Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Phối hợp hiệp đồng tiến công và nổi dậy ở Bình Dương

QĐND – Chấp hành chủ trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, ngay từ cuối năm 1967, Tỉnh ủy Bình Dương chỉ đạo các huyện ủy, thị ủy đẩy mạnh chiến tranh du kích; xây dựng căn cứ và kế hoạch hiệp đồng; tổ chức lực lượng các cơ quan dân chính, đảng gọn nhẹ, dễ cơ động; tổ chức các trạm giao liên; chủ động bảo đảm “luồn sâu, lót sẵn” hậu cần, vũ khí trang bị; huấn luyện các phương án chiến đấu trong thành phố cho bộ đội khẩn trương chuẩn bị cho tiến công và nổi dậy.

Tiểu đoàn Phú Lợi nhận cờ quyết thắng khi đánh vào các mục tiêu ở Thị xã Thủ Dầu Một. Ảnh tư liệu.

Nhiệm vụ được Tỉnh ủy Bình Dương xác định cho các lực lượng là thọc sâu tiếp sức cho biệt động đánh chiếm các mục tiêu quan trọng; phối hợp với quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ, trên hai hướng là nội đô Sài Gòn và thị xã Thủ Dầu Một. Để công tác lãnh đạo chỉ đạo sát nhiệm vụ và thực tế chiến đấu, Tỉnh ủy tổ chức hai sở chỉ huy tiền phương để chỉ đạo trực tiếp các lực lượng trên từng hướng. Ban chỉ huy tiền phương 1 có nhiệm vụ chỉ huy lực lượng đánh chiếm các mục tiêu địch trong nội đô Sài Gòn; Ban chỉ huy tiền phương 2 trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn Phú Lợi (K4), Tiểu đoàn 2 (K2) và các lực lượng tại chỗ giải phóng thị xã Thủ Dầu Một.

Đúng 0 giờ ngày 31-1-1968, quân và dân Bình Dương đồng loạt nổ súng tiến công. Tại thị xã Thủ Dầu Một, 3 giờ sáng 1-2-1968, Tiểu đoàn Phú Lợi (K4) cùng đại đội đặc công, biệt động thị xã nổ súng đánh chiếm Thành Công Binh. Tiểu đoàn 2 tiến công Ty Cảnh sát, vị trí đóng quân của một tiểu đoàn ngụy đóng dã ngoại… Tuy nhiên, do thiếu yếu tố bất ngờ nên địch phản kích dữ dội bằng trực thăng vũ trang và thiết giáp. Sau khi đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, xét tương quan lực lượng bất lợi, ngay trong đêm, lực lượng ta rút ra vị trí tập kết. Tiểu đoàn 2 rút ra tổ chức phòng ngự tại Xóm Guốc đã anh dũng chiến đấu đánh bật gần 20 đợt phản kích của địch… Trước tình hình mới, Tỉnh ủy chủ trương sử dụng LLVT phối hợp với du kích tác chiến vùng ven, tiến công tiêu diệt và bức rút đồn bốt địch, làm chủ các ấp Chánh Trong, Lò Chén…

Tại Lái Thiêu, Dĩ An, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, các Huyện ủy, Huyện đội sử dụng du kích cùng bộ đội địa phương tiến công vào các vị trí then chốt của địch trong khi khu quân sự và căn cứ quân ngụy, pháo kích căn cứ Lữ đoàn 3 Mỹ; treo cờ, rải truyền đơn, hỗ trợ quần chúng nổi dậy đấu tranh, phá rã, phá banh nhiều ấp chiến lược.

Bằng phương châm đúng đắn, quyết tâm cao, nên mặc dù địch có ưu thế về quân số, hỏa lực, không quân, song cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 do Tỉnh ủy Bình Dương lãnh đạo vẫn giữ được yếu tố bất ngờ. Lực lượng vũ trang địa phương đã đánh thiệt hại nặng 6 tiểu đoàn Mỹ và chính quyền Sài Gòn, bức rút hàng loạt đồn bốt, phá nhiều ấp chiến lược; làm tan rã bộ máy kìm kẹp ở nông thôn, vùng giải phóng mở rộng áp sát thị xã và Sài Gòn, giành thắng lợi mang ý nghĩa quan trọng.

TRẦN VĂN TOẢN
qdnd.vn

Chủ động, kịp thời đáp ứng tốt yêu cầu tác chiến

Bảo đảm kỹ thuật xe-máy trong dịch Đường 9-Khe Sanh

QĐND Online – Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh diễn ra từ ngày 20-1 đến 15-7-1968, là chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, dài ngày trên địa hình rừng núi vào tập đoàn cứ điểm mạnh của địch ở khu vực Đường 9 – Khe Sanh tỉnh Quảng Trị, nhằm thu hút, giam chân, tiêu diệt một bộ phận lực lượng quân Mỹ và Quân đội Sài Gòn, phá vỡ một phần tuyến phòng ngự Đường 9 của địch, phối hợp với cuộc tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trên toàn miền Nam.

Để phục vụ chiến dịch thắng lợi, hậu cần chiến dịch đã tổ chức bảo đảm kỹ thuật 2.578 xe máy của các sư đoàn bộ binh (304, 320, 324, 325); các trung đoàn pháo binh (45, 84, 164, 204, 675), pháo phòng không (218, 282, 241), công binh; các tiểu đoàn đặc công, tăng PT76, thông tin, hóa học, công binh, … Trong đó, xe vận tải kéo pháo là 1.697 chiếc, xe chuyên dùng 392, xe xích 489…Theo yêu cầu nhiệm vụ, trước ngày nổ súng cần có 881 ô tô, 160 xe xích, 33 xe tăng và 130 trạm nguồn điện được huy động tập trung phục vụ hai hướng mặt trận của chiến dịch: Hướng Đông có 692 ô tô, 121 xe xích, 11 xe tăng và 92 trạm nguồn điện. Hướng Tây có 189 ô tô, 39 xe xích, 22 xe tăng và 58 trạm nguồn điện. Khó khăn khi bảo đảm xe – máy ở mặt trận hướng đông là hầu hết phương tiện đã hành quân xa và chiến đấu dài ngày ở các mặt trận B5, Vĩnh Linh… nên số lượng hư hỏng lớn, một số xe hỏng chưa thu hồi về nơi tập trung. Ở mặt trận hướng Tây, đa số xe – máy mới được trang bị, nhưng do hành quân đường dài tới khu vực tập kết, mật độ xe đông, đường xá hẹp và xấu, nhất là đường cơ động kéo pháo lên trận địa, địch đánh phá ác liệt nên hư hỏng, tổn thất nhiều. Điển hình là xe – máy của Trung đoàn pháo binh 675 hành quân quãng đường 1.300km, qua 2.014 khúc “cua”, 1.007 cầu ngầm, nhiều dốc cao từ 12 đến 150m, qua hơn 100 trọng điểm địch đánh phá.

Giữa tháng 12-1967, lực lượng xe – máy theo bố trí của mặt trận triển khai tại các địa điểm và đến cuối tháng 12-1967 bắt tay vào tiến hành công việc. Mặt trận hướng Đông và hướng Tây tiến hành kiểm tra xác định đúng chất lượng kỹ thuật toàn bộ số xe – máy hành quân vào chiến trường. Toàn chiến dịch duy trì chế độ bảo dưỡng định kỳ đối với số xe, bảo dưỡng phân đoạn ở trận địa, ở bãi xe; sửa chữa dự phòng trước khi vào chiến đấu; thực hiện hỏng đâu sửa đấy; phát hiện kịp thời khắc phục những khó khăn vướng mắc. Ngoài lượng phụ tùng vật tư cần thiết, chiến dịch dự trù thêm 20%, Cục Quản lý xe – xăng cung cấp cụm, vật tư lẻ sửa chữa vừa và nhỏ cho chiến dịch, Phòng xe – xăng chiến dịch bảo đảm vật tư sửa chữa nhỏ cho đơn vị.

Việc tổ chức kho vật tư xe – máy nằm trong hệ thống kho tàng và căn cứ hậu cần do Bộ Tư lệnh chiến dịch xác định. Dự kiến có khoảng 230 tấn phụ tùng, vật tư xe – máy được bố trí ở các kho mặt trận hướng Đông 100 tấn; kho trung chuyển 100 tấn và kho mặt trận Hướng Tây 30 tấn. Ở phía sau, các kho chiến dịch chuẩn bị đến trước ngày nổ súng một lượng lớn vật tư, sẵn sàng chuyển lên bổ sung dự trữ cho đơn vị. Các trạm sửa chữa xe – máy chiến dịch bố trí ở mặt trận hướng Đông (3 trạm), mặt trận Hướng Tây (1 trạm), có nhiệm vụ sửa chữa xe – máy cho tất các các đơn vị tham gia chiến dịch. Các đơn vị pháo mặt đất, pháo cao xạ, tăng thiết giáp đều có trạm sửa chữa tổng hợp được trang bị xe công trình sửa chữa….

Quá trình chuẩn bị chiến dịch, các trạm tích cực đón nhận sửa chữa xe – máy cho một số đơn vị mới hành quân vào và thường xuyên cơ động các tổ, đội sửa chữa vũ khí xuống giúp đơn vị kiểm tra, sửa chữa tại chỗ; bổ sung biên chế, vật tư và dụng cụ đồ nghề sửa chữa nhỏ cho các trạm sửa chữa của đơn vị. Kết quả, trong giai đoạn này tại mặt trận Hướng Đông đã sửa chữa vừa 33 xe và 3 máy, sửa chữa nhỏ 126 xe và 4 máy, hệ số kỹ thuật đạt 0,80; mặt trận hướng Tây sửa chữa vừa 5 xe và sửa chữa nhỏ 70 xe, hệ số kỹ thuật đạt 0,85. Phòng xe – xăng chiến dịch gửi đi sửa chữa lớn 32 ô tô và 4 trạm nguồn điện tại X47 cho mặt trận hướng Đông đồng thời cung cấp phụ tùng vật tư xe – máy cho các đơn vị tiến hành công tác bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ. Trong quá trình chiến dịch, các tổ sửa chữa cơ động được trang bị gọn nhẹ đi sát đơn vị giải quyết nhanh, tại chỗ sửa chữa nhỏ, toàn bộ, sửa chữa vừa bộ phận, sửa chữa hỗn hợp ô tô, xe xích, máy phát điện và kéo xe – máy hư hỏng chưa khắc phục được về vị trí tập kết, cụ thể: Mặt trận hướng Tây sửa chữa vừa 10 xe và sửa chữa nhỏ 27 xe; mặt trận hướng Đông sửa chữa vừa 29 xe, sửa chữa nhỏ 33 xe, các trạm sửa chữa của mặt trận hướng Đông còn thu hồi được 13 tấn phụ tùng vật tư từ các xe hỏng hủy tại chiến trường, khắc phục một phần khó khăn về vật tư và vận chuyển từ hậu phương lên.

Thời gian triển khai thực hiện nhiệm vụ gấp rút, trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt nhưng ngành xe – máy chiến dịch đã khẩn trương, nhanh chóng triển khai kho trạm, bảo dưỡng sửa chữa bảo đảm kịp thời xe – máy cho các đơn vị chiến đấu. Chỉ trong qúi I năm 1968, chiến dịch bảo đảm kỹ thuật cho xe – máy hoạt động trên mặt trận hướng Đông và hướng Tây đạt tổng số 1.181.109km xe ô tô, 79.562km tăng-thiết giáp và 11.068 giờ máy nổ…Hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật xe – máy cho các đơn vị trong chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh đã đóng góp quan trọng đáp ứng yêu cầu vận tải và tác chiến, tạo nên sức mạnh chiến đấu cho các lực lượng vũ trang trong suốt thời gian chiến dịch.

