Tag Archive | Cuộc đời Hồ Chí Minh

Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh (kỳ 5)

11. Bữa cơm kháng chiến

Khoảng giữa năm 1952, Đoàn đại biểu quân đội gồm 20 người tiêu biểu của các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích trong cả nước đến Tuyên Quang dự “Đại hội liên hoan anh hùng chiến sĩ thi đua công nông binh toàn quốc”.

Trước khi vào Đại hội, Bác mời cơm mọi người. Cụ Hoàng Hanh, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa, anh Ngô Gia Khảm, chị Nguyễn Thị Chiên và một em thiếu nhi được Bác gọi ngồi cùng mâm với Bác.

Trên chiếc bàn bằng tre nứa sạch sẽ, thức ăn được bày lên, có thịt gà, cá rán, dưa chua, rau và cả một bát dưa nấu giấm cá. Bác nói: “Đây là bữa cơm kháng chiến để chúc mừng các chiến sĩ thi đua đã lập nhiều thành tích trong sản xuất và chiến đấu. Trung ương Đảng và Chính phủ không có gì nhiều, chỉ toàn những thứ do anh em trong cơ quan và Bác trồng trọt, chăn nuôi thu hái được, mời cụ, các cô các chú ăn. Đã ăn là ăn thật no, ăn no để đủ sức tham gia hội nghị, nghe hiểu hết mọi điều về nói lại với nhân dân. Nào, xin mời!” Rồi Bác cầm đũa gắp thức ăn vào bát cho từng người.

Có đồng chí nói: “Chao ôi! Bác thết chúng cháu nhiều món quá”. Bác quay sang vui vẻ nói: “Tất cả đây đều là kết quả tăng gia sản xuất của tập thể cơ quan: gà và cá là Bác tự nuôi. Rau thì các cô các chú xem kìa – Bác chỉ tay ra khoảng đất phía sau hội trường. Giữa tán cây cao, có một khoảng nắng rộng, nhìn rõ các luống rau xanh và giàn bầu tươi tốt. Bác tiếp: Rau thơm, hành tỏi cũng không phải mua. Hôm nay chưa giết lợn, để Hội nghị thành công, rồi sẽ khao chung một bữa.”

Mọi người mải nghe Bác nói, không ai gắp thức ăn. Bác lại vồn vã giục: “Nào tất cả ăn đi, ăn xong ta sẽ nói chuyện với nhau”.

Có Bác cùng ăn, mọi người ăn rất ngon lành, vui vẻ. Trong bữa ăn, nhìn anh Ngô Gia Khảm có thương tật ở tay, cầm thìa xúc ăn thật vất vả, Bác rơm rớm nước mắt và cứ gắp cho anh đều. Thấy chị Chiên thích ăn cá, Bác hỏi:

– Quê cháu có nuôi cá không?

– Thưa Bác, không nuôi ạ. Khi muốn ăn thì xách giỏ ra đồng, hoặc đánh bắt ở ao, hồ, sông.

– Ở đây Bác và anh em trong cơ quan chỉ ngăn lại một quãng suối, vậy mà cá to thế đấy.

Bác vui vẻ hỏi chuyện mọi người. Bữa ăn hôm ấy thật ngon miệng, thoải mái và thân thiết.

Theo: Trung Kiên

12. Quyền lao động của Bác

Năm 1950, Bác Hồ đi chiến dịch biên giới. Chuyến đi dài ngày, gian khổ. Anh em cảnh vệ kiếm được một con ngựa, mời Bác lên. Bác cười: chúng ta có 7 người, ngựa chỉ có một con, Bác cưỡi sao tiện?
Anh em vừa khẩn khoản: chúng cháu còn trẻ, Bác đã cao tuổi, đường xa, việc nhiều… Không nỡ từ chối, Bác trả lời:

– Thôi được, các chú cứ mang ngựa theo để nó đỡ hộ ba lô, gạo nước và thức ăn. Trên đường đi, ai mệt thì cưỡi. Bác mệt, Bác cũng sẽ cưỡi.

Ở khu an toàn, mặc dầu xa địch, nhưng mỗi lần chuyển địa điểm, ngoài việc làm lán trại, Bác cháu còn phải đào hầm, hố. Bác thường giúp đỡ các chiến sĩ bảo vệ vẽ mẫu hầm, cách cầm xẻng, phá đất đá, nện “choòng”… Ngay trong mỗi nhà, mỗi lán Bác đều cho đào công sự đề phòng máy bay tập kích bất ngờ, cây rừng đổ xuống. Cứ mỗi ngày Bác đào một ít, sau giờ làm việc vài ba buổi là xong. Ai muốn đến giúp, Bác ngăn lại, không đồng ý và nói:

– Đây là quyền lao động của Bác.

Theo: Hồng Dương

13. Ai ăn thì người ấy trả tiền

Năm 1954, hòa bình lập lại trên nửa nước. Đồng bào các địa phương có sản vật gì quý đều gửi một ít lên biếu Bác để giới thiệu thành tích tăng gia với Người.

Trong một bữa cơm, Bác thấy có món cà Nghệ, quả nhỏ, cùi ròn, ngâm mắm. Bữa ấy Bác ăn rất ngon. Hôm sau lại có món cà quê hương. Bác ăn hết vài ba quả. Thấy thế đồng chí anh nuôi lại dọn cà.

Bác hỏi:

– Cà muối mua hay ai cho thế?

– Thưa Bác, đồng bào Nghệ An đưa ra tặng Bác.

– Có nhiều không?

Dạ, một ô tô ạ.

Bác chậm rãi nói:

– Thế này nhé. Cà Nghệ ăn rất ngon. Bác ăn mấy bữa liền là đủ rồi. Bây giờ ai muốn ăn nữa thì trả tiền cho đồng bào Nghệ An.
Đồng chí chiến sĩ anh nuôi lùi ra nói:

– Chết chưa! Đã bảo mà.

Theo: Bích Hạnh

14. Qủa táo Bác Hồ cho em bé

Tháng 4-1946, với danh nghĩa là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác Hồ sang Pháp để đàm phán với Chính phủ Pháp về những vấn đề có liên quan đến vận mệnh của đất nước. Ông Đốc lý thành phố Paris mở tiệc long trọng thết đãi Bác Hồ. Trước khi ra về, Người chọn lấy một quả táo đẹp trên bàn, bỏ vào túi. Mọi người, kể cả ông Đốc lý đều kinh ngạc chú ý tới việc ấy, ngạc nhiên và không giấu được sự tò mò. Khi Bác Hồ bước ra khỏi phòng, rất đông bà con Việt kiều và cả người Pháp nữa đang đứng đón Bác. Bác chào mọi người. Khi Bác trông thấy một bà mẹ bế một cháu nhỏ cố lách đám đông lại gần, Bác liền giơ tay bế cháu bé và đưa cho cháu bé quả táo. Cử chỉ của Bác Hồ đã làm những người có mặt ở đó từ chỗ tò mò ngạc nhiên đến chỗ vui mừng và cảm phục về tấm lòng yêu trẻ của Bác.
Theo cuốn: Bác Hồ với thiếu nhi và phụ nữ

15. Mừng cho các cháu, Bác càng thương nhớ mẹ

Đồng chí Vũ Kỳ và Bác Hồ, tháng 9-1960. Ảnh tư liệu

Một lần trên đường đi thăm hợp tác xã trồng cây giỏi ở huyện Quảng Oai (Hà Tây), Bác Hồ đã nhắc đến mẹ Bác.

Hôm ấy khi xe ôtô đến Quảng Oai, một đoàn các em bé gái cổ quàng khăn đỏ, em mặc áo hoa xen em mặc áo trắng, tay cắp sách vừa ở trong trường ra, líu ríu như chim sổ lồng. Nhìn thấy các cháu vui, Bác Hồ cũng vui theo. Người nói với chú Vũ Kỳ và các chú ngồi cùng xe:

– Này! Các chú thấy không, các cháu được ăn mặc đẹp, được đi học, cháu nào cũng vui vẻ phấn khởi, Bác mừng cho các cháu.

Rồi giọng Bác bỗng trầm hẳn xuống.

– Lúc này Bác rất nhớ mẹ của Bác. Mẹ Bác rất thông minh, lại là con gái ông đồ nho. Thế mà mẹ Bác lại không được đến lớp, đến trường đâu các chú ạ. Cũng như phụ nữ ngày xưa, từ nhỏ mẹ Bác đã phải lo việc nhà.

Mọi người cùng đi không nén nổi cảm xúc trước tình cảm của Bác đối với mẹ Bác là cụ Hoàng Thị Loan.

Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ
(Nguồn: Website Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh (kỳ 4)

9. Bác có phải là vua đâu?

Có một số người có ngôi cao, chức cả, sống trong sự trọng vọng, chiều chuộng của mọi người, thường xuyên được hưởng sự ưu đãi đặc biệt, lâu dần cũng quen đi mà không hề biết rằng mình đã nhiễm phải thói đặc quyền, đặc lợi.

Suốt đời tâm niệm là người công bộc của nhân dân, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, Bác Hồ của chúng ta luôn luôn hòa mình vào cuộc sống chung của đồng bào, đồng chí, không nhận bất cứ một sự ưu tiên nào người khác dành cho mình.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, nhiều nhân sĩ, trí thức cao tuổi theo Bác lên Việt Bắc, đi kháng chiến, đèo cao suối sâu, đường bùn lầy, nhiều vị phải nằm cáng. Anh em phục vụ lo Bác mệt cũng đề nghị Bác lên cáng, Bác gạt đi: Bác còn khỏe, còn đi được, các chú có nhiệm vụ đưa Bác đi như thế này là tốt rồi.

Cuối năm 1961, Bác về thăm xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, một xã có phong trào trồng cây tốt. Tại một ngọn đồi thấp, Bác đứng nói chuyện với nhân dân trong xã. Trời đã gần trưa, tuy đã sang đông mà nắng còn gay gắt. Nhìn Bác đứng giữa nắng trưa, ai cũng băn khoăn. Đồng chí Chủ tịch huyện cho tìm mượn được chiếc ô, định giương lên che nắng cho Bác, thì Bác quay lại hỏi:

– Thế chú có đủ ô che cho tất cả đồng bào không? Thôi, cất đi, Bác có phải là vua đâu?

Một lần, trong bữa ăn, đồng chí phục vụ dọn lên cho Bác một đĩa cá anh vũ, một loại cá sông quý hiếm thường chỉ có ở khúc sông Hồng đoạn Bạch Hạc – Việt Trì. Nhìn đĩa cá biết ngay là của hiếm, Bác khen và bảo:
– Cá ngon quá, thế mà chú Tô (tức đồng chí Phạm Văn Đồng) lại đi vắng. Thôi, các chú để đến chiều đồng chí Tô về cùng thưởng thức.

Miếng ngon không bao giờ Bác chịu ăn một mình. Chia sẻ ngọt bùi là thế, tưởng chuyện cũng sẽ qua đi. Nhưng đến bữa sau, trong mâm cơm lại có món cá hôm trước. Nhìn đĩa cá, Bác hiểu ngay và tỏ ra không bằng lòng.

– Bác có phải là vua đâu mà phải cung với tiến!

Rồi Người kiên quyết bắt mang đi không ăn nữa. Như Bác đã từng nói, ở đời ai chẳng thích ăn ngon, mặc đẹp, nhưng nếu miếng ngon đó lại đánh đổi bằng sự mệt nhọc, phiền hà của người khác thì Bác đâu có chấp nhận.

Những anh em công tác trong Phủ Chủ tịch hàng ngày vẫn thường đi lại bằng xe đạp, thỉnh thoảng có gặp Bác đi bộ. Nhìn thấy Bác, mọi người đều xuống dắt xe chờ Bác đi qua rồi mới lên xe đi tiếp. Thấy vậy, Bác thường khoát tay ra hiệu bảo anh em cứ đi tiếp, không cần xuống xe. Nhưng ai có thể cho phép mình ngồi trên xe khi Bác đi bộ. Một lần, Bác gọi đồng chí vừa xuống dắt xe lại gần và bảo:

– Các chú có công việc của mình nên cứ tiếp tục đạp xe mà đi. Bác đâu có phải là cái đền có biển “hạ mã” ở trước để ai đi qua cũng phải xuống xe, xuống ngựa?

Lão Tử có nói: “Trời đất sở dĩ có thể dài và lâu vì không sống cho mình nên mới được trường sinh. Thánh nhân đặt thân mình ở sau mà lại lên trước, đặt thân mình ở ngoài mà lại còn”. Bác Hồ sống quên mình, không nghĩ đến mình mà lại trở thành sống mãi. Lời Lão Tử thật sâu sắc lắm thay!

