phối hợp giữa tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới và phát triển công nghệ nội sinh, từ đó từng bước tiến lên một nền khoa học và công nghệ hiện đại đáp ứng các yêu cầu của nền sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta còn phải trải qua một thời gian dài của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó nhiệm vụ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm. Do đó, việc phát huy cao độ trí tuệ sáng tạo của con người Việt Nam, xét cho cùng, chính là cách xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đây, chúng ta thấy rằng phải tập trung nguồn lực và tạo ra cơ chế cần thiết để khoa học và công nghệ có thể sớm tạo ra “vũ khí” cho thắng lợi của cuộc chiến tranh xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu để tiến lên “dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” và cũng là thắng lợi của CNH, HĐH.

Quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề khoa học và công nghệ bảo vệ môi trường dựa trên tình hình thực tiễn Việt Nam đã được hình thành sớm, từ trước khi có phong trào bảo vệ môi trường trên thế giới (sau khủng hoảng dầu hoả đầu năm 70). Chủ tịch Hồ Chí Minh, qua tác phẩm và hành động, đã phát triển một triết lý hết sức sâu sắc về mối quan hệ không chỉ “thân thiết” mà còn “thương yêu” giữa con người và thiên nhiên, cũng là người đề xướng Tết trồng cây vào năm 1959: “…mỗi tết trồng được độ 15 triệu cây. Từ năm 1960 đến 1965… chúng tôi sẽ có 90 triệu cây… và trong mười năm nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”. “Phải có kế hoạch, có hướng dẫn, tìm thêm hạt, ươm thêm giống… phải làm đúng khẩu hiệu “trồng cây nào, tốt cây ấy”.

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh trong vấn đề bảo vệ môi trường là phải chú trọng trước hết đến việc cốt lõi, mà ở nước ta là vấn đề cây xanh, nói rộng ra là thảm thực vật, là rừng. Vấn đề bảo vệ môi trường ở nước nghèo chỉ có thể giải quyết được, nếu nó được gắn liền với việc cải thiện đời sống của nhân dân. Cũng không thể làm một cách thiếu khoa học mà phải ứng dụng khoa học công nghệ tiến bộ vào việc chọn giống cây, ươm cây con và trồng cây sao cho cây sống và xanh tốt.

Gần đây tình trạng phá rừng ở nước ta có chững lại, độ che phủ bắt đầu tăng lên vài phần trăm. Công trình trồng mới 5 triệu hec-ta rừng bắt đầu triển khai, các Tết trồng cây được duy trì và mở rộng. Đây chính là những việc phát huy cụ thể tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác bảo vệ môi trường. Ngày nay, tiến hành CNH và HĐH có rất nhiều vấn đề môi trường đặt ra, chúng ta luôn ghi nhớ tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này để quyết tâm giữ gìn sao cho phong cảnh của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa phải rất tươi đẹp.

Chủ nghĩa tư bản đã phá hoại nghiêm trọng môi trường trái đất, họ không thể có khả năng giải quyết vấn đề này, vì lẽ không thể tư nhân hoá được bầu trời, đại dương và vũ trụ. Phục hồi lại môi trường trái đất sẽ là nhiệm vụ cao cả nhất của chủ nghĩa xã hội, mà chính ở đây khoa học và công nghệ bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi, một chủ nghĩa xã hội có phong cảnh xanh tươi, đẹp đẽ, không phải chỉ là bê tông và màu xám.

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng (1951), phần mở đầu nói về tình hình thế giới trong nửa đầu thế kỷ “Trong 50 năm đó, đã có những phát minh như chiếu bóng, vô tuyến điện, vô tuyến truyền hình (television) cho đến sức nguyên tử”. Ngày nay ngành công nghệ dẫn đầu là công nghệ thông tin – máy tính chính là sự phát triển ở tầm cao các phát minh đã được nhắc đến ở báo cáo chính trị nói trên.

Khi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh không đi về phương Đông như phong trào Đông kinh nghĩa thục, mà lại đi về phương Tây, vì ở đó có lời giải về sự yếu kém của phương Đông: Thiếu khoa học và công nghệ hiện đại để tạo ra sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn. Tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ được hình thành trong một không gian mở, tiếp thu những cái mới tiến bộ không chỉ bằng lý trí uyên bác mà còn với nhiệt tình của lòng yêu nước nồng nàn.

Ngày nay, những người cộng sản cũng sẽ không ngạc nhiên khi thấy rằng chủ nghĩa xã hội vẫn phát triển ở phương Đông. Vì lẽ cũng chính Các Mác, trước đây hơn 100 năm, đã khuyên rằng ở các nước vốn có một cơ sở cộng đồng trong dân cư bền vững thì không phải trải qua khổ đau của chủ nghĩa tư bản để tiến lên chủ nghĩa xã hội./.

Theo GS. Vũ Đình Cư
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đoàn kết Lương Giáo – một quan điểm xuyên suốt của Đảng

Đêm Giáng sinh an lành tại Thủ đô Hà Nội. (Ảnh minh hoạ).

(TCTG) – Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết Lương Giáo, phát huy các giá trị nhân văn trong tôn giáo và với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhất quán khẳng định vị trí và vai trò của tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội qua việc thực hiện chiến lược đoàn kết dân tộc và tôn giáo…

1. Đoàn kết Lương Giáo là một nội dung quan trọng trong chiến lược đoàn kết toàn dân tộc

Đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng, nhất quán trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Đây là một bài học mang tính lịch sử. Giai đoạn nào chính sách đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo được thực hiện tốt thì đất nước thái bình, các thế lực ngoại bang cũng ít nhòm ngó.

Đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc đã trở thành tư tưởng xuyên suốt, một chiến lược cách mạng quan trọng của Đảng ta. Cơ sở của chiến lược này là luôn tôn trọng và bảo đảm trên thực tế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, không tôn giáo; đoàn kết tôn giáo; hoà hợp dân tộc. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (ngày 3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương để dễ bề thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và Lương Giáo đoàn kết”(1), và đây đã trở thành một trong sáu nhiệm vụ của nhà nước non trẻ. Điều này xuất phát từ một lẽ hiển nhiên là, người Việt Nam, dù theo tôn giáo, tín ngưỡng hay không theo tôn giáo, tín ngưỡng nào cũng có chung một dân tộc, đều là con cháu của dòng dõi Lạc Hồng. Do vậy, đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề tất yếu, là nhân tố quyết định thành công của cách mạng. Trong mối quan hệ giữa dân tộc và nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, và nhân dân chỉ có thể được tự do khi đất nước độc lập. Điều này là ước nguyện của mọi người dân, dân tộc bị áp bức, kể cả đồng bào có đạo. Người viết: “Hơn ai hết, đồng bào công giáo càng mong cho Tổ quốc độc lập, cho tôn giáo được hoàn toàn tự do”(2), do vậy, “toàn thể đồng bào ta, không chia Lương Giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc mà cũng để giữ gìn quyền tôn giáo tự do”(3).

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi vấn đề đoàn kết Lương Giáo là một nội dung quan trọng của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về đoàn kết toàn dân, về tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo.