XUÂN DÂN – NHẬT DƯƠNG 
qdnd.vn

Họp mặt các chiến sĩ cách mạng bị tù đày tại Nhà lao Hỏa Lò

QĐND Online – Mặc dù đã 21 lần tổ chức họp mặt truyền thống, nhưng sự đầm ấm, chân tình và cả những suy nghĩ được bộc bạch trong buổi họp mặt các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày tại Nhà lao Hỏa Lò lần thứ 22, tổ chức sáng 16-3, tại Hà Nội vẫn tràn đầy nhiệt huyết cách mạng như ngày nào.

Những chiến sĩ cách mạng từng một thời vào sinh ra tử giờ đây đều đã ở tuổi xưa nay hiếm và có cuộc sống gia đình hạnh phúc. Đến buổi họp mặt, họ cùng nhau ôn lại những năm tháng sống dưới sự giam hãm của địch ở Nhà lao Hỏa Lò, những năm tháng dù khó khăn nhưng khát vọng sống, khát vọng cống hiến cho cách mạng chưa bao giờ tắt.

Những tháng ngày khó quên

Có mặt từ rất sớm, bác Nguyễn Trọng Tường (sinh năm 1927) từng ngồi tù hơn một năm ở Nhà lao Hỏa Lò chia sẻ: Tôi bắt đầu tham gia cách mạng từ năm 1946, đến năm 1947 tôi bị địch bắt. Sau khi bị địch tra tấn, tôi bị giam giữ trong Nhà lao Hỏa Lò. Đó là khoảng thời gian khó quên của tôi khi cuộc sống trong lao tù thiếu thốn nhiều mặt. Sống trong phòng giam có đến 100 người nên không khí rất ngột ngạt.

Những chiến sĩ cách mạng bị địch bắt giam tại Nhà lao Hỏa Lò vui mừng trong ngày họp mặt.

Không giống các nhà lao khác chỉ chuyên giam giữ tù binh chính trị như: Nhà tù Phú Quốc, Nhà tù Côn Đảo…, Nhà lao Hỏa Lò giam giữ rất nhiều thành phần, chính vì thế, mỗi gian tù thường khá đông người.

Bà Nguyễn Thị Liên, chiến sĩ cách mạng từng bị địch bắt giảm tại Nhà lao Hỏa Lò.

Bà Nguyễn Thị Liên (84) tuổi ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội nhớ lại: “Là con gái Hà Nội, tôi được giác ngộ cách mạng từ rất sớm. Tham gia hoạt động cách mạng, tôi từng ba lần bị địch giam trong Nhà lao Hỏa Lò. Đã ở tù thì không thể sướng được rồi! Là con gái lại phải ở chốn lao tù còn khổ cực hơn, những công việc sinh hoạt thiết yếu như tắm rửa, vệ sinh cũng bất tiện. Mùa đông thì phòng giam lạnh lẽo, mùa hè thì lại nóng như “đốt da, đốt thịt”, chị em trong cùng phòng giam phải lấy nước lau khắp sàn để nằm cho mát”.

Những chiến sĩ cách mạng bị địch bắt giam trong Nhà lao Hỏa Lò đều phải trải qua những lần tra tấn dã man bằng hàng loạt các thủ đoạn tàn khốc của địch trước khi đưa vào nhà lao nên mỗi khi thời tiết thay đổi, vết thương cũ tái phát. Bà Nguyễn Thị Liên kể: “Khi bị địch bắt, tôi bị chúng tra tấn rất dã man. Vì thế, khi ở tù, những vết thương cũ lại có dịp nhức nhối. Trong tù, thiếu thốn đủ bề, phải tự chịu đựng những đau đớn thể xác mà không để lung lay tinh thần”.

Không để địch khinh!

Mặc dù ở tù nhưng những chiến sĩ cách mạng ở Nhà lao Hỏa Lò vẫn giữ vững được lập trường cách mạng kiên định, thể hiện cho địch thấy được tâm thế của một người cộng sản.

Ông Nguyễn Hữu Thụy (88 tuổi) ở Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội, từng bị địch bắt giam 5 năm trong Nhà lao Hỏa Lò cho biết: Ở trong mỗi một gian tù, chúng tôi đều tổ chức tuyên truyền, giáo dục anh em không được dao động tư tưởng, sống lành mạnh, có tổ chức. Với những người tù là người buôn bán hay người từng trộm cắp bị bắt vào, chúng tôi cũng dùng lời nói để khuyên nhủ họ theo cách mạng.

Khó khăn, thiếu thốn đủ bề, nhưng ông Thụy cho biết, anh em chiến sĩ từ nhiều nơi bị bắt vào đây vẫn luôn động viên và bảo nhau rằng: Dù thế nào đi nữa cũng không để địch khinh, phải thể hiện được mình là một người cộng sản chân chính.

Ông Nguyễn Hữu Thụy, chiến sĩ cách mạng từng bị địch bắt giảm tại Nhà lao Hỏa Lò.

“Không chỉ giáo dục tuyên truyền anh em, chúng tôi còn tự tổ chức cuộc sống sao cho tốt nhất. Mùa xuân đến, chúng tôi vẫn đón xuân, vẫn ca hát. Địch có thể giam giữ thể xác, chứ không thể giam giữ tâm hồn của chúng tôi được”, ông Thụy chia sẻ.

Chính nhờ sự giác ngộ cách mạng cao độ ấy, mà những người tù chính trị đã tìm thấy cho mình niềm vui trong những ngày tháng bị giam giữ này. Họ cùng nhau sống, cùng nhau truyền lửa, cùng nhau hy vọng vào sự tất thắng của cách mạng.

Bà Nguyễn Thị Liên chia sẻ: Bị địch bắt 3 lần vào Nhà lao Hỏa Lò nhưng tôi vẫn không thấy nao núng. Suy nghĩ lúc ấy của tôi chỉ là tìm cách để có thể vượt ngục thành công, tiếp tục đi theo cách mạng.

Mặc dù không phải chịu đựng những đòn tra tấn rợn người như những chiến sĩ cách mạng bị giam cầm ở Nhà tù Côn Đảo hay Nhà tù Phú Quốc, nhưng những chiến sĩ cách mạng trong Nhà lao Hỏa Lò vẫn nuôi ý chí và quyết tâm “Ở tù nhưng chí không “tù”. Chính nhờ ý chí ấy mà họ đã chiến thắng được những khó khăn của chốn tù đày!

Bài, ảnh: THU THỦY
qdnd.vn

Sử dụng lực lượng đánh trúng, đánh hiểm tạo hiệu quả chiến lược

QĐND – Thực hiện mục tiêu chiến lược của Đảng ta, trước và trong Xuân Mậu Thân 1968, các đơn vị chủ lực của ta đã mở một số chiến dịch ở vùng rừng núi miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, miền Tây Trị – Thiên nhằm kéo một bộ phận quan trọng chủ lực Mỹ lên chiến trường rừng núi, tạo điều kiện thuận lợi cho đòn tiến công và nổi dậy ở các đô thị bị Mỹ và chính quyền Sài Gòn chiếm đóng.

Tại các đô thị, ở vùng ven, ta sử dụng một số đơn vị bộ đội chủ lực đánh chiếm các mục tiêu, kìm chân các sư đoàn, trung đoàn chủ lực địch, tạo điều kiện cho lực lượng đặc biệt tinh nhuệ là các đội đặc công, biệt động bất ngờ đánh chiếm một số cơ quan đầu não tại Trung ương và địa phương của địch. Từ vùng ven, các tiểu đoàn mũi nhọn được tổ chức và trang bị gọn nhẹ nhanh chóng đánh chiếm những mục tiêu được phân công. Một số tiểu đoàn đã tiến được vào các khu vực mục tiêu nằm sâu trong nội thành, trụ lại đánh địch phản kích trong nhiều ngày. Đồng thời ta sử dụng pháo, cối và rốc két đánh vào nhiều mục tiêu khác như sân bay, sở chỉ huy, trung tâm thông tin của địch.

Phối hợp với các lực lượng đặc công, biệt động, tiểu đoàn mũi nhọn, các đội vũ trang và bán vũ trang của các ban ngành đoàn thể như thanh niên, công vận, phụ vận… cơ động đánh địch trên đường phố. Ở vòng ngoài, các sư đoàn, trung đoàn chủ lực của ta đón đánh không cho các đơn vị chủ lực địch tăng viện vào vùng ven và nội thành, giữ phía sau cho các tiểu đoàn mũi nhọn.

Những đòn quân sự trên đây có tác dụng châm ngòi cho quần chúng nổi dậy ở nhiều khu phố, nhiều đô thị dưới nhiều hình thức và tiếp thêm sức mạnh cho đòn tiến công quân sự. Tận dụng thời cơ có lợi do đòn tiến công và nổi dậy ở đô thị tạo ra, lực lượng vũ trang tại chỗ đã hỗ trợ cho quần chúng ở nhiều vùng nông thôn bị địch chiếm, nổi dậy đập tan chính quyền cơ sở địch, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng.

Với việc bố trí tổ chức và sử dụng lực lượng như vậy, quân và dân ta trên chiến trường đã phát huy được đầy đủ và mạnh mẽ khí thế tiến công, khiến cho Mỹ lâm vào tình thế bất lợi. Đặc biệt ở Sài Gòn, mặc dù lực lượng không nhiều nhưng các đơn vị đặc công, biệt động, tiểu đoàn mũi nhọn và các đội vũ trang, bán vũ trang của thành đoàn, công vận, phụ vận… đã đánh sâu, đánh hiểm, đánh trúng và đánh đồng loạt vào nhiều mục tiêu yết hầu của địch ở Trung ương và địa phương, tạo nên sức mạnh tác động nhanh tới ý chí của kẻ thù. Đó là thành công nổi bật trong nghệ thuật bố trí và sử dụng lực lượng trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Bằng đòn đánh Xuân Mậu Thân 1968, chúng ta đã làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, tiến tới đánh cho Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam năm 1973 để tạo thế trận vào Mùa xuân 1975 đánh cho ngụy nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Đại tá, TS NGUYỄN THÀNH HỮU
qdnd.vn

Tây Nguyên – Chiến dịch mở màn lịch sử (Tiếp theo và hết)

QĐND – Trước việc nghi binh của ta, địch đã vội vã rút Trung đoàn 45 đang lùng sục ở Cẩm Ga, Thuần Mẫn về Thanh An để đối phó; Trung đoàn 44 cùng một số liên đoàn quân biệt động cũng bị tiêu hao nặng buộc phải nằm chết gí ở Plei-cu.

Do giữ được bí mật ý đồ hành động và cũng do ta nghi binh có kết quả nên địch trở nên lúng túng. Chúng vẫn phán đoán ta đánh thật vào Plei-cu hoặc Kon Tum.

Mặt khác, ngày 4-3-1975, ta cho Trung đoàn 95A do đồng chí Nguyễn An làm trung đoàn trưởng cắt đường 19-con đường nối Quy Nhơn với Plei-cu đoạn đèo Măng Giang cách Plei-cu khoảng 50km. Sư đoàn 3 Quân khu 5 cắt đoạn đèo Thượng An đến cầu số 13, thế là ngay trong ngày đầu chiến dịch, huyết mạch chính nuôi sống Plei-cu, Kon Tum của địch bị cắt.