Theo: Trần Hiếu

10. Từ đôi dép đến chiếc xe ôtô

Đôi dép của Bác “ra đời” vào năm 1947, được “chế tạo” từ một chiếc lốp ôtô quân sự của thực dân Pháp bị bộ đội ta phục kích tại Việt Bắc.

Đôi dép đo cắt không dày lắm, quai trước to bản, quai sau nhỏ rất vừa chân Bác.

Trên đường công tác, Bác nói vui với anh em cán bộ đi cùng:

– Đây là đôi hài vạn dặm trong chuyện cổ tích ngày xưa… Đôi hài thần đất, đi đến đâu mà chẳng được.

Chẳng những khi “hành quân” mà cả mùa đông, Bác đi thêm đôi tất cho ấm chân, tiếp khách trong nước, khách quốc tế vẫn thường thấy Bác đi đôi dép ấy.

Gặp suối hoặc trời mưa trơn, bùn nước vào dép khó đi, Bác tụt dép xách tay. Đi thăm bà con nông dân, sải chân trên các cánh đồng đang cấy, đang vụ gặt, Bác lại xắn quần cao lội ruộng, tay xách hoặc nách kẹp đôi dép…

Mười một năm rồi vẫn đôi dép ấy… Các đồng chí cảnh vệ cũng đã đôi ba lần “xin” Bác đổi dép nhưng Bác bảo “vẫn còn đi được”.

Cho đến lần đi thăm Ấn Độ, khi Bác lên máy bay, ngồi trong buồng riêng thì anh em lập mẹo giấu dép đi, để sẵn một đôi giày mới…

Máy bay hạ cánh xuống Niu Đêli. Bác tìm dép. Anh em thưa:

– Có lẽ đã cất xuống khoang hàng của máy bay rồi…

Thưa Bác…

Bác ôn tồn nói:

– Bác biết các chú cất dép của Bác đi chứ gì. Nước ta còn chưa được độc lập hoàn toàn. Nhân dân ta còn khó khăn. Bác đi dép cao su nhưng bên trong lại có đôi tất mới thế là đủ lắm mà vẫn lịch sự…

Thế là các ông “tham mưu con” phải trả lại dép để Bác đi vì dưới đất chủ nhà đang nóng lòng chờ đợi…

Trong suốt thời gian ở Ấn Độ, các chính khách, nhà báo, quay phim, chụp ảnh lại rất quan tâm đến đôi dép của Bác. Họ cúi xuống sờ nắn quai dép, thi nhau bấm máy từ nhiều góc độ, ghi ghi chép chép… làm anh em cảnh vệ lại phải một phen xem chừng và bảo vệ “đôi hài thần kỳ” ấy.

Năm 1960, Bác đến thăm một đơn vị Hải quân nhân dân Việt Nam. Vẫn đôi dép “thâm niên ấy”, Bác đi thăm nơi ăn, chốn ở, trại chăn nuôi của đơn vị. Cán bộ và chiến sĩ rồng rắn kéo theo, ai cũng muốn chen chân, vượt lên để được gần Bác, Bác vui cười nắm tay chiến sĩ này, vỗ vai chiến sĩ khác. Bỗng Bác đứng lại:

– Thôi, các cháu giẫm làm tụt quai dép của Bác rồi…

Nghe Bác nói, cả đám dừng lại cúi xuống yên lặng nhìn đôi dép rồi lại ồn ào lên:

– Thưa Bác, cháu, để cháu sửa…

– Thưa Bác, cháu, cháu có “rút dép” đây…

Nhao nhác, ầm ĩ như thế, nhưng đồng chí cảnh vệ chỉ đứng cười vì biết đôi dép của Bác đã phải đóng đinh rồi; có “rút” cũng vô ích…

Bác cười nói:

– Cũng phải để Bác đến chỗ gốc cây kia, có chỗ dựa mà đứng đã chứ!

Bác “lẹp xẹp” lết đôi dép đến gốc cây, một tay vịn vào cây, một chân co lên tháo dép ra, “thách thức”:

– Đây! Cháu nào giỏi thì chữa hộ dép cho Bác…

Một anh nhanh tay giành lấy chiếc dép, giơ lên nhưng ngớ ra, lúng túng. Anh bên cạnh liếc thấy, “vượt vây” chạy biến…

Bác phải giục:

– Ơ kìa, ngắm mãi thế, nhanh lên cho Bác còn đi chứ. Anh chiến sĩ lúc nãy chạy đi đã trở lại với chiếc búa con, mấy cái đinh:

– Tôi, để tôi sửa dép…

Mọi người giãn ra. Phút chốc, chiếc dép đã được chữa xong.

Những chiến sĩ không được may mắn chữa dép phàn nàn:

– Tại dép của Bác cũ quá. Thưa Bác, Bác thay dép đi ạ…

Bác nhìn các chiến sĩ nói:

– Các cháu nói đúng… nhưng chỉ có đúng một phần… Đôi dép của Bác cũ nhưng nó chỉ mới tụt quai. Cháu đã chữa lại chắc chắn cho Bác thế này thì còn “thọ” lắm! Mua đôi dép khác chẳng đáng là bao, nhưng khi chưa cần thiết cũng chưa nên… Ta phải tiết kiệm vì đất nước ta còn nghèo…
Đôi dép cá nhân đã vậy, còn “đôi dép” ôtô của Bác cũng thế!

Chiếc xe “Pa-bê-đa” sản xuất tại Liên Xô Bác vẫn đi, đã cũ, Văn phòng xin “đổi” xe khác, “đời mới” hơn, tốt hơn, nhưng Bác không chịu:

– Xe của Bác hỏng rồi à?

Anh em thưa rằng chưa hỏng, nhưng muốn thay xe để Bác đi nhanh hơn, êm hơn.

Bác nói:

– Ai thích nhanh, thích êm thì đổi…

Hôm sau đến giờ đi làm, không biết là xe hỏng thật hay “ai” xui mà Bác đứng đợi bên xe mà xe cứ “ì” ra. Bác cười bảo đồng chí lái xe:

– Máy móc có trục trặc, chú cứ bình tĩnh sửa. Sửa xong Bác cháu ta đi cũng kịp…

Vài phút sau, xe nổ máy…

Bác lại cười nói với đồng chí lái xe, cảnh vệ:

– Thế là xe vẫn còn tốt!

Theo: Minh Anh
(Nguồn: Website Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh (kỳ 3)

7. Thời gian quý báu lắm

Sinh thời, Bác Hồ của chúng ta yêu cái gì nhất, ghét cái gì nhất? Kể cũng hơi khó trả lời cho thật chính xác, bởi ở ta không có thói quen “tự bạch” và kín đáo, ý nhị vốn là một đặc điểm của lối ứng xử phương Đông.

Tuy nhiên, theo dõi qua tác phẩm, hoạt động và sinh hoạt đời thường, điều ta có thể thấy rõ cái mà Người ghét nhất, “ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm” là các thói quan liêu, tham nhũng, xa hoa, lãng phí tiền bạc và thời gian của nhân dân.

Ở một mức độ khác, thấp hơn, những người có điều kiện tiếp xúc và làm việc với Bác Hồ, điều thấy rõ nhất là Bác rất khó chịu khi thấy cán bộ làm việc không đúng giờ.

Năm 1945, mở đầu bài nói chuyện tại lễ tốt nghiệp khóa V Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam, Người thẳng thắn góp ý: “Trong giấy mời tới đây nói 8 giờ bắt đầu, bây giờ 8 giờ 10 phút rồi mà nhiều người chưa đến. Tôi khuyên anh em phải làm việc cho đúng giờ, vì thời gian quý báu lắm”.

Trong kháng chiến chống Pháp, một đồng chí cấp tướng đến làm việc với Bác sai hẹn mất 15 phút, tất nhiên là có lý do: mưa to, suối lũ, ngựa không qua được. Bác bảo:

– Chú làm tướng mà chậm đi mất 15 phút thì bộ đội của chú sẽ hiệp đồng sai đi bao nhiêu? Hôm nay chú đã chủ quan, không chuẩn bị đầy đủ các phương án, nên chú đã không giành được chủ động.

Một lần khác, Bác và đồng bào phải đợi một đồng chí cán bộ đến để bắt đầu cuộc họp. Bác hỏi:

– Chú đến chậm mấy phút?

– Thưa Bác, chậm mất 10 phút ạ!

– Chú tính thế không đúng, 10 phút của chú phải nhân với 500 người đợi ở đây.

Bác quý thời gian của mình bao nhiêu thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu, vì vậy thường không bao giờ để bất cứ ai phải đợi mình.
Năm 1953, Bác quyết định đến thăm lớp chỉnh huấn của anh chị em trí thức, lúc đó đang bước vào cuộc đấu tranh tư tưởng gay go. Tin vui đến làm náo nức cả lớp học, mọi người hồi hộp chờ đợi.

Bỗng chuyển trời đột ngột, mây đen ùn ùn kéo tới, rồi một cơn mưa dồn dập, xối xả, tối đất, tối trời, hai ba tiếng đồng hồ không dứt. Ai cũng xuýt xoa, tiếc rẻ: mưa thế này, Bác đến sao được nữa, trời hại quá.
Giữa lúc trời đang trút nước, lòng người đang thất vọng, thì từ ngoài hiên lớp học có tiếng rì rào, rồi bật lên thành tiếng reo át cả tiếng mưa ngàn, suối lũ:

– Bác đến rồi, anh em ơi! Bác đến rồi!

Trong chiếc áo mưa ướt sũng nước, quần xắn đến quá đầu gối, đầu đội nón, Bác hiện ra giữa niềm ngạc nhiên, hân hoan và sung sướng của tất cả mọi người.

Về sau, anh em được biết: giữa lúc Bác chuẩn bị đến thăm lớp thì trời đổ mưa to. Các đồng chí làm việc bên cạnh Bác đề nghị Bác cho báo hoãn đến một buổi khác. Có đồng chí đề nghị tập trung lớp học ở một địa điểm gần nơi ở của Bác…

Nhưng Bác không đồng ý: “Đã hẹn thì phải đến, đến cho đúng giờ, đợi trời tạnh thì biết đến khi nào? Thà chỉ một mình Bác và một vài chú nữa chịu ướt còn hơn để cho cả lớp học phải chờ uổng công!”.

Ba năm sau, giữa Thủ đô Hà Nội đang vào xuân, câu chuyện có thêm một đoạn mới. Vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, hàng trăm đại biểu các tầng lớp nhân dân thủ đô tập trung tại Ủy ban Hành chính thành phố để lên chúc tết Bác Hồ. Sắp đến giờ lên đường trời bỗng đổ mưa như trút. Giữa lúc mọi người còn đang lúng túng thu xếp phương tiện cho đoàn đi để Bác khỏi phải chờ lâu thì bỗng xịch, một chiếc xe đậu trước cửa. Bác Hồ từ trên xe bước xuống, cầm ô đi vào, lần lượt bắt tay, chúc tết mỗi người, trong nỗi bất ngờ rưng rưng cảm động của các đại biểu.

Thì ra, thấy trời mưa to, thông cảm với khó khăn của ban tổ chức và không muốn các đại biểu vì mình mà vất vả, Bác chủ động, tự thân đến tại chỗ chúc tết các đại biểu trước. Thật đúng là mối hằng tâm của một lãnh tụ suốt đời quên mình, chỉ nghĩ đến nhân dân, cho đến tận phút lâm chung, vẫn không quên dặn lại: “Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thời giờ và tiền bạc của nhân dân”.

Theo: Song Thành

8. Chú còn trẻ, chú vào hầm trú ẩn trước đi

Một ngày tháng 7-1967 ở Hà Nội, đồng chí Mai Văn Bộ được Bác Hồ gọi đến mời cơm tiễn chân trước khi đồng chí lên đường đi Paris nhận nhiệm vụ Tổng đại diện Chính phủ ta bên cạnh Chính phủ Pháp.

Trong bữa cơm, Bác kể chuyện về khu Luýcxămbua, Môngpacnát, nơi Bác có nhiều kỷ niệm. Bác nói Bác rất yêu Paris, Paris đã dạy cho Người nhiều điều…

Bỗng tiếng còi báo động rú lên. Một chiến sĩ bảo vệ yêu cầu Bác và các đồng chí khác xuống hầm. Ít phút sau đã nghe tiếng đạn nổ.