Từ việc xác định tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới, năm 1990, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 24/NQ-TƯ, về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”, khẳng định chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là: “tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện đoàn kết Lương Giáo, đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(4).

Những quan điểm này được tiếp tục thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (1991); Văn kiện Đại hội VII, VIII, IX. Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (năm 2003), về Công tác tôn giáo cũng khẳng định:

“- Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

– Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào,…

– Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo”(5).

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4/2006) tiếp tục khẳng định: Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”. Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ… Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân (6).

Gần đây nhất, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục nhất quán khẳng định: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”(7). Đây chính là cơ sở quan trọng nhằm đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta – giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

2. Phát huy các giá trị trong tôn giáo, tín ngưỡng nhằm đoàn kết lương giáo xây dựng chủ nghĩa xã hội

Đây cũng là một trong những nhận thức lại của Đảng ta về vị trí, vai trò của tôn giáo, là giải pháp quan trọng nhằm phát huy tính tích cực của tôn giáo, làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần của xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời, ngăn chặn có hiệu quả những hành vi lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Hồ Chí Minh từng cho rằng, học thuyết của Khổng Tử, Thiên chúa giáo của Giêsu, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên và chủ nghĩa Mác đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Do vậy, trong quan niệm và hoạt động thực tiễn của mình, Người luôn tôn trọng vai trò của các tôn giáo; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của các tầng lớp nhân dân; phát huy các giá trị mang tính nhân văn trong các tôn giáo để tiến tới xây dựng một nước Việt Nam đoàn kết, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết Lương Giáo, phát huy các giá trị nhân văn trong tôn giáo và với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhất quán khẳng định vị trí và vai trò của tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội qua việc thực hiện chiến lược đoàn kết dân tộc và tôn giáo; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của các tầng lớp nhân dân; phát huy các giá trị mang tính nhân văn của các tôn giáo trong xây dựng đạo đức xã hội, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Các quan điểm trên đã được khẳng định trong Nghị quyết 24-NQ/TƯ của Bộ Chính trị, về các Văn kiện và nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Nghị quyết 24-NQ/TƯ nhấn mạnh, cần phải: “khắc phục nhận thức thiển cận đối với tôn giáo và thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo”(8).

Điều 5, Pháp lệnh về Tín ngưỡng Tôn giáo, ngày 18/6/2004, khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “tôn trọng giá trị văn hoá, đạo đức tôn giáo; giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng nhằm góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”(9). Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng khẳng định: “Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(10).

3. Bảo đảm sự đoàn kết lương giáo trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, đồng thời nghiêm trị mọi hành động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung và đoàn kết lương giáo nói riêng.

Hiến pháp và pháp luật là cơ sở quan trọng, bảo đảm chiến lược đoàn kết lương giáo nói riêng, đại đoàn kết dân tộc nói chung. Đây chính là những sự cụ thể hóa quan điểm của Đảng về đoàn kết lương giáo, là cụ thể hóa quyền lực của nhà nước trong việc bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết Lương Giáo.

Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2004) đều nhất quán khẳng định quan điểm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Các quyền này thể hiện ở các điểm sau:

– Mọi công dân Việt Nam đều có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo, tín ngưỡng bất kỳ và đây là một trong những quyền dân chủ quan trọng. Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau.

– Các tôn giáo dù lớn hay nhỏ (ít hay nhiều tín đồ) đều bình đẳng trước pháp luật cả về quyền lợi và nghĩa vụ. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

– Nhà nước luôn tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hoá tốt đẹp của các tôn giáo; động viên chức sắc, tín đồ, các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

– Nhà nước bảo đảm quyền hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật; tôn trọng giá trị văn hoá, đạo đức tôn giáo.

– Mọi sự xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân đều bị pháp luật nghiêm khắc trừng trị.

– Nhà nước Việt Nam tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước, bảo đảm khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tóm lại, trong những năm qua, nhất là thời kỳ đổi mới, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng, vấn đề đoàn kết toàn dân tộc nói chung, đoàn kết lương giáo nói riêng có những phát triển vượt bậc. Điều này thể hiện rõ nét qua xu hướng chủ đạo trong hoạt động của các tôn giáo là gắn bó, đồng hành cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với phương châm “Tốt đời, đẹp đạo”, các tôn giáo ở Việt Nam đã có những định hướng hành đạo tiến bộ, như: “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo; “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Thiên chúa giáo; “Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc” của Hội thánh Tin lành Việt Nam; “Nước vinh, đạo sáng” của Cao Đài… Các khuynh hướng này vừa phù hợp với đạo lý, truyền thống, văn hóa của dân tộc, vừa phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và xu hướng phát triển của thời đại./.

TS. Nguyễn Dương Hùng
___________________________

(1), (3) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, t.4, tr.9, 490.
(2) – Sđ d, t.5, tr.44.
(4), (8) – Nghị quyết 24-NQ/TW về Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.
(5) – ĐCSVN: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb. CTQG, H, 2003.
(6) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H.2006, tr.122-123.
(7), (10) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H.2011, tr.81, 245.
(9) – Xem: Pháp lệnh về Tín ngưỡng Tôn giáo.

Theo http://www.tuyengiao.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

“Dân là gốc, dân là chủ”

Bác Hồ với Nhân dân. Ảnh: Tuấn Anh

Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy “nước ta là nước dân chủ; nước lấy dân làm gốc; dân là chủ, dân làm chủ; dân chúng đồng lòng việc gì cũng làm được; dân chủ không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”. Theo Người “tiếng dân chính là truyền lại ý trời”[1]. “Dân muốn gì ta phải làm nấy”[2]. “Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”[3].

1. Ý nghĩa lớn nhất của Cách mạng Tháng Tám 1945 là là lập nên một chính thể Dân chủ Cộng hòa

Khi Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước thì dân tộc Việt Nam đang chìm đắm trong chế độ thực dân – phong kiến chuyên chế. Chúng ta không có Hiến pháp và nhân dân không được hưởng quyền tự do dân chủ. Vì vậy, chỉ một ngày sau khi tuyên bố với nhân dân Việt Nam và thế giới rằng nhân dân Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 3-9-1945, Người đã đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế đọ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống. Đối với các Ủy ban nhân dân làng, huyện, tỉnh, thành phố là hình thức Chính phủ trong các địa phương thì toàn thể nhân dân Việt Nam cũng có quyền như vậy. Trừ bọn Việt gian bị tước công quyền, mọi người từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt trai gái, giàu nghèo, Việt Minh hay ngoài Việt Minh, ai cũng có quyền ứng cử hay bầu cử vào các Uỷ ban này.

Ngày nay, để hiểu ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Tám, điều quan trọng nhất là phải phân tích, đánh giá giá trị tinh thần của cuộc cách mạng đó trên cơ sở toàn dân Việt Nam đã đập tan ách nô lệ của Pháp Nhật, xóa đi một trở lực, vết nhơ trên con đường tiến bộ, văn minh của nhân loại. Với tinh thần đó, trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà, Hồ Chí Minh nhấn mạnh ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám: “Trong một thời gian rất vắn, chúng ta đã phá tan chế độ quân chủ chuyên chế mấy nghìn năm nay. Chúng ta đã đánh đổ cái nền thống trị của hai đế quốc chủ nghĩa: Pháp và Nhật. Chúng ta đã lập nên một chính thể Dân chủ Cộng hòa. Đó là một cuộc thắng lợi xưa nay chưa từng thấy trong lịch sử nước ta”[4].