Đêm mồng 4 rạng sáng ngày 5-3, Trung đoàn 25 ở Chư Cúc đã đánh chiếm và giữ một số đoạn trên đường 21 nối Ninh Hòa với Buôn Ma Thuột. Con đường quan trọng thứ hai của địch nối Tây Nguyên với đồng bằng duyên hải bị cắt đứt. Trên đường số 14, ngày 7-3, Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 chiếm Chư Sê, ngày 8-3 đánh chiếm Thuần Mẫn. Trục đường nối nam bắc Tây Nguyên của địch cũng bị cắt làm đôi. Trong khi thực hiện chia cắt địch, ta đẩy mạnh hoạt động nghi binh của Sư đoàn 968 nhằm giữ khối chủ lực của địch ở bắc Tây Nguyên, đồng thời đưa các đơn vị đánh Buôn Ma Thuột vào vị trí tập kết cuối cùng. Đến ngày 9-3, khi địch vẫn đinh ninh mục tiêu chính của ta là Plei-cu, Kon Tum thì 12 trung đoàn bộ binh và đơn vị binh chủng của ta đã triển khai xung quanh Buôn Ma Thuột, lúc này đã hoàn toàn bị bao vây cô lập.

Quân giải phóng trong Chiến dịch Tây Nguyên. Ảnh tư liệu.

Ngày 10-3-1975, lúc hai giờ sáng, ta nổ súng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột. Để nghi binh thu hút sự chú ý của địch, bộ đội đặc công và pháo binh nổ súng đánh sân bay Hòa Bình, hậu cứ Trung đoàn 53, khu kho Mai Hắc Đế. Trong đêm, lợi dụng điện trong thành phố lúc tắt, lúc sáng, tiếng súng và sự hỗn loạn của địch, các loại xe pháo, xe tăng, ô tô chở bộ binh của ta từ năm hướng tiến công thị xã. Cái mới trong trận này là ta dùng đặc công dã chiến đánh Sân bay Hòa Bình (đặc công được trang bị súng máy, B40 và cả tên lửa phòng không vác vai) và trụ lại sân bay để đợi bộ binh. Vũ Thế Quang, Sư đoàn phó Sư đoàn 23, Chỉ huy trưởng Buôn Ma Thuột, sau khi ta đã đánh các vị trí trên vẫn phán đoán ta đánh như những ngày thường, đánh ban đêm sau đó thì rút ra. Bởi vì đêm đó ta cũng đánh Đức Lập, một căn cứ của địch nằm ở tây nam Buôn Ma Thuột giáp biên giới Cam-pu-chia.

Lúc 7 giờ sáng ngày 10-3, ta tiếp tục khai hỏa, chúng không cứu được Đức Lập. Tuy tiến công mãnh liệt, nhưng trong ngày 10-3, ta vẫn chưa dứt điểm được Buôn Ma Thuột nên đêm đó, Mặt trận phái Tham mưu trưởng vào tổ chức lại các lực lượng để hôm sau tiếp tục tổng công kích. Và 11 giờ 30 phút ngày 11-3, ta giải phóng Buôn Ma Thuột bắt sống Vũ Thế Quang, Sư đoàn phó Sư đoàn 23 và Nguyễn Văn Luật, Tỉnh trưởng Đắc Lắc.

Địch mất Buôn Ma Thuột, ta phán đoán, chúng nhất định dùng Sư đoàn 23 phản kích chiếm lại bởi vì đây là vị trí chính trị của Tây Nguyên. Mặt khác, lần đầu tiên mất một thị xã 12 vạn dân có ý nghĩa, chính trị, kinh tế, văn hóa lớn. Địch chỉ có cách phản kích, đi đường bộ từ Plei-cu lên với chiều dài 180km qua ba đèo hiểm trở, trong khi ta đã cho Sư đoàn 320 chốt các đèo đó thì Sư đoàn 23 không thể đi được.

Và là sự thật hiển nhiên, địch chỉ còn cách hạ cánh bằng máy bay lên thẳng để đưa Sư đoàn 23 ngụy xuống phía đông Buôn Ma Thuột mà thôi. Mặt khác, Bộ tư lệnh chiến dịch đã tổ chức cho bộ đội chiếm ngay các căn cứ: 45, Buôn Hồ, Đại Lý, Chu Bao, phá các bàn đạp phản kích của địch xung quanh Buôn Ma Thuột. Đường 14, đường 21 bị cắt, các bàn đạp của địch ở xung quanh Buôn Ma Thuột đã bị mất.

Ta xác định địch không thể đi đường bộ được và nếu có đi được cũng phải mất hàng tháng thì đối phương đã củng cố trận địa rồi, khó lòng đánh được. Vả lại, đi cứu viện là đi chữa cháy phải nhanh không thì khó mà cứu được. Nên chỉ còn cách đi trực thăng. Trong gạn lọc tình huống, thì chỉ còn tình huống đó là có khả năng thực hiện được. Phán đoán như vậy, đi đôi với việc xử lý các tình huống khác, ta tập trung vào xử lý tình huống với Sư đoàn 23, cho Sư đoàn 10 từ Đức Lập cơ động khẩn cấp về phía đông bắc Buôn Ma Thuột để chuẩn bị đánh Sư đoàn 23 phản đột kích. Tư lệnh mặt trận quyết định luôn để đơn vị thực hiện kịp mệnh lệnh.

Ngày 12-3, địch đi đúng vào kế hoạch và sa vào thế trận của ta, các Trung đoàn 44 và 45, Sư đoàn 23 đổ bộ xuống đông Buôn Ma Thuột (khu vực Nông Trại, Phước An trên đường 21). Chúng chỉ có thể đổ xuống phía đông, vì phía tây quân ta đang chốt giữ và phía đông nếu không đánh được chúng sẽ rút chạy về Nha Trang. Ta phán đoán đúng. Lực lượng địch không có xe tăng, không có pháo lớn, ở thế bất lợi nên đã bị Sư đoàn 10 của ta phối thuộc xe tăng và pháo binh, lần lượt tiêu diệt trong các ngày từ 14 đến 18-3. Sau khi ta đánh tan Sư đoàn 23, địch “nhắm mắt” đưa một lữ đoàn dù bỏ Đà Nẵng về bảo vệ đèo Phượng Hoàng hòng ngăn chặn ta tiến xuống Nha Trang. Ta cho Sư đoàn 10 chuẩn bị đánh lữ đoàn dù nói trên trên đường Buôn Ma Thuột – Nha Trang.

Đèo Phượng Hoàng nằm ở phía tây Ninh Hòa, Sư đoàn 10 do đồng chí Hồ Đệ chỉ huy, có đồng chí Vũ Lăng, Phó tư lệnh đi trực tiếp với sư đoàn. Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên chỉ thị cho Sư đoàn 10 không đánh ngay lữ dù mà phải vây xong mới đánh, địch sẽ rất dễ tan vỡ. Sư đoàn 10 làm đúng như thế và sau hai ngày vây ép địch, sư đoàn đã tiến công Nha Trang – Cam Ranh, chia cắt miền Nam làm đôi.

Trận Buôn Ma Thuột là trận then chốt, đánh bại Sư đoàn 23 là trận then chốt thứ nhất, đánh phản kích là trận then chốt thứ hai, hai trận then chốt này tạo thành trận then chốt quyết định làm chuyển biến cục diện chiến trường Tây Nguyên, địch hết biện pháp đối phó. Giữ không được, đánh vận động cũng không xong, đành phải rút khỏi Tây Nguyên, tạo ra đột biến chiến dịch. Kon Tum, Plei-cu không đánh mà được giải phóng. Sau khi mất Buôn Ma Thuột, Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Việt Nam cộng hòa quyết định “Tùy nghi di tản” là hoàn toàn sai lầm về chiến lược.

Trước khi đi chuẩn bị chiến dịch, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã dặn Tư lệnh Mặt trận: “Nếu ta đánh mạnh, thắng lớn ở Tây Nguyên thì địch có thể co về giữ đồng bằng”. Tâm đắc điều này, Thượng tướng thấy, phán đoán của Tổng Tư lệnh thể hiện một nhãn quan chiến lược thật tài tình. Và thế là Sư đoàn 320 được tăng cường Trung đoàn 95B, một tiểu đoàn thiết giáp và một bộ phận pháo binh nhanh chóng chặn địch rút chạy trên đường 14 khu vực gần tiếp giáp với đường 7. Khi nhận được lệnh, đại bộ phận sư đoàn đang đứng chân ở khu vực Cẩm Ga trên đường số 14 cách Cheo Reo khoảng 50km đã đưa Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64 nhanh chóng vượt lên trước bằng “đôi chân vạn dặm” để chặn địch. Chiều ngày 17, Tiểu đoàn 9 đã ra đến đường 7, đông Cheo Reo 4km, xây dựng một điểm chốt cắt ngang đội hình địch. Một khối lượng lớn quân địch buộc phải cụm lại ở Cheo Reo, Phú Thiện. Chủ lực ta ở phía sau có pháo binh và thiết giáp hỗ trợ nhanh chóng bám sát địch, triển khai đội hình tiến công, đập tan cụm quân này vào các ngày 18 và 19-3. Đồng thời Bộ tư lệnh Mặt trận điện cho Quân khu 5 cho lực lượng địa phương Phú Yên ra chặn địch rút chạy từ Plei-cu về Tuy Hòa. Trong khi Sư đoàn 5 của Quân khu 5 phối hợp đánh địch ở đèo An Khê và sau đó Trung đoàn 95A đánh Sư đoàn 22 địch ở Phú Phong, thì trung đoàn địa phương của Bình Định lợi dụng thời cơ vào giải phóng thị xã Quy Nhơn.

Như vậy, chia cắt giao thông, bố trí Sư đoàn 320 ở thế tiện cơ động, nhanh chóng tổ chức bộ phận gọn nhẹ vượt lên trước chặn đội hình địch là các hoạt động tạo thế, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của trận then chốt thứ ba: Tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch rút chạy trên đường số 7, kết thúc thắng lợi Chiến dịch Tây Nguyên.

Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên đã làm rung chuyển, đảo lộn cả thế trận của địch và tạo cho ta phát triển vô cùng thuận lợi, biến thắng lợi chiến dịch thành thắng lợi chiến lược, tạo ra cục diện mới của chiến lược, thúc đẩy chiến tranh chuyển biến rất nhanh chóng có lợi cho ta.

Lúc sinh thời, nhân kỷ niệm Chiến thắng Buôn Ma Thuột, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Chính ủy Chiến dịch Tây Nguyên cũng tâm niệm và nhắc lại: Chiến thắng Buôn Ma Thuột mãi mãi là dấu son trên trang sử vẻ vang của quân đội ta. Nó là kết quả của cả một quá trình chuẩn bị lâu dài của quân và dân Tây Nguyên. Nếu chúng ta đều biết tới hình ảnh từng đoàn dân công gồm cả người già, trẻ em của các buôn làng đã đi gùi đạn, gùi gạo, mở đường cho chiến dịch; nếu chúng ta biết tới những đồng chí cán bộ của Đảng đã từng cà răng căng tai, sống hàng vài chục năm với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên để bám dân, bám đất xây dựng địa bàn, xây dựng chỗ cho chúng ta đứng chân mà đánh giặc; nếu chúng ta biết rằng trước khi chúng ta có xe pháo mà mở những trận đánh lớn như vậy đã có hàng ngàn đồng chí đi trước mở đường, mở địa bàn, giành đi giật lại với địch từng tấc đất trong điều kiện đói cơm, rách áo, thiếu thuốc men, thiếu vũ khí kéo dài hàng chục năm ròng để chúng ta có những quân hùng tướng mạnh mà đánh địch với thế mạnh như chẻ tre. Nếu chúng ta biết một cách đầy đủ tất cả những gì diễn ra trước khi có trận Buôn Ma Thuột, có mùa xuân cao nguyên 1975, thì chúng ta càng thấy tự hào hơn về Đảng ta, nhân dân ta và quân đội ta…

Chiến tranh đã đi qua hơn ba mươi năm, hai vị lão tướng Hoàng Minh Thảo và Đặng Vũ Hiệp đã đi xa. Nhớ lại chiến dịch Tây Nguyên lịch sử, xin thắp một nén tâm nhang kính cẩn nghiêng mình trước hai lão tướng. Các ông còn mãi với Tây Nguyên với Buôn Ma Thuột thân yêu.