– Thưa Bác, tác chiến báo cáo chúng nó đánh cầu Long Biên. Mời Bác vào hầm trú ngay cho.

Bác quay lại đồng chí Bộ, nói:

– Bác già rồi, chẳng bom đế quốc nào ném đâu. Chú còn trẻ, chú cần vào hầm trú ẩn trước.

Rồi Bác đẩy đồng chí Bộ đi trước, sau đó đến đồng chí Phạm Văn Đồng, đồng chí cảnh vệ.

Bác là người vào hầm trú ẩn sau cùng.

Theo: Thủy Trưởng
(Nguồn: Website Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh (kỳ 2)

3. Câu chuyện về 3 chiếc ba lô

Trong những ngày sống ở Việt Bắc, mỗi lần Bác đi công tác, có hai đồng chí đi cùng. Vì sợ Bác mệt, nên hai đồng chí định mang hộ ba lô cho Bác, nhưng Bác nói:

– Đi đường rừng, leo núi ai mà chẳng mệt, tập trung đồ vật cho một người mang đi thì người đó càng chóng mệt. Cứ phân ra mỗi người mang một ít.

Khi mọi thứ đã được phân ra cho vào 3 ba lô rồi, Bác còn hỏi thêm:

– Các chú đã chia đều rồi chứ?

Hai đồng chí trả lời:

– Thưa Bác, rồi ạ.

Ba người lên đường, qua một chặng, mọi người dừng chân, Bác đến chỗ đồng chí bên cạnh, xách chiếc ba lô lên.

– Tại sao ba lô của chú nặng mà Bác lại nhẹ?

Sau đó, Bác mở cả 3 chiếc ba lô ra xem thì thấy ba lô của Bác nhẹ nhất, chỉ có chăn, màn. Bác không đồng ý và nói:

– Chỉ có lao động thật sự mới đem lại hạnh phúc cho con người.
Hai đồng chí kia lại phải san đều các thứ vào 3 chiếc ba lô.

Theo: Trần Thị Lợi

4. Không ai được vào đây

Sách Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 10, do Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1996, trang 334, có đoạn:

“Ngày 27 tháng 4 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe hai đồng chí: Lê Đức Anh và Chu Huy Mân báo cáo công việc, sau đó Người mời hai đồng chí ở lại ăn cơm với Người”.

Sáng hôm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bỏ phiếu bầu Hội đồng nhân dân cấp huyện, xã… Người bỏ phiếu tại hòm phiếu số 6, đơn vị 1, tiểu khu 1, khu phố Ba Đình, Hà Nội, đặt tại Nhà thuyền Hồ Tây.

Khi Bác Hồ đến, trong Nhà thuyền đã có nhiều cử tri đang bỏ phiếu. Tổ bầu cử thấy Bác đến, ra hiệu để đồng bào tạm dừng và tạo “điều kiện” để Bác bỏ phiếu trước. Biết ý, Bác nói “sòng phẳng”:

– Ai đến trước, viết trước, Bác đến sau, Bác chờ. Bác chờ cho đến hàng mình, mới nhận phiếu và vào “buồng” phiếu.

Nhà báo Ma Cường chợt nghĩ thật là “hạnh phúc một đời của người làm báo”, “cơ hội ngàn năm có một” và vội giơ máy lên bấm, rất nhanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy tay che phiếu lại, nói với Ma Cường:

– Không ai được vào đây. Đây là phòng viết phiếu kín của cử tri. Phải bảo đảm tự do và bí mật cho công dân.

Nhà báo buông máy, nhưng vẫn thấy hạnh phúc.

Theo lời kể của các đồng chí ở gần Bác, trước khi đi bầu cử Bác không cho ai “gợi ý” cả, Bác nói:

– Ấy, đừng có “lãnh đạo” Bác nhé. Bác không biết Đảng ủy hướng dẫn danh sách để ai, xóa ai đâu nhé. Đưa lý lịch của những người ứng cử đây để Bác xem. Có chú nào dự buổi ứng cử viên trình bày ý kiến với cử tri, nói lại để Bác cân nhắc, Bác tự bầu.

Theo: Nguyễn Việt Hồng

5. Bát chè sẻ đôi

Đồng chí liên lạc đi công văn 10 giờ đêm mới đến. Bác gọi mang ra một bát, một thìa con. Rồi Bác đem bát chè đậu đen, đường phèn, mà anh em phục vụ vừa mang lên, sẻ một nửa cho đồng chí liên lạc.

– Cháu ăn đi.

Thấy đồng chí liên lạc ngần ngại, lại có tiếng đằng hắng bên ngoài, Bác giục:

– Ăn đi, Bác cùng ăn…

Cám ơn Bác, đồng chí liên lạc ra về. Ra khỏi nhà sàn, xuống sân, đồng chí cấp dưỡng bấm vào vai anh lính thông tin:

– Cậu chán quá. Cả ngày Bác có bát chè để bồi dưỡng làm đêm mà cậu lại ăn mất một nửa.

– Khổ quá, anh ơi! Em có sung sướng gì đâu. Thương Bác, em vừa ăn vừa rớt nước mắt, nhưng không ăn lại sợ Bác không vui, mà ăn thì biết cái chắc là các anh mắng mỏ rồi…

Theo: Thủy Xuân

6. Một bữa ăn tối của Bác

Tháng 4-1946, giữa lúc đất nước đang bề bộn công việc, thì Bác vẫn dành những thì giờ quý báu về Ninh Bình dàn xếp những vấn đề đối nội, đối ngoại có lợi cho quốc gia. Vào khoảng ngày 10 đến 12, Bác đi qua thị xã Ninh Bình để xuống Phát Diệm. Lúc đó tôi là Quyền Chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh. Một dịp may hiếm có được đón Bác về tỉnh, nghĩ vậy, tôi mời đồng chí Ủy viên thư ký kiêm Phó Chủ tịch và Chánh Văn phòng đến hội ý. Hai đồng chí cũng cùng chung một ý nghĩ như tôi.

Tôi phân công đồng chí Phó Chủ tịch huy động nhân dân ra tập trung đón Bác, đồng chí Chánh Văn phòng chuẩn bị cơm mời Bác, còn tôi phụ trách việc dọn dẹp văn phòng, chuẩn bị chỗ nghỉ và chỗ ngủ cho Bác qua đêm.
Quả như tôi dự đoán, sáu giờ chiều thì xe Bác về đến phía Nam thị xã Ninh Bình. Nhân dân đã vẫy cờ, hô khẩu hiệu rồi ùa xuống lòng đường đón Bác. Bác ra khỏi xe vẫy chào nhân dân. Nhân lúc đó chúng tôi mời Bác vào trụ sở Ủy ban hành chính tỉnh.

Trước sự nhiệt tình của nhân dân thị xã, không nỡ từ chối, Bác đã vào gặp Ủy ban hành chính tỉnh Ninh Bình.

Đến cổng cơ quan, Bác bảo đồng chí lái xe dừng lại rồi xuống đi bộ. Vừa đi Bác vừa hỏi tình hình đời sống của nhân dân, đặc biệt đồng bào ở vùng công giáo. Chúng tôi báo cáo với Bác về những khó khăn trong tỉnh, một số nơi nông dân còn bị đói.

Bác căn dặn chúng tôi phải chú ý đoàn kết lương giáo, động viên bà con tích cực tăng gia sản xuất để chống đói, chú ý công tác diệt giặc dốt, mở nhiều lớp bình dân học vụ vào buổi trưa, buổi tối, vận động bà con đi học.

Chúng tôi mời Bác nghỉ lại cơ quan cho đỡ mệt rồi dùng bữa tối. Thực ra bữa cơm chúng tôi chuẩn bị cho Bác không có gì ngoài một con gà giò luộc, nước luộc gà nấu bí đao, vì lúc đó kinh phí của Ủy ban hành chính tỉnh cũng hết sức khó khăn.

Bác nói:

– Hàng ngàn đồng bào đang chờ Bác ngoài kia, Bác không thể nghỉ ở đây để ăn cơm được vì 9 giờ tối Bác đã có việc ở Phủ Chủ tịch. Bây giờ các chú giúp Bác: một chú ra tập hợp đồng bào vào một ngã tư rộng gần đây để Bác ra nói chuyện với đồng bào mươi phút, một chú ra cửa hàng bánh mua cho Bác một cặp bánh giò. Còn các chú đi với Bác thì tranh thủ ăn cơm trước. Nói chuyện xong, Bác ngược Hà Nội ngay cho kịp hẹn. Trong xe Bác sẽ ăn bánh vừa đỡ tốn kém, vừa tiết kiệm được thời gian cho Bác.

Chúng tôi vâng lời Bác làm theo.

Nói chuyện với đồng bào Ninh Bình hôm đó, Bác nhấn mạnh:

– Đồng bào chú ý đoàn kết lương giáo vì âm mưu của kẻ thù luôn tìm cách chia rẽ đồng bào lương giáo.

– Đồng bào tích cực tăng gia sản xuất chống giặc đói, chống giặc dốt.

– Đồng bào chuẩn bị tinh thần chịu đựng gian khổ để chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc.

Kết thúc, Bác hỏi:

– Đồng bào có đồng ý thực hiện ba điều tôi nêu ra không?

– Đồng ý! Đồng ý! Hồ Chủ tịch muôn năm.

Hàng ngàn nắm tay gân guốc giơ lên hưởng ứng. Tiếng hô và tiếng vỗ tay râm ran.

Bác vẫy tay chào đồng bào rồi lên xe về Hà Nội. Xe đi được một quãng Bác mới bắt đầu dùng “bữa ăn tối” của mình.

Theo: Hồ Vũ
(Nguồn: Website Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh (kỳ 1)

I. NHỮNG MẨU CHUYỆN VỀ ĐỜI SỐNG CỦA BÁC

1. Việc chi tiêu của Bác Hồ

Các đồng chí ở gần Bác đều cho biết Bác rất tiết kiệm. Có đôi tất rách đã vá đi, vá lại mấy lần Bác cũng không dùng tất mới. Bác nói:
– Cái gì còn dùng được nên dùng. Bỏ đi không nên…

Khi tất rách chưa kịp vá, anh em đưa đôi mới để Bác dùng, Bác xoay chỗ rách vào bên trong rồi cười xí xóa:

– Đấy, có trông thấy rách nữa đâu…

Có quả chuối hơi nẫu, anh cán bộ chê không ăn, Bác lấy dao gọt phần nẫu đi, bóc ăn ngon lành, rồi nói:

– Ở chiến khu có được quả chuối này cũng đã quý…

Câu nói và việc làm của Bác làm đồng chí cán bộ hối hận mãi.

Dù cho đã làm đến Chủ tịch nước, suốt trong những năm ở Việt Bắc, ở Hà Nội, Bác chưa bao giờ “có tiền” (như anh em cán bộ, chiến sĩ, công tác quanh Bác thường nhận xét).

Thực tế lịch sử cho thấy rằng: suốt thời gian hoạt động của Bác ở nước ngoài, Bác gặp rất nhiều khó khăn về tài chính do những nguyên nhân khác nhau. Được đồng nào, chủ yếu do lao động tự thân mà có, Bác dành cho công tác cách mạng. Bác chi tiêu rất dè sẻn, cân nhắc từng xu. Liên hoan mừng thành lập Đảng cũng chỉ có bát cơm, món xào, tô canh, đĩa cá. Chiêu đãi đồng chí Lý Bội Quần, người Trung Quốc, người đã mua chiếc máy chữ từ Hải Phòng về tặng Người (năm 1939), Bác cũng chỉ “khao một món canh và 2 đĩa thức ăn, thêm hai lạng rượu, tổng cộng chưa hết một đồng bạc”.

Tự thết đãi mình “khi nghe tin Hồng quân bắt sống 33 vạn quân Hít le ở Xtalingrát năm 1943”, tại nhà tù, trong túi chỉ còn vẻn vẹn một đồng bạc, Bác đã “nhờ người lính gác mua giùm cho ít kẹo và dầu chả quẩy”. Sau khi phấn khởi hô mấy khẩu hiệu hoan nghênh thắng lợi của Liên Xô, Bác “ngồi một mình, chén tạc, chén thù rất đàng hoàng vui vẻ”…

Năm 1957, Bác về thăm Nghệ Tĩnh, khi ăn cơm chung với đồng chí Nguyễn Sĩ Quế, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Diệm, Bác đã để bớt ra ngoài mâm mấy món ăn, rồi nói: “Ăn hết lấy thêm, không ăn hết để người khác ăn, đừng để người ta ăn thừa của mình”.

