Tag Archive | Chính trị – Xã hội

“Mặt trận” báo chí tại Hội nghị Pa-ri 1973

QĐND – Hội nghị Pa-ri về Việt Nam được mở tại thủ đô Pa-ri của Pháp (bắt đầu từ 15-5-1968 và kết thúc vào 27-1-1973). Đây là sự kiện quốc tế hàng đầu, là chủ đề chính của báo chí và dư luận thế giới thời kỳ đó. “Mặt trận” báo chí và vận động dư luận đã góp phần vào thắng lợi chung trong cuộc đàm phán lịch sử của dân tộc.

“Đưa cuộc chiến tranh Việt Nam vào phòng ngủ của người Mỹ”

Nói như ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên Đại sứ, thành viên đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa, việc lựa chọn Pa-ri là nơi đàm phán đã tạo thuận lợi lớn cho phái đoàn đàm phán Việt Nam. Bởi lẽ đây là địa điểm khá thuận lợi, có tác động mạnh, kịp thời, sức lan tỏa nhanh chóng đến dư luận xã hội Mỹ, phương Tây và thế giới. Khi đó, phong trào nhân dân thế giới lên án Mỹ, đòi chấm dứt chiến tranh lên cao chưa từng có. Trong dư luận Mỹ, tinh thần chán ghét chiến tranh, đòi phải đàm phán để đưa lính Mỹ về nước cũng ngày càng mạnh mẽ. Như các nhân chứng lịch sử và nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra, chính các phương tiện thông tin đại chúng đã “đưa cuộc chiến tranh Việt Nam vào phòng ngủ của mọi người Mỹ” và làm thức tỉnh lương tri họ.

Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn báo chí báo chí ở Pa-ri. Ảnh: UPI

Cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ tại Pa-ri còn nhận được sự ủng hộ hoàn toàn tự nguyện của bạn bè quốc tế, trong đó có Liên Xô, Trung Quốc, Đức… và đặc biệt là Chính phủ và nhân dân Pháp. Đảng Cộng sản Pháp đã cho Việt Nam mượn Trường Đảng làm trụ sở của đoàn trong gần 5 năm; cho mượn một số cơ sở làm nơi gặp riêng với Mỹ; cử nhiều người đến giúp đỡ đoàn Việt Nam trong việc đi lại, ăn ở. Nhiều công nhân Pháp, kể cả những người về hưu đã tình nguyện làm công tác bảo vệ suốt ngày đêm cho hai đoàn Việt Nam. Bà con Việt kiều thuộc nhiều thế hệ và ngành nghề khác nhau đã ủng hộ và tích cực phục vụ cuộc đấu tranh của hai đoàn Việt Nam.

Bên cạnh đó, từ Cố vấn Lê Đức Thọ, các trưởng đoàn Xuân Thủy, Nguyễn Thị Bình, cho đến các đoàn viên đều tích cực làm công tác vận động dư luận đi khắp các địa phương trên nước Pháp và các nước khác trên thế giới, dự các cuộc mít tinh, biểu tình, hội nghị, hội thảo về Việt Nam để giới thiệu tình hình và lập trường của Việt Nam. Thông qua các hoạt động vận động quốc tế, chúng ta đã đưa tiếng nói chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đến với mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới, bày tỏ lập trường, nguyện vọng, quan điểm để vận động nhân dân thế giới phản đối Mỹ, ủng hộ Việt Nam đấu tranh tại Hội nghị Pa-ri, để đi tới kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Thua ngay trên mặt trận báo chí

Tại bàn đàm phán Pa-ri, công tác tuyên truyền đối ngoại, vận động báo chí đóng vai trò quan trọng. Phối hợp chặt chẽ với cuộc đàm phán, lực lượng tuyên truyền của hai đoàn Việt Nam đã tiến hành hàng trăm cuộc họp báo, hàng nghìn cuộc tiếp xúc báo chí và gặp gỡ đại diện các tổ chức quần chúng, nhân sĩ, trí thức, cá nhân người Pháp, người nước ngoài, Việt kiều… để tuyên truyền, đấu tranh dư luận và ngoại giao nhân dân ngay bên ngoài Hội nghị Pa-ri, trên nhiều vùng của nước Pháp và các nước láng giềng của Pháp như I-ta-li-a, Anh, Đức, Bỉ, Hà Lan…

Theo cuốn sách “Cuộc đàm phán lịch sử” do NXB Chính trị Quốc gia phát hành năm 2009, hàng nghìn nhà báo, phóng viên nhiếp ảnh, điện ảnh, quay phim truyền hình của rất nhiều nước trên thế giới đổ về thủ đô Pa-ri theo dõi, đưa tin, bình luận cuộc đàm phán Việt Nam-Mỹ, mà trong lịch sử chưa có hội nghị quốc tế nào (kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai) có mặt đội ngũ các nhà báo hùng hậu đến thế.

Riêng ở Pa-ri, bên cạnh 28 cuộc họp công khai với 12 cuộc họp bí mật trong giai đoạn hội nghị bốn bên, còn có đến gần 500 cuộc họp báo của hai đoàn, hàng nghìn cuộc tiếp xúc với bạn bè Pháp và quốc tế, kể cả những đồng bào từ miền Nam sang. Hội nghị Pa-ri về Việt Nam kéo dài, lúc sôi nổi, lúc không tiến triển, giậm chân tại chỗ. Vì thế các nhà báo quốc tế đến theo dõi hội nghị cũng lúc đông đảo, náo nhiệt, lúc vắng vẻ, buồn tẻ. Các nhà báo của Việt Nam đã hoạt động rất tích cực, giao lưu với các nhà báo quốc tế, thu thập thông tin, tìm hiểu tình hình dư luận, giới thiệu đường lối, chính sách, lập trường của Việt Nam.

Các cán bộ trong đoàn đàm phán cũng tranh thủ đến các địa phương ở Pháp và các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Phi dự các cuộc mít tinh, biểu tình, diễu hành, hội thảo, hội nghị chống Mỹ xâm lược Việt Nam. Đoàn Việt Nam cũng hoàn toàn chủ động tổ chức các cuộc hội họp, gặp gỡ với Việt kiều ở Pháp và nhiều nước, với bà con đồng bào từ miền Nam đến tiếp nhận thông tin để gây ảnh hưởng đến dư luận.

Trụ sở của phái đoàn Việt Nam ở Pa-ri cũng thường xuyên tiếp nhiều đại biểu nhân dân Mỹ, nhiều dân biểu và thượng nghị sĩ Mỹ, nhiều nhà văn, nhà báo, luật gia Mỹ và các nước khác đến Pa-ri để bày tỏ sự ủng hộ nhân dân Việt Nam, phê phán chính sách hiếu chiến của chính quyền Mỹ.

Có thể nói rằng, vai trò báo chí của các nước hằng ngày, hằng tuần, suốt nhiều năm đưa tin về chiến tranh, đưa những bình luận sắc bén, cổ vũ Việt Nam, truyền đạt ý chí của nhân dân các nước với nhau, đã góp phần tạo nên sức mạnh to lớn cho dân tộc ta đánh Mỹ và thắng Mỹ, nó khiến cho chính người Mỹ cũng phải thừa nhận “nước Mỹ thua trong cuộc chiến tranh trước hết là thua ngay trên mặt trận báo chí”.

BÌNH NGUYÊN
qdnd.vn

Khắc ghi tình cảm, sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình

Gặp gỡ các nhân chứng lịch sử kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris:

QĐND Online- Trong khuôn khổ các hoạt động kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam (27-1-1973/27-1-2013), sáng 27-1, tại Bảo tàng chứng tích chiến tranh (TP Hồ Chí Minh), đã diễn ra cuộc Gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, do Hiệp hội Các tổ chức hữu nghị Việt Nam tổ chức. Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã tới dự. Tham dự buổi gặp gỡ còn có ông Vũ Xuân Hồng, Chủ tịch Hiệp hội Các tổ chức hữu nghị Việt Nam; đại diện lãnh đạo TP Hồ Chí Minh cùng đông đảo đại biểu trong nước và quốc tế.

Đây là sự kiện quan trọng nhằm ôn lại những năm tháng hào hùng của dân tộc, giáo dục truyền thống vẻ vang cho thế hệ trẻ, phát động và xây dựng mối quan hệ đoàn kết quốc tế với Việt Nam trong tình hình hiện nay; đồng thời, là dịp để tri ân bạn bè quốc tế đã ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước.

Tại cuộc gặp gỡ, các đại biểu đã chia sẻ những kỷ niệm sâu sắc với Việt Nam và bày tỏ lòng khâm phục nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Bà Hélène Luc, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Pháp – Việt, khẳng định: “Sở dĩ Việt Nam là một nước nhỏ bé nhưng đã chiến thắng nước Mỹ hùng mạnh là bởi tinh thần quật cường và trí thông minh, khéo léo, bởi sự chính nghĩa nên được nhân dân tiến bộ thế giới ủng hộ. Ngay trong những năm đàm phán tại Paris, đoàn Việt Nam cũng thể hiện rõ khí phách và tài trí ngoại giao kiên quyết và đầy mưu lược. Tôi rất ấn tượng với các bạn Việt Nam, về những thành công của Việt Nam cả trong chiến tranh và sự nghiệp xây dựng hòa bình. Người Việt Nam luôn lạc quan trước mọi khó khăn. Đây là phẩm chất lớn không dễ gì có được. Chúng tôi luôn ủng hộ các bạn”.

Bà Hélène Luc, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Pháp – Việt, phát biểu tại buổi gặp gỡ

Cùng quan điểm và ôn lại những hoạt động phản đối chiến tranh, ủng hộ Việt Nam, ông Rabin Dep, Bí thư Ban Thường vụ Tổ chức Hòa bình và Đoàn kết toàn Ấn Độ (AIPSO), bày tỏ: “Chúng tôi đã tổ chức những cuộc diễu hành với sự tham gia của hàng trăm sinh viên để yêu cầu Mỹ rút quân vô điều kiện khỏi Việt Nam. Đất nước chúng tôi cũng huy động mọi nguồn lực có thể để giúp đỡ Việt Nam. Năm 1975, khi đất nước các bạn được giải phóng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước Ấn Độ đã đọc diễn văn chào mừng sự kiện này và bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với Việt Nam. Chúng tôi vô cùng phấn khởi và chung niềm vui chiến thắng với các bạn”.

Không khí của buổi gặp gỡ trở nên thân tình, ấm áp khi ông Rabin Dep đọc lại bài diễn văn năm trước với những lời lẽ tốt đẹp mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Ấn Độ dành tặng Việt Nam: “Các bạn thực sự là những người anh hùng, tiên phong trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, mở ra một thời kỳ mới không chỉ cho nhân dân Việt Nam mà với cả nhân loại tiến bộ trên thế giới”.

Chia sẻ những kỷ niệm sâu sắc của mình, ông Carlos Rey Gomez, du kích quân Caracas (Vê-nê-zu-ê-la), thành viên Nhóm du kích tham gia vụ bắt giữ sĩ quan Mỹ Michael Smo-len để đánh đổi chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Trỗi, xúc động: “Chúng tôi đã cố hết sức để có thể cứu được anh Trỗi bằng sự ngưỡng mộ nhưng chính quyền Ngụy Sài Gòn lật lọng nên cuộc trao đổi không thành. Đất nước Việt Nam có được những con người vĩ đại như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và cả Nguyễn Văn Trỗi… nên các bạn giành chiến thắng là điều tất yếu. Dân tộc Vê-nê-zu-ê-la chúng tôi học tập Việt Nam và luôn sát cánh cùng Việt Nam trong tiến trình phát triển, dựng xây đất nước”.

Phát biểu tại hội nghị, ông Vũ Xuân Hồng đã bày tỏ những tình cảm tốt đẹp của nhân dân Việt Nam đối với bạn bè quốc tế và nhấn mạnh mối quan hệ khăng khít, gắn bó, thủy chung, trước sau như một của Việt Nam với các nước anh em. Nhân dân Việt Nam luôn khắc ghi những tình cảm, sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của các tổ chức hữu nghị quốc tế đối với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam và mong muốn tăng cường hơn nữa mối quan hệ vô tư, trong sáng ấy vì một thế giới hòa bình, ổn định và phát triển. Những kinh nghiệm, bài học và thắng lợi trong Hiệp định Paris còn nguyên giá trị và sẽ được phát huy trong thời đại mới.

Buổi chiều cùng ngày, các đại biểu đã tới thăm các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin tại làng Hòa bình, Bệnh viện Từ Dũ, kết thúc chuỗi hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris trong tình cảm lưu luyến, thân tình, đầy xúc động.

Tin, ảnh: HOÀNG THÀNH
qdnd.vn

Đoàn đại biểu Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ

Nhân kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2013) và Tết Nguyên đán Quý Tỵ, sáng ngày 06/2/2013, Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng và Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu.

Lanh dao dang vieng 3.2.1Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đoàn đại biểu gồm: Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt và các Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ; lãnh đạo một số Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và các đồng chí lão thành cách mạng cùng dự lễ viếng. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bày tỏ lòng thành kính trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tưởng nhớ công lao vĩ đại của Người đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc ta. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Lanh dao dang vieng 3.2.2Đoàn đại biểu đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ

Sau khi vào Lăng viếng Bác, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đến dâng hương, tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Đài Tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, tưởng nhớ những người con ưu tú của dân tộc đã không tiếc máu xương, dũng cảm chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn các Anh hùng liệt sỹ.”

Cũng trong sáng ngày 06/2/2013, Đoàn đại biểu Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Đảng ủy Công an Trung ương và Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng Liệt sỹ. Cùng ngày, đông đảo đồng bào, chiến sỹ cả nước và khách quốc tế đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Hội nghị Paris và những bài học quý giá cho ngoại giao Việt Nam

(Chinhphu.vn) – Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ xin trân trọng giới thiệu bài viết của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh.

Bộ trưởng Phạm Bình Minh

Ngày 27/1/1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Paris) được ký kết, kết thúc thắng lợi Hội nghị Paris – cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. 40 năm đã trôi  qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song ký ức về những ngày tháng gian lao mà oanh liệt cũng như những bài học sâu sắc của Hội nghị và Hiệp định Paris vẫn còn sáng mãi.

Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Paris là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

Hội nghị  được mở ra từ một quyết định chiến  lược sáng suốt của Đảng ta trong bối cảnh tình hình hết sức khó khăn. Đầu năm 1965, chính quyền Johnson ồ ạt đưa quân vào miền Nam, leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc, đồng thời, mở rộng cuộc vận động “ngoại giao hòa bình” đòi miền Bắc rút quân khỏi miền Nam và “đàm phán không điều kiện với Mỹ” (1). Đáp lại các hành động xâm lược và luận điệu lừa bịp dư luận của Mỹ, quân và dân hai miền Nam Bắc đã hiệp đồng tiến công mãnh liệt cả về quân sự và chính trị, kiên quyết đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân khỏi miền Nam, chấm dứt vô điều kiện chiến tranh phá hoại chống miền Bắc.

Cuộc đối đầu lịch sử giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Henry Kissinger – Ảnh tư liệu

Chính vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, tháng 12/1965, Đảng ta ra Nghị quyết Trung ương 12, trong đó chỉ rõ “đánh đến một lúc nào đó sẽ vừa đánh vừa đàm” nhưng nhận định “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp” (2). Đến tháng 1/1967, sau những thắng lợi vang dội của quân và dân hai miền Nam Bắc tạo thế cho ta, Nghị quyết Trung ương 13 đã quyết định mở mặt trận ngoại giao để tạo cục diện đánh đàm và kéo Mỹ xuống thang chiến tranh (3). Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, Johnson phải cam kết xuống thang chiến tranh, ta quyết định đi vào đàm phán với Mỹ.

Cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt

Kéo dài ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Paris là cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới.

Để đi đến thắng lợi cuối cùng là bản Hiệp định lịch sử ngày 27/1/1973, chúng ta đã kiên định đường lối, chiến lược mà Đảng đề ra, đồng thời chuẩn bị kỹ càng, hết sức chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cả về bản lĩnh cách mạnh và kiến thức mọi mặt. Kế tục truyền thống đấu  tranh ngoại giao của cha ông và trên cơ sở các bài học của Hiệp định Geneva 1954, đội ngũ cán bộ ngoại giao đã không ngừng lớn mạnh thông qua các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế, hỗ trợ chiến trường chống “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, góp phần đưa tới thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh, đi vào đàm phán, kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp chính trị.

Cuộc đàm phán Paris trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn một bắt đầu từ ngày 13/5/1968 đến 31/10/1968, ta đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31/10/1968; chấp nhận việc triệu tập hội nghị về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam gồm 4 bên với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Giai đoạn hai từ ngày 25/1/1969 đến giữa năm 1972, ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền Sài Gòn, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh nhưng đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân, đòi duy trì khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn. Giai đoạn cuối cùng từ tháng 7/1972 khi Mỹ buộc phải quay lại bàn đàm phán sau các thất bại ở cả hai miền Nam Bắc. Tuy vậy, Mỹ vẫn nuôi hy vọng đạt được một thỏa thuận trên thế mạnh. Cuối tháng 12/1972, khi con át chủ bài cuối cùng của Mỹ – dùng B52 đánh phá hủy diệt Hà Nội và các thành phố lớn của miền Bắc – đã bị quân và dân ta đánh gục trong chiến thắng vang dội “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Mỹ mới chấp nhận ký Hiệp định.

Hiệp định Paris có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Hiệp định là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, hoàn thành mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút”. Với việc buộc Mỹ phải rút hết trong khi ta duy trì được hoàn toàn lực lượng, Hiệp định mở ra một cục diện mới, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta để tiến lên “đánh cho ngụy nhào”. Hiệp định Paris còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Vượt lên trên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình và công lý, là di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Năm bài học quý giá

Hội nghị Paris để lại những bài học vô cùng quý giá.

Nhân dân Liên Xô mít tinh ủng hộ Việt Nam chống Mỹ cứu nước tại Thủ đô Moscow, ngày 8/2/1965 – Ảnh tư liệu

Bài học thứ nhất và quan trọng nhất là tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong suốt quá trình đàm phán, Bộ Chính trị đã luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao cả về chiến lược và sách lược đối với hai đoàn đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Thứ hai, giữ vững độc lập, tự chủ, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại. Hội nghị Paris một lần nữa khẳng định rằng, chỉ có giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết định chiến lược, sách lược, ta mới có thể chủ động tiến công, chủ động tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để bảo vệ lợi ích dân tộc.

Thứ ba, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi. Trong suốt quá trình đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, giữa “đánh” và “đàm”, giữa các binh chủng hợp thành thế trận chiến tranh nhân dân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ngay tại Paris, sự phối hợp chặt chẽ và thực hiện phương châm “tuy hai mà một, tuy một mà hai” của hai đoàn đàm phán dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ta cũng là nhân tố hết sức quan trọng để đi đến thắng lợi.

Thứ tư, chủ động, sáng tạo là phương cách đảm bảo thắng lợi trong đấu tranh ngoại giao. Ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Hội nghị Paris thực sự đã trở thành một mặt trận chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp của dân tộc. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, mặt trận ngoại giao đã chủ động tiến công, đồng thời tận dụng tối đa các thế mạnh đặc thù của mình để giành thắng lợi.

Thứ năm, Hội nghị Paris là bài học tiêu biểu về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, chúng ta đã có được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình của dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Mỹ, góp phần tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.

Kỷ niệm thắng lợi oanh liệt của Hội nghị Paris là dịp để chúng ta bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến những người con của Tổ quốc đã chiến đấu quên mình vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Sự hy sinh và công ơn to lớn ấy sẽ mãi mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam nói chung và cán bộ ngành ngoại giao nói riêng, hôm nay và mai sau.

Đây cũng là dịp để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bạn bè quốc tế khắp năm châu, trước hết là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, đã kề vai sát cánh với nhân dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sự ủng hộ của bạn bè quốc tế không chỉ là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân ta mà còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao thế và lực của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ.

Vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Paris

Kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ngoại giao thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển đất nước tiếp tục là một “mặt trận”, trong đó các cán bộ ngoại giao là những “người lính”, không ngừng phấn đấu góp phần tích cực đưa đất nước vào vị thế có lợi nhất trong nền chính trị, nền kinh tế và văn hóa khu vực và toàn cầu.

Với thế và lực sau hơn 25 năm Đổi mới, trong bối cảnh mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” (4).

Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được kí kết – Ảnh tư liệu

Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ đối ngoại và vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Paris, ngành ngoại giao tiếp tục nỗ lực vượt bậc trong các hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ”; nỗ lực quên mình vì lợi ích quốc gia dân tộc vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Thứ hai, phát huy truyền thống chủ động, sáng tạo trong đối ngoại, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực để nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại trong quan hệ với các đối tác và trên các diễn đàn, tổ chức quốc tế; tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, phát hiện thời cơ và kiến nghị các biện pháp tận dụng thời cơ, lường trước các thách thức và kiến nghị các biện pháp hóa giải hoặc giảm thiểu các thách thức đối với phát triển và an ninh của đất nước.

Thứ ba, hợp đồng chặt chẽ giữa ngoại giao với kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh…. phối hợp nhịp nhàng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp thành công sức mạnh của đất nước với sức mạnh của thời đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại được Đảng giao phó.

Thứ tư, không ngừng học tập rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kiến thức mọi mặt, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao có trình độ và năng lực ngang tầm với các nước trong khu vực; đáp ứng yêu cầu triển khai thành công định hướng “triển khai đồng bộ và toàn diện các hoạt động đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của đường lối đối ngoại Đại hội XI.

Kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Paris được ký kết, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hy sinh của biết bao đồng bào và chiến sỹ cả nước, biết ơn Đảng và Bác Hồ vĩ đại, tri ân các thế hệ cha, anh đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris, tri ân các bạn bè quốc tế đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Ôn lại các ý nghĩa trọng đại và bài học sâu sắc của Hội nghị Paris, chúng ta thêm vững tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quyết tâm phát huy tinh thần Hội nghị Paris, vận dụng sáng tạo các bài học của Hội nghị trong bối cảnh tình hình và nhiệm vụ mới, quyết tâm góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Phạm Bình Minh
Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

(1) Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002), trang 199.

(2) Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 1954-1975, tập II (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1995), trang 306.

(3) Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002), trang 217.

(4) Văn kiện  Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2011), trang 236.

* Tiêu đề bài do Cổng Thông tin điện tử đặt
chinhphu.vn

“Muốn thành công phải biết trước mọi chuyện”

(Chinhphu.vn) – Đó là lời căn dặn của Bác Hồ với cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ trước khi ông sang Pháp để đàm phán với Mỹ về Hiệp định Paris.

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ với nụ cười thắng lợi tại Hội nghị Paris. Ảnh tư liệu

Dù đã qua 40 năm sự kiện Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam chính thức được ký kết, ông Lưu Văn Lợi – nguyên Thư ký cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ vẫn nhớ như in các cuộc trao đổi khôn khéo nhưng kiên quyết của đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với đại diện Chính phủ Mỹ.

… Từ năm 1965 Bộ Chính trị và Bác Hồ đã có chủ trương kết hợp “đánh với đàm” trong kháng chiến chống Mỹ.

Nghị quyết lần thứ 13 của BCH TW khoá III tháng 1/1967 đã khẳng định: “Chúng ta tiến công địch về ngoại giao bây giờ là đúng lúc vì ta đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh. Trong tình hình quốc tế hiện nay với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động” .

Thắng lợi to lớn của cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 đã làm nhụt ý chí xâm lược nước ta của Mỹ và buộc Tổng thống Mỹ Jonhson tuyên bố trên truyền hình ngày 31/3/1968 về việc Mỹ sẵn sàng đơn phương chấm dứt ném bom miền Bắc và chấp nhận thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Bác Hồ và Bộ Chính trị trực tiếp chuẩn bị nhân sự cho cuộc đàm phán. Để đương đầu với những chính khách chuyên nghiệp, lọc lõi, mưu mô của Mỹ, đại diện đàm phán của Việt Nam cần có không chỉ ý chí cách mạng tiến công và tính kỷ luật cao, mà còn phải có trí tuệ, bản lĩnh, tính quyết đoán trách nhiệm cao, cương nhu hài hoà, khôn khéo.

Bác Hồ và Đảng ta đã trực tiếp giao cho Bí thư TW Đảng, Bộ trưởng Xuân Thủy làm Trưởng đoàn đàm phán, đồng thời Bác Hồ đã trực tiếp viết thư cho Bộ Chính trị đề nghị điện vào Trung ương Cục cho đồng chí Lê Đức Thọ khi đó đang là Phó Bí thư Trung ương Cục bàn giao công việc cho Bí thư Phạm Hùng rồi ra ngay Hà Nội để tham gia phái đoàn ta đi gặp đoàn đại biểu Mỹ.

Trước khi sang Paris, đồng chí Lê Đức Thọ đã gặp Bác Hồ. Người căn dặn đồng chí nhiều điều trong đó có lời nhắc nhở: “Muốn thành công phải biết trước mọi chuyện”. Để đàm phán với Mỹ, đánh giá Mỹ cho đúng đã rất khó, nhưng đâu chỉ có riêng Mỹ mà còn bao nhiêu nước khác nữa trong khu vực và quốc tế. Lợi ích các quốc gia đan xen, song trùng và đối kháng. Mỹ đã lợi dụng hoà hoãn Mỹ-Xô-Trung vào đầu những năm 1970 đã gây cho Việt Nam không ít trở ngại và khó khăn. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã đặt ra nhiệm vụ cho mình trên bàn đàm phán là phải thật khôn khéo, để vừa giữ vững độc lập tự chủ, kiên định mục tiêu, giữ vững đoàn kết quốc tế và tranh thủ sự giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần cho cuộc kháng chiến của dân tộc.

Bên cạnh cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ có Bộ trưởng Xuân Thủy tài ba và cả một tập thể đoàn kết keo sơn một lòng với sự nghiệp chung của dân tộc. “Hai đoàn nhưng là một, một nhưng lại là hai”, đó là một trong những sáng tạo riêng của ngoại giao Việt Nam. Những sáng kiến và giải pháp quan trọng nhất đưa ra diễn đàn công khai ở Paris đều dành cho đoàn miền Nam do Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn để khẳng định địa vị quốc tế của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và tranh thủ rộng rãi sự ủng hộ quốc tế.

Thực hiện chiến lược của Đảng, phá vỡ bế tắc đàm phán, đầu tháng 10/1972 cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã đưa ra bản dự thảo: “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam”. Phía Mỹ đã hoan nghênh đề nghị của ta và đồng ý lấy dự thảo này để thảo luận và thoả thuận.

Khi cuộc đàm phán với Mỹ ở Paris đang đi tới hồi kết thì H. Kissinger đã hỏi có tính khiêu khích cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ: “Vừa qua ngài đi qua Bắc Kinh và Mátxcơva, chắc các bạn của ngài đã nói về những yêu cầu của chúng tôi”. Đồng chí Lê Đức Thọ đã nói thẳng với Kissinger : “Bạn chúng tôi hết lòng ủng hộ chúng tôi, nhưng không làm thay chúng tôi”.

Tại phiên họp riêng từ 9h30 sáng 11/10/1972 tới gần 2 giờ sáng ngày hôm sau 12/10/1972 (phiên họp kéo dài nhất trong số các phiên họp của cả gần 5 năm đàm phán), nội dung Hiệp định do ta đưa ra về cơ bản đã được hai bên chấp nhận. Trong thông điệp ngày 20/10/1972 gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng thống Mỹ Nixon đã xác nhận văn bản Hiệp định coi như đã hoàn thành và cam kết Hiệp định sẽ được chính thức ký vào ngày 31/10/1972 tại Paris.

Tình hình đàm phán dường như đang tiến triển thuận lợi nhưng đồng chí Lê Đức Thọ cũng đã dự kiến những diễn biến phức tạp do các nhân tố khách quan, trong đó có mối quan hệ Mỹ – nguỵ.Đúng là phía Mỹ đã lật lọng thô bạo, viện cớ Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu phản đối bản dự thảo Hiệp định nên Tổng thống Mỹ Nixon lại  trả lời chưa thể ký Hiệp định như đã thỏa thuận. Ngày 23/11/1972, Kissinger đã đòi sửa 69 điều trong văn bản đã thỏa thuận, trong đó có một số vấn đề thuộc về nguyên tắc. Mỹ lại đòi rút quân Bắc Việt Nam, một nguyên tắc ta không bao giờ nhượng bộ.

Trong cuộc họp hẹp ngày 4/12/1972 đồng chí Lê Đức Thọ đã nói: “Chúng tôi cũng đã dự tính nếu không giải quyết được thì chiến tranh sẽ rất tàn khốc, có thể các ông sẽ đem B52 ném bom ồ ạt đất nước chúng tôi. Chúng tôi đã chịu đựng hàng triệu tấn bom đạn của Mỹ, nhưng chúng tôi không hề khiếp sợ, chúng tôi không chịu khuất phục, không chịu làm nô lệ. Cho nên những lời đe doạ của các ông và việc các ông không giữ đúng lời hứa chỉ chứng tỏ các ông không phải là những người đàm phán nghiêm chỉnh”.

Từ ngày 18 – 29/12/1972 Mỹ dùng B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác. Con át chủ bài B52 đã bị thất bại thảm hại nhờ quân và dân ta nhớ lời tiên đoán tài tình của Bác Hồ từ năm 1967 “Mỹ chỉ chịu thua dưới bầu trời Hà Nội” , đã giăng lưới lửa sẵn sàng chiến đấu, bắn rơi 81 máy bay chiến đấu trong đó có 34 chiếc B52, khiến Mỹ phải ngừng ném bom để quay trở lại đàm phán.

Trong buổi họp đầu tiên của đợt đàm phán cuối cùng bắt đầu từ ngày 8/1/1973, đồng chí Lê Đức Thọ đã mở đầu bằng những lời chỉ trích lên án mạnh mẽ cuộc ném bom Hà Nội 12 ngày đêm của Mỹ.

Cuộc họp riêng cuối cùng diễn ra ngày 13/1/1973, hai bên đã thỏa thuận nội dung bản Hiệp định Paris không có thay đổi gì về cơ bản và nguyên tắc. Ngày 23/1/1973, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và H.Kissinger đã ký tắt bản Hiệp định, chính là bản dự thảo hồi tháng 10/1972.

Sau gần 5 năm đàm phán (1968-1973), Hiệp định chính thức được ký ngày 27/1/1973. Theo đó,  Mỹ phải rút hết quân đội ra khỏi Việt Nam. Điều này đã đúng như lời mong ước của Bác Hồ trong lời chúc Tết năm 1969 trước lúc Bác đi xa là “đánh cho Mỹ cút” và hai năm sau quan và dân ta đã hoàn thành nốt nhiệm vụ “đánh cho Nguỵ nhào”, giang sơn thu về một mối thống nhất vào ngày lịch sử 30/4/1975.

Lưu Văn Lợi
Nguyên Thư ký cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ
chinhphu.vn

Hiệp định Paris và sáng tạo trong đường lối ngoại giao

(Chinhphu.vn) – Nói về sự thành công của Hiệp định Paris, Đại sứ Dương Văn Quảng, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của LHQ (UNESCO) khẳng định chúng ta đã tạo dựng được một mặt trận nhân dân thế giới, đoàn kết tất cả các lực lượng chính trị tiến bộ ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa.

Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Mỹ tại Phòng họp Trung tâm Hội nghị quốc tế Paris, ngày 13/5/1968 (đoàn Việt Nam phía bên phải). Ảnh tư liệu

Theo Đại sứ Dương Văn Quảng, trong mối tương quan giữa Việt Nam và Mỹ vào năm 1973, việc ký kết Hiệp định Paris là một bước ngoặt quyết định cho những sự kiện diễn ra sau đó.

Sáng tạo trong đường lối ngoại giao

Hiệp định Paris hội tụ đủ các điều kiện kể cả về chiến lược, quân sự, chính trị lẫn ngoại giao cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1975, thể hiện rất rõ một quyết định đúng đắn về mặt chiến lược của Việt Nam. Đó là chiến lược giành thắng lợi từng bước tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự và ngoại giao.

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Việt Nam đã biết cách xây dựng ngoại giao thành một mặt trận và đây là một sự sáng tạo. Ngoại giao đã thể hiện được vai trò chủ động của mình, góp phần quan trọng tiến tới kết thúc cuộc chiến tranh một cách thuận lợi nhất.

Hiệp định Paris còn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, đó là quy định các điều khoản liên quan đến chính trị, các lực lượng chính trị, tổng tuyển cử và việc thành lập cơ cấu chính quyền tại miền Nam Việt Nam. Theo Đại sứ Dương Văn Quảng, các diễn biến lịch sử cách đây 40 năm cho thấy Hiệp định Paris đã tạo mọi tiền đề để chúng ta kết thúc cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vào năm 1975.

Đề cập những khó khăn và thuận lợi của chúng ta khi tiến hành các cuộc đàm phán, Đại sứ Dương Văn Quảng cho biết trong bối cảnh quốc tế phức tạp, quan hệ giữa các nước lớn cũng như nội bộ từng khối, đặc biệt trong những thập niên 60, 70 của thế kỷ trước với trật tự thế giới chia làm hai cực mang tính đối kháng trên mọi khía cạnh, nhưng Việt Nam đã có những thuận lợi nhất định khi tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhất là khi mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”.

Ba thuận lợi khi hội đàm tại Paris

Paris là nơi hội tụ 3 điều kiện để trở thành nơi thích hợp tiến hành đàm phán. Đó là cộng đồng người Việt đông đảo luôn ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc, trong đó có rất nhiều sinh viên đi từ miền Nam sang Pháp du học. Tại Pháp, họ đã nhận thức rõ được tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đã gia nhập phong trào của những người Việt Nam yêu nước. Vì vậy, đóng góp của cộng đồng người Việt tại Pháp là vô cùng to lớn.

Thứ hai là vai trò của Đảng Cộng sản Pháp (PCF), một lực lượng chính trị rất mạnh ở Pháp lúc bấy giờ. Ngoài sự giúp đỡ về vật chất rất to lớn mà PCF dành cho đoàn Việt Nam tham gia đàm phán, PCF còn có vai trò tích cực trong việc tập hợp các lực lượng chính trị và nhân dân Pháp ủng hộ cuộc kháng chiến của ta và phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. PCF còn là cầu nối giữa Việt Nam và Pháp vì hai nước lúc bấy giờ chưa có quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ.

Một nguyên nhân nữa là vai trò của dư luận. Không ở đâu có khả năng tập hợp được dư luận và thông tin một cách nhạy bén như ở Paris, địa điểm có thể ví như đầu não thông tin của thế giới lúc bấy giờ. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam luôn chiếm gần một nửa thời lượng thông tin thời sự quốc tế, đặc biệt là giai đoạn cuối của tiến trình đàm phán Hiệp định Paris.

Thực tế, Việt Nam đã tận dụng được Paris như là một đầu não thông tin để tuyên truyền tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và tính phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược, từ đó tập hợp được lực lượng và dư luận thế giới ủng hộ Việt Nam.

Nguyễn Chiến
chinhphu.vn

Tôn vinh hai đoàn đại biểu quân sự đấu tranh thi hành Hiệp định Paris

(Chinhphu.vn) – Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vừa đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn đại biểu trên được Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam-Bộ Quốc phòng tổ chức ngày 20/4 tại Hà Nội.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai Đoàn đại biểu quân sự. – Ảnh: QĐND

Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập ngày 28/1/1973, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Quân ủy Miền.

Quán triệt tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, trong suốt 823 ngày đêm hoạt động, từ khi thành lập đến khi kết thúc nhiệm vụ (30/4/1975), hai đoàn đại biểu quân sự đã dũng cảm kiên cường, mưu trí, sáng tạo, tranh thủ dư luận và dựa vào pháp lý của Hiệp định Paris để đấu tranh, vạch trần âm mưu và lên án các hành động phá hoại Hiệp định Paris của quân Mỹ-ngụy trước cộng đồng quốc tế; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh buộc những lính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam, đánh dấu mốc lịch sử sau 115 năm, kể từ năm 1858, đất nước sạch bóng quân xâm lược.

Đây là yếu tố quan trọng nhất làm chuyển biến so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta, để tiến đến giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Biểu dương tinh thần đấu tranh kiên quyết, tỉnh táo, khôn khéo, sáng tạo cùng với những thành tích xuất sắc, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ con người Việt Nam của hai đoàn đại biểu quân sự, Chủ tịch nước nêu rõ, việc thành lập hai đoàn đại biểu quân sự là sự kiện có ý nghĩa chiến lược, là sách lược sáng suốt của cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta trên mặt trận ngoại giao quân sự.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, đây cũng là bài học vô cùng quý báu trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật đấu tranh ngoại giao quân sự của Đảng.

Trong tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, những kinh nghiệm và bài học quý báu trong đấu tranh ngoại giao của hai đoàn đại biểu quân sự của ta trong thi hành Hiệp định Paris vẫn còn nguyên giá trị, cần tiếp tục được phát huy trong thời kỳ mới, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; tạo nên sức mạnh tổng hợp giữ vững hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước.

Thanh Hà
chinhphu.vn

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam

(Chinhphu.vn) – Đây là chủ đề của Hội thảo khoa học cấp nhà nước về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tổ chức sáng 28/11 tại Hà Nội.

Hội thảo khoa học cấp nhà nước “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” –  tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam. – Ảnh: VGP/Việt Hà

Hội thảo do Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội phối hợp tổ chức.

Cách đây 40 năm (tháng 12/1972), đế quốc Mỹ  đã mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội và các thành phố lớn ở miền Bắc với ý đồ làm xoay chuyển tình thế trên bàn đàm phán Hiệp định Paris.

Với ý chí  quyết chiến, quyết thắng, quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược này, bắn rơi nhiều máy bay, trong đó có trên 30 máy bay B52, giáng cho Mỹ một đòn chí mạng, buộc chúng phải ký Hiệp định Paris, rút hết quân viễn chinh về nước, làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho cuộc kháng chiến của ta. Chiến thắng B52 trên bầu trời Thủ đô đã trở thành trận quyết chiến lịch sử, được mệnh danh là “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Chỉ đạo Hội thảo khẳng định chiến thắng 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

66 tham luận tập trung khẳng định và làm sáng tỏ thêm bối cảnh, âm mưu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ trước khi ký Hiệp định Paris; sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch 12 ngày đêm, tinh thần chiến đấu kiên cường, mưu trí, dũng cảm, sự linh hoạt, sáng tạo của bộ đội phòng không – không quân, của quân và dân miền Bắc, trực tiếp là quân và dân Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác…

Hội thảo góp thêm tiếng nói khẳng định tầm vóc, ý nghĩa,  những kinh nghiệm và bài học lịch sử của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, vận dụng và phát huy những bài học kinh nghiệm vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trung tướng Mai Quang Phấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ  nhiệm Tổng cục Chính trị  khẳng định, chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” là một mốc son chói lọi, là biểu tượng của ý chí kiên cường, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam. Đây là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, của “thế trận phòng không nhân dân”, kế thừa và phát triển truyên thống nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại mới.

Dấu tích một thời bom đạn có thể bị phai mờ theo quy luật của thời gian, nhưng tầm vóc và ý nghĩa của “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vẫn mãi âm vang trong tâm trí của mỗi con người Việt Nam nói riêng và nhân loại tiến bộ nói chung. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ đây vẫn nguyên vẹn giá trị để nghiên cứu, vận dụng cho sự nghiệp xây dựng lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Việt Hà
chinhphu.vn

Ra mắt cuốn sách “Đối mặt với B.52”

(Chinhphu.vn) – Nhân dịp kỉ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, ngày 4/12, NXB Trẻ và công ty Tomorrow Media đã tổ chức ra mắt cuốn sách “Đối mặt với B.52”.

Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2010 đến tháng 9/2012, nhóm tác giả biên soạn cuốn sách đã tiến hành các cuộc gặp gỡ, ghi lại hồi ức của 116 nhân chứng về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ trên không. Đó là chân dung của một Hà Nội đối mặt với B -52, những đau thương mất mát, những cách thích ứng khó tin của người Hà Nội…

Với 3 phần, cuốn sách đi theo mạch thời gian từ thời điểm miền Bắc chống chiến tranh phá hoại, dựng lại bối cảnh sống của người Hà Nội những năm 1966-1972 và quá trình Quân chủng Phòng không-Không quân nghiên cứu cách đánh B.52.

Tiếp theo là quãng thời gian 12 ngày đêm không quên của những người dân ở lại Thủ đô Hà Nội trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không.

Phần III là câu chuyện của Hiệp định Paris dưới tác động của Điện Biên Phủ trên không cũng như điểm quá trình đàm phán gần 5 năm của cuộc chiến ngoại giao gian khổ, lâu dài hiếm có để có được hòa bình lập lại trên miền Bắc.

Theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, nhờ cách làm sáng tạo của nhóm tác giả, đây là cuốn sách thú vị và sinh động viết về lịch sử.

Minh Anh
chinhphu.vn

Mốc son không phai mờ trong lịch sử dân tộc

QĐND – Cách đây đúng 40 năm, ngày 27-1-1973, tại Pa-ri, “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, gọi tắt là Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, đã được ký kết. Đây là một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Hiệp định Pa-ri là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới. Nguồn: Internet

Trong lịch sử đấu tranh của nhân dân ta, chưa bao giờ có cuộc đàm phán nào kéo dài như Hội nghị Pa-ri (từ ngày 15-3-1968 đến 27-1-1973). Ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Pa-ri là cuộc đấu trí, cuộc thử thách quyết liệt về bản lĩnh giữa nền ngoại giao cách mạng non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới. Những ngày tháng đấu trí cam go, quyết liệt ấy là một trong những hoạt động ngoại giao to lớn, quan trọng của Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, thu hút sự chú ý của dư luận thế giới, đưa cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên bàn thương lượng đến thắng lợi.

Hiệp định Pa-ri thắng lợi là kết quả tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Hiệp định đã buộc Mỹ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Với Hiệp định Pa-ri, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, tạo thời cơ thuận lợi cho mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”, theo đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc ký Hiệp định Pa-ri là tiền đề tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975.

Vượt lên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Pa-ri và Hiệp định Pa-ri là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị Pa-ri và Hiệp định Pa-ri đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình và công lý, là di sản quý báu của phong trào giải phóng dân tộc nhằm mục tiêu thoát khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Để đi đến thắng lợi có tính bước ngoặt này, nhân tố quyết định là sự lãnh đạo sáng suốt, đầy trí tuệ và bản lĩnh của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đề ra đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đường lối quốc tế độc lập tự chủ, đúng đắn sáng tạo. Vận dụng khéo léo nghệ thuật “Đánh kết hợp với đàm”, hoạt động ngoại giao đã góp phần tranh thủ dư luận thế giới, cô lập kẻ thù, hỗ trợ chiến trường và ngược lại, chiến thắng trên chiến trường đã hỗ trợ to lớn cho công tác vận động quốc tế trong các cuộc đàm phán, buộc địch xuống thang từng bước, làm thay đổi so sánh lực lượng, thế trận trên chiến trường.

Cội nguồn của thắng lợi Hội nghị Pa-ri là tinh thần quyết chiến quyết thắng, là ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ chân lý “Không gì quý hơn độc lập tự do” của dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hiệp định Pa-ri năm 1973 phản ánh xu thế thắng lợi cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong bối cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi nhưng cũng không kém phần phức tạp. Việt Nam đã tranh thủ được cả Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, các nước không liên kết, nhân dân thế giới và hình thành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược”. Sự hình thành của mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam đã thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, kết hợp ngoại giao Nhà nước với ngoại giao nhân dân. Chính vì thế, Hiệp định Pa-ri còn là kết quả tất yếu của sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ toàn thế giới.

Có thể nói, Hội nghị Pa-ri và Hiệp định Pa-ri mãi mãi đi vào trong lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và nền ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh nói riêng như một dấu son không bao giờ phai mờ.

40 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song những bài học của cuộc đấu tranh ngoại giao trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Đó là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng; là bài học về kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia dân tộc; là bài học về tầm quan trọng của thực lực kết hợp với chủ động, sáng tạo; là bài học về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; là bài học về xây dựng lực lượng, về sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực.

Trong một thế giới đầy biến động hiện nay, bài học về ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế cần được phát huy hơn bao giờ hết. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, trong bất kỳ tình huống nào, việc bảo vệ độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ mãi mãi là nguyên tắc bất di bất dịch. Lợi ích của quốc gia, của dân tộc là trên hết. Và trong thời kỳ hiện đại, tinh thần, bản lĩnh sáng tạo, linh hoạt cần phải phát huy hơn nữa.

Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Pa-ri là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế, đồng thời vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

QĐND
qdnd.vn

Đóng góp của lực lượng Công an nhân dân vào thắng lợi của Hội nghị Paris về Việt Nam

(ĐCSVN) – Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết là “thắng lợi rất to lớn của cuộc kháng chiến oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam”. Thắng lợi đó là sự kết tinh của quá trình đấu tranh đầy cam go, thử thách của nhân dân ta và các lực lượng vũ trang trên cả 3 mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao.

Lực lượng công an nhân dân đã đóng góp không nhỏ
vào thành công của Hội nghị Paris về Việt Nam
(Ảnh tư liệu)

Cách đây 40 năm, ngày 27-1-1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết tại thủ đô Paris, nước Cộng hòa Pháp. Đây là văn bản pháp lý quốc tế có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của nhân dân, quân đội ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu. Trong lịch sử đấu tranh của nhân dân ta, chưa bao giờ có cuộc đàm phán nào kéo dài, gay cấn, phức tạp và giành thắng lợi toàn diện cả mục tiêu đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao như tại Hội nghị Paris. Nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới “đánh cho Ngụy nhào” như lời dạy và lời tiên đoán vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuối cùng đã giành thắng lợi trọn vẹn thống nhất đất nước vào ngày 30-4-1975.Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết là “thắng lợi rất to lớn của cuộc kháng chiến oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam”. Thắng lợi đó là sự kết tinh của quá trình đấu tranh đầy cam go, thử thách của nhân dân ta và các lực lượng vũ trang trên cả 3 mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao và chủ trương sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta “vừa đánh vừa đàm” trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị Paris là một cuộc đấu trí, đấu mưu, đấu lực, đấu pháp hết sức gay go giữa ta và Mỹ trên nhiều phương diện. Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam đã đóng góp một phần quan trọng vào thắng lợi đó. Nhờ nắm chắc tình hình, luôn cảnh giác cao độ, vận dụng sáng tạo các biện pháp nghiệp vụ, đồng thời biết tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng tiến bộ Pháp và kiều bào cho nên công tác đảm bảo an ninh và bảo vệ phái đoàn đàm phán đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của Hội nghị Paris.

Để phục vụ mặt trận đấu tranh ngoại giao, ngay từ phiên họp đầu tiên của Hội nghị, ngày 13-5-1968, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn đã cử một số cán bộ, chiến sĩ có trình độ và kinh nghiệm làm công tác an ninh và bảo vệ phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoạt động tại Hội nghị và sau đó hơn 40 lượt cán bộ chiến sĩ công an được cử tới Paris để làm công tác bảo vệ an ninh và cảnh vệ cho cả hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tham dự Hội nghị. Với phương châm: Công tác an ninh phải đảm bảo tuyệt đối an toàn, dựa vào sức mình là chính, đồng thời làm tốt công tác ngoại giao vận động kiều bào, lực lượng Công an đã thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh cho cả hai đoàn tại nơi ở, nơi làm việc, hội họp, đảm bảo an toàn tuyệt đối về người cũng như các tài liệu bí mật quốc gia liên quan đến đàm phán; bảo vệ an toàn những chuyến đi lại từ Hà Nội đến Paris và ngược lại của các đồng chí Cố vấn Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh, Xuân Thuỷ và nhiều cuộc đi thăm các nước của bà Nguyễn Thị Bình – đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam v.v…

Thông qua công tác xây dựng cơ sở trong các tổ chức Việt kiều yêu nước, qua công tác trinh sát, tình báo, ta nắm được danh sách phái đoàn và ý đồ của Mỹ đến đàm phán tại Hội nghị Paris. Những tin tức đó được kịp thời báo cáo với lãnh đạo Đảng để có chủ trương, biện pháp chỉ đạo đấu tranh trên bàn Hội nghị. Trong quá trình diễn ra Hội nghị, lực lượng bảo vệ đã thường xuyên nêu cao cảnh giác, giữ vững kỷ luật, tham mưu cho lãnh đạo, hướng dẫn cho các thành viên trong đoàn đảm bảo cho hoạt động của đoàn tuân thủ nghiêm ngặt những nội quy, quy định về quan hệ, đi lại, tiếp xúc, giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, các quy định về bảo vệ cơ quan phái đoàn, bảo vệ tài liệu, giữ gìn bí mật về chủ trương, đường lối của Đảng. Trong hoạt động nghiệp vụ, lực lượng an ninh đã chủ động bố trí những buồng BHP (“buồng hạnh phúc”), BBM (buồng bí mật), thậm chí nhiều vấn đề không được trao đổi bằng miệng mà phải viết ra giấy, khi cần thiết phải trao đổi ngoài sân hoặc trong vườn khuôn viên biệt thự… Vì vậy, mọi thông tin hoạt động đàm phán của phái đoàn ta, các bí mật tin tức, biện pháp đấu tranh ngoại giao của Đảng và Chính phủ đều giữ được bí mật đến phút cuối cùng, khiến cho địch luôn bị bất ngờ, đối phó bị động.

Ở những địa điểm phái đoàn ta hội họp, nơi làm việc, nghỉ ngơi, lực lượng Công an Việt Nam đều phối hợp với lực lượng Cảnh sát, An ninh và các lực lượng tiến bộ của nước Cộng hòa Pháp lập kế hoạch bảo vệ tuyệt đối an toàn cả trên đường di chuyển và ở nơi làm việc. Đặc biệt, tổ Tình báo F68 đã có những thành tích xuất sắc trong việc bảo vệ an toàn phái đoàn ta tại Hội nghị. Bằng trí tuệ sắc sảo, sự nhạy cảm, khôn khéo, thông qua công tác trinh sát kỹ thuật nghiệp vụ, lực lượng công an đã phát hiện và vô hiệu hóa các phương tiện kỹ thuật nghe, chụp ảnh trộm của đối phương. Khi Hiệp định Paris chuẩn bị được ký kết, qua công tác tình báo, lực lượng công an nắm được âm mưu của Mỹ muốn thay đổi một số nội dung trong dự thảo Hiệp định. Những tin tức trên đã được kịp thời báo cáo với lãnh đạo Đảng để có chủ trương và biện pháp đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận những điều khoản đã thỏa thuận tại Hội nghị. Tuy số lượng cán bộ, chiến sĩ làm công tác bảo vệ Hội nghị không nhiều, nhưng do biết dựa vào tập thể, tranh thủ được sự đồng tình và giúp đỡ của Chính phủ và các lực lượng tiến bộ Pháp, đồng thời biết phát huy tác dụng các biện pháp nghiệp vụ nên lực lượng Công an Việt Nam đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27-1-1973.

Hội nghị Paris về Việt Nam kết thúc đã 40 năm và đã để lại những bài học vô cùng quý giá. Những bài họcđó vẫn còn giữ nguyên giá trị thời sự và thiết thực đối với lực lượng Công an nhân dân trong tình hình thế giới đầy biến động và phức tạp hiện nay. Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27-1-1973 – 27-1-2013), lực lượng Công an nhân dân tự hào, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi tới của dân tộc, quyết tâm phát huy tinh thần và bài học của Hội nghị Paris trong công tác, chiến đấu, xây dựng lực lượng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động bất ngờ và chủ động hội nhập quốc tế nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Bình Ban (Viện Lịch sử Công an, Bộ Công an)
cpv.org.vn

Điện Biên Phủ trên không: Gặp phi công mở màn chiến thắng

(ĐVO)- Chiều ngày 23/12/1972, phi công Nguyễn Văn Nghĩa là người đã bắn hạ chiếc F-4 đầu tiên của Không quân Mỹ trong chiến dịch. Chiến công này có ý nghĩa khai thông thế bế tắc, giải quyết vấn đề tâm lý cho không quân sau 5 ngày không bắn hạ được chiếc máy bay nào.

Sau sự kiện đó, Không quân Nhân Dân Việt Nam liên tiếp lập được nhiều chiến công bắn hạ nhiều máy bay Mỹ trong đó có 2 chiếc B-52.

 Phi công Nguyễn Văn Nghĩa.

Phi công Nguyễn Văn Nghĩa.

Dù đã ở tuổi 66 nhưng người phi công anh hùng năm xưa vẫn còn rất phong độ, trông ông không già đi nhiều so với 40 năm trước. Tuy vậy, phi công Nguyễn Văn Nghĩa vẫn còn nhớ như in những ngày tháng chiến tranh vô cùng ác liệt và đối với những người như ông đó là những năm tháng không thể nào quên.

Kể về trận chiến lịch sử của mình, Đại tá phi công Nguyễn Văn Nghĩa nhớ lại, đêm ngày 18/12/1972 khi Mỹ mở màn chiến dịch Linebacker-II, phi công cất cánh làm nhiệm vụ đánh B-52 đầu tiên là Trần Cung nhưng không phát hiện được B-52. Tiếp đó đến phi công Phạm Tuân, Vũ Đình Rạng lần lượt cất cánh những cũng không tiếp cận được B-52.

Từ ngày 18-22/12/1972 đã 5 ngày trôi qua nhưng không quân không bắn được chiếc máy bay nào của Mỹ lại phải chịu tổn thất 1 máy bay. (Trong cả chiến dịch, Không quân Nhân dân Việt Nam tổn thất 3 máy bay, 2 phi công hy sinh – PV).

“Toàn bộ không quân chúng tôi rất nóng ruột, bộ đội phòng không đã bắn rơi rất nhiều máy bay Mỹ trong khi bộ đội không quân chưa lập được chiến công nào”, phi công Nguyễn Văn Nghĩa chia sẻ cảm xúc lúc đó.

Chớp thời cơ diệt địch

Ngày 23/12/1972, đến lượt ông được lệnh cất cánh, bay ở vị trí phi đội trưởng. Bay cùng có phi công Lê Văn Kiền. Khi đó, đài chỉ huy mặt đất thông báo có 4 tốp F-4 ở xung quanh, khoảng 24 chiếc ở cự ly khoảng 40km.

“Ý định của chúng là muốn dồn các tiêm kích MiG-21 của ta vào ở giữa để tiêu diệt. Tôi nhanh chóng lấy tốc độ và tiếp cận tốp F-4 phía bên phải, phi công số 2 tiếp cận tốp bên trái. Ngay lập tức, tốp F-4 phía sau cũng nhanh chóng ập đến. Trong thâm tâm tôi đã xác định trước tình huống này sẽ rất kịch tính, cả đôi bên đều ở rất gần nhau, ai bóp cò nhanh hơn người đó sẽ thắng”, Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa hồi tưởng.

Bằng kỹ thuật và kinh nghiệm, ông đưa được một chiếc F-4 vào tầm ngắm bằng máy ngắm cơ học. “Thời gian ở đây chỉ có thể tính bằng giây, mình phải vừa chuẩn bị tấn công cũng vừa phải chuẩn bị để phòng thủ”, ông bồi hồi nhớ lại.

Khi ông đưa chiếc F-4 phía trước vào tầm ngắm thì chiếc F-4 phía sau cũng nhanh chóng tiếp cận để ngắm bắn. Do đó, khi chiếc F-4 phía trước ở cự ly khoảng 1.200-1.300 mét, tương đối tốt đối với tên lửa K-13, ông lập tức phóng tên lửa về phía chiếc F-4 thì khoảng vài giây sau đó 2 quả tên lửa từ chiếc F-4 phía sau cũng lao đến.

“Nhanh chóng tôi thực hiện một động tác ngoặt đột ngột để thoát ra khỏi đường ngắm của tên lửa. Phi công số 2 bay cùng tôi hô lớn trên radio “cháy rồi” chiếc F-4 bốc cháy và rơi xuống khu vực Lào Cai”, Đại tá Nghĩa kể lại.

Khi thực hiện động tác ngoặt đột ngột thoát khỏi tầm ngắm  tên lửa của F-4, ông cũng ngắm được một chiếc F-4 khác ở phía trước nhưng do ở cự ly quá gần nên không xác định được điểm nổ. Trong khi đó, đài chỉ huy mặt đất ra lệnh “đánh nhanh rút nhanh” nên ông cùng phi công số 2 lập tức thoát khỏi đội hình F-4 và bay về hướng sân bay Đa Phúc.

Hạ cánh an toàn trong “mưa đạn” của F-4

Tuy nhiên, các sân bay xung quanh như Đa Phúc, Gia Lâm, Kép đều bị Không quân Mỹ phong tỏa triệt để. Đài chỉ huy thông báo cho tôi và phi công số 2 bay ra khu vực Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc ở độ cao thấp và thoát ra bằng dù.

Lúc đó trong thâm tâm tôi suy nghĩ, máy bay của mình không bị bắn hay bị trục trặc gì, tại sao mình phải từ bỏ nó? Bên cạnh đó, việc thoát ra bằng dù cũng chưa chắc đã an toàn bởi Mỹ có thể bắn vào dù. (Chính sách vô nhân đạo này của Không quân Mỹ nhằm tiêu hao lực lượng phi công tinh hoa nhưng ít ỏi của Không quân Nhân dân Việt Nam – PV).

Chưa hết, nếu tiếp đất bằng dù an toàn thì cơ hội tiếp tục chiến đấu trong 12 ngày đêm gần như bằng 0, bởi các phi công khi thoát ra ngoài bằng dù đều phải trải qua quá trình phục hồi sức khỏe từ 3-4 tháng.

Khi đó, ông liên lạc về sở chỉ huy và hỏi xem đường lăn của sân bay cũng như ụ chứa máy bay có bị đánh phá hay không, sở chỉ huy thông báo đường lăn không bị đánh phá. Vì vậy, ông quyết định hạ cánh trên đường lăn, một là thành công để tiếp tục được chiến đấu, hai là chấp nhận hy sinh trong trường hợp máy bay gặp sự cố hoặc bị bắn trong quá trình tiếp đất.

“Tôi thông báo trên radio cho sở chỉ huy và cả số 2 của tôi là “số 1 sẽ hạ cánh trên đường lăn”, còn số 2 có hạ cánh theo hay không là tùy thuộc vào đồng chí ấy. Rất may mắn là tôi đã hạ cánh an toàn, máy bay không gặp bất kỳ trục trặc nào”, ông kể lại.

Sau khi hạ cánh hạ cánh thành công, trên đường lăn ông gọi trên radio, “số 1 gọi số 2”, phía bên kia trả lời, “số 2 nghe tốt”. “Nghe tốt” có nghĩa là an toàn. “Trong thâm tâm tôi rất vui sướng, phi công số 2 cũng hạ cánh an toàn trên đường lăn, mặc dù các tốp F-4 phía sau vẫn bắn phá ác liệt bằng pháo 20 mm nhưng cả 2 máy bay đều được đưa về căn cứ an toàn”, Đại tá Nghĩa kể lại..

Chiến công nối tiếp chiến công

Đối với ông đó là một kỷ niệm không thể nào quên, là niềm vinh dự, tự hào lớn nhất trong cuộc đời, đó là đã khai thông được thế bế tắc cho không quân trong 12 ngày đêm. Ngày sau đó, cũng ngày 23/12/1972, phi công Trần Việt – nay là Phó Tư lệnh quân chủng Phòng không -Không quân – cất cánh bắn hạ thêm một chiếc F-4 khác.

Đến ngày 27/12/1972 biên đội bay của phi công Đỗ Bá Lanh và Dương Bá Khá cất cánh bắn hạ thêm một chiếc F-4. Đến đêm 27 rạng sáng ngày 28/12/1972 phi công Phạm Tuân bắn rơi tại chổ một chiếc B-52. Chiều 28/12/1972 biên đội bay Lê Văn Kiều và Hoàng Tam Hùng bắn rơi một chiếc F-4.

Đêm 28/12/1972 phi công Vũ Xuân Thiều bắn rơi thêm một chiếc B-52 khác, đêm 29/12/1972 phi công Bùi Doãn Độ bắn rơi thêm một chiếc F-4 và đây là chiếc cuối cùng do không quân bắn hạ trong 12 ngày đêm.

Trong 12 ngày đêm, Không quân Nhân dân Việt Nam bắn hạ được 7 máy bay, trong đó có 2 chiếc B-52, cùng với bộ đội phòng không và toàn quân, toàn dân ta bẽ gãy cuộc tập kích đường không quy mô lớn nhất của Mỹ từ sau chiến tranh thế giới thứ 2.

Với quy mô chiến dịch lớn như vậy nhưng chỉ kết thúc trong 12 ngày đêm, theo cá nhân tôi đó là một “kỳ tích” của toàn quân và toàn dân ta. Phòng không không quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bắn rơi 81 máy bay các loại trong đó có 34 chiếc B-52.

Phi công Nguyễn Văn Nghĩa và đồng đội (người thứ hai, từ trái qua phải, hàng sau).Phi công Nguyễn Văn Nghĩa và đồng đội (người thứ hai, từ trái qua phải, hàng sau).

Đại tá phi công Nguyễn văn Nghĩa sinh ngày 3/5/1946 tại Quảng Ngãi.

Ngày 1/7/1965, ông trúng tuyển phi công tiêm kích. Từ tháng 9/1956-4/1968, ông học lái MiG-21 tại Liên Xô.

Sau khi tốt nghiệp, ông về nước nhận nhiệm vụ tại đại đội 2 Trung đoàn tiêm kích 921 đoàn Sao Đỏ.

Từ năm 1973-1975 ông là phi đội trưởng các phi đội 3, 9, 11 Trung đoàn tiêm kích 927, đoàn Lam Sơn.

Ông là phi công Việt Nam đầu tiên lái máy bay MiG-21 số hiệu 5033 hạ cánh xuống sân bay Đà Nẵng vào năm 1975.

Ông cũng là phi công Bắc Việt Nam đầu tiên cất cánh trên tiêm kích F-5 của Mỹ thu được sau chiến tranh, sau đó ông đã huấn luyện cho một số phi công khác sử dụng máy bay F-5 tham gia trong chiến dịch biên giới Tây Nam.

Từ năm 198,2 ông chuyển lên làm cán bộ Sư đoàn Không quân 370 với cương vị bí thư Đảng ủy. Từ năm 1992 ông giữ chức Hiệu trưởng Trường Hàng Không Việt Nam, ông là người có công lớn trong việc xây dựng Học viện hàng không Việt Nam và cũng là giám đốc đầu tiên của học viện.

Từ tháng 4/2007, ông nghỉ hưu. Tháng 8/2007, ông được bầu giữ chức Chủ tịch Câu lạc bộ Hàng không Việt Nam cho đến nay.

Quốc Việt
baodatviet.vn