———————-

Tây Nguyên – Chiến dịch mở màn lịch sử (Phần 1)

Đại tá, TS NGUYỄN THÀNH HỮU – Lược ghi theo lời kể của cố Thượng tướng, GS Hoàng Minh Thảo
qdnd.vn

Nhớ lời Bác dặn: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”

Suốt cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và cái đích cuối cùng là giải phóng con người. Chính vì vậy, vấn đề con người luôn được Bác quan tâm chăm lo chu đáo. Trong muôn vàn mối quan hệ phong phú, phức tạp mà mỗi người đều phải xử lý hàng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh quy vào ba mối quan hệ chủ yếu nhất: Đối với người, đối với việc và đối với bản thân mình. Trong “đối với người”, tức là mối quan hệ giữa người với người, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng nhân lên cái thiện trong các mối quan hệ ấy. Do đó, ở Bác, chúng ta thấy thấm đượm chủ nghĩa nhân văn cả trong lời nói và hành động. Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc để lại, Người còn căn dặn: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Do đặc thù hoạt động quân sự, nhất là trong chiến tranh, tình đồng chí, đồng đội trong quân đội, gắn bó sâu đậm hơn so với các hoạt động xã hội khác. Bởi, chiến tranh là sự thử thách khắc nghiệt nhất, không chỉ đối với mọi quốc gia, một dân tộc, một chế độ; mà nó còn thử thách nghiêm khắc đối với từng cá nhân, từng người lính giữa cái sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc. Do đó, trong chiến tranh, tình đồng đội là thiêng liêng, cao cả. Trận đánh càng ác liệt, tình thương yêu đồng đội càng cao, tất cả vì mục tiêu chiến thắng, nên mọi người không ngại hy sinh, người trước ngã xuống, người sau tiến lên; sẵn sàng xả thân, nhận khó khăn, sự ác liệt về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội. Tình đồng đội là truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, quân đội do Đảng và Bác Hồ sáng lập, giáo dục và rèn luyện. Nó thuộc về bản chất và truyền thống của Quân đội nhân dân, là bản chất truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ.

nho loi bac danBác Hồ với các anh hùng, chiến sĩ thi đua miền Nam (1965) – Ảnh Vũ Đình Hồng.

Ngày nay, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ từng bước hiện đại, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, vấn đề đặt lên hàng đầu là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, mặt khác phải luôn chăm lo xây dựng tình thần đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng. Đó chính là cội nguồn của mọi thành công trong mỗi cá nhân cũng như tập thể. Điều này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần căn dặn về xây dựng tình đồng chí đồng đội thương yêu lẫn nhau lúc thường cũng như khi ra trận. Bác cũng đã nêu lên một nhận xét rất độc đáo: Nếu thuộc bao nhiêu sách về chủ nghĩa Mác – Lênin mà sống với nhau không có tình có nghĩa thì không thể hiểu được chủ nghĩa Mác – Lênin. Sống tình nghĩa ở trong quân đội bao giờ cũng đi liền với đấu tranh tự phê bình và phê bình, điều mà Bác coi là “thang thuốc hay nhất” để cho mỗi cán bộ, đảng viên tiến bộ. Học Bác về tự phê bình và phê bình ở hai điều chính cốt nhất: Mục đích và phương pháp. Bác quan niệm mục đích của tự phê bình và phê bình là làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, cốt để giúp nhau sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ; cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn; cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Phương pháp tự phê bình và phê bình theo Bác là phải được tiến hành thường xuyên như rửa mặt hằng ngày với cái tâm trong sáng; phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt; phải vạch rõ cả ưu điểm và những khuyết điểm; chớ dùng lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc.

Sức mạnh đoàn kết trong quân đội được tạo ra bởi tổ chức mà tổ chức đó là sự kết nối chặt chẽ giữa cán bộ, chiến sỹ với nhau. Song trước hết phải xuất phát từ mối quan hệ đoàn kết, thống nhất của cấp ủy, chỉ huy và cán bộ chủ trì trong đơn vị. Trong một cơ quan, đơn vị nào đó, nếu cán bộ chủ chốt mất đoàn kết thì chắc chắn tổ chức đó không thể nào có được bầu không khí thân thiện, đồng thuận. Đây là điều đã được Bác Hồ cảnh báo từ sớm và gọi đó là tình trạng “cấp trên và cấp dưới cách biệt nhau”, đồng chí với nhau nhưng “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”. Ở đây, cần có sự gương mẫu từ trong lời nói đến hành động của cán bộ chủ chốt. Sự gương mẫu, tự nó là một sức mạnh cảm hóa con người, như Bác quan niệm rằng, “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Sự cảm hóa kỳ diệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với những người chung quanh là ở cái tâm lành, đức dày, trí cao, sự giản dị, chân thành và ở sự gương mẫu của cái đức luôn luôn vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ của Người. Đó là văn hóa chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người ta hay nói đến cái tình, cái lý trong mối quan hệ của con người đối với con người. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, tình và lý quyện chặt vào nhau. Quan hệ của cán bộ, chiến sỹ trong hoạt động hằng ngày tuy phụ thuộc vào những quy định của điều lệnh, quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, nhưng điều rất quan trọng đó là giải quyết hài hòa mối quan hệ nhiều chiều, phong phú của cuộc sống đời thường. Tình đồng chí, đồng đội ở đây, ngoài những nguyên tắc tổ chức và điều lệnh, còn xuất phát từ tấm lòng độ lượng, khoan dung và nhân ái. Nhiều khi mất đoàn kết trong cơ quan, đơn vị lại từ những việc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng rất quan trọng trong đời thường. Một số người suy nghĩ và hành động không vì đại sự mà ở sự cố chấp, có người vì động cơ cá nhân đã cố tình gây ra mất đoàn kết, tạo lên sự nghi ngờ trong nội bộ. Thậm chí còn có hiện tượng đơn thư nặc danh, vu khống, nói xấu lẫn nhau, làm cho đơn vị mất ổn định…. Nhắc tới điều này, chúng ta lại nhớ tới lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, đó là việc phải tạo ra một cơ sở, hay môi trường vững chắc, đồng thuận để mọi người có trách nhiệm, nghĩa vụ chung tay xây dựng cơ quan, đơn vị của mình. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng thể hiện tình đồng chí một cách chân thành, bền chặt nhất. Nòng cốt của vấn đề này, chính là việc xây dựng mỗi Chi bộ, Đảng bộ trở thành một pháo đài đoàn kết, thống nhất. Sự yếu kém của Chi bộ, Đảng bộ cơ sở dễ dẫn tới tha hóa đội ngũ đảng viên, mà mỗi khi đảng viên đã bị tha hóa, biến chất thì tình đồng chí cũng không còn. Tổ chức Chi bộ, Đảng bộ cơ sở chính là môi trường để đảng viên phấn đấu thực hiện thành công nghị quyết của Đảng, nơi đảng viên rèn luyện đạo đức của người cộng sản, là nơi thử thách rõ rệt nhất tình đồng chí. Thực tế cho thấy, ở Chi bộ, Đảng bộ cơ sở nào trong sạch, vững mạnh thật sự thì chính nơi đó tình đồng chí trong Đảng biểu hiện một cách trong sáng, đậm đà nhất; nơi đó sinh hoạt Đảng sinh động nhất, có tính hấp dẫn nhất, nơi đó là chỗ dựa vững chắc nhất cho lãnh đạo, chỉ huy và toàn thể đảng bộ và đơn vị.

Gần một năm qua, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI), toàn Đảng, toàn quân đã tổ chức có hiệu quả việc tự phê bình và phê bình. Mỗi cán bộ chủ trì các cấp đã nghiêm khắc tự kiểm điểm ưu điểm, khuyết điểm của bản thân và đã chân thành tiếp thu sự đóng góp phê bình của cán bộ, chiến sỹ cấp dưới. Điều đó đã tạo ra luồng sinh khí mới, sự đồng thuận cao để xây dựng tình thương yêu đồng chí, đồng đội và sự đoàn kết thống nhất trong từng cơ quan, đơn vị. Đây cũng là việc cần thiết và cấp bách để mỗi cán bộ, chiến sỹ ghi nhớ, học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền
Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
bqllang.gov.vn

Những nghệ sĩ ngâm thơ chúc Tết của Bác Hồ

Trong cuộc đời làm nghệ thuật của mình, rất nhiều nghệ sĩ đã vinh dự và có niềm hạnh phúc lớn là được gặp Bác Hồ, được biểu diễn phục vụ các đoàn khách quốc tế, các đồng chí lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước ta. Trong số đó, đặc biệt có các nghệ sĩ ngâm thơ nổi tiếng như Trần Thị Tuyết, Linh Nhâm và Kim Liên.

Những lần được gặp Bác, được ngâm thơ cho Bác nghe là những kỷ niệm lớn còn ghi mãi trong đời làm nghệ thuật của các nghệ sĩ.

Nghệ sĩ Trần Thị Tuyết là con gái của bà Nguyễn Thị Phúc – một nghệ nhân ca trù nổi tiếng, tài sắc một thời của nước ta. Thừa hưởng tài năng của mẹ và học tập không ngừng, Trần Thị Tuyết từ khi vào Ðài Tiếng nói Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng, cả nước biết tên. Một lần, chị nhận lệnh theo xe thu thanh của Ðài Tiếng nói Việt Nam vào Phủ Chủ tịch, được giao nhiệm vụ tặng hoa chúc mừng Bác Hồ vừa tròn 75 tuổi. Chị Tuyết kể: Tôi chưa kịp cầm bó hoa lên chúc Bác, thì Bác đã giơ tay chào và nói:

– Năm mới, Bác chúc các cháu khỏe!

Tôi vội vàng chạy lại:

– Thưa Bác, nhân dịp năm mới, chúng cháu ở Ðài Tiếng nói Việt mừng Bác mạnh khỏe, sống lâu trăm tuổi.

Bác Hồ nhận bó hoa, rồi vui cười nói:

– Bác cảm ơn, nhưng Bác tặng lại bó hoa đẹp này để các cô chú ở Ðài mang về đón Tết.

Vào phòng khách, Bác chỉ chỗ cho chúng tôi ngồi rồi vui vẻ trò chuyện. Ðồng chí lãnh đạo của Ðài xin phép được thu lời Chúc mừng năm mới của Bác để phát trên Ðài Tiếng nói Việt Nam vào đêm giao thừa.

ngam tho 1Nghệ sĩ Trần Thị Tuyết

Ðồng chí Vũ Kỳ chuyển đến Bác tấm thiếp chúc mừng năm mới màu hồng có in hình Quốc huy. Bác Hồ vui vẻ hỏi:

– Các chú đã chuẩn bị xong chưa? Sau đó Bác bắt đầu đọc:

“Ðồng bào thân mến!

Nhân dịp năm mới, tôi gửi lời chúc mừng thân ái nhất đến toàn thể đồng bào miền Bắc và miền Nam, toàn thể chiến sĩ và cán bộ, đến các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng, đến kiều bào ta ở nước ngoài.

Tôi thay mặt đồng bào ta gửi lời chúc mừng tốt lành nhất đến nhân dân các nước anh em…”

Chúng tôi ngồi lắng nghe từng lời của Bác, thật không ngờ mình lại vinh dự là những người đầu tiên được nghe Bác chúc mừng năm mới. Tiếp đó, Bác đọc bài thơ Chúc mừng năm mới của Bác:

Chào mừng Ất Tỵ xuân năm mới
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới
Ðồng bào hai miền thi đua sôi nổi
Ðấu tranh anh dũng, cả nước một lòng
Chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi!
Hòa bình thống nhất ắt hẳn thành công!