Có thể dẫn ra nhiều nữa những ví dụ về cách chi tiêu sử dụng tiền bạc, cơ sở vật chất của Bác, rất “mâu thuẫn thống nhất”: chắt chiu, tằn tiện nhưng vẫn rộng rãi, không hoang phí mà cũng không keo kiệt, “ki bo”.

Thế giới, loài người tự hào về Bác. Là người Việt Nam, đồng hương của Bác, chúng ta càng tự hào biết bao! Cách ứng xử của Bác với tiền tài, với cái ăn, cái mặc, với cơ sở vật chất nói chung đâu có phải là cao quá mà chúng ta không học tập được, đâu có phải là một tòa thánh cấm uy nghiêm mà chúng ta không đặt chân lên được thềm bậc, dù là bậc thềm thứ nhất?

2. Bác Hồ tăng gia rau cải

Mùa đông năm 1952, lúc đó tôi đang công tác ở Văn phòng Trung ương Đảng. Trụ sở cơ quan đóng tại đèo Re (núi Rồng). Cơ quan Phủ Chủ tịch cũng ở sát ngay cạnh đó. Sau Hội nghị chính quyền lần thứ 5 (tháng 3-1952), Chính phủ đã phát động phong trào tăng gia, sản xuất, tiết kiệm trong toàn quốc.

Ở Trung ương, cơ quan này thi đua tăng gia với cơ quan khác. Vì hai cơ quan gần nhau, tôi được công đoàn cử ra thi đua với cơ quan bên Phủ Chủ tịch. Bên Văn phòng Phủ Chủ tịch lại cử Bác là đại diện cá nhân thi đua tăng gia với cơ quan Văn phòng Trung ương.

Buổi lễ phát động thi đua diễn ra thật sôi nổi. Tôi đang sức trẻ nên thay mặt anh em đứng lên thách thức thi đua: cùng một khoảng đất như nhau 36m2, trong một thời gian nhất định, tôi xin trồng rau ăn với sản lượng cao nhất. Bác cũng đứng lên: Bác nhận thách thức thi đua tăng gia với chú Thông, với mảnh đất 36m2 trong một thời gian bằng nhau, đạt sản lượng rau nhiều hơn chú Thông. Mọi người vỗ tay hoan hô. Một số đồng chí xì xào: một cuộc thi đua không cân sức. Bác vừa già, vừa bận nhiều việc, địch sao được với cậu Thông khỏe như voi, trồng rau đã quen. Có người nêu: “Giải thưởng thi đua là một con gà trống 2 kg”. Mọi người lại hoan hô tán thưởng. Mấy đồng chí ở Văn phòng Trung ương nói to: “Nhất định chuyến này chúng ta được ăn thịt gà của Phủ Chủ tịch”. Bác nói vui: “Các chú muốn ăn gà của Chủ tịch thì phải tích cực tăng gia để có nhiều rau xanh cung cấp cho nhà bếp cơ quan”.

Tôi về suy nghĩ: để chắc ăn và có năng suất cao thì trồng cải củ, vì cải củ ở vùng này củ rất to, rất nặng. Tôi trao đổi với anh em công đoàn, mọi người ủng hộ, cho là sáng kiến.

Sau một tuần, tôi đã làm đất và trồng xong 36m2 cải củ. Ngay sát mảnh đất của tôi, Bác và anh em bên Phủ Chủ tịch làm rất kỹ, đất nhỏ, mịn và sạch cỏ. Hơn một tuần thì Bác gieo hạt cải mào gà (cải xanh lá xoan). Anh em Văn phòng Phủ Chủ tịch làm chỗ đi tiểu gần nhà và mua một nồi hông lớn để hứng nước tiểu. Phía Văn phòng Trung ương tôi cũng huy động anh em làm nhà tiêu để lấy phân bón.

Sau một tuần các cây cải mọc đều và đẹp. Bác lấy nước tiểu pha loãng tưới. Còn tôi lấy phân bắc tươi hòa ra tưới. Mỗi lần tưới cả cơ quan bịt mũi.

Sau một tháng, hai vạt rau tốt ngang nhau. Nhiều người ủng hộ tôi cho rằng tôi sẽ thắng vì củ cải lớn rất nhanh.

Một hôm Bác nhổ rau bán cho nhà bếp chỉ được 15kg. Bác để lại những cây to, khỏe, mỗi cây cách nhau chừng hai gang. Một số anh em lo lắng vì thấy vườn rau Bác nhổ đi xơ xác mà chỉ được có 15kg rau cải con. Ba buổi chiều liền, sau giờ làm việc Bác đều ra vườn dùng chiếc dầm xới đất cho cải và tưới nước giải đều.

Sau hai tháng 10 ngày thì củ cải của tôi đã to bằng bắp tay và có cây đã có nụ. Tôi nhổ và cân cho nhà bếp được 60kg. Tôi vui mừng vì thắng lợi. Nhưng cũng lúc đó, cây cải mào gà của Bác đã to bằng cái nơm, cứ 5 ngày một lần Bác tỉa tàu cân cho nhà bếp khoảng 10kg. Kỳ lạ thay cải mào gà càng tỉa cây càng lớn, tàu càng to và càng trẻ lâu. Sau 2 tháng rưỡi cải mới có ngồng. Lúc đó Bác nhổ cả cây cho nhà bếp muối dưa. Bác còn đem biếu cụ già dân tộc gần đó 2 cây rất to làm giống. Cụ già sung sướng khoe với mọi người: “Rau cải Cụ Hồ tốt thật”.

Mở sổ nhà bếp ra cộng

– Cải con: 15kg

– Tàu cải canh: 14 lần x 10kg = 140kg

– Cây cải làm dưa nén: 20kg

Cộng: 175kg

Vậy tôi thua đã rõ ràng. Công đoàn Văn phòng Trung ương phải nộp con gà trống nuôi được cho công đoàn Văn phòng Phủ Chủ tịch. Nhờ có rau tăng gia mà cả mùa đông nhà bếp đủ rau nấu, không phải ra dân mua. Buổi tổng kết thật vui vẻ. Tôi đứng dậy xin nhận thua. Bác nói chuyện với anh em: khi tăng gia, các cô, các chú phải lưu ý bốn điều kiện: giống, cần, phân, nước. Giống: nên chọn loại rau trồng một lần, ăn nhiều lần, củ cải dễ trồng, năng suất cao, nhưng chỉ được ăn một lần thì không bằng cải mào gà, trẻ lâu, tỉa ăn được nhiều lần. Cần: người trồng rau phải chăm chỉ, chọn đúng thời vụ trồng loại rau cho hợp khí hậu, rau mới tốt. Vun xới phải đúng cách. Cải mào gà khi tốt cứ 10 ngày xới một lần cho rễ con đứt, chúng ra nhiều nhánh rễ hơn và hút được nhiều phân bón, muối khoáng trong đất. Phân: phải chọn loại phân bón thích hợp. Cải canh rất hợp nước tiểu pha loãng. Thứ phân tươi chú Thông bón cũng tốt đấy nhưng mất vệ sinh lắm. Nước: phải tưới đều và tưới đủ độ ẩm rau mới trẻ lâu và xanh tốt.

Lần ấy thua Bác, tôi hết chủ quan và rút được bài học mới về tăng gia.

Theo: Hồ Vũ
(Nguồn: Website điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Nguyễn Ái Quốc với Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3

Cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phát triển tột bậc, nhất là ở Mỹ và các nước Tây Âu, nhiều phụ nữ và trẻ em phải làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, bị chủ tư bản bóc lột và trả lương rẻ mạt, đời sống vô cùng cực khổ, khó khăn. Căm phẫn trước sự áp bức đó, ngày 8-3-1899, tại hai thành phố Chi-ca-gô và Niu-óoc (Mỹ) một cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nữ công nhân ngành dệt may đã nổ ra đòi tăng lương, giảm giờ làm và cuối cùng buộc bọn chủ tư sản phải nhượng bộ.

Tháng 2-1909, lần đầu tiên phụ nữ khắp nơi trên nước Mỹ tổ chức mít tinh “Ngày Phụ nữ”, biểu tình rầm rộ đòi quyền bình đẳng. Những cuộc đấu tranh đầu tiên của nữ công nhân Mỹ đã có tiếng vang lớn, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của phụ nữ lao động trên toàn thế giới. Trong phong trào đấu tranh lúc bấy giờ, xuất hiện nữ chiến sĩ cách mạng lỗi lạc người Ðức là bà Cơ-la-ra Det-kin. Cơ-la-ra Det-kin sinh ra trong một gia đình nhà giáo ở vùng nông thôn Ai-xuê nước Đức, lớn lên Cơ-la-ra học tại một trường tư thục ở Lai-xích.

Cơ-la-ra Det-kin

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Cơ-la-ra Zet-kin hoạt động trong phong trào công nhân và sau đó gia nhập Đảng xã hội dân chủ Đức. Vì bị khủng bố và truy lùng, từ năm 24 tuổi, Cơ-la-ra sang nước ngoài hoạt động, trở thành một chiến sĩ cộng sản, chủ bút của tạp chí Bình đẳng do chính bà sáng lập năm 1890.

Năm 1907, Đại hội Phụ nữ quốc tế được triệu tập theo đề nghị của Cơ-la-ra Det-kin, sau đó một tổ chức quốc tế của phụ nữ ra đời và Cơ-la-ra được bầu làm Bí thư đầu tiên. Năm 1910, theo sáng kiến của bà, Hội nghị Phụ nữ quốc tế họp tại Cô-pen-ha-ghen (Đan Mạch) đã lấy ngày 8-3 hằng năm làm ngày đấu tranh cho quyền tự do, bình đẳng của phụ nữ trên toàn thế giới.

Trong thời kỳ diễn ra nhiều hoạt động đấu tranh sôi nổi của phụ nữ thế giới nhằm giành quyền bình đẳng, Nguyễn Tất Thành đang bôn ba ở hải ngoại tìm đường cứu nước, Người phải làm thuê nhiều công việc nặng nhọc để kiếm sống ở các nước Mỹ, Anh, Pháp.

Tháng 10-1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội Tua và gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Tại Đại hội này, Cơ-la-ra Det-kin với cương vị là Ủy viên Đoàn Chủ tịch của Quốc tế Cộng sản đã đọc một bài diễn văn quan trọng. Bài diễn văn của Cơ-la-ra đã làm cho Nguyễn Ái Quốc hiểu thêm về Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười Nga, cũng như mối hiểm họa mà bọn cơ hội đang rắp tâm gây ra cho giai cấp vô sản thế giới; đồng thời cũng giúp Người biết thêm tình hình thế giới, phong trào phụ nữ quốc tế và những thành quả sau mười năm thành lập. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã làm quen với Cơ-la-ra. Với tình hữu ái vô sản và nhất là sự cảm phục tấm lòng yêu nước của Người, bà đã giúp Nguyễn Ái Quốc học tiếng Đức và trao đổi nhiều vấn đề về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa của giai cấp công nhân và nhân dân hai nước Đức, Việt.

Năm 1913, Nguyễn Ái Quốc gặp lại Cơ-la-ra tại Mát-xcơ-va, hai chiến sĩ cộng sản đã kể cho nhau nghe chặng đường hoạt động cách mạng đầy gian khó nhưng vinh quang của mình, càng thêm gắn bó hơn về trách nhiệm của mỗi người đối với Quốc tế Cộng sản và phong trào công nhân thế giới. Giữa thập niên 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc sang hoạt động cách mạng ở Liên Xô, Trung Quốc, từ những trao đổi cùng Cơ-la-ra, Người đã tích lũy được nhiều tư liệu quý để viết bài về “Phụ nữ quốc tế” với 3 nội dung: Vì sao lập ra Phụ nữ quốc tế? Lịch sử Phụ nữ quốc tế thế nào? Cách tổ chức của Phụ nữ quốc tế ra sao?

Phần đầu của bài “Phụ nữ quốc tế”, Người đã viết những lời thật giản dị mà thấm thía:

“Ông Các Mác nói rằng: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tấn bộ ra thế nào”.

