Tag Archive | Cuộc đời Hồ Chí Minh

Chính phủ 1945 của Cụ Hồ bắt đầu từ đâu?

– Được thành lập trong “một cái nháy mắt của lịch sử”, chính quyền Việt Nam non trẻ đã đứng vững trong cuộc đối chọi được với quân Tàu Tưởng ở miền Bắc, quân Anh – Pháp ở miền Nam. Đó cũng là nhờ những tinh hoa nước Việt đã theo Cụ Hồ gánh vác những trọng trách trong thời điểm ngàn cân treo sợi tóc.

“Trí thức hoá” nội các

Điều hành guồng máy Đảng giành và giữ chính quyền trong thế “đơn thương độc mã” (essentially alone – chữ dùng của học giả David Marr – chưa nhận được ủng hộ từ khối Xô viết) là Ban thường vụ Trung ương bốn người, do Cụ Hồ đứng đầu. Ba uỷ viên Thường vụ còn lại là Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Võ Nguyên Giáp lại chính là nòng cốt của “nhóm Le Travail”, nổi tiếng thời kỳ Mặt trận bình dân 1936 – 1939 vì tờ báo cách mạng tiếng Pháp cùng tên.

Một số thành viên nữa của nhóm Le Travail, như Đặng Thai Mai, Khuất Duy Tiến, Phan Anh… dưới bàn tay dụng nhân của Hồ Chí Minh sẽ xuất hiện trong thành phần nội các ở những thời điểm khác trong năm đầu của nền dân chủ cộng hoà này.

Đêm đầu tiên của ông Ké Tân Trào – Hồ Chí Minh ở Hà Nội 25 tháng 8, một danh sách nội các đã đợi Người trên bàn. Danh sách này đã đăng trên tờ Cứu quốc, ra ngày hôm trước. Nhưng, Cụ Hồ đã không ngại ngần “rút” khỏi đó năm lãnh tụ cộng sản, thay vào đó là các nhân sĩ nổi tiếng.  Thế là trong số 15 bộ trưởng, chỉ còn 6 người là đảng viên CSĐD.

Trường Thăng Long… “đào tạo” Bộ trưởng?

Trong ảnh chụp chính phủ ra mắt đầu tiên, dân chúng thấy có ba thầy giáo trường Thăng Long: Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Hoè, Hoàng Minh Giám. Đây là những những đại diện nòng cốt của khối giáo viên và học sinh trường Thăng Long mà  tuyệt đại đa số đã đi theo cách mạng từ trước đó, thời tiền khởi nghĩa. Người dân sẽ nhận thấy thầy Nguyễn Dương làm Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam (từ tháng 2/1946); thầy Trịnh Văn Bính Thứ trưởng Bộ Tài chính (từ 11/1946), thầy Vũ Bội Liên (con tuần phủ thời) cán bộ Bộ Tư pháp, hy sinh ngay từ đầu kháng chiến chống Pháp…

Chính phủ lâm thời nước VNDCCHChính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Mái trường Thăng Long từng âm thầm chứng kiến sự ra đời và lớn mạnh của nhóm Le Travail trẻ (JC: Jeunese communiste), Đoàn thanh niên dân chủ, Đoàn thanh niên phản đế, Đoàn thanh niên cứu quốc… trong từng bước đi tới cách mạng tháng Tám. Nay nhiều cựu học sinh Thăng Long sẽ giúp tạo trụ cột của chính quyền mới, vào các ngành Nội vụ, Tư pháp, Cảnh sát, Thuế quan, quân đội… Báo Cứu quốc (15/10/46) báo tin Lý Chính Thắng bị Pháp giết dã man. Một cựu học sinh Thăng Long khác, Lê Trung Toản, chỉ huy Trung đoàn Thủ đô phòng thủ Hà Nội cuối 1946…

Tài đức “dành trợ dân này”

Một nhà đại trí thức gần gũi với nhóm trí thức Thăng Long là Nguyễn Văn Tố, Hội trưởng Hội truyền bá Quốc Ngữ, cũng được mời vào nội các. Đó là vị bộ trưởng đầu tiên, Chủ tịch quốc hội đầu tiên của Việt Nam, hy sinh trong kháng chiến.

Từ đầu năm 1946, chính phủ Cụ Hồ được bổ sung thêm các trí thức Việt Minh Nam Bộ, để Chính phủ có thể điều hành cả một nửa kia của “sơn hà nguy biến”. Những tên tuổi Ca Văn Thỉnh, Phạm Ngọc Thạch, Phạm Văn Bạch, Trần Văn Giàu… đã lập tức hoà vào guồng máy việc công ở Hà Nội, chống thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

…Một ngày giữa năm 1946, ông Võ Nguyên Giáp ghi vào kế hoạch công tác “(Nhớ) hỏi anh Bửu những người tài”.

Tạ Quang Bửu từng tu nghiệp ở các Đại học Sorbonne, Paris, Bordeaux, Oxford.

“Thanh niên tiền tuyến” thành tướng lĩnh cách mạng

Đồng Tổng Hướng đạo sinh Đông Dương Tạ Quang Bửu và Bộ trưởng Thanh niên của chính phủ Trần Trọng Kim, ông Phan Anh lập ra trường Thanh niên tiền tuyến vào tháng 5/1945. Không hẹn mà nên, cùng lúc với Trường quân chính kháng Nhật huấn luyện cán bộ quân sự cách mạng.

Trưa 21 tháng 8/1945 hai học viên Trường Thanh niên tiền tuyến, trước mắt hàng ngàn dân Kinh đô Huế, đã hạ cờ quẻ ly của triều Nguyễn, treo cờ đỏ sao vàng lên Kỳ đài tại Ngọ Môn, như hồi chuông đầu “nguyện hồn” nền quân chủ một ngàn năm. Đó là các ông Đặng Văn Việt, ba năm sau sẽ khét tiếng là “Hùm xám trên đường số 4”, Cao Pha – một cán bộ quân báo đầu tiên, một anh hùng Điện Biên Phủ.

Những người lãnh đạo Thanh niên Tiền tuyến từ đầu đã để cho Việt Minh thâm nhập vào tổ chức của họ. Kết quả Cụ Hồ có thêm những chỉ huy quân sự đầu tiên xuất thân từ tầng lớp trên. Người dân đau đớn nghe tin con trai học giả Lê Thước, Lê Thiệu Huy – tham mưu trưởng liên quân Việt Lào đã hy sinh 26/3/46, khi tháp tùng Hoàng thân Souphanouvong. Nếu lực lượng học viên Iunker lập ra Bạch vệ, quyết liệt chống chính quyền xô viết, thì nhiều học sinh sĩ quan Trường “Thanh niên tiền tuyến” lại trở thành những tướng lĩnh cách mạng thông thái mà dày dạn trận mạc, như Cao Văn Khánh, Mai Xuân Tần, Đoàn Huyên, Phan Hạo, Tôn Thất Hoàng…

Một đồng Tổng Hướng đạo sinh nữa là nhà văn hoá Hoàng Đạo Thuý. Ngay sau Lễ tuyên ngôn Độc lập, ông được Hồ Chí Minh triệu tập để thành lập ra binh chủng đầu tiên của Quân đội Việt Nam – Thông tin Liên lạc. Một sĩ quan tham mưu đầu tiên, ông Trần Trọng Trung, nhớ mãi hình ảnh các đội mô tô đeo thẻ bài “Hoả tốc”, phóng xuống các vùng nông thôn xa chuyển phát các công văn mật, khẩn cấp của việc quân. Họ do một trí thức ngoài Đảng, ông Phạm Thành Vinh, lúc đó là Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng, chỉ huy.

Tướng tình báo do phương Tây đào tạo

Năm 1950, giới thiệu Hoàng Đạo Thuý, tư lệnh thông tin, với tướng Trần Canh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho vị cố vấn Trung quốc này “choáng”. “Đồng tử quân (Hướng đạo sinh) phục vụ thông tin cho chiến dịch ư?” Trần Canh hỏi lại, vì Đồng tử quân ở Trung Quốc là lực lượng phản cách mạng. “Nhà chú” (Trung Quốc) không hiểu nổi đâu. Đây là Đồng tử quân Việt Nam mà”, Cụ Hồ đáp.

Lãnh đạo chủ chốt của công an, tình báo, an ninh đầu tiên của Việt Nam là do… tình báo phương Tây đào tạo. Khoảng năm 1944 Lực lượng nhiệm SOE của Anh, có “sáng kiến” đào tạo các tù cộng sản Việt Nam, bị Pháp giam ở hải ngoại, để tung vào hậu phương phát xít Nhật. Một số đảng viên đã tương kế tựu kế, dùng vỏ bọc này để mang vũ khí, khí tài, và nhất là kiến thức tình báo về phục vụ cách mạng.

Đó là các ông Lê Giản, phó giám đốc Sở Liêm phóng (Công an) Bắc Bộ đầu tiên; Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi), trong ảnh Chính phủ liên hiệp kháng chiến 1946 là thứ trưởng Nội vụ; Nguyễn Văn Ngọc, Giám đốc Sở Trinh sát Trung Bộ đầu tiên; Trần Hiệu, phó Giám đốc Sở CA Bắc Bộ, Hoàng Đình Rong (Vũ Đức), chỉ huy quân sự hy sinh ở Nam Bộ đầu kháng chiến. Đây là hiện tượng vô song trong lịch sử, vì các tình báo viên do phía đối phương đào tạo thường không thể trở thành lãnh đạo chủ chốt về an ninh, tình báo…

Cách dùng người như thế chỉ thấy ở Hồ Chí Minh.

Bộ trưởng không lương, nhận phụ cấp “cơm chan nước mắm”

Tri thức, tình yêu nước và biết “ăn cơm nhà vác ngà voi” có lẽ là những điều kiện cần để trí thức trở thành thành viên của chính quyền đầu tiên của nước Việt Nam DCCH. Hồi ký của các bậc lão thành cho biết “bữa ăn cơ quan” năm 1946 chỉ có cơm chan nước mắm, mà cũng không đủ.

Ông Nguyễn Mạnh Hà, Bộ trưởng Kinh tế đầu tiên, người Công giáo, nhớ lại trong những ngày nước sôi lửa bỏng 1946, Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh và Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp từng có những lần chạy ào qua nhà ông, xem “còn cơm nguội không”… Nhưng trong kế hoạch làm việc năm 1946 của lãnh đạo ngành Nội vụ và LLVT Võ Nguyên Giáp, đã đôi ba lần xuất hiện câu: “(Lo) phụ cấp cho nhân viên cơ quan”.

Lê Đỗ Huy
bee.net.vn

Vị Bộ trưởng từng thay mặt Cụ Hồ điều hành việc nước

– “Con người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao”- đó là lời đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng cố Bộ trưởng Nội vụ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Công hoà và Chủ tịch Hôị Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, được viết trong thư đề ngày 29/4/1947 “Gửi toàn thể đồng bào sau ngày cụ Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng tạ thế”.

Cũng trong lá thư này, Bác Hồ còn giành những lời lẽ hết sức trân trọng để đưa ra trước toàn thể đồng bào một tấm gương sáng : “vì lòng yêu nước mà trước đây cụ bị bọn thực dân làm tội, đầy ra Côn Đảo. Mười nấy năm trường gian nan cực khổ. Nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của cụ Huỳnh chẳng những không sờn lại thêm kiên quyết”.

Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập.

Đến ngày nước Việt Nam Dân chủ Công hoà thành lập, Chính phủ ta mời cụ ra. Tuy đã hơn 71 tuổi nhưng cụ vẫn hăng hái nhận lời. Cụ nói: “Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, gái, trai, ai cũng phải ra phụng sự Tổ quốc”.

