Tag Archive | Độc lập

Lên Pác Bó nghe kể chuyện Bác Hồ về nước

Báo tin tức – Đã ở tuổi 88, cụ Hoàng Thị Khìn, xóm Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng vẫn rành rọt kể từng chi tiết về câu chuyện 70 năm trước khi Bác Hồ ở Pác Bó vận động, giác ngộ bà tham gia hoạt động cách mạng.

Thời gian đã in trên mái tóc bạc trắng hằn sâu những vết nhăn trên khuôn mặt phúc hậu của bà nhưng không xóa được ký ức về tình cảm thiêng liêng đối với Bác. Mỗi lời kể của bà, sâu lắng xúc động về tình cảm của ông Ké gắn bó với người dân Pác Bó trong những ngày cách mạng gian khổ, còn nguyên vẹn như vừa mới hôm qua.

Cụ Hoàng Thị Khìn kể chuyện Bác Hồ về Pác Bó năm 1941.

Năm 1939, bà là thiếu nữ người Nùng xinh đẹp sống trong cảnh đời buồn bã như bao cô gái khác trong bản vì hằng ngày chứng kiến bọn quan Tây, lính dõng bắt bớ đánh đập tàn bạo người thân, dân làng đi phu, đi lính.

Già, trẻ, gái, trai nhà nào cũng vậy, quanh năm oằn lưng làm lụng mà không đủ nộp sưu thuế. Các cô thiếu nữ Nùng xinh đẹp lớn lên chưa từng được mặc một bộ quần áo lành lặn vì nhà nào cũng nghèo xơ xác.

Cuộc đời khổ cực như trâu ngựa, dân bản chỉ biết cúi mặt cam chịu bọn quan lại áp bức mà không tìm được lối thoát. Rồi một hôm có 2 người lạ là các ông (Hoàng Tô, Lê Quảng Ba) đến nhà nói chuyện với bố, mẹ bà những điều rất mới lạ: “Theo cách mạng (CM), đánh đuổi bọn quan Tây, lính dõng, sẽ không bị khổ cực nữa”. Hai từ “Cách mạng” khắc sâu trong tâm trí bà.

Cha mẹ bà hiểu được cái lý lẽ của 2 đồng chí CM nên giảng giải, động viên các con mình đi theo CM, giúp cán bộ CM. Từ đó, gia đình bà trở thành cơ sở tin cậy của cán bộ CM. Bà và mấy người em gái được phân công lo công tác hậu cần, đưa đón cán bộ.

Vào mùa xuân năm 1941, một hôm bà được ông Lê Quảng Ba phân công hai chị em vào rừng đưa cơm cho ông Ké. Bà cùng em gái (bà Hoàng Thị Hoa) đi vào khu rừng rậm phía đầu nguồn suối Giàng (suối Lênin ngày nay) gặp ông Ké (ông già) lạ mặt. Lần đầu gặp ông Ké, ông nói chuyện bằng tiếng Nùng trìu mến ấm áp, ân cần hỏi thăm đời sống dân bản, người thân trong gia đình, hai chị em bà thấy gần gũi ấm áp lạ thường.

Ông Ké giảng giải cho hai chị em: “Bọn quan Tây không cho người dân đi học, bắt nộp sưu thuế nặng nề, mọi người dân nghèo đói ngu dốt để chúng dễ áp bức cai trị. Các cháu phải đi học chữ để hiểu biết, làm CM thì sẽ đánh đuổi được chúng”.

Mỗi lời ông Ké nói như một chân trời mới mở ra trước cuộc sống đen tối của bản làng mà bà chưa bao giờ nghĩ tới. Được ông Ké giác ngộ, tin tưởng, bà nhiệt tình tham gia hoạt động CM, vận động chị em trong bản đi học chữ do ông Ké cử cán bộ mở lớp. Sau mỗi buổi học hay giờ nghỉ, Bác thường xuyên lên thăm lớp học, động viên mọi người cố gắng và giảng bài về đạo đức người đảng viên.

Bà và chị em còn được Bác quan tâm dạy từ nếp ăn ở, sinh hoạt và tặng cả sách “Ngũ tự kinh”. Bà nhớ mãi lời ông Ké dặn: “Các cháu nhớ học chữ để hiểu biết, đọc hiểu cuốn sách này, phấn đấu nam nữ bình quyền. Các cháu học tốt, hiểu biết tham gia CM sau này đứng lên giành độc lập tự do thì Bác mới trả được hết công lao các cháu”.

Thấm nhuần lời ông Ké, ở lớp phụ nữ học chữ ai cũng cố gắng. Được Bác Hồ giác ngộ cách mạng, học chữ nâng cao nhận thức và hiểu biết, bà và chị em ngày càng tin tưởng vào con đường đấu tranh CM.

Bà vận động chị em trong bản, xã đóng góp lương thực, bán củi đổi lấy muối nuôi cán bộ, làm tốt công tác hậu cần, đưa đón, bảo vệ cán bộ CM 3 miền Bắc, Trung, Nam đến học các lớp tập huấn cán bộ, du kích và Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII tại Khuổi Nặm; tham gia đánh thổ phỉ xóm Lũng Túp (Sỹ Hai).

Bà tâm sự: Khi hoạt động CM gặp nhiều gian nan, nguy hiểm nhưng nghĩ đến lời ông Ké dặn “Mọi người đoàn kết đấu tranh thì mới đánh đổ được bọn quan Tây, lính dõng, bản làng sẽ không còn ai bị chúng đánh đập cướp bóc”, thì tôi lại cố gắng vượt qua khó khăn. Theo lời ông Ké, cả làng ai cũng hăng hái tham gia các tổ chức cứu quốc: Phụ lão cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc… tất cả hợp thành khối thống nhất trong Mặt trận Việt Minh.

Tôi và mọi người trong gia đình ai cũng tham gia các tổ chức cứu quốc. Mặt trận Việt Minh ngày càng phát triển mạnh, mọi người càng thêm tin vào lời ông Ké về con đường giải phóng dân tộc, giải phóng cho chính mình. Đêm tiễn ông Ké từ Pác Bó đi Tân Trào là giờ phút thiêng liêng mà tôi không thể nào quên trong cuộc đời mình. Chị em trong bản chúng tôi khâu áo, mũ, giầy vải, khăn tặng ông Ké trước khi lên đường. Ai nấy bịn rịn thương nhớ không muốn rời trong giờ phút chia tay. Ông Ké động viên chị em và mọi người tiếp tục đoàn kết đấu tranh cách mạng giành chính quyền khi thời cơ đến.

Như lời ông Ké, Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám nổ ra, các tổ chức CM và nhân dân hưởng ứng đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay, có độc lập tự do.

Bản làng không còn cảnh quan Tây, lính dõng đánh đập, bóc lột dã man, ai cũng được tự do, có cơm no áo ấm. Người không chỉ làm thay đổi cuộc đời tôi mà thay đổi cả vận mệnh dân tộc. Những ngày tôi được gặp ông Ké không nhiều, nhưng những tình cảm, tư tưởng của Người dành cho tôi luôn là những điều kỳ diệu theo mãi bên tôi cùng năm tháng.

70 năm đã qua đi kể từ ngày Người về Pác Bó, bàn đá chông chênh Người ngồi dịch sử Đảng, chỉ đường, vạch lối đấu tranh cách mạng từ nơi đây đã trở thành bản trường ca về sức mạnh dân tộc, vươn tới những đỉnh cao của lịch sử đất nước.

Trong lòng núi rừng Pác Bó và người dân nơi đây vẫn ôm hình bóng Già Thu, hằng nhớ mùa xuân đón Bác về nhìn những đổi thay trên quê hương cội nguồn cách mạng. Đường đến Pác Bó hôm nay được Đảng, Nhà nước và nhân dân mở rộng to đẹp mang tên đường Hồ Chí Minh, hai bên đường nhà mái ngói đỏ tươi dưới chân núi. Pác Bó, Trường Hà hôm nay có đầy đủ đường, điện, trường, trạm… ; bà con tích cực tăng gia sản xuất, không còn cảnh đói nghèo.

Xóm bản nhớ ơn Người, nhân lên niềm tin khi thực hiện Cuộc vận động (CVĐ) “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Chi bộ xóm gắn thực hiện CVĐ với xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, mẫu mực làm tấm gương cho con cháu noi theo. Các tổ chức, đoàn thể triển khai CVĐ gắn với nhiệm vụ hoạt động đề ra…

Chị Nông Thị Dung, xóm Pác Bó, tâm sự: Bác đã gắn bó với bản làng nơi đây, học tập và làm theo Bác lại càng có ý nghĩa để mỗi người phấn đấu xây dựng xóm làng no ấm như Bác hằng mong… Dân bản hưởng ứng CVĐ vượt khó vươn lên làm kinh tế, cái ăn, cái mặc thêm đủ đầy, cuộc sống được nâng lên, nhiều hộ đã vươn lên thành hộ khá, đoàn kết tình làng nghĩa xóm.

Con em trong bản phấn đấu học tập, làm theo lời Bác, nhiều thế hệ trưởng thành. Khu Di tích Lịch sử Pác Bó đang được đầu tư xây dựng hiện lên bề thế với những hạng mục tầm cỡ quốc gia gìn giữ di tích về Người, đón khách trong nước và bè bạn quốc tế đến với Pác Bó, đến với nơi Người mở đầu suối nguồn cách mạng, chặng đường đầu tiên cho vận mệnh dân tộc Việt Nam và thời đại Hồ Chí Minh.

Pác Bó hôm nay, vẫn núi thiêng hùng vĩ, trong veo tiếng suối ngàn như phút thiêng liêng mùa xuân xưa đón Người. Già Thu như vẫn ở nơi đây, bao tình cảm gắn bó với bà con không thể phai mờ. Muôn lòng dân làm theo lời Bác, đón Người về mỗi độ xuân sang.

Mạnh Hà (ghi tại Pác Bó)

baotintuc.vn

Thấm trong Di chúc

Bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Ảnh tư liệu

Suốt một đời Bác đã nghĩ về ta/ Đến phút cuối tim Bác trào lên bút/ Chữ xô dòng, lòng Bác buốt thương dân….

Thấm trong Di chúc

Suốt một đời Bác đã nghĩ về ta
Đến phút cuối tim Bác trào lên bút
Chữ xô dòng, lòng Bác buốt thương dân.

Ôi miền Nam không kịp nữa về thǎm
Nỗi nhớ tỏa trên mọi nhà mọi ngõ,
Phút chia biệt Bác nói lời đoàn tụ
Câu dặn dò nghe ấm vị hàn huyên.
Bác đi rồi còn trao lại niềm tin
Con không khóc, nhưng cứ trào nước mắt
“… đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc”

Bác Hồ ơi! Ngày đó chẳng còn xa
Ai ngờ đâu, tháng 9 mồng 3…

Quá thương đời và lo nỗi dân đau,
Bác cố tránh nói những lời ly biệt
Mượn câu thơ để khuây lòng thương tiếc.
Ôi lòng Người đo sao hết mông mênh
Nghĩ việc gì Bác cũng nghĩ từ dân
Nói về Đảng cũng vì dân mà nói,
Nước còn giặc, dân còn khi lạnh đói
Bác đắng lòng trong mỗi miếng cơm ǎn,

Thắng quân thù dẫu phải mấy mươi nǎm
Nhưng hạt thóc rụng giữa đồng Bác tiếc.
Nguồn biển lớn uống muôn đời không hết
Vẫn kính nhường từng hạt nước trong sông.

