Tag Archive | Chính trị – Xã hội

“Đối với dân, ta đừng có làm trái ý dân”

Ngày 5/1/1946 là ngày hôm trước cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập…

– Ngày 5/1/1946 là ngày hôm trước cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập…

Sáng ngày hôm đó báo chí nhất loạt đăng “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó viết “Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ.

Hàng vạn nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Hàng vạn nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu.

Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình. Ngày mai, dân ta sẽ bảo cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng : … một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn. Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam đã kiên quyết đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết chống bọn thực dân, kiên quyết tranh quyền độc lập…”

[links(left)]Chiều hôm đó, tiếp xúc với 2 vạn cử tri Hà Nội tập hợp tại sân vận động Việt Nam học xá (nay là khu vực Đại học Bách khoa), ứng cử viên Hồ Chí Minh tuyên bố: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai không ai ép, không ai mua thì toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.

Rời cuộc tiếp xúc, vị Chủ tịch nước đến thăm chùa Bà Đá và trụ sở Hội Phật giáo Cứu quốc đặt ở chùa Quán Sứ nơi phật tử đang tổ chức cầu nguyện cho nước Việt Nam độc lập.

Tại đó, Bác trịnh trọng tuyên bố: “Đối với dân, ta đừng có làm trái ý dân. Dân muốn gì ta phải làm nấy. Nói hy sinh phấn đấu thì dễ, mhưng làm thì khó. Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào có mặt tại đây, tôi xin thề hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc. Nếu cần, hy sinh cả tính mạng tôi cũng không từ”.

Sau bữa cơm chay, Bác còn tranh thủ về thăm làng Bưởi nơi có nghề giấy nổi tiếng và thăm địa điểm bầu cử tại khu vực này, dặn dò mọi người tổ chức bầu cử tốt và khích lệ nhân dân gìn giữ nghề làm giấy truyền thống để phục vụ đất nước.

X&N
Vkyno (st)

“Chúng ta muốn hoà bình !”

Ngày 3/1/1947, từ chiến khu, Bác viết thư cho Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, đề nghị tìm kiếm hòa bình. Bức thư đã bị phía Pháp ỉm đi.

– Ngày 3/1/1947, Bác đã viết thư cho Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, đề nghị  một cuộc gặp mặt. Bức thư đã bị phía Pháp ỉm đi. Đô đốc D’ Argenlieu bình luận đó là thắng lợi đầu tiên…

Từ ngày 19/12/1946, cuộc Kháng chiến Toàn quốc đã bùng nổ. Đọc lại Lời kêu gọi của Bác viết ngay trong đêm hôm đó và được công bố trên  Đài Tiếng nói Việt Nam  và rạng sáng ngày hôm sau, ta thấy câu mở đầu của một lời kêu gọi kháng chiến lại là một khát vọng “Chúng ta muốn hoà bình !…”.

M.Moutet ra đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay Le Bourget ở Paris 6/1946.  M.Moutet ra đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay Le Bourget ở Paris 6/1946.

Có thể nói trong hơn một năm từ khi thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn ngay trong Ngày Lễ  Độc lập 2/9/1945, Bác Hồ đã làm tất cả những gì có thể làm. Kể cả sang tận nước Pháp, ở lại đó 4 tháng để vận động cho cuộc chiến tranh không bùng nổ mà nỗ lực cuối cùng là ký được với Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet, một người bạn cũ hội tham gia Đảng Xã hội bản Tạm ước 14/9/1946 ( vào đêm hôm trước ngày Bác rời Paris trở về nước).

Tiếp đó là biết bao nỗ lực để chặn tay những kẻ hiếu chiến trong giới thực dân mà tiêu biểu là Đô độc D’ Argenlieu…

Nhưng cho đến khi quân Pháp ra tối hậu thư đòi các lực lượng quân đội quốc gia của nước Việt Nam độc lập phải nộp vũ khí thì “chúng ta buộc phải cầm vũ khí vi “chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Nhưng ngay trong lúc cầm vũ khí chiến đấu, người lãnh đạo cuộc kháng chiến cũng không bỏ qua bất kỳ một cơ hội nào để vãn hồi hoà bình…

Ngày 3/1/1947, được tin ông M.Moutet đến Hà Nội lúc này đã bị quân Pháp chiếm đóng, từ chiến khu của cuộc kháng chiến, Bác viết thư cho Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại: “Tôi lấy làm vui mừng được biết ngài tới Hà Nội. Xin có lời chào mừng vì ngài vừa là bạn cũ, vừa là đại diện cho nước Pháp mới, là sứ giả của hoà bình. Tôi rất  mong và rất sung sướng được hội kiến với ngài lâu một chút để tỏ rõ ý muốn thành thực hoà bình và cộng tác của chúng tôi và chuyển đệ với  ngài những đề nghị của chúng tôi về việc lập lại sự giao hảo giữa 2 nước chúng ta”.

Bức thư này đã bị phía Pháp ỉm đi .

Sau này, Đô đốc D’ Argenlieu là kẻ chủ mưu gây ra cuộc chiến tranh Pháp – Việt đã bình luận trong thư gửi tướng De Gaulle :”Nhờ ơn Chúa, Moutet đã không có một cuộc tiếp xúc cá nhân nào với nhóm ông Hồ Chí Minh. Đó là một điểm thắng lợi đầu tiên”.

Nhưng cái “thắng lợi đầu tiên” ấy chính là sự khởi đầu cho một thảm bại cuối cùng khi quân Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ sau đó 7 năm!

X&N
Vkyno (st)

“Tôi kêu gọi nhân dân Pháp để chấm dứt chiến tranh”

Bác Hồ đã đưa ra thông điệp: “Việt Nam không chiến tranh chống nước Pháp và dân Pháp… Nhưng tự do độc lập là quyền Trời cho của mỗi dân tộc…

– Tin vào dân, dựa vào dân và được nhân dân ủng hộ, ngày 2/1/1946, Bác Hồ đã viết lời cảm ơn những người giàu đóng góp cho các quỹ Cứu tế, quỹ Kháng chiến, quỹ Độc lập.

Chân dung Hồ Chủ tịch năm 1946

Chân dung Hồ Chủ tịch năm 1946

Tháng 8/1945, cách mạng thành công, nước nhà độc lập nhưng tài chính thì kiệt quệ. Chế độ Dân chủ Cộng hoà được thành lập cần có nguồn lực để thực hiện những nhiệm vụ lịch sử của mình.

Tin vào dân và dựa vào dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hô hào các tầng lớp nhân dân đóng góp. Quỹ Độc lập rồi quỹ Kháng chiến, quỹ Cứu tế ra đời, rồi Tuần lễ Vàng được tổ chức… Nền tài chính quốc gia được nhen nhúm từng bước vượt qua những khó khăn.

Nhân năm mới, ngày 2/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời cảm ơn những người giàu đóng góp cho các quỹ Cứu tế, quỹ Kháng chiến và quỹ Độc lập với những lời chân tình:

“Có người nói rằng “Hồ Chí Minh không biết làm gì, chỉ nay cảm ơn người này, mai cảm ơn người khác”.

Vâng! Tôi vui lòng nhận lời phê bình ấy! Hơn nữa, tôi mong rằng ngày nào tôi cũng phải viết nhiều thư cảm ơn , vì như thế chứng minh rằng đồng bào ta đã sốt sắng thực hành cái khẩu hiệu “Ai có tiền giúp tiền, ai có sức giúp sức”. Quốc dân ta đã hiệp lực đồng tâm, đã đoàn kết chặt chẽ thì kháng chiến nhất định thắng lợi, kiến quốc nhất định thành công…”

X.N
Vkyno (st)

Đấu tranh vũ trang kết hợp nổi dậy của quần chúng

QĐND – Trước âm mưu mới của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh “chiến tranh cục bộ”, đưa quân Mỹ vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường, đầu năm 1964, Tỉnh ủy Phú Yên chủ trương lãnh đạo đẩy mạnh phong trào cách mạng ở các địa phương. Huyện ủy huyện Tuy Hòa củng cố vững chắc cấp ủy các cấp, làm nòng cốt để xây dựng lực lượng vũ trang, đoàn thể quần chúng; đẩy mạnh chiến tranh du kích; đấu tranh chính trị, binh vận, địch vận với phương châm “tiến công bằng 2 chân, 3 mũi giáp công”, mở rộng vùng giải phóng ven biển Tuy Hòa, tạo căn cứ “lõm” nhận vũ khí, chi viện từ miền Bắc vào Vũng Rô…

Du kích xã Hòa Hiệp (Tuy Hòa) phá ấp chiến lược của địch. Ảnh tư liệu.

Tháng 9-1964, Huyện ủy Tuy Hòa chọn xã Hòa Bình làm điểm đẩy mạnh phong trào cách mạng để rút kinh nghiệm và phát triển ra các địa phương khác. Sau khi nghiên cứu nắm chắc tình hình và quy luật hoạt động của địch, ta chủ trương sử dụng một trung đội bộ đội địa phương phối hợp với du kích luồn sâu vào cầu Bá Nhún (thôn Phước Nông, Hòa Bình) phục kích diệt gọn trung đội dân vệ của địch, kết hợp với sự nổi dậy của quần chúng, giành chính quyền…

Công tác chuẩn bị cho trận đánh chu đáo. Ta bố trí lực lượng bí mật chờ địch. Đến 16 giờ ngày 17-9-1964, trung đội dân vệ địch đi tuần tra từ Mỹ Lệ, Phước Mỹ xuống; đến cầu Bá Nhún lọt vào trận địa phục sẵn của ta. Bị đánh bất ngờ, địch chống trả yếu ớt, ta tiêu diệt gọn 20 tên địch, thu 12 súng… Chớp thời cơ, chi bộ Đảng lãnh đạo các đoàn thể và quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ cùng với bộ đội và du kích truy tróc tề, ngụy, ác ôn. Thắng lợi ở xã Hòa Bình thúc đẩy các địa phương ở Tuy Hòa đẩy mạnh chiến tranh du kích, bám đánh khắp nơi, kết hợp đấu tranh chính trị, làm chủ địa bàn. Địch cho quân xuống càn quét, đánh phá, Đại đội 83 bộ đội địa phương và du kích đã bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch. Du kích các xã Hòa Hiệp, Hòa Xuân cùng với công binh của huyện đội đặt mìn ngăn chặn, phá hủy đường giao thông, đường sắt, buộc địch phải bỏ ga Hảo Sơn, Đèo Cả. Phát huy đà thắng lợi, Huyện ủy lãnh đạo nhân dân đấu tranh chính trị trực tiếp với địch, phá tan hệ thống ấp chiến lược, giải phóng hoàn toàn 7 xã: Sơn Thành, Hòa Phong, Hòa Thịnh, Hòa Mĩ, Hòa Đồng, Hòa Tân, Hòa Bình…

TRẦN VĂN TOẢN
qdnd.vn

Thanh niên quân đội phát huy, làm phong phú thêm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”

QĐND Online- Mạch ngầm của lịch sử, cội nguồn sức mạnh của dân tộc ta, quân đội ta là những giá trị truyền thống, những tinh hoa được bảo tồn, kế thừa và phát huy trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Sự nghiệp xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên phát huy nguồn lực Việt Nam, cả nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần, nhân lực và vật lực, cả sức mạnh truyền thống và hiện đại.

“Bộ đội Cụ Hồ” – một tên gọi bình dị nhưng vô cùng cao quý mà nhân dân đã giành cho quân đội ta, là hình tượng cao đẹp, tập trung những phẩm chất tốt đẹp nhất của cán bộ chiến sỹ quân đội – một giá trị – văn hoá – đạo đức của con người Việt nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Truyền thống Bộ đội Cụ Hồ là một bộ phận của truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Truyền thống Bộ đội Cụ Hồ bắt nguồn trực tiếp và là sự tiếp nối truyền thống quân sự, truyền thống đánh giặc giữ nước của ông cha ta trong điều kiện lịch sử mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành độc lập tự do. Phẩm chất truyền thống Bộ đội Cụ Hồ được xây đắp nên từ sự phấn đấu, hy sinh vô bờ bến của nhiều thế hệ cán bộ chiến sỹ; được Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh dày công tổ chức, giáo dục, rèn luyện; được nhân dân hết lòng thương yêu đùm bọc và được phát triển thông qua thực tiễn quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng và trưởng thành của quân đội; được lưu giữ, kế tục, phát triển qua nhiều thế hệ…Nói đến truyền thống Bộ đội Cụ Hồ là nói đến truyền thống về những chuẩn mực, lối sống, phong cách, hành vi chính trị, đạo đức của quân nhân quân đội cách mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Đó là, một lý tưởng chiến đấu cao đẹp, trung thành vô hạn với Đảng, với tổ quốc và nhân dân; tinh thần quyết chiến quyết thắng mọi kẻ thù; vượt qua mọi khó khăn gian khổ, hiểm nguy; tinh thần gan dạ dũng cảm kiên cường mưu trí và sáng tạo; tình đồng đội gắn bó keo sơn; tình đoàn kết quân dân cá nước; tính kỷ luật tự giác nghiêm minh…