Chúng tôi đã thu xong bài Chúc mừng năm mới của Bác, bỗng Bác quay lại phía tôi, vui vẻ:

– Cháu Tuyết thử ngâm lại cho mọi người nghe đi!

Tôi vội đứng dậy cầm lấy tấm thiếp của Bác, vừa mừng vừa lo, song tôi đã trấn tĩnh cất giọng ngâm. Nào ngờ nghe xong Bác vỗ tay khen, rồi Bác cầm những bông hoa hồng bạch trên bàn tặng chúng tôi mỗi người một bông. Ðồng chí Vũ Kỳ nói:

– Ðây là hoa trong vườn Bác, do chính tay Bác vun trồng và chăm sóc đấy!

Chúng tôi nâng niu bông hoa Bác tặng, mà thấy lòng mình rưng rưng cảm động.

Còn đây là câu chuyện về nghệ sĩ Linh Nhâm. Một lần Linh Nhâm cùng Ðoàn Ca múa quân đội vào biểu diễn ở Phủ Chủ tịch. Nghe Linh Nhâm hát, Bác Hồ khen có giọng ca tốt. Song Bác ân cần hỏi:

– Cháu có biết ngâm thơ không? Linh Nhâm thưa thật với Bác là cháu chưa biết. Bác bảo:

– Thế thì cháu phải học ngâm thơ để phục vụ bộ đội tốt hơn, vì bộ đội ta rất yêu thơ cháu ạ!

ngam tho 2Nghệ sĩ Linh Nhâm

  Từ đó, nghe lời Bác, Linh Nhâm quyết tâm học ngâm thơ. Chị mở đài nghe giọng thơ của các chị Trần Thị Tuyết, Châu Loan… lại được chồng là nhạc trưởng của Ðoàn góp thêm ý kiến. Linh Nhâm chọn những bài thơ chị thích như “Lá thư Bến Tre” của Tố Hữu, “Quê hương” của Giang Nam, “Cuộc chia ly màu đỏ” của Nguyễn Mỹ, “Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi” của Nam Hà để rèn luyện và tìm cho mình một phong cách riêng.

Sau này, những bài thơ ấy đã trở thành những tiết mục đặc sắc của Linh Nhâm trong các buổi biểu diễn phục vụ quân đội. Và đúng như Bác Hồ đã nói, bộ đội ta rất yêu thơ và hoan nghênh nhiệt liệt.

Còn nghệ sĩ Kim Liên, chị kể lại: Tháng Chạp năm Mậu Thân 1968, chúng tôi đang gấp rút dựng vở “Tấm vóc đại hồng” tại nơi sơ tán, thì tôi được lệnh cấp trên điều lên Hà Nội nhận nhiệm vụ mới. Tôi nghĩ, có lẽ trên muốn thu một vài bài hát Chầu văn vì Chầu văn là tiết mục của Nam Ðịnh được cả nước yêu thích. Nhưng thật bất ngờ, đến nơi thì đồng chí Trần Lâm, Giám đốc Ðài Tiếng nói Việt Nam báo cho tôi biết là chuẩn bị để ngâm bài thơ Chúc mừng Xuân mới, xuân Kỷ Dậu của Bác Hồ. Bài thơ này của Bác còn có các chị Trần Thị Tuyết và Linh Nhâm thể hiện. Tôi thật sự lo lắng. Các chị Trần Thị Tuyết và Linh Nhâm là những nghệ sĩ đã ngâm thơ chúc Tết của Bác nhiều lần, còn tôi tuy đã nhiều lần được gặp Bác, nhưng ngâm thơ chúc Tết của Bác là công việc mới mẻ.

ngam tho 3Những kỷ niệm về Bác Hồ năm xưa vẫn luôn in hằn trong ký ức của nghệ sĩ Kim Liên.

 Chị nhớ lại những lần cùng Ðoàn Chèo của quê hương lên phục vụ Trung ương, được gặp Bác và Thủ tướng Phạm Văn Ðồng. Rồi lần tham gia Ðoàn nghệ thuật sang biểu diễn tại Pháp vào dịp Hội nghị Paris đang họp, do nhà thơ Huy Cận dẫn đầu, đã được bà con Việt kiều nhiệt liệt hoan nghênh. Sau lần đó, chị vinh dự được ăn cơm trưa cùng Bác. Bác bảo Kim Liên là bông sen vàng, quê Bác cũng có nhiều sen lắm. Bác còn dặn đồng chí Vũ Kỳ chuẩn bị bánh kẹo cho Kim Liên mang về cho các cháu. Sự quan tâm của Bác, khiến bây giờ chị càng lo lắng. Chị đã đọc nhiều lần bài thơ của Bác. Bài thơ chỉ có sáu câu lục bát, nhưng là một tầm nhìn chiến lược, là mệnh lệnh cho quân dân ta tiến lên giành chiến thắng cho ngày Bắc Nam sum họp, thống nhất nước nhà. Chị đã chọn giọng sa mạc và lẩy kiều để thể hiện bài thơ của Bác.

Bài thơ Chúc mừng Xuân Kỷ Dậu lịch sử của Bác đã được ba nghệ sĩ: Trần Thị Tuyết, Linh Nhâm và Kim Liên thể hiện. Bác Hồ đã khen cả ba cô đều thể hiện thành công. Và đúng giao thừa năm ấy, các chiến sĩ và đồng bào cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài đã được nghe bài thơ Xuân của Bác:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào
Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!”

Bùi Công Bính
Theo http://www.baothaibinh.com.vn

Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Những tâm tư tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho thanh niên qua các bài viết

tn
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với đại biểu dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II năm 1956, tại Nhà hát Lớn Hà Nội

 Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng hết sức phong phú và sôi nổi của mình, Bác kính yêu đã dành sự quan tâm đặc biệt cho thế hệ trẻ và để lại cho thanh niên Việt Nam và thanh niên thế giới những tình cảm quí báu và những lới dạy thiết thực đối với lớp lớp con cháu.

Sau đây Ban Biên tập Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh xin trân trọng giới  thiệu một số bức thư Bác Hồ gửi cho thanh niên Việt Nam và thanh niên thế giới:

Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến

Hỡi thanh niên và nhi đồng yêu quý!

Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.

Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”.

Đời sống mới là:

– Hăng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ.

– Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm.

– Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ.

– Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa.

Năm mới, chúng ta thực hành đời sống mới để trở nên những công dân mới, xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Việt Nam độc lập muôn năm!

Tháng 1 năm 1946

HỒ CHÍ MINH

Một tấm lòng thành thực và đau đớn

Thưa Đại tướng, thân hữu, tôi nói với ngài với một tấm lòng thành thực và đau đớn. Đau đớn vì thấy bao nhiêu chiến sĩ thanh niên Pháp và Việt đang tàn sát lẫn nhau. Những thanh niên hi vọng của hai nước chúng ta, và đáng lẽ phải sống cùng nhau như anh em…

(Trích thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tướng Pháp Lơcléc, ngày 1 tháng 1 năm 1947 – Theo sách Lời Hồ Chủ tịch, Nhà thông tin Việt Nam, 1948, T.1, tr 17 – 18)

Thanh niên Mỹ chống chiến tranh

Bà Mácin Tô, Giám đốc một Trường Trung học Mỹ, viết trong thời báo New York : “Hiện nay thanh niên Mỹ chỉ lo phải đi lính. Những thanh niên đã đi lính trong cuộc Thế giới đại chiến thứ hai thì lo: Có phải đi lính lần nữa không?”. Những thanh niên ấy sinh trưởng trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng. Họ thấy những việc không công bằng, rồi họ kết luận: Chỉ có những người cách mạng chống lại những sự bắt đi lính ấy. Họ xem nhiều sách quá rồi họ thất vọng và cho rằng đời sống là trống rỗng, vô ích”.

Bà Mác chỉ nói đúng một nửa. Một phần thanh niên Mỹ ghét chiến tranh, song không biết chống lại. Còn một phần thanh niên khác thì hăng hái chống đế quốc chủ nghĩa, chống chiến tranh. Họ không ở trong các Trường Trung học, cho nên bà Mác không biết họ.

(Bài viết của Bác ký bút danh Đ.X, trên báo Cứu quốc
số 1945, ngày 9-11-1951)

Thanh niên Pháp chống chiến tranh ở Việt Nam

Trong phong trào nhân dân Pháp chống chiến tranh ở Việt Nam, thanh niên Pháp rất hoạt động. Vì vậy, anh Hăngri Máctanh, chị Râymông Điêng và nhiều thanh niên khác đã bị tù (nhờ nhân dân Pháp đấu tranh mạnh, nay đã được tha).

Tại Đại hội liên hoan thanh niên thế giới ở Thủ đô nước Rumani, hồi tháng 8, có 3.500 đại biểu thanh niên Pháp, trong đó có đủ các tầng lớp và các tôn giáo. Sau một cuộc gặp gỡ rất thân mật với Đoàn đại biểu thanh niên Việt, Đoàn đại biểu thanh niên Pháp đã thông qua một nghị quyết tóm tắt như sau.

“Chúng tôi có hân hạnh lớn được gặp thanh niên Việt – Miên – Lào. Trong lúc chúng tôi hôn nhau như anh em, thì chiến tranh tàn nhẫn vẫn tiếp tục ở Đông Dương.

Chúng tôi sung sướng cảm thấy rằng thanh niên Việt – Pháp rất gần gũi nhau, có thế hiểu biết nhau và lập mối quan hệ thân thiết lâu dài với nhau. Vì vậy, cuộc gặp gỡ này cũng như một hành động hòa bình, như một sự khuyến khích thanh niên Pháp phát triển đấu tranh cho hòa bình ở Việt Nam… Thanh niên Pháp sẽ đấu tranh không ngừng, để đòi Chính phủ Pháp đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh là đại biểu chân chính của nhân dân Việt Nam…

Hòa bình ở Việt Nam và nối lại quan hệ kinh tế và văn hóa với Việt Nam, thì nước Pháp sẽ gây được cảm tình thân thiện với một dân tộc lớn. Hòa bình ở Việt Nam thì nước Pháp có thể xây dựng đời sống của mình với số tiền bạc khổng lồ mà hiện nay đang hoang phí vào chiến tranh. Hòa bình ở Việt Nam là lợi ích chung của thanh niên chúng ta, là lợi ích chung của hai Tổ quốc chúng ta”.

Chiến tranh xâm lược mà thực dân Pháp theo đuổi ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh phi nghĩa. Nhân dân thế giới nhất là nhân dân Pháp đều phản đối. Quân đội thực dân Pháp không có chỗ dựa. Trái lại, cuộc kháng chiến của ta là toàn dân kháng chiến, lại được nhân dân Pháp và nhân dân lao động thế giới ủng hộ. Vì vậy, địch nhất định thua, ta nhất định thắng.

(Bài báo của Bác Hồ, ký bút danh C.B, đăng trên Báo Nhân Dân, số 144, từ ngày 26 đến 31-10-1953).

Thư gửi thanh niên Pháp

Gửi các bạn thanh niên nam nữ Pháp,

Các bạn thân mến,

Các cháu thanh niên Việt Nam đi dự Đại hội liên hoan Bucarét về đã kể lại cho chúng tôi nghe những cử chỉ thân ái thật cảm động giữ các bạn thanh niên Pháp – Việt. Chúng tôi rất cảm kích với tấm lòng của các bà mẹ và các bạn nữ thanh niên Pháp đã gửi cho các bà mẹ và các cháu nhi đồng Việt Nam những món quà xinh và những chiếc ảnh đẹp.

Chúng tôi lại biết rằng các bạn là những người thanh niên nam nữ đang cùng toàn thể nhân dân anh dũng của nước Pháp can đảm đấu tranh chống cuộc chiến tranh bẩn thỉu ở Việt Nam. Điều đó chứng tỏ một lần nữa rằng nhân dân hai nước chúng ta sẵn một lòng thương yêu nhau và thông cảm với nhau. Chỉ có bọn thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ là những kẻ duy nhất phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh phi nghĩa này, nó đã gây nên bao nhiêu khổ cực và tang tóc cho nhân dân Pháp cũng như nhân dân Việt Nam.

Cho nên các bạn và chúng tôi, chúng ta phải sát cánh cùng nhau đấu tranh kiên quyết để thắng kẻ thù chung của chúng ta. Chỉ có như thế chúng ta mới có thể thực hiện được mục đích chung của chúng ta là cộng tác thân ái với nhau trên cơ sở độc lập, tự do và hòa bình, vì lợi ích chân chính của cả hai nước chúng ta.

Hoan nghênh các bạn thanh niên Pháp đang đấu tranh cho hòa bình và dân chủ!

Tình thân ái giữa nhân dân hai nước Việt – Pháp muôn năm!

Hôn tất cả các cháu

Hồ Chí Minh
Viết cuối tháng 10-1953
Báo Nhân Dân, số 147, Từ ngày 11 đến 15-11-1953.

Bác Hồ khen ngợi thanh niên Triều Tiên

Do sự hăng hái xung phong mỗi năm làm một tháng lao động nghĩa vụ, thanh niên và học sinh đã tham gia xây dựng ngôi nhà nguy nga và đắp những con đường rộng rãi…

(Trích diễn văn trong tiệc chiêu đãi ở Bình Nhưỡng, đọc ngày 10-7-1957) – Báo Nhân Dân, số 1221, ngày 12-7-1957).

Điện gửi Tổng thống Pháp Rơnê Côty
Yêu cầu hủy bỏ án tử hình chị Giamila

Kính gửi Ông Rơnê Côty, Tổng thống nước Cộng hòa Pháp,

  Tôi vô cùng xúc động trước việc chị Giamila Buhirét, người nữ thanh niên yêu nước Angiêri, bị kết án tử hình. Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi đề nghị Ngài có biện pháp phù hợp với truyền thống yêu chuộng công lý và nhân đạo của nhân dân Pháp để cứu sống tính mạng của chị Giamila.

Kính gửi Ngài lời chào trân trọng.

Ngày 7 tháng 3 năm 1958

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Hồ Chí Minh

Báo Nhân Dân, số 1460, ngày 11-3-1958.

Tình cảm của Bác Hồ với thanh niên

Việt Nam và Inđônêxia

Hà Nội ta có nhiều trường mà Trường Đại học của các cháu được nhiều vinh dự đón khách quý. Những khách từ các nước bạn anh em đến Việt Nam thăm các cháu.

Bác Cácnô không muốn người ta gọi Bác mà là Anh cả, là Bung Cácnô bởi vì Bác Cácnô muốn gần gũi nhiều, gần gũi mãi với thanh niên. Hôm nay Bác Cácnô đến thăm các cháu, đấy chẳng những là một vị lãnh tụ vĩ đại của một dân tộc 88 triệu dân đưa đến cho các cháu tình hữu nghị thắm thiết của nhân dân Inđônêxia, của thanh niên Inđônêxia mà Bác Cácnô đến thăm các cháu lấy danh nghĩa là cựu sinh viên. Bác Cácnô đến đây chẳng những để nói chuyện với các cháu, nhưng mà các cháu phải xem Bác Cácnô là một tấm gương cách mạng từ lúc nhỏ, từ trong trường học ra ngoài trường học, từ lúc tự do cũng như mười mấy năm tù tội, luôn luôn hy sinh phấn đấu cho độc lập dân tộc, cho dân chủ, cho hòa bình thế giới.

Bác Cácnô đã nói với các cháu những gì? Nói tương lai của loài người một phần lớn là ở các cháu thanh niên – tức là các cháu là chủ nhân, là ông chủ, bà chủ tương lai của trái đất. Nhưng muốn cho xứng đáng với ông chủ, bà chủ thì phải làm thế nào? Không phải cứ ngồi khoanh tay sẽ là ông chủ, bà chủ, mà:

1. Phải đoàn kết chặt chẽ.

2. Cố gắng học tập cho tốt.

3. Phải lao động cho tốt.

4. Vượt mọi khó khăn đề mà chiến thắng, để hưởng thụ tất cả những khoa học, những hiểu biết của thời đại thế kỷ thứ XX.

Muốn như thế thì phải thế nào? Bác Cácnô đã nói: Phải chiến thắng những tật xấu cá nhân chủ nghĩa và có tinh thần xã hội chủ nghĩa. Các cháu đã có tinh thần xã hội chủ nghĩa, còn cá nhân chủ nghĩa cũng còn nhiều. Các cháu chắc biết trong xã hội, trong một con người cũng thế, có cái thiện và ác. Hai cái nó tranh đấu vơi nhau. Nói cái “thiện” tức là tinh thần xã hội chủ nghĩa, tinh thần chiến đấu mà thắng thì cá nhân chủ nghĩa sẽ thua, mà nếu cá nhân chủ nghĩa thắng thì tinh thần xã hội chủ nghĩa sẽ thua. Các cháu là những người tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đây là xây dựng chủ nghĩa xã hội cho các cháu. Bác, đàn anh có tuổi rồi, có hưởng xã hội chủ nghĩa cũng không được mấy vì già rồi, hưởng hạnh phúc xã hội chủ nghĩa là các cháu. Vì vậy các cháu phải ra sức xây dựng xã hội chủ nghĩa. Muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa phải có tinh thần xã hội chủ nghĩa, muốn có tinh thần xã hội chủ nghĩa phải đánh bại chủ nghĩa cá nhân. Các cháu có đánh bại được chủ nghĩa cá nhân không? Có quyết tâm không? Có học được gương sáng Bung Cácnô không? Thế thì Bác và Bung Cácnô chờ đợi những thành tích của các cháu trong học tập, trong lao động, trong đoàn kết, trong việc đánh bại chủ nghĩa cá nhân và trong thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Các cháu có làm được không? Có chắc chắn không?

Bây giờ đây, thay mặt các cháu, Bác gửi đến các bạn thanh niên và các bạn học sinh, sinh viên Inđônêxia tất cả tình hữu nghị thắm thiết và ý chí thi đua xã hội chủ nghĩa của thanh niên và sinh viên Việt Nam.

(Bài nói chuyện của Bác Hồ với sinh viên đại học chào mừng Tổng thống Xucácnô ngày 26-6-1959 – Báo Nhân Dân, số 1929, ngày 27-6-1959)

Chế độ nào, thanh niên ấy

Ngày 17 tháng 1 năm 1960, chiếc thuyền nhỏ chở bốn thủy thủ trẻ tuổi của Liên Xô (Digansin, Palốpxki, Criútcốpxki, Phêđôtốp), bốn người thuộc ba dân tộc, đều mới vào bộ đội bị bão to cuốn ra khơi Thái Bình Dương. Máy vô tuyến điện hỏng, đứt liên lạc với trên bờ. Trên thuyền chỉ có lương thực đủ cho hai ngày và hai mươi kilo khoai. Bốn người lênh đênh phiêu bạt suốt bốn mươi chín ngày đêm. Lương thực hết, họ phải nấu giày ủng mà ăn. Ăn hết giày họ phải ăn cả chiếc đàn gió bằng da. Nước hết, họ hứng nước mưa và mỗi ngày mỗi người chỉ được uống nửa cốc. (Để chúc mừng ngày sinh của Criútcốpxki, các bạn tặng anh một cốc nước đầy, nhưng anh không nỡ uống).

Đói, khát, rét, mệt, nguy hiểm đến cực độ, nhưng bốn thanh niên anh hung ấy vẫn giữ vững tinh thần, không chút nản chí. Lênh đênh trên mặt biển, không có việc gì làm, họ thay phiên nhau ngâm thơ, đọc sách, kéo đàn (Khi chiếc đàn hẵng còn) để khuyến khích lẫn nhau.

Cuối ngày thứ bốn mươi chín, thì một chiếc tàu binh Mỹ vớt họ lên.

Đó là tiêu biểu tinh thần đoàn kết và chí khí bất khuất của thế hệ thanh niên dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

*

*           *

Ai cũng biết rằng ở Mỹ, số thiếu niên và thanh niên phạm tội ngày càng nhiều. Nhất là ở các thành phố lớn, ngày nào cũng xảy ra những vụ thiếu niên và thanh niên phạm tội trộm cắp, hãm hiếp, cướp của, giết người. Ví dụ: Cách đây không lâu, tên E. Pakê, mười sáu tuổi, đã bắn chết cha và em gái của cô A. Khi bị bắt, nó khai rằng có đã chuẩn bị kế hoạch từ lâu định giết cả mẹ và hai em gái của cô A. Nhưng “không may” ba người đã chạy thoát.

Vừa rồi, chỉ trong mấy ngày (từ 2-2 đến 2-3), tên D. Hoaini, mười bảy tuổi, quê ở Caliphoócni, đã giết chết năm người đàn ông, nó thản nhiên nói: “tôi định giết mười hai người. Tiếc rằng tôi chưa làm được như ý muốn”.

Đó là đầu óc hư hỏng và cử chỉ điên cuồng của thế hệ thanh niên dưới chế độ tư bản chủ nghĩa.

Hai chế độ xã hội khác nhau đã giáo dục nên hai thế hệ thanh niên khác nhau!

(Bài viết của Bác Hồ, ký bút danh T.L, đăng trên báo Nhân Dân, số 2203, ngày 30-3-1960)

Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Tây Nguyên – chiến dịch mở màn lịch sử(*)

QĐND – Bây giờ thì vị tướng ấy đã đi xa, nhưng với tôi hình ảnh của ông còn đậm mãi, nhất là những dịp được ngồi bên ông, nghe ông kể lại câu chuyện một thời trận mạc mà tên tuổi của ông gắn liền với chiến trường ấy, mảnh đất ấy: Trận mở màn Buôn Ma Thuột trong Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3-1975. Ông là Thượng tướng, GS Hoàng Minh Thảo.

Với tác phong điềm đạm, ân cần, ông kể cho tôi nghe về những năm tháng chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên, một thời gian lao, vất vả nhưng thật hào hùng và oanh liệt. Bài học quân sự với những khái niệm cao siêu qua ông thật dễ hiểu và thấm mãi.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân năm 1975, Buôn Ma Thuột là điểm đột phá chiến lược mở đầu cho chiến cuộc. Buôn Ma Thuột không phải là một vị trí quân sự mạnh như Plei-cu, không phải là đầu não quân sự ở Tây Nguyên, nhưng Buôn Ma Thuột là trung tâm chính trị, văn hóa của Tây Nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng; nó yếu hơn Plei-cu, nhưng lại rất hiểm. Mà một nguyên tắc quân sự trong chọn mục tiêu tiến công là yếu và hiểm. Ta có thể nhanh chóng đánh chiếm và khi đã giải phóng được Buôn Ma Thuột thì sẽ làm rung động cả Tây Nguyên, ảnh hưởng trực tiếp đến cả vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ và cả phía bắc, tây bắc Sài Gòn…

Trước khi đánh Buôn Ma Thuột, ta phán đoán, dự kiến một số tình huống và có kế hoạch xử lý. Bởi muốn giành được chủ động thì không thể chủ quan, sơ sài. Phải bày tất cả các tình tiết, mâu thuẫn của màn diễn lên bàn, lên bản đồ, phải gạn lọc tình huống, hạn chế, loại trừ mâu thuẫn để đi đến khả năng thực hiện. Về mặt chiến lược, ta có thể hạn chế và loại trừ tình huống địch đưa quân cấp sư đoàn tăng cường cho Tây Nguyên. Để làm được việc đó khi ta định giải phóng Tây Nguyên, phải kìm địch ở Huế – Đà Nẵng và Sài Gòn là hai đầu nam bắc chiến tuyến để bảo đảm cho Tây Nguyên hoạt động thắng lợi.

Xe tăng quân giải phóng trong Chiến dịch Tây Nguyên. Ảnh tư liệu.

Để kìm hãm địch ở Huế, ta để Quân đoàn 2 do đồng chí Nguyễn Hữu An chỉ huy ở tây bắc Huế, buộc địch phải để một bộ phận quân dù và thủy quân lục chiến chuẩn bị đối phó với Quân đoàn 2. Địch rất sợ mất Huế – Đà Nẵng vì ta có Quân đoàn 1 đứng sau Quân đoàn 2 phía bắc Vĩ tuyến 17 sẵn sàng tham chiến khi cần thiết. Để kìm hãm địch ở Sài Gòn, ta để Quân đoàn 4 do đồng chí Hoàng Cầm chỉ huy ở Đồng Nai, buộc địch phải để Sư đoàn dù và Sư đoàn thủy quân lục chiến giữ Sài Gòn. Mối lo của địch đối với Sài Gòn, Huế-Đà Nẵng còn nặng hơn Plei-cu và Buôn Ma Thuột. Chính vì thế cho nên địch bị hở ở Tây Nguyên.

Để hiểu sâu các vấn đề trên, công tác tham mưu chiến lược bao gồm việc xác định ý định chiến lược, trong đó có mục tiêu định đánh, việc phối hợp, nghi binh lừa địch, việc chia cắt chiến lược… Trong tiến công chiến lược phải xác định chiến trường chủ yếu, chiến trường phối hợp, chiến trường kìm hãm, đó là triển khai chiến lược.

Vào năm 1975, trên cơ sở tình hình các chiến trường Quảng Trị, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, ta nên mở đầu bằng chiến dịch nào? Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã thảo luận và cuối cùng xác định Tây Nguyên là chính, các chiến trường khác phối hợp. Sau khi xác định mục tiêu, thì việc đầu tiên của mưu kế là nghi binh, lừa địch, kìm hãm địch, tạo điều kiện cho chiến trường chính phát động và tiến công thuận lợi. Đó là mưu kế chiến lược. Vì sao ta làm được việc này? Ông đặt câu hỏi và khẳng định: Vì chiến tranh nhân dân của chúng ta phát triển cao ta mới có chỗ đứng chân xen kẽ da báo với địch. Và như vậy, ta đã tạo thế chiến lược cho Tây Nguyên có sơ hở. Tiếp đó, để chắc thắng, Bộ Tổng tư lệnh đột ngột tăng cường cho Tây Nguyên Sư đoàn 316 do đồng chí Đàm Văn Ngụy chỉ huy và Sư đoàn 968 do đồng chí Thanh Sơn chỉ huy từ Hạ Lào sang. Như vậy từ chỗ chỉ có hai sư đoàn và một số trung đoàn độc lập, ở Tây Nguyên ta có 4 sư đoàn và một số trung đoàn độc lập. Lúc này, Tây Nguyên mạnh hơn một quân đoàn và do đó hình thành một tập đoàn chiến lược.

Vì sao Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chọn Buôn Ma Thuột làm điểm đánh trận mở đầu và cũng là một trận then chốt quyết định của chiến dịch? Trước đó, do những điều kiện cụ thể của chiến trường, ta đã cân nhắc lợi hại giữa Buôn Ma Thuột và Kon Tum, xem chọn thị xã nào làm điểm tiến công.

Tuy nhiên, căn cứ vào những hoạt động của ta và địch trên chiến trường, với nhiều ý kiến phân tích khách quan, khoa học, Bộ Chính trị đã quyết định chọn thị xã Buôn Ma Thuột làm điểm tiến công.

Thị xã Buôn Ma Thuột nằm sâu trong vùng kiểm soát của địch; là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa quan trọng của Tây Nguyên và cũng là nơi tập trung bọn đầu sỏ phản động trong vùng. Về mặt quân sự, thị xã này có vị trí rất cơ động, đứng ngay ở ngã ba đường chiến lược 21 nối liền với Nha Trang và đường số 14, phía bắc đi Cheo Reo và Plei-cu, phía nam đi Gia Nghĩa và miền Đông Nam Bộ. Do nằm sâu trong vùng kiểm soát của địch nên quân chiếm đóng của chúng ở đây không bị đối mặt trực tiếp với quân ta như ở Kon Tum, việc bố phòng cũng không chặt chẽ bằng Kon Tum. Đánh Buôn Ma Thuột, ta sẽ có khó khăn trong việc trinh sát nắm địch, nắm địa hình, vận chuyển vật chất hậu cần và cơ động tập kết, triển khai lực lượng. Mọi hoạt động chuẩn bị phải rất công phu và phải tuyệt đối giữ bí mật, kết hợp với hoạt động nghi binh thu hút sự chú ý và đối phó của địch về hướng khác thì mới loại bỏ được khả năng địch tăng cường dự phòng. Quyết tâm chọn Buôn Ma Thuột làm trận đánh then chốt, trận đánh mở đầu là rất chính xác, làm một đòn đánh hiểm, nhằm vào chỗ sơ hở, điểm yếu của địch.

Mặt khác, đây là đòn mở đầu nên ta quyết tâm phải thắng lợi mới tạo thuận lợi cho việc tiếp tục phát triển… Nguyễn Trãi từng nói: “Bỏ chỗ mạnh đánh chỗ yếu, tránh chỗ vững đánh chỗ núng, thì dùng sức một nửa mà thành công gấp bội”. Ta cũng học cách đánh này của cha ông ta. Muốn đánh Buôn Ma Thuột thắng nhanh, phải nghi binh đánh Plei-cu để Buôn Ma Thuột vẫn yếu như cũ. Và ta đã tổ chức nghi binh cho Plei-cu.

Bắt đầu, từ cuối tháng 2-1975, ta cho Sư đoàn 968 đánh thật, nghi binh vào các vị trí địch ở tây nam Plei-cu và Kon Tum, sử dụng lực lượng với quy mô thích hợp cho từng mục tiêu và vận dụng các cách đánh bài bản để tiến công địch. Cùng thời gian, sư đoàn đã đánh các cứ điểm địch ở ngoại vi quận lỵ Thanh An, bức rút đồn Tầm, đánh chiếm dãy cao điểm Chư Cara, Chư Gôi, 605, uy hiếp mạnh Thanh Bình, Thanh An tây nam Plei-cu, đồng thời kết hợp đánh nhỏ ở tây Plei-cu, bắc Kon Tum, làm trận địa pháo và huy động dân công, bộ đội mở đường 220 nối Võ Định, bắc Kon Tum với đường 19, đoạn phía đông Plei-cu 40km và rầm rộ làm các con đường dẫn vào hai thị xã Plei-cu và Kon Tum. Ta cũng tung tin sẽ tiến công Kon Tum nhưng bí mật đưa Sư đoàn 968 vào hoạt động ở khu vực Plei-cu và điều Sư đoàn 10, Sư đoàn 320 đang hoạt động ở khu vực này xuống nam Tây Nguyên.

Việc bảo đảm bí mật sự di chuyển hai sư đoàn cùng các đơn vị binh chủng kỹ thuật vào nam Tây Nguyên là công việc hết sức khó khăn. Ta phải cho các sư đoàn này di chuyển như “đèn cù” nhiều lần rồi mới di chuyển chính thức. Đồng thời khi di chuyển chính thức, toàn bộ điện đài và nhân viên báo vụ của hai sư đoàn trên vẫn để lại vị trí cũ hoạt động như thường lệ, truyền đi các báo cáo và mệnh lệnh giả để đánh lừa địch mà chỉ dùng điện thoại của Bộ Tư lệnh Trường Sơn để thông tin cho nhau. Địch cho rằng ta vẫn không hề có dấu hiệu chuyển quân. Trong khi đó Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 đã chuyển từ Plei-cu và Kon Tum về hướng Buôn Ma Thuột rồi.

———

(còn nữa)

Đại tá, TS NGUYỄN THÀNH HỮU  Lược ghi theo lời kể của cố Thượng tướng, GS Hoàng Minh Thảo.
qdnd.vn

Nghi binh, chia cắt địch trong chiến dịch Tây Nguyên

Kỷ niệm 38 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975

QĐND – Sau khi Hiệp định Pa-ri ký kết (ngày 27-1-1973), so sánh lực lượng ở miền Nam thay đổi căn bản, có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Theo hiệp định, Mỹ phải tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, rút toàn bộ quân đội và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, công nhận ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát. Trước tình hình đó, Đảng ta họp Hội nghị Trung ương 21 (tháng 7-1973), Hội nghị Bộ Chính trị (tháng 10-1974), phân tích tình hình và nhận định: Quân địch đã bị thất bại trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, ngoại giao. Ta càng đánh càng thắng, thế và lực của ta đã hơn hẳn địch, chưa bao giờ ta có đầy đủ điều kiện như hiện nay. Bộ Chính trị hạ quyết tâm: Giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975-1976, đồng thời dự kiến phương án nếu thời cơ đến, lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, quân và dân ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mở đầu bằng Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4-3 đến 24-3-1975). Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi, tạo nên bước ngoặt quyết định của chiến tranh cách mạng, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi toàn vẹn của Chiến dịch Tây Nguyên đã giải quyết thành công nhiều vấn đề về nghệ thuật quân sự, nổi bật là nghệ thuật nghi binh, chia cắt địch.

Sư đoàn 316 phối hợp với xe tăng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột ngày 10-3-1975. Ảnh tư liệu.

Đầu năm 1975, địch cho rằng ta chưa hội đủ điều kiện để đánh lớn ở Buôn Ma Thuột, trước hết là không giải quyết nổi bảo đảm hậu cần-kỹ thuật, nhất là không bảo đảm được việc cơ động cho xe tăng và pháo cơ giới vượt sông Sê-rê-pốc. Nếu có mở chiến dịch tiến công Tây Nguyên, thì sẽ đánh vào Kon Tum, Plei-cu là chủ yếu. Trên cơ sở phân tích về địch, điều kiện về ta, địa hình để giành thắng lợi cho chiến dịch ta lập kế hoạch tác chiến theo hai phương án: Một là, đánh địch khi chúng chưa tăng cường, phòng ngự dự phòng. Hai là, đánh địch đã tăng cường dự phòng. Ta lấy phương án hai làm cơ bản, nhưng trong thực hiện phải hết sức tạo thời cơ để đánh theo phương án thứ nhất. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến là: “Mạnh bạo, chắc thắng, chủ động, cơ động, linh hoạt, bí mật, bất ngờ”. Để giữ ý định chiến dịch, tạo điều kiện thời cơ đánh theo phương án một, đồng thời triệt để khai thác những đánh giá sai lầm của địch, Bộ tư lệnh chiến dịch chỉ đạo các đơn vị tích cực thực hành nghi binh, chia cắt để đánh lừa địch, thu hút và giam chân khối chủ lực ở bắc Tây Nguyên.

Từ ngày 1-3-1975, Sư đoàn 968 tiến công tiêu diệt một loạt các vị trí địch ở phía tây nam thị xã Plei-cu, đồng thời cùng lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân mở đường rầm rộ tiến vào thị xã từ phía tây. Trong thời gian này, các đơn vị của ta bí mật cơ động vào các khu vực được phân công và tập kết vật chất đảm bảo cho tác chiến. Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 để lại toàn bộ cụm điện đài và báo vụ viên ở lại vị trí cũ, hằng ngày các điện đài vô tuyến của các đơn vị vẫn thường xuyên duy trì liên lạc tại khu vực đã đứng chân ở bắc Tây Nguyên, phát đi đều đặn những bức điện, mệnh lệnh giả. Bộ tư lệnh chiến dịch dùng hệ thống vô tuyến điện của Sư đoàn 470, Đoàn 559 để chỉ huy. Kế hoạch nghi binh hoàn hảo của ta làm cho địch nhận định sai lầm, dàn mỏng lực lượng, sơ hở ở khu vực phòng thủ Buôn Ma Thuột.