Bác Hồ ơi! Vị muối mặn con ǎn
Đã kết đậm bao tình thương của Bác,
Manh áo ấm con mặc khi trở rét
Đã dệt vào trǎm mối Bác lo toan.

Phút giã từ trong ánh mắt đǎm đǎm
Nỗi ưu ái lại trào lên lần chót:
Hãy giữ đức cho trong, giữ lòng cho khiết
Sống kiệm cần, tương kết tương thân…

Ôi giọng Người hiền như giọng cha ông
Cứ mộc mạc mà thấm vào mãi mãi,
Con nghe Bác hiểu thêm tầm thời đại
Sáng thêm lòng nhân ái Việt Nam ta.

Trọn một đời Bác chung thủy gần xa
Trǎm ơn nghĩa luôn nặng đằm bên dạ.
Lời vĩnh biệt đã thành lời cảm tạ
Giọng khiêm nhường ôm bốn bể anh em.

Thế kỷ này đâu phải đã bình yên
Trái tim lớn nặng niềm đau mặt đất.
Tình bè bạn, phút ra đi, còn nhắc
Dao cắt lòng nhưng vẫn ngập yêu tin.

Lần đầu tiên Bác nói đến niềm riêng,
Cả nước khóc nghe những lời dặn cuối.
Ôi trời rộng và núi cao vời vợi
Sông biển nào sánh được Bác thương ta!

Bữa cơm ǎn vẫn quen nhút quen cà,
Lúc nhắm mắt xin dân đừng tang chế.
Ôi tim Bác sao mà mênh mông thế!
Gương trong ngần cho muôn thuở cùng soi.

Triệu lòng người cùng cất gọi: Bác ơi!
“Muôn vàn tình thương yêu” Bác gửi lại trong lời
Chúng con đọc nghẹn ngào thấm thía
Tay Bác yếu không còn đều nét chữ
Tim Bác đập vẫn đồng bào đồng chí
Giây cuối cùng Bác vẫn gánh lo toan.

Bác Hồ ơi xin Bác cứ yên tâm!
Lời Bác dặn chúng con xin nguyện ước.
Mỗi giọt lệ thấm xuống dòng Di chúc.
Một lời nguyền vang đến suốt mai sau.

VŨ QUẦN PHƯƠNG
12-1969

tuoitre.vn

Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và bước ngoặt của Cách mạng Việt Nam

Báo tin tức – Ngày 28 tháng 1 năm 1941 (mùng 2 Tết Tân Tỵ), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ làng Nậm Quang (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc), nơi tổ chức lớp huấn luyện cho 43 cán bộ cách mạng Việt Nam đã trở về Việt Nam sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước. Bên cột mốc 108 trên biên giới Việt – Trung thuộc địa phận xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng lặng hồi lâu xúc động.

Với sự nhạy cảm chính trị đặc biệt của một lãnh tụ thiên tài, Nguyễn Ái Quốc đã tìm cách ra đi, để rồi tìm cách trở về Tổ quốc, trở về trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam trước những bước ngoặt của tình thế đã được Người dự đoán.

Người dân thuộc địa hiếm hoi trở thành thành viên của Đảng Xã hội Pháp

Khi rời bến Nhà Rồng ra đi tìm một con đuờng mới cho cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, người thanh niên Nguyễn Tất Thành chỉ nung nấu một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp, ủng hộ luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên (12/1920). Ảnh tư liệu: TTXVN

Khi nhiều người đang ngoảnh nhìn về phương Đông với sự ngưỡng mộ “người anh cả da vàng” Nhật Bản – một đế quốc mới ở châu Á – đã chiến thắng nước Nga Sa hoàng năm 1905, hay ngưỡng vọng bác sĩ Tôn Dật Tiên với chủ nghĩa Tam dân nổi tiếng và cách mạng Tân Hợi 1911 ở Trung Quốc thì Nguyễn Tất Thành tìm đường sang phương Tây, đến nước Pháp, đến nơi sản sinh ra những lời đẹp đẽ: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” đã từng làm rung động lòng mình khi còn ở tuổi thiếu niên.

Nguyễn Tất Thành muốn đến tận nơi sinh ra những lý tưởng cao đẹp đó để tìm hiểu xem làm sao người Pháp có được Tự do – Bình đẳng – Bác ái… Nguyễn Tất Thành đã chọn hướng Tây với mong muốn thiết thực: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”.

Tư liệu của Alain Ruscio, một nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh người Pháp: Khoảng cuối năm 1918 hoặc đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đoàn thanh niên xã hội và sau đó là Đảng Xã hội Pháp, vì nhận thấy có mối liên hệ giữa những hoạt động của đảng với khát vọng giải phóng dân tộc của mình. Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc đã trở thành đảng viên Xã hội Pháp “vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại Cách mạng Pháp: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” – như sau này tác giả Trần Dân Tiên đã thuật lại.

Nguyễn Ái Quốc là một trong số rất hiếm hoi thành viên của Đảng Xã hội Pháp khi đó là người dân của một xứ thuộc địa. Trong mùa hè năm 1919, người ta thấy Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trong các cuộc họp của Đảng Xã hội, trong các cuộc họp của Tổng công hội, Hội Nhân quyền…

Tìm thấy nguồn sáng tương lai

Cho đến khi nổ ra những cuộc tranh luận trong Đảng Xã hội Pháp về vấn đề nên là thành viên của Quốc tế nào, Nguyễn Ái Quốc chưa hề đọc tác phẩm nào của V.I.Lênin. Anh ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ là theo cảm tính, mà chưa hiểu hết tầm quan trọng và ý nghĩa lịch sử của cuộc cách mạng vĩ đại này. Anh tỏ ra lúng túng trước những cuộc tranh luận.

Điều làm Nguyễn Ái Quốc lúng túng chính là “trong cuộc bàn cãi, người ta rất ít nói đến sự đoàn kết với các dân tộc thuộc địa. Nhưng đó lại là vấn đề tôi quan tâm hơn hết”. Điều mà Nguyễn Ái Quốc muốn biết nhất – vì đối với Người nó quan trọng nhất – là Quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa, thì lại không thấy bàn đến trong các cuộc tranh luận đó.

Trong hai số liên tiếp ngày 16 và ngày 17/6/1920, báo L’Humanité (Nhân đạo) đăng “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin. Luận cương này được V.I.Lênin trình bày tại Đại hội II Quốc tế cộng sản họp từ ngày 19/7 đến 10/8/1920.

Luận cương của V.I.Lênin đã gây cho Nguyễn Ái Quốc một cảm xúc mạnh mẽ. Sau này Người kể lại: “Luận cương của Lênin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên”.

Qua Luận cương, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy sự ủng hộ, tìm thấy chỗ dựa, tìm thấy nguồn sức mạnh để vươn tới cái đích của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc – đã được chỉ rõ là sự chiến thắng của Chính quyền Xô viết với chủ nghĩa đế quốc thế giới.

Những điều này đã giải đáp những băn khoăn thắc mắc của Nguyễn Ái Quốc trước câu hỏi: Đứng về Quốc tế nào trong các cuộc tranh luận diễn ra ở các cuộc họp của Đảng Xã hội Pháp. Nguyễn Ái Quốc đã có câu trả lời rõ ràng: Đứng về Quốc tế III của Lênin, bởi vì “Chúng tôi thấy rằng việc Đảng Xã hội gia nhập Quốc tế III có nghĩa là Đảng hứa một cách cụ thể rằng từ nay Đảng sẽ đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa”.

Ngày 30/12/1920, tại Đại hội Tua, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng cộng sản Pháp và bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III. Nguyễn Ái Quốc đã chính thức trở thành một chiến sĩ cộng sản đấu tranh cho lý tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Sự gặp gỡ tư tưởng Nguyễn Ái Quốc – Lênin này phản ánh những nhu cầu đang đặt ra của lịch sử là xác định một con đường đúng đắn cho cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam nói riêng và các dân tộc thuộc địa nói chung.

Nguyễn Ái Quốc chính là người đảm nhận nhiệm vụ lịch sử đó. Ánh sáng của tư tưởng Lênin đã soi rọi cho Nguyễn Ái Quốc con đường đấu tranh giải phóng, không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà còn cho tất cả các dân tộc còn đang bị áp bức. Luận cương của V.I.Lênin chính là tia sáng đầu tiên của dòng ánh sáng đó.

Mặt trận Việt Minh – khối lực lượng chính trị quần chúng mạnh mẽ

Ngay sau khi Bác về nước, ngày 19/5/1941, giữa vùng núi rừng Pắc Bó, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận Việt Minh ra đời giữa lúc nhân dân Việt Nam đang rên xiết trong cảnh một cổ hai tròng, vận mệnh dân tộc đang trong cảnh nước sôi lửa nóng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường đi công tác, Tuyên Quang năm 1951. Ảnh tư liệu: TTXVN

Với một quyết tâm được xác định rõ trong chương trình của mình “làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do”, Mặt trận Việt Minh đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho Tổ quốc.

Các tầng lớp quần chúng đông đảo được tổ chức trong những Hội cứu quốc là thành viên của Mặt trận Việt Minh: Nông dân cứu quốc; Công nhân cứu quốc; Thanh niên cứu quốc; Phụ nữ cứu quốc; Phụ lão cứu quốc; Văn hóa cứu quốc… đã làm cho Mặt trận ngày càng phát triển rộng rãi. Sự phát triển của các tổ chức cứu quốc lan rộng trên khắp các địa bàn nông thôn, thành thị, miền núi, từ Bắc vào Nam, đã làm thành một Phong trào Việt Minh sôi nổi, tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ trong phong trào cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa.

Mặt trận Việt Minh chính là sợi dây nối liền chặt chẽ Dân – Đảng, Đảng – Dân, để ý Đảng thấm tới lòng dân, tạo ra khả năng cho Đảng có thể phát động một cuộc Tổng khởi nghĩa toàn dân trên địa bàn cả nước.

Thông qua Mặt trận Việt Minh, Đảng ta đã xây dựng được một khối lực lượng chính trị quần chúng mạnh mẽ, được rèn luyện qua những phong trào cách mạng. Cũng do sự phát triển rộng khắp của phong trào Việt Minh, Đảng đã có điều kiện để duy trì các đội du kích, xây dựng những khu căn cứ địa cách mạng, hình thành lực lượng vũ trang cách mạng.

Tại Việt Bắc, trong cao trào tiến tới Tổng khởi nghĩa, đã xuất hiện những xã hoàn toàn, châu hoàn toàn. Tại những nơi đó, Việt Minh nắm chính quyền, bước đầu thử nghiệm mô hình chính quyền nhân dân, xây dựng cuộc sống mới.

Mặt trận Việt Minh ra đời là sự kế tục sự nghiệp đấu tranh của các tổ chức mặt trận đã được Đảng ta tổ chức trước đó: Hội phản đế đồng minh (11/1930); Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (7/1936); Mặt trận Dân chủ Đông Dương (3/1938); Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (11/1939).

Mặt trận Việt Minh ra đời là kết quả của quá trình vận động cách mạng, là sản phẩm của sự điều chỉnh chiến lược cách mạng Việt Nam đúng đắn sáng suốt của Đảng ta từ Hội nghị Trung ương 6 (11/1939) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì và sau đó được Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh hoàn thiện tại Hội nghị trung ương 8 (5/1941).

Mặt trận Việt Minh còn là sự hiện thực hóa kết quả thắng lợi của sự phát triển đường lối, chủ trương chiến lược đoàn kết dân tộc, tập hợp đoàn kết quần chúng trong một tổ chức mặt trận dân tộc thống nhất, đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng, đưa cách mạng đến thắng lợi.

Sự thành lập và hoạt động của Việt Minh đã trở thành nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Sự ra đời và hoạt động của Mặt trận Việt Minh là kết quả của một tư tưởng cách mạng khoa học, sáng tạo. Đây cũng là một bài học thành công của Đảng ta và Hồ Chí Minh về công tác mặt trận và chiến lược đoàn kết dân tộc trong Cách mạng Việt Nam.

Trong suốt một thập kỷ, mọi thắng lợi của dân tộc, nhân dân ta đều gắn với hai chữ Việt Minh. Đồng chí Hoàng Quốc Việt trong tập hồi ký “Ánh sáng mới từ Pắc Bó – Đầu nguồn” viết: “Hai chữ Việt Minh trong một thời kỳ dài làm nức lòng đồng bào cả nước. Hai chữ Việt Minh còn mãi trong lịch sử chói lọi nét vàng son”.

Bạo lực cách mạng chống bạo lực phản cách mạng, giành chính quyền và bảo vệ chính quyền

Từ những chặng đầu tiên trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại của mình, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức rõ con đường tiến lên của Cách mạng Việt Nam là con đường bạo lực cách mạng vô sản. Bởi, độc lập tự do không thể cầu xin mà có… Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cần phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền. Quan điểm đó xuyên suốt trong cả quá trình Hồ Chí Minh lãnh đạo Cách mạng Việt Nam.

Hội nghị Trung ương lần thứ 8 cũng là mốc lịch sử đánh dấu bước phát triển hoàn thiện tư tưởng Hồ Chí Minh về vũ trang khởi nghĩa ở Việt Nam. Đó là cuộc khởi nghĩa vũ trang giành độc lập dân tộc do toàn thể dân tộc tiến hành “Đó là một cuộc đấu tranh to tát về chính trị và quân sự”.

Phương thức tiến hành khởi nghĩa từng phần tiến tới Tổng khởi nghĩa đã được Hồ Chí Minh nêu lên từ sớm: “Ở các nước Âu Mỹ, cuộc khởi nghĩa thường bắt đầu từ các cuộc đấu tranh chính trị rồi mới tiếp đến các cuộc vũ trang bạo động. Ở Đông Dương ta, khởi nghĩa có thể bùng ra ở một vài nơi rồi lan dần khắp nước. Khởi nghĩa có thể bùng ra ở nơi nhiều núi rừng tiện cho việc đánh du kích”.

Sau khi Bác về nước, trong những năm 1941 – 1944, những đội du kích, đội tự vệ được xây dựng ở nhiều xã, nhiều huyện thuộc tỉnh Cao Bằng. Những trung đội cứu quốc quân 1, 2, 3 – lực lượng vũ trang cách mạng được duy trì sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn tiếp tục được củng cố. Đây là lực lượng nòng cốt hỗ trợ cho phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng đang dâng cao, đặc biệt trong các tỉnh thuộc khu giải phóng Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên.

Trong khí thế đang lên của phong trào cách mạng, tháng 5/1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị: “Về sửa soạn khởi nghĩa”. Tháng 10/1944, Trung ương Đảng lại ra lời kêu gọi: “Sắm vũ khí đuổi thù chung”. Các địa phương ra sức củng cố xây dựng lực lượng vũ trang, tìm kiếm vũ khí, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền… Phong trào chuẩn bị khởi nghĩa sôi nổi lan rộng.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ những bước phát triển của lực lượng vũ trang và việc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa phải phù hợp với sự phát triển của tình thế cách mạng. Vấn đề quan trọng nhất là phải có đường lối chiến lược và sách lược cách mạng đúng đắn, phải chuẩn bị lực lượng đầy đủ, tạo thời cơ và nắm vững thời cơ, để khi thời cơ đến có thể nhanh chóng huy động lực lượng chớp thời cơ giành thắng lợi.

Đến tháng 7/1945, phát xít Đức, Italia đã bại trận trên chiến trường châu Âu, ở châu Á, phát xít Nhật đang trên đường thất bại và sụp đổ. Dù đang ốm nặng giữa rừng Tân Trào, Hồ Chí Minh vẫn chỉ thị cho các đồng chí: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, giữa phát triển phong trào quần chúng, xây dựng căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị lực lượng chính trị và nhạy bén chớp thời cơ phát động toàn dân đứng dậy tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Mở cửa để Cách mạng Việt Nam thành một phần của cách mạng thế giới

Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp chỉ đạo Cách mạng Việt Nam cũng mang về những nhận định mới về tình hình thế giới và đề ra sách lược đối ngoại cho Cách mạng Việt Nam.

Là chiến sĩ cách mạng có kinh nghiệm hoạt động quốc tế lâu năm, luôn luôn theo dõi sát những diễn biến của tình hình, Nguyễn Ái Quốc có những nhận định quan trọng về tình hình thế giới cũng như đề ra những quyết sách cho Cách mạng Việt Nam trong bối cảnh Chiến tranh Thế giới thứ II đang lan rộng.

“Cuộc chiến tranh này gây ra nhiều tai họa cho nhân loại nhưng nó sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, do đó mà cách mạng nhiều nước sẽ thành công”, Nguyễn Ái Quốc nhận định, khi các kẻ thù của dân tộc lao vào cuộc chiến tranh sẽ tạo những cơ hội quý báu cho công cuộc giải phóng của nhân dân Việt Nam.

Người cũng truyền đạt và bồi dưỡng những nhận thức về tình hình quốc tế cho nhiều cán bộ trong các lớp bồi dưỡng chính trị cấp tốc, truyền cho họ sự tin tưởng vào thắng lợi của Cách mạng Việt Nam, thắng lợi của cách mạng các nước thuộc địa và cách mạng thế giới nói chung.

Bến Nhà Rồng TP Hồ Chí Minh, nơi cách đây tròn 100 năm, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: Thanh Vũ-TTXVN

Nguyễn Ái Quốc đã đặt Cách mạng Việt Nam trong bối cảnh chung của cuộc đấu tranh của toàn nhân loại chống chủ nghĩa phát xít. Nguyễn Ái Quốc tìm cách đặt mối liên hệ với đồng minh cho Cách mạng Việt Nam, để cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam hòa nhập trong cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại.

Người cũng là đầu mối trực tíếp trong nhiều mối quan hệ với các nước đồng minh, để Cách mạng Việt Nam có cơ hội nhận được những sự giúp đỡ trực tiếp bằng vật chất cho cuộc kháng Nhật cứu nước nhưng điều quan trọng hơn là tạo ra những tiền đề cho việc xác lập vị thế của nước Việt Nam độc lập trên trường quốc tế sau này.

Hồ Chí Minh đã thiết lập được những mối quan hệ với các lực lượng chống Nhật ở Trùng Khánh, với các cơ quan quân sự và tình báo Mỹ ở Côn Minh… Các đội du kích cách mạng ở Cao Bằng cũng đã nhận được những sự hỗ trợ về vũ khí, về phương tiện thông tin liên lạc và sự huấn luyện của một số chuyên gia quân sự đồng minh.

Trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn chú ý đến việc mở rộng cánh cửa để Cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, để cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một bộ phận của cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hòa bình và những giá trị nhân đạo.

*  *  *

Nhiều nhà nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã thống nhất trong nhận định rằng: Hồ Chí Minh là một lãnh tụ luôn xuất hiện đúng lúc tại những thời điểm lịch sử mang tính bước ngoặt. Sự kiện Người trở về Việt Nam trực tiếp lãnh đạo cách mạng vào mùa xuân năm 1941, sau những năm dài tìm đường cứu nước, cũng là một sự kiện như vậy.

Ngô Vương Anh

baotintuc.vn

Kho tư liệu về Bác Hồ của anh “Hai Lúa” Nguyễn Văn Nhung

Anh Nhung bên những trang tư liệu về Bác Hồ

Mặc dù đã được anh bạn đồng nghiệp làm báo địa phương giới thiệu từ trước, nhưng lần đầu tiên được “mục sở thị” cái “gia tài” đồ sộ bao gồm tranh ảnh và những tư liệu và hình ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong căn nhà nhỏ đơn sơ nằm cặp bên mé sông Kinh Lộ (thuộc xã Thới An Hội, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng) của anh “Hai lúa” Nguyễn Văn Nhung vẫn khiến tôi không khỏi bất ngờ. Hơn 30 năm sưu tầm những tư liệu và hình ảnh về Bác, đến nay anh Nhung đang sở hữu hơn 6.000 tư liệu và trên 2.000 hình ảnh về Bác. Việc làm đầy ý nghĩa của anh đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác nhận là người sưu tầm tư liệu và hình ảnh Bác Hồ nhiều nhất.

Cơ duyên sưu tầm tư liệu về Bác

Hôm chúng tôi đến, anh Nguyễn Văn Nhung đang bận tiếp khách. Khách của anh là các em học sinh của trường THCS và THPT huyện Kế Sách, đến nhờ anh tìm giùm tư liệu và hình ảnh để viết bài dự thi “Tìm hiểu về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Bên đàn em thơ tíu tít vây quanh với vô số những câu hỏi, anh nhiệt tình thuyết minh, giảng giải cặn kẽ, say sưa kể lại những câu chuyện về Bác. Các em chăm chú lắng nghe, ghi chép lại trong những quyển vở học trò.

Tranh thủ lúc anh đang bận, tôi dạo một vòng quanh ngôi nhà. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là hai chiếc bàn thờ được đặt trang trọng ngay chính diện. Một bức tượng Bác bằng thạch cao ở bàn thờ chính. Kế bên là một bàn thờ khác, bên trên đặt di ảnh Bác, phía trên di ảnh Bác là câu nói trích từ bài phát biểu của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tại Đại hội lần thứ VI của Đảng: “Chúng ta thành kính hướng về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, vị lãnh tụ kính yêu mà tư tưởng và đạo đức của Người luôn sống mãi trong sự nghiệp của nhân dân ta”. Hai bên là hai tấm giấy điều ghi lại câu nói của người: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”. Xung quanh bốn phía tường nhà treo kín ảnh Bác, phía dưới là kho tư liệu được sắp đặt ngăn nắp, quy củ như một thư viện nhỏ…

Xế trưa, khách đã vãn, anh Nguyễn Văn Nhung mới có thời gian rảnh để tiếp chúng tôi. Xoa xoa hai bàn tay vào nhau, trên gương mặt sạm đen của anh nở nụ cười rạng rỡ: “Ngày nào cũng có khách, hôm nay còn ít, mọi khi còn đông hơn nữa kia. Mong nhà báo thông cảm! Hơi mệt nhưng hôm nào không có ai tìm đến tìm hiểu, tra cứu tư liệu về Bác là mình lại thấy nhớ, thấy buồn, người bứt rứt không yên…”. Đối với anh Nguyễn Văn Nhung, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam luôn ở trong tim, hiện diện ngay cả trong từng bữa ăn, giấc ngủ!

– Từ đâu mà anh lại có ý định đi sưu tầm những tư liệu và hình ảnh Bác Hồ? – Tôi hỏi.

– Vào một ngày năm 1969, khi tôi mới 11 tuổi, được mẹ dẫn về thăm quê ngoại. Đêm ấy, đang nằm bên ngoại, tôi chợt nghe thấy tiếng khóc sụt sùi. Trong suy nghĩ non nớt của mình, tưởng có chuyện gì tôi liền bật dậy thì thấy ngoại đang ôm một tấm ảnh và khóc. Ngoại đang ôm ảnh của ai mà khóc vậy? Ngoại trả lời: “Bác Hồ đó con! Người vừa mất!”. Lần đầu tiên tôi nghe nói đến hai tiếng Bác Hồ, thấy lạ nên liền hỏi: “Bác Hồ là ai? Sao ngoại lại ôm ảnh Bác Hồ và khóc?”. Ngoại trả lời: “Khi nào lớn lên con sẽ biết!”… Ngừng lại một lát như để kìm nén nỗi xúc động, một lát sau anh Nhung chậm rãi kể tiếp: “Sau đó ít lâu, tôi theo mẹ đến một ngôi chùa. Tại đây, tôi thấy nhà sư cũng đang thắp nhang trước di ảnh Bác Hồ. Tò mò, tôi lại hỏi thì nhà sư đó trả lời: “Đó là vị thánh sống của dân tộc Việt Nam. Người đã tìm đường để dân tộc ta thoát khỏi ách thống trị của thực dân và đế quốc, đưa nhân dân ta từ vũng lầy bước ra ánh sáng, thoát kiếp lầm than nô lệ…”. Câu nói của vị sư găm vào trí óc non nớt của tôi khiến tôi phải suy nghĩ. kể từ đó tôi ghi nhớ cái tên đó trong đầu…”.

Nhưng “cú hích” khiến anh Nguyễn Văn Nhung bắt đầu công việc sưu tầm những tư liệu và hình ảnh về Bác là thời gian sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà. Một lần gặp các chú bộ đội cụ Hồ, thấy chú nào cũng có ảnh Bác, anh liền lân la đến hỏi chuyện. Được các chú bộ đội kể cho nghe câu chuyện một nông dân Cà Mau gửi cây vú sữa theo đoàn quân tập kết ra Bắc tặng Bác Hồ. Cây vú sữa ấy được Bác trồng, chăm sóc, nâng niu. Nhìn cây, không phút giây nào Bác không nhớ đến miền Nam. Bác nói: “Miền Nam trong trái tim tôi!”. Từ đó, hình ảnh Bác Hồ đã khắc sâu vào tâm khảm anh với lòng ngưỡng mộ, kính yêu muôn vàn sâu sắc. Anh quyết định phải làm một điều gì đó để thể hiện tình cảm của mình đối với Bác và quyết định sưu tầm những tư liệu và hình ảnh về Người.

Người “giàu” nhất xứ cù lao

Sinh ra trong một gia đình nghèo ở một vùng quê nghèo khó nhất của huyện Kế Sách, nhà không một tấc đất cắm dùi, ngay từ nhỏ cậu bé Nguyễn Văn Nhung đã phải trầm mình dưới dòng nước con sông Kinh Lộ mò cua bắt cá giúp mẹ kiếm cái ăn qua ngày. Nhà nghèo, thương mẹ tảo tần vất vả sớm khuya, nên học chưa hết cấp II cậu bé Nhung đành bỏ ngang việc học để đi làm thuê kiếm sống. Lớn lên, rồi lập gia đình, cái đói cái nghèo vẫn chẳng buông tha. Gia đình bên vợ cũng nghèo, cưới nhau xong, hai vợ chồng anh dắt nhau về cất một căn chòi lá bên mé sông Kinh Lộ để che mưa che nắng, có chỗ chui ra chui vào. Hàng ngày, vợ anh quẩy gánh cháo đi bán dạo nơi đầu làng cuối xóm, còn anh đi làm thuê làm mướn kiếm miếng ăn đắp đổi qua ngày. Năm đứa con “trứng gà trứng vịt” nối nhau ra đời, cuộc sống cứ thế trôi đi. Thời gian này, anh bắt đầu tìm kiếm những tư liệu và hình ảnh đầu tiên về Bác. Cuộc sống khó khăn vất vả như vậy nhưng trong lúc đi làm thuê làm mướn, thấy có những tư liệu, hình ảnh về Bác Hồ là anh Nhung lại nằn nì xin cho bằng được. Người nào không cho, anh bỏ tiền ra xin chụp lại rồi trả bản gốc. Chẳng mấy chốc “gia tài” những tư liệu và hình ảnh về Bác của anh Nhung đã lên tới con số hàng ngàn.

Những tư liệu và hình ảnh về Bác mà anh Nhung sưu tầm được

Tuy nhiên, “đã nghèo lại vướng cái eo”, cơn bão số 9 năm 1997 khắc nghiệt đã giật đổ căn chòi lá che mưa che nắng của vợ chồng anh và năm đứa con. Xót của thì ít, nhưng anh “xót đau đến trào cả nước mắt” khi nhìn hàng ngàn tư liệu, bức ảnh về Bác Hồ mà anh đã kỳ công sưu tầm được không có nơi cất giữ, bị ẩm mốc, mục nát phải bỏ. Bà con hàng xóm nhiều người xót xa ái ngại cho hoàn cảnh của anh.

Nhớ lại những ngày ấy, anh Nguyễn Văn Nhung cười mà rưng rưng nước mắt. Nhờ sự tần tảo của hai vợ chồng, cuộc sống tuy chưa dư dả gì nhưng đã có cái ăn, sắp nhỏ cũng được đi học. Từ đó, anh chuyên chú hơn vào việc tìm kiếm và sưu tầm những tư liệu và hình ảnh Bác Hồ.

– Ở một vùng quê, nơi đời sống vật chất của người dân còn chưa đầy đủ, đời sống tinh thần còn là vấn đề xa xỉ thì nhờ đâu mà anh lại sưu tầm được kho tư liệu “giàu có” về Bác Hồ như vậy? – Tôi hỏi. Anh Nhung tâm sự:

– Tôi bắt đầu cuộc hành trình đi tìm tư liệu và hình ảnh về Bác từ năm 1978. Lúc đầu tôi đạp xe lên huyện, rồi lân la lên tỉnh tìm đến ngành văn hóa thông tin, đến các cơ quan báo đài của tỉnh… hỏi xin báo cũ. Không cứ trên tỉnh, ngay cả UBND các xã, trường học, bưu điện… cơ quan nào có báo là tôi có mặt. Ngoài ra, khi tích góp được ít tiền tôi lại bắt xe lên thành phố Sóc Trăng mua sách báo cũ mang về. Nghe ngóng thông tin gia đình nào có tư liệu, hình ảnh về Bác Hồ tôi lại tìm đến. Nếu xin không được thì tôi nằn nì họ cho chụp lại hoặc nhờ họa sĩ đến vẽ luôn tại chỗ. Mỗi chuyến đi như vậy tôi cũng sưu tầm được khá nhiều…Ngưng một lát, anh Nhung kể tiếp: “Có được “nguồn rồi” đêm đến tôi chong đèn tìm trong đống sách báo ấy có tư liệu, hình ảnh nào về Bác thì cắt ra, sắp xếp, phân chia theo từng nội dung, từng giai đoạn. Đến nay tôi đã sưu tầm được hơn 6.000 tư liệu và trên 2.000 hình ảnh về Bác Hồ!” – anh Nhung vui mừng khoe.

Anh Nguyễn Văn Nhung kể, khi biết anh là một nông dân nghèo nhưng lại có đam mê sưu tầm những tư liệu và hình ảnh về Bác và đặc biệt, kể từ khi được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác nhận là người sưu tầm những tư liệu và hình ảnh về Bác Hồ nhiều nhất, nhiều nhà hảo tâm, “mạnh thường quân” đã tìm đến thăm và hỗ trợ anh xây dựng một căn nhà nhỏ để có nơi lưu giữ “gia tài” quý giá này. Giờ đây, căn nhà nhỏ nhưng khang trang của anh Nguyễn Văn Nhung ở xã Thới An (huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng) hàng ngày luôn có người đến tra cứu, tìm hiểu những tư liệu và hình ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, trong đó có không ít những vị khách phương xa. Đặc biệt, trong mấy năm qua anh liên tục tiếp đón các đoàn học sinh, các cơ quan đoàn thể trong và ngoài tỉnh Sóc Trăng đến tra cứu, tìm hiểu để tham gia cuộc thi “Tìm hiểu về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Với anh Nhung, đó là niềm hạnh phúc đang được sẻ chia và nhân lên gấp bội.

Theo http://www.baotintuc.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Người cựu binh và thư viện về Bác

TTO – Suốt gần 50 năm qua, ông Nguyễn Văn Mùi (khu đô thị Nam Cường, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương) cất công tìm giữ những tư liệu về Bác Hồ. Thời gian nghỉ hưu, ông tập hợp tư liệu thành những cuốn sách gửi tặng bảo tàng. Nhà ông đã từ lâu trở thành “thư viện” để mọi người tìm đến mỗi khi muốn đọc sách, xem phim, nghe kể chuyện về Bác…

Ông Nguyễn Văn Mùi giới thiệu các cuốn sách viết về Bác Hồ do ông biên soạn

Những kỷ vật cuộc đời

Sinh năm 1940, ông Mùi đã 2 lần tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. “Biết bao anh lính trẻ như tôi hồi ấy chỉ ao ước được gặp Bác một lần”, ông bộc bạch. Những ngày tháng phục vụ trong quân ngũ, hễ thấy tư liệu về  Bác, anh lính Nguyễn Văn Mùi liền ghi chép, cắt dán và cất kĩ trong ba lô, mang đi khắp các chiến trường. Năm 1974, xuất ngũ và được giao nhiệm vụ phụ trách đội lái xe của Cục vận tải, có điều kiện được đọc nhiều sách báo nói về Hồ chủ tịch, ông tiếp tục sưu tầm được thêm nhiều tư liệu quý.

Cuốn tạp chí lí luận Học tập của Đảng Lao động Việt Nam số đặc biệt ra tháng 9-1969 với nội dung: “Vô cùng thương tiếc chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến” đã ố màu được ông Mùi quý nhất, cất giữ rất cẩn thận. Ông tự hào: “Đây là cuốn tạp chí duy nhất tập hợp đầy đủ những thông tin về lễ quốc tang Bác Hồ và 25 điện chia buồn của các quốc gia trên thế giới, hiện không mấy người giữ được”.

Ngoài những tài liệu từ sách báo, kho tư liệu của ông Mùi còn có 200 cuộn phim, video nói về Đảng, nhà nước, và cuộc đời các đồng chí lãnh đạo, trong số ấy có tới 130 bộ phim nói về cuộc đời Bác. Ông Mùi khóc: “Xem phim “Những giờ phút cuối đời của Bác Hồ” mà thương Bác lắm! Cả cuộc đời Bác chịu bao khổ cực, đến lúc nhắm mắt mà Người vẫn canh cánh lo đất nước còn chia cắt 2 miền…Con người Bác, đến lúc từ giã cuộc đời, chỉ duy nhất một nỗi niềm dân nước!”

Biên soạn sách về Bác

Ông Mùi tâm sự: “Trong những năm tham gia quân ngũ, ba lô của tôi có thể thiếu khăn mặt, bàn chải đánh răng, thiếu ảnh người thân nhưng không bao giờ thiếu tư liệu về Bác. Với tôi những quyển sách, tấm ảnh, cuộn phim về Bác được xem như kỷ vật quý theo suốt cuộc đời mình”.

Tháng 9-2007, ông đạt giải nhất cuộc thi tháng “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tháng 6-2008, giải xuất sắc cuộc thi chung khảo “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do ban Tuyên giáo Trung ương phát động.

Cách đây 2 năm, ông bị tai nạn liệt nửa người, đi lại bằng xe lăn nhưng hễ nghe tin ở đâu có người cất giữ tư liệu về Bác là ông lại cất công đến tận nơi tìm hiểu. Bất chấp tình hình sức khỏe, những ngày này, ông Mùi vẫn đang biên soạn những trang cuối cùng cho cuốn sách nhân ngày kỉ niệm 40 năm Bác ra đi vào cõi vĩnh hằng.

“Không có gì quý hơn độc lập tự do”, đó là nhan đề tập sách dày hơn 400 trang, đóng bìa cứng mạ đồng xuất bản năm 2006 do ông Mùi kì công sắp xếp, biên tập lại từ những tư liệu mà ông thu thập được. Giải thích về nhan đề cuốn sách ông Mùi cho biết: “Tôi phải mất cả tuần mới nghĩ ra được tiêu đề ý nghĩa ấy. Cả cuộc đời không giây phút nào Bác không nghĩ đến độc lập tự do cho dân tộc!”

Năm 2007, ông Mùi tiếp tục biên soạn cuốn sách “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta” nói về gia đình, dòng họ của Bác. Cuốn sách dầy hơn 500 trang, đóng bìa vân rất đẹp đã được ông gửi tham dự cuộc thi “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do ban Tuyên giáo Trung ương phát động. Nói về tâm nguyện của ông Mùi, Đại tá Nguyễn Trung Hiếu – nguyên chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hải Dương tâm sự: “Tôi thường xuyên đến “thư viện” của ông bạn già để tìm hiểu nhiều tư liệu quý về Bác mà bây giờ muốn mua, muốn sưu tập cũng không dễ. Có những cuốn sách đọc vài ba lần, những bộ phim xem hàng chục lần vẫn không chán. Thiết nghĩ, những tài liệu này mà được sử dụng trong trường học, công tác đoàn hay trong quân đội thì sẽ trở thành những bài học chân thực và xúc động cho các bạn trẻ”.

Những tài liệu trong cuốn sách đã được ông Mùi lặn lội lên tận Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội) kiểm tra độ xác thực thông tin. Ông nhớ lại: “Ban giám đốc bảo tàng lúc ấy đã nhiệt thành đọc, nghiên cứu những tài liệu của tôi. Thật vui vì không có chi tiết sai!”. Sau này, khi cuốn sách chính thức hoàn thành, trình bày và scan ảnh đâu đấy, ông Mùi lên tận Hà Nội, đích thân trao tặng bảo tàng. Lật giở những “trang đời” hoạt động cách mạng của Bác, đôi mắt ông ngấn nước: “Con cháu thế hệ mai sau sẽ đọc, sẽ tìm hiểu về cuộc đời Bác Hồ và những tư tưởng của Người. Phải giáo dục cho thế hệ trẻ lòng tôn kính với lịch sử dân tộc và những con người làm nên lịch sử. Quý lắm, giá trị lắm!…”

Ngoài những cuốn sách do tự tay ông Mùi biên soạn, các tấm ảnh, bài báo cũ về Bác cũng được ông đóng ghim cẩn thận thành từng tập theo những chủ đề riêng, đặt gọn gàng trên giá gỗ để ngoài phòng khách. Mỗi khi có người đến chơi ông lại giới thiệu kỹ càng từng tài liệu, từng chủ đề, ai muốn mượn ông ra điều kiện: phải để lại địa chỉ, số điện thoại và đem trả đúng thời hạn.

THÂN HOÀNG – ANH NGỌC

tuoitre.vn

Họa hình Bác bằng đầu ngón tay

Một chú bộ đội lấy ra trong bóp bức ảnh Bác Hồ đưa cho Tiến vẽ thử. Cậu bé ngắm nghía rồi tò mò hỏi: “Người trong ảnh là ai?”. Chú bộ đội bảo: “Đó là ông tiên, khi nào đất nước hết chiến tranh, cháu sẽ được gặp ông tiên”. Thế là Tiến say sưa vẽ ông tiên ngay trong đêm dưới ánh đèn dầu…

Ký ức thời gian khổ

Sinh ra và lớn lên ở vùng quê nghèo bị chiến tranh tàn phá (xã Phú Đức, huyện Châu Thành, Bến Tre), Đoàn Việt Tiến nhớ mãi hình ảnh cha cõng trên lưng cùng mẹ dìu dắt các anh em vượt sông Tiền sang Mỹ Tho nương náu. Cậu học trò gầy nhom ở xóm chợ Vong Nhỏ thời ấy đã ý thức rất sớm chuyện cơm áo, gạo tiền. Một buổi đi học, một buổi Tiến cùng các anh bán bánh mì, đẩy củi thuê. Tiền kiếm được Tiến dành dụm mua áo quần, dụng cụ học tập và sướng nhất là sắm được các tuýp màu nước.

Tiến mê vẽ từ những năm học vỡ lòng. Buổi chiều khi xong việc, Tiến thường thơ thẩn bên bờ sông Tiền nhìn về quê ngoại Bến Tre. Đau đáu nỗi nhớ nhà, Tiến vẽ dòng sông, con đò và chiến tranh khốc liệt với xe tăng, máy bay, tàu chiến…

Trong lần về quê ngoại, giữa gian nhà nơi ông bà bí mật nuôi giấu cán bộ cách mạng, cậu bé đã gặp được các chú bộ đội. Tiến trổ tài vẽ chân dung chú bộ đội. Ai cũng ngạc nhiên và khen bức ký họa có hồn.

Một chú bộ đội lấy ra trong bóp bức ảnh Bác Hồ đưa cho Tiến vẽ thử. Cậu bé ngắm nghía rồi tò mò hỏi: “Người trong ảnh là ai?”. Chú bộ đội bảo: “Đó là ông tiên, khi nào đất nước hết chiến tranh, cháu sẽ được gặp ông tiên”. Thế là Tiến say sưa vẽ ông tiên ngay trong đêm dưới ánh đèn dầu.

Ngày đất nước thống nhất, anh tiếp tục say sưa vẽ Bác. Chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ, anh cựu học sinh Trường THPT Châu Thành B (Bến Tre) tình nguyện sang Campuchia tham gia chiến đấu tại Sư 330 (Quân khu 9).

Từng ngón đảm nhận mỗi mảng màu sáng tối khác nhau. Riêng móng tay làm nhiệm vụ vét tỉa.

Tranh thủ lúc tạm ngưng tiếng súng, anh lại vẽ ký họa về Bác, về đồng đội và cuộc chiến. Bất cứ chất liệu gì có thể làm nên tranh vẽ đều được anh tận dụng, hết giấy học trò, vải thì dùng vỏ tràm, hết bút mực lại dùng than củi.

Năm 1984, Tiến xuất ngũ. Người thương binh 3/4 lại lao vào vật lộn với cơm áo, gạo tiền. Anh lang thang khắp các chợ từ Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long sang Trà Vinh, Cần Thơ, Đồng Tháp vẽ chân dung, kẻ bảng hiệu quảng cáo. Chợ tan, anh đạp chiếc xe đạp cà tàng len lỏi vào xóm xa nhận phục hồi ảnh thờ cũ.

Bôn ba khắp xứ, thay đổi chỗ ở trên 60 lần, vẽ vời đủ thứ nhưng tiền chỉ đủ trả tiền thuê nhà, cơm ngày hai bữa, túi cứ rỗng không, anh quyết định trở về quê nhà Bến Tre, vì dù sao nơi ấy anh còn có mẹ.

Mười năm khổ luyện ngón tay

Từ rất lâu, trong tim của Đoàn Việt Tiến luôn ấp ủ quyết tâm vẽ bộ sưu tập chân dung Bác Hồ.

Năm 1989, tình cờ sau cơn mưa, nhìn thấy tấm kính bị vỡ trước sân nhà, nắng rọi vào ánh lên sắc màu lung linh, anh nảy ra ý tưởng sao không thử vẽ chân dung Bác lên kính. Vậy là Tiến lao vào thử nghiệm. Cả trăm lần vẽ không thành, dùng cọ vẽ màu lên kính không xong. Đôi lúc quá mệt mỏi, anh lăn ra ngủ luôn tại chỗ.

Lần đầu tiên sau mười năm khổ luyện, bức chân dung Bác Hồ vẽ ngược trên kính khá hoàn chỉnh đã được Tiến trao tặng cho Hội Cựu chiến binh huyện Châu Thành (Bến Tre) nhân dịp kỷ niệm sinh nhật Bác năm 1999.

Đoàn Việt Tiến dùng đầu ngón tay vẽ ngược chân dung Bác Hồ trên kính.

Năm sau, nghe báo, đài giới thiệu biệt tài của một họa sĩ vẽ ngược chân dung Bác Hồ trên kính, Bảo tàng Hồ Chí Minh tại TP.HCM cử người về xã Phú Đức mời Tiến về TP thực hiện bộ sưu tập chân dung Bác Hồ. Sau 100 ngày lao động cật lực, anh đã hoàn thành bộ sưu tập 30 ảnh bằng chất liệu màu dầu với ba khổ ảnh 50 x 70 cm, 60 x 90 cm, 80 cm x 1,2 m.

Ngày 3-2-2001 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh tại TP.HCM, triển lãm ra mắt bộ sưu tập chân dung Bác do họa sĩ Đoàn Việt Tiến trao tặng đã thu hút đông đảo người xem. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhận xét: “Để thành công với phong cách mới, chất liệu vẽ mới…, không chỉ tài năng sáng tạo, người vẽ còn phải có một trái tim luôn hướng về Bác mới tạo nên thần sắc trong từng bức vẽ như vậy”.

Không ngơi nghỉ, Tiến tiếp tục vẽ 12 chân dung Bác Tôn tặng cho Bảo tàng Tôn Đức Thắng. Bức tranh vẽ ngược trên kính với khổ lớn nhất là chân dung thượng tọa Thích Quảng Đức (1,2 x 2,2 m) vẽ tại Tổ đình Quan Thế Âm (quận Phú Nhuận). Sau đó, anh quay về quê vẽ tặng cho Bảo tàng tỉnh Bến Tre 34 bức tranh về Bác Hồ với đời thường.

Chân dung Tiến chọn vẽ đa số là các bậc hiền tài, nhà lãnh đạo cách mạng kiệt xuất. Anh vẽ tặng chân dung nhà lãnh đạo cách mạng Cuba Fidel Castro đến hai lần, ngoài ra còn chân dung Che Guevara, nữ tướng Nguyễn Thị Định.

Tranh và tấm lòng vì người nghèo

Đoàn Việt Tiến cho biết vẽ ngược trên kính có lợi thế là khi những mảng màu bám vào kính sẽ tạo ra bức tranh sắc nét, khó phai theo thời gian. Sau mỗi lần thất bại anh lại rút ra nhiều kinh nghiệm quý báu. Với mười đầu ngón tay, từng ngón được phân công đảm nhận một mảng màu sáng tối khác nhau. Riêng móng tay giữ nhiệm vụ vét tỉa những đường cong hay nét nhỏ cho ảnh thêm sắc sảo.

Càng tập trung điều khiển ngón tay để vẽ, lắm lúc tay, chân và toàn thân anh tê cứng như người bị bại liệt. Năm 2003, do vẽ liên tục bằng đầu ngón tay ảnh hưởng đến tim và các dây thần kinh, Tiến phải nhập viện điều trị gần một tháng. Anh buồn ủ rũi, lo sợ hai bàn tay không còn uyển chuyển nhả màu. Nhưng vừa khỏi bệnh anh lại lao vào vẽ.

Vẽ chân dung thượng tọa Thích Quảng Đức.

Tiếng lành đồn xa về họa sĩ Việt Nam duy nhất vẽ tranh bằng ngón tay trên kính đã xác lập kỷ lục quốc gia (năm 2005), Tiến được mời sang biểu diễn giao lưu ở nhiều nước (Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, Đức, Singapore, Ba Lan). Nhận lời mời của giáo sư viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng, Chủ tịch Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, từ năm 2007 đến nay anh đã hoàn thành 26 bức tranh trong bộ sưu tập chân dung các nhà vua Việt Nam.

Tranh của Tiến đặc biệt không bán. Anh mang biếu khắp nơi. Khi đã trở thành người nổi tiếng, sau mỗi chuyến xuất ngoại trở về, anh luôn nhận được rủng rỉnh các khoản thù lao, tặng thưởng của kiều bào và khách nước ngoài. Chỉ riêng chuyến đi Ba Lan 30 ngày anh đã nhận được tiền thưởng 20.000 USD. Có tiền, anh bắt đầu suy nghĩ làm từ thiện.

Tiến có rất nhiều mạnh thường quân là những người ngưỡng mộ tài năng của anh. Năm năm qua, chỉ riêng xã nhà Phú Đức anh đã huy động mang về 35 tấn gạo tặng người nghèo, góp trên 300 triệu đồng giúp địa phương xây dựng đền thờ liệt sĩ xã, đình làng cùng 17 ngôi nhà tình nghĩa, tình thương xây tặng cho người nghèo, người neo đơn tại Bến Tre, Tiền Giang.

Đoàn Việt Tiến tâm sự: “Càng tham gia từ thiện, cái tâm của mình càng thanh thản, phấn chấn. Tôi có cảm giác nét vẽ của mình thăng hoa hơn khi trải lòng ra vì mọi người”. Điều anh vui nhất là xây tặng mẹ ngôi nhà khang trang thay cho gian nhà trống trước dột sau để mẹ anh an hưởng tuổi già.

DƯƠNG THANH HUY
Pháp Luật TP.HCM

tuoitre.vn

Tình cảm của một người bạn Nga lần đầu tiên đến thăm Việt Nam

Viện sĩ V.V, Banin (người ngồi viết) ghi lại những tình cảm của mình tại Khu Di tích K9

Trong dịp tu bổ định kỳ Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 2011, chúng tôi đã được đón Viện sĩ thông tấn Y học Liên bang Nga, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Victor Vasilievich Banin, trên cương vị Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu y sinh Matxcơva sang thăm và làm việc tại Việt Nam. Đây là lần đầu tiên ông đến Việt Nam. Ngay khi đến Hà Nội, ông đã dành thời gian vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thăm nơi ở và làm việc của Người. Trên đường sang thăm Khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, ông đã tâm sự: “Trung tâm nghiên cứu y sinh Matxcơva đã trực tiếp giúp Việt Nam giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh hơn 40 năm qua, nhưng hôm nay tôi mới có dịp sang Việt Nam để cùng với các bạn thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Đối với mỗi người công dân Nga như chúng tôi, tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào trong tâm khảm của mỗi người. Cuộc đời của Người thực sự là tấm gương sống động để chúng ta học tập”.

Trong thời gian công tác tại Việt Nam, những ngày nghỉ, giờ nghỉ, chúng tôi trông thủ mời ông đi thăm một số di tích, danh lam thắng cảnh tại Thủ đô Hà Nội. Đi đến đâu, ông cũng xem xét cụ thể tỉ mỉ, hỏi rõ từng chi tiết lịch sử và chụp rất nhiều hình ảnh về Việt Nam. Khi đến thăm Khu Di tích K9, nơi các nhà khoa học y tế Liên Xô đã cùng với các bác sĩ Việt Nam giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong 6 năm chiến tranh (1969 – 1975), ông đã thực sự xúc động khi được nghe kể về lịch sử hình thành Khu Di tích K9 – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp quyết định vị trí để Trung ương và Người làm việc trong những năm kháng chiến chống Mỹ; cũng là nơi Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương quyết định giữ gìn thi hài của Người trong chiến tranh ác liệt. Ông và các đồng nghiệp đi cùng đã dâng hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại ngôi nhà trước đây Người đã làm việc.

Thăm từng kỷ vật đã gắn bó với hoạt động của Người tại K9; thăm những chiếc xe chuyên dụng đã nhiều lần tham gia di chuyển thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến tranh và thăm những nơi các chuyên gia Liên Xô trước đây đã từng đồng cam, cộng khổ, chia ngọt xẻ bùi với các đồng nghiệp Việt Nam trong những ngày đầu giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kết thúc buổi tham quan, chúng tôi đã mời ông ghi lại đôi dòng cảm tưởng khi đến K9. Cầm cây bút trên tay, ông lặng người đi trong giây lát và như đã suy nghĩ từ trước, ông viết nắn nót từng dòng, từng dòng, cho đến khi kín cả trang giấy… rồi ông đọc to để chúng tôi và các bạn Nga đi cùng nghe, sau đó ông mới thận trọng ký tên và ghi rõ cả họ tên của mình vào trang cảm tưởng. Nắm chặt tay tôi khi trao cuốn sổ ghi cảm tưởng, ông vẫn còn nghẹn ngào xúc động: “Các bạn đã làm được một điều kỳ diệu là chiến thắng được kẻ thù hung hãn nhất thế giới và ngày nay đang xây dựng được một xã hội có nền kinh tế phát triển. Việt Nam là một đất nước có nhiều di tích, danh lam lịch sử và rất mến khách. Tôi sẽ ghi nhớ mãi chuyến công tác này…”.

Hai mươi ngày làm việc với Viện sĩ V.V. Banin tại Việt Nam, ông đã để lại cho mỗi chúng tôi một tình cảm đặc biệt về trí tuệ trong chuyên môn, về phương pháp tư duy khoa học và nhất là tình yêu đất nước con người Việt Nam. Phải chăng đó cũng là tình cảm thiêng liêng của những người con của quê hương Lênin vĩ đại đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá kiệt xuất và cũng là tình cảm của mỗi người Nga đối với con người và đất nước Việt Nam chúng ta.

Tháng 10, năm 2011
Đặng Nam Điền

bqllang.gov.vn

Học Bác Hồ để mình tốt hơn

TTO – Thuở nhỏ, mỗi lần đọc báo, tạp chí gặp ảnh Bác Hồ là Thọ cắt dán cẩn thận vào quyển sưu tập ảnh Bác của mình. Lớn lên, em vào mạng Internet sưu tập thêm những ảnh Bác Hồ mà mình chưa có được…

Cậu học trò say mê sưu tập ảnh Bác Hồ là Đặng Hữu Thọ, ở xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, học sinh lớp 10 trường THPT Châu Thành B, tỉnh Bến Tre.

Đặng Hữu Thọ và album sưu tập ảnh Bác Hồ

Ông Đặng Hữu Lộc, cha của Thọ, nguyên là bộ đội cụ Hồ, kể: lúc nhỏ, nhìn thấy ảnh chân dung của bác Hồ, Thọ hỏi: “Hình của ai?”, ông nói: “Đó là ông cố Hồ của con”. Từ đấy, tối nào đốt nhang cho ông, bà, Thọ cũng đốt nhang cho ông  “cố Hồ” của mình. Ông “cố Hồ”, trở thành người thân trong lòng Thọ lúc tuổi còn thơ dại.

Thấy con kính trọng ông “cố Hồ”, ông Lộc hay kể những câu chuyện về Bác, đọc thơ về Bác. Bài thơ hai cha con tâm đắc nhất là bài “Bác ơi” của nhà thơ Tố Hữu:

“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn cau, mấy gốc dừa!

Bác để tình thương cho chúng con
Một đời thanh bạch, chẳng vàng son
Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”.

Ngày ngày, nghe cha kể những câu chuyện về Bác Hồ, tình cảm dành cho Bác trong Thọ cáng thêm sâu sắc. Từ cuối năm học lớp 1, bắt đầu đọc được báo, mỗi lần bắt gặp ảnh Bác Hồ là Thọ cắt dán cẩn thận vào quyển tập của mình. Ngày lại ngày, quyển tập sưu tập ảnh Bác của Thọ càng dày thêm, và đến nay thì Thọ còn có một album sưu tập ảnh Bác Hồ trên mạng Internet.

Hơn 10 năm say mê, Thọ đã có hơn 200 ảnh Bác Hồ. Không chỉ sưu tập ảnh Bác mà Thọ còn vẽ được chân dung Bác Hồ giống như thật. Ngoài sưu tập ảnh, Thọ còn sưu tầm thơ, bài viết của Bác, bài viết về Bác. Thọ tâm đắc: “Qua Bác, em học tập rất nhiều điều, đó là các đức tính: cần, kiệm, liêm, chính, giản dị. Em luôn khắc ghi câu nói của một nhà báo Úc: “Không ai có thể trở thành Hồ Chí Minh. Nhưng ở Hồ Chí Minh, mỗi người có thể học một số điều để làm cho mình tốt hơn”. Em đã học đức tính cần, kiệm, liêm chính của Bác trong học tập, thi cử; ở nhà thì học tập cách sống giản dị của Bác”.

Chân dung thanh niên Nguyễn Tất Thành do Thọ vẽ

Nói về con mình, ông Lộc kể: Biết gia đình nghèo, cha làm thuê, mẹ bán rau, cải ở chợ, nhiều năm qua Thọ vẫn đến trường bằng chiếc xe đạp đầm cũ. Xe đã cũ lắm, nhưng Thọ không đua đòi cha sắm xe Martin hay xe đạp điện như các bạn học cùng trường.

Thọ đã nhiều năm liền là học sinh khá, giỏi. Em vừa đạt giải nhì cuộc thi Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do huyện Châu Thành tổ chức. Nói về ước mơ của mình, Thọ tâm sự: “Em ước mong được một lần ra thủ đô vào lăng viếng Bác, để thấy hình hài thật của Bác, người ông em luôn kính yêu và học tập và làm theo”.

LƯ THẾ NHÃ

tuoitre.vn

Đêm tháng 5 năm ấy

Cuộc đời của Bác đã hy sinh tất cả cho dân cho nước. Đêm đêm một mình, Bác nằm đó lấy tiếng đài làm niềm vui…

Trong thời gian công tác ở Bộ tư lệnh Cảnh vệ, Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nguyên Tư lệnh Cảnh vệ vinh dự nhiều lần được bảo vệ Bác Hồ. Mỗi lần bảo vệ Bác đều để lại trong trái tim vị tướng đất Mũi những kỷ niệm không thể nào quên. Một kỷ niệm sâu sắc nhất cách đây gần nửa thế kỷ nhưng khi hồi tưởng lại, ông cứ ngỡ như mới hôm qua. Ông kể:

– Vào một đêm đầu tháng 5 năm 1962, đến phiên tôi trực ở trụ sở cơ quan tại số 1-Lê Hồng Phong (Hà Nội). Mới tháng 5 mà trời đã oi bức đến lạ. Theo kế hoạch, 21 giờ tôi đi kiểm tra công tác bảo vệ ở các mục tiêu của đơn vị. Sau khi kiểm tra hết các vọng gác ở phố Phan Đình Phùng, tôi rẽ vào cổng Đỏ, đi vào khu Phủ Chủ tịch. Kiểm tra xong các vọng gác ở phía ngoài, đi về phía nhà sàn của Bác, tôi được các đồng chí canh gác ở đây cho biết Bác vừa đi nghỉ.

Quang cảnh khu Phủ Chủ tịch ban đêm thật tĩnh mịch, không gian bao la. Bên bờ ao trước nhà sàn, ánh trăng trong vắt đổ đầy mặt nước. Thỉnh thoảng mấy chú cá ngoi lên đớp mồi làm tan đi mặt trăng non. Tôi đứng nhìn lên phòng làm việc của Bác trên tầng 2, đèn đã tắt. Nhẹ bước lên cầu thang chỉ còn đèn ngủ trên bàn vẫn sáng, Bác đã đi nằm. Chiếc màn tuyn ngả màu đã buông và cài vào mép chiếu cẩn thận. Chiếc ra-đi-ô để đầu giường vẫn mở bình thường.

Vì lòng thương và trân trọng những giờ phút nghỉ ngơi của Bác, tôi rón rén, nhẹ nhàng mở cửa đi vào phòng ngủ và có ý định tắt chiếc ra-đi-ô để Bác được ngon giấc. Khi tôi đi gần đến chiếc ra-đi-ô đưa tay vặn nhỏ công tắc để tắt, thì thật bất ngờ, Bác nói giọng tỉnh táo, ấm áp và thân tình:

– Chú đừng tắt đài, để nó nói có tiếng người trong nhà cho vui.

Tôi vội rụt tay lại và nhè nhẹ lùi dần về phía cửa, đi xuống sân. Từ khi nghe Bác nói, lòng tôi thắt lại, hai hàng lệ cứ lăn dài trên gò má. Tôi bước ra vườn tựa vào hàng cây vú sữa bên cạnh nhà sàn. Lòng nghĩ miên man. Chỉ còn hai tuần nữa là đến ngày sinh lần thứ 72 của Bác.

Tôi gọi thầm trong lòng: Bác ơi, cây vú sữa này là món quà đồng bào miền Nam gửi tặng Bác. Chồi non của nó đã vươn cao trùm lên mái nhà sàn. Câu nói của Bác cứ văng vẳng bên tôi không thể nào quên được. Cuộc đời của Bác đã hy sinh tất cả cho dân cho nước. Đêm đêm một mình, Bác nằm đó lấy tiếng đài làm niềm vui. Sự hy sinh của Bác thật lớn lao vô cùng. Càng nghĩ, tôi càng thấy thương Bác, nước mắt tôi cứ trào ra giàn giụa.

NGUYỄN ĐỨC QUÝ – Báo Quân đội nhân dân
(Theo lời kể của Thiếu tướng Phan Văn Xoàn-nguyên Tư lệnh Bộ tư lệnh Cảnh vệ)

tuoitre.vn

Nửa thế kỷ giữ ảnh Bác Hồ

Bà Nguyễn Thị Chuyên với bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh mua từ cuối năm 1954 Ảnh: Nguyên Nhung

TTCT – Trong ngôi nhà gỗ cổ ba gian ở thôn Hạ Lũng (quận Hải An, Hải Phòng) của cụ bà Nguyễn Thị Chuyên có một tấm ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh treo trang trọng. Bức ảnh đen trắng treo áp vào hàng rui, mè bằng gỗ lim nâu bóng. Trong ảnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh trông không giống như những bức chân dung thường thấy, vẫn đôi mắt sáng, vầng trán tinh anh nhưng trông Người trẻ và gầy hơn, phía dưới ảnh ghi: “Hồ – Chí – Minh. Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Đó là bức ảnh mà bà Chuyên mua về từ cuối năm 1954, khi Hải Phòng còn chưa hoàn toàn giải phóng và gìn giữ đến bây giờ.

Hơn nửa thế kỷ trước, đó là những ngày Hải Phòng còn ngột ngạt trong sự kìm kẹp của giặc Pháp trong 300 ngày giải giáp vũ khí sau khi Hiệp định Geneve về đình chiến ở Đông Dương được ký kết. Theo hiệp định, Hải Phòng và Kiến An là khu vực quân Pháp tập kết 300 ngày để rút khỏi miền Bắc. Đây cũng là nơi cuối cùng của miền Bắc được giải phóng.
Hạ Lũng là một làng trồng rau màu và hoa ở ngoại ô. Sớm sớm, người làng mang rau củ, hoa trái vào bán trong phố. Đôi mắt giăng mây, cụ Chuyên chậm rãi kể: “Hôm đó bán hết gánh hàng hoa, tôi quảy quang gánh đi vào cửa hàng tạp hóa gần chợ Sắt để mua kim chỉ, nhòm vào gian trong thấy treo bốn bức ảnh đã đóng sẵn trong khung kính. Ảnh chụp một ông cụ, mắt sáng, mũi thẳng, miệng rộng, tai to, nét nào ra nét ấy, đẹp quá.

Thấy tôi cứ ngẩn ra nhìn, người bán hàng bảo đấy là ông Chủ tịch nước. Hồi ấy đã nghe nói nhiều về ông Hồ rồi, dân tình đồn đại là ông đang kéo quân về đây đuổi giặc Pháp đi, nước mình sẽ tự làm chủ, thế là tôi mừng quá lấy hết tiền bán hoa ra đòi mua bức ảnh to nhất. Hồi ấy vẫn tiêu bằng tiền “gánh dưa”, tức đồng tiền Đông Dương có in hình người gánh dưa, lâu ngày quá không nhớ là bao nhiêu nhưng cũng gần hết số tiền tôi bán gánh hoa hôm ấy. Người bán hàng giúp tôi bọc kỹ bức ảnh, khuyên nên lấy cái nón đậy lên trên kẻo bị chú ý.
Bấy giờ, lính Tây, mật thám và người của các đảng phái phản động nhan nhản, tôi cũng lo lắm, sợ nhỡ nó phát hiện ảnh Cụ Hồ mà tịch thu mất. May sao, đận ấy chúng đang dồn dịch người ra mấy cái tàu “há mồm” cuối cùng đỗ ngoài cửa biển để vào Nam, tôi đi thoát về nhà. Ông nhà tôi bảo: “Sắp qua 300 ngày, Pháp chuẩn bị rút hết rồi, để tôi treo lên mái nhà, chỗ cái tràng kỷ tiếp khách này cho mọi người biết Cụ Hồ”.

“Đó là bức ảnh Bác Hồ duy nhất ở làng lúc ấy nên người ta đến xem đông lắm – bà Chuyên nhớ lại – Ai cũng trầm trồ thán phục vì danh tiếng ông cụ lúc ấy đã vang trong dân từ lâu. Hôm 19-5-1955, cả nhà tôi lên phố dự mittinh ở quảng trường Nhà hát lớn để mừng thành phố quê hương giải phóng. Người ta bảo “Hôm nay là sinh nhật Cụ Hồ”. Cái hôm cụ về Hải Phòng lần thứ hai vào mùng 2-6-1955, tôi đang bán hoa ở bờ sông Lấp, nom rõ ôtô chở cụ chạy chầm chậm qua. Ông cụ giống y trong bức ảnh treo ở nhà tôi. Dân mình đổ ra đón đông lắm, hàng vạn người tập trung hai bên đường vỗ tay, reo hò”.

Dưới mái ngói cổ kính của ngôi nhà gỗ có tuổi đời hơn một thế kỷ đã diễn ra bao biến cố nhưng bức ảnh luôn được gìn giữ cẩn thận, treo trang trọng trên cao giữa gian phòng khách. Năm 1968, cơn bão số 7 cấp 12 quét qua làng, nhà bay hết ngói, may sao tấm ảnh với cái khung bằng gỗ thông dầu vẫn nguyên vẹn. Rồi năm 2009, khi ngôi nhà đã xuống cấp phải dỡ ra làm lại, bà Chuyên sai con cháu bọc cất bức ảnh cẩn thận để khi nhà làm xong lại đem tấm ảnh treo đúng chỗ cũ.
Sau hơn nửa thế kỷ, bức ảnh hầu như không thay đổi, vẫn khung gỗ thông lên nước đen bóng, mặt kính vẫn trong veo như ngày mới mua về khiến chân dung Cụ Hồ hiện sáng rõ từng đường nét. Hỏi vì sao giữ bức ảnh Cụ Hồ được lâu đến thế, bà Chuyên chỉ trả lời giản dị: “Cụ Hồ vì dân vì nước, ai nhìn ảnh cũng thấy đẹp thì tại sao lại không treo, không giữ”. Rồi bà nhắc con cháu cẩn thận khi bắc thang lấy ảnh xuống cho chúng tôi chụp lại…

Theo bà Chu Ngọc Lan – Trưởng phòng Kiểm kê – Bảo quản, Bảo tàng Hồ Chí Minh, đây là bức ảnh được nhà nhiếp ảnh Vũ Năng An chụp năm 1950. Tuy nhiên, Bảo tàng không có thông tin về việc ảnh được in ấn ở đâu, phát hành như thế nào…

NGUYÊN NHUNG
Theo tuoitre.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Lời kêu gọi mang hồn Tổ quốc

Cầu truyền hình kỷ niệm 65 năm Ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946/19-12-2011)

QĐND Online – Những tia nắng ấm áp của phương Nam dường như hòa vào tiết trời mùa đông lạnh giá đất Bắc khiến không khí của chương trình cầu truyền hình kỷ niệm 65 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946/19-12-2011) với chủ đề “Tiếng gọi của non sông” trở nên ấp áp, thiêng liêng. Chương trình do Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh phối hợp với Quân khu 7, Báo Quân đội nhân dân, Đài Phát thanh-truyền hình Hà Nội tổ chức vào 20 giờ ngày 19-12, tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (Hà Nội), Bảo tàng lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ (TP Hồ Chí Minh).

Trung tướng Nguyễn Tuấn Dũng- Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thiếu tướng Lê Phúc Nguyên – Tổng Biên tập Báo Quân đội nhân dân và các đại biểu tham dự chương trình. Ảnh: Trọng Hải

Đến dự tại hai điểm cầu có: đồng chí Nguyễn Thị Thu Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; Trung tướng Nguyễn Tuấn Dũng- Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Trung tướng Phùng Khắc Đăng, Phó chủ tịch Hội CCB Việt Nam; Thiếu tướng Lê Phúc Nguyên – Tổng Biên tập Báo Quân đội nhân dân; Trung tướng Phạm Văn Dỹ- Chính uỷ Quân khu 7 và đông đảo các đại biểu, cựu chiến binh, khán giả ở hai điểm cầu và kiều bào ở nước ngoài theo dõi qua màn ảnh truyền hình.

65 năm trước, vào ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Tiếng gọi vang dậy non sông ấy đã khơi gợi mạnh mẽ truyền thống anh hùng, bất khuất, làm cho cả dân tộc ta đứng lên để bảo vệ thành quả độc lập với ý chí: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Một quyết định lịch sử đã tạo nên một trong những trang sử hào hùng trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Bài hát “Tổ quốc tôi chưa đẹp thế bao giờ”, do NSND Quang Thọ và dàn hợp xướng trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật quân đội biểu diễn. Ảnh: Trọng Hải

Cầu truyền hình “Tiếng gọi của non sông” là một trong những hoạt động có ý nghĩa, tích cực góp phần vào việc tuyên truyền, động viên nhân dân, cán bộ thi đua phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ 11 của Đảng Cộng sản Việt Nam, học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng thời đây cũng là dịp để các thế hệ Việt Nam hôm nay cùng ôn lại truyền thống yêu nước của nhân dân ta.

Mở đầu chương trình, những lời ca của bài hát “Tổ quốc tôi chưa đẹp thế bao giờ”, do NSND Quang Thọ và dàn hợp xướng trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật quân đội biểu diễn thể hiện không khí hào hùng của một thời chiến đấu kiên cường của quân và dân ta.

Tại điểm cầu Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam, khu vực sân khấu cột cờ Hà Nội như một “đài lửa” thiêng liêng để thế hệ ngày nay tưởng nhớ công lao hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ đã quên mình bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc.

Đại tá Nguyễn Trọng Hàm – Trưởng ban liên lạc truyền thống chiến sĩ quyết tử Liên khu I Anh hùng Hà Nội – Trung đoàn thủ đô trong buổi giao lưu. Ảnh: Trọng Hải

Những thước phim tư liệu quý giá về một thời chiến đấu anh hùng của dân tộc được phát trong chương trình hoà trong từng lời ca, điệu nhạc vang lên tại hai điểm cầu đã để lại ấn tượng sâu sắc với đông đảo khán giả.

Để có được một Tổ quốc Việt Nam thống nhất, tươi đẹp hôm nay, chúng ta không thể quên công ơn của Đảng, Bác Hồ kính yêu và bao máu xương của những anh hùng liệt sĩ, những người con ưu tú của dân tộc đã chiến đấu và hy sinh trong những năm tháng kháng chiến trường kỳ, gian khổ. Ca khúc “Ngày mùa”, sáng tác: Văn Cao, do tốp nữ trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội trình diễn thể hiện bản lĩnh kiên cường của người dân đất Việt trong gian khó vẫn vững lòng tin chiến thắng dựng xây Tổ quốc.

Lịch sử Việt Nam là lịch sử của đấu tranh chính nghĩa: dựng nước và giữ nước. Dân tộc Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình nhưng sẵn sàng đứng lên, xả thân để bảo vệ những giá trị của độc lập, tự do.

Các đại biểu tham gia chương trình. Ảnh: Trọng Hải

Ngày 29-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ. Người  xác định: “Tâm trí tôi luôn luôn bên cạnh mấy triệu đồng bào quyết chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ cho nền độc lập Việt Nam”.

Ngày 22-2-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại ra Lời hiệu triệu động viên quân và dân miền Nam giữ vững và đẩy mạnh kháng chiến. Người chỉ rõ: “Kháng chiến của ta là phải toàn diện, lâu dài, triệt để vận dụng cách đánh du kích, đánh khắp nơi, “còn một tấc đất, còn một người dân thì còn chiến đấu”. Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ, Người đã tặng quân và dân Nam Bộ danh hiệu “Thành đồng tổ quốc”.

Trong đêm đông lạnh giá của ngày 18-12-1946, bên chiếc bàn nhỏ của căn phòng gác 2 tại làng Vạn Phúc (Hà Nội), những dòng chữ đầu tiên của Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến đã được Hồ Chí Minh chấp bút, khởi đầu cho cuộc kháng chiến toàn dân lịch sử.

Trong Lời kêu gọi, Bác nhấn mạnh: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt thì phải đứng lên chống thực dân Pháp. Ai có súng cầm súng, ai có gươm cầm gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến, ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”…

Tiết mục biểu diễn thể hiện tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Ảnh: Trọng Hải

Tại buổi gặp mặt các cựu chiến binh tham gia chương trình, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh, các cựu chiến binh tiếp tục phát huy truyền thống của anh bộ đội Cụ Hồ và lời Bác đã căn dặn “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Đại diện cho các chiến sĩ tự vệ quyết tử Liên khu 1 năm xưa, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm – Trưởng ban liên lạc truyền thống chiến sĩ quyết tử Liên khu I anh hùng Hà Nội – Trung đoàn thủ đô bày tỏ: “Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, gần 20 em thiếu niên đã trốn gia đình không đi tản cư mà tham gia chiến đấu bảo vệ Hà Nội. Chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ 60 ngày đêm bầu trời Thủ đô. Hôm nay, vì điều kiện nên nhiều đồng chí không có mặt trong chương trình nhưng trong lòng các cựu chiến binh năm xưa luôn hướng về Hà Nội. Tôi mong muốn thế hệ trẻ ngày nay “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, xây dựng Việt Nam ngày càng giàu mạnh.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chi Minh là lời “Hịch cứu nước”, là “Tiếng gọi của non sông”, đã tác động mạnh mẽ đến trái tim và khối óc của mọi người Việt Nam yêu nước, khơi dây mạnh mẽ truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc.

Những lời kêu gọi của Người qua mỗi giai đoạn kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn là lời hiệu triệu toàn quân và toàn dân ta vượt qua mọi gian khổ, hy sinh để đi đến thắng lợi sau cùng. “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập,tự do!”.

Chương trình “Tiếng gọi của non sông” khép lại với những màn hát múa ca ngợi Tổ quốc, Đảng, Bác Hồ, thể hiện chí khí, tinh thần chiến đấu bất khuất của các thế hệ cha ông và góp phần thổi luồng sinh khí cho thế hệ ngày nay vững bước trên con đường xây dựng đất nước.

Khánh Huyền

qdnd.vn

Ba lần được gặp Bác Hồ

“Ba lần được gặp Bác là những kỷ niệm quý giá tôi không bao giờ quên. Những lời dạy của Bác đã thấm sâu vào trái tim, khối óc, giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ suốt chặng đường công tác và cả khi đã về hưu”, ông Trung xúc động nói.

>> Tình yêu thương làm thay đổi đời người

Năm nào cũng vậy, cứ đến dịp kỷ niệm ngày sinh Bác Hồ, ông Kiều Chí Trung lại dẫn cháu nội đến thăm bia kỷ niệm ngày Bác về thăm đập sông Đáy (Đan Phượng, Hà Nội). Ông tâm sự: “Nhờ Người mà tôi đã học được rất nhiều điều trong công tác cũng như đời sống. Tôi muốn con cháu mình được biết những câu chuyện sinh động về Người”.

Năm nay đã ngoài 80 tuổi, sức khỏe đã suy giảm nhiều nhưng kỷ niệm về những lần được gặp Bác vẫn còn nguyên vẹn trong ông Trung.

Ông Kiều Chí Trung quê gốc ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Năm 19 tuổi, ông tham gia cách mạng, hăng hái hoàn thành nhiều công tác về thanh niên, quân sự và được bổ nhiệm làm phó chủ tịch xã Cát Tài. Năm 1953 – 1954, nghe theo lời kêu gọi của Bác Hồ, ông lên đường nhập ngũ, chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên, góp phần “chia lửa với Điện Biên”. Năm 1955, ông được chọn ra Bắc tập kết.

Ông Trung dẫn cháu thăm bia tưởng niệm Bác Hồ về thăm đập sông Đáy (Đan Phượng, Hà Nội).

Tháng 6/1955, lần đầu tiên ông Trung được gặp Bác Hồ khi Bác đến thăm và nói chuyện với cán bộ miền Nam tập kết, học tập ở đoàn 301. “Người ân cần hỏi han về cuộc sống của chúng tôi, hỏi chúng tôi có gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt hay không, có nhớ nhà nhiều không…  rồi dặn dò chúng tôi cố gắng học tập tốt để giúp ích cho nước nhà. Cách nói chuyện thân tình và cởi mở của lãnh tụ làm chúng tôi xúc động vô cùng”.

Lần thứ hai ông Trung được gặp Bác khi đang làm thủy lợi tại Phủ Lý (Hà Nam). Bác về nói chuyện với nhân dân, lãnh đạo địa phương. Vừa nghe tin, ai ai cũng hồi hộp và háo hức. Dù đã được gặp Bác một lần nhưng ông Trung cũng không khỏi bồi hồi xúc động. Những câu chuyện sinh động về cách nghĩ, cách làm của Bác đã để lại cho ông những bài học sâu sắc trong việc làm thủy lợi.

Năm 1957, ông Trung được điều về làm trưởng ban quản lý công trình phân lũ đập sông Đáy, công trình bảo vệ Thủ đô. Đây là nơi ông được gặp Bác Hồ lần thứ ba và cũng là lần gặp để lại những ấn tượng sâu sắc nhất. “Sáng 17/7/1962, một tin vui lớn từ Thủ đô báo về, Bác Hồ sẽ đến thăm công trường tu bổ đập sông Đáy. Mọi người sung sướng đến bàng hoàng, tôi nghĩ đến Bác, bận trăm công nghìn việc mà vẫn thấu hiểu những khó khăn trước mùa lũ bão của chúng tôi”, ông Trung nói.

Bác Hồ về thăm đập Đáy năm 1962. (Ảnh tư liệu)

Ông Trung kể lại, Bác và các đồng chí lãnh đạo cùng đi lần lượt kiểm tra công trường đập sông Đáy rồi chỉ tay, bảo mọi người vào điếm canh đê làm việc tiếp. Bác nghe đại diện Bộ thủy lợi, UBND thành phố Hà Nội, tỉnh Hà Đông, Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội) báo cáo phương án phòng chống lụt bão và tiến độ thi công tu bổ đập sông Đáy. Bác yêu cầu tỉnh Sơn Tây cấp đủ đá, Hà Đông phải huy động nhân lực, Hà Nội đảm đương phần kỹ thuật.

Bác bảo: “Lụt nó không chờ các chú đâu, vì vậy các chú định làm mấy ngày nữa thì xong?”. Ông Trưởng ty Thủy lợi Hà Nội (Sở Thủy lợi Hà Nội) đáp: “Báo cáo Bác, bảy ngày xong ạ”. Bác cười nói: “Bác cho cả tám ngày. Nếu tám ngày không xong thì xấu hổ đấy”. Mọi người hứa làm thật tốt nhiệm vụ được giao. Bác vui vẻ hỏi: “Bây giờ ai phụ trách?”. Một đồng chí thưa: “Báo cáo Bác, đồng chi Kiều Chí Trung, trưởng ban công trình ạ!”. Bác nhìn ông Trung bằng cái nhìn tin tưởng. Ông Trung xúc động và hứa: ‘Cháu sẽ cố gắng làm đúng như lời Bác!”. Tan cuộc họp, Bác ra về thì dân công trên công trường và nhân dân vùng lân cận được tin đã kéo đến đông nghịt. Tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm” vang dậy cho tới khi Bác rời khỏi công trường.

Làm theo lời Bác, suốt 6 ngày đêm, ông Trung cùng anh em cả hai công trường tu bổ đập Đáy và đập Tràn, hoàn thành trước thời hạn hai ngày. Ông Trung lại vinh dự được giao thảo báo cáo gửi lên để Bác vui lòng.Năm 1987, ông Trung được nghỉ hưu. Tuy nhiên, nhớ lời dạy của Bác Hồ, ông  tiếp tục các công tác xã hội ở xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng như tham gia Hội đồng nhân dân xã, Mặt trận Tổ quốc và các hội đoạn khác.

Minh Nhương

baodatviet.vn