Vấn đề có ý nghĩa là ở chỗ từ một thắng lợi xưa nay chưa từng thấy trong lịch sử nước ta như vậy dẫn tới “lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”. Và từ đó, điều gì sẽ đến với Đảng ta trong điều kiện Đảng cầm quyền? Một là, công việc sẽ khó khăn, phức tạp hơn gấp nhiều lần. Hồ Chí Minh nói rõ: “Việc này mới khó chứ! Trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn, vì nó đụng chạm đến quyền lợi riêng của một đôi giai từng trong nước. Vả lại, chúng ta phải thật thà thừa nhận rằng kinh nghiệm chúng ta còn ít, tài năng chúng ta còn kém, mà công việc thì nhiều”[5]. Sau này, Hồ Chí Minh nói rõ hơn: “Thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ; thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều”[6]. Hai là, dân tín nhiệm, ủy thác việc cầm quyền cho Đảng, nên Đảng phải có trách nhiệm với dân, xứng danh là một Đảng đạo đức và văn minh. Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên phải thật sự coi dân là gốc, dân là chủ, chứ không thể “miệng thì nói dân chủ nhưng làm việc thì họ theo kiểu “quan” chủ”[7]. Ba là, ở các địa phương nhiều khuyết điểm to như “khuynh hướng chật hẹp, bao biện, không biết đem những người có danh vọng hoặc có tài cán ở địa phương vào giúp việc. Có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, dĩ công dinh tư, dùng pháp công để báo thù tư”. Những khuyết điểm đó làm cho dân chúng hoang mang, oán Chính phủ và Đảng, làm cho nền đoàn kết lay động.

Vấn đề đặt ra là “sao cho được lòng dân”; “Chính phủ là công bộc của dân”, “Đảng cầm quyền nhưng dân là gốc, dân là chủ”. Chính phủ là Chính phủ nhân dân nên các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do, dân chủ, hạnh phúc cho mọi người. Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải lấy dân làm gốc, coi dân là chủ, đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh.

2. Nhận thức khoa học vị trí, vai trò “dân là gốc, dân là chủ”

Trong di sản Hồ Chí Minh, nhiều lần chúng ta bắt gặp các cụm từ “dân là gốc”; “nước lấy dân làm gốc”; “dân là chủ, dân làm chủ”, “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”; “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương đều do dân cử ra”; “công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”; “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”; “nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”; v.v..

Vậy dân ở đây là ai? Trả lời câu hỏi này không chỉ liên quan tới vị trí, vai trò của người dân, mà quan trọng hơn là liên quan tới vận mệnh quốc gia. Bởi vì, nước lấy dân làm gốc; Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ.

Những cách diễn đạt về “dân” trong di sản Hồ Chí Minh tựu trung có thể nhìn nhận theo các lát cắt sau đây: Một là, toàn dân, tất cả công dân Việt Nam, cử tri. Trong Hiến pháp 1946, khi nói tới chính thể nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ghi rõ “tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Hai là, các nghị viên (nay gọi là đại biểu Quốc hội). Ở lát cắt này, nhân dân là nghị viên trong Nghị viện (nay gọi là Quốc hội) là những người được cử tri bầu, thay mặt toàn thể nhân dân giải quyết những vấn đề chung cho toàn quốc.

Từ trong di sản Hồ Chí Minh và Hiến pháp Việt Nam, nhận thức có chất lượng khoa học về vị trí, vai trò là gốc, là chủ của dân như thế nào?

Thứ nhất, dân là gốc, dân là chủ tiếp cận theo góc độ Nghị viện nhân dân là cách tiếp cận gián tiếp, đại diện. Nói gián tiếp, đại diện không có nghĩa là không quan trọng, ngược lại có nhiều vấn đề duy nhất chỉ giải quyết theo cách gián tiếp. Đó là “đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài (Điều thứ 23 Hiến pháp 1946). Có quyền bãi miễn các đại biểu mình bầu ra (Điều thứ 20 Hiến pháp 1946). Tuy nhiên, ở Điều 20 này, “dân Nghị viện” phải phụ thuộc vào toàn dân như Điều 41 Hiến pháp 1946 quy định: “Nghị viện phải xét vấn đề bãi miễn một nghị viên khi nhận được đề nghị của một phần tư tổng số cử tri tỉnh hay thành phố đã bầu ra nghị viên đó”.

Thứ hai, dân là gốc, dân là chủ tiếp cận dưới góc độ toàn dân. Trong Hiến pháp 1946 có nói tới “nhân dân phúc quyết”, “toàn dân phúc quyết”. Vấn đề này, cho tới nay, trong nhận thức vẫn còn những cách hiểu khác nhau và vì vậy, trên thực tế, chưa được thực hiện. Hiến pháp 1946 cũng nói rõ “cách thức phúc quyết sẽ do luật định”. Vì luật chưa định nên chưa thực hiện được. Hơn nữa, khi nói toàn dân, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: Hạng hăng hái, hạng vừa vừa, và hạng kém. Mà trong ba hạng đó, hạng vừa vừa, hạng ở giữa, nhiều hơn hết, hạng hăng hái và hạng kém đều ít hơn”[8]. Người lại nói, “cố nhiên, không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”[9]. Và “chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng”. Nhận thức và thực hiện điều này là tương đối khó, nhưng theo tinh thần Hồ Chí Minh, khó dễ là ở mình. Nếu lấy lòng chí công vô tư, vì dân phục vụ mà xử sự thì chắc chắn sẽ vượt qua được khó khăn.

Trở lại Hiến pháp 1946, Điều 21 ghi rõ: Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia”. Điểm c) Điều thứ 70 ghi: “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”. Ở đây có ba điểm cần có sự thống nhất trong nhận thức. Một là, nhân dân ở đây rõ ràng cần được hiểu một cách dứt khoát là toàn dân, không phải là Nghị viện. Hai là, Điều thứ 32 nói rõ, nếu được hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý thì mới đưa ra nhân dân phúc quyết. Như vậy, không phải mọi thứ liên quan tới vận mệnh quốc gia là “tự nhiện, tự động” đưa ra nhân dân phúc quyết, mà toàn dân phải phụ thuộc vào hai phần ba “nhân dân Nghị viện” (nghị viên). Ba là, cách thức phúc quyết thế nào thì chưa có một quy định cụ thể, và chỉ khi nào có luật định cụ thể thì mới thực hiện được việc “toàn dân phúc quyết”. Điều này, trước đây do chiến tranh chưa làm được thì nay trách nhiệm thuộc về Quốc hội. Nếu không làm được điều này thì “toàn dân phúc quyết”, trưng cầu dân ý, dân chủ trực tiếp chỉ là hình thức.