Từ ngày 3 đến 9-3-1975, Trung đoàn 95A tiến công một số vị trí địch cắt đường 19 đoạn từ ngã ba Plây Bôn đến ấp Phú Yên, địch càng cho rằng sự phán đoán của chúng là đúng, đã tập trung lực lượng phản kích trên đường 19 và phòng giữ Kon Tum, Plei-cu. Ngày 4-3, Thường vụ Đảng ủy Bộ tư lệnh chiến dịch họp nhận định, ta đã điều khiển được địch theo đúng ý định và hạ quyết tâm: Đánh địch theo phương án địch chưa tăng cường phòng ngự dự phòng ở thị xã Buôn Ma Thuột. Để đánh thắng trận mở màn ở Buôn Ma Thuột, ta sử dụng Sư đoàn 320 đánh chiếm Chư Xê và CẩmGa cắt hoàn toàn đường 14. Phát hiện Sư đoàn 320 của ta, địch vội vã điều liên đoàn 21 biệt động quân lên Buôn Hồ (cách nam Thuần Mẫn 30km) để bảo vệ phía bắc Buôn Ma Thuột. Nhận thấy dấu hiệu địch tăng cường lực lượng bằng đường không cho Buôn Ma Thuột, Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho lực lượng pháo binh, cao xạ kiềm chế hai sân bay Cù Hanh và Hòa Bình; Sư đoàn 968 cắt đường 14 đoạn giữa Kon Tum và Plei-cu, đồng thời tiếp tục bắn phá vào hai thị xã này. Để bảo đảm hành lang cho các đơn vị cơ động, triển khai tiến công vào hướng nam Buôn Ma Thuột, đánh lừa và thu hút thêm sự chú ý của địch, cô lập thị xã Buôn Ma Thuột, Bộ tư lệnh chiến dịch sử dụng Sư đoàn 10 (thiếu) đánh chiếm quận lỵ Đức Lập (ngày 9-3), căn cứ 23 và căn cứ Núi Lửa, khiến địch phải co cụm và chống cự quyết liệt.

Trong lúc địch đang bối rối và bị động phải đối phó ở khắp nơi, Bộ tư lệnh quyết định tiến công thị xã Buôn Ma Thuột theo phương án đánh địch khi chúng không có lực lượng tăng cường phòng ngự dự phòng, bắt đầu từ 2 giờ sáng 10-3-1975. Đến trưa 11-3-1975, ta làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột, sau đó tiến công các căn cứ của địch ở khu vực xung quanh. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, địch bỏ Plei-cu, Kon Tum rút chạy theo đường số 7. Phát hiện địch rút chạy, ta tổ chức truy kích tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy trên đường số 7, đoạn Cheo Reo, Củng Sơn, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên.

Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên khẳng định sự vận dụng thành công nghệ thuật nghi binh, chia cắt địch, giữ bí mật ý định và hành động chiến dịch. Quá trình thực hành chiến dịch, ta triệt để khai thác những suy đoán chủ quan, sai lầm của địch và liên tục củng cố sai lầm của chúng, dẫn dắt và hướng chúng hành động theo ý định của ta. Ta còn thành công trong việc giam chân bộ phận chủ yếu của chủ lực địch ở Kon Tum, Plei-cu. Đó cũng là quá trình gạn lọc để loại trừ và hạn chế các tình huống bất lợi cho ta, chủ động bắt địch hành động theo hướng có lợi cho ta và cũng là nguyên nhân dẫn địch đến thất bại, chấp nhận rút bỏ toàn bộ Tây Nguyên, phá vỡ toàn bộ hệ thống phòng ngự liên hoàn của chúng, tạo thế, tạo thời để ta mở tiếp đòn tiến công chiến lược thứ hai, giải phóng Huế-Đà Nẵng và kết thúc đòn tiến công chiến lược quyết định cuối cùng bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Đại tá ĐÀO VĂN ĐỆ
qdnd.vn

Ngày 13 tháng 4 – “Những chiến sĩ trên mặt trận chống giặc dốt”

Thứ hai, 13/04/2009, 03:37 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 105 năm, ngày 13-4-1904 (28-2 năm Giáp Thìn), bà ngoại Nguyễn Tất Thành qua đời. Đây là cái tang lớn của gia đình Bác Hồ vì cụ bà là người đã cưu mang con rể là Nguyễn Sinh Sắc học hành, đỗ đạt và chăm sóc anh chị em của Nguyễn Tất Thành khi còn nhỏ.

Ngày 13-4-1923, Báo La Vie Ouvrière (Đời sống công nhân) đăng bài “Chủ nghĩa quân phiệt thực dân” của Nguyễn Ái Quốc, tố cáo những chính sách hà khắc của các chính quyền thực dân đối với các thuộc địa. Bài báo viết: “Sự tàn ác của bọn bắt lính ở các thuộc địa tinh vi tới mức thậm chí người Pháp ở chính quốc cũng không thể hình dung được một cái gì giống như thế…”.

Tối 13-4-1946, Bác đến thăm một lớp học ở phố Hàng Trống (Hà Nội). Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuật lại: “Bàn học là những cánh cửa kê tạm. Giáo viên, một người trẻ tuổi đeo kính trắng, đang cầm phấn viết mấy chữ mẫu trên tấm bảng đen. Người học thuộc nhiều lứa tuổi, ăn mặc khác nhau. Những mái đầu cặm cụi. Mái tóc bạc phơ của một cụ già vận áo dài bên bộ tóc đen nháy của một chú bé mặc quần cộc. Bác đứng chống cây gậy tre nhìn quang cảnh này tỏ vẻ rất xúc động. Bác khuyến khích mọi người và nói: Cả người dạy và người học đều là những chiến sĩ trên mặt trận chống giặc dốt”.

Sau đó, Bác đến thăm một lớp học khác tại khu 21 Trịnh Hoài Đức và biểu dương đội ngũ các thầy cô giáo là những người tình nguyện dạy học không lương: “Anh chị em giáo viên Bình dân học vụ là những người vô danh anh hùng. Anh hùng không tên tuổi, anh hùng không ai biết đến”. Để động viên anh chị em giáo viên bình dân học vụ, Bác tự tay viết vào cuốn “Phương pháp và cách thức dạy học vỡ lòng chữ quốc ngữ” câu: “Anh chị em giáo viên Bình dân học vụ cố gắng đọc kỹ sách này, rồi tận tâm dạy bảo đồng bào thất học, làm cho nạn mù chữ chóng hết. Thế là làm tròn một nhiệm vụ thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc”.

Ngày 13-4-1959, họp Bộ Chính trị bàn về chủ trương cải tạo công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa, Bác lưu ý coi trọng việc giáo dục, đả thông tư tưởng đối với các nhà tư sản cho kỹ, mục tiêu cải tạo là vì tương lai của các nhà công thương, không gạt họ ra ngoài nhân dân và khi định thành phần, tránh gây căng thẳng.

Ngày 13-4-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện mừng tới lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô nhân sự kiện ngày 12-4-1961, Liên Xô phóng thành công con tàu vũ trụ Phương Đông mang theo nhà du hành vũ trụ đầu tiên của loài người – Yuri Gagarin – lên quỹ đạo Trái đất.

Ngày 13-4-1967, Bác Hồ gửi thư khen ngợi các chiến sĩ pháo binh với truyền thống “chân đồng vai sắt” nay lại “lập được thành tích mới vẻ vang bắn trúng nhiều tàu chiến Mỹ, bắn chìm nhiều tàu biệt kích của Mỹ và tay sai, đánh trả pháo binh địch, diệt nhiều giặc Mỹ”. Bác căn dặn: “Các đồng chí chớ vì thắng lợi mà chủ quan, phải ra sức học tập và thi đua với pháo binh Quân Giải phóng miền Nam tài giỏi anh hùng… lập nhiều chiến công to lớn hơn nữa”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 12 tháng 4: “Chi bộ, công đoàn, thanh niên chính là cái gốc”

Chủ nhật, 12/04/2009, 01:01 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 101 năm, ngày 12-4-1908, phong trào chống sưu cao thuế nặng của nông dân miền Trung lan đến Huế. Nguyễn Tất Thành, khi đó đang theo học tại Trường Quốc học, đã tham gia vào phong trào học sinh ủng hộ những nông dân nghèo lên kinh chống thuế. Vì việc này mà học sinh Nguyễn Tất Thành bị đuổi học và bị mật thám theo dõi. Thân sinh là phó bảng Nguyễn Sinh Sắc cũng bị khiển trách vì để con dính líu đến “quốc sự”.

Ngày 12-4-1928, từ Berlin, thủ đô nước Đức, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản trình bày về hoàn cảnh và đề đạt nguyện vọng: “Không thể công tác ở Pháp, ở Đức vô ích, nhưng cần thiết ở Đông Dương nên tôi xin lại lên đường về xứ sở này…”.

Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về điều kiện hoạt động nhưng nhà cách mạng Việt Nam quả quyết: “Dù thế nào tôi cũng sẽ đi, bởi vì đã một năm tôi lang thang từ nước này sang nước khác trong khi có nhiều việc phải làm ở Đông Dương… Vậy tôi xin các đồng chí cho tôi càng sớm càng tốt những chỉ thị chính xác về điều mà tôi phải làm và bao giờ thì tôi có thể lên đường”.

Ngày 12-4-1948, sau khi chủ trì cuộc họp liên bộ, Bác Hồ tổ chức một đêm ngâm thơ, các bộ trưởng thay nhau ngâm những bài thơ trong quyển thơ “Bà mẹ Việt Bắc” của Tố Hữu và tham dự nhiều trò vui khác.

Ngày 12-4-1952, Báo Cứu Quốc đăng bài “Cụ Hồ và cuốc cỏ bỏ phân”, ký tên tác giả Đ.X. Bài báo cho biết, Chủ tịch nước đã nhận được hàng vạn bức thư của các tầng lớp nhân dân gửi tới thông báo về thành tích tăng gia sản xuất. Kết luận bài báo, tác giả tin tưởng rằng chính sách tăng gia và tiết kiệm của Chính phủ và đoàn thể nhất định thành công vì chính sách ấy “đã thấm nhuần và đã biến thành chính sách của nhân dân”.

Ngày 12-4-1962, Bác tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ 7 và phát biểu nhấn mạnh đến vai trò con người là quyết định. Bác cho rằng mục đích của chủ nghĩa xã hội là nâng cao đời sống của nhân dân, muốn vậy, phải “có kế hoạch giáo dục, củng cố chi bộ, công đoàn, thanh niên. Ba lực lượng ấy mạnh thì mới lên được. Có người nói máy kéo là gốc, cũng có người nói cái khác là gốc, tôi nói chính cái này là gốc”.

Ngày 12-4-1965, Bác gửi thư tới các chiến sĩ trên đảo Cồn Cỏ, ngoài vùng biển Vĩnh Linh (Quảng Trị), đã kiên cường đương đầu với máy bay và tàu chiến Mỹ để bảo vệ vùng trời và vùng biển của Tổ quốc, lập được nhiều chiến công và được phong là “hòn đảo anh hùng”. Trong thư, Bác động viên: “Các chú cần luôn luôn cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, khó không nản, thắng không kiêu, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

Ngày 12-4-1966, Báo Nhân Dân công bố trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đài Truyền hình Nhật Bản Nihon Denpa lên án Mỹ mở rộng chiến tranh, vạch trần thủ đoạn “tìm kiếm hòa bình” của Tổng thống Johnson cũng như sự đồng lõa của chính quyền Nhật Bản… và khẳng định: “Dù có lâu dài, gian khổ, cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam nhất định thắng lợi”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn