Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Những địa điểm lịch sử của Hiệp định Paris

(VOV) – Đó là những nơi đã ghi dấu chặng đường đàm phán kéo dài suốt 5 năm để đi tới lễ ký cuối cùng tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế Kléber

Khách sạn Lutetia – Nơi khởi đầu cũng là nơi ăn mừng chiến thắng

Khách sạn Lutetia vẫn còn giữ nguyên hiện trạng như những năm 1968 – 1973

Nơi đoàn đàm phán Việt nam Dân chủ Cộng hòa đến ở trong vài ngày đầu tiên tới Paris, trước khi chuyển sang ở tại ngôi trường Đảng tại Choisy le Roi. Khách sạn Lutetia cũng là nơi diễn ra bữa tiệc chiêu đãi lớn khi Hiệp định Paris được ký kết.

Choisy-le-Roi: Trung tâm của các cuộc đàm phán hòa bình (nơi ở của đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)

Ngôi nhà số 11 phố Darthe, thành phố Choisy le Roi, nơi làm việc của phái đoàn VNDCCH và cũng chứng kiến nhiều cuộc hội đàm bí mật giữa ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissinger.

Tấm biển trước khu nhà ở của phái đoàn VNDCCH tại thành phố Choisy le Roi: “Nơi đây từ năm 1968-1973, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từng sống, để đàm phán chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và lập lại hòa bình ở Việt Nam”.

Dãy nhà của trường Cán bộ Đảng Cộng sản Pháp tại thành phố Choisy le Roi, nơi phái đoàn VNDCCH đã ở trong 5 năm, từ 1968-1973

Phái đoàn của VNDCCH chụp ảnh lưu niệm trước tòa nhà.

Quảng trường mang tên “Hiệp định Paris” sẽ được khánh thành vào tháng 3/2013 tại thành phố Choisy le Roi.

Verriere le Buisson– Nơi có mặt Đoàn Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt nam

Trong vườn ngôi nhà ở Verriere le Buisson, nơi đây bà Nguyễn Thị Bình và các thành viên đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã từng sống từ năm 1968-1973.

Căn nhà nhỏ từng là nơi đặt Đài phát thanh giải phóng, truyền những dòng tin về Hội nghị Paris.

Ảnh tư liệu bà Nguyễn Thị Bình tại ngôi nhà ở Verriere le Buisson- ảnh do ông Pierre Gueguen – nhân viên an ninh của đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lưu giữ

Ông Pierre Gueguen và những tư liệu quý ông còn lưu giữ trong 40 năm qua.

Buổi lễ cắm biển trước ngôi nhà tại số 17, Đại lộ Cambacérès, Verriere le Buisson. Trên tấm biển có ghi, nơi đây từ năm 1968-1973, đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt nam từng ở trong thời gian đàm phán Hiệp định Paris.

Những tấm hình tư liệu quý giá về đàm phán Paris.

Toàn cảnh ngôi nhà.

Chủ nhân ngôi nhà ngồi trò truyện với PV VOV. Trong câu chuyện ông nói tới cái duyên của mình đối với Việt Nam.

Tấm biển trước cửa ngôi nhà Gif sur Yvette: “Trong ngôi nhà này, ngày 22/11/1972, đã diễn ra các cuộc đàm phán giữa ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissinger”

Căn phòng đàm phán bí mật giữa ông Lê Đức Thọ và Henry Kissiger nay trở thành một studio.

Thùy Vân/VOV-Paris
vov.vn

Hiệp định Paris và tấm lòng bè bạn quốc tế

(VOV) -Những người bạn quốc tế mang đến những câu chuyện xúc động cũng như những tình cảm thắm thiết dành cho nhân dân Việt Nam.

Kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris, sáng 26/1 tại Hà Nội, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam tổ chức giao lưu: “Hiệp định Paris và tấm lòng bè bạn quốc tế”. Chương trình có sự tham dự của Nguyên phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cùng đông đảo những người bạn quốc tế yêu mến và ủng hộ Việt Nam trong quá trình đàm phán Hiệp định Paris.

Buổi giao lưu là dịp các đại biểu gặp gỡ những người bạn gắn bó mật thiết với phong trào phản đối chiến tranh cũng như ủng hộ độc lập, tự do của Việt Nam.

Mỗi nhân vật đều mang đến những câu chuyện xúc động cũng như những tình cảm thắm thiết dành cho nhân dân Việt Nam. Nếu như ông Michel Strachinesen, Pháp – người 5 năm phụ trách công tác lái xe cho bà Nguyễn Thị Bình tại Paris khiến khán giả xúc động bằng câu chuyện bảo vệ lá cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam giữa Paris, thì câu chuyện của ông Renato Darsie, Italia – người ủng hộ Việt Nam từ những năm 1960 lại cho khán giả thấy cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc Việt đã chinh phục những người yêu hòa bình trên thế giới.

Ông Renato Darsie kể: “Ngày đó chúng tôi có rất nhiều phong trào phản đối chiến tranh tại Việt Nam như phong trào của sinh viên, công nhân, của hội đoàn. Ngày đó chúng tôi có phong trào hiến máu cho nhân dân Việt Nam. Nhưng không phải nơi nào cũng có được bởi chính quyền không ủng hộ, chỉ có những vùng Đảng Cộng sản nắm quyền mọi người mới được hiến máu. Do đó chúng tôi phải đi sang Nam Tư hiến máu rồi nhờ các bạn Nam Tư chuyển máu về cho nhân dân Việt Nam”.

Khách mời tham dự buổi giao lưu còn được gặp lại thành viên nhóm du kích Caracas, Venezuela – những người đã tham gia vụ bắt giữ một sĩ quan Mỹ để đánh đổi chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Trỗi.

Ông Carlos Rey Gome, thành viên nhóm du kích nhớ lại: “Ngày 9/10/1964, đội du kích của chúng tôi đã bắt cóc được một sỹ quan Mỹ. Chính phủ Mỹ đã liên hệ với chúng tôi và chúng tôi nói rằng có 3 ngày để Mỹ trả tự do cho anh Nguyễn Văn Trỗi, nếu không chúng tôi sẽ xử tử sỹ quan Mỹ. Khi đó Mỹ liên hệ với ngụy quyền của Nguyễn Văn Khánh và tuyên bố việc xét xử anh Trỗi sẽ được tiến hành lại theo chiều hướng thả tự do cho anh Trỗi. Tuy nhiên khi chúng tôi thả tự do cho sỹ quan Mỹ thì tại Việt Nam anh Trỗi bị xử tử. Đó là một sự giả dối, phản bội lời hứa của Mỹ. Sau đó chúng tôi phát động phong trào đoàn kết với nhân dân Việt Nam, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, nhất là ủng hộ Việt Nam tại Hiệp định Paris”.

Hiệp định Paris và tấm lòng bè bạn quốc tế” không chỉ phác họa những phòng trào phản chiến ủng hộ Việt Nam của nhân dân trên thế giới, mà còn phản ánh những hoạt động đòi độc lập, tự do cho dân tộc của kiều bào ta tại nước ngoài.

Ông Nguyễn Ngọc Trân – nguyên Việt kiều Pháp, người có những đóng góp tích cực trong thời gian đàm phán và ký kết Hiệp định Paris chia sẻ: “Công việc của chúng tôi là tạo mọi sự thuận lợi 2 đoàn đàm phán của Việt Nam trong thời gian tại Paris. Ngoài ra chúng tôi cũng đẩy mạnh công tác trong kiều bào để qua kiều bào tiếng nói của 2 đoàn đàm phán về tới Việt Nam; Đoàn kết các phong trào Việt kiều yêu nước trên thế giới để tiếp sức cho phong trào phản chiến và yêu cầu Mỹ phải rút quân.

Kết thúc buổi giao lưu, bà Nguyễn Thị Bình bày tỏ sự xúc động khi được nghe lại những câu chuyện của bè bạn quốc tế, được nghe lại bài hát nhắc tên mình mà một thời thanh niên Mỹ đã hát trong những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh tại Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Bình nói: “Phong trào đoàn kết quốc tế hay là sự đoàn kết quốc tế là một nhân tố quan trong góp phần vào thắng lợi của Việt Nam. Và hôm nay tôi có thể thay mặt cho nhân dân Việt Nam nói là chúng tôi mãi mãi biết ơn bạn bè quốc tế. Và mong rằng tình cảm hữu nghị của chúng ta sẽ tiếp tục ngày càng tốt đẹp”.

Thắng lợi của dân tộc Việt Nam trên mặt trận ngoại giao nói riêng và trong cuộc đấu tranh chống mỹ cứu nước nói chung một phần là sự giúp đỡ, ủng hộ của bạn bè quốc tế. Và chương trình “Hiệp định Paris và tấm lòng bè bạn”chính là lời tri ân sâu sắc dành cho họ./.

Thúy Ngà/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Cựu binh chiến trường miền Nam nói về Hiệp định Paris

(VOV) -Từng người lính đều nhận thức rõ, dù gian khổ hi sinh cũng phải giành chiến thắng

Ngày 27/1/1973 đã đi vào lịch sử ngoại giao Việt Nam, với việc ký kết Hiệp định Paris, buộc Mỹ phải rút hết quân và chư hầu khỏi miền Nam Việt Nam. 40 năm đã trôi qua, nhưng những người lính chiến đấu trên khắp chiền trường miền Nam và Tây Nguyên vẫn còn nhớ rõ những ngày tháng chiến đấu, những chiến công trên chiến trường, góp phần làm nên chiến thắng lịch sử trên bàn đàm phán.

Hành quân vào chiến trường miền Nam đánh Mỹ

Từ sau Chiến dịch Mậu Thân 1968 đến đầu năm 1973, ông Lương Ngọc Nhẫn, quê ở huyện Tam Kỳ- tỉnh Quảng Nam là Đại đội phó Đại đội Cánh Đông thuộc Thị đội Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc. 70 tuổi, cựu binh Lương Ngọc Nhẫn, hiện vui thú điền viên cùng con cháu ở thôn 5, xã Hòa Thắng, thành phố Buôn Ma Thuột. Nhưng 4 năm cùng đơn vị chiến đấu, vẫn như thước phim quay chậm trong trí nhớ ông.

Ông kể rằng, khi ấy, từng người lính đều nhận thức rõ, dù gian khổ hi sinh cũng phải giành chiến thắng: “Mục tiêu là để áp lực dồn địch vào điểm hẹp và lớn hơn mình làm cho trên trường quốc tế đang họp ở Paris là bắt buộc thằng Mỹ phải chuyển động vì tiêu hao lực lượng của nó nhiều. Anh em lúc đó sẵn sàng đấu tranh, đi chiến đấu bất cứ chỗ nào. Diệt những thằng ác ôn, rồi lấn chiếm đất, cắm cờ, chặn đánh… Khi dừng tiếng súng thì vẫn giữ chắc mảnh đất của mình vừa giải phóng, nếu địch ra ngoan cố thì tiêu diệt.”

Còn ông Nguyễn Viết Kháng, quê ở huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, hiện sống tại thôn 1, xã Ea Tiêu, huyện Chư Quynh, tỉnh Đắc Lắc nguyên là bộ đội thông tin thuộc Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 812, Sư đoàn 324, chiến đấu chủ yếu ở chiến trường Quảng Trị, sau tăng cường vào miền Nam, cho biết: “Đơn vị quán triệt nhiệm vụ là phải kiên quyết tiếp tục đánh, đánh mạnh và đánh thắng, để góp phần cùng toàn chiến trường làm nên chiến thắng oanh liệt để bắt buộc địch phải đàm, phải ký hiệp định với ta, cho nên tinh thần anh em rất phấn khởi. Người tôi khi đó nhỏ mà rất khỏe, mang cái máy VTV 108 nặng 25kg đi đài liên tục. Nhiệm vụ tổ đài là luồn sâu vào trong địch để nắm tình hình, chấm các tọa độ mục tiêu khu vực để báo về cho sở chỉ huy ta để đánh… thì đã góp phần cùng với toàn miền Nam chúng ta giành thắng lợi lớn, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris với ta”./.

Thế Thắng/VOV- Tây Nguyên
vov.vn

Chủ tịch nước: Những bài học lớn từ Hội nghị Paris lịch sử

(VOV) -VOV online giới thiệu toàn văn phát biểu của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Lễ kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các vị đại biểu khách quý,

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sỹ cả nước,

Hôm nay, trong không khí cả nước phấn khởi đón mừng năm mới, mừng đất nước đổi mới, mừng Đảng ta tròn 83 tuổi, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam – một sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân ta và nền ngoại giao Việt Nam.

Chủ tịch nước phát biểu tại lễ mit tinh

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt chào mừng và xin gửi tới các đồng chí, các vị đại biểu, các vị khách quốc tế, các thành viên phái đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, các cán bộ, chiến sỹ đã tham gia phục vụ Hội nghị Paris tới dự Lễ kỷ niệm trọng thể này, cùng toàn thể đồng bào, đồng chí, chiến sỹ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Thưa đồng bào, đồng chí và các bạn,

Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20; đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược.

Cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ của quân, dân ta trên chiến trường và cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris đều nhằm mục tiêu là buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Biết bao đồng bào, đồng chí và chiến sỹ, những người con ưu tú của Tổ quốc đã hy sinh xương máu vì mục tiêu thiêng liêng ấy.

Ký kết Hiệp định Paris, Mỹ đã phải công nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam; nhân dân ta đã thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút” mà Bác Hồ kính yêu đã chỉ ra trước lúc Người đi xa.

Hiệp định đã mở ra một cục diện mới với thế mạnh áp đảo của ta trên chiến trường, tạo tiền đề vững chắc cho quân và dân ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào” với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Hiệp định Paris cũng là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành ủng hộ, giúp đỡ nhân dân ta trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, dõi theo từng diễn biến trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán tại Paris.

Hiệp định Paris là sự minh chứng hùng hồn cho chân lý “đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo”, củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa. Vì vậy, Hiệp định Paris đã đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam cũng mở ra một giai đoạn mới ở khu vực Đông Nam Á, giai đoạn các nước Đông Nam Á hòa bình, ổn định, khép lại quá khứ thù địch, xích lại gần nhau để sum họp trong cộng đồng ASEAN ngày nay.

Thưa đồng bào, đồng chí và các bạn,

Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi đó, trước hết bắt nguồn từ thắng lợi của cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng với những nỗ lực phi thường, quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do, thống nhất đất nước của quân và dân ta trên các chiến trường, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, phải xuống thang và cuối cùng phải ký Hiệp định Paris.

Thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Paris đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công.

Song song với đấu tranh trên bàn đàm phán, các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế tại Hội nghị Paris làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh giải phóng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam; vạch trần những thủ đoạn, mưu đồ đen tối, tính chất phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược của địch, đã góp phần quan trọng tạo nên Phong trào nhân dân thế giới rộng lớn chống Mỹ, ủng hộ Việt Nam – một Phong trào mang tính lịch sử và thời đại, tiêu biểu cho lương tri của loài người, đã tác động rất lớn tới dư luận tiến bộ Mỹ, thúc đẩy sự lớn mạnh của phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Mỹ.

Kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, chúng ta bồi hồi xúc động, ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; chúng ta ghi nhớ công lao của biết bao đồng bào, đồng chí, chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh để làm nên những chiến công chói lọi; ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên: Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn, đặc biệt là vai trò và những cống hiến to lớn của đồng chí cố vấn Lê Đức Thọ. Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý. Sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế đã trở thành một phần của lịch sử kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam vì độc lập tự do của Tổ quốc và cũng vì lẽ phải và công lý trên thế giới. Chúng tôi tin tưởng rằng, trái tim và khối óc của các bạn vẫn mãi mãi đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Thưa đồng bào, đồng chí và các bạn,

Hội nghị Paris và Hiệp định Paris để lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, có ý nghĩa lớn trong tình hình hiện nay.

Trước hết là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta mở ra mặt trận ngoại giao, phát huy thế mạnh của ngoại giao, phối hợp với các mặt trận chính trị, quân sự; lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất các mặt trận, “vừa đánh, vừa đàm”, tạo ra sức mạnh tổng hợp, giành toàn thắng.

Thứ hai  là bài học về kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia dân tộc; vận dụng đúng đắn phương châm ngoại giao Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, tạo thời cơ, kéo địch vào đàm phán, chủ động tấn công ngoại giao và kết thúc đàm phán khi điều kiện chín muồi; xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế rộng rãi đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta để làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris.

Thứ ba là bài học về tầm quan trọng của thực lực. Bác Hồ dạy: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Cái chiêng có to, tiếng mới lớn”. Thắng lợi của Hội nghị Paris bắt nguồn từ những thắng lợi trên chiến trường, từ sự lớn mạnh không ngừng về thế và lực của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó là sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế; sức mạnh từ sự kết hợp tài tình giữa các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao; giữa đánh và đàm, giữa chiến trường và bàn đàm phán.

Thứ tư là bài học về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Để vượt qua những thách thức lớn, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phương cách cực kỳ quan trọng, bảo đảm thắng lợi. Cuộc chiến đấu vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta thắng lợi vì đã phát huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Thứ năm là bài học về xây dựng lực lượng. Từ Hội nghị Geneva năm 1954 đến Hội nghị Paris, đội ngũ cán bộ ngoại giao đã trưởng thành vượt bậc, được chuẩn bị và trang bị kỹ cả về kiến thức đối ngoại và nghệ thuật đàm phán. Cùng với sự chỉ đạo sát sao, Đảng và Nhà nước ta đã chọn lựa, tin tưởng giao trách nhiệm cho những cán bộ đối ngoại bản lĩnh nhất, xuất sắc nhất tham gia hai đoàn đàm phán, góp phần rất quan trọng làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris.

Thưa đồng bào, đồng chí và các bạn,

Ôn lại bài học lịch sử là để sống xứng đáng với các thế hệ cha anh, để hành động có trách nhiệm hơn trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Các bài học của Hội nghị Paris là hành trang quý giá để chúng ta vững bước tiến vào giai đoạn hội nhập quốc tế, đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, củng cố, nâng cao thế và lực của đất nước. Trong kháng chiến chống xâm lược, thống nhất nước nhà, mặt trận ngoại giao đã có những đóng góp to lớn. Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đối ngoại phải tiếp tục là mặt trận quan trọng góp phần phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Phát huy truyền thống tốt đẹp của ngoại giao Việt Nam và những bài học quý giá của Hội nghị Paris, công tác đối ngoại cần quát triệt, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ Đại hội XI của Đảng đã đề ra, trong đó cần tập trung làm tốt những công việc sau đây:

Thứ nhất, tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại; phối hợp chặt chẽ các hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữa ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với kinh tế, quốc phòng và an ninh.

Thứ hai, kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; là bạn là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam giàu mạnh; nỗ lực triển khai định hướng chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.

Thứ ba, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đối ngoại phục vụ sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước. Vận dụng sáng tạo bài học “kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại” trong bối cảnh mới, giữ vững môi trường hòa bình, tạo thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế của đất nước ở khu vực và thế giới; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Thứ tư, xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại tuyệt đối trung thành, suốt đời phấn đấu vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn tin tưởng và kỳ vọng rằng, phát huy tinh thần Hội nghị Paris, công tác đối ngoại nhất định sẽ tiếp tục đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa; ghi tiếp các mốc son mới trong sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu của chúng ta.

Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm.

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.

Chúc sức khỏe và cảm ơn đồng bào, đồng chí và các bạn./

Ngọc Thành/VOV online
vov.vn

Ôn lại kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris

(VOV) -Nhiều nhân chứng đã không khỏi xúc động khi nhớ lại thời khắc cách đây 40 năm

Ngày 24/1, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013).

Tham dự lễ kỷ niệm có Đại sứ Việt Nam tại Pháp Dương Chí Dũng, Đại sứ Pháp tại Việt Nam Jean-Noël Poirier, Đại sứ – Trưởng phái đoàn Việt Nam bên cạnh UNESCO và Tổ chức quốc tế Pháp ngữ Dương Văn Quảng, Thượng nghị sĩ – Thư ký toàn quốc của Đảng Cộng sản Pháp Pierre Laurent, cùng lãnh đạo các thành phố Choisy-le-Roi, Verrières-le-Buisson cùng đông đảo bà con Việt kiều và bạn bè Pháp – những người đã từng tham gia và gắn bó với hội nghị Paris.

Phát biểu tại buổi lễ, Đại sứ Việt Nam tại Pháp Dương Chí Dũng đã ôn lại quá trình đấu tranh đàm phán gian khổ và nêu bật ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Những cuộc gặp mặt đầy xúc động

Hiệp định Paris năm 1973 đã buộc Mỹ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam, và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, mở ra con đường thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975.

Hai sự kiện này, việc ký kết Hiệp định Paris năm 1973 và thống nhất đất nước năm 1975 đã đi vào lịch sử nhân loại như là ví dụ điển hình về ý chí của một dân tộc quyết đấu tranh giành các quyền cơ bản và hy sinh vì độc lập và tự do cho dân tộc.

Đại sứ Dương Chí Dũng nhấn mạnh:“Trong cuộc đấu tranh đó, nhân dân Việt Nam không đơn độc. Nhân dân Việt Nam luôn nhận được sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Trên thực tế, thành công của các cuộc đàm phán dẫn tới việc ký kết Hiệp định Paris gắn bó chặt chẽ với phong trào quốc tế đoàn kết và ủng hộ nhân dân Việt Nam, mà một số nhà chiến lược đã tổng kết, đó là sự kết hợp hài hòa giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, hay nói cách khác là sức mạnh của mặt trận quốc tế”.

Đại sứ Dương Chí Dũng va bà Raymonde Dien

Có thể nói, giai đoạn đàm phán Hiệp định Paris từ năm 1968 đến năm 1973 là giai đoạn không thể nào quên khi hàng chục nghìn người Pháp đã xuống đường tham gia các cuộc biểu tình ủng hộ Việt Nam.

Ở Choisy le Roi, ở Verrières-le-Buisson, người dân Pháp, trong đó có các thành viên của Đảng Cộng sản Pháp đã dành cho các đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam những ủng hộ và giúp đỡ quý báu.

Ông Pierre Laurent, Thượng nghị sĩ, Thư ký toàn quốc của đảng Cộng sản Pháp, xúc động nói:“Tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng tới Henri Martin, Raymonde Dien, Raymond Aubrac, Léo Figuères…, tới những người đã đóng góp cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, tới những người công nhân, nhà hoạt động công đoàn, những chiến sĩ đấu tranh trong thời kỳ này mà tôi không thể kể hết được. Hai thế hệ chiến sĩ đấu tranh chống cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương và cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam đã khẳng định tình đoàn kết quốc tế. Chúng ta tự hào về họ, vinh dự khi Hiệp định Paris được đàm phán và ký kết ở thủ đô Paris của chúng ta”.

Tham dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris còn có rất đông các thế hệ người Việt Nam tại Pháp. Đây là dịp để những “nhân chứng sống” – những người đã từng tham gia giúp đỡ các phái đoàn đàm phán và từng dõi theo từng hơi thở của Hội nghị Paris, ôn lại những kỷ niệm qua những tấm ảnh tư liệu được trưng bày tại buổi lễ, gặp gỡ lại những gương mặt thân thuộc của một thời hoạt động sôi nổi.

Bác Nguyễn Đức Phương, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp sinh viên Việt Nam tại Pháp giai đoạn 1969-1975, nhớ lại, trong thời gian đàm phán, hoạt động chính của các bác là tập hợp, vận động sinh viên ủng hộ hội nghị Paris. Tuy nhiên, điều khiến bác nhớ nhất về phong trào phản chiến của sinh viên thời đó là các sinh viên Mỹ. Bác Nguyễn Đức Phương nói: “Ở Pháp, có những cuộc biểu tình của sinh viên chính quyền Sài Gòn, có biểu tình của sinh viên ủng hộ Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Nhưng chưa bao giờ có biểu tình của sinh viên Mỹ ủng hộ phái đoàn Mỹ, mà ngược lại, sinh viên Mỹ ở Pháp là đấu tranh phản chiến và hỗ trợ nhiều cho đoàn Việt Nam”.

Ông bà Gueguer trao tặng những kỷ vật của thời đàm phán Hiệp định Paris

Được cùng tìm hiểu và tham gia các hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình cho Việt Nam, được gặp gỡ và nghe những câu chuyện từ chính những người đã từng tham gia các hoạt động ủng hộ Việt Nam thời gian đó, các bạn trẻ Việt Nam sinh ra sau chiến tranh như hiểu và tự hào hơn về lịch sử và truyền thống đấu tranh của ông cha.

Bạn Tạ Minh Trí – tân Chủ tịch Hội sinh viên Việt Nam tại Pháp, cho biết: “Tôi rất xúc động được tham dự Lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris. Thời điểm đó, tôi và rất nhiều bạn sinh viên chưa được sinh ra, nhưng hôm nay được nghe Đại sứ và các nhân chứng sống của cuộc đàm phán hòa bình này kể lại, chúng tôi cảm thấy còn rất nhiều điều phải học hỏi. Chúng tôi hứa sẽ phải phấn đấu nhiều hơn nữa để xứng đáng với truyền thống của cha anh”.

Cũng trong buổi lễ trọng thể này, Đại sứ quán cũng tổ chức tiếp nhận kỷ vật là hai bức ảnh về ngôi biệt thự lịch sử tại Verrière-le-Buisson trong thời gian đàm phán Hiệp định Paris do ông bà Gueguen trao tặng. Ông Pierre Gueguen từng là nhân viên an ninh cho đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam./.

Đào Dũng/VOV-Paris
vov.vn

Mít tinh trọng thể kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris

(VOV)- Sáng 25/1, Lễ mít tinh cấp Nhà nước kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris diễn ra trọng thể tại Hà Nội.

Tới dự Lễ mít tinh có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Đại tướng Phùng Quang Thanh – Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Trần Đại Quang – Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; đồng chí Đinh Thế Huynh- Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; đồng chí Huỳnh Đảm – Chủ tịch UBTƯMTTQVN, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh- Trưởng ban Tổ chức cấp Nhà nước kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris.

Tới dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, Các lãnh đạo Ban, Ngành đoàn thể Trung ương và Thủ đô Hà Nội, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các đồng chí trực tiếp tham gia và phục vụ cho cuộc đàm phán; đại diện gia đình một số đồng chí nguyên là cán bộ của hai đoàn đàm phán và bạn bè quốc tế ủng hộ Việt Nam, góp phần vào thắng lợi cuộc đàm phán tại Hội nghị Paris, các vị Đại sứ, đại diện một số cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam; các cơ quan thông tấn báo chí trong nước và quốc tế.

Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh gửi lẵng hoa chúc mừng.

Lễ mít tinh cấp Nhà nước 40 năm ngày ký Hiệp định Paris mở đầu bằng chương trình nghệ thuật đặc sắc

Các đại biểu làm lễ chào cờ

Tại Lễ mít tinh diễn ra sáng 25/1 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình (Hà Nội), kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Paris được ký kết (27/1/1973-27/1/2013), Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang cho hai Đoàn đàm phán tại Paris.

Hiệp định Paris là mốc son trong trang sử vàng

Trong diễn văn kỷ niệm, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh: Hiệp định Paris là thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20, đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ mít tinh

Cuộc chiến đấu trường kỳ gian khổ của quân và dân ta trên chiến trường và cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris đều nhằm mục tiêu buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Biết bao đồng bào, chiến sĩ, những người con ưu tú của Tổ quốc đã hy sinh xương máu vì mục tiêu thiêng liêng ấy.

Ký kết hiệp định Paris, Mỹ phải công nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ lính Mỹ và chư hầu ra khỏi Việt Nam. Nhân dân ta đã thực hiện được mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút” mà Bác Hồ kính yêu đã chỉ ra trước lúc Người đi xa.

Hiệp định mở ra cục diện mới với thế mạnh áp đảo của chúng ta trên chiến trường, tạo tiền đề vững chắc để quân và dân ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào” với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Hiệp định Paris cũng là niềm cổ vũ lớn lao đối với người yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành, ủng hộ, giúp đỡ nhân dân ta trong lúc cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, dõi theo từng diễn biến trên chiến trường, cũng như trên bàn đàm phán tại Paris.

“Hiệp định Paris là minh chứng hùng hồn cho chân lý “Đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo”, cũng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và nhân dân bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa. Vì vậy, Hiệp định Paris đã đi vào lịch sử của sự nghiệp đấu tranh chung, của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do vì hòa bình và công lý”, Chủ tịch nước khẳng định.

Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Chủ tịch nước nhấn mạnh: Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris, chúng ta bồi hồi xúc động ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; ghi nhớ biết bao công lao của đồng bào, đồng chí, chiến sĩ đã chiến đấu, anh dũng hy sinh để làm nên những chiến công chói lọi. Chúng ta ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên đoàn đàm phán VNDCCH do đồng chí Xuân Thủy làm trưởng đoàn, đoàn CPCMLTCHMNVN do đồng chí Nguyễn Thị Bình làm trưởng đoàn, đặc biệt là vai trò và những cống hiến to lớn của đồng chí cố vấn Lê Đức Thọ; bày tỏ lòng biết ơn chân thành các nước XHCN anh hem, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý. Sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế đã trở thành một phần của lịch sử kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam vì độc lập tự do của Tổ quốc và cũng vì lẽ phải và công lý trên thế giới.

“Chúng tôi tin tưởng rằng, trái tim và khối óc của các bạn vẫn mãi mãi đồng hành cùng nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thân yêu của chúng tôi ngày hôm nay”, Chủ tịch nước nói.

Niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng

Phát biểu tại Lễ mít tinh, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, trưởng đoàn đàm phán của CPCMLT CHMNVN tại Hội nghị Paris cho biết: Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược vì độc lập, tự do,thống nhất Tổ quốc là cuộc đấu tranh chính nghĩa, phù hợp với lý tưởng và nguyện vọng của nhân dân thế giới.

Thắng lợi của Việt Nam tại cuộc đàm phán Paris là minh chứng tập trung nhất về sự đúng đắn, tài tình của đường lối, sách lược của nền ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng Danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang cho đại diện hai Đoàn đàm phán tại Hội nghị Paris

Bà Nguyễn Thị Bình cho biết, đoàn đàm phán đã thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, trong đấu tranh luôn luôn giữ vững lập trường, nguyên tắc trong từng bước đi cụ thể, biết mềm dẻo và linh hoạt- tất cả là nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng: Mỹ phải rút đi hoàn toàn, quân ta vẫn ở lại chỗ, các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam phải được đảm bảo, Việt Nam là của người Việt Nam.

“Ở đây cuộc chiến đấu không dùng súng đạn nhưng bằng đấu trí, đấu lý và cả ý chí, cũng vô cùng khó khăn và gian khổ. Các cuộc họp đàm phán bí mật là những trận chiến đấu hết sức quyết liệt. Động lực chính giúp chúng tôi kiên trì đấu tranh và hoạt động tích cực đó là vì lợi ích tối cao của dân tộc, là niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến của nhân dân ta”, bà Nguyễn Thị Bình chia sẻ.

“Hôm nay, tại Lễ kỷ niệm trọng thể  này, chúng tôi, những người được may mắn thay mặt cho nhân dân ta, ký vào văn bản Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam- một văn kiện lịch sử trọng đại của dân tộc- bày tỏ lòng biết ơn Đảng, Nhà nước và Nhân dân đã tin tưởng và giao phó cho chúng tôi một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và hết sức vẻ vang. Cảm ơn tất cả các đồng chí trong nước và đồng bào nước ngoài – đặc biệt là ở Pháp, đã giúp chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ. Và qua đây, chúng tôi đã được rèn luyện và trưởng thành”, bà Nguyễn Thị Bình nói.

40 năm Hiệp định Paris và niềm tin vào tương lai

Cũng tại Lễ mít tinh, bà Helene Luc, nguyên Thượng nghị sỹ, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Pháp- Việt cho rằng lễ kỷ niệm cần và có ích không chỉ cho thế hệ trẻ Việt Nam, mà còn cho toàn thế giới.

“Từ năm 17 tuổi, khi còn là học sinh trung học, bắt đầu đấu tranh chống chiến tranh xâm lược thuộc địa của Pháp rồi của Mỹ cho đến khi trở thành Thượng nghị sĩ, tôi vẫn kiên định một lý tưởng. Và ngày hôm nay, tôi xin bày tỏ cảm phục trước lòng quyết tâm của các bạn, quyết tâm làm cho cuộc sống ấm no hơn, quyết tâm bảo vệ hòa bình. Câu chuyện tình yêu mà chúng ta đã trải nghiệm vì hòa bình và công lý sẽ không bao giờ dừng lại”, bà Helene Luc khẳng định.

Lãnh đạo, nguyên Lãnh đạo Đảng, Nhà nước chụp ảnh lưu niệm cùng các đại biểu

Đại diện thế hệ trẻ Việt Nam, bạn Lê Việt Phương, Bí thư Đoàn Bộ Ngoại giao chia sẻ: Những bài học kinh nghiệm quý giá của những năm tháng đầy cam go, thử thách của đàm phán Hiệp định Paris là những tài sản vô giá đối với các thế hệ cán bộ ngoại giao, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Qua các hoạt động nhân kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris, thế hệ trẻ có cơ hội được hiểu sâu sắc hơn, càng thêm thấm thía, cảm phục và xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với những cống hiến, hy sinh to lớn của thế hệ đi trước để thế hệ ngày nay được sinh sống, học tập và làm việc trên một đất nước thống nhất, tươi đẹp, hòa bình và phát triển.

Thế hệ trẻ ngày nay ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc, đối với nhân dân, tiếp nối truyền thống các thế hệ cha anh, không ngừng rèn luyện phấn đấu, sẵn sàng nhận nhiệm vụ, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Ngọc Thành/VOV online
vov.vn

“Bài học sâu sắc của Hội nghị Paris vẫn còn sáng mãi”

(VOV) -Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nhấn mạnh điều này trong bài viết nhân Kỷ niệm 40 năm Hội nghị Paris về Việt Nam.

VOV online xin giới thiệu toàn văn bài viết của Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh:

Bộ trưởng Phạm Bình Minh

“Ngày 27/1/1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Paris) được ký kết, kết thúc thắng lợi Hội nghị Paris – cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.40 năm đã trôi  qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song ký ức về những ngày tháng gian lao mà oanh liệt cũng như những bài học sâu sắc của Hội nghị và Hiệp định Paris vẫn còn sáng mãi.

Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Paris là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

Hội nghị được mở ra từ một quyết định chiến lược sáng suốt của Đảng ta trong bối cảnh tình hình hết sức khó khăn. Đầu năm 1965, chính quyền Johnson ồ ạt đưa quân vào miền Nam, leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc, đồng thời, mở rộng cuộc vận động “ngoại giao hòa bình” đòi miền Bắc rút quân khỏi miền Nam và “đàm phán không điều kiện với Mỹ”.

Đáp lại các hành động xâm lược và luận điệu lừa bịp dư luận của Mỹ, quân và dân hai miền Nam Bắc đã hiệp đồng tiến công mãnh liệt cả về quân sự và chính trị, kiên quyết đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân khỏi miền Nam, chấm dứt vô điều kiện chiến tranh phá hoại chống miền Bắc. Chính vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, tháng 12/1965, Đảng ta ra Nghị quyết Trung ương 12, trong đó chỉ rõ “đánh đến một lúc nào đó sẽ vừa đánh vừa đàm” nhưng nhận định “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp”.

Đến tháng 1/1967, sau những thắng lợi vang dội của quân và dân hai miền Nam Bắc tạo thế cho ta, Nghị quyết Trung ương 13 đã quyết định mở mặt trận ngoại giao để tạo cục diện đánh đàm và kéo Mỹ xuống thang chiến tranh. Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, Johnson phải cam kết xuống thang chiến tranh, ta quyết định đi vào đàm phán với Mỹ.

Kéo dài ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Paris là cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới.

Để đi đến thắng lợi cuối cùng là bản Hiệp định lịch sử ngày 27/1/1973, chúng ta đã kiên định đường lối, chiến lược mà Đảng đề ra, đồng thời chuẩn bị kỹ càng, hết sức chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cả về bản lĩnh cách mạnh và kiến thức mọi mặt. Kế tục truyền thống đấu tranh ngoại giao của cha ông và trên cơ sở các bài học của Hiệp định Geneva 1954, đội ngũ các bộ ngoại giao đã không ngừng lớn mạnh thông qua các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế, hỗ trợ chiến trường chống “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, góp phần đưa tới thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh, đi vào đàm phán, kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp chính trị.

Cuộc đàm phán Paris trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn một bắt đầu từ ngày 13/5/1968 đến 31/10/1968, ta đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31/10/1968; chấp nhận việc triệu tập hội nghị về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam gồm 4 bên với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.

Giai đoạn hai từ ngày 25/1/1969 đến giữa năm 1972, ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền Sài Gòn, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh nhưng đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân, đòi duy trì khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn.

Giai đoạn cuối cùng từ tháng 7/1972 khi Mỹ buộc phải quay lại bàn đàm phán sau các thất bại ở cả hai miền Nam Bắc. Tuy vậy, Mỹ vẫn nuôi hy vọng đạt được một thỏa thuận trên thế mạnh. Cuối tháng 12/1972, khi con át chủ bài cuối cùng của Mỹ – dùng B52 đánh phá hủy diệt Hà Nội và các thành phố lớn của miền Bắc – đã bị quân và dân ta đánh gục trong chiến thắng vang dội “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Mỹ mới chấp nhận ký Hiệp định.

Hiệp định Paris có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Hiệp định là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”.

Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, hoàn thành mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút”.

Với việc buộc Mỹ phải rút hết trong khi ta duy trì được hoàn toàn lực lượng, Hiệp định mở ra một cục diện mới, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta để tiến lên “đánh cho nguỵ nhào”. Hiệp định Paris còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Vượt lên trên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình và công lý, là di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Hội nghị Paris để lại những bài học vô cùng quý giá. Bài học thứ nhất và quan trọng nhất là tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong suốt quá trình đàm phán, Bộ Chính trị đã luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao cả về chiến lược và sách lược đối với hai đoàn đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Thứ hai, giữ vững độc lập, tự chủ, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại. Hội nghị Paris một lần nữa khẳng định rằng, chỉ có giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết định chiến lược, sách lược, ta mới có thể chủ động tiến công, chủ động tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để bảo vệ lợi ích dân tộc.

Thứ ba, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi. Trong suốt quá trình đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, giữa “đánh” và “đàm”, giữa các binh chủng hợp thành thế trận chiến tranh nhân dân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ngay tại Paris, sự phối hợp chặt chẽ và thực hiện phương châm “tuy hai mà một, tuy một mà hai” của hai đoàn đàm phán dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ta cũng là nhân tố hết sức quan trọng để đi đến thắng lợi.

Thứ tư, chủ động, sáng tạo là phương cách đảm bảo thắng lợi trong đấu tranh ngoại giao. Ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Hội nghị Paris thực sự đã trở thành một mặt trận chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp của dân tộc. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, mặt trận ngoại giao đã chủ động tiến công, đồng thời tận dụng tối đa các thế mạnh đặc thù của mình để giành thắng lợi.

Thứ năm, Hội nghị Paris là bài học tiêu biểu về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, chúng ta đã có được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình của dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Mỹ, góp phần tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.

Kỷ niệm thắng lợi oanh liệt của Hội nghị Paris là dịp để chúng ta bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến những người con của Tổ quốc đã chiến đấu quên mình vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Sự hy sinh và công ơn to lớn ấy sẽ mãi mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam nói chung và cán bộ ngành ngoại giao nói riêng, hôm nay và mai sau. Đây cũng là dịp để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bạn bè quốc tế khắp năm châu, trước hết là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, đã kề vai sát cánh với nhân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sự ủng hộ của bạn bè quốc tế không chỉ là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân ta mà còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao thế và lực của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ.

Kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ngoại giao thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển đất nước tiếp tục là một “mặt trận”, trong đó các cán bộ ngoại giao là những “người lính“, không ngừng phấn đấu góp phần tích cực đưa đất nước vào vị thế có lợi nhất trong nền chính trị, nền kinh tế và văn hóa khu vực và toàn cầu.

Với thế và lực sau hơn 25 năm Đổi mới, trong bối cảnh mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.  Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ đối ngoại và vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Paris, ngành ngoại giao tiếp tục nỗ lực vượt bậc trong các hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ”; nỗ lực quên mình vì lợi ích quốc gia dân tộc vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Thứ hai, phát huy truyền thống chủ động, sáng tạo trong đối ngoại, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực để nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại trong quan hệ với các đối tác và trên các diễn đàn, tổ chức quốc tế; tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, phát hiện thời cơ và kiến nghị các biện pháp tận dụng thời cơ, lường trước các thách thức và kiến nghị các biện pháp hóa giải hoặc giảm thiểu các thách thức đối với phát triển và an ninh của đất nước.

Thứ ba, hợp đồng chặt chẽ giữa ngoại giao với kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh…. phối hợp nhịp nhàng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp thành công sức mạnh của đất nước với sức mạnh của thời đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại được Đảng giao phó.

Thứ tư, không ngừng học tập rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kiến thức mọi mặt, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao có trình độ và năng lực ngang tầm với các nước trong khu vực; đáp ứng yêu cầu triển khai thành công định hướng “triển khai đồng bộ và toàn diện các hoạt động đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của đường lối đối ngoại Đại hội XI.

Kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Paris được ký kết, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hy sinh của biết bao đồng bào và chiến sỹ cả nước, biết ơn Đảng và Bác Hồ vĩ đại, tri ân các thế hệ cha, anh đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris, tri ân các bạn bè quốc tế đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Ôn lại các ý nghĩa trọng đại và bài học sâu sắc của Hội nghị Paris, chúng ta thêm vững tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quyết tâm phát huy tinh thần Hội nghị Paris, vận dụng sáng tạo các bài học của Hội nghị trong bối cảnh tình hình và nhiệm vụ mới, quyết tâm góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./.

vov.vn

Hội nghị Paris-đỉnh cao nghệ thuật ngoại giao Việt Nam

(VOV) -Hội nghị Paris là thắng lợi của nền ngoại giao cách mạng non trẻ với nền ngoại giao của một siêu cường.

Trong không khí kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973-27/1/2013), nhiều hoạt động ý nghĩa đã diễn ra trên khắp cả nước.

Đây là dịp để chúng ta nhìn lại chặng đường đấu tranh đầy hy sinh, gian khổ vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, ôn lại những bài học vô giá từ cuộc đàm phán dài nhất, cam go nhất trong lịch sử Ngoại giao Việt Nam.

Nhân dịp này, phóng viên Đài TNVN phỏng vấn Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh về ý nghĩa, cũng như những bài học từ Hội nghị Paris năm 1973.

PV: Xin Bộ trưởng cho biết ý nghĩa của Hội nghị Paris và Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam?

Bộ trưởng Phạm Bình Minh: Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết cách đây 40 năm, là cuộc đàm phán lâu dài nhất, khó khăn, phức tạp nhất và thắng lợi vẻ vang nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam.

Thứ nhất, Hội nghị Paris là cuộc đấu tranh kiên cường vì các quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam.

Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh (Ảnh: .tgvn.com.vn)

Hiệp định Paris là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền, đó là “độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Vì các quyền này, dân tộc ta đã không quản ngại hy sinh trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước.

Thắng lợi của Hội nghị Paris cũng còn là sự tiếp nối của truyền thống, thể hiện ý chí sắt đá của nhân dân Việt Nam quyết tâm gìn giữ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Thứ hai, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là đỉnh cao và là kết quả của quá trình đấu tranh kiên cường, bền bỉ, cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh hết sức gay go, quyết liệt, nhưng cũng rất hào hùng của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ.

Cùng với những thắng lợi quan trọng về quân sự, đặc biệt là chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ, tạo điều kiện cho toàn quân, toàn dân ta giành thắng lợi hoàn toàn với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh, thống nhất đất nước.

Thứ ba, thắng lợi của Hội nghị Paris nói riêng và của cuộc kháng chiến của nhân dân ta khẳng định chân lý: Một dân tộc dù nhỏ yếu nhưng với chính nghĩa và quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do cho dân tộc mình, dân tộc đó sẽ chiến thắng bất kỳ lực lượng xâm lược nào. Chính vì vậy, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, hoà bình và công lý.

PV: Thưa Bộ trưởng, Hội nghị Paris để lại những bài học gì cho chúng ta hôm nay?

Bộ trưởng Phạm Bình Minh: Chúng ta có rất nhiều bài học về Hội nghị Paris. Bài học thứ nhất và quan trọng nhất, đó là tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong suốt quá trình đàm phán, Bộ Chính trị đã luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao cả về chiến lược và sách lược đối với hai đoàn đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Thứ hai là chúng ta giữ vững độc lập, tự chủ, là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại. Hội nghị Paris một lần nữa khẳng định rằng, chỉ có giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết định chiến lược, sách lược, ta mới có thể chủ động tiến công, chủ động tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để bảo vệ lợi ích dân tộc. 

Thứ ba, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực là nhân tố rất quan trọng đảm bảo thắng lợi của ngoại giao. Trong suốt quá trình đàm phán tại Hội nghị Paris, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, giữa các binh chủng hợp thành của thế trận chiến tranh nhân dân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ngay tại Paris thì sự phối hợp chặt chẽ của hai đoàn đàm phán dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ta cũng là nhân tố hết sức quan trọng.

Thứ tư, chủ động, sáng tạo trong đấu tranh ngoại giao. Ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Hội nghị Paris thực sự đã trở thành một mặt trận chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, mặt trận ngoại giao đã chủ động tiến công, đồng thời tận dụng tối đa các thế mạnh đặc thù của mình để giành thắng lợi.

Thứ năm, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại là nhân tố quan trọng đảm bảo thắng lợi. Đây cũng là điểm chung khi một nước nhỏ phải đối phó với thách thức lớn.

Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, chúng ta đã có được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội Chủ nghĩa, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình của dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Mỹ; góp phần tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.

PV: Vậy bài học từ Hội nghị Paris đối đối với ngành ngoại giao Việt Nam là gì, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Phạm Bình Minh: Đối với nền ngoại giao Việt Nam, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris mãi mãi là trang sử hào hùng, thể hiện cao độ nghệ thuật ngoại giao Việt Nam, là thắng lợi của nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ với nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường.

Có thể nói, những bài học kinh nghiệm này không chỉ là di sản của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc oanh liệt của dân tộc ta mà trước hết là những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu của ngoại giao Việt Nam hôm nay và mãi mãi mai sau.

PV: Xin cảm ơn Bộ trưởng!./.

Hồng Nhung – Anh Dũng/VOVtv
vov.vn

Chiến thắng của nghệ thuật “vừa đánh, vừa đàm”

Hiệp định Paris

(VOV) – “Hiệp định Paris được ký kết thể hiện sự đấu tranh kiên cường, bền bỉ, nhưng cũng rất sáng tạo, của các nhà ngoại giao Việt Nam”

Ngày 27/1/1973 đã đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi với việc ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam. Hiệp định Paris là văn bản pháp lý quốc tế toàn diện và đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, theo đó Hoa Kỳ đã buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”.

Nhân kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris, Bộ Văn Hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Bộ Ngoại giao tổ chức Triển lãm kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam tại Trung tâm Triển lãm Mỹ thuật, Nhiếp ảnh (29 – Hàng Bài).

Dấu son lịch sử

Với 140 bức ảnh, 21 lời trích, 23 hiện vật, 3 tài liệu, 8 cuốn sách, Triển lãm kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam đã tái hiện sinh động quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Paris.

Những bức ảnh được trình bày có chủ đích, giúp người xem có thể cảm nhận được toàn cảnh cuộc đấu tranh bền bỉ, kiên cường, mưu trí, khôn khéo và đầy bản lĩnh của những nhà ngoại giao cách mạng Việt Nam trên đàm phán. Đồng thời thể hiện sự kết hợp tài tình giữa ba mặt trận quân sự – chính trị – ngoại giao, sự ủng hộ, cỗ vũ, của loài người tiến bộ, yêu chuộng hòa bình và công lý đối với nhân dân Việt Nam, cả những giây phút khó khăn cũng như những giây phút xúc động, hân hoan trong niềm vui chiến thắng.

Ông Lưu Văn Lợi – nguyên thư ký của cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ

Nhìn lại những hiện vật, tư liệu quý tại cuộc triển lãm khiến ông Lưu Văn Lợi – nguyên thư ký của cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ không khỏi bồi hồi. Theo ông, Hiệp định Paris là sự kết tinh những thắng lợi trong cuộc chiến tranh kiên cường và bền bỉ của dân tộc Việt Nam và là thắng lợi của tình đoàn kết quốc tế. “Việt Nam chúng tôi tuy là một nước nhỏ, so với Mỹ, chúng tôi yếu hơn nhiều, chúng tôi tự xác định rằng chúng tôi không thể thắng Mỹ về mặt quân sự, nhưng bằng ý chí, sự quyết tâm bền bỉ, chịu hy sinh gian khổ, chúng tôi đã dành được điều chúng tôi mong muốn đó là “Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai có thể chia cắt được” và điều đó chúng tôi đã làm được vào ngày 30/4/1975”, Nguyên thư ký của cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ xúc động nói.

Hội nghị Paris về Việt Nam (1968-1973) được coi là một trong những cuộc thương thuyết kéo dài nhất trong lịch sử thế giới. Sau 4 năm, 8 tháng và 16 ngày đấu trí, đấu lý trên bàn Hội nghị, ngoại giao cách mạng Việt Nam, mặc dù còn non trẻ, đã phát huy cao độ truyền thống ngoại giao đầy bản lĩnh, trí tuệ và nhân nghĩa của dân tộc, giành thắng lợi với việc ký kết Hiệp định Paris, mở ra cục diện mới, tạo tiền đề vững chắc cho đại thắng Mùa xuân năm 1975.

40 năm đã qua. Nhiều thế hệ người Việt Nam đã sinh ra và lớn lên trong hòa bình sau ngày Hiệp định Paris được ký kết. Dù đã đi qua những đau thương, mất mát vì chiến tranh nhưng những nhân chứng lịch sử như ông Lợi vẫn có những tình cảm tốt đẹp với những người dân Mỹ yêu hòa bình, những người đã từng phản đối chiến tranh ở Việt Nam. Ông Lợi hy vọng mối quan hệ giữa hai nước sẽ ngày một tốt hơn để có thể cùng nhau bù đắp cho những người thiệt thòi, mất mát do chiến tranh.

“Chúng tôi rất mừng vì quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ ngày nay đang tiến triển tốt. Như bà Hillary Clinton (Bộ trưởng Ngoại giao đương nhiệm của Hoa Kỳ) đã nói: 15 năm bình thường hóa quan hệ đầu tiên giữa Việt Nam – Mỹ đã là kỳ diệu và hy vọng, tin tưởng rằng những năm tới còn kỳ diệu hơn”, ông Lợi nói.

Nhìn quá khứ để trân trọng hiện tại

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, ông Nguyễn Văn Khà – nguyên Trung tá của Quân giải phóng Miền Nam Việt Nam, trong đoàn Việt Nam đấu tranh Mỹ thi hành hiệp định Paris. Ông kể lại: Lúc đó tôi là Phó trưởng ban trao trả, đấu tranh buộc Mỹ phải trao trả tù binh và Việt Nam trao trả tù binh của Mỹ. Tuy rằng Mỹ đã kí kết Hiệp định Paris, rút khỏi miền Nam Việt Nam nhưng phía Mỹ luôn o ép, tìm đủ mọi cách để phá việc thực thi Hiệp định. “Chúng cho phái đoàn của ta vào ở những chỗ tồi tàn, xung quanh là dây thép gai, lính gác, không cho mình đi đâu cả mà phải trong doanh trại của họ trong suốt thời gian đó. Những nguy hiểm luôn rình rập như thế, nhưng bằng ý chí cách mạng, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, nên chỗ nào Mỹ còn dây dưa thì chúng tôi sẽ đấu tranh buộc Mỹ thi hành điều đó. Và kết quả là Mỹ đã rút khỏi miền Nam sau 2 tháng (29/3/1973) “, ông Khà cho biết.

Quang cảnh Hội nghị Paris về Việt Nam, 25/1/1969

Triển lãm kỷ niệm 40 năm Ngày ký hiệp định Paris về Việt Nam thu hút đông đảo người xem, không chỉ các nhân chứng lịch sử mà còn đối với những nhà ngoại giao đương nhiệm trong ngành Ngoại giao Việt Nam. Đến dự Triển lãm, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Phương Nga bày tỏ sự trân trọng, tri ân những đóng góp, hy sinh của thế hệ cha ông. Bà Nga xúc động nói: “Hội nghị Paris với việc ký kết Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam là Hiệp định thể hiện sự đấu tranh kiên cường, bền bỉ, nhưng cũng rất sáng tạo, mưu trí, đầy chất nhân văn của các nhà ngoại giao Việt Nam tại bàn đàm phán, kết hợp với nghệ thuật “vừa đánh, vừa đàm”. Đồng thời để lại nhiều kinh nghiệm cho thế hệ trẻ, đặc biệt là thế hệ ngoại giao của Việt Nam hiện nay và sau này”.

Triển lãm lần này có những hiện vật lần đầu tiên được trưng bày như Bản gốc Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam; con dấu và biển tên của đoàn Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam; hai cây bút đã được đoàn Việt Nam sử dụng để ký Hiệp định và Định ước quốc tế công nhận Hiệp định; chiếc xoong nhôm dùng để quấy xi niêm phong bản Hiệp định… Có những hiện vật rất đặc biệt như Cuốn sổ tập hợp 10.000 chữ ký của nhân dân Cu Ba phản đối chiến tranh và ủng hộ nhân dân Việt Nam.

Một số hình ảnh tại Triển lãm:

Đoàn đại biểu Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Hữu Thọ dẫn đầu dự Hội nghị cấp cao Phong trào Không liên kết lần thứ IV tại Angie, tháng 9/1973 (Hội nghị ra Quyết định đặc biệt về Việt Nam kêu gọi phong trào Không liên kết ủng hộ Việt Nam, đòi Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn chấm dứt vi phạm Hiệp định Paris

Lãnh đạo Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Bộ phận chuyên trách báo chí và vận động phong trào tại Paris

Nhân dân Liên Xô mít tinh ủng hộ Việt Nam chống Mỹ cứu nước tại Thủ đô Matxcova ngày 8/2/1965

Mít tinh tuần hành đòi Mỹ rút khỏi Việt Nam tại Quảng trường Trafagar (London, tháng 4/1969)

Ngày 27/1/1972, Hiệp định Paris được kí kết

Xoong nhôm dùng để quấy xi trong thời gian đoàn Việt Nam ký Hiệp định Paris

Con dấu của Đoàn đại biểu Quân đội nhân dân Việt Nam

Hiên ngang vứt trả quần áo, các chiến sĩ Quân giải phóng giương cao cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng, hát vang bài “Vì nhân dân quên mình” trong chuyến trao trả tù binh đầu tiên tại sân bay Lộc Ninh (27/3/1973)

CTV Kim Anh/VOV online
vov.vn

Hội nghị Paris: Kỷ niệm của người trong cuộc

(VOV) -“Phòng hạnh phúc”, “cuộc bao vây hữu nghị” hay món bánh cuốn sau mỗi lần thương thảo… là những kỷ niệm khó quên.

Cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài gần 5 năm tại bàn đàm phán Paris là một cuộc đấu tranh lặng lẽ, âm thầm, cũng có lúc cao trào, dữ dội. 40 năm, cuộc đấu tranh ấy dù đã đi qua nhưng những câu chuyện kể về nó vẫn chưa bao giờ có hồi kết để chúng ta hiểu thêm về thắng lợi của nền ngoại giao Cách mạng Việt Nam.

Giây phút ký Hiệp định

Suốt 5 năm tham gia bàn đàm phán Paris, nhà báo Hà Đăng-  nguyên là Người phát ngôn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris luôn đinh ninh rằng sẽ có một ngày Mỹ phải kí kết hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam.

Và đúng như thế, 1 tuần sau thất bại với trận “Điện Biên phủ trên không” cuối năm 1972, Mỹ đã phải nối lại bàn đàm phán. Sau đó 3 tuần thì Mỹ đã chính thức kí hiệp định theo đúng đòi hỏi của chúng ta. Đó là những đòi hỏi mà trước đó Mỹ muốn ép ta phải thay đổi bằng nỗ lực chiến tranh cuối cùng của họ- tức là trận tập kích chiến lược bằng B52 đánh vào miền Bắc Việt Nam.

Hội nghị Paris. Ảnh tư liệu

Nhà báo Hà Đăng nhớ lại: Khi nhìn các bên kí hiệp định, tôi như được sống trong giây phút vừa hiện thực, vừa lãng mạn, mường tượng đến ngày này 2 tháng sau, khi quân Mỹ phải cuốn cờ về nước, đánh dấu sự chấm dứt của quân chiếm đóng nước ngoài ở nước ta.

Không ai có thể kìm nén sự xúc động khi chứng kiến giờ phút kí hiệp định Paris. Có được thành công ấy, những con người đã từng tham gia Hội nghị Paris như cố vấn Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy hay bà Nguyễn Thị Bình- trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã trải qua những cuộc đấu trí một mất một còn.

Ông Lưu Văn Lợi- Thư kí riêng của đồng chí Lê Đức Thọ vẫn nhớ: Ông Sáu Thọ vốn là một người thích làm thơ, yêu thơ ngay cả khi bị giam cầm trong chốn ngục tù. Ấy thế mà, suốt 5 năm đàm phán tại Paris, ông không làm nổi một bài thơ.

Tháng 6/1968, bác Thọ được Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo làm cố vấn đặc biệt, sang dự cuộc nói chuyện với Mỹ ở Paris. 5 năm trời bác không làm một bài thơ nào. Tất cả tâm hồn, trí tuệ và suy nghĩ của bác đều tập trung cho cuộc đàm phán với Mỹ- một nước gây ra chiến tranh với chúng ta, hùng mạnh hơn chúng ta về mọi mặt, với những nhà ngoại giao sừng sỏ”, ông Lưu Văn Lợi cho biết.

“Phòng hạnh phúc”, “bao vây hữu nghị”

Với những thành viên trong đoàn đàm phán, không ai có thể quên kỷ niệm về “Phòng hạnh phúc”. Đó là “ám hiệu” về căn phòng bí mật chống nghe trộm. Ông Phạm Ngạc-nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức Quốc tế, Bộ Ngoại giao nói: “Chúng tôi gọi đó là “Phòng hạnh phúc” bởi vào đó là yên tâm lắm, thoải mái trao đổi không sợ lộ bí mật. Hồi xưa lúc Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang họp hội nghị Fontainebleau phải ra ngoài đi dạo. Khi chúng tôi sang Geneve cũng vậy, phải đi ra ngoài vườn nói chuyện để không bị nghe lén. Còn khi vào “Phòng hạnh phúc thì lại yên tâm trao đổi về kế hoạch tác chiến đấu tranh ngoại giao.

Còn với ông Nguyễn Khắc Huỳnh- nguyên Vụ trưởng Vụ tổng hợp, Bộ Ngoại giao ấn tượng không thể phai mờ là những cuộc “bao vây hữu nghị” mà bạn bè quốc tế dành cho phái đoàn của ta: Tôi còn nhớ, khi tôi sang Italy, cuộc mít tinh vừa kết thúc thì hàng vạn thanh niên bao vây hội trường nơi chúng tôi đến phát biểu. Tôi quay lại nói với đồng chí Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Italy là “chúng tôi bị bao vây rồi đấy”, thì ông ấy nói “đó là cuộc bao vây hữu nghị, rất hữu nghị, là biểu hiện tình cảm của nhân dân Italy với những người Việt Nam, những người Việt Nam đang chiến đấu, đàm phán ở Paris”.

Không chỉ có sự đoàn kết của bạn bè quốc tế mà sự ủng hộ của bà con Việt Kiều tại Paris cũng chính là nguồn động lực để những người con xa quê đang ngày ngày đấu tranh với kẻ thù trên bàn đàm phán có thêm niềm hi vọng. 5 năm đàm phán cũng là 5 cái Tết xa quê đối với những ai tham gia hội nghị Paris. Thiếu thốn tình cảm, nhưng hương vị của ngày Tết cổ truyền dân tộc thì không thiếu bởi những thành viên của đoàn đàm phán được sống trong tình cảm thương yêu, trìu mến của bà con Việt Kiều.

Ông Phạm Ngạc nhớ mãi cuộc gặp gỡ với bà con vào dịp Tết năm 1971. Không chỉ là những món ngon quê nhà, họ còn được thưởng thức những vở kịch, vở cải lương do chính đồng bào mình thể hiện tại thủ đô Paris.

Dịp đó chúng tôi rủ nhau đến nhà tương tế của Paris gặp gỡ, diễn văn nghệ. Anh chị em bên đó chủ yếu là trí thức miền Nam, họ đã chọn cải lương để hát. Anh Tổng thư kí- Nguyễn Ngọc Hà cũng đóng vai chính, có lúc đưa cả vợ con lên sân khấu. Các bạn sinh viên cũng hát những bài hát cách mạng, kháng chiến. Đó là chương trình vui nhất”, ông Ngạc kể.

Món bánh cuốn sau mỗi lần thương thảo

Và không mấy ai biết rằng, món bánh cuốn Việt Nam cũng có mặt ở Paris sau những lần thương thảo tại hội nghị. Chuyện kể rằng, đồng chí Xuân Thủy đã giao cho nhà bếp chuẩn bị món bánh cuốn, nước chấm cà cuống để mỗi khi thương thảo thành công sẽ cùng tổ chức liên hoan. Ông còn cho mời phía đối phương thưởng thức món ăn dân dã này khi hai bên đạt được nguyện vọng của mình trên bàn đàm phán.

Ông Tăng Văn Soát, bảo vệ đoàn nhớ lại: Nhiều khi có những cuộc họp phát sinh của hai đoàn lớn, cần gặp nhau để bàn bạc. Những ngày ấy chúng tôi cũng phải phục vụ cho cuộc họp. Thấy gu của họ thích ăn bánh cuốn, ông Xuân Thủy chỉ đạo làm ngay. Làm bánh cuốn ngay ở nơi họp, khi nào cuộc họp thành công thì mang bánh cuốn, nước mắm cà cuống ra chiêu đãi hai đoàn.

Kỷ niệm về 5 năm đàm phán tại hội nghị Paris không bao giờ có thể kể hết. Điều đó cũng giống như viết về một câu chuyện dưới nhiều góc độ khác nhau thì con mắt nhìn cũng vô vàn chi tiết không giống nhau. Chỉ có điều, mỗi câu chuyện là một kí ức không thể phai mờ và rất đáng trân trọng, cũng giống như giờ phút chúng ta có trong tay hòa bình thật đáng quý biết bao!./.

Nhóm PV/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Sách ảnh về Hội nghị Paris: Lời tri ân

(VOV) – Những nhân vật chưa từng xuất hiện và những nội dung lần đầu được tiết lộ qua những bức ảnh hiếm.

Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, một số thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris như các ông Trịnh Ngọc Thái, Phạm Ngạc, Lưu Văn Lợi và nữ nhà văn Mỹ Lady Borton ra mắt cuốn sách ảnh Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973. Diễn tiến quá trình đàm phán, lễ ký kết Hiệp định Paris, Định ước quốc tế hay nội dung các cuộc họp chính thức và bí mật lần đầu hé lộ qua những bức ảnh hiếm.

Bộ trưởng Xuân Thủy cùng cố vấn đặc biệt VNDCCH Lê Đức Thọ rời cuộc gặp riêng tại địa điểm của đoàn VNDCCH ở 11 phố Darthe

Năm 2008, trong chuyến công tác tại Paris, Pháp, nhà văn Lady Borton vô tình thấy một bức ảnh đen trắng về Hội nghị Paris về Việt Nam. Đó là một bức ảnh rất đẹp nhưng lại thiếu chú thích khiến nhiều người không hiểu tại sao giữa Paris lại có một bức ảnh của Việt Nam. Ý tưởng thực hiện một cuốn sách ảnh về quá trình đàm phán Hiệp định Paris len lỏi trong tâm trí bà từ đó. Trở lại Việt Nam, bà đã cùng một số thành viên đoàn đàm phán Hội nghị Paris năm xưa biên soạn cuốn sách “Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973”.

Nhà văn Lady Borton kể: “Đầu tiên chúng tôi chỉ định làm một danh sách của 150 hình ảnh. Nhưng trong quá trình thực hiện tôi hay hỏi: Bác Thái ơi, thế lúc bác viết bản thảo thì ông Xuân Thủy làm gì. Bác Thái bảo ông Thủy làm thơ. Thế là tôi thấy cần đưa thơ của ông Xuân Thủy vào đây. Từ đó chúng tôi triển khai thêm và cũng mở ra được những câu chuyện thú vị thời gian đó”.

Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973 gồm 3 chương: Việt Nam, Paris, Việt Nam, dài hơn 170 trang. Tác phẩm là cái nhìn của chính những thành viên đoàn đàm phán năm xưa về quá trình gần 5 năm đàm phán cũng như lý giải tại sao chúng ta lại lựa chọn Paris là nơi tiến hành đàm phán. Song song với các hoạt động trên chiến trường, cuộc đàm phán ở Paris cũng trải qua những thử thách quyết liệt và những chiến sĩ ngoại giao Việt Nam đã sử dụng cây bút như một vũ khí sắc bén đẩy lùi mọi cuộc tấn công của Đế quốc Mỹ.

Ông Dương Xuân Tư, phụ trách điện đài đoàn VNDCCH trong suốt thời gian diễn ra Hội nghị Paris chuyển điện công khai và mật mã với Hà Nội

Mở đầu mỗi chương cuốn sách “Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973” đều dẫn những lời nói và thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nước Việt Nam ta là một/ Dân tộc Việt Nam ta là một/ Dù cho sông cạn đá mòn/ Nhân dân Nam, Bắc là con một nhà – như khẳng định sự đúng đắn trong đường lối ngoại giao Hồ Chí Minh.

Nhà ngoại giao Phạm Ngạc – Nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức Quốc tế Bộ Ngoại giao, thành viên của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một trong những tác giả cuốn sách cho biết: “Trong mỗi dịp Tết hay trong dịp có sự kiện tại Hội nghị Paris thì Bác Hồ đều có những bài thơ. Ông Lê Đức Thọ là Bác Hồ điều từ miền Nam ra, ông Xuân Thủy cũng do Bác chọn, bà Bình cũng vậy. Vì thế tôi mới nói rằng cốt lõi ở đây là ngoại giao Hồ Chí Minh. Do đó, chúng tôi đã trích những bài thơ của Hồ Chí Minh in trong tác phẩm như: Đi đường, Vì Độc lập tự do…”     

Cuốn sách ảnh “Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973” không chỉ giới thiệu đến công chúng những nhân vật cốt cán trong cuộc đàm phán Hiệp định Paris như Bộ trưởng Xuân Thủy, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình, Cố vấn Lê Đức Thọ… mà còn đề cập đến những nhân vật chưa từng xuất hiện. Ông Dương Xuân Tư – người phụ trách đánh moóc, đưa tin cuộc đàm phám về Việt Nam, ông Nguyễn Bội – người phụ trách telex, bác sỹ Nguyễn Văn Thuận hay đầu bếp Hoàng Hữu Cần… là những con người thầm lặng đã góp phần làm nên thành công của Hội nghị Paris.

Ông Sơn, lái xe đoàn VNDCCH đang giúp chuẩn bị tài liệu báo chí

Nhà ngoại giao Phạm Ngạc cho biết thêm: “Chúng tôi làm cuốn sách này để tri ân những thành viên đoàn ngoại giao Việt Nam có mặt tại Hiệp định Paris 40 năm trước. Tôi thấy cần có sự công bằng với những người trực tiếp tham gia, đặc biệt là những người đã “mai danh ẩn tích”, người là cơ yếu, điện đài, bên cạnh đó là những bạn bè Pháp…  Họ là những người không ai biết nhưng thực tế họ là những nhân vật cốt cán”.

Với độ dài hơn 170 trang cùng khoảng 150 bức ảnh tư liệu, “Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973”không chỉ là một tài liệu lịch sử về Hội nghị Paris mà còn giúp công chúng hiểu rõ hơn phương châm ngoại giao kiên định của Việt Nam. Chúng ta đề cao lập trường chính nghĩa, tranh thủ dư luận thế giới, nhất là phong trào phản chiến bùng nổ trong lòng nước Mỹ, đẩy chính quyền Mỹ vào thế cô lập và phải xuống thang.

Cuộc thi bóng bàn giữa bà Dương Thị Duyên và bà Nguyễn Thị Bình tại Paris.

Ý nghĩa to lớn và những bài học kinh nghiệm của Hiệp định Paris trải qua 40 năm vẫn còn tính thời sự, nhiều sách báo đã và vẫn còn tiếp tục viết về sự kiện này. Và cuốn sách ảnh “Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973”như lời nhắn nhủ của thế hệ trước giành cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau: Ông, cha ta đã sống và chiến đấu như thế./.

Mỹ Trà- Ngọc Ngà/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Lần đầu tiên trưng bày kỷ vật quý về 40 năm Hiệp định Paris

(VOV) – Triển lãm trưng bày nhiều hình ảnh và kỷ vật quý về các phiên đàm phán và những hoạt động xung quanh của Việt Nam và thế giới.

Sáng nay, 23/1, tại Nhà triển lãm 29 Hàng Bài (Hà Nội), khai mạc triển lãm “Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam”. Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris, lãnh đạo các Bộ Ngoại giao, Văn hóa Thể thao và Du lịch…đã tới dự.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, trưởng đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris dự khai mạc triển lãm

Triển lãm trưng bày 140 bức ảnh, 21 lời trích, 23 hiện vật, 3 tài liệu, 8 cuốn sách, trong đó có những hiện vật quý lần đầu được trưng bày như văn bản gốc hiệp định. Đây là triển lãm lớn nhất về sự kiện này từ trước tới nay, góp phần làm sống lại các hình ảnh và sự kiện của những năm tháng khốc liệt của cuộc chiến tranh, sự phối hợp giữa ba mặt trận đấu tranh: chính trị, quân sự và ngoại giao dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, sự giúp đỡ, ủng hộ, cổ vũ của các nước anh em, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Các hiện vật tại triển lãm thu hút sự quan tâm của đông đảo người xem

Ngoài những bức ảnh chụp các phiên đàm phán dẫn tới việc ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam còn có hình ảnh các chiến thắng trên chiến trường của quân dân ta, sự ủng hộ của bè bạn thế giới. Những hiện vật được trưng bày tại triển lãm như hai chiếc bút ký Định ước Paris 1973 và Hiệp định Paris về Việt Nam 1973, chiếc xoong nhôm dùng để quấy xi trong thời gian đoàn Việt Nam ký Hiệp định Paris, cuốn sổ cỡ lớn lưu chữ ký của nhân dân Cuba ủng hộ nhân dân Việt Nam đấu tranh giành độc lập… mang đến cho người xem hình dung cụ thể hơn về những gì đã xảy ra trong lịch sử./.

Việt Hòa/VOV online
vov.vn