Ông Lênin nói: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”…

Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia. Cách mệnh Pháp có những người như cô học trò Sác-lốt Coóc-đây rút dao đâm chết người tể tướng hung bạo, bà Luy Mi-sen ra giúp tổ chức Pa-ri Công xã. Khi Nga cách mệnh, đàn bà ra tình nguyện đi lính; sau tính lại lính cách mệnh đàn bà chết hết 1.854 người. Nay cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào. Vậy nên muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nước”.(*)

Tại Đại hội Phụ nữ Quốc tế lần thứ 3 ở Mát-xcơ-va năm 1924, với tư cách là đại biểu của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đến dự, đại diện cho ý chí và nguyện vọng quần chúng lao động xứ Đông Dương, Người đã gặp lại Cơ-la-ra Dét-kin và nhiệt liệt chúc mừng bà được bầu làm Tổng Bí thư của Phụ nữ quốc tế. Bà Cơ-la-ra còn được Hội nghị lần thứ nhất của Hội quốc tế Cứu tế đỏ bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương của Hội, ngoài việc cứu tế nạn nhân chiến tranh, thiên tai, Hội còn bênh vực cho các chiến sĩ cách mạng từ nhiều nước khác nhau. Sau này, chính Hội quốc tế Cứu tế đỏ do Cơ-la-ra đứng đầu đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc cứu Nguyễn Ái Quốc thoát khỏi nhà tù đế quốc Anh ở Hương Cảng.

Sau những năm tháng đấu tranh không biết mệt mỏi, năm 1933, Cơ-la-ra Dét-kin, người sáng lập ra Ngày quốc tế Phụ nữ 8-3 đã trút hơi thở cuối cùng trên quê hương Xô-viết anh hùng. Năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm các nước Đông Âu, trong buổi gặp đồng chí Vin-hem Pích, Chủ tịch Đảng Xã hội thống nhất Đức, Người đã kể lại với tấm lòng khâm phục vô hạn về tinh thần chiến đấu kiên cường vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng phụ nữ của bà Cơ-la-ra Dét-kin, người phụ nữ Đức dũng cảm đã dành trọn cuộc đời tranh đấu vì nhân loại cần lao.

——

(*) HCM toàn tập, NXBCTQG-ST, Hà Nội 2002, tập 2, tr 288.

Nguyễn Thanh Hoàng
Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ

xaydungdang.org.vn

Sáng mãi đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh

Nhân dịp kỷ niệm 77 năm Ngày thành lập Đảng (3-2-2007), Bộ Chính trị đã quyết định tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn dân. Học tập đạo đức Hồ Chí Minh là một chủ trương lớn, vừa mang tính cấp bách trong bối cảnh tình hình hiện nay, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Người kiến trúc nên Nhà nước Cách mạng Việt Nam. Nói đến Bác, là chúng ta nhớ ngay đến tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời của Người. Một nhà lãnh đạo đã nói: Để hiểu sự nghiệp Hồ Chí Minh, chúng ta hãy đến với con người Hồ Chí Minh. Hồ Chủ tịch là một thiên tài kiệt xuất. Cái cốt tử trong thiên tài của Bác là đạo đức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh vui Xuân Mậu Thân cùng với các cháu nhi đồng.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc và người cộng sự gần gũi nhất của Bác Hồ đã nói: “Ở gần Bác, tôi thấy một nét nổi bật của Bác là rất coi trọng phẩm chất con người, suốt đời chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ và nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập ra thời đại mới của dân tộc Việt Nam, hình thành con người Việt Nam mới với những giá trị tư tưởng và tinh thần cao quý. Xã hội Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh là xã hội đề cao các giá trị tinh thần, những quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Trong xã hội ấy, tiêu biểu là những chiến sĩ dũng cảm bảo vệ Tổ quốc, những con người lao động nhiệt tình xây dựng đất nước, những con người quên mình chăm lo cho lợi ích chung của nhân dân.

Những lần gặp gỡ, nói chuyện với cán bộ và nhân dân, Bác đã nói: “Cũng như sông, có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo… Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Ngày 19-5-1946, một đoàn cán bộ của Ban vận động Đời sống mới vào chúc thọ Bác. Nhân lúc trò chuyện, một nhà văn lão thành thưa với Bác:

– Thưa cụ, hôm nay đến chúc thọ cụ Chủ tịch, xin cụ cho Ban đời sống mới chúng tôi một khẩu hiệu, để Ban chúng tôi vận động nhân dân thực hiện.
Bác Hồ vui vẻ, Người nói:

– Khẩu hiệu ư ? Thế thì khẩu hiệu đó là: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”

Sau một phút suy nghĩ, nhà văn lão thành nói:

– Thưa cụ Chủ tịch, khẩu hiệu đó rất hay, nhưng nghe nó cổ cổ thế nào ấy ạ!

Bác Hồ cười:

– Ơ hay, sao lại cổ ? Các cụ ta xưa nay ăn cơm, bây giờ chúng ta ăn vẫn ngon. Cái hay của tổ tiên thì chúng ta phải học.

Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư là những phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hàng ngày của con người. Vì vậy, Bác Hồ đã đề cập đến phẩm chất này nhiều nhất, từ tác phẩm Đường Kách Mệnh đến Bản Di chúc cuối cùng của Người.

Trong bài báo “Cần kiệm liêm chính” in trên 4 số Báo Cứu Quốc tháng 5 và tháng 6 năm 1949, Bác Hồ viết: “Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần. Có Kiệm mới Liêm được”. Bác dẫn lời: “Cụ Khổng Tử nói: Người mà không liêm, không bằng súc vật. Cụ Mạnh Tử nói: Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy ! Vì thế cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”.

*

Một điểm nổi bật trong đạo đức cách mạng của Bác Hồ, đấy là lòng thương yêu, quý trọng đối với nhân dân. Có thể nói, mọi suy nghĩ, mọi hành động của Bác đều vì lợi ích của nhân dân. Người luôn đặt đời sống của mình trong đời sống của nhân dân và suốt đời gắn bó với nhân dân. Theo số liệu của Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh thì trong 10 năm (1955 – 1965) Bác Hồ đã đi xuống cơ sở hơn 700 lần.

Một nhà văn đã viết: “Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và có lẽ cả thế giới, có một vị Chủ tịch nước lấy chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ, bên cạnh cái ao nuôi cá làm “cung điện” của mình. Lại nhớ khi ngôi nhà sàn làm xong, Bác tổ chức liên hoan, mời anh em công nhân ăn kẹo, uống nước. Bác nói:

– Cái nhà Toàn quyền kia hàng trăm người phải làm trong 6 năm mới xong, còn nhà của Bác các chú chỉ làm trong 1 tháng là xong. Thế là nhanh và tốt. Nhưng còn một khuyết điểm, các chú có biết là khuyết điểm gì không?
Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh thưa với Bác:

– Thưa Bác, so với ý Bác dặn thì ngôi nhà có to hơn ạ.

Bác bảo:

– Chú nói đúng. Nước ta chưa giàu, dân ta còn nghèo, chưa đủ nhà ở. Bác ở thế này là tốt lắm rồi. Các chú không phải lo cho Bác. Rồi Bác nói nhỏ với kiến trúc sư:

– Chủ tịch nước ở cái nhà bé thế này, để Chủ tịch tỉnh ở cái nhà to hơn một chút là vừa!

Mùa rét, Bác Hồ có một cái áo bông của đồng bào biếu. Bác mặc đã nhiều năm, bông đã xẹp không ấm nữa, cái vỏ bọc ngoài đã phai màu, lại rách ở vai. Bác bảo vá lại cho Bác. Nhân dịp này, anh em không dám nói thay áo khác, chỉ xin Bác cho thay cái vỏ bọc ngoài cho mới. Bác bảo:

– Này chú ạ, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá thế này là cái phúc của dân đấy. Sao chú lại dám bỏ cái phúc ấy đi?

Bác còn nói thêm: “Bây giờ nhiều cụ già ở nông thôn có được cái áo bông này là quý lắm đấy chú ạ”. Hiện nay cái áo bông vá vai ấy vẫn còn trong bảo tàng Hồ Chí Minh.

Bác cũng thường nói với anh em cấp dưỡng:

– Các chú làm thức ăn cho Bác ít thôi. Bác ăn không hết, để người khác ăn thì không nỡ, mà đổ đi thì phí.

Hồi Bác còn ở ngôi nhà cũ của người thợ điện, thấy nóng bức, anh em ngoại giao ở nước ngoài mua gửi về biếu Bác một chiếc điều hòa nhiệt độ. Bác gọi đồng chí Vũ Kỳ lên bảo:

– Chiếc máy này tốt đấy chú ạ, các chú nên đem đến cho quân y viện hoặc trại điều dưỡng thương binh. Hôm trước, Bác đến thăm thấy các chú ấy ở nóng lắm. Còn Bác thì chưa cần, Bác ở thế này là tốt rồi.

Điều làm chúng ta cảm động là khi nói đến nhà ở, đến áo mặc, Bác đều nghĩ đến nhân dân. Một lần, một nhà văn nữ nước ngoài vào thăm khu nhà Bác ở. Lúc ấy Bác đã mất, thấy ngôi nhà giản dị quá, nhà văn xin phép được mở cái tủ áo của Bác. Và khi nhìn thấy trong chiếc tủ gỗ đơn sơ chỉ treo vẻn vẹn có vài ba bộ quần áo ka ki đã bạc màu, bên dưới là một đôi dép cao su đen… Thế là bà ta lấy khăn lau nước mắt.

Trong bài thơ “Người chẳng có gì riêng” nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Giấu mình đi, Người không làm phiền ai tất cả
Dép một đôi, áo quần vài bộ
Chỉ có trái tim bao la là tất cả gia tài
Người không một mảnh vườn riêng
Một đứa con riêng – Người chẳng có
Chỉ có vầng trăng chia đều cho cháu nhỏ
Và hát chung cùng nhân dân bài hát
Kết Đoàn!”

***

Đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh còn được thể hiện bằng tấm lòng nhân ái, yêu thương con người. Nhận được quà biếu của đồng bào, dù là chiếc áo len hay chai mật ong… Bác đều gửi biếu lại các cán bộ ở gần Bác, hoặc gửi biếu các chú thương binh. Nhận được điện thoại gọi đến, biết người quen Bác đều hỏi thăm sức khỏe rồi mới bàn công việc. Bác không bao giờ dùng chữ cho, chỉ nói tôi biếu các cụ hoặc tặng các cháu nhỏ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi Hà Bắc khi Người về thăm và chúc tết đồng bào, bộ đội. Tết Đinh Mùi. Tháng 2-1967.

Trong Di chúc của Người, ngoài việc dặn dò mọi người phải đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết nhất trí, đoàn kết và thống nhất, Bác căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Song điều làm ta phải suy nghĩ và xúc động là Bác đã dặn dò cả việc đối với những nạn nhân của xã hội cũ như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu… thì Nhà nước ta vừa phải giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên người lương thiện. Có thể nói trong muôn vàn tình thương yêu của Người, Bác Hồ không để sót một ai, không quên một ai, có quên chăng là chỉ quên mình!

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thực hiện từ ngày Kỷ niệm 77 năm thành lập Đảng (3-2-2007) cho tới hết nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng. Cuộc vận động lớn này, sẽ tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và các tệ nạn xã hội… Đây chính là những hành động thiết thực nhất để kỷ niệm ngày thành lập Đảng ta.

(Nguồn: Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Nhân cách Hồ Chí Minh và cái nhìn thời đại về văn hóa trong Đảng

Văn hóa Đảng:

Văn hóa Đảng là một phạm trù của văn hóa chính trị, hơn nữa đó là một bộ phận quan trọng chi phối khuynh hướng, tính chất của văn hóa chính trị. Theo nghĩa rộng, “Văn hoá Đảng là toàn bộ tình cảm, ý chí và hành động chính trị tích cực nhằm hình thành một Đảng có đủ sức lãnh đạo, xây dựng một xã hội mới phù hợp với mục đích nhân văn cao cả của văn hoá và khát vọng dân chủ cao đẹp của thời đại”(1). Khi đề cập đến văn hoá Đảng thì phải nói đến cả những phạm trù chính trị, tư tưởng, tổ chức và cả phương thức lãnh đạo của Đảng; xây dựng văn hoá Đảng là đổi mới, chỉnh đốn Đảng theo nguyên tắc khoa học. Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”(2), do đó cũng cần phải khẳng định Đảng ta là một Đảng có văn hóa cao ngay từ khi mới ra đời. Trải qua các thời kỳ cách mạng, các giá trị văn hóa của Đảng ta như một ánh hào quang sáng ngời, dẫn dắt xã hội Việt Nam đi đến con đường tiến bộ, văn minh của chủ nghĩa cộng sản. Mặt khác, tính văn hóa của Đảng không chỉ biểu hiện ở sự đúng đắn, sáng suốt của những đường lối, chủ trương, mà còn biểu hiện ở sự gương mẫu, tiên phong, lối sống, phẩm chất trong sáng, đạo đức cách mạng của từng cán bộ, đảng viên cụ thể. Thực tế, trong chất nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì văn hóa với tư cách là một khái niệm tổng thể nhằm chỉ những giá trị tốt đẹp toát ra từ toàn bộ cuộc đời và nhân cách vĩ đại của Người, đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều người, đồng thời đó là những giá trị quý báu để nhân loại noi theo. Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là bộ phận quan trọng hình thành nên nền tảng tinh thần của xã hội. Chính tài sản tinh thần vô giá đó là bộ phận cấu thành của văn hóa Đảng. Vì vậy, văn hóa Đảng có những giá trị bền vững và cao qúy, đó là “sự cộng sinh của bản sắc tốt đẹp của văn hóa dân tộc và văn hóa Hồ Chí Minh, cùng với những giá trị mới được xây đắp và phát triển trong thời kỳ hiện đại của cách mạng Việt Nam”(3). Có thể nói rằng, nhân cách và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đóng vai trò to lớn vào việc củng cố, bồi đắp nền tảng tinh thần xã hội và là động lực của cách mạng… Trong mối quan hệ biện chứng, văn hóa Đảng là một bộ phận của văn hóa dân tộc, văn hóa Đảng trước hết xuất phát từ nền văn hóa dân tộc, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp với tiếp thu kịp thời tinh hoa văn hóa nhân loại và xu hướng phát triển mới, tiến bộ của thời đại.

