Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Người phương Tây cuối cùng được phỏng vấn Bác Hồ

Đó là Giáo sư Charles Fourniau, một người bạn lớn của Việt Nam, qua đời ngày 21/4/2010 ở tuổi 90 tại Paris.

Sinh ngày 17/9/1920, Charles Fourniau đỗ thạc sĩ năm 1949 và tiến sĩ sử học năm 1983 với luận án Cuộc chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ 1885-1896 (La conquête de l’Annam et du Tonkin 1885-1896). Phần lớn thời gian được ông dành để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại. Ông đã viết nhiều sách như: Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale ) (1989); Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914) (2002).

TS. Phan Văn Hoàng (nguyên Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử TP.HCM):

Một đồng nghiệp của báo L’Humanité (cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp) báo tin buồn: Giáo sư Charles Fourniau, một người bạn lớn của Việt Nam, qua đời ngày 21/4/2010 ở tuổi 90 tại Paris và được an táng ngày 29/4/2010 tại nghĩa trang La Chaise.

dNhà sử học Charles Fourniau. Nguồn: Internet.

Sinh ngày 17/9/1920, ông đỗ thạc sĩ năm 1949 và tiến sĩ sử học năm 1983 với luận án Cuộc chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ 1885-1896 (La conquête de l’Annam et du Tonkin 1885-1896). Phần lớn thời gian được ông dành để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại. Ông đã viết nhiều sách như: Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale ) (1989); Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914) (2002).

Ông từng chủ trì cuộc hội thảo về lịch sử chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam (tổ chức tại Đại học Provence).

Dưới sự hướng dẫn khoa học của ông, nhiều sinh viên đã trở thành những nhà Việt Nam học có uy tín.

Không chỉ là một nhà sử học uyên thâm, ông còn là một chiến sĩ đấu tranh cho hòa bình.

Là đảng viên Đảng cộng sản Pháp, ông phản đối mãnh liệt cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” (la sale guerre) mà thực dân Pháp tiến hành ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Sau khi Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam ra đời không bao lâu, ông là một trong những người sáng lập Hội hữu nghị Pháp – Việt (Association d’amitié Franco-Viêtnamienne) (1961), từng làm Tổng thư ký và Chủ tịch của Hội. Năm 1962, Hội xuất bản cuốn Vấn đề Nam Việt Nam (La question du Sud-Vietnam) giúp nhân dân Pháp và thế giới hiểu được cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Miền Nam.

Từ tháng 10/1963 đến tháng 7/1965, ông được báo L’Humanité cử làm phóng viên thường trú ở Hà Nội. Ông tận mắt chứng kiến những trận ném bom dã man của Mỹ và cuộc chiến đấu ngoan cường của nhân dân Việt Nam. Là một nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam, ông nhận thức được truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta qua hàng nghìn năm, nên trong những bài báo gửi về Paris, ông khẳng định: Nhân dân Việt Nam cuối cùng sẽ thắng.

Vào thời điểm 1965, nhiều người trên thế giới lo ngại cho một nước nhỏ và nghèo như Việt Nam trước sự tàn phá khủng khiếp của Không lực Hoa Kỳ, nên không phải ai cũng nghĩ như ông. Hiệp định Paris 27/1/1973 và chiến thắng 30/4/1975 cho thấy dự đoán của ông hoàn toàn chính xác.

Ông nhiều lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt, ông là người phương Tây cuối cùng phỏng vấn Bác Hồ hai tuần lễ trước khi Người qua đời (1969). Năm sau, ông cùng Léo Figuères biên tập cuốn Hồ Chí Minh, đồng chí của chúng ta (Hô Chi Minh, notre commarade).

Sau ngày Việt Nam hòa bình và thống nhất, Hội hữu nghị Pháp – Việt tiếp tục hoạt động cho sự hợp tác nhiều mặt giữa hai nước.

Ở tuổi 83, ông cho xuất bản cuốn hồi ký Việt Nam mà tôi đã thấy 1960-2000 (Le Viêtnam que j’ai vu 1960-2000).

dBìa quyển sách Việt Nam mà tôi đã thấy 1960-2000
(Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914).

Charles Fourniau qua đời, nhân dân Việt Nam mất một người bạn thủy chung, giới sử học Việt Nam mất một đồng nghiệp khả kính.

Xin chúc ông an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.

TS ALAIN RUSCIO (Nhà Việt Nam học của Pháp):

Charles Fourniau là một nhà sử học được nhiều đồng nghiệp biết tên tuổi, nhưng ông còn là một người có niềm tin vững chắc, là nhà sáng lập Hội Hữu nghị Pháp – Việt (AAFV) mà ông từng giữ chức vụ Tổng thư ký trong một thời gian dài. Ông vừa qua đời ở tuổi 89, để lại một khoảng trống mà với thời gian, chúng ta sẽ ngày càng thấm thía.

Trong cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương, ông là một chiến sĩ của phong trào Hòa bình, bắt đầu dấn thân vào việc bảo vệ dân tộc Việt Nam dũng cảm. Sau đó, trong cuộc chiến tranh của Mỹ – màn thứ hai của cuộc xâm lược từ phương Tây, ông sang Việt Nam lần đầu tiên. Khi trở về Pháp, ông đã bị dân tộc Việt Nam chinh phục: ông đã có một sự lựa chọn dứt khoát cho cả đời mình.

dBìa quyển sách Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale).

Hai năm sau, ông trở lại đất nước này với tư cách là một nhà báo. Tờ L’ Humanité (cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Pháp) yêu cầu ông sang đó làm phóng viên thường trú của báo. Ở đó, ông tự hào được gần gũi các nhà lãnh đạo của nước này, được tiếp xúc với Hồ Chí Minh, trở thành một người thân cận của Người và là người nước ngoài cuối cùng được gặp Người (trước khi Người qua đời).

Ông là một trong những người đầu tiên chứng kiến tận mắt việc Mỹ leo thang chiến tranh. Ông thường kể lại bài báo đầu tiên ông gửi về cho báo L’ Humanité năm 1965 sau những trận ném bom ồ ạt của Mỹ. Trong bài báo ấy, ông dự đoán rằng cuối cùng Việt Nam sẽ chiến thắng. Lúc đó, sự chênh lệch về lực lượng (giữa Việt Nam và Mỹ) quá lớn khiến tòa soạn ở Paris phải do dự một lúc trước khi cho đăng. Mười năm sau, Việt Nam thống nhất và độc lập. Chính kiến thức của một nhà sử học đã giúp ông nhìn xa hơn những gì đang diễn ra trước mắt.

Charles Fourniau là một trong những người đầu tiên tự hỏi về nguồn gốc của sức đề kháng độc đáo của dân tộc này (ông rất ghét gọi nước này là một nước “nhỏ”).

Và ông đã tìm thấy câu trả lời từ trong lịch sử Việt Nam, chẳng hạn khái niệm “chiến tranh toàn dân” đã bén rễ từ nhiều thế kỷ qua trong tâm trí người Việt Nam, từ nhà vua đến người làm ruộng, trong vô số những cuộc chiến tranh tự vệ chống lại người Trung Quốc, rồi trong cuộc kháng chiến chống lại sự chinh phục của thực dân Pháp (mà ông lấy làm đề tài cho luận án tiến sĩ của ông). Ông giải thích: Rốt cuộc, ở thế kỷ XX, tướng Giáp chỉ đơn giản sử dụng lại những truyền thống cổ xưa này, đồng thời thêm vào đó nét thiên tài của chính ông.

Ông có một đức tính đặc biệt mà những người ở gần ông đều biết rất rõ: ông là một người truyền đạt kiến thức giỏi, một ông thầy dạy hay. Ông hướng dẫn nhiều thế hệ sinh viên. Họ nghe ông giảng, chia sẻ nhiệt tình của ông và sau đó trở thành những nhà Việt Nam học có tên tuổi.

“Trong nhiều năm, tên tuổi của ông đã gắn liền với cuộc đấu tranh vì tự do của nhân dân Việt Nam”

Marie – George Buffet, Bí thư toàn quốc Đảng cộng sản Pháp

Nhà khoa học này là một người dấn thân. Ông là một nhà thông thái, đồng thời cũng là một nhà tranh đấu. Tất cả ở ông là sự kết hợp hài hòa hai từ này mà ông không muốn tách rời nhau. Ông có thể đọc một bản tham luận xuất sắc tại một cuộc hội thảo quốc tế và ngay trong tuần lễ đó, nhân dân Hội Hữu nghị Pháp – Việt mà ông quý mến, ông đi dự một cuộc họp mặt của làng hay của khu phố.

Là một trí thức cộng sản, ông có những xác tín cơ bản – mà có người cho là quá thẳng – song ông không tìm cách che giấu rằng trong đó có những vấn đề và những hoài nghi mang tính phê phán gay gắt. Có lẽ ông có cả hai nét này nhờ ông hiểu một cách sâu sắc cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Mong bà Paulette và năm người con của ông – mà trước đây ông đã đưa sang Việt Nam cùng ông – cùng các cháu mà ông yêu quý, hãy nhận những lời phân ưu chân thành của tất cả những người yêu mến Charles của họ mà cũng là một phần của chúng tôi.

(Bài đăng trên website http://www.humanite.fr V.H. dịch)

GS Nguyễn Văn Hoàn
:

Tôi quen Fourniau từ năm 1963, năm ông sang Hà Nội làm việc. Tôi quen toàn bộ gia đình, cả vợ và con Fourniau. Sau này, lần nào qua Ý, tôi cũng ghé ở nhà ông ấy. Khi Fourniau về hưu, có một hội nghị khoa học về ông, tôi có viết bài.

dĐại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp Nhà sử học Charles Fourniau (người ngồi bên phải) tại nhà riêng. Ảnh: Nguyễn Văn Kự.

Đó là một con người làm việc nghiêm túc, đến nơi đến chốn, một người Pháp thân tình thực sự với Việt Nam. Một lần, ông đến Vân Kiều, một vùng dân tộc thiểu số ở Vĩnh Linh, họ rất ngạc nhiên thấy một “ông Tây” hiền và tốt đến như vậy. Tôi nói với ông điều đó, và ông, với vẻ mặt buồn buồn, nói: “Nếu tôi có thể gây một ấn tượng tốt cho người Việt Nam (khác với những người Pháp thực dân) thì tôi rất hạnh phúc”.

Tại đại hội Đảng bộ Vĩnh Linh, một đại biểu người Vân Kiều nói: “Ngày xưa, gặp một người Kinh ở trong rừng thôi, tôi đã bỏ chạy. Nay ngồi cạnh một ông Tây mà tôi rất an tâm, tự hào, vì tôi tin tưởng ở Bác Hồ”. Cả hội trường vỗ tay như sấm. Fourniau sung sướng khi nghe dịch lại.

Từ thời sinh viên cho đến lúc mất, Fourniau là một người bạn chí tình của Việt Nam. Từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng… đều có “biệt nhỡn” đối với ông. Giới học giả như Trần Huy Liệu, Nguyễn Khánh Toàn, Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Phạm Thiều… đều gặp và nói chuyện trực tiếp với ông bằng tiếng Pháp. Ông cũng thân thiết với Võ Nguyên Giáp. Ông thường đến thăm Võ Nguyên Giáp, nói chuyện bằng tiếng Pháp với Võ Nguyên Giáp.

Những tác phẩm sử học của ông rất nghiêm túc về công tác tư liệu. Khi làm phóng viên tại Hà Nội, ông đã tìm các tư liệu về lịch sử cận đại Việt Nam và tôi đã giúp ông tìm các tư liệu lịch sử chưa in như Gia phả Nguyễn Quang Bích và Ngọ Phong thi tập. Sau đó, ông nhờ Cao Xuân Huy, Phạm Thiều giảng lại từng câu. Ông vào thăm chiến khu Ba Đình – Thanh Hóa và ghi âm bài vè Ba Đình rồi dịch toàn văn ra tiếng Pháp. Trung tâm lưu trữ ở Aix en Provence coi ông như người nhà, và ông đã giới thiệu tôi đến đó đọc tư liệu và photocoppy miễn phí.

aBìa quyển sách Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914)

Suốt đời ông gắn bó với Hội hữu nghị Việt – Pháp, từ cương vị Tổng thư kí đến cương vị Chủ tịch đại diện lúc cuối đời. Ông thuộc diện người Pháp hết lòng với Việt Nam. Như Henry Martin, Raymon Dienne, Madelain Rifaud…, những người bị bọn xấu cho là cuồng tín. Ông sống suốt đời vì Việt Nam với trái tim chân thành, công khai chống lại cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” ở Việt Nam.

Ông là một trong nhóm phóng viên nước ngoài chịu đựng cuộc ném bom của Mỹ xuống Đồng Hới ngày 11/2/1965. Ông đã ở đó cùng với đứa con trai lớn nhất của mình 11 tuổi.

Nhóm phóng viên đó, trong đó có phóng viên Liên Xô, gửi về sứ quán Liên Xô rồi từ đó gửi về Mạc Tư Khoa rồi gửi về Pháp một bức điện: “Chúng tôi đã chứng kiến cảnh Mỹ ném bom Đồng Hới tại Việt Nam, một máy bay Mỹ bị bắn hạ và một phi công Mỹ đã bị bắt”. Vợ ông ở Paris đọc tin ấy phát hoảng: “Ông muốn làm gì thì làm, nhưng ông hãy trả con về cho tôi”. Và ông đã gửi con về Paris qua ngã Praha. Đó là một người “dấn thân” vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt Nam.

Một hôm, Thủ tướng Phạm Văn Đồng mời cả nhà ông đến ăn cơm, một lát thì Bác Hồ xuất hiện. Cô con gái lớn của ông xúc động, xin phép hôn Bác Hồ. “Khi Hồ Chí Minh vào phòng, con có cảm tưởng cả phòng sáng rực lên”. Từ đó, cả nhà gọi Bác Hồ là L’oncle Hồ. Ông cũng là người vinh dự được Bác Hồ tiếp trước khi Bác mất một tuần. Đó là điều vừa tự hào vừa đau buồn sâu sắc đối với ông.

Theo Tạp chí Hồn Việt
Vkyno (st)

Bác Hồ và Tổng thống Indonesia

Với người đứng đầu nhà nước Indonesia, Bác thân mật gọi là “Anh cả Karno”.

– Ngày 28/6/1959, trước cuộc mít tinh của 20 vạn đồng bào Thủ đô tại Quảng trường Ba Đình chào mừng Tổng thống Indonesia sang thăm Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Indonesia : “Nước xa mà lòng không xa/ Thật là bầu bạn, thật là anh em”.

Với người đứng đầu nhà nước Indonesia mà Bác thân mật gọi là “Anh cả Karno” Bác chia sẻ quan điểm : “Đoàn kết, đoàn kết lại đoàn kết / Khó khăn gì chúng ta cũng nhất định vượt được hết/ Kẻ thù nào chúng ta cũng đánh tan hết/ Thắng lợi to lớn gì chúng ta cũng tranh thủ được hết”.

Bác nhắc lại kỷ niệm: “Mùa Xuân năm nay, lúc Bác sang thăm Indonesia, chẳng những gia đình Tổng thống từ bác gái cho đến các cháu coi Bác như một người anh em trong nhà mà cả Chính phủ, Quốc hội và tất cả nhân dân Indonesia cũng không xem bác là người khách mà xem Bác là người anh em bạn hữu thân thiết của Indonesia.

Bác ở bên ấy mười ngày, đi tỉnh này qua tỉnh khác, hàng triệu nhân dân ra đón Bác, luôn luôn tỏ ra một tình thân rất nồng nhiệt. Tình ấy không chỉ tỏ cho Bác mà còn tỏ cho tất cả nhân dân Việt Nam…”.

 Tháng 6/1959, Bác hướng dẫn Tổng thống Sukarno thăm Bảo tàng Lịch sử QG.Tháng 6/1959, Bác hướng dẫn Tổng thống Sukarno thăm Bảo tàng Lịch sử QG.

Trong buổi tiệc chiêu đãi, tổ chức tối cùng ngày, đáp từ bài phát biểu của tổng thống Sukarno, Bác nói bằng văn vần : “Lặng nghe lời nói như ru/ Tình hữu nghị giữa hai dân tộc muôn thu vững bền/ Chúng ta cùng bước tiến lên/ Thống nhất và độc lập, chúng ta xây dựng cái nền vẻ vang… Lực lượng chủ nghĩa xã hội thì trưởng thành khắp nơi/ Chúng ta cùng nhau xây dựng cuộc đời/ Người người sung sướng, người người ấm no…”.

Ngày 29/6/1959, tiễn đưa Đoàn đại biểu Chính phủ Cộng hoà Indonesia do Tổng thống Sukarno dẫn dầu kết thúc chuyến thăm hữu nghị nước ta, tại sân bay Gia Lâm (Hà Nội) Chủ tịch Hồ Chí Minh quyến luyến đọc mấy vần thơ: “Nhớ nhung trong lúc chia tay/ Tấm lòng lưu luyến cùng bay theo Người/ Người về Tổ quốc xa khơi/ Chúc Người thắng lợi. Chúc Người bình an”.

Indonesia là một quốc gia Đông Nam Á có hoàn cảnh lịch sử giống nước ta. Là một thuộc địa của Hà Lan, tháng 8/1945, Indonesia giành được độc lập từ tay phát xít Nhật thành lập nhà nước Cộng hoà do ông Sukarno đứng đầu. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và miền Bắc hoàn toàn giải phóng, một trong những quốc gia mà Bác đi thăm sớm nhất là Ấn Độ và Indonesia.

Ngày 26/2/1959, Bác và đoàn Đại biểu Chính phủ ta sang thăm Indonesia được Tổng thống Sukarno đón tiếp rất nồng hậu. Chuyến đi kết thúc vào ngày 11/3/1959.

Bốn tháng sau, ngày 24/6/1959. Tổng thống Sukarno sang thăm Việt Nam và cũng đuợc Bác và Nhà nước Việt Nam tiếp đón rất trọng thể và thân mật. Indonesia là một quốc gia đông dân, đóng vai trò to lớn trong cộng đồng các quốc gia không liên kết và luôn ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam. Nó giải thích sự thân tình vượt ra khỏi nghi thức ngoại giao mà Bác đã giành cho vị nguyên thủ nước bạn.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ và Quốc vương Campuchia

“Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng”.

 “Được nhân dân kính mến, được bạn hữu khâm phục, được kẻ thù tôn trọng, Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật hoạt động chính trị và là lãnh tụ cao quý nhất của thế kỷ này… Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng” – Quốc trưởng Campuchia phát biểu trong lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 27/6/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cảm ơn tới Thái tử Quốc truởng Campuchia Nôrôđôm Xihanuc (N.Sihanouk) bày tỏ “vô cùng cảm động về việc Ngài và nhân dân Khơme đã gửi tặng thuốc với một tấm lòng hào hiệp…

Cử chỉ cao cả đó là biểu hiện sự ủng hộ anh em của nhân dân Khơme đối với nhân dân Việt Nam… Như Ngài đã nói rất đúng: Nhiệm vụ của chúng ta đối với các thế hệ tương lai là phải cùng nhau củng cố cơ sở của sự hợp tác tin cậy và chân thành trong sự tôn trọng nền độc lập của nhau”.

Nôrôđôm Xihanuc vốn là Thái tử kế vị nhà vua Campuchia Nôrôđôm Xunamarit, năm 1960 mới được bầu làm Quốc trưởng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nhà nước ta chỉ có quan hệ với Lực lượng kháng chiến của Sơn Ngọc Minh.

aKhi Bác qua đời, tháng 9/1969, ông Nôrôđôm Xihanuc cùng phu nhân đã tới Hà Nội dự lễ tang.

Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tranh thủ mối quan hệ hữu nghị với Chính phủ Vương quốc Campuchia. Bác Hồ luôn bày tỏ sự tôn trọng nền độc lập, chủ quyền lãnh thổ và chính sách trung lập của  Thái tử Quốc trưởng Xihanuc và thường xuyên duy trì mối liên hệ.

Ngày 21/11/1956, lần đầu tiên, Bác gửi điện mừng tới Vua Nôrôđôm Xuramarit và Hoàng hậu Khơme và chúc nhân dân Khơme thu được nhiều thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng đất nước Khơme, trong việc thực hiện chính sách hoà bình và trung lập, chúc tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Khơme ngày càng phát triển.

Ngày 21/6/1960, Bác gửi điện mừng Thái tử Nôrôđôm Xihanuc nhận chức Quốc trưởng Vương quốc Campuchia, trong đó: “Chúc nhân dân Khơme dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Thái tử Quốc trưởng thu được nhiều thắng lợi mới trong việc thực hiện chính sách hoà bình, trung lập, xây dựng đất nước Campuchia ngày thêm phồn vinh, góp phần vào việc củng cố hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới”.

Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ở miền Nam xâm phạm chủ quyền Campuchia và đánh phá miền Bắc đã khiến Nôrôđôm Xihanuc đứng về phía cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Năm 1965, theo sáng kiến của Xihanuc, Hội nghị Nhân dân Đông Dương được triệu tập. Ngày 6/3/1965 Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Thái tử Xihanuc, Chủ tịch Hội nghị Nhân dân Đông Dương: “Tôi rất cảm kích được biết qua bức điện của Ngài rằng Thái tử Nôrôdôm Xihanuc, Quốc trưởng Vương quốc Campuchia đã kịch liệt lên án đế quốc Mỹ về hành động khiêu khích mới và hết sức nghiêm trọng của chúng tôi đối với nước VNDCCH và nhấn mạnh sự cần thiết đối với nhân dân các nước Đông Dương phải tăng cường đoàn kết hơn nữa trước nguy cơ mở rộng chiến tranh do đế quốc Mỹ gây nên” và cho rằng thái độ ấy “là bằng chứng tỏ rõ ý chí thống nhất của nhân dân ba nước chúng ta (gồm cả Lào) là kiên quyết đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ và ra sức bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ” .

Sau đó Bác chủ động tạo mối liên hệ để tranh thủ sự ủng hộ của Nôrôđôm Xihanuc. Ngày  23/6/1967  trong điện mừng nhân dịp 2 nước đặt quan hệ ngoại giao cấp đại sứ, Bác đánh giá “Đây là một sự kiện lịch sử trong quan hệ giữa VN và Cămpuchia, một nhân tố tích cực trong việc gìn giữ hoà bình ở Đông Duơng và Đông Nam Á”.

Ngày 8/11/1968, chúc mừng nhân kỷ niệm lần thứ 15 Quốc khánh Campuchia, Bác “bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự ửng hộ anh em của Ngài, Chính pủ Vương quốc và nhân dân Khơme.

Chúng tôi khẳng định một lần nữa chính sách trước sau như một của Chính phủ nước VNDCCH là tôn trọng độc lập, chủ quyền, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ Vương quốc Campuchia trong biên giới hiện tại.

Chúng tôi tin tưởng rằng ngày nay cũng như này mai,hai nước chúng ta mãi mãi vãn là những người bạn thân thiết… xây dựng mỗi nước theo con đưòng riêng của mình”.

Ngày 7/2/1969 gửi điện cảm ơn Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanuc “đã ủng hộ hoàn toàn lập trường chính nghĩa của nhân dân Việt Nam tại Hội nghị bốn bên ở Pari về Việt Nam… Đó là sự cổ vũ to lớn đối với cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của chúng tôi trong giai đoạn hiện nay, là biểu hiện rực rỡ của t ình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước chúng ta. Gửi lời chào anh em rất kính trọng”.

Đó cũng là văn kiện cuối cùng, Bác gửi Quốc trưởng Campuchia. Khi Bác qua đời, tháng 9/1969, ông Nôrôđôm Xihanuc cùng phu nhân đã tới Hà Nội dự lễ tang.

Tại đây, ông phát biểu: “Được nhân dân kính mến, được bạn hữu khâm phục, được kẻ thù tôn trọng, Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật hoạt động chính trị và là lãnh tụ cao quý nhất của thế kỷ này… Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng”.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ ở Ai Cập

Ngày 8/6/1946 còn có một sự kiện nghiêm trọng là vào thời điểm này, Bác nhận được tin ở Sài Gòn thực dân lập Chính phủ “Nam Kỳ tự trị”.

 – Ngày 8/6/1946, trên đường sang thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng lại ở Ai Cập. Máy bay cất cánh từ thành phố Habagna (nay thuộc Pakistan) hạ cánh xuống Le Caire (Cairo) thủ đô Ai Cập từ ngày 7/6/1946.

Ngày hôm sau (8/6) theo phép lịch sự Bác và tướng Salan (người thay mặt Chính phủ Pháp tháp tùng) đến thăm Vua Ai Cập nhưng Ngài đi vắng. Viên quan nội vụ đại thần tiếp, mời cà phê và cùng ngày viên quan này theo phép xã giao lại thăm vị khách từ Việt Nam tới tại nơi nghỉ.

Cũng trong ngày, Bác thăm Viện Khảo cổ Ai Cập và được giáo sư viện trưởng người Pháp Prioton hướng dẫn. Ngày nay Viện đã trở thành một bảo tàng có tiếng trên thế giới, đặc biệt với loại hình hiện vật là xác ướp nên còn được gọi là Bảo tàng Xác ướp. Chiều, Bác và những người cùng đi thăm “thành phố Ma” là khu phụ cận thành phố, nhà mồ của những người đã chết được quy hoạch như một khu phố của người sống.

Sau đó, Bác đi thăm những kim tự tháp nổi tiếng của các pharaon Ai Cập và con Nhân sư khổng lồ với lời nhận xét “Bàn chân nó cao quá đầu người đứng. Đêm trời sáng trăng, trông vào tượng đá, thì thấy có vẻ nghiêm trang và thần bí lắm”. Hôm sau (9/6), Bác lại tiếp tục đi thăm kim tự tháp Sekherat cũng rất nổi tiếng.

Nhớ lại, cách đó 35 năm, tháng 6/1911, Bác đã từng đặt chân lên Cảng Xaít (Port Said) của Ai Cập trên hành trình đầu tiên của tàu Đô đốc Latouche Tréville khởi hành từ Bến Nhà Rồng ngày 5/6. Và 22/9/1946 trên chặng đường trở về nước từ Pháp bằng chiến hạm Dumont d’ Urville, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng mấy Việt kiều theo Bác về nước như bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa)… lại lên cảng Xait thăm.

Có thể nói, trong đời hoạt động của mình, Bác rất thích thăm thú các danh lam thắng cảnh và khảo sát đời sống của các quốc gia. Bác tham gia các nhóm du lịch đi nhiều nước và thăm nhiều di tích lịch sử. Ngay trước khi đến Ai Cập, lúc dừng chân ở Ấn Độ, Bác cũng thăm Lâu đài Delhi Cate, Lăng tẩm của Hoàng hậu Taj Mahan của thế kỷ XVII.

Ngày 8/6/1946 còn có một sự kiện nghiêm trọng là vào thời điểm này, Bác nhận được tin ở Sài Gòn thực dân lập Chính phủ “Nam Kỳ tự trị”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chất vấn tướng Salan cùng đi: “Tại sao không báo cho tôi biết tin này trước khi lên đường? Thật là một âm mưu phi pháp! Tướng quân này, các vị đừng biến Nam Bộ thành một thứ Alsace-Loren (vùng đất của Pháp bị cắt cho Đức trong Đại chiến I) mới, nếu không chúng ta đi đến cuộc chiến tranh trăm năm đấy !…”.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ và những vị tướng đầu tiên của Quân đội ta

Lễ tấn phong các vị tướng lẽ ra tổ chức vào ngày 27/5/1948, nhưng vì nước lũ to nên phải lùi sang ngày hôm sau.

– Ngày 28/5/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp của Hội đồng Chính phủ và một sự kiện quan trọng: lễ tấn phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp. 

Từ ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh phong các vị tướng lĩnh đầu tiên của Quân đội ta, gồm: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Nguyễn Bình và các Thiếu tướng: Nguyễn Sơn, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa và Trần Tử Bình.

 Bác Hồ và đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm ngày thành lập QQĐNDVN năm 1962.jpg (76KB)Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1962

Lễ tấn phong lẽ ra được Chính phủ tổ chức vào ngày 27/5, nhưng vì nước lũ to nên các đại biểu từ các nơi trên chiến khu về chậm phải lùi sang ngày hôm sau. Hồi ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi lại:

“Trong một căn nhà dựng bên cạnh suối lớn, dựa một bên núi, cây cối che phủ kín… Một phòng trưng bày đặc biệt. Có bàn thờ Tổ quốc, chung quanh băng đỏ ghi các khẩu hiệu: ”Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”, “Thống nhất độc lập nhất định thành công”. Sự trưng bày đơn giản mà trang nghiêm.

Đến giờ làm lễ, Hồ Chủ tịch và cụ Trưởng ban Thường trực Quốc hội lên đứng 2 bên bàn thờ, toàn thể nhân viên Chánh phủ đứng sắp hàng trước bàn thờ. Hồ Chủ tịch tay cầm sắc lệnh gọi Võ Nguyên Giáp lên trước bàn thờ, rồi Cụ nín lặng, sụt sùi rơi nước mắt mà không nói được tiếng gì…

Giây lâu, Hồ Chủ tịch mới cất được tiếng mà tuyên bố: “Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trao cho chú chức vụ Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ làm tròn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho”.

Võ Nguyên Giáp nhận sắc lệnh… Cụ Trưởng ban Thường trực thay mặt Quốc hội tuyên bố mấy lời. Ông Phan Anh thay mặt Chính phủ nói mấy câu chúc mừng. Cuối cùng, Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhân danh bộ đội tỏ lời mừng của toàn thể bộ đội và nêu cao tinh thần phấn đấu anh dũng dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Sau cùng Võ Nguyên Giáp đứng lên cảm ơn Hồ Chủ tịch, Quốc hội và Chánh phủ và tuyên bố sẽ tiếp tục nỗ lực làm tròn nhiệm vụ để đem lại độc lập và thống nhất cho đất nước…

Sau khi hết lễ, ai nấy ngồi chung quanh Hồ Chủ tịch và nghe Cụ nói sự xúc cảm của Cụ trong buổi lễ… 12 giờ đêm, xong các cuộc hội nghị Hồ Chủ tịch từ giã chúng mình ra về và dặn ai nấy sáng mai nên phân tán cho sớm…”.

Khi sự kiện này được công bố trên Đài Tiếng nói Việt Nam, có phóng viên phương Tây hỏi Bác việc phong tướng này được tiến hành dựa trên tiêu chuẩn nào? Bác trả lời giản dị: “Đánh thắng đại tá thì phong đại tá. Đánh thắng thiếu tướng, phong thiếu tướng. Đánh thắng trung tướng, phong trung tướng. Thắng đại tướng, phong đại tướng!”.

X&N
Vkyno (st)

Gia đình lớn của Bác Hồ

Mình chẳng phải thần thánh gì, cũng người như tất cả mọi người. Nhưng với hoàn cảnh này, còn điều kiện nào nghĩ đến gia đình.

– Bác chưa bao giờ lập gia đình. Bác có hàng nghìn người con là những trẻ em Việt Nam. Bây giờ Bác nghĩ lại thấy đúng. Thế nhưng, Bác vẫn giữ trong lòng tình yêu với người con gái Bác yêu… Bác đã phải làm như thế là vì cách mạng và Bác không hề hối tiếc…

Ngày 24/5/1948, Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi lại buổi gặp Bác trước ngày họp Hội đồng Chính phủ: “Trời càng về đêm càng mưa lớn. Chúng mình phải ở lại kéo dài câu chuyện với Cụ trong lúc chờ đợi hết mưa. Cụ ân cần thăm hỏi gia đình của mọi người.

Đến lúc chúng mình vui câu chuyện nhắc đến gia đình Cụ, Cụ phì cười và nói: “Mình chẳng phải thần thánh gì, cũng người như tất cả mọi người. Nhưng với hoàn cảnh này, còn điều kiện nào nghĩ đến gia đình. Ý kiến các chú thế nào?”.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi tại Phủ chủ  tịchBác Hồ với các cháu thiếu nhi tại Phủ chủ tịch

Chúng mình cũng chỉ phì cười mà nói: “Thật là khó”, không thể có ý kiến gì khác. Cụ cười và nói tiếp: “Gia đình nhỏ không thể được thì ta cứ lo gia đình lớn đi vậy”.

Nói về gia đình riêng, trước đó, vào tháng 1/1947, trong bức điện chia buồn với Bác sĩ Vũ Đình Tụng, Bác Hồ tâm sự: “Thưa Ngài, tôi được báo cáo rằng: con giai của Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng, tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột vậy…”

Ngày 26/4/1960, nhận được bức thư của một nữ công dân Liên Xô, chị Ekaterina Iosipdovna chúc mừng ngày Quốc tế phụ nữ 8/3  gửi tới “vợ đồng chí Hồ Chí Minh”, Bác đã thân mật viết thư cảm ơn trong đó có đoạn: “Tôi chưa có gia đình riêng. Gia đình của tôi là đại gia đình các dân tộc Việt Nam”.

Năm 2007,  Đoàn làm phim của Hội Điện ảnh Việt Nam gặp Bà Madelein Riffaud, một nhà báo được Bác Hồ quý mến, gặp lần đầu tại Pháp (1946), sau đó bà sang Việt Nam nhiều lần trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Trong trả lời phỏng vấn bà đã kể lại câu chuyện Bác tâm sự với bà khi an ủi việc bà phải chấp nhận từ bỏ ý định hôn nhân với nhà văn Nguyễn Đình Thi.

Bà kể lại: “Bác gọi tôi đến và nói với tôi: Cháu không phải là người duy nhất hy sinh tình yêu của mình cho cách mạng… Khi Bác ở Pháp thì cháu còn chưa ra đời. Cháu yêu quý, cháu có biết không, Bác cũng yêu và có những tình cảm như cháu bây giờ. Bác là con người như những người khác thôi. Bác đã hy sinh tình yêu của mình cho cách mạng Việt Nam cũng như cháu hy sinh tình yêu của cháu bây giờ.

Cháu thấy đấy, Bác chưa bao giờ lập gia đình. Bác có hàng nghìn người con là những trẻ em Việt Nam. Bây giờ Bác nghĩ lại thấy đúng. Thế nhưng, Bác vẫn giữ trong lòng tình yêu với người con gái Bác yêu… Bác đã phải làm như thế là vì cách mạng và Bác không hề hối tiếc…” (Bản dịch theo phim của Hội Điện ảnh VN)

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ với “Binh pháp Tôn Tử”

Phải chăng, trước tình thế nguy cơ chiến tranh đang trở nên không tránh được, Bác bắt đầu viết hàng loạt bài bàn về “Binh pháp Tôn Tử”.

– Ngày 17/5/1946,  báo “Cứu Quốc” bắt đầu đăng tải loạt bài “Binh pháp Tôn tử”, ký bút danh là Q.Th. Đây chính là bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh thường ký dưới các bài bàn về nội dung quân sự.

Phải chăng, trước tình thế nguy cơ chiến tranh đang trở nên không tránh được, Bác bắt đầu viết hàng loạt bài bàn về “Binh pháp Tôn Tử” để mang lại những tri thức cơ bản cho người dân và những cán bộ quân đội còn rất non trẻ?

Tháng 5/1959, Bác thăm Khu tự trị Tây Bắc trao tăng bức trướng kỷ niệm của nhân dân Thủ đôTháng 5/1959, Bác thăm Khu tự trị Tây Bắc trao tăng bức trướng kỷ niệm của nhân dân Thủ đô

Tôn Tử (hay Tôn Vũ) là một nhà lý luận quân sự cổ đại nổi tiếng ở Tung Quốc sống vào cuối thế kỷ VI trước công nguyên và là tác giả một bộ binh thứ thuộc loại sớm nhất nhân loại…

Trong bài đầu tiên này, Bác giới thiệu: “Theo các nhà nghiên cứu “binh pháp” của Tôn Tử ở Nhật Bản thì Tôn Tử đã dưạ vào 10 nguyên lý chính để sáng tạo ra binh pháp “ và nguyên lý thứ nhất – Phải biết xét đoán trước”.

Đề cập tới nguyên lý thứ nhất này của Binh pháp Tôn Tử, tác giả nhấn mạnh đến việc dùng binh phải xem xét 5 điều kiện là: đạo nghĩa, thiên thời, địa lợi, tướng và pháp để kết luận rằng: “Năm điều nói trên, người làm tướng phải biết rõ. Thế tức là biết mình. Nhưng biết phải cố làm. Làm đuợc thì sẽ có đủ nhân hoà, địa lợi, thiên thời, tướng giỏi, quân nhu đầy đủ để nắm chắc phần thắng trong lúc chiến tranh”.

Cùng trên số báo này, Bác còn viết bài: “Phương pháp tác chiến” để đưa ra kết luận: “Cho nên người làm tướng có mưu trí bao giờ cũng lo lắng đến lợi, đến hại. Lo đến lợi mới có đủ tin tưởng làm trọn được nhiệm vụ. Lo đến hại mới tìm mưu kế để giải trừ đựoc gian nguy”.

Tiếp đó, trên nhiều số báo “Cứu Quốc”, Bác tiếp tục giới thiệu các nội dung của “Binh pháp Tôn Tử”. Như các bài “Muốn biết người phải thế nào ?” (24/5/1946) bàn về hoạt động gián điệp và các loại gián điệp để đi đến kết luận: “Nhiệm vụ của gián điệp thực nặng nề. Làm được nhiệm vụ đó, thắng trận rất dễ dàng”.

Bài “Phương pháp dùng gián điệp” (CQ 31/5/1946) kết thúc bằng nhận định: “Đặt được kế hoạch xác đáng tức là biết mình, biết người, đánh trăm trận được trăm trận”.

Bài “Đặt kế hoạch tác chiến” (CQ 7/6/1946) bàn về vấn đề chiến lược chiến thuật; “Vấn đề quân nhu và lương thực” (CQ 21/6/1946); “Bàn về kế hư thực” (27/9/1946); “Phương pháp đánh giữ và tiến thoái” (CQ 4/10/1946)…

Xen kẽ với các bài giới thiệu “Binh pháp Tôn Tử”, Bác cũng còn cho đăng các bài của mình về một số vấn đề như: “Chiến tranh tư tuởng” (CQ 11/10/1946), “Bàn về địa hình” (CQ 25/10/1946), “Địa thế” (CQ 8/11/1946), “Phương pháp chiến đấu và hành quân trên các địa hình” (CQ 15/11/1946)…

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ viết Di chúc

Ngày 10/5/1965, Bác Hồ bắt đầu khởi thảo tài liệu được ghi chú “Tuyệt đối bí mật”. Bản thảo đầu tiên hoàn thành vào ngày 15/5/1965.

– Ngày 10/5/1965, Bác Hồ bắt đầu khởi thảo tài liệu được ghi chú “Tuyệt đối bí mật”. Đó là Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản thảo đầu tiên hoàn thành vào ngày 15/5/1965. Kể từ đó, mỗi năm, vào khoảng thời gian trước ngày sinh nhật, văn kiện này được Bác đem ra xem lại và hoàn thiện như một sự chủ động chuẩn bị một cách thanh thản và cẩn trọng cho việc ra đi mãi mãi.

Ngày 11/5/1968, Bác tiếp tục đem “Di chúc” ra sửa chữa và hoàn chỉnh đoạn viết về công tác chỉnh đốn Đảng:  “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình…”.

Ngày 10/5/1955 Bác nói chuyên tại Hội nghị bàn về công tác hộ đê toàn miền Bắc.Ngày 10/5/1955 Bác nói chuyện tại Hội nghị bàn về công tác hộ đê toàn miền Bắc.

Ngày 13/5/1968,  Bác lại bổ sung và viết thêm vào “Di chúc” phần chăm lo đời sống của dân  “Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân, đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ, ra sức góp của, góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ. Nay ta đã hoàn thành thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp để cho đồng bào hể hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

Ngày 10/5/1969, Bác dự họp Hội nghị Trung ương 16 và phát biểu về nhiều nội dung quan trọng, trong đó nhắc nhở “phải giữ tinh thần độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế”. Sau cuộc họp, Bác xem lại lần nữa bản thảo và sửa tiếp đoạn mở đầu của “Di chúc”. Hồi ức của Vũ Kỳ, thư ký của Bác cho biết :

“Hôm nay, Bác xem xét kỹ lại toàn bộ các bản viết trong 4 năm qua, nhưng chỉ chữa thêm 3 chỗ ở phần mở đầu. Trong câu “nhưng tinh thần, đầu óc vẫn sáng suốt bình thường”, Bác khẳng định lại bằng câu “nhưng tinh thần, đầu óc vẫn còn sáng suốt”… Trong câu “Khi người ta đã ngoài 70 tuổi…”, Bác bỏ chữ “tuổi” và thay vào chữ “xuân”. Bác dùng chữ “sẽ” thay cho chữ “phải” trong câu “phòng khi tôi phải đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”.

Ngày 11/5/1969, sau khi ngồi sửa Di chúc, Bác gặp và trao đổi với Đại tướng Võ Nguyên Giáp về nội dung sẽ nói với Hội nghị đại biểu cao cấp toàn quân. Trong bài nói ngày 13/5/1969 Bác đưa ra nhận định: “Thế giặc Mỹ thua đã rõ ràng, nhất định chúng sẽ hoàn toàn thất bại. Vì độc lập tự do, bộ đội ta, nhân dân ta không sợ hy sinh, gian khổ…” và chỉ thị: “Phải xây dựng lực lượng thật tốt, chất lượng thật cao. Trần Hưng Đạo xưa từng nói “Quân cần tinh, không cần nhiều”. ” Phải cố gắng học tập và luôn luôn gương mẫu về đạo đức cách mạng”.

Từ đó cho đến ngày sinh nhật lần cuối (19/5/1969), ngày nào Bác cũng dành thời giờ đọc lại Di chúc của mình và ngày hôm sau (20/5/1969) Chủ tịch Hồ Chí Minh xem lại bản Di chúc lần cuối cùng trước khi xếp vào phong bì cất đi “phòng khi tôi sẽ đi thăm cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột”. Điều cũng đáng nói là trong nhật ký của Vũ Kỳ cho biết, thời gian Bác chọn để ngồi viết và sửa Di chúc thường vào khoảng từ 9 đến 10h sáng, và Bác qua đời vào ngày 2/9/1969 vào lúc 9h47.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ với vị Thượng thư Bộ Hình của Nam triều

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giới thiệu 3 vị giữ những cương vị này đều là những trí thức được đào tạo của chế độ cũ và là những nhân sĩ.

– Ngày 3/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 59 về việc bổ nhiệm những trí thức lớn được đào tạo dưới chế độ cũ như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Vũ Trọng Khánh vào Hội đồng Phúc thẩm đặt tại Bộ Nội vụ theo một sắc lệnh số 40 ký ngày 29/3/1946 về việc bảo vệ tự do cá nhân.

Sắc luật về việc bảo vệ tự do cá nhân được ký cho thấy quyết tâm của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ra đời từ trong một xã hội phong kiến và thuộc địa nhằm xây dựng một nhà nước pháp chế.

Sắc luật này quy định những điều khoản rất cụ thể về việc bắt người và giam cứu phải được thực thi đúng với quy trình pháp luật. Những quyền tự do cơ bản của người dân phải được bảo vệ.

10-1946 HCM tiếp đại biểu nhân sĩ,trí thức yêu nước dự kỳ họp thứ 2 QH khóa I tại Bắc bộ phủ,H (69KB)Tháng 10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu nhân sĩ, trí thức yêu nước dự kỳ họp thứ 2 QH khóa I tại Bắc Bộ phủ.

Riêng đối với những tình thế đặc biệt đòi hỏi “phương pháp đề phòng đặc biệt”  thì mọi quyết định của người đứng đầu cơ quan hành chính phải được trình lên một Hội đồng Thẩm phán Phúc thẩm được thành lập trong Bộ Nội vụ chuẩn y hay bác bỏ.

Hội đồng này còn có thẩm quyền đưa ra xem xét lại các vụ án và các trường hợp bắt giữ hoặc giam cầm. Hội đồng này gồm một đại biểu của Chính phủ; 1 thanh tra hành chính và 1 thẩm phán đều do Bộ Nội vụ đề nghị và sắc lệnh công nhận.

Điều đáng nói là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giới thiệu 3 vị giữ những cương vị này đều là những trí thức được đào tạo của chế độ cũ và là những nhân sĩ. Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một phó bảng, từng làm báo và hoạt động chính trị, lúc này là Bộ trưởng Nội vụ; ông Vũ Trọng Khánh là một luật gia đào tạo dưới chế độ thực dân và đặc biệt là cụ Bùi Bằng Đoàn từng là Thượng thư Bộ Hình của Nam Triều.

Trường hợp của Bùi Bằng Đoàn có thể coi là một điển hình của nguyên lý “cầu hiền tài” của Bác. Ngay khi Cách mang mới thành công, vị Chủ tịch nước Việt Nam độc lập đã đưa ra lời kêu gọi “Tìm người tài đức”.

Bác đã giao cho Thư ký Vũ Đình Huỳnh đến gia thất cụ Bùi gửi “lời tâm tri”mời ra giúp việc nước. Cụ Bùi có ý e ngại vì mình đã từng là Thượng thư của chế độ đã bị cách mạng đánh đổ, nhưng khi đón ý của Bác cho rằng cụ Bùi là bậc đại thần “triều ẩn lập thân hành thiện” thì người được mời đáp lại ràng “Thính vũ thanh cảm ứng nghinh thu” và nhận lời đến gặp vị Chủ tịch nước vào ngày 22/11/1945.

Ngay ngày hôm sau, 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 64 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt, có quyền hạn rất lớn chuyên xử lý các vụ việc liên quan đến các quan chức vi phạm pháp luật. Cụ Bùi Bằng Đoàn và nhà thơ Cù Huy Cận đã được Bác bổ nhiệm vào chức vụ này vì “đó là những người có danh tiếng” trong dân.

Sau việc bổ nhiệm vào Hội đồng Thẩm phán phúc thẩm, cuối năm 1946, tại Kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá I, cụ Bùi Bằng Đoàn được cử làm Trưởng ban Thường trực của Quốc hội… và tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc cho đến khi qua đời.

Cũng trong một ngày đầu tháng 5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi đọc báo trong phòng làm việc tại Bắc Bộ phủ để các hoạ sĩ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Thị Kim sáng tác các tác phẩm hội hoạ và tạo hình vị Chủ tịch nước Viêt Nam Độc lập.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ với Ngày Quốc tế Lao động

Ngày 1/5/1924, Nguyễn Ái Quốc có mặt trong Ngày Quốc tế Lao động diễn ra trên Hồng trường theo lời mời của Thành uỷ Moscow.

– Ngày 1/5/1920, báo cáo của mật thám ghi nhận Nguyễn Ái Quốc tham dự mít tinh kỷ niệm Ngày Lao động Quốc tế cùng Nhóm đảng viên Xã hội Pháp và tham luận trên diễn đàn đòi ngưng gửi người sang thuộc địa.

Ngày 1/5/1924, Nguyễn Ái Quốc có mặt trong Ngày Quốc tế Lao động diễn ra trên Hồng trường theo lời mời của Thành uỷ Moscow và Ban Thư ký của Quốc tế Cộng sản.

Ngày 1/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi trong đó xác nhận: “Ở nước ta lần này là lần đầu  mà đồng bào ta, anh chị em lao động ta được tự do đón tiếp ngày 1/5…

Đối với chúng ta nó là một ngày để tỏ cho thế giới biết rằng ngày nay chẳng những là ngày tết lao động, mà nó còn là ngày toàn dân đoàn kết. Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới”.

Ngày 1/5/1952 Bác cùng các đại biểu dự ĐH CSTĐ và cán bộ gương mẫu toàn quốc.Ngày 1/5/1952 Bác cùng các đại biểu dự ĐH CSTĐ và cán bộ gương mẫu toàn quốc.

Ngày 1/5/1948, Bác Hồ ra “Lời kêu gọi thi đua yêu nước”, trong đó có đoạn: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai. Nay muốn tự cung tự cấp, tự túc, đi kịp người thì chúng ta phải đi mau. Vì vậy, sĩ, nông, công, thương, binh, gái trai già trẻ, toàn thể quốc dân ta, vô luận ở địa vị nào, làm công việc gì, phải ra sức tham gia cuộc Thi đua yêu nước, tức là tăng gia sản xuất”.

Ngày 1/5/1951, trong lời kêu gọi nhân ngày Quốc tế Lao động, Bác Hồ xác định “Trọng tâm thi đua là: Quân đội thi đua giết gịăc lập công. Công nhân thi đua tăng gia sản xuất. Nông dân thi đua sản xuất lương thực. Trí thức thi đua sáng tác, phát minh. Cán bộ thi đua cần, kiệm, liêm, chính. Toàn dân thi đua tích cực tham gia kháng chiến”.

Cùng ngày, báo “Nhân Dân” đăng bài “Đảng Lao động Việt Nam với lao động trí óc” với bút danh C.B., Bác nêu rõ: “Lao động trí óc cần được khuyến khích giúp đỡ phát triển tài năng… trí thức ta cần cải tạo tư tưởng và sửa đổi lề lối làm việc”.

Ngày 1/5/1958, Bác đưa ra “lời kêu gọi nhân Ngày Quốc tế Lao động” khẳng định: “Hôm nay cùng với nhân dân lao động toàn thế giới, chúng ta nhịêt liệt chào mừng Ngày 1 tháng 5 trong lòng đầy tin tưởng và phấn khởi quyết tâm vượt mọi khó khăn, tiến lên làm tròn những nhiệm vụ mới… Ngày 1 tháng 5 năm nay là một ngày đoàn kết, đấu tranh, tin tưởng và phấn khởi”.

Ngày 1/5/1964, nhân Ngày Quốc tế Lao động, Bác gửi điện khen ngợi thanh niên trên công trường khôi phục đường sắt Thanh Hoá – Vinh  trong đó có việc xây lại Cầu Hàm Rồng.

X&N
Vkyno (st)

Khoan hồng là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam

QĐND – Theo nhiều phương tiện thông tin đại chúng, ông Lê Công Định người phải chịu hình phạt tù với mức án 5 năm tù về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 79 Bộ Luật Hình sự, đã được ra tù sáng thứ tư, 6-2-2013, trước thời hạn hơn 1 năm, và hiện còn phải chịu 3 năm quản chế tại địa phương.

Sự kiện này đã được một số trang mạng đưa tin nhằm xuyên tạc bản chất chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta. Theo họ, việc ông Lê Công Định được trả tự do sớm là “Sự trở về mang hy vọng”. Đó là “tín hiệu… cho thấy các tác động của cả từ bên trong lẫn bên ngoài, cũng như của những thay đổi trong môi trường chính trị toàn cầu và chính ngay trong nội bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam”, hàm ý theo con đường dân chủ! Có người còn suy luận rằng: “Việc trả tự do cho hai ông Lê Công Định và Nguyễn Quốc Quân khiến người ta nghĩ rằng, Việt Nam đang mong muốn điều gì đó từ phía Mỹ”.

Tại phiên tòa ngày 20-1-2010, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân tối cao đã tuyên phạt 5 bị cáo gồm: ông Trần Huỳnh Duy Thức (44 tuổi) mức án 16 năm tù, ông Nguyễn Tiến Trung (27 tuổi) nhận 7 năm, ông Lê Công Định (42 tuổi) và Lê Thăng Long (43 tuổi) cùng mức án 5 năm tù về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 79 Bộ Luật Hình sự. Ngoài ra, tòa cũng buộc các bị cáo phải chịu sự quản thúc tại địa phương từ 3 đến 5 năm sau khi mãn hạn tù.

Tại phiên xét xử phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao tại TP Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử đã tuyên: Sửa một phần bản án sơ thẩm – giảm 1 năm 6 tháng tù đối với bị cáo Lê Thăng Long. Bác kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt theo án sơ thẩm đối với hai bị cáo Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Công Định về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.

Tại phiên xét xử sơ thẩm (20-1-2010), bị cáo Lê Thăng Long đã khẩn thiết xin tòa cho hưởng khoan hồng để “hoàn thành chữ hiếu” (theo nguyên văn lời đề nghị của Lê Thăng Long). Với lời đề nghị mang đậm truyền thống dân tộc và vì đã nhận tội, Tòa đã giảm mức án từ 5 năm tù xuống còn 3 năm 6 tháng. Ngày 4-6-2012, Lê Thăng Long đã được trả tự do trước thời hạn 6 tháng tuy vẫn đang chịu 3 năm quản chế.

Còn việc ông Lê Công Định được mãn hạn tù sớm cũng không phải là ngẫu nhiên.

Còn nhớ, tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, trong lời nói sau cùng, Lê Công Định đã thừa nhận: “Luật pháp và hiến pháp Việt Nam quy định và bảo vệ quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội Việt Nam. Vì vậy, những lời kêu gọi đa nguyên, đa đảng mặc nhiên là muốn thay đổi thể chế chính trị Việt Nam. Những tổ chức nào chủ trương đa nguyên đa đảng là đương nhiên vi phạm vào Điều 79 Bộ Luật Hình sự Việt Nam”.

Từ góc nhìn pháp lý, bị cáo Lê Công Định đã thừa nhận những việc mình làm là vi phạm pháp luật, do xuất phát từ chủ quan, bị ảnh hưởng quan niệm về dân chủ, nhân quyền phương Tây và những tổ chức, cá nhân có hoạt động chống lại Nhà nước Việt Nam mà ông này tiếp xúc.

Hiện tại, còn hai bị cáo trong vụ án “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 79 Bộ Luật Hình sự, bị tòa xét xử ngày 20-1-2010, đang chấp hành án tù. Đó là Trần Huỳnh Duy Thức và Nguyễn Tiến Trung, những kẻ cầm đầu trong vụ án hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân nói trên.

Như vậy việc ông Lê Thăng Long, ông Lê Công Định được mãn hạn tù sớm là bình thường, không có gì được gọi là “Sự trở về mang hy vọng”; “ là tín hiệu… cho thấy các tác động của cả từ bên trong lẫn bên ngoài” đối với Việt Nam; hoặc Việt Nam “đang mong muốn điều gì đó từ phía Mỹ”… như người ta suy diễn. Về bản chất, việc ông Lê Công Định được mãn tù sớm là do chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước Việt Nam và do chính sự ăn năn hối cải của bản thân người phạm tội.

Năm 2005, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Số: 49-NQ/TW Hà Nội, ngày 2-6-2005). Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định một trong những nhiệm vụ của cải cách tư pháp là:

“Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm. Khắc phục tình trạng hình sự hóa quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự và bỏ lọt tội phạm…”.

Theo Trung tướng Lê Quý Vương – Thứ trưởng Bộ Công an, hiện tại có hơn 100.000 phạm nhân đang phải cải tạo, giam giữ tại các trại giam, trại tạm giam trên cả nước. Trong dịp Quốc khánh (2-9-2012), đã có hơn 10.000 người được đặc xá, tha tù trước thời hạn, chiếm 10% tù nhân cả nước, trong đó có 1.300 phạm nhân nữ, 11 phạm nhân là người nước ngoài.

Hiện tại, Việt Nam đang tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đang tích cực thực hiện Chiến lược Cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, liên quan đến nhiều hoạt động tư pháp, không loại trừ công tác cải tạo giam giữ. Tuy nhiên không nên nghĩ rằng, Nhà nước CHXHCN Việt Nam từ bỏ con đường xây dựng xã hội XHCN, từ bỏ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, thực hiện chính sách tư pháp do sức ép từ một quan hệ quốc tế nhất thời nào đó.

Những suy luận vô căn cứ, thiếu trách nhiệm chẳng những có thể làm ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường xã hội, quan hệ quốc tế ổn định mà còn khuyến khích những hành vi xâm hại an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đồng thời còn dẫn người ta vào vòng lao lý.

ĐỨC GIANG
qdnd.vn

Bác Hồ nói chuyện tại Đại hội Phụ nữ 5 tốt

Điều thứ một trong phong trào là đoàn kết, sản xuất và tiết kiệm tốt. Đoàn kết tốt thì việc gì to lớn mấy, khó khăn mấy cũng làm được.

– Ngày 30/4/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với Đại hội liên hoan Phụ nữ “5 tốt”. Trong bài nói, Bác khẳng định: “Ngay từ lúc đầu, Đảng và Nhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình quyền, bình đẳng với đàn ông”.

Phân tích những nôi dung của “5 tốt”, Bác nhấn mạnh: “Điều thứ một trong phong trào là đoàn kết, sản xuất và tiết kiệm tốt. Đoàn kết tốt thì việc gì to lớn mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là con đường đi đến xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc”.

1969 Bác tặng hoa phong lan cho các chiến sĩ gái Quảng Bình.jpg (77KB)Năm 1969, Bác tặng hoa phong lan cho các nữ chiến sĩ Quảng Bình.

Về nội dung “gia đình”, Bác đưa ra quan niệm: “Gia là nhà, Đình là sân. Theo nghĩa cũ thì gia đình chỉ giới hạn hẹp hòi trong cái nhà, cái sân. Nghĩa là chỉ lo cho cha mẹ, vợ con trong nhà mình ấm no, yên ổn, ngoài ra ai nghèo khổ mặc ai. Như thế là ích kỷ, là không tốt.

Theo nghĩa mới thì gia đình rộng rãi hơn, tốt đẹp hơn. Ví dụ những người cùng lao động trong một nhà máy, một cơ quan, trong một hợp tác xã… đều phải đoàn kết và thương yêu nhau như là anh em trong một gia đình. Rộng ra nữa là đồng bào cả nước đều là anh em trong một đại gia đình. Ta có câu hát: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước thì thương nhau cùng”.

Nhân ngày kỷ niệm 20 năm thành lập Hội Phụ nữ Việt Nam, trong phát biểu ngày 19/10/1966, Bác biểu dương: “Hội phụ nữ mới 20 tuổi. Nhưng truyền thống anh hùng của phụ nữ Việt Nam ta đã có gần 2000 năm và ngày càng phát triển. Từ đầu thế kỷ thứ Nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc cứu dân cho đến ngày nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Do đó ta có câu tục ngữ rất hùng hồn “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”.

Trong các ngày 13, 16,18 và 20/11, Bác liên tiếp gửi điện khen các đơn vị nữ dân quân ở các xã Võ Ninh (Quảng Bình), xã Hà Phú và Hà Toại (Thanh Hoá), dùng súng bộ binh bắn rơi máy bay Mỹ.

Trong bức điện khen dân quân gái xã Hoàng Hải, Thanh Hoá, Bác khích lệ: “Cùng với thành tích to lớn chống Mỹ, cứu nước của phụ nữ cả nước ta, chiến công của các cháu càng làm rạng rỡ thêm truyền thống phụ nữ Việt Nam dũng cảm, đảm đang” (13/11/1967).

X&N
Vkyno (st)