Kết thúc bức thư này, Chủ tịch Hồ Chi Minh còn kêu gọi đồng bào “đồng thanh thề trước tiên linh của cụ  Huỳnh rằng: Đồng bào Việt Nam cương quyết theo gương kiên quyết của cụ, tinh thần kháng chiến của cụ Huỳnh sống mãi…”

Làm Bộ trưởng tuổi “cổ lai hy”

Vậy mà, cụ Huỳnh mới thực sự cộng tác với cách mạng mới hơn một năm. Mùa Xuân 1946, đất nước đã độc lập, chính phủ cách mạng đã thành lập, nạn đói đã tạm được khắc phục nhưng cách mạng đang đứng trước vô vàn thử thách. Thực dân Pháp đã  nổ súng xâm lược và đang mở rộng chiến tranh ở Nam Bộ, thực dân Pháp đang gây sức ép tạo cớ để gây hấn ở Bắc và Trung bộ. Quân đội Tưởng Giới Thạch kéo theo những tổ chức tay sai đang tạo ảnh hưởng để giành đoạt quyền lực, thủ tiêu những thành quả cách mạng…

Hơn lúc nào hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương phải củng cố sức mạnh của cách mạng và chính quyền cách mạng bằng việc mở rộng hơn nữa khối đoàn kết của toàn dân. Vì lợi ích của Tổ quốc và sự tồn vong của chế độ, vị Chủ tịch nước đồng thời cũng là người lãnh đạo cao nhất của Đảng cộng sản và Mặt trận Việt Minh đã đưa ra những quyết sách sáng suốt và dũng cảm.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng (chống gậy). Ảnh Pháp luật TP.HCMCụ Huỳnh Thúc Kháng (chống gậy). Ảnh Pháp luật TP.HCM

Tháng 11/1945, Đảng Công sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán” mà thực chất là rút vào hoạt động không công khai; cuộc Tổng tuyển cử đã bầu ra Quốc hội  khoá đầu tiên nhưng giành riêng 72 ghế để những đảng phái “đối lập” đuợc tham gia không cần qua bầu cử;  bằng các giải pháp ngoại giao táo bạo để phân hoá các thế lực nước ngoài đang có mặt ở nước ta, chủ yếu là thực dân Pháp và quân phiệt Trung Hoa; tiến tới cải tổ và mở rộng Mặt trận Việt Minh thành Mặt trân Liên Hiệp Quốc dân…

Chính vào bối cảnh ấy, cụ Huiỳnh Thúc Kháng xuất hiện trên chính trường khi đã bước vào tuổi “cổ lai hy”. Quả thật, vào thời điểm ấy ít ai nghĩ rằng nhà chí sĩ đất Quảng, họ Huỳnh lừng danh một thời có thể tham chính và cộng tác với một chính quyền cách mạng mà ai cũng biết rằng hạt nhân lãnh đạo lại là những người cộng sản. Bởi lẽ, mọi nguời đều biết tới cụ Huỳnh thời trai trẻ đã là một trong những vị khoa bảng (đỗ phó bảng cùng khoa với cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh) sớm có tư tưởng canh tân và yêu nước.

Năm 1904, vừa đỗ phó bảng, Huỳnh Thúc Kháng đã từ bỏ quan trường theo 2 người đồng chí hướng nổi tiếng của mình là Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp vào tận Cam Ranh để quan sát đoàn tàu chiến của hạm đội Nga ghé qua trên đường sang tham chiến cuộc chiên tranh với nước Nhật. Chính vào thời điểm này, ba nhà nho xứ Quảng đã tuyên ngôn chí hướng :”Hỡi người trí thức kia ơi – Quăng mũ đi, vứt bút đứng lên- Đừng cam chịu tiếng ươn hèn- HơI tàn còn thở chớ quên phục thù” (Lương ngọc danh sơn phú).

Kể từ đó, cả ba bước vào con đường hoạt động chính trị mưu cầu sự giải phóng cho dân tộc. Sau cao trào Duy Tân và kháng thuế ở mền Trung, cả ba đều bị thực dân và Nam triều đàn áp. Trần Quý Cáp lên đoạn đầu đài, Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng đều bị đầy ra Côn Đảo. Kể từ đó hai người đồng chí chọn cho mình những con đường khác nhau nhưng cùng một đích là cứu nước. Và trên con đường của mình cả hai đều gặp một người. Người đó là Nguyễn Ái Quốc lại cũng chính là con của người môn sinh cùng đỗ phó bảng là Nguyễn sinh Sắc.

Năm 1911, Phan Châu Trinh qua Pháp rồi sau đó có một thời gian gần gũi với Nguyễn Ái Quốc để cuối đời gửi gấm tiền đồ đất nước vào người bạn trẻ vong niên :”Anh như cây đương lộc, tôi tin rằng cái chủ nghĩa anh tôn thờ sau này sẽ thâm căn cố đế trong đám dân tính chí sĩ nước ta”  (Thư gửi Nguyễn Ái Quốc 1922).

Còn với Huỳnh Thúc Kháng, sau 13 năm lưu đầy, từ Côn Đảo trở về đất liền (1921), cụ chọn cho mình hoạt động chính trường công khai. Cụ tham gia Viện Dân biểu Trung kỳ, ra tờ báo “Tiếng Dân” với hy vọng có thể đòi hỏi cho người dân những quyền tự do trong khuôn khổ của chế độ thuộc địa. Những cố gắng của cụ có thể mang lại một vài cải cách nhỏ giọt của giới cầm quyền thực dân  nhưng tình cảnh “vạn dân nô lệ cường quyền hạ” vẫn còn nguyên.

Lại phải nói thêm rằng, cao trào cách mạng do Đảng cộng sản mới ra đời phát động vào năm 1930-1931, sôi nổi nhất cũng trên mảnh đất miền Trung vẫn không kéo nổi cụ Huỳnh ra khỏi con đường  vận động cải cách,  và tránh bạo lực của cụ Huỳnh. Cũng chính trong thời gian này, do hạn chế về nhận thức, cụ Huỳnh còn viết nhiều bài báo phản bác phương pháp đấu tranh của những người cộng sản. Trong một số văn kiện của  Đảng Cộng sản đương thời đã từng phê phán đuờng lối của Huỳnh Thúc Kháng là có hại cho cách mạng…

Vậy mà, khi cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh với niềm tin vào tinh thần yêu nước là động lực mạnh mẽ nhất của dân tộc luôn mở rộng khối đoàn kêt để thu hút mọi lực lượng vào hàng ngũ cách mạng. Vì vậy, vị Chủ tịch nước Việt Nam độc lập không quên cử người vào tận miền Trung vời cụ Huỳnh ra làm việc nước. Cụ Huỳnh ý thức được niềm hạnh phúc hơn những người đồng chí đã khuất như Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh  hay Phan Bội Châu vì đã được chứng kiến ngày đất nước độc lập. Cụ Huỳnh đã cảm khái viết: “Sướng ơi là sướng, thoát thân nô mà làm chủ nhân ông – Vui thật là vui, đổi quyền vua mà làm dân quốc mới” . Nhưng cụ vẫn tự cho mình là  lớp người đã lỗi thời  mà xa lánh chính trường.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Bộ trưỏng Nội vụ đầu tiên của Nhà nuớc Cách mạng đã thuật lại trong hồi ký của mình cái bước ngoặt đẹp đẽ trong cuộc đời của một con người gắn với một thời thời kỳ thử thách của cách mạng :

“Tôi được biết cụ Huỳnh từ hồi còn làm báo “Tiếng Dân” ở Huế. Cụ là một nhà nho có tinh thần yêu nước cao, có khí tiết nhưng chưa hoàn toàn tin tưởng ở đuờng lối cách mạng của Đảng ta. Khi chúng ta cử người tới mời, lúc đầu cụ tỏ ra ngần ngại. Một phần, vì cụ thấy tuổi đã quá cao. Một phần vì cụ chưa hiểu những người lãnh đạo mới “thuộc lớp trẻ” ra sao. Đến lúc nghe nói rõ Hồ Chủ tịch chính là đồng chí Nguyến Ái Quốc, cụ mới quyết định ra Hà Nội… Giây phút gặp gỡ đầu tiên giữa Bác và cụ Huỳnh thật cảm động. Hai người đều bước vội tới, ôm lấy nhau; cả Bác và cụ Huỳnh đã nhắc tới cụ phó bảng ngày xưa… Sau buổi gặp Bác, cụ Huỳnh đã nói với một người bạn :”Dân ta có được cụ Hồ quả là hồng phúc”…”(2)

Và trong ngày ra mắt Chính phủ Liên hiệp 2/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng giới thiệu cụ Huỳnh Thúc Kháng “một người đạo đức danh vọng mà quốc dân ai cũng biết” làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, một vị trí rất quan trọng trong Chính phủ  Liên hiệp Kháng chiến.

Thay mặt Hồ Chủ tịch giải quyết việc nước

Ở vào cương vị ấy, Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng đã làm hết mình phụng sự cho đất nước. Đầu tháng 6/1946, khi lên đường sang Pháp trong một sư mệnh ngoại giao đầy gian khổ và bất trắc, Chủ tịch Hồ Chi Minh đã gửi gấm việc nước cho cuả Huỳnh mà sau 4 tháng trở về đã đánh giá :”Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ  Huỳnh, quyền Chủ tịch, sự săn sóc của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hiệp lực của quốc dân mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ”.

Một trong những “việc khó khăn” đã được giải quyết trong thời điểm này chính là việc thẳng tay trừng trị các phần tử phản động trong các tổ chức đối lập quanh vụ án “Ôn Như Hầu”.

Về vụ việc này, hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuật lại rằng sau khi các lực lượng an ninh cách mạng phát hiện và trừng trị những kẻ bắt cóc, tống tiền… các tổ chức đối lập lên khiếu nại chính phủ. Bộ trưởng Nội vụ đang đảm nhận quyền Chủ tịch nước đã hoàn toàn ủng hộ các hành động cứng rắn của chính phủ và tuyên bố trong cuộc họp báo ngày 16/7/1946 :”Đoàn kết là cần để xây dựng nền dân chủ cộng hoà, nhưng không thể vin vào “đoàn kêt” mà làm những điều phi pháp. Tôi khuyên mọi đảng phái, mọi phần tử quốc dân đoàn kết. Nhưng cũng vì quyền lợi quốc gia, tôi phải đem ra trừng trị trước pháp luật những kẻ làm điều phi pháp…”.

Tháng 11/1946, Chính phủ lại cải tổ để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến đã đến gần trước âm mưu khởi hấn của thực dân. Một lần nữa vị  Bác Hồ lại nêu tấm gương sáng :”Kết quả có những vị có tài năng nhận lời mời tham gia chính phủ như cụ Huỳnh Thúc Kháng vì tuổi cao sưc yếu mà cố từ, nhưng vì tôi lấy đại nghĩa mà lưu cụ, cụ cũng gắng ở lại… ai nấy đều hứa cố gắng làm việc một lòng vì nước vì dân”

Và Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã cống hiến cho Tổ quốc đến hơi thở cuối cùng.

Tháng 4 tin buồn đến

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19/12/1946), với cương vị Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân cụ viết thư kêu gọi  toàn dân :”Hãy tin tưởng vào cụ Hồ Chí Minh, bậc yêu nước đại chí sĩ, kết chặt chẽ một khối quyêt sống mái với kẻ thù”…

Trên đường thay mặt Chính phủ đi kiểm tra tình hình kháng chiến ở miền Trung, đến Quảng Ngãi, cụ lâm bệnh, biết mệnh của mình khó qua khỏi, Huỳnh Thúc Kháng viết lời “vĩnh qụyết” :”kêu gọi anh em các đảng phái, tôn giáo hãy đặt hết lòng tin tưởng vào Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng xuất chúng, vị anh hùng của dân tộc”như trong lá thư gửi Chủ tịchHồ Chí Minh cụ đã bộc bạch:

“Bốn mươi năm ôm ấp Độc lập và Dân chủ, nay nước đã được độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả”.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng từ trần ngày 21/4/1947 tại Quảng Ngãi. Nỗi thương cảm của nhân dân được Bác Hồ bày tỏ trong bài thơ điếu thống thiết, có đoạn:

“… Tháng Tư tin buồn đến – Huỳnh Bộ truởng đi đâu – Trông vào Bộ Nội vụ – Tài đức tiếc thương nhau – Đồng bào ba chục triệu – Đau đớn lệ rơi châu”.

Dương Trung Quốc
bee.net.vn

Lời giới thiệu Tập 11

Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 11, bao gồm những bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tháng 1-1963 đến tháng 12-1965.

Các tác phẩm trong tập này phản ánh đầy đủ và sinh động tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn Người cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng là xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện mục tiêu chung là hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Trước hết, những bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian này thể hiện tư tưởng chỉ đạo của Người về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Người nhắc nhở: chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh một nuớc nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh xâm lược tàn phá. Chúng ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội không trải qua con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, lại trong hoàn cảnh đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền, phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau.

Hoàn cảnh đó gây ra cho chúng ta không ít khó khǎn. Vì vậy, nhân dân ta phải “dũng cảm phấn đấu, vượt mọi khó khǎn, để xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần… chẳng những là vì hạnh phúc của đồng bào ta ở miền Bắc mà còn vì cuộc đấu tranh thần thánh của toàn dân ta để hoà bình thống nhất nước nhà”(tr. 21).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những khó khǎn, nhược điểm và yếu kém trong nền kinh tế của nước ta, nhất là về tổ chức và quản lý kinh tế. Vì vậy, Người đã cùng Trung ương Đảng đề ra ba cuộc vận động lớn: cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật trong nông nghiệp; cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tǎng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, gọi tắt là cuộc vận động “3 xây, 3 chống” và cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên tham gia phát triển kinh tế và vǎn hoá miền núi. Người nói: “chúng ta phải thật thà nhận rõ những khuyết điểm và nhược điểm, để kiên quyết sửa chữa: như ý thức làm chủ nước nhà và tinh thần trách nhiệm còn kém. Chế độ và phương pháp quản lý kinh tế tài chính của chúng ta còn nhiều thiếu sót và lỏng lẻo. Kỷ luật lao động chưa được thật nghiêm túc, Sử dụng lao động chưa được hợp lý. Khả nǎng thiết bị máy móc tuy có khá nhiều nhưng chưa được sử dụng đầy đủ” (tr.109). Vì vậy “mà nǎng suất lao động bình quân tǎng rất chậm, sản xuất phát triển chưa được mạnh mẽ, vững chắc và cân đối…, đời sống vật chất của nhân dân chưđược cải thiện nhiều” (tr. 109). Dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cuộc vận động trên đã lôi cuốn hàng triệu người sôi nổi tham gia bàn định phương hướng và kế hoạch sản xuất, cải tiến kỹ thuật, tạo ra một sự chuyển biến mạnh mẽ trong nền kinh tế quốc dân, góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống của nhân dân.

Tháng 3-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt nhằm tǎng cường hơn nữa sự đoàn kết nhất trí trong toàn dân trước âm mưu tǎng cường và mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ. Bản báo cáo của Người tại Hội nghị là một vǎn kiện rất quan trọng, tổng kết những thành tích xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thắng lợi của quân, dân ta đánh Mỹ – ngụy ở miền Nam trong l0 nǎm, từ 1954 đến 1964. Về những thành quả trong mười nǎm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Trong 10 nǎm qua, miền Bắc nuớc ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước,xã hội và con người đều đổi mới” (tr. 224).“Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh nǎm mà vẫn quanh nǎm đói rách. Làng xóm ta ngày nay bốn mùa nhộn nhịp cảnh làm ǎn tập thể. Đâu đâu cũng có trường học, nhà gửi trẻ, nhà hộ sinh, câu lạc bộ, sân và kho của hợp tác xã, nhà mới của xã viên. Đời sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần ngày càng tiến bộ” (tr. 225). Đồng thời, trong báo cáo Người cũng đề ra những nhiệm vụ trước mắt cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải phấn đấu hoàn thành để đưa sự nghiệp cách mạng nước ta tiến lên giành những thắng lợi mới. Tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “mỗi người chúng ta phải làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt” (tr.227)

Thắng lợi của Hội nghị đã đem lại một không khí phấn khởi trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, làm cho mọi người thêm tin tưởng, hǎng hái vươn lên làm tròn nhiệm vụ, trước hết là hoàn thành thắng lợi kế hoạch Nhà nước nǎm 1964 và kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất.

Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn này còn cho thấy mối quan tâm của Người đến đời sống vǎn hoá – tinh thần của nhân dân. Theo Người, chủ nghĩa xã hội không chỉ làm cho mọi người dân có đời sống vật chất ấm no, mà còn phải có đời sống vǎn hoá – tinh thần phong phú. Các bài : Bài nói tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” của ngành giáo dục phổ thông và sư phạm; Bài nói tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi; Bài nói tại Đại hội thanh niên Thủ đô; Bài nói tại Trường đại học Sư phạm Hà Nội, v.v. đã thể hiện những quan điểm của Người về cách mạng tư tưởng và vǎn hoá diễn ra đồng thời với cách mạng về quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học – kỹ thuật, nhằm xoá bỏ những tàn dư tư tưởng, thói hư tật xấu do xã hội cũ để lại, xây dựng một nền vǎn hoá mới với nội dung xã hội chủ nghĩa và đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người mới, lối sống mới và đạo đức mới xã hội chủ nghĩa. Người viết: “Muốn xây dựng một xã hội mới và tốt đẹp, thì cần phải tiêu diệt những thói hư, tật xấu của xã hội cũ còn sót lại. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải bồi dưỡng con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng” (tr. 110).

Trải qua hơn l0 nǎm xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã có những bước phát triển hết sức to lớn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trở thành cǎn cứ địa vững chắc cho cách mạng cả nước, hoàn thành được nhiệm vụ của hậu phương lớn là không ngừng chi viện sức người, sức của cho miền Nam ruột thịt.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhân dân ta ở miền Nam đã vượt qua muôn vàn khó khǎn thử thách và liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, đưa sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam tiến lên từng bước vững chắc.

Trong thời gian này, Người đã viết nhiều vǎn kiện quan trọng, phân tích một cách chính xác tình hình và triển vọng của cách mạng miền Nam, vạch trần bản chất xâm lược của cuộc chiến tranh mà đế quốc Mỹ đã gây ra ở miền Nam, đồng thời chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ cho nhân dân ta tiến lên giành những thắng lợi mới, to lớn hơn nữa. Trả lời một nhà báo Mỹ, Người nói: “Đã mười nǎm nay, tất cả các Chính phủ Mỹ và tất cả bọn tay sai của chúng muốn dùng sức mạnh tàn bạo của chúng hòng đè bẹp sức kháng chiến của nhân dân một dân tộc anh hùng. Chúng muốn biến 14 triệu đồng bào miền Nam chúng tôi thành những người nô lệ, biến miền Nam đất nước chúng tôi thành thuộc địa kiểu mới, một cǎn cứ quân sự, để uy hiếp nền độc lập của các nước ở Đông Dương và Đông – Nam áđể tiến công miền Bắc chúng tôi” (tr. 273). Nhưng “Nhân dân miền Nam anh dũng quyết không lùi bước trước mũi súng của kẻ xâm lược và lũ bán nước. Đồng bào chúng tôi thà hy sinh hết thảy, nhưng quyết không chịu làm nô lệ” (tr.274).

Sau thất bại thảm hại của kế hoạch Xtalây – Taylo, tháng 3-1964, đế quốc Mỹ thực hiện kế hoạch Giônxơn – Mắc Namara nhằm bình định miền Nam trong vòng hai nǎm (1964-1965). Song, mọi âm mưu của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã vấp phải sức kháng cự vô cùng mãnh liệt của các tầng lớp nhân dân cả nước, trực tiếp là nhân dân miền Nam. Những chiến thắng Bình Giã, Plây Cu, Ba Gia, Đồng Xoài… của nhân dân miền Nam đã làm phá sản hoàn toàn chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ, tạo ra những lực lượng rất lớn về vật chất và tinh thần để tiến lên đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cuộc”chiến tranh đặc biệt” mà chúng đang thí nghiệm ở miền Nam Việt Nam đã thất bại, thì chúng cũng sẽ thất bại ở bất kỳ nơi nào khác. Đó là ý nghĩa quốc tế của cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam ta đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới” (tr.228).

Thất bại trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa thêm hàng chục vạn quân Mỹ vào miền Nam, đồng thời cho hàng trǎm máy bay và tàu chiến tǎng cường đánh phá miền Bắc. Phân tích thế bị động về chiến lược này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Bị thua to và sa lầy ở miền Nam, chúng muốn mở rộng chiến tranh đến miền Bắc hòng gỡ thế bí. Như thế khác nào con chó sói hai chân sau đã bị kẹt vào cạm bẫy, muốn thò cả hai chân trước vào cạm bẫy nữa để giải thoát cho hai chân sau! Thật là ngu xuẩn!” (tr. 404). Người khẳng định: “Kế hoạch Taylo đã tiêu tan. Kế hoạch Mắc Namara cũng phá sản. Kế hoạch “leo thang” mà hiện nay đế quốc Mỹ đang cố thực hiện ở miền Bắc cũng nhất định sẽ thất bại. Dù Mỹ đưa thêm mấy chục vạn binh sĩ Mỹ và cố lôi kéo thêm quân đội các nước chư hầu vào cuộc chiến tranh tội ác này, thì quân và dân ta cũng quyết đánh thắng chúng” (tr.432). Người kêu gọi: “Lúc này chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước”(tr. 434), “dù phải chiến đấu 5nǎm, 10 nǎm, 20 nǎm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn” (tr. 470).

“Chống lại và làm thất bại những hành động xâm lược của đế quốc Mỹ để bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ quyền sống, đó là quyền thiêng liêng của mọi người dân Việt Nam ở miền Bắc cũng như ở miền Nam. Bọn đế quốc Mỹ dù có hành động điên cuồng liều lĩnh đến đâu, cũng không thể nào ngǎn cản nổi nhân dân Việt Nam tiếp tục cuộc chiến đấu yêu nước cho đến thắng lợicuối cùng” (tr. 428).

Bị thua đau về quân sự lại bị nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới lên án, Tổng thống Mỹ đã đối phó bằng luận điệu “hoà bình” dối trá, tuyên bố “sẵn sàng thảo luận không điều kiện”. Vạch trần thủ đoạn lừa bịp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Để lập lại hoà bình, chỉ có một con đường đúng đắn, là Mỹ phải làm đúng Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954 về Việt Nam và cuốn gói rút lui có trật tự”(tr. 439), “Nếu đế quốc Mỹ khôn hồn theo con đường thứ hai, nhân dân Việt Nam sẽ sẵn sàng hoan tống họ một cách lịch sự ” (tr. 405).

Phối hợp với mặt trận quân sự, Người mở rộng mặt trận đấu tranh ngoại giao. Trong các bài trả lời phỏng vấn của phóng viên thông tấn, báo chí nước ngoài, Người đã nêu cao lập trường chính nghĩa và thiện chí hoà bình của nhân dân ta, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của các nước anh em và bè bạn, của các tổ chức quốc tế và nhân dân yêu chuộng hoà bình, công lý trên thế giới, bao gồm cả nhân dân tiến bộ Mỹ. Người quan tâm củng cố khối đoàn kết truyền thống giữa nhân dân ba nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Người cũng chǎm lo cho việc hình thành trong thực tế một Mặt trận thống nhất phản đế giữa nhân dân Việt – Mỹ, để“Nhân dân Mỹ đánh từ trong ra,nhân dân ta đánh từ ngoài vào. Hai bên giáp công mạnh mẽ, thì đế quốc Mỹ nhất định sẽ thua, nhân dân Việt- Mỹ nhất định sẽ thắng” (tr. 524).

Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đang dâng cao thì trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế diễn ra cuộc khủng hoảng về đường lối, dẫn đến nguy cơ phân liệt. Trong tình hình đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn giương cao ngọn cờ đoàn kết, chủ trương giải quyết mọi bất đồng giữa các đảng và các nước anh em trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Trả lời phỏng vấn của một nhà báo nước ngoài về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Lịch sử phong trào cách mạng thường có những mâu thuẫn, có những cuộc đấu tranh về tư tưởng, nhưng kết quả là chủ nghĩa Mác – Lênin thắng lợi, cách mạng ngày càng phát triển.

Chúng tôi tin rằng cuộc đấu tranh tư tưởng trong phe xã hội chủ nghĩa, tuy còn khó khǎn, nhưng sẽ được giải quyết tốt đẹp. Trong cuộc đấu tranh ấy, chúng tôi luôn luôn giữ thái độ kiên trì đoàn kết trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, bảo vệnhững nguyên tắc cách mạng của hai bản Tuyên bố Mátxcơva 1957 và 1960″ (tr.313). Thực tiễn cách mạng Việt Nam những nǎm qua, chứng tỏ đường lối nói trên là đúng đắn, ngày nay, vẫn giữ nguyên ý nghĩa chỉ đạo đối với chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

Trong tập này, bạn đọc cũng tìm thấy những quan điểm và những biện pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng. Các tác phẩm như: Đoàn kết tiến lên giành thắng lợi mớiBài nói tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Định; Những chi bộ tốt; Bài nói tại Hội nghị bồi dưỡng chỉnh huấn do Trung ương triệu tập, v.v. đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến việc nâng cao trình độ tư tưởng và lý luận của cán bộ, đảng viên; kiện toàn các cấp uỷ đảng địa phương và các tổ chức cơ sở đảng; cải tiến công tác lãnh đạo và lề lối làm việc, chống các tệ quan liêu mệnh lệnh, tǎng cường mối quan hệ với quần chúng. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thường xuyên nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, đề cao tinh thần trách nhiệm, chống mọi ảnh hưởng của chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa giáo điều, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, bảo vệ sự đoàn kết nhất trí trong Đảng. Người viết: “Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng. Mỗi cấp bộ của Đảng phải là một cơ quan lãnh đạo vững chắc ở địa phương, theo đúng đường lối, chính sách của Trung ương” (tr.23). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở: “Đảng ta là một Đảng phấn đấu hy sinh vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, của giai cấp vô sản, chứ không vì lợi ích nào khác. Nhưng số người đó coi Đảng như một cái cầu thang để thǎng quan phát tài. Họ không quan tâm đến đời sống của nhân dân mà chỉ lo nghĩ đến lợi ích của riêng mình. Họ quên rằng mỗi đồng tiền, hạt gạo đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân, do đó mà sinh ra phô trương, lãng phí. Họ tự cho mình có quyền sống xa hoa hưởng lạc, từ đó mà đi đến tham ô, trụy lạc, thậm chí sa vào tội lỗi” (tr.374). Hơn 30 nǎm đã trôi qua, song những quan điểm nêu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng vẫn còn ý nghĩa thời sự trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta.

Tập 11 của bộ Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, gồm có 227 bài. So với lần xuất bản trước, lần này được bổ sung thêm 45 bài, trong đó có 13 bài lần đầu tiên được công bố. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong sưu tầm, đối chiếu, xác minh, song do hạn chế về thời gian, chắc chắn tập sách này vẫn không tránh khỏi còn thiếu sót. Chúng tôi mong được sự góp ý của bạn đọc gần xa.

VIỆN NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

cpv.org.vn


Bạn muốn download trọn bộ Hồ Chí Minh toàn tập
Tập 11 (1963 – 1965) hãy nhấn vào đây Down load

Người phương Tây cuối cùng được phỏng vấn Bác Hồ

Sinh ngày 17/9/1920, Charles Fourniau đỗ thạc sĩ năm 1949 và tiến sĩ sử học năm 1983 với luận án Cuộc chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ 1885-1896 (La conquête de l’Annam et du Tonkin 1885-1896). Phần lớn thời gian được ông dành để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại. Ông đã viết nhiều sách như: Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale ) (1989); Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914) (2002).

TS. Phan Văn Hoàng (nguyên Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử TP.HCM):

Một đồng nghiệp của báo L’Humanité (cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp) báo tin buồn: Giáo sư Charles Fourniau, một người bạn lớn của Việt Nam, qua đời ngày 21/4/2010 ở tuổi 90 tại Paris và được an táng ngày 29/4/2010 tại nghĩa trang La Chaise.

dNhà sử học Charles Fourniau. Nguồn: Internet.

Sinh ngày 17/9/1920, ông đỗ thạc sĩ năm 1949 và tiến sĩ sử học năm 1983 với luận án Cuộc chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ 1885-1896 (La conquête de l’Annam et du Tonkin 1885-1896). Phần lớn thời gian được ông dành để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại. Ông đã viết nhiều sách như: Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale ) (1989); Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914) (2002).

Ông từng chủ trì cuộc hội thảo về lịch sử chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam (tổ chức tại Đại học Provence).

Dưới sự hướng dẫn khoa học của ông, nhiều sinh viên đã trở thành những nhà Việt Nam học có uy tín.

Không chỉ là một nhà sử học uyên thâm, ông còn là một chiến sĩ đấu tranh cho hòa bình.

Là đảng viên Đảng cộng sản Pháp, ông phản đối mãnh liệt cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” (la sale guerre) mà thực dân Pháp tiến hành ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Sau khi Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam ra đời không bao lâu, ông là một trong những người sáng lập Hội hữu nghị Pháp – Việt (Association d’amitié Franco-Viêtnamienne) (1961), từng làm Tổng thư ký và Chủ tịch của Hội. Năm 1962, Hội xuất bản cuốn Vấn đề Nam Việt Nam (La question du Sud-Vietnam) giúp nhân dân Pháp và thế giới hiểu được cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Miền Nam.

Từ tháng 10/1963 đến tháng 7/1965, ông được báo L’Humanité cử làm phóng viên thường trú ở Hà Nội. Ông tận mắt chứng kiến những trận ném bom dã man của Mỹ và cuộc chiến đấu ngoan cường của nhân dân Việt Nam. Là một nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam, ông nhận thức được truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta qua hàng nghìn năm, nên trong những bài báo gửi về Paris, ông khẳng định: Nhân dân Việt Nam cuối cùng sẽ thắng.

Vào thời điểm 1965, nhiều người trên thế giới lo ngại cho một nước nhỏ và nghèo như Việt Nam trước sự tàn phá khủng khiếp của Không lực Hoa Kỳ, nên không phải ai cũng nghĩ như ông. Hiệp định Paris 27/1/1973 và chiến thắng 30/4/1975 cho thấy dự đoán của ông hoàn toàn chính xác.

Ông nhiều lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt, ông là người phương Tây cuối cùng phỏng vấn Bác Hồ hai tuần lễ trước khi Người qua đời (1969). Năm sau, ông cùng Léo Figuères biên tập cuốn Hồ Chí Minh, đồng chí của chúng ta (Hô Chi Minh, notre commarade).

Sau ngày Việt Nam hòa bình và thống nhất, Hội hữu nghị Pháp – Việt tiếp tục hoạt động cho sự hợp tác nhiều mặt giữa hai nước.

Ở tuổi 83, ông cho xuất bản cuốn hồi ký Việt Nam mà tôi đã thấy 1960-2000 (Le Viêtnam que j’ai vu 1960-2000).

dBìa quyển sách Việt Nam mà tôi đã thấy 1960-2000
(Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914).

Charles Fourniau qua đời, nhân dân Việt Nam mất một người bạn thủy chung, giới sử học Việt Nam mất một đồng nghiệp khả kính.

Xin chúc ông an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.

TS ALAIN RUSCIO (Nhà Việt Nam học của Pháp):

Charles Fourniau là một nhà sử học được nhiều đồng nghiệp biết tên tuổi, nhưng ông còn là một người có niềm tin vững chắc, là nhà sáng lập Hội Hữu nghị Pháp – Việt (AAFV) mà ông từng giữ chức vụ Tổng thư ký trong một thời gian dài. Ông vừa qua đời ở tuổi 89, để lại một khoảng trống mà với thời gian, chúng ta sẽ ngày càng thấm thía.

Trong cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương, ông là một chiến sĩ của phong trào Hòa bình, bắt đầu dấn thân vào việc bảo vệ dân tộc Việt Nam dũng cảm. Sau đó, trong cuộc chiến tranh của Mỹ – màn thứ hai của cuộc xâm lược từ phương Tây, ông sang Việt Nam lần đầu tiên. Khi trở về Pháp, ông đã bị dân tộc Việt Nam chinh phục: ông đã có một sự lựa chọn dứt khoát cho cả đời mình.

dBìa quyển sách Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale).

Hai năm sau, ông trở lại đất nước này với tư cách là một nhà báo. Tờ L’ Humanité (cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Pháp) yêu cầu ông sang đó làm phóng viên thường trú của báo. Ở đó, ông tự hào được gần gũi các nhà lãnh đạo của nước này, được tiếp xúc với Hồ Chí Minh, trở thành một người thân cận của Người và là người nước ngoài cuối cùng được gặp Người (trước khi Người qua đời).

Ông là một trong những người đầu tiên chứng kiến tận mắt việc Mỹ leo thang chiến tranh. Ông thường kể lại bài báo đầu tiên ông gửi về cho báo L’ Humanité năm 1965 sau những trận ném bom ồ ạt của Mỹ. Trong bài báo ấy, ông dự đoán rằng cuối cùng Việt Nam sẽ chiến thắng. Lúc đó, sự chênh lệch về lực lượng (giữa Việt Nam và Mỹ) quá lớn khiến tòa soạn ở Paris phải do dự một lúc trước khi cho đăng. Mười năm sau, Việt Nam thống nhất và độc lập. Chính kiến thức của một nhà sử học đã giúp ông nhìn xa hơn những gì đang diễn ra trước mắt.

Charles Fourniau là một trong những người đầu tiên tự hỏi về nguồn gốc của sức đề kháng độc đáo của dân tộc này (ông rất ghét gọi nước này là một nước “nhỏ”).

Và ông đã tìm thấy câu trả lời từ trong lịch sử Việt Nam, chẳng hạn khái niệm “chiến tranh toàn dân” đã bén rễ từ nhiều thế kỷ qua trong tâm trí người Việt Nam, từ nhà vua đến người làm ruộng, trong vô số những cuộc chiến tranh tự vệ chống lại người Trung Quốc, rồi trong cuộc kháng chiến chống lại sự chinh phục của thực dân Pháp (mà ông lấy làm đề tài cho luận án tiến sĩ của ông). Ông giải thích: Rốt cuộc, ở thế kỷ XX, tướng Giáp chỉ đơn giản sử dụng lại những truyền thống cổ xưa này, đồng thời thêm vào đó nét thiên tài của chính ông.

Ông có một đức tính đặc biệt mà những người ở gần ông đều biết rất rõ: ông là một người truyền đạt kiến thức giỏi, một ông thầy dạy hay. Ông hướng dẫn nhiều thế hệ sinh viên. Họ nghe ông giảng, chia sẻ nhiệt tình của ông và sau đó trở thành những nhà Việt Nam học có tên tuổi.

“Trong nhiều năm, tên tuổi của ông đã gắn liền với cuộc đấu tranh vì tự do của nhân dân Việt Nam”

Marie – George Buffet, Bí thư toàn quốc Đảng cộng sản Pháp

Nhà khoa học này là một người dấn thân. Ông là một nhà thông thái, đồng thời cũng là một nhà tranh đấu. Tất cả ở ông là sự kết hợp hài hòa hai từ này mà ông không muốn tách rời nhau. Ông có thể đọc một bản tham luận xuất sắc tại một cuộc hội thảo quốc tế và ngay trong tuần lễ đó, nhân dân Hội Hữu nghị Pháp – Việt mà ông quý mến, ông đi dự một cuộc họp mặt của làng hay của khu phố.

Là một trí thức cộng sản, ông có những xác tín cơ bản – mà có người cho là quá thẳng – song ông không tìm cách che giấu rằng trong đó có những vấn đề và những hoài nghi mang tính phê phán gay gắt. Có lẽ ông có cả hai nét này nhờ ông hiểu một cách sâu sắc cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Mong bà Paulette và năm người con của ông – mà trước đây ông đã đưa sang Việt Nam cùng ông – cùng các cháu mà ông yêu quý, hãy nhận những lời phân ưu chân thành của tất cả những người yêu mến Charles của họ mà cũng là một phần của chúng tôi.

(Bài đăng trên website http://www.humanite.fr V.H. dịch)

GS Nguyễn Văn Hoàn
:

Tôi quen Fourniau từ năm 1963, năm ông sang Hà Nội làm việc. Tôi quen toàn bộ gia đình, cả vợ và con Fourniau. Sau này, lần nào qua Ý, tôi cũng ghé ở nhà ông ấy. Khi Fourniau về hưu, có một hội nghị khoa học về ông, tôi có viết bài.

dĐại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp Nhà sử học Charles Fourniau (người ngồi bên phải) tại nhà riêng. Ảnh: Nguyễn Văn Kự.

Đó là một con người làm việc nghiêm túc, đến nơi đến chốn, một người Pháp thân tình thực sự với Việt Nam. Một lần, ông đến Vân Kiều, một vùng dân tộc thiểu số ở Vĩnh Linh, họ rất ngạc nhiên thấy một “ông Tây” hiền và tốt đến như vậy. Tôi nói với ông điều đó, và ông, với vẻ mặt buồn buồn, nói: “Nếu tôi có thể gây một ấn tượng tốt cho người Việt Nam (khác với những người Pháp thực dân) thì tôi rất hạnh phúc”.

Tại đại hội Đảng bộ Vĩnh Linh, một đại biểu người Vân Kiều nói: “Ngày xưa, gặp một người Kinh ở trong rừng thôi, tôi đã bỏ chạy. Nay ngồi cạnh một ông Tây mà tôi rất an tâm, tự hào, vì tôi tin tưởng ở Bác Hồ”. Cả hội trường vỗ tay như sấm. Fourniau sung sướng khi nghe dịch lại.

Từ thời sinh viên cho đến lúc mất, Fourniau là một người bạn chí tình của Việt Nam. Từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng… đều có “biệt nhỡn” đối với ông. Giới học giả như Trần Huy Liệu, Nguyễn Khánh Toàn, Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Phạm Thiều… đều gặp và nói chuyện trực tiếp với ông bằng tiếng Pháp. Ông cũng thân thiết với Võ Nguyên Giáp. Ông thường đến thăm Võ Nguyên Giáp, nói chuyện bằng tiếng Pháp với Võ Nguyên Giáp.

Những tác phẩm sử học của ông rất nghiêm túc về công tác tư liệu. Khi làm phóng viên tại Hà Nội, ông đã tìm các tư liệu về lịch sử cận đại Việt Nam và tôi đã giúp ông tìm các tư liệu lịch sử chưa in như Gia phả Nguyễn Quang Bích và Ngọ Phong thi tập. Sau đó, ông nhờ Cao Xuân Huy, Phạm Thiều giảng lại từng câu. Ông vào thăm chiến khu Ba Đình – Thanh Hóa và ghi âm bài vè Ba Đình rồi dịch toàn văn ra tiếng Pháp. Trung tâm lưu trữ ở Aix en Provence coi ông như người nhà, và ông đã giới thiệu tôi đến đó đọc tư liệu và photocoppy miễn phí.

aBìa quyển sách Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914)

Suốt đời ông gắn bó với Hội hữu nghị Việt – Pháp, từ cương vị Tổng thư kí đến cương vị Chủ tịch đại diện lúc cuối đời. Ông thuộc diện người Pháp hết lòng với Việt Nam. Như Henry Martin, Raymon Dienne, Madelain Rifaud…, những người bị bọn xấu cho là cuồng tín. Ông sống suốt đời vì Việt Nam với trái tim chân thành, công khai chống lại cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” ở Việt Nam.

Ông là một trong nhóm phóng viên nước ngoài chịu đựng cuộc ném bom của Mỹ xuống Đồng Hới ngày 11/2/1965. Ông đã ở đó cùng với đứa con trai lớn nhất của mình 11 tuổi.

Nhóm phóng viên đó, trong đó có phóng viên Liên Xô, gửi về sứ quán Liên Xô rồi từ đó gửi về Mạc Tư Khoa rồi gửi về Pháp một bức điện: “Chúng tôi đã chứng kiến cảnh Mỹ ném bom Đồng Hới tại Việt Nam, một máy bay Mỹ bị bắn hạ và một phi công Mỹ đã bị bắt”. Vợ ông ở Paris đọc tin ấy phát hoảng: “Ông muốn làm gì thì làm, nhưng ông hãy trả con về cho tôi”. Và ông đã gửi con về Paris qua ngã Praha. Đó là một người “dấn thân” vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt Nam.

Một hôm, Thủ tướng Phạm Văn Đồng mời cả nhà ông đến ăn cơm, một lát thì Bác Hồ xuất hiện. Cô con gái lớn của ông xúc động, xin phép hôn Bác Hồ. “Khi Hồ Chí Minh vào phòng, con có cảm tưởng cả phòng sáng rực lên”. Từ đó, cả nhà gọi Bác Hồ là L’oncle Hồ. Ông cũng là người vinh dự được Bác Hồ tiếp trước khi Bác mất một tuần. Đó là điều vừa tự hào vừa đau buồn sâu sắc đối với ông.

Theo Tạp chí Hồn Việt
bee.net.vn

Người Việt duy nhất từng phiên dịch trong sứ quán TQ

– Ông Vũ Thuần chậm rãi nhớ lại: “Phải gần nửa thế kỷ sau, trong một dịp vào thăm Bảo tàng Cách mạng, lần đầu tiên tôi được nhìn thấy tấm ảnh chụp ngày đó. Lặng đi một lúc vì xúc động và ngỡ ngàng, không thể ngờ mình lại có cái vinh hạnh lớn như thế!”. Câu chuyện của một Thiếu sinh quân nhiều lần được gặp Bác Hồ.

Trào nước mắt vì thèm đứng bên Bác

Sinh năm 1933, khi mới 14 tuổi, Vũ Thuần được gia đình cho theo các anh bộ đội làm công tác tuyên truyền văn hoá. Vì là học sinh lại nhanh nhẹn nên cậu được gửi đi học Trường Thiếu sinh quân (TSQ) ở Việt Bắc.

Có một lần, Bác Hồ tới thăm trường nhưng không báo trước. Đang trong giờ học, vừa trông thấy Bác là thầy trò bỏ lớp chạy ra đón và hô vang: “Bác Hồ! Bác Hồ muôn năm!”. Toàn trường vây kín quanh Bác.

Mô tảVũ Thuần đứng bên trái Bác, bên phải Bác là Liễn, liệt sĩ chống Pháp.

Bác bảo tất cả trật tự ngồi xuống rồi ân cần nói chuyện. Khi Bác hỏi: “Các cháu ăn có no không?”. Toàn trường đồng thanh hô: “Có ạ!”. Bác lại hỏi: “Các cháu có nhớ bố mẹ không?”, “Có ạ!”. Bác còn hỏi các thầy về tình hình học tập, rèn luyện của học sinh. Cuối cùng Bác căn dặn:

– Cuộc kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp còn nhiều khó khăn, gian khổ. Trong tương lai các cháu sẽ là chủ nhân đất nước nên các cháu phải không ngừng học tập, rèn luyện để sau này kế tục sự nghiệp cách mạng của Cha ông, giành lại độc lập, tự do cho non sông gấm vóc.

Sau đó, Người nói với ông Đinh Đăng Định chụp vài kiểu ảnh kỉ niệm. Cũng là dịp hiếm có để có thể đứng gần Bác, các bạn chen nhau đứng sát Người. Thuần vì nhỏ người nên bị các bạn lớn đẩy ra tít tận xa, nhìn các bạn được đứng bên Bác mà thèm, tự dưng nước mắt trào ra. Đang buồn thì thấy Bác vẫy tay: “Cháu bé kia lại đây với Bác!”. Thật là bất ngờ và may mắn, Vũ Thuần đã được đứng sát ngay Bác. Cánh TSQ ríu rít bên Bác như bầy chim non ra ràng vây quanh mẹ chờ mồi.

Ông Vũ Thuần chậm rãi nhớ lại: “Phải gần nửa thế kỷ sau, trong một dịp vào thăm Bảo tàng Cách mạng, lần đầu tiên tôi được nhìn thấy tấm ảnh chụp ngày đó. Lặng đi một lúc vì xúc động và ngỡ ngàng, không thể ngờ mình lại có cái vinh hạnh lớn như thế!

Trong ảnh thấy Bác thật bình dị, hiền lành và thật gần gũi. Còn các bạn TSQ vẻ mặt rạng rỡ vui tươi. Những bạn đứng phía sau thì cố dướn người thật cao để có mặt mình trong ống kính. Có bạn còn lấy tay bá lên vai mà Bác không quở trách, vẫn bình thản, bao dung. Mãi về sau này tôi tự hỏi: Có vị lãnh tụ nào gần gũi với thiếu nhi hơn Bác?!

Cố hình dung lại từng khuôn mặt và tính cách của từng bạn. Bạn đội mũ ca-lô sẫm màu đứng sau lưng Bác chính là Mộng Lân, sau này trở thành nhạc sĩ nổi tiếng công tác tại Đài phát thanh Tiếng nói VN, anh có nhiều bài hát hay cho thiếu nhi. Mộng Lân đã mất năm 2000 tại Hà Nội. Còn bạn cổ quàng khăn đỏ, miệng cười tươi, đứng bên phải Bác, tên là Liễn. Anh đã hy sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Các bạn khác có lẽ do ảnh hưởng của lần ốm mà tôi không nhớ hết tên…”.

Làm phiên dịch trong sứ quán Trung Quốc

Năm 1951, khi Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Văn Huyên kí quyết định thành lập Khu học xá VN tại Trung Quốc thì lứa TSQ của Vũ Thuần được đưa sang học Sư phạm, sau đó một số được chọn vào học lớp Hoa ngữ.

Đến đầu năm 1953 ông cùng một số sinh viên tốt nghiệp giỏi được chọn đi phiên dịch cho đoàn 114 cán bộ quân đội gửi sang trường Sĩ quan pháo cao xạ Thẩm Dương (do đồng chí Văn Giang và Nguyễn Quang Bích phụ trách) học tập, nhận khí tài và chuẩn bị thành lập trung đoàn 367 pháo cao xạ phòng không đầu tiên của QĐNDVN về tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Sau khi các tiểu đoàn pháo cao xạ hành quân về nước, ông cùng 7 đồng chí được phân công về làm giáo viên Trường Thiếu nhi VN ở thành phố Lư Sơn (tỉnh Giang Tây), sau đó chuyển về Giáp Sơn (Quế Lâm, Quảng Tây). Đến năm 1954 thì về nước tiếp tục phiên dịch cho cố vấn quân sự TQ.

Sau ngày giải phóng Thủ đô 10/10/1954, Đại sứ quán TQ – sứ quán đầu tiên của các nước XHCN đóng ở Chiến khu Việt Bắc – chuyển về Hà Nội. Vũ Thuần được Đại sứ La Quý Ba đề nghị đích danh với Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho về làm phiên dịch của sứ quán TQ (đây là vinh dự và cũng là một trường hợp đặc biệt trong lịch sử ngoại giao – người VN duy nhất được làm phiên dịch trong sứ quán TQ). Một năm sau, ông về làm việc tại Bộ Ngoại giao.

Nhớ lời dặn của Bác, ông tích cực học thêm tiếng Nga và đến năm 1963 được cử sang công tác tại Đại sứ quán VN tại Bắc Kinh, khi đó Thiếu tướng Trần Tử Bình là đại sứ. Rồi Vũ Thuần được chọn làm phiên dịch cho ông.

Trong những dịp Bác Hồ sang thăm chính thức và không chính thức, Vũ Thuần vinh dự được đón Bác. Mỗi lần tới Bắc Kinh, Trung ương ĐCS TQ mời Bác về nghỉ ở Điếu Ngư Đài (1). Lần đó Đại sứ  giao ông nhiệm vụ mang bản tin sớm từ trong nước gửi sang cho Bác. Biết Người nóng lòng chờ tin từ nhà gửi sang nên 4h30 sáng ông đã có mặt. Vì còn sớm, nghĩ Bác đang ngủ nên không dám làm Người thức giấc, Vũ Thuần ngồi xuống chiếc ghế đặt ngay cửa. Mới ngoài 30, đang còn trẻ nên ông thiu thiu lúc nào không hay.

Sáng ra dậy tập thể dục thấy chú phiên dịch trẻ ngồi tựa cửa đang ngon giấc, Bác không nỡ đánh thức. Khi đi tập về, Bác vỗ vai, Vũ Thuần vội choàng dậy xin lỗi. Bác cười: “Không việc gì, cháu đang tuổi ăn tuổi ngủ mà. Dậy rửa mặt cho tỉnh rồi điểm tin cho Bác!”. Sau đó Bác mời vào cùng ăn điểm tâm. Sợ rằng đi gặp Bác mà lại ngủ quên đã là sai, nay lại được gọi vào ăn cùng mâm, Vũ Thuần e ngại. Song Bác bảo cứ tự nhiên ngồi ăn mà không trách cứ điều gì. Một kỉ niệm và cũng là một bài học nhớ đời.

Tháng 3/2004, tiện về thành phố biển Vũng Tàu, chúng tôi tới thăm ông Vũ Thuần, cựu TSQ Việt Bắc năm 1948, nguyên vụ phó Vụ Á châu (Bộ Ngoại giao). Tuổi đã ngoài 70, tóc bạc trắng. Do di chứng của xuất huyết não mà tay trái hơi bị liệt nhưng ông vẫn không quên kỉ niệm những lần gặp Bác. Khi viết bài này thì ông Vũ Thuần mất đã tròn 1 năm. Xin thắp nén tâm nhang tưởng nhớ đến ông – 1 cựu TSQ VN đáng kính!

…  Ngay từ 23/9/1945, cùng các chiến sĩ, đồng bào Nam bộ chống giặc Pháp đã xuất hiện các chiến sĩ nhỏ, TSQ, đồng tử quân. Sau 19/12/1946, ở Thủ đô xuất hiện các Vệ út, em nuôi trung đoàn, những Ga-vơ-rốt… len lỏi giữa trận mạc đưa thư, đưa công văn, tham gia cứu thương và cả chiến đấu. Rồi trung đoàn nào cũng đào tạo TSQ tại chỗ, rồi các trường TSQ hình thành…

Trong bài viết của bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ ở báo Vệ Quốc Đoàn ngày đó có chuyện cảm động: “Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, ở trạm quân y tiền phương, tôi đã không cầm được nước mắt khi phải cưa cụt một cánh tay của em Ngọc, một thiếu sinh liên lạc 12 tuổi bị thương từ mặt trận chuyển về”.

Thấy các cháu hy sinh nhiều quá, lo cho đội ngũ kế cận,  Bác Hồ đã nói với Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Các cháu còn nhỏ, không nên để các cháu đi chiến đấu, chết uổng lắm. Tuổi các cháu phải được học hành”.  Vì thế ngày 10/11/1948, Đại tướng kí quyết định 425/TCH thống nhất các nhà trường TSQ trong cả nước.

Chú thích:

(1) Khu dành cho cán bộ cao cấp của Đảng và Chính phủ Trung Quốc ở Bắc Kinh.

  • Trần Kiến Quốc

bee.net.vn

Mở rộng thành phố phải căn cứ vào…

– Mở rộng thành phố phải căn cứ vào thiên thời (mưa, gió, nắng…), địa lợi (địa chất, sông, hồ…) và nhân hoà (lợi ích của nhân dân, của Chính phủ) là ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kế hoạch mở rộng Thủ đô tại cuộc họp của Bộ Chính trị, ngày 29/8/1958.

“Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao/  Muốn nên sự nghiệp lớn/ Tinh thần càng phải cao”.

Đó là khái quát tinh thần của tập thơ bằng chứ Hán “Ngục trung nhật ký”(Nhật ký trong tù) mà Hồ Chí Minh sáng tác trong thời gian bị giam tại các nhà tù của các lực lượng quân phiệt Trung Hoa tại Quảng Tây, Trung Quốc bắt đầu từ ngày 29/8/1942 khi bị giam ở nhà lao Tĩnh Tây và kéo dài cho đến 24/9/1942. Tổng cộng có 22 bài thơ bắt đầu từ bài có câu thơ trên.

Ngày 29/8/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh với lưu học sinh VN tại CHDC Đức.Ngày 29/8/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh với lưu học sinh VN tại CHDC Đức.

“Nhân dân ta sẵn sức, sẵn của, sẵn lòng/ Cán bộ tận tuỵ và trong sạch thì mười việc thành công cả mười”

Đó là lời kết của bài báo “Sẵn tiền sẵn lòng, tát Biển Đông cũng cạn” của Bác Hồ (với bút hiệu ĐX) đăng trên báo “Cứu Quốc” ngày 29/8/1952 khi nói về cuộc đấu tranh chống tham ô, lãng phí trong thời kỳ kháng chiến kiến quốc.

“Mở rộng thành phố phải căn cứ vào thiên thời (mưa, gió, nắng…), địa lợi (địa chất, sông, hồ…) và nhân hoà (lợi ích của nhân dân, của Chính phủ). Công tác quy hoach thành phố phải hợp lý, bảo đảm được cả về kinh tế, mỹ quan và quốc phòng, phải có kế hoạch vận động quần chúng tham gia, có ban phụ trách để chịu trách nhiệm, tránh lối làm đại khái, lãng phí”.

Đó là ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kế hoạch mở rộng Thủ đô tại cuộc họp của Bộ Chính trị, ngày 29/8/1958.

X&N
bee.net.vn

Bác nói gì khi biết bộ đội ta chiến thắng giặc dốt?

– “Địch thực dân dựa vào địch dốt nát để thi hành chiến lược ngu dân. Địch dốt nát dựa vào địch thực dân để đưa ta vào nơi mù quáng. Bộ đội ta tiêu diệt được giặc dốt, tức là tiêu diệt được một lực lượng hậu thuẫn của thực dân… Một quân đội văn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch!”

Năm 1948, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra trên toàn quốc đã bước vào năm thứ hai. Sau những trận chiến đấu ác liệt cuối năm 1946 đầu 1947 tại mặt trận Hà Nội, lực lượng kháng chiến lại phải đương đầu với cuộc tập kích của thực dân Pháp lên Bắc Kạn hòng mở rộng chiến tranh lên chiến khu Việt Bắc nhằm tiêu diệt đầu não kháng chiến…

Trong bối cảnh chiến tranh ác liệt ấy, Bác Hồ vẫn chỉ đạo và động viên công cuộc kiến quốc, quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ, trau dồi văn hoá và tinh thần cho toàn dân.

Ngày 24/2/1948, nhận được thông báo của Bộ Quốc phòng là tất cả các binh sĩ trong các đơn vị bộ đội ở Khu II và Khu III đều biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ, Bác Hồ viết thư khen ngợi: “Đó là một thắng lợi to cho quân đội ta, cho Chính phủ ta và cho dân tộc ta. Dốt nát cũng là một kẻ địch. Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm. Địch dốt nát tấn công ta về tinh thần, cũng như địch thực dân tấn công ta bằng vũ lực.

Địch thực dân dựa vào địch dốt nát để thi hành chiến lược ngu dân. Địch dốt nát dựa vào địch thực dân để đưa ta vào nơi mù quáng. Bộ đội ta tiêu diệt được giặc dốt, tức là tiêu diệt được một lực lượng hậu thuẫn của thực dân… Một quân đội văn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch!”.

Cũng trong tháng 2/1948, Bác Hồ gửi thư cho Hội nghị Tư pháp toàn quốc nhấn mạnh đến phẩm chất của người cán bộ tư pháp. Thư viết: “Các bạn là trí thức… Lẽ tất nhiên giới trí thức phải hy sinh đấu tranh dũng cảm hơn nữa để làm gương cho nhân dân.

Các bạn là viên chức của Chính phủ… Do đó, nhiệm vụ của các bạn phải tuyệt đối trung thành với chính quyền dân chủ…

Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp (tức là chăm lo việc công, giữ gìn pháp luật), “chí công vô tư” cho nhân dân noi theo”.

Cũng trong tháng 2/1948, Bác Hồ viết thư cho “các cháu nhi đồng trai và gái… đề nghị các cháu làm một việc: tổ chức những đội Trần Quốc Toản”. Thư viết: “Trần Quốc Toản là ai? Tổ chức như thế nào và để làm gì?

Cách đây chừng 700 năm, quân Mông Cổ đánh chiếm gần nửa châu Âu, chiếm gần hết châu Á và lấy cả nước Trung Hoa. Lúc đó quân Mông Cổ đem 30 vạn lính đến đánh nước ta. Do ông Trần Hưng Đạo cầm đầu, tổ tiên ta trường kỳ kháng chiến trải qua 4, 5 năm đánh tan quân Mông Cổ, nước ta lại được độc lập. Trần Quốc Toản là cháu ông Trần Hưng Đạo, khi đó mới 15, 16 tuổi, cũng đi đánh giặc và lập nhiều chiến công.

Bác không phải mong các cháu tổ chức những đội Trần Quốc Toản để đi đánh giặc và lập nhiều chiến công, nhưng mà cốt để tham gia kháng chiến bằng cách giúp đỡ đồng bào. Từ 5 đến 10 cháu tổ chức thành một đội, giúp nhau học hành.

Khi học rảnh, mỗi tuần mấy lần cả đội đem nhau đi giúp đồng bào. Trước thì giúp các nhà chiến sĩ, nhà thương binh, lần lượt giúp những nhà ít người. Sức các cháu làm được việc gì thì giúp việc ấy. Thí dụ: quét nhà, gánh nước, lấy củi, xay lúa, giữ em, dạy chữ quốc ngữ…

Các cháu nên hiểu rằng: giúp đỡ đồng bào tức là tham gia kháng chiến. Và do đó, các cháu sẽ luyện tập cái tinh thần siêng năng và bác ái để sau thành người công dân tốt của nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, Độc lập, Tự do, Hạnh phúc”.

X&N
bee.net.vn

Thư Phan Bội Châu gửi Nguyễn Ái Quốc

 Ngày 22/2/1925, cụ Phan Bội Châu viết thư nhờ Hồ Tùng Mậu chuyển cho Lý Thuỵ (bí danh của Nguyễn Ái Quốc) lúc này đang hoạt động ở Trung Quốc.

Phan Bội Châu, bút hiệu Sào Nam là người đồng hương (Nam Đàn, Nghệ An) và là bạn đồng niên với Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Bác.

Vào đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đã trở thành 2 ngọn cờ tiêu biểu cho phong trào yêu nước ở nước ta. Sau nhiều hoạt động yêu nước không thành Phan Bội Châu cũng sang Quảng Đông để tìm gặp những người Việt Nam đang hoạt động tại đây.

Tháng 2/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của ĐảngTháng 2/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng

Bức thư đề ngày “21 tháng 1âm lịch” (tức 22/2/1925) viết bằng chữ Hán, hiện được lưu trữ ở Aix-en-Provence (Pháp) và được nhà nghiên cứu Vĩnh Sính phát hiện và dịch cho thấy những tình cảm và đánh giá của Phan Bội Châu đối với người con trai của bạn mình nay đã trở thành một nhà cách mạng đã nổi tiếng lúc này vừa hoạt động trong phái đoàn cố vấn của Chính phủ Xô viết bên cạnh Chính phủ Quảng Châu của Tôn Trung Sơn lại đang xúc tiến việc thành lập tổ chức cách mạng Việt Nam, tiền thân của Đảng Cộng sản sau này là Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí.

Bức thư cho biết, trước đó cụ Phan đã nhận đuợc thư của Nguyễn Ái Quốc gửi cho cụ, vì thế trong thư lá thư này, nhà ái quốc lão thành đã thành tâm đưa ra những lời đánh giá khích lệ: “Người cháu rất kính yêu của bác…(đọc thư của cháu) mới biết là học vấn, trí thức của cháu nay đã tăng trưởng quá nhiều, không phải như hai mươi năm trước.

Nhớ lại hai mươi năm trước đây, khi đến nhà cháu uống rượu, gõ án ngâm thơ, anh em cháu tất thảy đều chưa thành niên, lúc đó Phan Bội Châu này đâu có ngờ rằng sau này cháu sẽ trở thành một tiểu anh hùng như thế này…

Nhận được liên tiếp hai bức thư của cháu bác vừa buồn lại vừa mừng. Buồn là buồn cho thân bác, mà mừng là mừng cho đất nước ta. Việc thừa kế nay đã có người, người đi sau giỏi hơn kẻ đi trước, trên tiền đồ đen tối sẽ xuất hiện ánh ban mai…

Một đời tân khổ, gánh vác công chuyện một mình, được sức lớn của cháu giúp vào thì ắt sẽ có nhiều người hưởng ứng theo. Việc gây dựng lại giang sơn, ngoài cháu có ai dễ nhờ uỷ thác gánh vác trách nhiệm thay mình. Có được niềm an ủi lớn lao như thế, làm sao bác không cảm thấy vui mừng được. Cháu học vấn rộng rãi đã từng đi nhiều nơi hơn bác cả chục cả trăm lần. Tri thức và kế hoạch của cháu tất vượt sức đo lường của bác…”

Cuối thư Phan Bội Châu cũng thẳng thắn và chân thành mong Nguyễn Ái Quốc có kế hoạch mở rộng phong trào trong nước “vì nếu không có kế hoạch thì bất quá chỉ làm khách tha hương than thở không đâu cho hồn cố quốc, chả giống ông Hy Mã (tức Phan Chu Trinh) thì cũng chỉ giống Phan Bội Châu mà thôi!”.

Còn trong bức thư gửi Hồ Tùng Mậu cùng vào thời gian này, cụ Phan lại bày tỏ sự “cực lực tán thành” việc thành lập tổ chức Hội Thanh niên mà Nguyễn Ái Quốc lúc này đang tích cực vận động. Mặc dầu kể từ đó cho đến lúc bị thực dân Pháp bắt ở Trung Quốc, đưa ra toà xử án, rồi bị an trí tại Huế cho đến lúc qua đời, Phan Bội Châu chưa có dịp gặp lại Nguyễn Ái Quốc nhưng những di ngôn của cụ cho các đồng chí của mình vẫn hoàn toàn tin rằng : Nguyễn Ái Quốc sẽ là người “gây dựng lại giang sơn”.

Còn sau đó không lâu, trong một bài viết về Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc đã dành những lời tôn vinh: “Phan Bội Châu, bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng”.

X&N
bee.net.vn

Lời giới thiệu tập 12

Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 12, tập cuối cùng của bộ sách, bao gồm những bài viết, bài nói, thư từ, điện vǎn… của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngày l tháng l nǎm 1966 đến khi Người từ biệt thế giới này.

Đây là những nǎm tháng đầy thử thách, khó khǎn và quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” đã đẩy Mỹ – ngụy vào một cuộc khủng hoảng chính trị triền miên. Các cuộc đảo chính liên tiếp xảy ra đã làm cho sự rối loạn của chế độ bù nhìn tay sai càng thêm trầm trọng. Đế quốc Mỹ buộc phải đưa mấy chục vạn quân vào cùng với hơn một triệu quân ngụy nhằm đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam, đồng thời cho máy bay và tàu chiến tǎng cường đánh phá miền Bắc.

Trên thế giới một vấn đề tranh luận lớn trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong những nǎm 60 là vấn đề đánh giá đế quốc Mỹ. Khuynh hướng đánh giá quá cao sức mạnh Mỹ đã đẻ ra tư tưởng do dự, hữu khuynh, hoà bình chủ nghĩa, sợ một xung đột nhỏ có thể gây ra chiến tranh hạt nhân. Chính đế quốc Mỹ đã lợi dụng cuộc khủng hoảng đó trong phong trào cách mạng thế giới để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Việt Nam với một số lượng bom đạn lớn hơn nhiều lần số bom đạn được dùng trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Trong tình hình quốc tế phức tạp đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá sức mạnh của đế quốc Mỹ và xác định quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam như thế nào?

Phân tích việc Mỹ đưa quân vào miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Ta thấy chỗ mạnh của nó, vũ khí của nó mới, tiền của nó nhiều, nhưng ta cũng biết những khuyết điểm của nó mà là khuyết điểm lớn, cơ bản. Bây giờ tất cả thiên hạ đều chống nó, nhân dân Mỹ, thanh niên, trí thức Mỹ cũng chống nó, mà chống mạnh, đã có những thanh niên tự đốt mình để chống lại chính sách xâm lược của Chính phủ Mỹ. Xưa nay chưa từng thấy… Bây giờ Mỹ có 20 vạn quân ở miền Nam, nó có thể đưa thêm vào hơn nữa đến 30, 40, 50 vạn quân. Ta vẫn thắng, nhất định ta thắng” (tr.14-15).

Phân tích việc Mỹ điên cuồng leo thang chiến tranh ra miền Bắc, ném bom Hà Nội và Hải Phòng, Người khẳng định: “Đó là hành động tuyệt vọng của chúng, khác nào con thú dữ bị thương nặng, giãy giụa một cách hung tợn trước hơi thở cuối cùng” (tr.l08).

Người đã chỉ ra thế “tiến thoái lưỡng nan” về chiến lược của đế quốc Mỹ: “Bây giờ nó lúng túng, rút lui ở miền Nam tức là thất bại đối với toàn thế giới, mất mặt về chính trị, về kinh tế, về các mặt khác, mà nếu cứ tiếp tục chiến tranh thì thất bại thêm, rút lui hoặc tiếp tục chiến tranh, nó cũng thất bại. Cho nên có thể nói Chính phủ Giônxơn tiến thoái lưỡng nan, như người cưỡi trên lưng cọp, cứ ngồi đấy cũng khó, bước xuống cũng nguy hiểm” (tr.16).

Người chủ trương phải kiềm chế và thắng Mỹ trong phạm vi chiến tranh cục bộ ở miền Nam: “Chúng ta phải ra sức cố gắng giành cho được thắng lợi quyết định ở miền Nam, bởi vì cuộc chiến tranh này cǎn bản là ở miền Nam. Mỹ thua ở miền Nam tức là nó thua, ta thắng ở miền Nam tức là ta thắng” (tr.17-18).

Về thời gian kết thúc chiến tranh, Người nói: “… Phải giành thắng lợi quyết định trong một thời gian, ta không nói mấy nǎm, mấy tháng, mấy ngày, nhưng trong một thời gian càng ngắn càng tốt … Đến bao giờ, không nói rõ được, vì do lực lượng chủ quan của ta cũng có, tình hình thế giới cũng có và do phía Mỹ nữa” (tr.18).

Và phương hướng kết thúc chiến tranh, Người nói: “Làm sao ở miền Nam tiêu diệt và phá tan được quân ngụy, tiêu diệt được nhiều quân Mỹ, đó là ta giành được thắng lợi quyết định” ( tr.18).

Có thể nói, bài nói chuyện của Người tại Hội nghị cán bộ cao cấp nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương Đảng đã đề cập đến toàn bộ những vấn đề cơ bản trong chiến lược chiến tranh cách mạng ở miền Nam.

Chính từ sự phân tích Khoa học và sáng suốt đó, Người đã thay mặt toàn Đảng, toàn dân ta khẳng định quyết tâm chiến lược trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nuớc. “Chiến tranh có thể kéodài 5 nǎm, 10 nǎm, 20 nǎm hoặc lâu hơn nữa.Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do.Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!” (tr.108).

Không có gì quý hơn độc lập, tự do! là ý chí, là nguyện vọng của toàn dân Việt Nam, là chân lý của thời đại. Hưởng ứng lời kêu gọi vang dậy núi sông đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta từ Nam chí Bắc, phát huy lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lại được sự giúp đỡ có hiệu quả của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và bè bạn trên thế giới, đã làm phá sản hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 của Mỹ – ngụy; đã tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt đầu xuân 1968, dồn đế quốc Mỹ ngày càng lún sâu vào thế phòng ngự chiến lược. Quân dân miền Bắc đã đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, bắn rơi trên 3.000 máy bay, tiêu diệt và bắt sống nhiều giặc lái, bắn chìm và bắn bị thương hơn 150 tàu chiến của địch.

Trước thất bại đó, đế quốc Mỹ một mặt ra sức tǎng cường và mở rộng chiến tranh, mặt khác ra sức rêu rao “thiện chí hoà bình”, “thương lượng hoà bình”,… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch trần trò bịp “đi tìm hoà bình” của Tổng thống Mỹ. Người viết: “ở đời, đôi khi những việc rõ như ban ngày, nhưng vẫncó những người không thấy, không muốn thấy, hoặc giả vờ không thấy. Như chiến tranh và hoà bình ở Việt Nam… Giặc Mỹ là kẻ xâm lược; Việt Nam là bị xâm lược, phải chiến đấu đến cùng để tự vệ, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược thì hòa bình sẽ trở lại ngay ở Việt Nam” (tr.42).

Trong thư trả lời tổng thống Mỹ Giônxơn, Người yêu cầu: “Chính phủ Mỹ phải chấm dứt vĩnh viễn và không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; phải rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam; phải thừa nhận Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam; phải để nhân dân Việt Nam tự giải quyết công việc nội bộ của mình. Đó là cơ sở cho giải pháp chính trị đứng đắn về vấn đề Việt Nam” (tr.231-232).

Người phân biệt rõ nhân dân tiến bộ Mỹ là bạn của nhân dân Việt Nam, với các thế lực hiếu chiến là kẻ thù của nhân dân ta. Trong lời chúc đầu nǎm gửi nhân dân Mỹ, Người nói: “Nhân dânViệt Nam rất quý trọng tình hữu nghị với nhân dân Mỹ vĩ đại đang tiếp tục những truyền thống của Hoa Thịnh Đốn và Lincôn đấu tranh cho độc lập dân tộc và dân chủ” (tr.3). Người đánh giá cao những tấm gương hy sinh của các chiến sĩ hoà bình Mỹ như Hécdơ, Môrixơn, Lapotơ, … Người bày tỏ sự thông cảm sâu sắc với những tổn thất mà các gia đình Mỹ phải chịu đựng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa do nhà cầm quyền Mỹ gây ra ở Việt Nam.

Do kết quả đấu tranh anh hùng và đầy hy sinh của nhân dân hai miền Nam – Bắc, lại được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ Mỹ và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, đế quốc Mỹ bị thất bại ê chề, buộc phải xuống thang chiến tranh, cam kết ngừng ném bom nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không điều kiện và từ tháng 5-1968 phải ngồi vào thương lượng với ta ở Hội nghị Pari. Cuối nǎm đó, từng bộ phận lính Mỹ, xuống tàu về nước, chấp nhận sự phá sản của chiến lược “chiến tranh cục bộ”, chấp nhận sự thất bại thảm hại của cuộc đụng đầu lịch sử.

Gặp gỡ cán bộ cao cấp toàn quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích mối quan hệ giữa thế và lực trong chiến tranh bằng một ví dụ dễ hiểu: “Quả cân chỉ một kilôgam, ở vào thế lợi thì lực nó tǎng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được vật nặng hàng chục, hàng trǎm kilôgam. Đó là thế thắng lực”. Người kết luận: “Thế ta thắng đã rõ ràng. Thế địch thua đã rõ ràng, nhưng chúng còn ngoan cố, chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta? (1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta không sống đến ngày thắng lợi trọn vẹn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Nhưng trước khi đi xa, Người còn để lại cho chúng ta phương châm chiến lược “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào“, vạch cho chúng ta phương hướng thắng địch từng bước, đánh đổ địch từng bộ phận, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Đội ngũ kế cận của Người đã thực hiện một cách xuất sắc và đầy sáng tạo Di chúccủa Người trong những hoàn cảnh phức tạp. Thắng lợi của Hiệp định Pari đã buộc Mỹ phải đơn phươg rút quân về nước, giữ nguyên tại chỗ lực lượng quân sự của ta, đã làm thay đổi so sánh lực lượng địch ta, dẫn đến đại thắng mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc cuộc chiến tranh 30 nǎm, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thực hiện được nguyện vọng thiêng liêng của Bác Hồ: Tổ quốc thống nhất, Nam – Bắc một nhà.

*

*      *

Cùng với chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của cả dân tộc ta trong giai đoạn này, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng quan tâm chỉ đạo củng cố miền Bắc về mọi mặt, đặc biệt là tiếp tục công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh. Khắp miền Bắc dấy lên phong trào thi đua sôi nổi. Công nhân có cuộc vận động “3 xây 3 chống”, nông dân có cuộc vận động “cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật”, phụ nữ có phong trào “ba đảm đang”, thanh niên có phong trào “ba sẵn sàng”, phụ lão một số nơi có phong trào “bạch đầu quân”, … Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta nêu cao khẩu hiệu: vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa chống Mỹ, cứu nước, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, “tay búa, tay súng”, “tay cày, tay súng”,… Địch đánh phá mạnh hòng đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá! Do đó, bằng mọi cách ta phải duy trì được sản xuất. Muốn đánh thắng, trước hết phải bảo đảm bảo quân dân ta được ǎn no. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm hàng đầu đến vấn đề sản xuất nông nghiệp. Người nói: “Dù khó khǎn đến mấy, vấn đề lương thực cũng phải giải quyết cho được. Nếu không làm được lúa, phải chuyển nhanh, thiếu cơm có khoai, thiếu khoai có sắn” (tr.20).

Người kịp thời gửi thư khen các hợp tác xã thâm canh lúa giỏi. Người nhấn mạnh: “Các hợp tác xã nông nghiệp là đội quân hậu cần của quân đội chiến đấu ngoài mặt trận. Các xã viên hợp tác xã là chiến sĩ sản xuất, cần phải cố gắng như chiến sĩ ngoài mặt trận” (tr.193). Người đã dành thời gian đi thǎm và động viên bà con nông dân hǎng hái thi đua sản xuất. Những tháng cuối đời, Người vẫn quan tâm theo dõi, chỉ đạo việc biên soạn Điều lệ tóm tắt của hợp tác xã nông nghiệp, trực tiếp viết lời giới thiệu trên báo và nhấn mạnh”Phải thực hiện tốt Điều lệ để hợp tác xã càng thêm vững mạnh, nông thôn ngày càng đoànkết, sản xuất càng phát triển và nông dân ta càng thêm no ấm và tiến bộ” (tr.454).

Người đồng thời quan tâm chỉ đạo chuyển hướng sản xuất của công nghiệp trung ương, công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp. Vì ta vừa chiến đấu vừa sản xuất, nên dù có chiến tranh, công nghiệp vẫn phải tiếp tục sản xuất nhưng Người dặn: “Kế hoạch phải ǎn khớp với tình hình chiến tranh bây giờ, lại phải chuẩn bị cho hoà bình lập lại” (tr.20). Người nhấn mạnh vai trò của giao thông vận tải đối với chiến đấu, sản xuất và đời sống của nhân dân: “Phải quyết tâm làm cho giao thông vận tải thắng lợi. Giao thông vận tải thắng lợi tức là chiến tranh đã thắng lợi phần lớnrồi” (tr.62). Đối với thương nghiệp và lưu thông phân phối, Người nhắc nhở: quần chúng rất thông cảm với hoàn cảnh thiếu hàng, nhưng phân phối không đúng thì gây ra cǎng thẳng không cần thiết, vì vậy có hai điều cần ghi nhớ:

Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng,
Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên” (tr.185).

Cả nước có chiến tranh, mọi mặt đều phải chuyển hướng cho phù hợp, nhất là tác phong chỉ đạo và công tác của các bộ, các ngành càng phải chuyển biến mạnh. Người yêu cầu cán bộ phụ trách ở trung ương “cần phải thường xuyên đi kiểm tra và giải quyết công việc tại chỗ, phải chống bệnh giấy tờ, hội họp nhiều, đi kiểm tragiúp đỡ ít …” (tr.20), “Phải sửa đổi lề lối làm việc cho thiết thực, để giải quyết công việc cho tốt, cho nhanh” (tr.21).

Đặc biệt, Người để tâm nhiều đến công tác xây dựng Đảng. Người đến thǎm và nói chuyện với hội nghị tổng kết công tác xây dựng chi bộ “bốn tốt”, trực tiếp giảng bài cho lớp huấn luyện đảng viên mới, … Hằng nǎm, đến ngày kỷ niệm thành lập Đảng, Người thường viết bài nhắc nhở cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng.

Trả lời câu hỏi thế nào là chi bộ “bốn tốt”, Người nói: Tóm tắt là: đảng viên gương mẫu trong mọi công việc, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, nội bộ thật sự đoàn kết; chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, lãnh đạo tốt sản xuất và chiến đấu; một lòng một dạ phục vụ nhân dân, thiết thực chǎm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; đối với Đảng thì củng cố tốt và phát triển tốt” (tr.77).

Nhưng “Đảng viên tốt thì chi bộ mới tốt” (tr. 80) Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đảng viên tốt là người “không được phút nào quên lý tưởng cao cả của mình là: suốt đời làm cách mạng phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc ta và trên thế giới“(tr.93). Theo Người, người đảng viên tốt còn phải có nǎng lực để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu. Muốn thế, người đảng viên “phải chịu khó học tập lý luận Mác – Lênin, học tập đường lối, chính sách của Đảng; đồng thời phải học tập vǎn hóa, kỹ thuật và nghiệp vụ” (tr. 92), “Làm nghề gì cũng phải học, vậy làm cách mạng cũng phải học” (tr.224). Người đảng viên tốt là người sống có đạo đức, “phải tự giáo dục và rèn luyện hằng ngày“, là người sống có tình nghĩa “Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin được” (tr.554).

Muốn tu dưỡng trở thành người đảng viên tốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ phải “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân“, vì “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khǎn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa… Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm,… làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân” (tr.438-439)

Từ rất sớm, Người đã nhắc nhở chúng ta: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” (tr.557-558) Lời cảnh tỉnh đó vẫn đang nóng hổi tính thời sự đối với chúng ta trong thách thức của cuộc sống hôm nay.

Những ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc làm và xuất bản loại sách “người tốt, việc tốt” là một bản tổng kết sâu sắc những quan điểm của Người về vai trò và tác dụng của đạo đức, về nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục, hình thành đạo đức mới và thuần phong mỹ tục mới cho nhân dân ta. Theo Người, lấy “gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới” (tr.550).

Ngoài những vấn đề cơ bản nói trên, trong tập sách này, bạn đọc còn thấy có nhiều bài viết, bài nói, trả lời phỏng vấn phóng viên nước ngoài,… đề cập đến những kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười và nhiều vấn đề quốc tế quan trọng khác. Trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Nhân đạo, chỉ hơn một tháng trước khi từ trần, Người đã khẳng định lại một lần nữa niềm tin bất diệt của mình: “chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới” (tr.474):

Trước khi qua đời, Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một bản Di chúc thiêng liêng. Đây là một vǎn kiện lịch sử vô giá, kết tinh trong đó cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân hiếm có đã suốt đời phấn đấu hy sinh vì Tổ quốc và nhân loại. Di chúc đã khẳng định thắng lợi tất yếu của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước ngay từ khi nó đang diễn ra quyết liệt, đồng thời cũng vạch ra nhưng định hướng mang tính cương lĩnh cho sự phát triển của đất nước sau khi kháng chiến thắng lợi

Việc cần làm trước tiên, theo Người, là phải chỉnh đốn lại Đảng, “làm cho mỗi đảngviên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khǎn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi” (tr.503).

Người nhấn mạnh đến các yếu tố chính trị – tinh thần đã góp phần mang lại thắng lợi cho cách mạng Việt Nam: Sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, việc thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình, tình đồng chí thương yêu lẫn nhau,… Đặc biệt, Người nhấn mạnh vai trò của đạo đức cách mạng, vì “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” (tr. 498).

Di chúc cũng cǎn dặn “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” Điều đầu tiên là “công việc đối với con người“, trước hết là với cán bộ, chiến sĩ dân quân du kích, thanh niên xung phong,… những người đã hy sinh một phần xương máu của mình cho đất nước, là các liệt sĩ và cha mẹ, vợ con của họ,… Ngay đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, Người cũng nhắc nhở Nhà nước ta “phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện” (tr.504).

Di chúc thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Người đối với việc “bồi dưỡng thê’ hệ cách mạng cho đời sau“, Người đề nghị Đảng và Chính phủ cần lựa chọn những người ưu tú trong số những chiến sĩ trẻ tuổi và thanh niên xung phong, cử họ đi học để đào tạo họ thành “đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta” (tr.504).

XV VV

Di chúc đã phản ánh tâm hồn cao đẹp, đạo đức trong sáng – “muôn vàn tình thân yêu” của lãnh tụ đối với Tổ quốc, với nhân dân, với phong trào cách mạng thế giới, với bè bạn khắp nǎm châu, đặc biệt là với thanh niên và nhi đồng

Do những giá trị đó, Di chúc mãi mãi là những lời cǎn dặn thiết tha, là ánh sáng chỉ đường, là sức mạnh thôi thúc hành động, không phải chỉ đối với nhân dân ta, mà còn đối với tất cả những ai đang đấu tranh cho tự do, độc lập, cho hòa bình, công lý, cho cơm áo và hạnh phúc của con người.

*

*      *

XVI VV

Trong lần xuất bản này, chúng tôi đã cố gắng tiến hành công tác vǎn bản học một cách chu đáo, đã đối chiếu với các vǎn bản gốc và bǎng ghi âm bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu trữ tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng và Trung tâm lưu trữ quốc gia, đã bổ sung thêm 20 bài so với lần xuất bản thứ nhất. Một số bài nói của Người, tuy có nội dung rất quan trọng, nhưng do người khác ghi lại, không có bǎng ghi âm, lại công bố sau khi Người đã qua đời, vì vậy chúng tôi đưa vào phần phụ lục.

Mặc dù dã có nhiêu cố gắng, song do khả nǎng và thời gian có hạn, việc sưu tầm, xác minh, biên tập, chú giải,… chắc chắn không tránh khỏi còn có thiếu sót. Chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp bổ sung của bạn đọc để lần xuất bản sau đạt chất lượng cao hơn.

VIỆN NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

1) Báo Quân đội nhân dân, ngày 23-5-1969
cpv.org.vn


Bạn muốn download trọn bộ Hồ Chí Minh toàn tập
Tập 12 (1966 – 1969) hãy nhấn vào đây Down load

Điện khen công nhân và cán bộ mỏ than Thống nhất (24-3-1967)

Thân ái gửi công nhân và cán bộ mỏ than Thống Nhất, Quảng Ninh,

Bác rất vui lòng nhận được báo cáo mỏ đã hoàn thành tốt kế hoạch quý I.

Bác mong các cô, các chú nhân đà thắng lợi đó cùng các xí nghiệp bạn cố gắng hoàn thành kế hoạch cao hơn nữa.

17 giờ ngày 24 tháng 3 nǎm 1967
Bác Hồ

 

———————

Bản gốc lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi nhân dân Thụy Điển (3-1967)

Các đồng chí và các bạn Thụy Điển thân mến,

Nhân dịp tiến sĩ Giôhanácxen Hôgiơ và tiến sĩ Giôn Tắcman sang thǎm Việt Nam, tôi đã nhờ các ông chuyển lời chào mừng anh em của tôi tới nhân dân Thụy Điển.

Tiến sĩ Giôhan ácxen Hôgiơ và tiến sĩ Giôn Tắcman đã đi khắp miền Bắc Việt Nam. Các vị đó có thể kể cho các bạn những điều họ đã mắt thấy, tai nghe về những tội ác ghê tởm nhất mà đế quốc Mỹ đã gây ra trên đất nước chúng tôi.

Toàn thể nhân dân chúng tôi từ Bắc chí Nam đoàn kết chặt chẽ đứng lên bảo vệ tự do và độc lập của mình, đồng thời góp phần vào sự nghiệp đấu tranh cho giải phóng và hoà bình của các dân tộc. Trong khi tǎng cường chiến tranh, bọn Mỹ xâm lược lại nói tới thương lượng hoà bình nhằm đánh lừa dư luận thế giới và dư luận Mỹ. Đế quốc Mỹ là kẻ xâm lược. Chúng tôi ở trên đất nước chúng tôi. Chúng tôi không làm điều gì tổn hại cho nước Mỹ. Đế quốc Mỹ hãy chấm dứt sự xâm lược của chúng và cuốn gói thì lập tức hoà bình sẽ được lập lại ở Việt Nam. Hiện nay, một số người có thiện chí muốn góp phần giải quyết vấn đề Việt Nam, nhưng họ chưa phân biệt được đâu là kẻ xâm lược và đâu là người bị xâm lược. Đế quốc Mỹ dù điên cuồng đẩy mạnh chiến tranh đến mức nào, chúng tôi cũng quyết tâm đánh bại chúng. Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào thắng lợi của mình, vì sự nghiệp của chúng tôi là chính nghĩa. Chúng tôi mạnh về ý chí quyết thắng của toàn dân và vì sự ủng hộ ngày càng tǎng của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ. Cho tới nay, mọi kế hoạch quân sự của đế quốc Mỹ chống phá miền Bắc cũng như xâm lược miền Nam Việt Nam đều đã bị thất bại. Kể từ khi đế quốc Mỹ bắt đầu xâm lược miền Nam Việt Nam đến hai tháng đầu nǎm nay, nhân dân và các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 40 vạn tên địch, trong đó có 12 vạn tên của đạo quân viễn chinh Mỹ.ở miền Bắc Việt Nam, hơn 1.720 máy bay Mỹ đã bị bắn rơi. Chúng tôi xin cảm ơn nhân dân Thuỵ Điển đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh của chúng tôi chống đế quốc Mỹ xâm lược. Chúng tôi hy vọng rằng nhân dân Thuỵ Điển sẽ tǎng cường ủng hộ chúng tôi, đòi đế quốc Mỹ phải ngừng ném bom không điều kiện và vĩnh viễn chấm dứt mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, rút toàn bộ quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, thừa nhận Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là người đại diện duy nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam.

Các đồng chí và các bạn Thuỵ Điển thân mến, một lần nữa tôi xin cảm ơn các bạn.

Tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Thuỵ Điển muôn nǎm!

Viết khoảng tháng 3-1967.

————————–

Bản gốc tiếng Anh lưu tại
Trung tâm lưu trữ Quốc gia I.
cpv.org.vn

Thư gửi nhân dân Ý (1) (3-1967)

Các đồng chí và các bạn Ý thân mến,

Nhân chuyến đi thǎm Việt Nam của giáo sư Bátxô để điều tra về tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ, tôi đã nhờ giáo sư chuyển đến nhân dân ý lời chào mừng anh em.

Giáo sư Bátxô đã đi khắp miền Bắc Việt Nam. Giáo sư sẽ kể lại với các bạn những gì đã mắt thấy, tai nghe về những tội ác ghê tởm nhất mà đế quốc Mỹ đã gây ra trên đất nước chúng tôi.

Nhân dân chúng tôi từ Bắc chí Nam đoàn kết chặt chẽ đã đứng lên bảo vệ tự do và độc lập của mình, đồng thời góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng và hoà bình của các dân tộc trên thế giới.

Vừa tǎng cường chiến tranh, đế quốc Mỹ vừa rêu rao luận điệu “đàm phán hoà bình” nhằm đánh lừa dư luận thế giới và dư luận Mỹ. Đế quốc Mỹ là kẻ xâm lược. Chúng tôi ở trên đất nước của chúng tôi. Chúng tôi không hề làm điều gì tổn hại đến nước Mỹ. Hễ đế quốc Mỹ chấm dứt xâm lược và rút khỏi đất nước chúng tôi thì hoà bình sẽ lập tức được lập lại ở Việt Nam.

Hiện nay, một số người có thiện chí mong muốn góp phần vào việc giải quyết vấn đề Việt Nam. Nhưng họ chưa phân biệt rõ ai là kẻ xâm lược, ai là người bị xâm lược.

Dù đế quốc Mỹ điên cuồng đẩy mạnh chiến tranh đến mức nào, chúng tôi cũng quyết đánh và quyết thắng. Chúng tôi nhất định thắng vì sự nghiệp của chúng tôi là chính nghĩa; chúng tôi có sức mạnh của ý chí quyết thắng của toàn dân, lại được sự ủng hộ ngày càng tǎng của nhân dân thế giới, trong đó có cả nhân dân tiến bộ Mỹ. Cho đến nay, tất cả những kế hoạch quân sự của đế quốc Mỹ chống nhân dân miền Nam cũng như miền Bắc đất nước chúng tôi đều thất bại. Kể từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đến hai tháng đầu nǎm nay, nhân dân và các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 400.000 tên địch, trong đó có hơn 120.000 tên Mỹ. ở miền Bắc, cho đến nay, đã có hơn 1.720 máy bay Mỹ đã bị bắn rơi.

Bằng mọi cách, nhân dâný đã nhiệt tình ủng hộ cuộc kháng chiến của chúng tôi chống xâm lược Mỹ. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn và mong rằng nhân dân ý sẽ tǎng cường ủng hộ chúng tôi hơn nữa, đòi bọn xâm lược Mỹ phải chấm dứt không điều kiện các cuộc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, công nhận Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Các đồng chí và các bạný thân mến, một lần nữa tôi xin cảm ơn các bạn.

Tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân ý muôn nǎm!

Viết khoảng tháng 3-1967.

———————–

Bản gốc tiếng Pháp lưu tại
Trung tâm lưu trữ Quốc gia I.

1) Italia.

cpv.org.vn