* Để nâng cao văn hóa trong Đảng:

Về lý luận, đạo đức là cốt lõi của văn hóa, mỗi thành viên trong xã hội phải rèn luyện đạo đức và lối sống. Đối với cán bộ, đảng viên phải biết phát triển và hoàn thiện văn hóa của Đảng để làm nòng cốt cho việc xây dựng những chuẩn mực đạo đức và giá trị văn hóa trong xã hội. Muốn hệ thống chuẩn mực đạo đức mới trở thành ý thức, thành tình cảm, thói quen của mỗi thành viên xã hội, phải thông qua hoạt động giáo dục đạo đức. Chỉ có thông qua hoạt động giáo dục mới có thể xác lập được quan điểm nhận thức đạo đức, hình thành năng lực ứng xử đạo đức và tính cách đạo đức theo hệ thống chuẩn mực đạo đức mới. Và cũng chỉ có thông qua hoạt động giáo dục đạo đức thường xuyên, sâu rộng mới có thể xác lập được văn hóa đạo đức xã hội chủ nghĩa cho mỗi thành viên cũng như trong toàn xã hội. Đối với người đảng viên cần đề cao giá trị đạo đức, đề cao sự tự rèn luyện, tu dưỡng trong việc chuyển văn hóa đạo đức xã hội, các giá trị xã hội tiến bộ thành văn hóa đạo đức cá nhân… Nói cách khác, có đạo đức không chỉ phụ thuộc vào tri thức đạo đức mà còn phụ thuộc vào sự lựa chọn giá trị ở mỗi cán bộ, đảng viên.

Có một thực tế đáng lo ngại hiện nay là “nhiệm vụ xây dựng văn hóa Đảng, trong bộ máy nhà nước chưa được triển khai tích cực, có nơi còn bị xem nhẹ; không ít cán bộ, đảng viên chưa được nêu tấm gương văn hóa cho quần chúng”(5). Trước sự suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian gần đây là biểu hiện của sự suy đồi về chính trị, là một dạng thái phản giá trị, phản văn hóa. Để tránh rơi vào thái cực đó, người cán bộ, đảng viên phải có văn hoá chính trị, tức là vững vàng về chính trị tư tưởng, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân, phải thực hiện đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo. Mặt khác, phải thường xuyên, tự giác học tập rèn luyện chủ trương, đường lối của Đảng; phải nâng cao sự lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, đặc biệt cơ sở Đảng và đảng viên như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn “Mỗi đảng viên và cán bộ phải phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch”(6). Cốt lõi các nhân tố cấu kết thành văn hóa Đảng ở người đảng viên không chỉ là sự thấm nhuần lý tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng, lối sống giản dị; mà còn phải có lề lối làm việc, phương pháp công tác khoa học, sâu sát nhân dân, thái độ giao tiếp văn minh, lịch sự. Do đó, vấn đề văn hóa Đảng đã trở thành cốt cách của người cộng sản Hồ Chí Minh.

* Tài liệu tham khảo:

(1) Tạp chí Cộng sản số 18, tháng 9/2004, trang 17.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, 1995, tập 12, trang 557 – 558.
(3) Tạp chí Cộng sản số 24, 12/2006, trang 47.
(4) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, 2001, trang 83.
(5) Các Nghị quyết của TW Đảng, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2004, trang 241.
(6) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1995, tập 5, trang 252 – 253.
(7) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1993, trang 130.

Báo Lâm Đồng

dalat.gov.vn

ĐẶT CON NGƯỜI Ở VỊ TRÍ TRUNG TÂM: Nét đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh

Có thể nói một trong nhưng nét độc đáo nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là tính hệ thống đồng bộ của nó. Hệ thống đồng bộ trong những quan hệ tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, chuyển hóa thành nhau của chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tức là các chiều cạnh của cuộc sống xã hội. Và trong tổng thể xã hội ấy, Hồ Chí Minh đặt con người ở vị trí trung tâm. Đó là nét đặc sắc nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh. Mà như thế có nghĩa là đặc biệt coi trọng về văn hóa, vì nói đến con người chính là nói đến văn hóa.

Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình để nâng cao trình độ phát triển kinh tế của đất nước. Không coi nhẹ kinh tế, không coi nhẹ chính trị, nhưng đặc biệt coi trọng văn hóa. Cố nâng đời sống kinh tế lên cho từng người, từng nhóm người, đặc biệt cho nhóm người đang có mức sống quá thấp, để trên cái nền của đời sống vật chất được nâng cao dần lên đó, mà có điều kiện đem lại hạnh phúc cho con người. Vì vậy, văn hóa là nhân tố đặc biệt quan trọng. Văn hóa bao gồm trí tuệ, tình cảm, phẩm chất, đạo đức, tóm lại là “cuộc sống người của con người”.

Với đặc sắc tư tưởng nổi bật như vậy, Hồ Chí Minh đã mở ra con đường và phương pháp xây dựng xã hội mới của Việt Nam, cũng có thể có giá trị đối với các nước đang phát triển. Thấy khoa học, thấy công nghệ, thấy kinh tế, thấy lý trí và trí tuệ, nhưng những cái đó không phải cái đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh. Chỗ đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh là nhận thức sâu sắc về tổng thể con người, về văn hóa. Tổng thế và văn hóa, tức là con người. Đó chính là tầm nhìn và cách tư duy để tìm kiếm con đường hiện đại, có thể rút ngắn đoạn đường, đi tắt để phát triển.

Quán triệt điểm đặc sắc ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh, thì về kinh tế sẽ tránh rơi vào nền kinh tế thị trường hoang dã, chộp giật. Mà là, làm kinh tế, làm chính trị là để nhằm tôn vinh dân chủ, tức là người dân và con người. Nếu làm kinh tế thị trường đơn thuần với chính trị với hàm nghĩa những mưu lược, thì mục tiêu dù đạt được cũng dễ làm mất văn hóa, dễ “nuốt trôi” mất văn hóa. Ngược lại, xuất phát từ văn hóa, tức là từ con người thì sẽ nâng cao kinh tế và chính trị lên với những nội dung văn hóa được đưa vào. Nếu hiểu sâu sắc đặc điểm nổi trội ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ giúp hình thành một hệ thống giá trị chân chính của xã hội mới.

* Từ nét đặc điểm nổi trội ấy mà nhận ra tinh thần đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại đoàn kết để xây dựng xã hội mới. Mãi mãi đại đoàn kết dân tộc. Đây là điểm độc đáo của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong tư tưởng của C.Mác, Ph. Angghen, V.I Lênin không tìm thấy điều này, hoặc nếu có đôi điều nói thoáng qua, chứ không tập trung, nổi bật như của Hồ Chí Minh.

Qua quá trình tiến lên của cách mạng, mục tiêu, động lực và lực lượng không hề có sự sắp xếp loại bỏ, thay đổi, chỉ có sự nâng cao về chất mà không bớt đi về lượng, về số tầng lớp, số người tham gia. Nghĩa là, với Hồ Chí Minh, không có chuyện một bộ phận nào đó của nhân dân, một tầng lớp xã hội nào đó nửa chừng đứt gánh, không thể cùng chung con đường mình đang đi. Không có chuyện ai đó, tầng lớp nào đó chỉ là “bạn đường một đoạn” trong cả chặng đường dài, vì họ không còn đủ điều kiện theo đến cùng nên phải thải loại ra. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có thể có những thay đổi về mục tiêu cụ thể, thay đổi về nhiệm vụ, chủ trương và phương pháp nhưng không có sự thay đổi về lực lượng cách mạng. Trong học thuyết và tư tưởng của C.Mác, Ph. Angghen, V.I Lênin có khái niệm “bạn đường một đoạn”, trong Hồ Chí Minh không hề có điều ấy.

Cũng đã có một số người vì những lý do nào đó không thể đi theo Hồ Chí Minh, trong đó có người rất đau lòng, nuối tiếc vì hoàn cảnh bắt buộc và rồi sau đó họ quay trở lại với Hồ Chí Minh. Cũng có thể nói, ai đó tự loại trừ chính mình, chứ Hồ Chí Minh không loại trừ ai. Phải lưu ý nhấn mạnh điều này vì, cũng đã có người nhân danh cách mạng đã làm hoen ố sự chân thành, thủy chung như nhất của Hồ Chí Minh với khối đại đoàn kết dân tộc.

Hồ Chí Minh thấy ra và rất coi trọng cá nhân từng người trong cộng đồng dân tộc. Điều này do nhiều nhân tố tạo thành chứ không phải chỉ là do tiếp thu được từ học thuyết của C.Mác. Nếu có tiếp thu thì là tiếp thu cái cốt lõi có giá trị nhất của học thuyết ấy bằng truyền thống về nhân văn sâu xa từ triết lý cổ đại thời Hy – La, rồi hiện đại dần lên đến thời cổ điển, phục hưng, khai sáng cho đến thời hiện đại của phương Tây. Có thể nói, truyền thống nhân văn ấy là phần rất nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi đặc biệt coi trọng cá nhân con người, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong chừng mực nào đó, là rộng hơn C.Mác. Điều này gắn liền với giá trị tinh thần Việt Nam trong truyền thống văn hóa phương Đông đối với con người. Điểm nổi bật nhất của giá trị đó chính là biểu hiện xuyên suốt trong cuộc đời, trong sự nghiệp và trong tư tưởng bản chất người, bản chất dân tộc của Hồ Chí Minh. Có được điều ấy vì Hồ Chí Minh phải sống và hoạt động trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Những đốm lửa cách mạng được nhen nhóm từ trong điều kiện rất hiểm nghèo, khắc nghiệt của chế độ thuộc địa Pháp ở Việt Nam, phải chắt chiu, trân trọng gìn giữ và phát huy từng cá nhân con người, phải coi trọng từng cá nhân con người mới có thể thổi bùng lên ngọn lửa của Cách mạng Tháng Tám và ngọn lửa kháng chiến của các cuộc kháng chiến trường kỳ trong thế kỷ XX.

*. Hồ Chí Minh nâng niu trân trọng con người, từng cá nhân con người, nhẫn nại thức tỉnh, giác ngộ, đào tạo từng người, không nề hà công sức, không quản ngại khó khăn, năng nhặt chặt bị, từng ly từng tí một góp gió thành bão. Khởi đầu từ cái cụ thể tưởng như nhỏ nhặt không đáng kể để rồi trở thành một công trình vĩ đại mang ý nghĩa thời đại, ý nghĩa lịch sử.

Đi khắp năm châu bốn biển, ôm ấp một hoài bão lớn lao về giải phóng dân tộc mình, góp phần giải phóng loài người, nhưng khi trở về lại mảnh đất của quê hương, đất nước thì lại có thể kiên trì giúp đỡ, dìu dắt, giác ngộ cho một đồng bào của mình ở miền núi, từ việc nhẫn nại dạy chữ, giảng giải về hoạt động cách mạng để người đó có thể trực tiếp tham gia rồi dần dần trở thành người cán bộ cách mạng. Không chỉ là cá biệt một người, mà nhiều trường hợp với nhiều người khác cũng đã được Hồ Chí Minh trực tiếp dìu dắt, giúp đỡ mà trưởng thành. Biết đánh giá, sử dụng và phát huy từng người cả đức và tài của họ. Trong rất nhiều trường hợp, nhất là trong những trường hợp có ý nghĩa lịch sử, thiên tài của Hồ Chí Minh thể hiện ra ở đây là chọn rất đúng và rất trúng người đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ lịch sử ấy.

*. Hồ Chí Minh thực hiện một cách mẫu mực và chân thật sự bình đẳng của các cá nhân, không hề cường điệu, phân biệt giữa người bình thường với người giữ trọng trách, người ở cương vị cao chót vót. Hồ Chí Minh thường xuyên hỏi ý kiến các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước song cũng đồng thời sẵn sàng và thành thật hỏi ý kiến những đồng chí cấp dưỡng, lái xe, bảo vệ mình gặp hằng ngày.

*. Bằng cuộc sống đầy bản sắc của riêng mình, Hồ Chí Minh biết và hiểu được theo chiều sâu bản sắc của từng người, từng hạng người để tôn trọng và giúp trau dồi bản sắc ấy ở mỗi người. Hồ Chí Minh đều rất tôn trọng cả hai mặt: một mặt là cải tạo hoàn cảnh bên ngoài trở nên hoàn cảnh có tính người như C.Mác nói, để qua đó, cải tạo con người và làm nên được bản sắc của con người mới. Một mặt khác, đi vào chiều sâu bên trong của từng con người như tâm linh dân tộc, tâm linh tôn giáo, tính chất trí thức, đặc điểm thế hệ, tâm lý cá nhân, những khát vọng, những nét bản sắc của từng cá nhân ấy.

Thật tự hào khi chúng ta có Hồ Chí Minh. Làm đúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh dân tộc ta nhất định sẽ xây dựng được đất nước ta đàng hoàng hơn, sạch sẽ hơn, to đẹp hơn.

Nguồn: tiasang online

dalat.gov.vn

Bác Hồ với chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu

Đấu tranh phòng chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu, là một nhiệm vụ quan trọng, to lớn và cấp bách hiện nay, bởi đây là nguy cơ, ảnh hưởng trực tiếp tới sự lãnh đạo của Đảng và sự ổn định, phát triển của đất nước.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới nhiệm vụ này. Người cho đây là “kẻ thù nguy hiểm”, “là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến”, nó làm hỏng tinh thần và phá hoại đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên.

Bởi vậy, Bác Hồ đã có nhiều bài nói, bài viết đề cập trực tiếp tới nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu. Người thường xuyên nhắc nhở, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân ta rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Người là hình ảnh tiêu biểu của đạo đức cách mạng, là tấm gương trong sáng về đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí và quan liêu mà mỗi người, từng tổ chức của cả hệ thống chính trị phải thường xuyên rèn luyện, học tập và noi theo.

Nhớ lại, sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Hồ Chí Minh đã sớm cảnh báo nguy cơ tham nhũng, lãng phí, quan liêu trong bộ máy và đội ngũ cán bộ. Người chỉ rõ nạn tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu, là một thứ “giặc nội xâm” rất nguy hiểm. Bởi vậy, ngay sau khi tuyên bố độc lập một ngày (ngày 3/9/1945) Người đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần làm ngay, trong đó có nhiệm vụ “giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính”.

Tiếp đó, tại phiên họp Hội đồng Chính phủ tháng 7/1952, trong bài phát biểu Người nhấn mạnh: Bệnh quan liêu, nạn tham ô, lãng phí nguồn gốc trong xã hội cũ mà ra. Chúng ta không lấy làm lạ, nhưng mấy năm sau cách mạng mà tham ô, lãng phí còn khá phổ biến trong cán bộ ta là vì giáo dục thiếu sót. Chúng ta phải sửa chữa một cách có kế hoạch, có chuẩn bị.
Người từng chỉ rõ: Để kháng chiến thắng lợi, để xây dựng nhà nước, chiến sĩ thì hy sinh xương máu, đồng bào thì hy sinh mồ hôi, nước mắt để đóng góp. Những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và của nhân dân. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám.

Vì vậy, theo Người chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như đánh giặc trên mặt trận. Đây là mặt trận tư tưởng và chính trị.

Nhớ lại trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, giám đốc nhà quân nhu – đại tá Trần Dụ Châu phạm tội tham ô, lợi dụng chức quyền biển thủ 57.950 đồng bạc Việt Nam, 449 USD, 28 tấn lụa vải xanh, nhận 20 vạn đồng tiền hối lộ của người dưới quyền, sống xa hoa, trụy lạc, kèo bé phái, gây chia rẽ nội bộ, vụ lợi riêng, nên ngày 5/9/1950 đã bị tòa án binh tối cao tuyên phạt mức án tử hình. Điều đó cho thấy sự nghiêm minh và quyết tâm của Đảng, Chính phủ, Bác Hồ trong việc đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, lãng phí. Sau vụ Trần Dụ Châu, tại phiên họp Hội đồng Chính phủ từ ngày 15 đến 17 tháng 11 năm 1950, Bác Hồ trong bài phát biểu kết luận đã căn dặn: Lúc tìm người phải tìm cả tài, cả đức, chú trọng tư tưởng. Nếu cán bộ biết thương dân, tiếc của dân thì không xảy ra việc đáng tiếc. Đồng thời phải giáo dục, cải tạo, kiểm tra cán bộ.

Cũng trong thời gian này, Bác Hồ còn có nhiều bài viết căn dặn, giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân ta thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Đồng thời Người nghiêm khắc phê phán những cán bộ phạm phải căn bệnh nguy hiểm nói trên. Đó là bài: Chống quan liêu, tham ô, lãng phí (tháng 9/1952). Người viết:

“Tất cả cán bộ đều là đầy tớ của dân.
Quan liêu là những người phụ trách mà chỉ biết yên thân.
Xa cách cán bộ, nhân dân và việc làm
Việc gì cũng nhắm mắt ký thàm
Không biết cán bộ tốt hay xấu, việc làm đúng hay không
Quan liêu “ngài” không biết đề phòng
Do đó mà tham ô, lãng phí mọc từ trong đến ngoài
Tham ô là những cán bộ chỉ lo phát “hoạnh tài”.
Đục khoét của nhân dân, bộ đội chính phủ, đoàn thể
Của ai họ cũng trộm làm của mình.
Để họ tiêu xài xa xỉ, linh đình
Tội ác ấy thật là to lớn, tâm tình ấy thật là nhuốc nhơ
Lãng phí là những cán bộ ngẩn ngơ
Không biết thương tiếc của cải và thời giờ của Chính phủ và nhân dân.
Đáng tiêu một phần thì tiêu đến 10 phần, 100 phần
Việc một người làm được, cũng kéo gấp đến 10 người, 100 người
Tham ô có tội đã đành rồi.
Tai hại đến của dân, của nước thì lãng phí cũng là tội to.
Hỡi những người quan liêu, lãng phí và tham ô!
Cần, kiệm, liêm, chính các người để ở mô cả rồi.
Đoàn thể và Chính phủ, nhân dân và bộ đội, ủy thác cho các người.
Mà các người làm hỏng việc thì tội này ai mang
Cho nên toàn dân ta phải đứng dậy hiên ngang
Quyết tâm chống quan liêu, tham ô, lãng phí trong hàng ngũ ta.
Mấy câu mộc mạc, nôm na
Xin mọi người ghi nhớ đem ra thực hành”.

Sau này, nội dung đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu còn được Người nêu lên trong nhiều bài nói, bài viết tại các Hội nghị Trung ương, ở những buổi làm việc với lãnh đạo các cấp, các ngành, đoàn thể ở Trung ương, địa phương, cũng như ở nhiều bài viết quan trọng khác! Điều đó cho thấy đây là một nội dung xuyên suốt trong cuộc đời đấu tranh hoạt động của Bác Hồ, là vấn đề được Người thường xuyên quan tâm để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và nhân dân ta.

Ngày nay, Đảng ta xác định tham nhũng là trong một quốc nạn. Đấu tranh phòng chống tham ô, tham nhũng, lãng phí là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là của từng tổ chức, của mỗi cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Đại hội X của Đảng vừa qua đã khẳng định quyết tâm: Xử lý kiên quyết, kịp thời, công khai những người tham nhũng, bất kể chức vụ nào, đương chức hay đã nghỉ hưu, tịch thu sung công tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng; những người bao che cho tham nhũng, cố tình ngăn cản việc chống tham nhũng hoặc lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu khống làm hại người khác, gây mất đoàn kết nội bộ. Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Biểu dương và nhân rộng những gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. Điều đó thể hiện Đảng ta đã nhận thức và đang quyết tâm thực hiện đúng những gì mà Bác Hồ kính yêu căn dặn, để tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo của mình, xứng đáng với niềm tin của nhân dân.

Nguồn: Báo Lâm Đồng

dalat.gov.vn

Người giúp Việt Nam tìm lại niềm tự hào dân tộc

Kỷ niệm 40 ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa, Dominique Bari, phóng viên tờ L’Humanité (Nhân Đạo), cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp, phỏng vấn sử gia Alain Ruscio, tác giả của nhiều tác phẩm và công trình nghiên cứu liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của Người.

– Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh trút hơi thở cuối cùng. Ông có thể cho biết về vai trò lịch sử của Người đối với nền độc lập của Việt Nam?

– Hồ Chí Minh đã cống hiến cả cuộc đời cho cách mạng Việt Nam, Người tìm ra con đường đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi chế độ thực dân Pháp. Công lao của Hồ Chí Minh trong việc đưa Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay và mai sau. Người là người cha của nền độc lập của Việt Nam, là người đã giúp dân tộc Việt Nam tìm lại niềm tự hào được là người Việt Nam.

Bác Hồ trong một chuyến đi công tác. (Ảnh tư liệu)

Chính vì những điều mà Người mang lại cho dân tộc Việt Nam mà người Việt Nam ngày nay vẫn vô cùng yêu mến vị lãnh tụ đáng kính mà họ thường gọi là Bác Hồ. Không dừng tại đó, hình ảnh Hồ Chí Minh đã vượt qua biên giới, lãnh thổ Việt Nam, đến nhiều quốc gia trên thế giới. Hồ Chí Minh là người đầu tiên chống lại chế độ thực dân và tuyên bố nền độc lập của Việt Nam vào ngày 2/9/1945. Điều này đã tạo nên một tiếng vang, một ý nghĩa to lớn đối với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Hồ Chí Minh được ví ngang với các lãnh tụ kiệt xuất như Gandhi, Nehru,… và nhiều lãnh tụ giải phóng dân tộc khác.

– Ông suy nghĩ gì về tư tưởng Hồ Chí Minh?

– Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng, nhưng Người không bao giờ tỏ ý muốn công bố những tài liệu lý luận của mình. Người cũng chưa từng có ý định lý luận hóa những tư tưởng của mình. Người rất thực tế, không ngần ngại bàn đến tất cả các khía cạnh của cuộc sống, chẳng hạn như: trong những thời kỳ lương thực thiếu thốn, Người khuyên bảo dân không nên để đất hoang, kêu gọi cán bộ phải gần gũi với nhân dân và không thể là những “ông quan cách mạng”. Từ những khái niệm rất cụ thể, Người phát triển thành một tư tưởng lớn về mối quan hệ giữa đảng cầm quyền với quần chúng nhân dân.

– Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa Lenin hay là người theo tư tưởng dân tộc?

– Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa Lenin là một lý luận dẫn đường sự nghiệp giải phóng dân tộc của Đảng.

Alain Ruscio là sử gia người Pháp. Ông là tác giả của hơn chục bộ sách nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, là Giám đốc Trung tâm Thông tin tư liệu VN tại Pháp, và từng là phóng viên thường trú duy nhất của tờ L’Humanité tại Việt Nam, từ năm 1978 đến năm 1980.

Alain Ruscio rất ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã viết nhiều cuốn sách về Người. Từ nhiều năm nay, ông luôn gắn bó với đất nước, con người Việt Nam thông qua nghiên cứu lịch sử Việt Nam, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam và Hồ Chủ tịch, trong đó, có các tác phẩm đã xuất bản như “Hồ Chí Minh”, “Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh”, “Sống ở Việt Nam”, “Việt Nam, lịch sử, trái đất, loài người”…

Hồ Chí Minh là một người thuộc hai đảng cộng sản trên thế giới – ĐCS Pháp và ĐCS Việt Nam. Năm 1930, Người đã thành lập một đảng hoạt động trong những điều kiện vô cùng khó khăn do Pháp đàn áp mạnh các lực lượng tiến bộ, chống lại chế độ thuộc địa. Hoạt động của Đảng tại thời điểm đó gần giống như một tổ chức quân sự. Đối với Người, Đảng phải có kỷ luật và đoàn kết. Trong thời kỳ đó, Người cũng thể hiện tinh thần bác ái với các phong trào chống thực dân trong nước.

– Vào năm 1954, Việt Nam giành độc lập nhưng đất nước bị chia cắt, vai trò của Hồ Chí Minh trong công cuộc thống nhất đất nước như thế nào?
– Năm 1954, người dân Việt Nam đau đớn vì đất nước bị chia cắt. Mỹ nhảy vào thay thế Pháp ở Đông Dương. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, người Việt Nam hiểu rằng, nếu muốn thống nhất đất nước, họ buộc phải tiến hành vào một cuộc chiến đấu mới. Điều này dẫn tới sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào năm 1960 và thắng lợi năm 1975.

– Vai trò của Hồ Chí Minh trong cuộc chiến chống lại sự chiếm đóng của Mỹ là gì?

– Hồ Chí Minh vẫn mãi là một người của sự đoàn kết và hài hòa. Người luôn coi sự đoàn kết trong ĐCS Việt Nam và sự đoàn kết của phong trào cộng sản và công nhân thế giới là điều vô cùng quý báu. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng, người Việt Nam không cho phép để xảy ra sự chia rẽ dân tộc.

Thời khắc quan trọng đã đến trong quan hệ giữa Việt Nam và phong trào cộng sản thế giới. Một đất nước đang có chiến tranh sẽ cần sự hỗ trợ từ nhiều phía. Sau chuyến thăm của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Kosygin đến Hà Nội vào tháng 2/1965, Liên Xô nhận thức được quy mô, tầm quan trọng của cuộc kháng chiến ở Việt Nam khi Mỹ bắt đẩu rải chất độc da cam, bom napalm, bom bi xuống miền Nam. Liên Xô đã quyết định giúp đỡ Việt Nam trên quy mô lớn, thông qua việc cung cấp các loại vũ khí, tên lửa đất đối không và nhiều trang thiết bị quân sự hiện đại khác. Trung Quốc cũng viện trợ cho Việt Nam những loại vũ khí hạng nhẹ, hỗ trợ hậu cần, quân tư trang và lương thực.

– Tình hình Việt Nam sau khi Hồ Chí Minh qua đời như thế nào?

– Toàn thể dân tộc Việt Nam đứng sau vị lãnh tụ của họ. Người Việt Nam vừa trải qua cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968. Cuộc tấn công này có ý nghĩa chính trị to lớn đối với dư luận quốc tế. Việt Nam đã giành được thắng lợi về ngoại giao khi đưa vấn đề Việt Nam trở thành một vấn đề quốc tế. Dư luận công chúng Mỹ đã mất thăng bằng. Johnson đã không tham gia tranh cử nhiệm kỳ hai. Nước Mỹ đã hiểu rằng, họ không thể chiến thắng trong cuộc chiến tại Việt Nam.

Nguồn: Đất Việt (theo L’Humanité).

dalat.gov.vn

Người làm báo Việt Nam học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Ảnh tư liệu

Hằng năm, vào dịp kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6), mỗi người làm báo cách mạng chúng ta lại suy ngẫm, chiêm nghiệm và tự hào vì đã có phần đóng góp xứng đáng trong sự nghiệp báo chí của Đảng, của dân tộc do Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công chăm sóc. Năm nay, chúng ta kỷ niệm 82 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam đúng vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân đang triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây chính là thời điểm thuận lợi để chúng ta noi theo tấm gương đạo đức của Bác, thực hiện có hiệu quả 9 điều “Quy định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(1). Từ quan điểm trên của Người, đạo đức nghề nghiệp được hiểu là phẩm chất tốt đẹp nhất, là gốc của các vấn đề trong cuộc sống, là nền tảng hình thành pháp luật, là phương tiện điều chỉnh các mối quan hệ xã hội của người làm báo Việt Nam mà phạm trù pháp luật không điều chỉnh được. Thực hiện đúng quy định đạo đức nghề nghiệp, người làm báo Việt Nam sẽ tránh được những biểu hiện tiêu cực trong cơ chế thị trường, giữ vững lòng tin của nhân dân, của xã hội đối với lực lượng báo chí cách mạng nói chung và đối với mỗi người làm báo nói riêng.

Vấn đề hàng đầu Bác đòi hỏi các nhà báo là phải có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức tốt đẹp. Trong thư gửi anh em văn hoá và trí thức Nam bộ ngày 25-5-1947, Người viết: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà”(2). Để thực hiện sự nghiệp “Phò chính, trừ tà”, người làm báo phải tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; luôn gắn bó với nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân; hành nghề trung thực, khách quan, tôn trọng sự thật; sống lành mạnh, trong sáng, không lợi dụng nghề nghiệp để vụ lợi và làm trái pháp luật; gương mẫu chấp hành pháp luật, làm tròn nghĩa vụ công dân, làm tốt trách nhiệm xã hội; bảo vệ bí mật quốc gia, giữ bí mật cho người cung cấp thông tin; tôn trọng, đoàn kết, hợp tác giúp đỡ đồng nghiệp trong hoạt động nghề nghiệp; thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, nghiệp vụ, khiêm tốn cầu tiến bộ; giữ gìn và phát huy văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các nền văn hoá khác.

Trung thành với Đảng, với nhân dân là phẩm chất cao quý nhất của người làm báo cách mạng. Lòng trung thành hướng mọi hoạt động của người làm báo tới việc đảm bảo lợi ích của Đảng, của nhân dân, của chế độ. Nó giúp mỗi người làm báo lựa chọn phạm vi hoạt động, phương thức hành nghề, đối tượng phản ánh, tuyên truyền; xác lập phong cách, lập trường, quan điểm, tích luỹ vốn sống. Lòng trung thành khiến chúng ta không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi đạo đức nghề nghiệp để có đủ điều kiện làm việc một cách tốt nhất, hiệu quả nhất vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Người làm báo phải luôn gắn bó với nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ, tức là người làm báo từ cấp trên đến cấp dưới đều là đầy tớ của nhân dân, đều phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân. Người làm báo càng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; yêu kính nhân dân; tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân; nắm vững quan điểm của Đảng, đi đúng đường lối quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đảng ta là đảng lãnh đạo cách mạng. Báo chí là công cụ lãnh đạo của Đảng, ngoài lợi ích của nhân dân, người làm báo cách mạng không có lợi ích nào khác. Vì vậy, người làm báo phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân. Tại Đại hội lần thứ hai của Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 16-4-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền, giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”(3).

Là một nhà báo lớn, Người ý thức rất rõ ràng về nhiệm vụ tuyên truyền của báo chí, đồng thời, Người khẳng định, tuyên truyền phải đảm bảo tính chân thực. Khi nêu gương người tốt, việc tốt phải: “Viết giản dị thôi và phải đúng sự thật, không được bịa ra”(4). Mặt khác, “Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn. Nêu cái hay, cái tốt, thì phải có chừng mực, chớ phóng đại. Có thế nào nói thế ấy… Phê bình thì phải phê bình một cách thật thà, chân thành, đúng đắn; chứ không phải để địch lợi dụng để nó phản tuyên truyền”(5).

Người làm báo phải sống lành mạnh, trong sáng, không được lợi dụng nghề nghiệp để vụ lợi và làm trái pháp luật. Vấn đề này liên quan đến đạo đức, lối sống và khả năng rèn luyện, tu dưỡng của người làm báo. Đạo đức, lối sống của người làm báo không có gì khác đối với mọi cán bộ, đảng viên, đó là “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, mỗi cán bộ, phóng viên, biên tập viên mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong cơ quan báo chí sẽ không có người vi phạm đạo đức và vi phạm pháp luật; đồng thời môi trường báo chí cũng trở nên trong sạch hơn. Phải đổi mới cách nghĩ, cách làm việc. Phải kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực từ trong cơ quan đến ngoài xã hội. Làm việc gì cũng phải công khai, nhất là về việc chọn lựa tin bài, về tài chính, về thu nhập. Không công khai, không rõ ràng khiến cho người ta tưởng có cái gì đó không bình thường nên nghi ngờ và dẫn đến mất đoàn kết. Phải lấy đoàn kết làm trọng. Nhưng đoàn kết không phải là dĩ hoà vi quý, thủ tiêu đấu tranh. Phải dựa vào quy chế cơ quan và pháp luật của Nhà nước. Nếu thấy đồng chí mình có việc gì chưa rõ, trước hết phải tìm hiểu, nếu đồng chí đó không chịu trả lời hay không chịu làm rõ, lúc đó mới dùng đến tổ chức và các biện pháp mang tính định chế để yêu cầu đồng chí mình trả lời một cách tường tận, làm rõ. Khi tìm hiểu phải thiện chí, đừng vội quy chụp, như vậy mới đảm bảo yêu cầu đoàn kết. Phải biết tôn trọng đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên và những người tham gia tạo nên sản phẩm. Việc giải quyết lương, thù lao, nhuận bút không phải là sự ban ơn mà chính là sự cảm ơn của người được Nhà nước giao quyền là chủ sử dụng lao động đối với người lao động. Phải khẩn trương tạo nguồn kinh phí để chi trả lương, thù lao, nhuận bút cho người lao động. Làm cho tờ báo ngày càng hấp dẫn và hay, chiếm được tình cảm của bạn đọc trong cả nước, đồng thời với củng cố, phát triển cơ quan, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đội ngũ cán bộ, phóng viên, cộng tác viên, công nhân viên là nhiệm vụ thường xuyên của mọi thành viên trong cơ quan báo.

Người làm báo phải gương mẫu chấp hành pháp luật, làm tròn nghĩa vụ công dân, làm tốt trách nhiệm xã hội; bảo vệ bí mật quốc gia, nguồn tin và giữ bí mật cho người cung cấp thông tin; tôn trọng, đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ đồng nghiệp trong hoạt động nghề nghiệp; thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, nghiệp vụ, khiêm tốn, cầu tiến bộ; giữ gìn và phát huy văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa các nền văn hoá khác. Người làm báo có lợi thế là được Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn quan tâm, giúp đỡ, tạo hành lang pháp lý để hành nghề một cách có hiệu quả nhất. Trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, phải không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng nội dung và hình thức sản phẩm báo chí đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Cả tập thể vươn lên. Từng thành viên vươn lên, coi sự đoàn kết là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới phải thường xuyên, cụ thể, chặt chẽ, thông tin kịp thời. Mỗi tổ chức Hội Nhà báo phải thật sự phát huy vai trò là tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp – mái nhà chung của những người làm báo Việt Nam.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, 82 năm qua, các thế hệ nhà báo cách mạng Việt Nam luôn đi đầu trong việc định hướng tư tưởng, chuyển tải quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đến với quần chúng, tập hợp, giác ngộ quần chúng, xây dựng lực lượng, tiến hành thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, đưa đất nước đi lên theo con đường XHCN. Báo chí cách mạng Việt Nam và những người làm báo cách mạng Việt Nam trước sau luôn kiên định lòng trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng và của dân tộc. Cội nguồn sức mạnh của báo chí cách mạng Việt Nam là sự tiếp nối và nhân lên truyền thống dân tộc Việt Nam anh hùng, nghìn năm văn hiến, kết hợp với những giá trị tiên tiến của thời đại được biểu hiện thành giá trị đạo đức Hồ Chí Minh. Kế thừa truyền thống vẻ vang của các thế hệ nhà báo cha anh, hơn 16.000 nhà báo Việt Nam hôm nay càng thêm vững vàng hơn trong công tác tuyên truyền nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; phát huy sức mạnh toàn dân tộc; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng chậm phát triển. Dù làm việc ở bất cứ cơ quan báo chí nào, những người làm báo cách mạng Việt Nam cũng tiếp tục phấn đấu để có những tác phẩm có giá trị, hấp dẫn, đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích, định hướng, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân, chiếm được cảm tình của đông đảo công chúng.

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.252. (2) Sđd, tr.131. (3) Sđd, tập 9, tr.414. (4) Sđd, tập 12, tr.559. (5) Sđd, tập 7, tr.118.

Lê Văn Thiềng Trưởng Ban công tác hội
Hội Nhà báo Việt Nam

xaydungdang.org.vn