Thứ ba, để nhận thức có chất lượng khoa học vai trò “dân là gốc, dân là chủ” cần khám phá tư duy so sánh của Hồ Chí Minh. Người thường so sánh cán bộ với dân, và chỉ có đặt cạnh dân thì mới hiểu đúng cán bộ. Ví dụ, so với dân thì tất cả cán bộ, công chức đều có quyền, và chỉ có quyền thì mới thực hiện được hành vi tham nhũng, nhũng lạm (lạm dụng quyền để nhũng nhiễu, đục khoét dân). Người viết: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”[10]. “Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”[11].

Người cũng hay so sánh người chủ với đày tớ. Đây là những khái niệm hẹp, thường dùng trong gia đình. Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm này trong phạm vi rộng, quốc gia, quản lý đất nước. Biên độ rộng hẹp khác nhau nhưng tính chất và chức năng là giống nhau, tức là đều bàn tới vai trò, vị trí của từng đối tượng trong mối quan hệ với nhau. Trong phạm vi gia đình, địa vị người chủ quyết định mọi việc. Trong phạm vi đất nước, nhân dân (cả hai cách tiếp cận Nghị viện và toàn dân) – với địa vị người chủ – cũng quyết định mọi việc, theo tinh thần “toàn dân phúc quyết”. Còn Chính phủ là công bộc – đày tớ của dân. Đảng ta phải “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” (Di chúc) theo tinh thần “cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”. Người nói: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”[12]. So với quan niệm hẹp trong gia đình thì ở phạm vi quốc gia, Chính phủ, Đảng, cán bộ vừa là người phục vụ (đày tớ) vừa là người lãnh đạo. Ở đây, có hai khía cạnh liên quan cần được làm rõ: Thế nào là cán bộ? Thế nào là lãnh đạo? Nếu tách khái niệm “cán bộ” và “lãnh đạo” khỏi “đầy tớ” thì sẽ không bao giờ nhận thức có chất lượng khoa học vị trí, vai trò của dân. Hồ Chí Minh dạy: “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”[13]. Và Người giải thích thế nào là lãnh đạo: “Lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt”[14].

Thế là đã rõ. Tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng xét dưới nhiều phương diện thì vị trí, vai trò của toàn dân là quyết định mọi việc, không gì có thể thay thế. Đây chính là chất lượng khoa học trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân. Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Có những việc chúng ta nhận thức và thực hiện tốt, nhưng cũng có những việc chúng ta nhận thức và làm chưa đúng theo di huấn của Người.

Trong nhận thức về vai trò, vị trí của dân có những khía cạnh ta làm chưa tốt, trong đó có vấn đề dân là gốc, dân là chủ theo tinh thần dân quyết. Nếu bàn tới dân là gốc, dân là chủ mà chỉ dừng lại ở Quốc hội (dân là nghị viên) theo tinh thần dân chủ gián tiếp, dân chủ đại diện thì chúng ta bỏ rơi, quên đi một phần rất quan trọng, có ý nghĩa to lớn, liên quan tới vận mệnh quốc gia là dân chủ trực tiếp (dân là toàn dân). Toàn dân đang kỳ vọng ở Quốc hội phải có luật định không chỉ để dân (toàn dân) làm mà còn là dân nói, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát và dân quyết. Chỉ có như vậy thì mới có được dân tin, dân phục, dân yêu, giữ được lòng tin của dân với Đảng và Chính phủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh./.

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.79.
[2] Hồ Chí Minh, Sdd, t.4, tr.148.
[3] Hồ Chí Minh, Sdd, t.5, tr.293.
[4] Hồ Chí Minh: Sdd, t.4, tr.19.
[5] Hồ Chí Minh: Sdd, t.4, tr.20
[6] Hồ ChÍ Minh: Sdd, t.10, tr.4.
[7] Hồ Chí Minh: Sdd, t.6, tr.292.
[8] Hồ Chí Minh: Sdd, t.5, tr.289.
[9] Hồ Chí Minh: Sdd, t5, tr.297.
[10] Hồ Chí Minh: Sdd, t.5, tr.104.
[11] Hồ Chí Minh: Sdd, t.5, tr.641.
[12] Hồ Chí Minh: Sdd, t.8, tr.375.
[13] Hồ Chí Mih: Sdd, t.12, tr.555.
[14] Hồ Chí Minh: Sdd, t.12, tr.222.

Theo PGS.TS Bùi Đình Phong
(hochiminhhoc.com)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ và những chuyện chưa được kể phía sau khuôn hình

Bác Hồ luôn quan tâm đến phóng viên báo chí từ những việc rất nhỏ, rất cụ thể.

Kể từ năm 1919, với bản yêu sách nổi tiếng gửi đến Hội nghị Véc-xây cho đến khi từ giã cõi đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trên 2.000 bài báo, với 150 bút danh khác nhau.

Đây là những câu chuyện cảm động về Bác Hồ với những người làm báo hình của đạo diễn, quay phim, NSƯT Phạm Việt Tùng – người đã từng theo Bác những ngày đầu bước vào nghề báo hình và làm nhiều phim tài liệu về Bác Hồ.

Những câu chuyện ông kể, có chuyện do ông trực tiếp chứng kiến và có những chuyện các đồng nghiệp của ông, Nhà quay phim Nguyễn Thế Đoàn, Hoàng Thái, Phan Nghiêm, Phạm Văn Khoa, Mai Lộc, Phan Trọng Quỳ, An Sơn, Tô Cương, Ngọc Quỳnh, Khánh Dư, Nguyễn Đăng Bẩy… kể lại trong chặng đường tái dựng chân dung Bác Hồ của ông.

Đó là những câu chuyện không thể nào quên đối với những người có may mắn gánh trên mình trọng trách “đưa hình ảnh Bác đến với đồng bào khắp trong Nam, ngoài Bắc, trong đó có những người giúp nhân dân Miền Nam biết gương mặt đó để tin và đi theo chủ nghĩa đó” như lời kể của Nghệ sĩ Việt Tùng.

Bác cũng là người sáng lập nên nền báo chí cách mạng Việt Nam.Ở độ tuổi 20, còn rất trẻ, Phạm Việt Tùng đã “có may mắn được đi theo Bác Hồ” từ những năm 1960. Ông tâm sự: “Được tiếp xúc và gần gũi Bác, chúng tôi bị ảnh hưởng của Bác trong công việc báo hình. Thế hệ những người “cũ kỹ, có may mắn gần Bác như chúng tôi luôn suy nghĩ làm sao cho đúng, soi lại tư tưởng của Bác trước mỗi hành động“.

Những năm đầu trong nghề làm báo hình của ông gắn với nhiều kỷ niệm về Bác. Sau này, ông đã làm rất nhiều những bộ phim tư liệu về Bác Hồ. Những kỷ niệm khi quay phim về Bác tái hiện sống động trong ký ức NSƯT Việt Tùng.

Bác luôn xuất hiện ở nơi không ngờ nhất

Được báo tin Bác chuẩn bị đến thăm một địa điểm nào đó, đơn vị được Bác tới thăm bao giờ cũng muốn chuẩn bị thật chu đáo để đón Bác. Cánh quay phim thường đến sớm, chuẩn bị máy tại nơi dự kiến sẽ đón Bác.

Nhưng Bác luôn xuất hiện ở những nơi không ngờ nhất. Nhiều khi mình chuẩn bị đón tiếp tại một hướng nhưng ông Cụ lại đến từ một hướng khác”. “Không ai đoán được ông Cụ muốn kiểm tra mình cái gì”.

Năm đó, Bác Hồ trở lại thăm Pắc Bó, nơi Bác vẫn xem là quê hương thứ hai của mình. Nhân dân Pắc Bó đã làm một con đường lớn để đón Bác vào thăm mộ Kim Đồng. Nhưng khi đến thăm, Bác không đi con đường mới được xây dựng ấy. Bác lần theo đường mòn cũ, đi lại những lối đi đã từng rất quen thuộc với Bác trong thời kỳ kháng chiến, như muốn ôn lại cả chặng đường đã qua.

Mỗi khi đón Bác, các cơ quan, đơn vị đều chuẩn bị kỹ phòng họp để Bác vào thăm. Nhưng bao giờ cũng vậy, Bác thường qua thăm chỗ nhà ăn, nhà vệ sinh trước rồi mới tới gặp nhân dân. Bác quan tâm sâu sắc, cụ thể đến đời sống của họ, từng cái ăn, cái ở. “Mỗi chuyến thăm của Bác không phải Bác đến chỉ để phát biểu vài ba câu…”. Có lần, đến thăm nhà máy cơ khí số 1, trong khi mọi người đang loay hoay chuẩn bị phòng đón Bác, Bác đi vòng qua sân, nhìn thấy một cái bục nhỏ. Bác đứng lên bục và nói chuyện với công nhân ngay tại đó.

“Các chú chuẩn bị máy, Bác bảo cho mà làm”

Là vị Chủ tịch nướcnhưng Bác quan tâm đến những việc rất nhỏ của cánh quay phim, quan tâm sát sao và rất cụ thể. Ông Việt Tùng tâm sự: “Cụ luôn biết mình đang thuận lợi, khó khăn gì để giúp đỡ mình, thân tình và nhân ái”.

Ông vẫn nhớ câu chuyện của người đồng nghiệp trong chuyến quay phim dịp Đại hội Đảng lần thứ II. Bác đã chủ động hỏi các nhà quay phim: “Các chú có mang nhiều phim không?” Chú quay phim thành thật thưa với Bác: “Thưa Bác, chúng cháu chỉ có 1 cuộn phim thôi ạ“. Bác liền bảo: “Thế các chú chuẩn bị máy, Bác bảo cho mà làm… Chú quay một cái toàn cảnh rồi lia sang lá cờ. Sau đó mới tới các hoạt động của Hội nghị“. Ông Cụ am hiểu về nghề làm phim như vậy đấy, nhà quay phim Việt Tùng nói.

Bấy giờ, điện ảnh Việt Nam còn kém. Chúng ta quay phim gửi sang Trung Quốc, để Trung Quốc “làm giúp”. Đó là bộ phim “Việt Nam kháng chiến”. Ta muốn quay cảnh Bác họp hội đồng Chính phủ nhưng vì hồi ấy, chưa được trang bị các thiết bị hiện đại như bây giờ, ánh sáng trong ngôi nhà mái lá không đảm bảo cho cảnh quay. Trong lúc cánh quay phim đang “bí”, loay hoay chưa biết làm thế nào cho đủ sáng, Bác chỉ lên mái nhà, bảo với quay phim Khánh Dư lúc đó đang là phụ quay: “Chú trèo lên dỡ mấy tàu lá cọ xuống cho ánh sáng lọt vào là quay được“.

Nhà quay phim Tô Cương: “Ông cụ đã cứu mình”

Ông bồi hổi kể, Bác Hồ có thói quen đi rất nhanh. Bác bước từng sải dài, chỉ nhắm nhanh đến đích, để thực hiện công việc của mình. Anh em quay phim nhiều khi không bắt kịp hình ảnh của Bác, nhưng ngại, không biết làm như thế nào. Một hôm, trong lúc nói chuyện, Bác quay sang hỏi nhà quay phim An Sơn: “Hôm nay các chú có làm được việc không?”. Lúc này, ông mới mạnh dạn bộc bạch với Bác: “Thưa Bác, Bác đi nhanh quá ạ. Phim nhựa mang theo người nặng lắm, mà Bác đi nhanh như thế, cháu không quay được ạ”. Từ đó, khi máy quay hướng vào Bác, Bác chủ động đi chậm lại, tạo thuận lợi để thu được những thước phim về Bác.

Bác Hồ luôn quan tâm đến những việc rất bé như vậy. Câu chuyện của nhà quay phim Tô Cương được Nghệ sĩ Việt Tùng kể lại trong niềm xúc động. Đầu năm 1960, gia đình Luật sư Lô-giơ-bai, ân nhân của Bác trong vụ án Hồng Kông sang thăm Việt Nam. Bác Hồ đưa các vị khách quý đến thăm Nhà máy Công cụ số 1.

Trong lúc đang quay phim, đột nhiên máy quay bị hỏng. Bác nghe xoạch một tiếng, biết là máy quay không chạy được. Bác chủ động dừng lại, quay ra nói chuyện với các vị khách, tạo thời gian cho anh em sửa máy. “Cụ lo cho mình như thế đấy. Nếu Cụ đi thẳng, mình không chữa được máy, không quay được hình ảnh Cụ, không hoàn thành được nhiệm vụ, chắc chắn sẽ bị kỷ luật…”. Ông Việt Tùng lúc bấy giờ làm ánh sáng phụ cho ông Tô Cương quay phim về Bác kể lại. Sau lần đó, nhà quay phim Tô Cương cứ xuýt xoa: “May quá, Ông Cụ đã cứu mình”.

Đằng sau khuôn hình, tại hậu trường những cảnh quay chân thực về Bác, còn biết bao những câu chuyện giản dị và cảm động. Những câu chuyện đó đã theo họ trên suốt chặng đường làm báo, với tâm nguyện “làm gì cho xứng đáng”, bởi như Bác nhiều lần nhắc nhở: làm báo chính là làm cách mạng… là để phục vụ quảng đại quần chúng, không chỉ phục vụ một số ít cá nhân…

Theo Vietnamnet
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

“Cán bộ “gầy” nhân dân “béo” mới là vinh hạnh…”

Bác Hồ tặng quà cho ông Trần Văn Nỏ - Ảnh: Tư liệu

Năm mươi năm trước, ngày 23-9-1958, Bác Hồ lên thăm tỉnh Lào Cai. Khi đó, tôi là cán bộ bảo vệ chính trị của Ty Công an được cấp trên giao nhiệm vụ cùng đồng chí Phạm Quế phối hợp với các đồng chí tiếp cận của Bộ, bảo vệ tuyệt đối an toàn cho chuyến đi.

Đúng 10g30, đoàn tàu hỏa đặc biệt mang số hiệu 424 do tài xế Nguyễn Văn Thêm lái đưa Bác tới ga Làng Giàng. Từ đây Bác Hồ lên ôtô sang sông để thăm công nhân mỏ apatit Cam Đường (thường gọi là apatit Lào Cai). Thấy giữa sông một chiếc canô đang chạy rẽ sóng với tốc độ rất cao, Bác quay lại đồng chí Hoàng Trường Minh, Bí thư Tỉnh ủy, hỏi: “Các chú biểu dương lực lượng đón Bác đấy à?”. Đồng chí Hoàng Trường Minh thật thà thưa: “Thưa Bác, đó là chiếc canô kiểm tra trên sông trước lúc đoàn qua đấy ạ!”.

Lúc đó, đồng chí cảnh vệ bảo vệ Bác đứng cạnh tôi, nói nhỏ: Năm trước, Bác lên thăm tỉnh Cao Bằng, Tỉnh ủy cho kết hoa thật đẹp lên chiếc xe mui trần để Bác đi. Khi đồng chí Bí thư Tỉnh ủy mời Bác lên xe kết hoa, Bác nhất định không đi và nói với đồng chí Bí thư: “Chú nào ra lệnh kết hoa lên xe thì chú đó đi”. Lời phê bình nhẹ nhàng mà nghiêm khắc về bệnh phô trương hình thức đã để lại cho Cao Bằng một bài học thấm thía.

Địa chỉ và người được Bác đến thăm và tặng quà đầu tiên trong chuyến lên thăm Lào Cai là ông Trần Văn Nỏ. Ông Nỏ là một nông dân người Tày ở xã Cam Đường. Năm 1924, khi còn là một cậu bé, trên đường lên nương, mệt và khát nước, cậu chặt một ống nứa đun nước uống. Bỗng dưng ba hòn đá kê bếp bốc cháy phừng phừng, tỏa ra ngọn lửa xanh lè. Đá cháy và lửa xanh là điều chưa từng thấy làm Nỏ hoảng sợ, nghi là hòn đá ma, sợ ma báo thù vì gia đình Nỏ có làm nghề thầy cúng. Nỏ liền báo với Lý trưởng, Lý trưởng báo quan Tây… Từ đó, thực dân Pháp đã thăm dò và khai thác apatit ở Lào Cai. Cách mạng rồi kháng chiến chín năm, mỏ không hoạt động. Đến ngày 29-9-1955 ta bắt đầu khôi phục và mở rộng diện khai thác. Ông Nỏ được coi là người đầu tiên phát hiện mỏ apatit và được ghi vào lịch sử của mỏ.

Sáng hôm sau, Bác nói chuyện với cán bộ các cơ quan dân chính Đảng, đại diện các dân tộc tại sân Tỉnh ủy.

Buổi chiều, Bác xuống thăm công trường xây dựng Nhà máy Thủy điện Lào Cai.

Buổi chiều đó nắng nóng, khi Bác nói chuyện với công nhân, đồng chí Bí thư Đảng ủy công trường che ô cho Bác. Người gạt đi và nói mọi người cũng như Bác, mượn cho Bác cái mũ là được.

Sau buổi míttinh ở sân nhà Tỉnh ủy, Bác gọi đồng chí Hoàng Trường Minh (Bí thư kiêm Chủ tịch tỉnh Lào Cai lúc đó) và một số cán bộ chủ chốt của tỉnh về đời sống và phong tục của đồng bào các dân tộc. Trong khi đồng chí Hoàng Trường Minh loay hoay tìm chỗ ngồi cho Bác thì Bác đã tháo dép ngồi ngay xuống thềm nhà mát mẻ, sạch sẽ. Thế là tất cả đều ngồi xuống thềm quây quần quanh Bác.

Riêng một đồng chí mặc complê đi giày tây bóng loáng cứ loay hoay mãi. Bác hỏi: “Chú ngồi xuống. Chú béo đấy. Chú làm công tác gì?”. Đồng chí Hoàng Trường Minh thưa: “Thưa Bác, đây là chú Tiến, Trưởng Ty Thương nghiệp”. Bác nói ngay: “Làm thương nghiệp lúc này là phải xắn quần lên, mang muối, vải và dầu hỏa lên vùng cao cho đồng bào miền núi và thu mua lương thực, thực phẩm cung cấp cho bộ đội và nhân dân… Cán bộ mà “gầy”, nhân dân mà “béo” đó là điều vinh hạnh cho Đảng ta…”.

Hai ngày 23 và 24-9-1958 là hai ngày hạnh phúc nhất của đời tôi khi được ở bên Bác, bảo vệ Bác và nghe những lời dặn dò thân thiết mà sâu sắc của Người. Đó là những lời nói giản dị, bình thường mà có ý nghĩa khai sáng, nghiêm giới suốt cả cuộc đời, khiến tôi không bao giờ sai lầm và làm được một số điều có ích cho sự nghiệp chung, có ý nghĩa trong cuộc đời tôi và gia đình tôi.

(Theo lời kể của đồng chí Phạm Ngọc Minh, cán bộ công an hưu trí, phường Pom Hán, TP Lào Cai)

Theo Tuoitre.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Danh sách bài hát về Hồ Chí Minh

Danh sách bài hát về Hồ Chí Minh là tuyển tập các ca khúc lấy nguồn cảm hứng từ hình tượng Hồ Chí Minh, các sáng tác này tập trung ca ngợi về Hồ Chí Minh như là một vị cha già dân tộc và là người có tấm lòng bao la đối với người Việt Nam, những tác phẩm này thường được lưu hành rộng rãi trong xã hội Việt Nam. Nét chung là các nhạc sĩ sáng tác đa số là người Việt Nam nhưng cũng có những sáng tác của các nhạc sĩ nước ngoài.

Hình tượng Hồ Chí Minh là nguồn cảm hứng cho nhiều nhạc sĩ, nhà thơ sáng tác nhiều tác phẩm. Nhạc sĩ Thuận Yến đã nói : “Trong mỗi chúng ta luôn sẵn có sự tôn kính, tình yêu thương, ngưỡng mộ và lòng biết ơn vô bờ bến đối với Bác nên chỉ cần một bài hát nào đó nói lên được những tình cảm ấy là họ chấp nhận … Đó là đề tài vô tận không bao giờ vơi cạn trong mỗi người sáng tác” [1]. Riêng Thuận Yến đã có tới 26 bài hát viết về Hồ Chí Minh[2].

Nhiều cuộc “Thi sáng tác ca khúc về Hồ Chí Minh” đã được tổ chức, như Đài truyền hình TP HCM cũng vài lần tổ chức cuộc thi “Vận động sáng tác ca khúc về Hồ Chí Minh” để “nêu cao được tinh thần cách mạng và tấm gương đạo đức của Bác, qua đó nhằm nâng cao vai trò quan trọng của đạo đức trong mỗi công dân” [3], Sở Văn hoá – Thông tin Quảng Ninh tổ chức cuộc thi “Hát những ca khúc về Hồ Chủ tịch” [4]… Năm 2005, Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Nhà xuất bản Thanh Niên đã phát hành tuyển tập 115 ca khúc với nhan đề “Hồ Chí Minh – Người sống mãi với non sông” [5]


Danh sách

Xếp theo thứ tự ABC:

  • “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn các em nhi đồng” (Phong Nhã)
  • “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” (Huy Thục)
  • “Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên” (Lê Lôi)
  • “Bác Hồ, một tình yêu bao la” của (Thuận Yến):…Bác thương các cụ già xuân về gửi biếu lụa, Bác yêu đàn cháu nhỏ Trung Thu gửi cho quà. Bác thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng, Bác thương người chiến sĩ đứng gác ngoài biên cương…”
  • “Bác Hồ – Người cho em tất cả” (Hoàng LongHoàng Lân, thơ Thu Phong)
  • “Bác Hồ trên đỉnh Trường Lệ” (Lê Đăng Khoa) [6]
  • “Bài ca dâng Bác” (Trọng Loan)
  • The Ballad of Ho Chi Minh” (Bài ca Hồ Chí Minh) của nhạc sĩ người Anh Ewan MacColl…From VietBac to the SaiGon Delta. Marched the armies of Viet Minh. And the wind stirs the banners of the Indo-Chinese people. Peace and freedom and Ho Chi Minh…
  • “Bài ca về đồng chí Hồ Chí Minh” (Nhạc sĩ người Nga Vladimir Fere)
  • “Bé yêu Bác Hồ” (Đỗ Nhuận)
  • “Bên lăng Bác Hồ” (Dân Huyền)
  • “Bên ta như có Bác” (Lê Đăng Khoa) [6]Ði khắp năm châu hiếm có ai như Bác. Cuộc đời giản dị, tình người bao la. Như có Bác bên ta đang cùng nhau lội đồng, thăm những công trình nhà máy vút cao. Như có Bác bên ta trên giảng đường học tập. Chắp cánh cho ta bay xa, bay xa.
  • “Bên tượng đài Bác Hồ” (Lê Giang)
  • “Biết ơn cụ Hồ” (Lưu Bách Thụ)
  • “Buổi sáng nhớ Bác”
  • “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” (Văn Cao): Người về đem tới ngày vui. Mùa thu nắng toả Ba Đình. Với tiếng Người còn dịu dàng như tiếng đất trời. Người về đem tới xuân đời từ đất nước cằn, Từ bùn lầy cả cuộc đời vùng lên.
  • “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” (Lưu Hữu Phước): Hồ Chí Minh sáng ngời gương đấu tranh. Vững bền đưa chúng ta vượt khó khăn. Hồ Chí Minh muôn năm chỉ lối cho nhân dân. Đến ngày chiến thắng vẻ vang.
  • “Cảm ơn đường Hồ Chí Minh” của Norodom Sihanouk (Campuchia)[7]
  • “Chúng con bên giấc ngủ của Người” (Nguyễn Đăng Nước)
  • “Dâng Người tiếng hát mùa xuân” (Nguyễn Văn Thương)
  • “Dấu chân phía trước” (Phạm Minh Tuấn)
  • “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác” (An Thuyên)
  • “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” (Trần Chung)
  • “Đôi dép Bác Hồ” (Văn An, phổ thơ Tạ Hữu Yên):… Đôi dép đơn sơ đôi dép Bác Hồ Bác đi từ ở chiến khu Bác về, Bác đi từ ở chiến khu Bác về. Phố phường trận địa nhà máy đồng quê đều in dấu dép Bác về…
  • “Em mơ gặp Bác Hồ” (Xuân Giao): “Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ, râu Bác dài tóc Bác bạc phơ”
  • “Em về quê Bác Hồ” (Hồ Tĩnh Tâm)
  • “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh” (Trần Hoàn)
  • “Gửi tới Bác Hồ” (Kapapúi, lời Việt của Tường Vi)
  • “Hát mừng Bác Hồ vĩ đại” của nhạc sĩ Suphat Mukhophathiai (Ấn Độ): “Ôi Hồ Chí Minh, Người vĩ đại biết bao!”[8]
  • “Ho Chi Minh” của nhạc sĩ người Đức Kurt Demmler[9]
  • “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” (Trần Kiết Tường): …Trên cánh đồng miền Nam, đau thương mây phủ chân trời. Khi ca lên Hồ Chí Minh, nghe lòng phơi phới niềm tin…
  • “Hồ Chí Minh là cả một bài thơ” (Nhạc sĩ người Cuba Felis Pita Rogerigate)
  • “Hoa sen Tháp Mười” (Trương Quang Lục)
  • “Inolvidable Ho Chi Minh” (nhạc sĩ Venezuela Alí Primera)
  • “Jose Marti Hồ Chí Minh” (Nhạc sĩ Cuba Armando Cardoso)
  • “Làng Chăm ơn Bác” (Nhạc sĩ người Champa AmưNhân)
  • “Lãnh tụ ca” (Lưu Hữu Phước[10]
  • “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” (Trần Hoàn): Chuyện kể rằng trước lúc Người ra đi, Bác muốn nghe một câu hò xứ Huế. Nhưng không gian. vẫn bốn bề lặng lẽ, Bác đành nằm im…
  • “Mỗi dòng thư Bác sáng ngời niềm tin” (Thuận Yến)
  • “Miền Nam nhớ mãi ơn Người” (Lưu Cầu)
  • “Miền Trung nhớ Bác” (Thuận Yến)
  • “Ngọn cờ Hồ Chí Minh” (Nhạc sĩ Cuba Carlos Puebla, lời Việt của Hồ Bắc)
  • “Nhớ hình ảnh Bác Hồ với nông dân” (Lê Đăng Khoa) [6]
  • “Nhớ ơn Bác” (Phan Huỳnh Điểu)
  • “Nơi Bác ở” (Lê Đăng Khoa) [6]Ngôi nhà sàn bé nhỏ, nơi Bác ở đạm bạc. Cỏ non vờn chân Bác. Gió hát chiều xốn xang. Người ra đi, căn phòng vẫn lộng gió. Ấm áp tình người như Bác vẫn đâu đây
  • “Ngợi ca chủ tịch Hồ Chí Minh” (Nhạc sĩ người Đức Jeans Chourfores)
  • “Người là niềm tin tất thắng” (Chu Minh): Đất nước nghiêng mình đời đời nhớ ơn. Tên người sống mãi với non sông Việt Nam. Lời thề sắt son theo tiếng bác gọi, bốn ngàn năm dồn lại hôm nay, người sống trong muôn triệu trái tim… Thế giới nghiêng mình, loài người tiếc thương. Đây người chiến sĩ đấu tranh cho tự do. Người là ước mơ của các dân tộc. Tiếng người vang vọng đến mai sau. Nguyện ước theo con đường Bác đi…
  • “Người mang tấm áo Bác Hồ”
  • “Người sống mãi trong lòng miền Nam” (Nguyễn Đồng Nai)
  • “Người về thăm quê” (Thuận Yến)
  • “Nhật ký trong tù” (Nhạc sĩ người Anh George Feris phổ nhạc 7 bài thơ ông ưng ý nhất trong tập thơ này)
  • Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” (Phạm Tuyên)
  • “Những bông hoa trong vườn Bác” (Văn Dung)
  • “Quyền sống trong hòa bình” (The Right of Living in Peace) nhạc của Víctor Jara (Chile): “Nhà thơ Hồ Chí Minh – Đưa quyền sống hòa bình – Từ Việt Nam ra toàn nhân loại…”[11]
  • “Suối Lê Nin” (Phạm Tuyên)
  • “Tây Nguyên mừng đón thơ Bác” (Doãn Nho)
  • “Tây Nguyên nhớ Bác Hồ” (Kapapúi – lời Tường Vi)
  • “Teacher Uncle Ho” (Thầy giáo Bác Hồ) của nhạc sĩ người Mỹ Pete Seeger…I’ll have to say in my own way. The only way I know, that we learned power to the people and the power to know. From Teacher Uncle Ho!
  • “Tấm áo Bác Hồ” (Thuận Yến)
  • “Tấm ảnh Bác Hồ” (Lưu Hữu Phước)
  • “Thăm bến Nhà Rồng” (Trần Hoàn)
  • “Thanh niên làm theo lời Bác” (Hoàng Hà)
  • “Tiếng hát giữa rừng Pắk Pó” (Nguyễn Tài Tuệ)
  • “Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác” (Cao Việt Bách)
  • “Tình Bác sáng đời ta” (Lưu Hữu Phước)
  • “Trông cây lại nhớ Người” (Đỗ Nhuận)
  • “Tuổi trẻ thế hệ Bác Hồ” (Triều Dâng)
  • “Từ làng Sen” (Phạm Tuyên)
  • “Vâng lời Bác Hồ” (Lưu Bách Thụ)
  • “Vầng trăng Ba Đình” (Thuận Yến)
  • “Viếng Lăng Bác” (Hoàng Hiệp, phổ thơ Viễn Phương)
  • “Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ” (Nhạc sĩ Nga Vladimir Fere, lời Việt của Đỗ Nhuận)

Chú thích:

  1. ^ Nhạc sĩ Thuận Yến: “Bác Hồ luôn là nguồn cảm hứng sáng tác của tôi”
  2. ^ Gặp nhạc sĩ sáng tác nhiều nhất về Bác Hồ
  3. ^ Vận động sáng tác ca khúc về Hồ Chí Minh
  4. ^ Xây dựng đạo đức Hồ Chí Minh trở thành nét đẹp văn hoá trong công nhân mỏ
  5. ^ Tuyển tập 115 ca khúc về Bác Hồ
  6. a b c d Một nhạc sĩ say mê sáng tác những ca khúc về Bác Hồ
  7. ^ http://www.daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=114034
  8. ^ http://www.daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=114034
  9. ^ http://www.daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=114034
  10. ^ Chuyện cảm động xung quanh một số ca khúc về Bác Hồ
  11. ^ http://www.daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=114034

vi.wikipedia.org

Hồ Chí Minh, tôi nhớ mãi không quên

Bà con kiều bào Việt Nam tại Thái-lan về nước đến chúc Tết Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch (29-1-1960). Ảnh: TL

Xéc-gây A-phô-nin là phóng viên của Hãng Thông tấn TASS và Báo “Sự thật thanh niên cộng sản” ở Việt Nam những năm 1967 – 1970. Từ 1975 – 1988 ông là cán bộ của Vụ Các nước XHCN thuộc Ủy ban Trung ương Ðảng Cộng sản Liên Xô. Ông được nhiều lần gặp Bác Hồ. Trong cuốn sách “Người Nga nói về Hồ Chí Minh” (xuất bản ở Mát-xcơ-va 2010) ông có bài viết “Những cuộc gặp mặt thân tình”. Cuối bài viết ông kết: “Kỷ niệm không thể nào quên về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi đã viết một “câu chuyện bằng thơ” về những mốc chính của cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người”. Chúng tôi xin chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Nga bài thơ đó của ông:

Mấy lần được gặp Hồ Chí Minh
Nhà cách mạng nhiệt huyết, chí tình
Nhớ mãi đôi mắt nhìn sâu thẳm
Ðời giản dị, trí tuệ anh minh.
Làng Sen yêu dấu – quê Người đó
Biểu tượng hào hiệp và thanh tao
Tiếp thêm nhựa sống từ đất mẹ
Tâm hồn trong sáng, chí anh hào.
Người sớm ra đi tìm chân lý
Ðã nhìn thấy ánh sáng Tháng Mười
Nguyện thành chiến sỹ luôn tranh đấu
Vì tự do, hạnh phúc con người.
Trong giấc mơ hiện lũy tre làng
Cả cha mẹ, bà con họ hàng.
Rời bến cảng xuất dương cứu nước
Nén nỗi buồn xa cách, nhớ mong.
Người thành lập chính đảng tiên phong
Kim chỉ nam mở lối dẫn đường
Cho cuộc chiến kiên cường, bất khuất
Ðưa dân tộc tới ngày vinh quang.
Năm bốn mốt Người về Việt Bắc
Sau bao năm đi khắp năm châu
Người thành vị Cha già dân tộc
Lái con thuyền trong cuộc bể dâu.
Trong tù viết “Ngục trung nhật ký”
Những vần thơ như ánh mặt trời
Thấm vào lòng người dân nô lệ
Thổi gió lành hướng tới tương lai.
Năm bốn lăm mở trang sử mới
Dân vùng lên đạp đổ xiềng gông
Thu Tháng Tám cờ bay phất phới
Ðộc lập, tự do – quyết chí chung lòng.
Ba Ðình đó – dấu ghi lịch sử
Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn.
Toàn dân Việt muôn người như một
Quyết hy sinh cho Tổ quốc trường tồn.
Quân thù lại mưu toan xâm lược
Toàn dân tộc cầm súng xông lên
Trái tim Người thôi thúc tiến bước
Soi đường tới thắng lợi vững bền.
Chiến dịch Hồ Chí Minh thành công rực rỡ
Ðại thắng mùa xuân lịch sử quang vinh
Nam Bắc một nhà thỏa lòng mong ước
Ðộc lập – Tự do – Hạnh phúc – Hòa bình.
Người cảm ơn bạn bè quốc tế
Ðoàn kết đồng lòng giúp đỡ Việt Nam.
Toàn dân Việt tình sâu nghĩa nặng
Nguyện suốt đời ghi mãi tâm can.
Trong lòng dân Bác Hồ sống mãi
Như nước Việt mãi mãi xanh tươi
Luôn “Ðổi Mới” xây nền hạnh phúc
Xây tương lai đất nước, con người.
Lăng Người đây rực sáng hoa tươi
Từ mọi miền năm châu bốn bể
Hình ảnh Người giữ mãi trong tim
Di huấn của Người sống mãi niềm tin.
Nơi Làng Sen tưng bừng lễ hội
Lại vang lên hành khúc tráng ca
Ngợi ca đấng vĩ nhân thời đại
Hồ Chí Minh yêu kính thiết tha.

XÉC-GÂY A-PHÔ-NIN
(XUÂN HỮU Dịch từ nguyên bản tiếng Nga)
Theo nhandan.org.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn