Tag Archive | Cuộc đời Hồ Chí Minh

Tới Milan tìm lại dấu chân Bác

(Dân trí)- Trong cái lạnh xứ châu Âu, gần 80 năm sau, PV Dân trí có dịp đến quán ăn nhỏ trên con phố Pasubio tại thành phố Milan, Italia nơi Bác Hồ thường xuyên sống và làm việc trong những năm 1930, khi Người từ Paris sang Milan gặp các đồng chí Quốc tế Cộng sản.

Từ Việt Nam, tôi luôn bồi hồi trong suốt chặng đường từ Hà Nội sang Milan- thành phố vốn nổi tiếng là “Kinh đô thời trang thế giới”, cùng tên tuổi lừng danh của hai đội bóng Inter Milan và AC Milan.

Ngay khi đặt chân đến Milan, tôi bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp cổ kính cũng như sự sạch sẽ ngoài sức tưởng tượng của thành phố này. Các cửa hàng thời trang, những trung tâm thương mại luôn tấp nập người mua bán. Những con phố lát đá hàng trăm năm đen thẫm in dấu chân triệu triệu người, đến rồi đi.

Thật bất ngờ và may mắn hơn cả, khi chúng tôi được anh Phan Lến, một Việt kiều đã có thâm niên hơn 30 sinh sống tại Milan dẫn đến thăm quán ăn nhỏ trên con phố Pasubio yên bình tại thành phố Milan, nơi Bác Hồ thường xuyên sống và làm việc trong những năm 1930, khi Người từ Paris sang Milan gặp các đồng chí Quốc tế Cộng sản.

Dưới đây, là một số hình ảnh PV Dân trí ghi lại từ quán ăn trên phố Pasubio, Milan:

Nhà số 10 phố Pasubio

Góc tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân viên của quán tự hào khi nói về lịch sử ngôi nhà với PV Dân trí và một số Việt kiều tại Italia

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính quyền thành phố Milan đã gắn bên ngoài ngôi nhà này một tấm biển bằng đá, ghi rõ “Ngôi nhà này là nơi Hồ Chí Minh thường lui tới trong thời gian ở nước ngoài của Người vào những năm 1930 để bảo vệ tự do cho nhân dân”.

Theo những nhân viên phục vụ tại quán ăn cho biết, ngôi nhà có từ năm 1880. Những năm gần đây, mỗi khi có người Việt Nam đặt chân đến Milan đều ghé thăm địa chỉ này.

Vũ Văn Tiến

dantri.com.vn

Tuyên ngôn độc lập và những tư tưởng mang tính thời đại

Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 - Ảnh tư liệu

Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo và tuyên đọc trước quốc dân đồng bào tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2-9-1945 thực sự là một áng văn bất hủ trong di sản văn hóa và tư tưởng Việt Nam để khẳng định quyền tự chủ của dân tộc.

>> Nghe Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập

Nó có thể sánh với những áng “thiên cổ hùng văn” mà ông cha ta đã để lại trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của cả ngàn năm tồn tại trong mối quan hệ với phương Bắc như “áng thơ thần bên sông Như Nguyệt”gắn với cuộc kháng chiến chống Tống của Lý Thường Kiệt, như Hịch tướng sĩ văn thời Trần Hưng Đạo thống lĩnh toàn dân ba lần đánh bại giặc Nguyên – Mông, hay Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi tuyên cáo về chiến thắng vẻ vang của cuộc kháng chiến trường kỳ đánh đuổi giặc Minh đô hộ dưới ngọn cờ của minh quân Lê Lợi…

Một văn bản pháp lý rất hiện đại

Nhưng với Tuyên ngôn Độc lập ra đời vào một thời điểm có ý nghĩa lịch sử đối với toàn thế giới khi cuộc đại chiến lần thứ hai kết thúc lại mang một giá trị đặc biệt. Nó không còn trong giới hạn của khẳng định về quyền tự chủ của dân tộc ta đối với nước láng giềng phương Bắc của “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” mà còn khẳng định được với toàn thế giới về sự ra đời một nước Việt Nam hiện đại, không chỉ thoát ly chế độ thuộc địa của thực dân Pháp đã đầu hàng, từ tay chủ nghĩa phát xít Nhật đã bại trận, mà còn chấm dứt luôn cả chế độ quân chủ từng tồn tại cả ngàn năm bằng sự thoái vị của ông vua cuối cùng của triều Nguyễn. Hơn thế nữa, nhà nước này lại là thành quả của “một dân tộc gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay” do vậy mà “dân tộc đó phải được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập”.

Chúng ta đều biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt tay vào việc soạn thảo văn kiện này vào đêm 28-8-1945, ngay sau khi Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên cáo “là một chính phủ quốc gia thống nhất giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ Dân chủ Cộng hòa chính thức”. Và ai cũng biết rằng chính phủ lâm thời này được thành lập trên cơ sở cải tổ Ủy ban Dân tộc Giải phóng được thành lập tại Quốc dân Đại hội Tân Trào trước đó hơn mười ngày (17-8). Việc cải tổ này lại được thực hiện bởi một hành vi rất cao cả là nhiều ủy viên Việt Minh tự rút lui nhường chỗ cho các nhân sĩ ngoài Việt Minh vào tham chính. “Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân” (Hồ Chí Minh).

Bản Tuyên ngôn Độc lập cũng được khởi thảo khi những đại diện của Việt Minh đã lên đường vào Huế để 2 hôm sau (30-8) nhận lễ thoái vị của vua Bảo Đại. Tại buổi lễ đó, vị hoàng đế cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam đã có lời tuyên cáo mang ý nghĩa thật sâu sắc: “Sau hai mươi năm ngai vàng bệ ngọc, ngậm đắng nuốt cay, từ nay trẫm lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập”…

Tất cả những diễn tiến sự kiện ấy đã làm nên một nét đặc sắc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu nhiều, có nước phải chặt đầu vua… Nước ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước được hoàn toàn độc lập và chống giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra khỏi bờ cõi”.

Do vậy, cũng có thể thấy được một giá trị rất quan trọng của Tuyên ngôn Độc lập là một văn bản pháp lý rất hiện đại phù hợp với tập quán chính trị của nhiều quốc gia nhằm khẳng định địa vị pháp lý của nền độc lập và chủ quyền một quốc gia với toàn thể cộng đồng các quốc gia trên thế giới. Đánh giá về quá trình khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập, A.Patti, viên sĩ quan tình báo Hoa Kỳ phụ trách đơn vị OSS đang cộng tác với Việt Minh, cho rằng ngay sau khi nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng, nhận thấy thời cơ đã tới, Hồ Chí Minh “đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng, vì ông phải bảo đảm chiếm được một chỗ đứng vững chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ông Hồ biết rằng, ông phải làm cho mọi người thấy rõ cả tính hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào…”.

Tiếp nối sự tiến hóa của nhân loại

Bản Tuyên ngôn Độc lập đã được vị Chủ tịch nhà nước lâm thời soạn thảo ngay giữa lòng TP Hà Nội, ngôi nhà phố 48 Hàng Ngang của một nhà tư sản dân tộc. Văn bản này đã được tác giả trao đổi để lấy ý kiến không chỉ đối với các đồng chí trong đoàn thể của mình mà còn đọc cho những người dân bình thường nghe, với lòng mong muốn nó đến được với mọi đồng bào của mình để làm cho họ có ý thức về một biến cố lịch sử rất to lớn đối với vận mệnh của cả dân tộc nhưng cũng gần gũi với vận mệnh của mỗi con người, nay đã được gọi là công dân của một nước độc lập theo thể chế Dân chủ, Cộng hòa…

Hơn thế nữa, người đứng đầu cuộc cách mạng cũng là đứng đầu của Nhà nước Việt Nam còn tham khảo cả những người đồng minh khi mời Patti tới ngôi nhà 48 Hàng Ngang để trao đổi về bản thảo Tuyên ngôn Đôc lập Việt Nam. Hai người tranh luận về nguyên văn một đoạn trích từ Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ mà cuối cùng người công dân Hoa Kỳ phải nhận rằng mình đã sai khi biết rằng từ 20 năm trước đó (1925) trên Báo Thanh Niên xuất bản ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã dịch và trước đó không lâu Hồ Chí Minh đã yêu cầu các phi công Mỹ thả dù xuống chiến khu Việt Bắc một nguyên bản của văn kiện lịch sử này.

Có người khi đọc văn bản lịch sử này đặt ra câu hỏi vì sao tác giả lại trích hai bản tuyên ngôn của hai quốc gia Âu Tây, trong đó lại có cả nước Pháp mới đây đô hộ nước mình? Hoàn toàn không phải là sách lược để ứng phó với hai cường quốc lớn tiềm tàng những mưu đồ thực dân cũ và mới. Sử dụng những trích dẫn ấy, vị Chủ tịch của Nhà nước Việt Nam độc lập còn muốn khẳng định rằng ngay cách mạng Việt Nam cũng là sự nối tiếp của con đường tiến hóa mà nhân loại đã và sẽ đi. Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1892 là những mốc son của sự nghiệp giải phóng con người thì chính cuộc Cách mạng Tháng 8-1945 của Việt Nam cũng là bước đi tiếp theo của quá trình ấy.

Những gì đã diễn ra sau cuộc Cách mạng Tháng 8-1945 đã chứng thực một sự thực về nguyện vọng giải phóng của các dân tộc nhỏ khỏi sự đè nén của các nước lớn, sản phẩm của chế độ thực dân, đã lần lượt tan rã sau năm cuộc cách mạng của Việt Nam khởi đầu cho các phong trào giải phóng các thuộc địa.

Sự sáng tạo tầm vóc 

Trong chuyến đi thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải (2005), tại cuộc tiếp xúc ở thành phố Boston, mọi người đã được nghe một bài phát biểu nồng nhiệt của một chính khách lão thành của Hoa Kỳ. Đó là nguyên thượng nghị sĩ McGovern, người luôn có tiếng nói chống cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và năm 1972 đã từng tranh cử chức tổng thống với R.Nixon. Ông đã đưa ra nhận xét rằng: “Trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại cuộc kháng chiến giành độc lập của Hoa Kỳ, do Thomas Jefferson soạn thảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thay đổi một ý so với bản tuyên ngôn của Th. Jefferson. Câu “Chúng tôi ủng hộ một sự thật hiển nhiên rằng mọi người đều sinh ra bình đẳng” thì Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nói rằng: “Mọi dân tộc sinh ra đều bình đẳng”. Quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt”…

Nguyên văn trong Tuyên ngôn Độc lập, Bác Hồ dùng cách diễn đạt “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Cũng bình luận về đoạn trích dẫn này, một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam người Hoa Kỳ, bà Lady Borton, còn đưa ra nhận xét rằng khi dịch chữ “all men” trong văn bản của Th. Jefferson vào thời được viết, thế kỷ XVIII, chỉ bao hàm những người đàn ông (đương nhiên là da trắng và có tài sản) đã được Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập diễn dịch thành: “Tất cả mọi người” mà trên thực tế được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam bao gồm tất thảy các công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc hay chính kiến. Đó chính là một sự “suy rộng” nữa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ những tiến bộ của nhân loại gần 2 thế kỷ sau đó.

Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam không chỉ là tấm giấy khai sinh cho một Nhà nước Việt Nam theo thể chế Dân chủ – Cộng hòa theo đuổi mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc mà còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại bằng một sự “suy rộng ra” thành một chân lý mang tầm thời đại.

Theo Dương Trung Quốc – Người Lao Động

Tuổi trẻ Online

Bác Hồ với Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ II

Bác Hồ phát biểu trong một cuộc họp Quốc hội - Ảnh tư liệu

Đại hội Đảng lần thứ II diễn ra từ ngày 11-19/2/1951, tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.

Ngày 3/2/1930 tại Cửu Long gần Hương Cảng (Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc được ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản đã chủ trì hội nghị thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam, mở đầu trang sử quan trọng của cách mạng ba nước Ðông Dương. Nhưng trong điều kiện phức tạp thời đó, phải năm năm sau vào tháng 3/1935, Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ I mới được chính thức triệu tập tại một địa điểm thuộc Ma Cao (Trung Quốc) và đổi tên thành Ðảng Cộng sản Ðông Dương.

Dưới ngọn cờ lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, đứng đầu là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhân dân ta đã đoàn kết, hy sinh chiến đấu với kẻ thù tàn ác đi tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, lật đổ ách thống trị của chế độ phong kiến, song ngay lập tức lại phải đứng lên kháng chiến trường kỳ chống lại thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa.

Thắng lợi lớn ban đầu của kháng chiến (cuối năm 1950) giải phóng các tỉnh biên giới phía bắc, phá thế bao vây của địch, thời cơ mới đã mở ra đòi hỏi sự tăng cường lãnh đạo của Ðảng phù hợp thực tế khách quan đang đặt ra và điều kiện tiến hành Ðại hội Ðảng lần thứ II đã chín muồi.

Ðầu xuân Tân Mão (1951) Bác Hồ đã có thơ tặng đồng bào cả nước:

“Xuân này kháng chiến đã năm xuân
Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công
Toàn dân hăng hái một lòng
Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời”.

Vào thời điểm bước ngoặt lịch sử quan trọng đó, đầu năm 1951, dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ, Trung ương Ðảng đã quyết định khẩn trương triệu tập Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ II tại trung tâm căn cứ địa kháng chiến tại Việt Bắc.

Ðồng thời là Ðại hội Ðảng toàn quốc lần đầu được tổ chức ở trong nước với quy mô lớn chưa từng thấy trước đó. Mặc dầu khi đó chiến tranh cứu nước đang diễn ra ác liệt, thế mà có 158 đại biểu chính thức, 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho toàn Ðảng đã vượt qua mọi khó khăn trở ngại về dự Ðại hội.

Các đại biểu đều phấn khởi được gặp các đồng chí mới, cũ từ khắp các chiến trường Ðông Dương về hội tụ để nhận nhiệm vụ trọng đại của lịch sử, của Ðảng. Nhiều đồng chí lần đầu tiên có được vinh dự dự Ðại hội dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bác Hồ.

Những ngày này Bác hoạt động như không biết mệt mỏi, chỉ đạo sâu sát từ việc lớn đến việc nhỏ về mọi mặt. Bác thật sự là linh hồn của Ðại hội. Ðó là nhân tố quyết định thành công rực rỡ của sự kiện chính trị trọng đại này của dân tộc.

Trước Ðại hội một tháng, Bác Hồ và Thường vụ Trung ương Ðảng đã tiến hành nhiều cuộc họp quan trọng ở bản Pèo, xã Khuổi Trang, huyện Chợ Ðồn, Bắc Cạn, và tại làng Mạ, xã Kiên Quyết (nay là Kiên Ðài), huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang để chuẩn bị mọi mặt, từ văn kiện, nhân sự đến tổ chức Ðại hội.

Hai ngày trước khi khai mạc Ðại hội, Bác Hồ đã đến địa điểm họp. Người trực tiếp quan tâm kiểm tra và tổ chức xem xét bếp ăn đến nhà nghỉ của đại biểu, hội trường, đài tưởng niệm liệt sĩ. Người đã gặp riêng anh chị em phục vụ hậu cần và thăm hỏi gia đình họ.

Bộ phận này do đồng chí Lê Tất Ðắc phụ trách (sau này đồng chí là Thứ trưởng Bộ Nội vụ). Bác cũng gặp lực lượng vũ trang bảo vệ Ðại hội để căn dặn thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, góp phần thành công cho Ðại hội.

Tại các phiên họp Ðại hội, Bác Hồ cùng các đồng chí Thường vụ T.Ư Ðảng chủ trì trong không khí trang nghiêm, biểu thị quyết tâm cao của những người cộng sản trước vận mệnh sống còn của quốc gia, dân tộc. Bác Hồ còn tham gia dự thảo luận ở các đoàn. Ở đâu Người cũng nhấn mạnh với các đại biểu về hai nhiệm vụ quan trọng lúc này là phải quyết tâm kháng chiến thành công và Ðảng ra công khai lấy tên là Ðảng Lao động Việt Nam.

Người nhấn mạnh Ðảng đổi tên nhưng bản chất không thay đổi, phải tiếp tục phát huy truyền thống Ðảng Cộng sản trong điều kiện mới. Báo cáo Chính trị do Hồ Chủ tịch trình bày trước Ðại hội có đoạn như sau: “Chúng ta phải có một Ðảng công khai, tổ chức hợp với tình hình thế giới và tình hình trong nước để lãnh đạo toàn dân đấu tranh đến thắng lợi, Ðảng đó lấy tên Ðảng Lao động Việt Nam”.

“Mục đích trước mắt, Ðảng Lao động Việt Nam đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn, lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội”.

Ngoài giờ họp chính thức, Bác Hồ có chương trình thăm hỏi động viên từng đoàn đại biểu, đặc biệt là đoàn đại biểu Nam Bộ, Lào, Cam-pu-chia. Bác như có sức hấp dẫn kỳ diệu, người đi đến đâu là ở đó có tiếng cười rộn ràng, giữa Người và các đại biểu không có sự ngăn cách tình cảm, Bác không phân biệt tuổi tác.

Khi tạm biệt mọi người đều tỏ luyến tiếc vỗ tay không ngớt, lúc chụp ảnh ai cũng muốn ngồi gần Bác. Bác thường ưu tiên cho nữ. Ðoàn Nam Bộ có ba nghệ sĩ tháp tùng (họa sĩ Diệp Minh Châu, họa sĩ Nguyễn Minh Hiền, nhiếp ảnh kiêm quay phim Nguyễn Thế Ðoàn) được Bác đặc cách cho phép theo về cơ quan tại Khâu Lấu, Tân Trào ba tháng sau Ðại hội để sáng tác theo yêu cầu của đồng bào miền nam.

Bác Hồ rất quan tâm đến hoạt động văn nghệ phục vụ Ðại hội. Người đã nhiều lần tham gia múa tập thể “Son lá son” rất sôi nổi hào hứng cùng các đại biểu. Các nhà quay phim, nhiếp ảnh chớp thời cơ hiếm có để ghi hình các hoạt động quan trọng của Ðại hội từ khai mạc đến bế mạc, đặc biệt là các hình ảnh về Bác Hồ. Nay Bảo tàng Hồ Chí Minh là nơi lưu giữ nhiều nhất các tư liệu quý về Bác Hồ ở Ðại hội II.

Tôi rất xúc động khi xem lại ảnh Bác Hồ chụp chung với các đồng chí lãnh đạo Ðảng trước hội trường. Trong số đó nay duy nhất chỉ còn lại đồng chí Nguyễn Văn Trân đã 95 tuổi, sau khi nhận được ảnh này, đồng chí đã cho phóng to cỡ 70×80 cm treo trang trọng tại phòng riêng ở Hà Nội.

Là cán bộ được tháp tùng Bác Hồ tại Ðại hội, tôi xin ghi lại đôi dòng theo hồi ức để bày tỏ nhiệt liệt hoan nghênh Kỷ niệm 60 năm sự kiện lịch sử trọng đại đang diễn ra ở Tuyên Quang và nhiều nơi trong cả nước. Mong rằng Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các bài học tại Ðại hội II sẽ được nghiên cứu nâng cao để vận dụng vào thực tiễn hiện nay mà Ðại hội Ðảng lần thứ XI là sự nối tiếp lịch sử đang hướng về mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Xuân Tân Mão, 2/2011

Nhiều hoạt động kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II

Tại cuộc giao ban báo chí tại Hà Nội, đồng chí Nguyễn Hữu Hoan, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Tuyên Quang đã giới thiệu một số hoạt động kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II (11-19/2/1951).

Trong cách mạng tháng Tám năm 1945, Tuyên Quang vinh dự là Thủ đô khu giải phóng, nơi Trung ương Đảng, Bác Hồ đã ở và làm việc, lãnh đạo cách mạng Tháng Tám thành công. Với vị thế là Thủ đô kháng chiến, Tuyên Quang đã được chọn là nơi tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng – sự kiện đặc biệt quan trọng trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tại cuộc họp, đồng chí Nguyễn Hữu Hoan cho biết nhân kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Đại hội II của Đảng tại Tuyên Quang- Thủ đô kháng chiến” vào ngày 18/2/2011 với sự tham dự của các nhân chứng lịch sử, các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học, đại biểu các cơ quan Trung ương đã ở và làm việc tại Tuyên Quang trong Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược…

Lễ mít tinh kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II sẽ được tổ chức ngày 19/2/2011 tại Quảng trường Khu Di tích Đại hội II của Đảng ở xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa.

Trong dịp này, tỉnh Tuyên Quang tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, triển lãm trong toàn tỉnh và tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa (nguồn:

Chinhphu.vn).

Theo Tạ Quang Chiến
Báo Đảng Cộng sản/Nhân Dân

dantri.com.vn

Đã hơn nửa thế kỷ có “Tết trồng cây”

– “Tết trồng cây” đầu tiên được ghi nhận vào mùa Xuân năm 1960, gắn liền với phong trào thi đua kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng (khi đó còn lấy ngày 6/1). Nhưng phải nói cho đúng hơn nó được khởi xướng bằng một bài báo ngắn đăng trên báo “Nhân Dân” ngày 28/11/1959 của Bác Hồ.

Tên của bài báo gồm 3 chữ được đặt trong ngoặc kép “Tết trồng cây”, đặt vấn đề bên cạnh các hình thức hoạt động đã có thường được phát động để lấy thành tích chào mừng ngày thành lập Đảng, “chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày “Tết trồng cây”. Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”.

Rồi tác giả bài báo phân tích một cách rạch ròi, dễ hiểu: “Miền Bắc ta có độ 14 triệu, trong số đó có 3 triệu là trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây… Như vậy mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây…

Từ 1960 đến 1965, chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, vừa cây có hoa, vừa cây làm cột nhà. Và trong 10 năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần cải thiện đời sống của nhân dân ta. Đó cũng là một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người – từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng, đều có thể hăng hái tham gia”.

Ảnh Bác Hồ trồng câyẢnh Bác Hồ trồng cây

Bài báo viết cực kỳ đơn giản mà đầy tính thuyết phục và cùng với thời gian, chúng ta càng thấy giá trị sâu sắc của nó khi cả nhân loại đang đứng trước những thử thách của sự suy thoái môi trường mà việc trồng cây, gây rừng vẫn luôn là một giải pháp quan trọng hàng đầu. Nhưng Bác Hồ cũng hiểu rằng một cuộc vận động quần chúng là vô cùng gian khổ trong đó vai trò tổ chức và quản lý của nhà nước và các tổ chức xã hội là vô cùng quan trọng.

Có thể nói kể từ đó, Bác không chỉ là người phát động mà còn theo sát từng bước đi, không chỉ khuyến khích cổ vũ mà còn chăm chút chỉ bảo, phê bình và tìm tòi những biện pháp để cuộc vận động không chỉ mang lại kết quả thiết thực mà còn mong muốn biến nó thành một tập quán tốt đẹp của xã hội mới.

Vào Mùa Xuân năm Kỷ Dậu, Bác Hồ viết bài báo cuối cùng cổ vũ “Tết trồng cây” năm 1969, trong đó  đưa ra nhận định rằng “Tết trồng cây đã trở thành một tục lệ tốt đẹp của nhân dân ta” và tổng kết thực tiễn cho rằng: mọi người đều nên tham gia trồng cây nhưng lực lượng các cụ phụ lão có tổ chức là quan trọng và các cháu thiếu nhi là lực lượng góp phần đắc lực. Bác Hồ còn nhắc đến một nhận thức mới là “Chúng ta phải trồng cây cho cả đồng bào miền Nam nữa”

Đến nay, nhiều cây Bác trồng đã trở thành những di tích lịch sử lâu bền làm tấm gương cho các đời sau về mẫu mực của con người hiện đại: thân thiện và bảo vệ môi trường sinh thái.

Và Tết trồng cây tiếp tục được duy trì và được phát động mỗi một Mùa Xuân sang, như một tập quán văn minh của dân tộc ta. Hiểu theo một nghĩa nào đó thì “Tết trồng cây” đã đi trước thời đại và ngày càng phù hợp đối với mối quan tâm của thế giới hiện đại trong việc bảo vệ môi trường sinh thái.

Dương Trung Quốc
bee.net.vn

Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước

(Dân trí) – Đó là tên Hội thảo khoa học do Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Viện Hồ Chí Minh và các Lãnh tụ của Đảng phối hợp tổ chức vào sáng nay 28/1, tại Hà Nội, với sự tham dự của nhiều nhà nghiên cứu trong nước.

Hồ Chí Minh rời đất nước từ khi 21 tuổi với khát vọng cháy bỏng tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Người đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam; thành lập Đảng tiên phong của giai cấp công nhân và xây dựng được đội ngũ cán bộ nòng cốt của phong trào cách mạng Việt Nam.

Bác về Tổ quốc 28/1/1941

Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, mở ra thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam – thời kỳ chuẩn bị về mọi mặt, tiến tới phát động cao trào Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Quyết định về nước và những hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau ngày Người trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng là vô cùng phong phú và sinh động.

Tham luận của các nhà nghiên cứu tại Hội thảo đã tập trung làm rõ các nội dung sau: Tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với việc lựa chọn Cao Bằng làm nơi xây dựng cơ quan đầu não của Trung ương Đảng – căn cứ địa cách mạng đầu tiên của cả nước; Nguyễn Ái Quốc với việc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8, quyết định thay đổi đường lối chiến lược cách mạng của Đảng và thành lập Mặt trận Việt Minh; Nguyễn Ái quốc chỉ đạo công tác vận động xây dựng lực lượng quần chúng cách mạng – nhân tố quan trọng góp phần giàng thắng lợi cho khởi nghĩa; Nguyễn Ái Quốc với công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ, coi công tác cán bộ là gốc của mọi công việc; Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, tích cực chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền; Nguyễn Ái Quốc với việc chỉ đạo công tác tuyên truyền; đưa chủ trương, đường lối của Đảng đến với phong trào cách mạng và Nguyễn Ái Quốc với việc chỉ đạo xây dựng và kiện toàn hệ thống cơ sở Đảng.

Hội thảo “Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước” cũng là một sự tri ân đến các liệt sĩ đã quên mình vì sự nghiệp cách mạng cao cả của dân tộc; bày tỏ lòng tự hào và biết ơn đến công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, các lãnh tụ tiền bối của Đảng, đồng bào và đồng chí đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Hội thảo cũng góp phần đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương dạo đức Hồ Chí Minh” trong giai đoạn mới.

Công Hải
TTXVN

dantri.com.vn

Cách đây 64 năm, Hồ Chủ tịch về đến Cam Ranh

– Sự kiện này đã diễn ra vào ngày 18/10/1946 trên đường Bác từ nước Pháp trở về sau 4 tháng vận động hoà bình.

“Tàu Dumont D’ Urville ghé vào vịnh Cam Ranh. D’ Argenlieu và cả Morlière mới từ Hà Nội vào đã có mặt trên tuần dương hạm “Suffren”.

Nhiều nhà báo cũng được mời đến đây. Thuỷ thủ Pháp đứng trên boong  hô “huara!” nhiều lần khi Hồ Chủ tịch bước lên tàu. Viên thuỷ sư đô đốc tiến lại chào Người. Hồ Chủ tịch duyệt đội hải quân danh dự, rồi vào dự tiệc chiêu đãi.

Chân dung Bác chụp tại Cam Ranh trên đưòng từ Pháp về nước tháng 10/1946Chân dung Bác chụp tại Cam Ranh trên đường từ Pháp về nước tháng 10/1946

D’ Argenlieu nâng cốc rượu chúc mừng sức khoẻ của Hồ Chủ tịch nói: “Xin lỗi Đô đốc, tôi nói tiếng Pháp không thạo nhưng chắc lời tôi nói thành thật. Tôi đặt hy vọng vào cuộc hội đàm sắp tới. Dân chúng Pháp đã hiểu chúng tôi nhiều, kể cả giới báo chí.

Cũng có một vài tờ báo công kích tôi nhưng điều đó cũng chẳng làm hại gì cho tôi. Hồ Chủ tịch với viên cao uỷ trong hai giờ liền về việc thi hành Tạm ước 14/9. Người đã yêu cầu D’ Argenlieu tổ chức ngay những uỷ ban hỗn hợp để giải quyết vấn đề xung đột tại Nam Bộ.

Sau cuộc nói chuyện, Hồ Chủ tịch và viên Cao uỷ cùng gặp các nhà báo. Hồ Chủ tịch khuyên các báo hãy góp phần vào việc làm ngừng những cuộc xung đột hiện nay và thi hành các điều ước đã được thoả thuận trong Tạm ước để chuẩn bị tốt cho cuộc đàm phán sẽ tiếp tục vào tháng Giêng năm sau. Sau lời phát biểu của Hồ Chủ tịch với các nhà báo, viên Cao uỷ tươi cười nói bằng một giọng ngọt ngào: “Tôi tin rằng đã có một bước tiến thật sự trên con đường hợp tác”…

X&N

bee.net.vn

Những bức thư gửi Tổng thống Hoa Kỳ

– Tất cả những bức thư này, cùng với một số thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ cũng như Liên Hiệp Quốc trong thời gian trước khi Chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ (12/1946) đều không được hồi âm?!

“Chủ tịch Chính phủ Lâm thời, Cộng hoà Việt Nam gửi Tổng thống Hoa Kỳ ở Washington.

Chúng tôi xin trân trọng báo để Ngài rõ về những biện pháp sau đây của tổng Tư lệnh các lực lượng quân đội Anh đã tiến hành ở miền Nam Việt Nam: Một, cấm các báo chí; Hai, cung cấp vũ khí, đạn dược cho dân chúng Pháp; Ba, tước vũ khí các lực lượng cảnh sát Việt Nam. Các biện pháp này là một sự vi phạm rõ ràng đến những quyền tự nhiên của nhân dân Việt Nam, đe doạ trực tiếp nền an ninh trong nước và là nhân tố làm mất ổn định và hoà bình ở Đông Nam Á.

Chính phủ Lâm thời Cộng hoà Việt Nam phản đối mạnh mẽ và yêu cầu Ngài can thiệp với các nhà chức trách Anh bãi bỏ các biện pháp nói trên. Chúng tôi sẽ rất biết ơn Ngài thuyết phục người Anh đứng vững trên cơ sở các nguyện tắc tự do và tự quyết do Hiến chương Đại Tây Duơng đề ra. Kính, Hồ Chí Minh”.

Đây là thông điệp đầu tiên với tư cách là người đứng đầu nước Việt Nam Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tới nười dứng đầu Hoa Kỳ trong lá thư đề ngày 24/9/1945 gửi qua Tướng Gallagher, người đứng đầu phái bộ Hoa Kỳ đang có mặt tại Hà Nội.

 TVDN Ngay 24-9.doc (29KB); Trong ngày Tiễu trừ giặc Đói, 11-10-1945, tướng Mỹ Gallagher ngồi bên phải Chủ tịch Hồ Chí Minh.jpg (86KB)Trong ngày Tiễu trừ giặc Đói, 11/10/1945, tướng Mỹ Gallagher ngồi bên phải Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tiếp sau đó, nhiều thông điệp đã được gửi tiếp…

“Về nguyên tắc, nhân dân Việt Nam hoàn toàn ủng hộ việc thánh lập Uỷ ban Tư vấn đối với khu vựcViễn Đông. Trước hết xét đến tầm quan trọng về chiến lược và kinh tế của Việt Nam, thứ đến là mong muốn tha thiết – mà Việt Nam cảm nhận sâu sắc và đã chứng tỏ một cách nhất quán là được hợp tác với những nền dân chủ khác trong việc tạo lập và củng cố nền hoà bình và phồn vinh trên thế giới…” 
– Trích đoạn trong nội dung lá thư đề ngày 17/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Hoa Kỳ Truman yêu cầu để Việt Nam tham gia vào Uỷ ban Tư vấn này.

Ngày 16/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Tổng thống Truman: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi, sau quá nhiều năm chịu đựng sự cướp bóc, tàn phá, mới chỉ đáng bắt đầu công cuộc xây dựng. Cần phải có an ninh và quyền tự do, trước hết là để đạt đựoc sự phồn vinh và phúc lợi trong nước, và sau đó là góp phần nhỏ của mình vào việc xây dựng lại thế giới. An ninh và tự do chỉ có thể được bảo đảm bằng sự độc lập của chúng ta đối với bất kỳ một cường quốc thực dân nào, và bằng sự hợp tác tự nguyện của chúng ta với tất cả các cường quốc khác.

Chính với niềm tin vứng chắc này mà chúng tôi yêu cầu Hợp Chủng Quốc với tư cách là những người bảo vệ và những người bênh vực Công lý thế giới, thực hiện một bước quyết định ủng hộ nền độc lập của chúng tôi… Mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới.”

Tất cả những bức thư này, cùng với một số thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ cũng như Liên Hiệp Quốc trong thời gian trước khi Chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ (12/1946) đều không được hồi âm?!

X&N

bee.net.vn

“Chúng ta sáng tạo! Chúng ta xây dựng! Chúng ta tiến lên”

 – “Ông Hồ phàn nàn là tình hình sẽ rất khó khăn và có chiều hướng hoàn toàn xấu. Nhưng ông Hồ nói cuối cùng thì Việt Nam cũng sẽ được giải phóng khỏi người Pháp, Trung Quốc hay bất kỳ nước ngoài nào khác…. Trong một phút linh cảm, ông Hồ đã nhận xét là sẽ có đổ máu trong tương lai. Nếu người Trung Quốc thực sự chống đối lại nền độc lập của Việt Nam, nhân dân ông  nhất định sẽ kháng cự lại bằng vũ khí…  Và nếu sự đe dọa của người Pháp trở thành hiện thực thì sẽ có cuộc chiến tranh toàn diện… Ông cho biết là sự có mặt của quân đội Trung Quốc đã làm ông phiền muộn”.

Đó là ghi chép và nhận thức của Thiếu tá Archimedes Patti, người đứng đầu cơ quan tình báo chiến lược của Mỹ (OSS) đang có mặt tại Hà Nội sau cuộc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 10/9/1945 về tình thế phức tạp của đất nước ta vào thời điểm đó.

Cuộc gặp này diễn ra ngay sau khi người đúng đầu nhà nước Việt Nam chiêu đãi Tướng Tiêu Văn, người chỉ huy đơn vị quân đội của Trung Hoa Quốc dân Đảng vừa kéo vào miền Bắc Việt Nam để giải giáp quân đội Nhật.

“Người ta mỗi ngày ai cũng rửa mặt, vài hôm phải tắm giặt để giữ cho thân thể sạch sẽ, mạnh khoẻ. Người cách mạng cũng thế, trước hết là cán bộ chính quyền và Đoàn thể cách mạng, mỗi người cũng phải rửa các mặt tinh thần, tư tưởng của mình, để tẩy sạch những chứng bệnh, những khuyết điểm. Chính quyền và Đoàn thể cũng cần thường thường rửa các bộ máy của mình, để tẩy trừ những phần tử bất chính, đầu cơ và chỉnh đốn lại cách làm việc cho gọn gàng, mau chóng”Trích bài “Chỉnh đốn Đoàn thể và Chính quyền” của Bác, với bút danh X.Y.Z đăng trên báo “Sự Thật” ngày 10/9/1950.

fChủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến đi thăm Pháp 1946.

Ngày 10/9/1960, tại phiên bế mạc Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, Bác được bầu lại vào Ban chấp hành Trung ương và cương vị Chủ tịch Đảng.

Trong diễn văn bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đại hội lần thứ II đã đưa kháng chiến đến thắng lợi. Chắc chắn rằng Đại hội lần thứ III này sẽ là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng và toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà… Mười lăm năm trước đây, chỉ có 5000 đảng viên và trong những điều kiện cực kỳ khó khăn mà Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng tháng Tám đến thắng lợi.

Ngày nay, Đảng ta có hơn 50 vạn đồng chí, lại có những điều kiện rất thuận lợi, cho nên Đảng nhất định lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà đến thắng lợi… Toàn Đảng và toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ thành một khối khổng lồ. Chúng ta sáng tạo. Chúng ta xây dựng. Chúng ta tiến lên. Quyết không có lực lượng nào ngăn cản được chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Diễn văn bế mạc Đại hội Đảng lần thứ Ba đọc ngày 10/9/ 1960.

Cách đây 68 năm, ngày 10/9/1943, Hồ Chí Minh được trả tự do kết thúc gần 13 tháng (kể từ 29/8/1942) bị các thế lực quân phiệt Trung Hoa giam giữ tại 30 nhà tù thuộc 13 huyện ở Quảng Tây.

Bài thơ thứ 134 nhan đề “Kết luận” cũng khép lại tập thơ “Ngục trung nhật ký” (Nhật ký trong tù). Bài thơ chữ Hán này nhằm bày tỏ lời cám ơn với Hầu Chí Minh là người đã trực tiếp ký lệnh trao trả tự do. Bài thơ được nhà thơ Khương Hữu Dụng dịch ra quốc ngữ:  “Sáng suốt, nhờ ơn Hầu chủ nhiệm/ Tự do trở lại với mình rồi/ Ngục trung nhật ký từ đây dứt/ Tái tạo ơn sâu, cảm tạ người” cho thấy cách ứng xử của Bác rất có hậu đối với những người mình mang ơn.

X&N

bee.net.vn

Một mục tiêu không bao giờ thay đổi

– Ngày 24/7/1946, trong lúc cuộc thảo luận chính thức Pháp-Việt đang diễn ra tại Fontainebleau đi vào bế tắc thì Chủ tịch Hồ Chí Minh càng ráo riết vận động “ngoại giao hành lang”. Trong ngày Bác thăm Bộ trưởng Pierre Cot, Chủ tịch Quốc hội V. Aurion, Phó Chủ tịch Quốc hội đồng thời cũng là nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp Jacques Duclos…và giành thời gian làm việc với phái đoàn Việt Nam do Phạm Văn Đồng dẫn đầu.

Cùng ngày, trả lời phỏng vấn của các báo Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm: “Nước Pháp thừa nhận Việt Nam độc lập và cùng chúng tôi gây mối quan hệ mới trên cái nền tin cậy và tự do, thì nước Pháp sẽ thấy danh dự của mình, tinh thần của mình và áp lực của mình ở Việt Nam thêm nhiều lắm. Mà như thế thì vững vàng, chắc chắn hơn là lấy chiến tranh họăc sức mạnh hoặc tham mưu, để ép chúng tôi ký điều ước này, điều ước nọ”.

 Bác cùng gia đình R.Aubrac.Bác cùng gia đình R.Aubrac.

Hơn hai thập kỷ sau, ngày 24/7/1967, tại nhà sàn trong Phủ Chủ tịch vào thời điểm máy bay Mỹ đang bắn phá ác liệt, Bác thân mật tiếp ông Raymond Aubrac một người bạn tốt mà Bác đã từng quen biết và đến ở tại nhà ông trong thời gian qua thăm Pháp năm 1946.

Đi cùng ông Aubrac là nhà sinh vật học Herbert Marcovic đến Việt Nam công khai là làm việc với Viện Vệ sinh Dịch tễ nước ta nhưng thực chất cả hai người mang sứ mệnh thiện chí nhằm “hoà giải” mối quan hệ giữa Washington và Hà Nội chấm dứt chiến tranh.

Tại cuộc gặp, Bác đã phân tích từ lịch sử dân tộc để thấy bản chất cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam và đưa ra thông điệp là chỉ khi nào Mỹ chấm dứt hoàn toàn việc đánh phá miền Bắc thì mới có thể có đàm phán. Bác cũng đề nghị Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp chính thức để giải thích rõ quan điểm của nhà nước ta về vấn đề này. Cuối buổi tiếp, Bác không quên thăm hỏi và tặng quà cho con gái của ông Aubrac mà Bác đã nhận lời đỡ đầu cách đó 21 năm (1946).

Cuộc găp gỡ này nằm trong một chuỗi các cuộc vận động ngầm giữa bối cảnh cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam cũng như cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đang đẩy lên đến mức cao nhất của sự ác liệt mà đỉnh điểm là Tết Mậu Thân (1968).

Những thông điệp thể hiện quyết tâm giành mục tiêu hàng đầu là thống nhất Tổ quốc cũng như những thiện chí hoà bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời cũng thúc đẩy những nhân tố đưa đến những cuộc đàm phán chính thức để tìm một giải pháp khả thi cho việc kết thúc chiến tranh.

Riêng Raymond Aubrac suốt đời giữ những quan hệ tốt đẹp với Bác Hồ và nhân dân Việt Nam. Mới đây nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cụ vẫn đến Hà Nội dự và bày tỏ sự mến phục với người bạn cũ đã qua đời cách nay đã 4 thập kỷ.

Từ 2 sự kiện cách nhau 2 thập kỷ cho thấy ý chí và mục tiêu phấn đấu của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhất quán: Hoà bình cùng với một nước Việt Nam độc lập và thống nhất lãnh thổ.

X&N
bee.net.vn

Nhà báo Pháp và “Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh”

 – Ngày 15/7/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và trả lời phỏng vấn của nhà báo Charles Fourniau, đai diện thường trú của Đảng Cộng sản Pháp và tờ báo L‘Humanité (Nhân Đạo) tại Hà Nội. Đây cũng là cuộc phỏng vấn trực tiếp cuối cùng của Bác.

Với câu hỏi “Chủ tịch đã tìm thấy tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách nào?”, Bác kể lại: “Khi tôi nêu ra câu hỏi: Ai khẳng định rõ ràng là mình đoàn kết với các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân áp bức? thì người ta trả lời: Quốc tế thứ Ba. Rồi một đồng chí đưa tôi đọc Luận cương về các vấn đề thuộc địa và dân tộc của Lênin vừa đăng rên báo “Nhân Đạo”.

eNguyễn Ái Quốc thời gian ở Pháp.

Bài đó khó hiểu, vì có những từ ngữ mà tôi không biết rõ. Nhưng tôi đọc đi đọc lại và dần dần tôi hiểu ý nghĩa của nó một cách sâu sắc. Bản Luận cương làm cho tôi cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi xúc động đến phát khóc lên. Ngồi một nình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Từ đó tôi đã có một sự lựa chọn: tán thành Quốc tế thứ Ba và hoàn toàn tin Lênin”.

Nhận thức về Lênin, Bác nói với nhà báo Fourniau: “Trước con mắt các dân tộc phương Đông, Lênin không phải chỉ là một lãnh tụ, một người chỉ huy. Đó cũng là một người thầy có sức hấp dẫn; tĩnh coi thường sự xa hoa, lòng ham mê công việc, đời sống trong sách, sự giản dị và tâm hồn cao thượng của Người làm cho chúng tôi hướng về Người không gì ngăn cản nổi… Đối với chúng tôi là những người bị ngược đãi, sỉ nhục, Lênin là hiện thân của tình bác ái” và khẳng định:“Lúc đầu, chính là do chủ nghĩa yêu nước mà tôi tin theo Lênin… Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi như đồng chí đã biết…” .

Nội dung cuộc phỏng vấn này được công bố trên báo “Nhân Dân” ngày 5/3/1970. Sau khi Bác Hồ qua đời, Ch. Fourniau đã thuật lại cuộc phỏng vấn này trong bài viết “Một giờ với đồng chí Hồ chí Minh”và cho biết rằng trong lúc đang diễn ra cuộc phỏng vấn, có một cán bộ đến xin phép được tình bày với Bác một việc riêng. Bác trao đổi xong với người cán bộ của mình đã lịch thiệp quay sang nói với vị khách nước ngoài rằng đó là câu chuyện một số cơ quan đề nghị chương trình tổ chức những ngày lễ lớn trong năm 1970, trong đó có ngày Quốc khánh, ngày sinh của Lênin và ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều là năm chẵn.

Sau khi nghe xong những đề nghị trên, Bác đã chỉ thị phải tổ chức chu đáo ngày Quốc khánh, ngày sinh Lênin nhưng riêng với ngày sinh của Bác thì hãy dành toàn bộ kinh phí để in sách giáo khoa cho học sinh nhân năm học mới…

X&N
bee.net.vn

“Dân cường thì quốc thịnh”

– Ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp của Hội đồng Chính phủ bàn về nhiều nội dung quan trọng: tổ chức các bộ như Bộ Xã hội, Bộ Ngoại giao; sắc lệnh Tự do cá nhân, sắc lệnh tạm thời về Tự do báo chí, tình hình tài chính, việc Trung Hoa muốn mua và mượn đường sắt của Việt Nam.

Cùng ngày báo “Cứu Quốc” đăng bài “Sức khoẻ và Thể dục” trong đó Bác Hồ kêu gọi đồng bào cả nước tập thể dục.

Bài báo viết: “Giữ gìn dân chủ nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ.

Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi người yêu nước. Việc đó không tốm kém, khó khăn gì. Gái, trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được. Mỗi ngày, lúc ngủ dậy, tập một ít thể dục. Ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khoẻ.

Bộ Giáo dục có Nha thể dục, mục đích là để khuyên và dạy cho đồng bào tập thể dục, đặng giữ gìn và bồi đắp sức khoẻ.

Dân cường thì quốc thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”.

1949 Bác và đội bóng chuyền trong Chiến khuTấm ảnh chụp Bác Hồ với anh em cầu thủ đều là những “quan chức” của Chính phủ năm 1949: (Từ trái sang phải. Hàng ngồi: Nguyễn Lương Bằng , (?), Lê Văn Hiến, Bác Hồ, Nguyễn Khánh Toàn , (?), Trần Công Tường (?)- . Hàng đứng : (?), Trần Duy Hưng, Bùi Công Trừng). Những dấu hỏi (?) là những nhân vật chưa xác định được danh tính, mong bạn đọc nếu biết thì cung cấp, hay sửa lỗi.

Cùng trong ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập trong Bộ quốc gia Giáo dục một Nha Thanh niên và Thể dục, đến nay, ngày 27/3 hàng năm đã trở thành Ngày truyền thống của Ngành Thể dục Thể thao nước ta.

Trong đời sống, Bác Hồ không chỉ tự mình tập tành mà còn vận động và lôi cuốn những người gần gũi mình vào những sinh hoạt thể thao tập thể. Trong sách “Nhật ký của một bộ trưởng”, tác giả là Bộ trưởng Tài chính trong Chính phủ Kháng chiến Lê Văn Hiến thuật lại: “Ngày 12/1-/949… Sau câu chuyện bên đống lửa hồng, Hồ Chủ tịch đưa tất cả anh em ra sân volley ball (bóng chuyền), rồi chia ra hai phe đánh bóng.

Hồ Chủ tịch và 5 anh em một bên, mình và 5 anh em khác một bên. Cuộc đánh bóng này là cuộc đặc biệt. Hồ Chủ tịch với cái quần cụt, có vẻ “cầu sĩ” nhanh nhẹn và hoạt động lắm. Buổi đánh bóng chiều nay thật vui…”.

X&N
bee.net.vn

“Người đảng viên phải thế nào?”

– Ngày 25/3/1951, báo “Nhân Dân” đăng bài viết với đầu đề “Người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam phải thế nào?” ký bút danh C.B. Đây là bài báo được Chủ tịch Hồ Chí Minh, người mới được bầu vào cương vị Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam tại Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương, vừa tổ chức thành công tại Chiến khu Việt Bắc.

Sau thắng lợi của Chiến dịch Biên giới (1950), nhu cầu thúc đẩy cuộc kháng chiến và với mối liên hệ với các Đảng cộng sản của các nước xã hội chủ nghĩa đòi hỏi đảng của những người cộng sản phải ra công khai, sau khi đã “tuyên bố tự giải tán” từ tháng 11/1945.

Đại hội Đảng lần thứ II được triệu tập và dẫn đến quyết định trở lại công khai lãnh đạo toàn diện cuộc kháng chiến và kiến quốc, nhưng với tên gọi mới là “Đảng Lao động Việt Nam”(3/3/1951).

Bác Hồ chụp ảnh vói các cháu thiếu nhi trên Chiến khu Việt BắcBác Hồ chụp ảnh với các cháu thiếu nhi trên Chiến khu Việt Bắc

Quyết định chọn tên này là do đề nghị của Bác và cũng phải trải qua những tranh luận quyết liệt. Bài báo này xác định bản chất và những sắc thái mới của tổ chức cách mạng này trong bối cảnh lịch sử mới, nhằm trả lời câu hỏi: “Thế nào mới xứng đáng là người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam?”.

Bài báo xác định “Đảng Lao động Việt Nam sẽ gồm những công nhân, nông dân và lao động trí óc yêu nước nhất, hăng hái nhất, cách mệnh nhất” và là “những người kiên quyết phụng sự lao động, những người chí công vô tư, làm gương mẫu trong cuộc kháng chiến kiến quốc. Như thế là rõ.

Ai mà không như thế, thì không xứng đáng là người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Nói chung, người đảng viên ở bất kỳ đâu, bất kỳ làm việc gì, bất kỳ địa vị và hoàn cảnh nào, cũng phải luôn luôn:  Đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết; phải ra sức tham gia công việc kháng chiến; phải gần gũi dân chúng, thương yêu giúp đỡ dân chúng, tổ chức là lãnh đạo dân chúng; phải giữ vững đạo đức cách mệnh là chí công vô tư…

Nói tóm lại, người đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành. Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo.

Mà muốn cho quần chúng nghe lời mình, làm theo mình, thì người đảng viên, từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu. Thế là làm cho dân tin Đảng, phục Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và của Chính phủ. Đảng viên nào không được dân tin, dân phục, dân yêu thì chưa xứng đáng là một người đảng viên của Đảng Lao động Việt Nam”.

Đến nay vừa tròn 60 năm, nhắc lại bài báo như thấy một tấm gương để người nay soi vào!

X&N
bee.net.vn