Rèn luyện, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là trách nhiệm của mỗi quân nhân

Suốt 66 năm qua, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ vẫn luôn luôn gần gũi, thân thương và sống động trong lòng nhân dân ta và nhân dân các nước bạn bè. Được mang danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” là niềm vinh dự và hạnh phúc của tuổi trẻ quân đội ta. Phẩm chất, truyền thống tốt đẹp ấy phản ánh bản chất cách mạng của quân đội, là một sức mạnh nội sinh đã được tích hợp ở một trình độ cao trong quá trình xây dựng và chiến đấu của quân đội ta. Song, nó không phải là cái “nhất thành bất biến”. Trong bối cảnh mở cửa, hội nhập của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khi kẻ địch đang ráo riết thực hiện “diễn biến hoà bình”; trước đòi hỏi của nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, cũng như của sự nghiệp đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước hiện nay, vấn đề giữ gìn và phát huy phẩm chất truyền thống Bộ đội Cụ Hồ trở nên cấp thiết, là sự quan tâm của toàn đảng, toàn dân ta, đồng thời còn là tâm nguyện, ý chí của tuổi trẻ quân đội đối với Đảng, Bác Hồ và nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cái gì mà tốt thì phải phát triển thêm… Cái gì mà mới mà hay thì ta phải làm”. Thế hệ trẻ trong quân đội cũng như thanh niên cả nước hôm nay và tiếp theo làm gì để ghi tiếp những trang chói ngời, góp phần làm rạng rỡ lịch sử đất nước, dân tộc và Quân đội nhân dân Việt Nam?!… Theo chúng tôi, trên cơ sở nhận thức rõ vinh dự và trách nhiệm của mình, tuổi trẻ quân đội hiện nay cần tập trung thực hiện tốt những định hướng giải pháp cơ bản .

Đó là sự trung thành và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân độ. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về tổ chức xây dựng quân đội cách mạng là tư tưởng về Đảng lãnh đạo quân đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là nhân tố quan trọng hàng đầu có ý nghĩa quyết định đối với giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống cách mạng của quân đội và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ của mỗi quân nhân. Quân đội ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng, xây dựng lực lượng ngày càng tinh nhuệ, hiện đại.

Lòng trung thành và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ở mỗi quân nhân – thanh niên quân đội hiện nay phải được thể hiện ở sự thấu triệt nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội, phát huy trách nhiệm của mỗi quân nhân trong thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng đảng bộ quân đội TSVM, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng trong quân đội.

Ngày nay, thanh niên quân đội tích cực, tự giác học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất, năng lực và hiệu quả các mặt công tác là một yêu cầu cơ bản. Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, sẵn sàng chiến đấu thường xuyên, chuẩn bị cho chiến đấu vũ trang trong thời chiến và chiến đấu ngay trong thời bình chống lại các thủ đoạn phi vũ trang của các thế lực thù địch phản động và lạc hậu là một công việc vô cùng khó khăn, gian khổ. Đòi hỏi mỗi thanh niên quân đội hiện nay phải được rèn luyện cả về chính trị, quân sự để chắc tay súng bảo vệ biên cương tổ quốc, bảo vệ cuộc sống, lao động hoà bình của nhân dân; phải có ý chí và nghị lực cách mạng cao, phải biết cộng tác trong những hoàn cảnh thay đổi, sáng tạo đổi mới phương thức hoạt động mọi mặt, đem lại chất lượng hiệu quả mới; biết phát huy truyền thống đạo đức, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ qua những chương trình dạy chữ cho đồng bào dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa; chăm sóc sức khoẻ cho dân nghèo, giúp nhân dân sản xuất tăng gia, vượt qua gian nan thử thách khi gặp thiên tai lũ lụt, thực hiện đúng tinh thần đi dân nhớ, ở dân thương.
Để đáp ứng với những yêu cầu đó, từng thanh niên trong quân đội phải không ngừng học tập và rèn luyện theo lời Bác Hồ dạy: “Phải cố gắng học tập mọi mặt về chính trị, quân sự…”. Trước hết, mỗi thanh niên phải nâng cao trình độ tự ý thức về việc tự tu dưỡng rèn luyện, hình thành động cơ rèn luyện đúng đắn, nhận thức rõ đòi hỏi khách quan về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong từng điều kiện cụ thể. Biết tự nhận xét, tự kiểm tra, đánh giá về những ưu điểm, nhược điểm so với yêu cầu đặt ra và xác định phương hướng, biện pháp tự giáo dục, tự tu dưỡng cho xứng danh Bộ đội Cụ Hồ. Mặt khác, phải rèn luyện ý chí phấn đấu bền bỉ, cầu tiến bộ, trọng danh dự cá nhân, luôn tự trì trích theo yêu cầu cao; rèn luyện khả năng “miễn dịch” với những tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường trong đời sống xã hội hiện nay và năng lực đấu tranh phòng, chống những tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Đấu tranh kiên quyết với biểu hiện coi nhẹ truyền thống, phủ nhận quá khứ, gieo rắc tư tưởng, lối sống thực dụng vào nhân dân và quân đội ta của những kẻ núp dưới danh nghĩa “cách mạng khoa học công nghệ”, “kinh tế thị trường” và con bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng chống phá chế độ, chống Đảng ta. Mỗi thanh niên thường xuyên lấy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ làm động lực tinh thần, tự cổ vũ và cổ vũ nhau thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhất là khi đứng trước những khó khăn, thử thách ác liệt. Thanh niên là cán bộ, đảng viên trẻ trong các tổ chức lãnh đạo, chỉ huy phải mẫu mực thể hiện phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ ở mọi lúc, mọi nơi để làm gương sáng cho chiến sỹ noi theo.

Trong giai đoạn này, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.Để đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đòi hỏi mỗi thanh niên quân đội cần phải khắc phục biểu hiện hô hào học tập một cách chung chung, nói nhiều hơn làm, nói không đi đôi với làm, hoặc chỉ nặng “học tập” nhưng lại nhẹ “làm theo” ; phải cụ thể hoá hơn nữa nội dung, chương trình, kế hoạch học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn từng đơn vị, từng bộ phận và từng công việc, nhiệm vụ cụ thể, với những chuẩn mực đạo đức rõ ràng; đưa cuộc vận động thành nếp sinh hoạt, hoạt động thường xuyên của mỗi đơn vị và quân nhân; định kỳ phải tự kiểm điểm, đánh giá và đăng ký, bổ sung kế hoạch đề ra định mức, chỉ tiêu mới sát với nhiệm vụ mới của đơn vị và cá nhân để thực sự gắn việc học tập với việc làm theo và chuyển mạnh từ học tập sang làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Từ cách mạng, qua cách mạng và nhờ cách mạng, một lớp người mới đã được sản sinh với những đặc trưng nhân cách tiêu biểu của giá trị Việt Nam. Lớp người đó được nhân dân trìu mến, thân thương gọi là Bộ đội Cụ Hồ. Khi bước sang thế kỷ XXI, chúng ta nhất thiết phải bảo vệ những phẩm chất chính trị, đạo đức “Bộ đội Cụ Hồ’’, phát triển lên một trình độ mới, trình độ hiện đại của đất nước ta và của loài người tiến bộ. Vẫn biết rằng giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ không phải là việc riêng của tổ chức quân sự, càng không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân… Nhưng suy cho cùng phải là sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của mỗi thanh niên quân đội hôm nay. Phát huy, làm phong phú những phẩm chất tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ, tự hoàn thiện mình, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới của đất nước, xứng đáng với niềm tin cậy và niềm tự hào của Đảng ta, nhân dân ta đó là vinh dự đồng thời cũng là trách nhiệm của tuổi trẻ quân đội.

Thạc sĩ Trương văn Bảy
qdnd.vn

Linh hoạt điều chỉnh cách đánh của không quân

QĐND – Trong chiến dịch phòng không tháng 12-1972, Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ đã chuẩn bị trước các phương án và cách đánh cho Mig-21 tiếp cận và bắn rơi máy bay B-52. Tuy nhiên, trong thực tế tác chiến chiến dịch, hệ thống sân bay, trinh sát trên không, chỉ huy dẫn đường đều bị địch tìm cách khống chế và đánh phá ác liệt; hệ thống ra-đa chỉ thị mục tiêu và điều khiển hỏa lực của Mig-21 bị nhiễu nặng; đội hình máy bay F-4 chặn kích, hộ tống dày đặc của B-52… Vì thế, hơn một tuần kể từ khi mở đầu chiến dịch, máy bay Mig-21 liên tục xuất kích, nhưng chưa bám đánh được máy bay B-52.

Máy bay Mig-21 hạ cánh sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Ảnh tư liệu.

Phải tìm cách đánh và bắn rơi bằng được máy bay B-52 dù khó khăn, phức tạp đến đâu, binh chủng không quân cũng phải nghiên cứu, tìm biện pháp khắc phục.

Để bí mật, bất ngờ vượt qua hàng rào máy bay F-4 dày đặc, ta nhanh chóng điều chỉnh, kết hợp chặt chẽ giữa nghệ thuật tổ chức bố trí, sử dụng lực lượng, tạo lập thế trận của không quân với kỹ thuật, chiến thuật trong chiến đấu của phi công. Trên cơ sở phân tích rõ thủ đoạn chiến thuật của địch, ta phát hiện địch chỉ chú trọng phòng bị phía trước đội hình tiến công, bên sườn, nhưng phía sau chúng có rất nhiều sơ hở. Tương kế, tựu kế, ta bí mật, bất ngờ cơ động không quân ra vòng ngoài, tập kết ở các căn cứ bí mật, sử dụng hệ thống trinh sát trên không, sân bay, sở chỉ huy dẫn đường bổ trợ, vận dụng linh hoạt các biện pháp chiến thuật dẫn đường cho Mig-21 xuất kích và tiếp cận từ phía sau đội hình, trong vùng nhiễu nhẹ của địch, tạo thế có lợi nhất cho phi công vào không chiến, chỉ sử dụng ra-đa khi cần thiết, tiếp cận, bất ngờ phóng tên lửa đối không, tiêu diệt B-52 và thoát ly an toàn.

Bằng cách đó, đêm 27-12-1972, không quân ta xuất kích từ Yên Bái bắn rơi máy bay B-52 của địch, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch.

TRẦN VĂN TOẢN
qdnd.vn

Cuốn điều lệ Đảng và đồng tiền thấm máu

QĐND Online – Mùa xuân năm 1968, bộ đội Tăng-Thiết Giáp (T-TG) ra quân trận đầu đánh vào cứ điểm Tà Mây – Làng Vây trong chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh. Tham gia chiến dịch này có Nguyễn Tiến Chén, Trợ lý thông tin của Tiểu đoàn tăng 198, với nhiệm vụ giữ vững mạch máu thông tin liên lạc cho đơn vị.

Nguyễn Tiến Chén không chỉ là một trợ lý thông tin giỏi, mà còn là thợ cơ công tài ba, trực tiếp ngồi trong xe cùng đồng đội vào trận. Trong trận đánh Làng Vây, được phân công ngồi trong xe tăng chỉ huy của Đại đội trưởng Ngô Xuân Nghiêm, Nguyễn Tiến Chén đã lập công xuất sắc. Trong lần thử lửa đầu tiên, anh đã sớm khẳng định bản lĩnh của một quân nhân cách mạng.

Lúc 1 giờ sáng ngày 7-2-1968, trên hướng tiến công chủ yếu vào cứ điểm Làng Vây của Đại đội tăng 9, xe tăng PT-76 số 565 của Đại đội trưởng Ngô Xuân Nghiêm đang tung hoành bắn phá trong cứ điểm, thì bị một viên đạn súng máy của địch xuyên thủng vỏ thép thân xe và bất ngờ đâm trúng vỏ một quả đạn trong xe làm ba lô, quần áo bắt lửa, xe cháy khói tuôn mù mịt, hệ thống tự động chữa cháy của xe bị hỏng. Lúc đó tình thế hết sức nguy hiểm, nếu không dập lửa kịp thời, lựu đạn và đạn trong xe sẽ phát nổ, nguy cơ mất xe, kíp xe hy sinh là khó tránh khỏi.

Trong tình huống nguy nan ấy, Nguyễn Tiến Chén đã cùng đồng đội dũng cảm, nhanh chóng dùng các bi đông nước đổ ướt giẻ dập lửa, chỉ ít phút sau, lửa bị dập tắt hoàn toàn, xe lại tiếp tục chiến đấu. Chén sung sướng reo lên: “Báo cáo, lửa đã được dập tắt, thằng Mỹ thua xe ta rồi!”.

Lúc này, trận đánh vẫn diễn ra ác liệt, khói lửa mù mịt, đèn dù địch thả sáng rực, đạn cỡ nhỏ bắn vào xe chát chúa. Cùng lúc đó, pháo thủ Loan của xe bị thương, không có khả năng nạp đạn, Trợ lý thông tin Nguyễn Tiến Chén, mặc dù chưa hiểu biết nhiều về súng pháo xe tăng, nhưng trong khoảnh khắc chiến đấu khẩn trương, anh đã đề nghị đại đội trưởng cho mình thay thế vị trí pháo thủ Loan. Nguyện vọng được chấp thuận và sau khi quan sát đại đội trưởng nạp đạn làm mẫu, Chén đã tự lao đạn vào buồng nòng đóng bảo hiểm K52 rồi nạp cả đạn súng máy. Mỗi khi thao tác xong anh dõng dạc hô: “Báo cáo xong!”. Khẩu pháo 76 ly lại gầm lên, lô cốt địch đổ sập, quân địch bỏ chạy tán loạn!

Sau thắng lợi giòn giã ở Làng Vây, Tiểu đoàn xe tăng 198 được lệnh bí mật giấu quân trên đất bạn Lào. Lúc này đúng vào mùa mưa, độ ẩm cao, việc bảo quản điện đài của đơn vị gặp rất nhiều khó khăn, thông tin liên lạc thường xuyên bị gián đoạn, Chén đã đưa ra sáng kiến đắp lò sấy bảo quản các thiết bị thông tin liên lạc và phổ biến sáng kiến đó cho anh em trong đơn vị áp dụng.

Thời gian này, địch đánh phá ác liệt cả ngày lẫn đêm, thật hiếm hoi có một ngày bình yên ở cánh rừng miền Tây. Hôm ấy, máy bay B52 của địch lại đến ném bom, chúng dùng bom bi ném xuống khu vực giấu quân của đơn vị. Ngay sau khi dứt tiếng bom, Đại đội phó kỹ thuật Trần Vĩnh Đại, Bí thư Chi bộ đã đi kiểm tra tìm thương binh, liệt sĩ và kiểm nghiệm di vật của liệt sĩ, làm hồ sơ bàn giao lên cấp trên. Nguyễn Tiến Chén – người chiến sĩ xe tăng dũng cảm nằm đó, cả một vùng áo ngực trái anh thấm đẫm máu. Tay đồng chí Đại đội phó Trần Vĩnh Đại run run mở cúc áo túi ngực trái của đồng đội. Thật bất ngờ, trong túi áo có cuốn Điều lệ Đảng và tờ tiền giấy một đồng. Viên bom bi của kẻ thù đã xuyên thủng trái tim anh cùng cuốn Điều lệ Đảng và đồng tiền miền Bắc. Đồng tiền này anh để dành đóng đảng phí. Nguyễn Tiến Chén đã anh dũng hy sinh, cả đơn vị lặng đi vì tiếc thương người đồng đội từng cùng nhau vào sinh ra tử.

Cuốn điều lệ Đảng và đồng tiền thấm máu trưng bày tại Bảo tàng Lực lượng Tăng-Thiết giáp.

Với hy vọng giản dị rằng sau ngày chiến thắng, những di vật này sẽ trở về với gia đình liệt sĩ Nguyễn Tiến Chén, đồng chí Trần Vĩnh Đại đã bàn giao những di vật của liệt sĩ Nguyễn Tiến Chén cho Binh chủng T-TG.

Trong cuộc gặp mặt cựu chiến binh Tiểu đoàn tăng 198 vào năm 2002, khi đồng chí Tư lệnh Đoàn Sinh Hưởng trao di vật của liệt sĩ Nguyễn Tiến Chén cho chị Nguyễn Thị Bềnh, vợ liệt sĩ, chị đã tâm sự trong nước mắt: “Đã mấy chục năm nay, tôi chỉ mong có được một tấm hình hay một di vật của chồng để phụng thờ và lưu lại cho con cháu. Nhưng đến đây tôi lại cảm nhận sâu sắc được tình đồng đội, đồng chí đáng quý biết bao, nên tôi xin gửi lại di vật này cho Bảo tàng để chồng tôi mãi mãi ở lại bên đồng đội của mình”.

Kể từ ngày đó, đồng tiền thấm máu và cuốn Điều lệ Đảng – những di vật của liệt sĩ xe tăng Nguyễn Tiến Chén được Bảo tàng lực lượng T-TG trân trọng lưu giữ và trưng bày. Nhờ đó, khách thăm quan bảo tàng được nghe câu chuyện kể xúc động về người lính xe tăng giàu lòng nhân ái, giản dị trong cuộc sống, thông minh, sáng tạo trong công tác, mưu trí dũng cảm trong chiến đấu.

Câu chuyện ấy xảy ra cách đây hơn 40 năm, thời gian đủ nuôi lớn cả một thế hệ. Cuốn Điều lệ Đảng và đồng tiền thấm máu của liệt sĩ như nhắc nhở thế hệ trẻ hãy luôn nhớ rằng, để có được độc lập, tự do hôm nay, biết bao người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống và hiến dâng trọn tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc. Những di vật của liệt sĩ Nguyễn Tiến Chén được Bảo tàng T-TG nâng niu giữ gìn, giới thiệu với khách tham quan về trách nhiệm và tình cảm của người đảng viên với Đảng – một nghĩa tình cao đẹp, trong sáng của anh Bộ đội Cụ Hồ.

MINH SEN
qdnd.vn

Điều chỉnh thế trận, đõn lõng diệt máy bay

QĐND – Bà là Phạm Thị Viễn, nữ pháo thủ của Trung đội tự vệ Nhà máy cơ khí Mai Động, Hà Nội, từng tham gia chiến đấu tại trận địa Vân Đồn (Hà Nội), cùng đồng đội lập công xuất sắc, bắn rơi chiếc máy bay F-111 của không quân Mỹ ngày 22-12-1972.

Trong thời gian là tự vệ Nhà máy cơ khí Mai Động, nữ tự vệ Phạm Thị Viễn tích cực học tập, sử dụng thành thạo loại súng phòng không 14,5mm. Khi không quân Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, bà phải chịu nỗi đau mất mẹ do bom Mỹ sát hại. Bà nhớ lại: “Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, tôi là tự vệ của nhà máy, nên phải trực chiến suốt ngày đêm. Khi máy bay B-52 mang bom rải thảm, khu tập thể nơi gia đình sinh sống bị một quả bom rơi trúng hầm trú ẩn và sát hại cha tôi, đúng lúc tôi đang trực chiến”.

Xác chiếc F-111 bị tự vệ Hà Nội bắn cháy, rơi ở Hòa Bình đêm 22-12-1972. Ảnh tư liệu.

Nén đau thương, nữ tự vệ Phạm Thị Viễn và đồng đội kiên cường chiến đấu, cùng các đơn vị pháo cao xạ kịp thời điều chỉnh thế trận, tạo thành lưới lửa phòng không tầm thấp, không cho địch tự do đánh phá.Trong đơn vị có nhiều tự vệ là nữ, việc thao tác triển khai, thu hồi pháo để cơ động nặng nhọc và vất vả, nhưng ai cũng cố gắng, xung phong ra trận địa, lên mâm pháo, đối mặt với máy bay địch.

Trận đánh bắn rơi máy bay chiến đấu hiện đại F-111 “cánh cụp, cánh xòe” của không quân Mỹ là một điển hình. Máy bay F-111 hoạt động ở độ cao thấp và rất thấp, liên tục đột nhập vùng trời Hà Nội đánh phá các mục tiêu. Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội đã kịp thời điều chỉnh lực lượng, triển khai đội hình, trận địa hợp lý, tổ chức và trực tiếp chỉ huy một Liên đội tự vệ với 5 súng máy cao xạ 14,5mm, gồm 3 trung đội tự vệ của Nhà máy gỗ Hà Nội, Nhà máy cơ khí Mai Động và Nhà máy cơ khí Lương Yên.

Sáng 22-12-1972, các trung đội tự vệ cơ động đến trận địa Vân Đồn, bố trí đội hình liên đội chiến đấu. Lúc 20 giờ ngày 22-12, liên đội nhận lệnh vào cấp 1, trong tư thế “đón lõng” máy bay Mỹ. Khi các khẩu đội bắt mục tiêu, đồng chí liên đội trưởng hô bắn, các khẩu đội pháo đồng loạt nhả đạn. Là pháo thủ số 1, bà Phạm Thị Viễn nhìn thấy rất rõ chiếc máy bay rẹt qua đầu, phần đuôi của nó lóe sáng. Chiếc máy bay F-111 trúng đạn, bốc cháy, rơi xuống Lương Sơn, Hòa Bình. Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí lãnh đạo thành phố, Bộ tư lệnh Thủ đô đã đến tận trận địa động viên, khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Liên đội tự vệ.

HƯƠNG HỒNG THU (lược ghi)
qdnd.vn

Gặp lại người “cưỡi mây giết giặc”

Đại tá Đàm Trọng, người trực tiếp chỉ huy tiểu đội của mình làm nổ tung chiếc AD6 của Mỹ trên bầu trời Ninh Bình.

QĐND Online – Trong rất nhiều cách đánh máy bay địch của quân đội nhân dân Việt Nam, có một cách đánh độc đáo có một không hai của “bộ đội dù”. Đó là bẫy máy bay địch bằng khinh khí cầu có gắn mìn định hướng. Cách đánh tưởng chừng chỉ có trong tưởng tượng đó lại được bộ đội ta vận dụng có hiệu quả và mang về nhiều chiến công.

Khi gặp được Đại tá Đàm Trọng, nguyên Đại đội phó Đại đội 15 công binh dù, người đã trực tiếp chỉ huy tiểu đội của mình làm nổ tung chiếc AD6 của Mỹ trên bầu trời Ninh Bình và được nghe ông tường thuật về trận đánh năm xưa, tôi mới thực sự ngỡ ngàng trước những sáng tạo độc đáo của “bộ đội dù”. Bộ đội ta đã sử dụng khinh khí cầu gắn mìn định hướng để tiêu diệt kẻ thù. Khinh khí cầu được thả lơ lửng tạo thành các chướng ngại vật trên không, giống như bãi chông mìn trên trời nhằm chống lại chiến thuật bay thấp, luồn lách theo các cửa sông vào đánh lén các mục tiêu quân sự, kinh tế, chính trị, cầu giao thông quan trọng ở miền Bắc nước ta. Bằng cách này, chúng ta đã tiêu diệt được 3 máy bay địch, một máy bay AD6 của Mỹ ở Ninh Bình (1967), một ở dọc sông Hồng (1966) và một ở Quảng Trị (1966).

Chấp hành chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc Phòng, một bộ phận của lực lượng Lữ dù 305 đã tham gia nghiên cứu bố trí bãi vật cản trên không để ngăn chặn, tiêu diệt máy bay Mỹ trong chiến tranh phá hoại miền Bắc (1964-1972). Nhằm bắn phá các mục tiêu quan trọng của ta, máy bay địch đã sử dụng những thủ đoạn hết sức nham hiểm như: Thả nhiễu, bay thấp, luồn lách…qua nhiều địa hình và bất ngờ thả bom. Với cách bố trí bãi vật cản trên không (cụ thể là bóng và khinh khí cầu có gắn mìn định hướng), ta đã buộc máy bay Mỹ phải nâng tầm, bay cao cho lực lượng phòng không – không quân ta dễ dàng phát hiện và tiêu diệt. Được sự chỉ đạo của các cơ quan Bộ Quốc Phòng, Viện Kỹ thuật quân sự và Bộ tư lệnh Dù đã tổ chức triển khai có hiệu quả cách đánh độc đáo trên.

Nhắc về chiến công hiển hách năm xưa của tiểu đội mình nói riêng và của Bộ tư lệnh Dù nói chung, Đại tá Đàm Trọng không dấu được sự phấn chấn và niềm xúc động. 45 năm đã trôi qua, nhưng ký ức về trận đánh năm nào vẫn tươi mới và rõ nét trong ông. Đại tá kể lại:

“Để tạo bất ngờ mới và bảo vệ cánh Đông Nam miền Bắc, chúng tôi nhận lệnh chuyển vị trí, hành quân bộ từ Hà Nam về Ninh Bình. Gồng gánh cồng kềnh nhiều phương tiện bố trí như: Guồng máy, dây, mìn… nhưng chúng tôi vẫn tập kết đúng thời gian quy định. Thời điểm này, 12 máy bay địch đang oanh tạc từ thị xã Ninh Bình về đến huyện Yên Khánh (Ninh Bình). Bàn bạc với huyện đội Yên Khánh, chúng tôi hạ quyết tâm đóng chốt ở đây để tiêu diệt máy bay địch. Được sự đồng ý của tỉnh đội Ninh Bình và sự trợ giúp nhiệt tình của dân quân huyện Yên Khánh, chúng tôi đã bắt tay vào triển khai kế hoạch. Tối ngày 5-2-1967, chúng tôi bơm bóng và đưa lên vị trí đã bố trí.

Cán bộ, cựu chiến binh Lữ dù 305 tại Hà Nội tổ chức họp mặt ngày 22-2-1998.

Sáng 6-2-1967, gió mùa đông bắc, mưa phùn, lạnh tê cứng chân tay. Bên dòng sông Đáy, bộ đội và dân quân Yên Khánh ai cũng lạnh tê người vì rét, nhưng tất cả đều thể hiện sự quyết tâm cao độ. Lúc này gió khá mạnh nên bóng nhỏ không thả được, chúng tôi quyết định thả bóng lớn có gắn mìn định hướng.

6 giờ, toàn bộ công tác chuẩn bị đã hoàn tất, bóng được thả đúng vị trí đã bố trí. Tổ trực chiến lúc đó có tôi (Đàm Trọng), đồng chí Nhương, đồng chí Điều, đồng chí Hội và hai nữ dân quân Yên Khánh.

10 giờ, chúng tôi nghe thấy tiếng động cơ phản lực Mỹ gầm rít và tiến dần về phía bãi bóng có gắn mình định hướng đã được ta bố trí. Sương và mưa phùn che khuất tầm nhìn. Tất cả đều thấp thỏm và hồi hộp.

Bùm!

Một tiếng nổ váng trời, phá tan cái lạnh tê tái của mưa phùn và gió bấc mùa đông. Máy bay địch đã vướng vào bóng, chập mạch điện và nổ mìn MTK, làm đứt dây cước loại 2 ly (có lực kéo 204kg) và cả đường dây điện bố trí quả mìn. Thân cánh máy bay kéo suốt một đường dài trên dây bố trí và có rất nhiều khả năng rơi. Tôi về báo cáo ngay tỉnh đội Ninh Bình và Lữ đoàn 305.

10 giờ ngày 8-2, tỉnh đội Ninh Bình thông báo chính thức: C15, Lữ dù 305 đã góp phần cùng dân quân Ninh Bình hạ một máy bay AD6, chiếc thứ 1680 của cả nước và chiếc thứ 57 của tỉnh Ninh Bình. Chiếc AD6 của Mỹ chính thức rơi tại cửa sông Đáy.

Tất cả chúng tôi đều vỡ òa niềm vui sướng. Còn hai ngày nữa là hết năm Bính Ngọ, chuẩn bị đón tết Đinh Mùi. Huyện Yên Khánh đã “thưởng nóng” cho chúng tôi một con lợn để ăn tết và mừng chiến thắng”.

Được gặp và nghe đại tá Đàm Trọng kể về chiến công năm xưa của ông cùng đồng đội, tôi thực sự thấy khâm phục sức sáng tạo độc đáo của “bộ đội dù”. Vượt qua mọi khó khăn, “bộ đội dù” đã đóng góp một phần không nhỏ vào chiến thắng của quân đội ta trong cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại miền Bắc (1964 – 1972).

Bài, ảnh: Nguyễn Hương Bưởi
qdnd.vn

Nhớ Tết Quý Sửu năm ấy

QĐND – Những ngày cuối tháng 1-1973, mặc dù Tết Nguyên đán Quý Sửu đã sát gần nhưng tình hình chiến sự trên mặt trận đường 19 Tây Nguyên vẫn diễn ra vô cùng quyết liệt. Cả ta và địch đều quyết tâm giành thêm đất, thêm dân, mở rộng vùng kiểm soát trước khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực.

Hiệp định Pa-ri về Việt Nam có hiệu lực từ 0 giờ ngày 27-1-1973 nhưng thời điểm ngừng bắn lại vào 8 giờ ngày 28 (tức 29 Tết). Đại đội 1 súng máy cao xạ 12,7mm của chúng tôi tiếp tục được phối thuộc với Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48 có nhiệm vụ chốt chặn đường 19 ở khu vực làng Yít-đồn Tầm. Chúng tôi hiểu rằng, kẻ thù đang cay cú trước thất bại liên tiếp vừa qua, nhất định chúng sẽ bất chấp lệnh ngừng bắn và Tết cổ truyền, tiếp tục tiến công trên hướng này hòng củng cố lại thế trận.

Đúng như vậy, sáng 27-1, địch điều Tiểu đoàn 62 biệt động quân và một chi đoàn xe tăng của Thiết đoàn 21 đến tăng cường cho khu vực đồn Tầm. Đến khoảng 16 giờ, địch bắt đầu tấn công. Mở đầu, chúng cho các trận địa pháo ở Thanh Bình, Thanh An bắn cấp tập vào tuyến chốt chặn của ta. Chúng còn dùng cả súng phun lửa bắn vào khu vực trận địa của chúng tôi làm cháy rụi cây cối và những nhà dân còn sót lại. Sau đợt pháo, địch cho bộ binh có xe tăng dẫn dắt tiến vào. Nhưng chúng đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của bộ đội ta, một xe tăng M41 bị thiêu cháy, hàng chục tên địch bị diệt… Tối đó, bộ phận tuyên truyền đấu tranh chính trị gồm một số cán bộ của Trung đoàn 48 và huyện 5 vừa được thành lập cũng vào triển khai công sự gần trận địa chốt của chúng tôi để chuẩn bị tác chiến sau giờ ngừng bắn.

Sáng 28-1, mặt trời vừa nhô lên, địch đã cho pháo bắn liên tục hàng giờ liền vào trận địa ta. Tiếng pháo vừa dứt, chúng tôi đã thấy 4 xe tăng M41 cùng bộ binh địch triển khai đội hình hai bên đường 19 tiến vào hướng trận địa chốt của Đại đội 1 và Đại đội 3 (Tiểu đoàn 1), vừa đi chúng vừa bắn như đổ đạn sang hai bên. Nhưng vừa lọt vào vùng kiểm soát của ta, một chiếc xe tăng địch đã bị trúng mìn bốc cháy, một chiếc khác bị đạn B41 của chiến sĩ ta nổ tung. Cùng lúc, bộ binh địch cũng bị các cỡ súng của ta bắn mãnh liệt vào đội hình, hàng chục tên trúng đạn ngã vật. Thấy vậy, hai chiếc xe tăng còn lại vội vã quay đầu chạy. Bộ binh địch không còn biết bấu víu vào đâu, vội nằm rạp xuống đất giơ súng bắn loạn xạ lên trời. Một lúc sau, quân địch rút lui. Không gian trở lại yên tĩnh. Chúng tôi tranh thủ củng cố lại trận địa chờ địch đến. Bỗng ở phía trước, tiếng súng tiểu liên AR15 nổ liên hồi xen lẫn tiếng reo hò huyên náo. Thì ra đã đến giờ ngừng bắn, binh lính địch bắn súng ăn mừng và reo vang vì họ nghĩ không phải chiến đấu nữa. Tiếng súng ngớt, binh lính địch trèo hết lên thành công sự cầm súng huơ huơ lên trời tiếp tục kêu lên: “Hòa bình rồi. Sống rồi, anh em ơi!”. Một lúc sau, từ bên phía địch bật lên tiếng cọt kẹt, rồi tiếng loa công suất lớn phát ra những lời lẽ tô vẽ cho cái gọi là “chánh nghĩa quốc gia”. Đáp lại, tổ công tác của ta cũng dùng loa tuyên truyền về các điều khoản thi hành Hiệp định Pa-ri và các bài ca cách mạng; có điều, loa của ta là loa pin, công suất nhỏ, lại ngược chiều gió…

Khoảnh khắc hòa bình đến quá nhanh giữa bãi chiến trường còn vương khói súng làm chúng tôi cũng lâng lâng một niềm vui cảnh giác. Chưa biết việc thực thi hiệp định rồi sẽ ra sao, nhưng lúc này chúng tôi ai cũng thấy phấn chấn. Thế là, sau gần một tháng liên tục cơ động chiến đấu, chịu đựng nhiều gian khổ hy sinh, Sư đoàn 320 chúng tôi đã quét sạch quân địch, làm chủ đường 19 từ Đức Cơ đến làng Yít và đường 14 từ Phú Mỹ đến Mỹ Thạch, mở ra vùng giải phóng rộng lớn ở phía tây nam Gia Lai, nối thông với hành lang vận tải chiến lược ở phía Tây. Lá cờ giải phóng khổ lớn ngạo nghễ tung bay trên cột cờ ở đầu làng Yít trên đường 19 và ở Phú Mỹ trên đường 14, chỉ cách Bộ chỉ huy Quân đoàn 2 ngụy ở Plei-cu chưa đầy 30km là niềm tự hào của mỗi chúng tôi.

Ngày hôm sau, từ sáng đến chiều, địch chỉ mở đài, phát loa mà không có hoạt động gì đáng kể, chúng tôi vẫn cảnh giác và luôn ở tư thế chiến đấu. Còn bộ phận tuyên truyền của ta đã rút được kinh nghiệm, chờ đến buổi chiều có gió tây thổi ngược lại mới phát loa tuyên truyền, nhờ có gió nên mặc dù loa tay công suất nhỏ vẫn đánh bại được tiếng loa công suất lớn của địch. Tối hôm đó, đơn vị tổ chức ăn Tết Quý Sửu. Bữa cơm Tết duy nhất của chúng tôi có thêm món chuối rừng ninh xương và thịt kho. Mỗi chúng tôi còn được Bác Tôn gửi tặng một điếu thuốc lá Điện Biên và hai chiếc kẹo Hải Hà.

Suốt ba ngày Tết, địch chủ yếu phát loa, hết tuyên truyền xuyên tạc đến mở băng ca nhạc với những giọng ca não nề buồn tẻ, rồi kêu gọi “các cán binh cộng sản trở về với chánh nghĩa quốc gia”. Bộ phận tuyên truyền của ta đã được trang bị thêm loa công suất lớn và máy phát điện. Các anh tập trung tuyên truyền những điều khoản thi hành Hiệp định Pa-ri, chính sách nhân đạo và khoan hồng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam.

Sau Tết Nguyên đán Quý Sửu, theo đề nghị của ta, địch đồng ý cùng ta làm Nhà hòa hợp để trao đổi việc thực thi các điều khoản của Hiệp định Pa-ri. Nhà hòa hợp được dựng lên ở khu đất bằng phẳng cách đềutuyến chốt của ta và của địch 200m. Khi Nhà hòa hợp đi vào hoạt động, chúng tôi được lệnh rút về tuyến hai, chỉ để lại một bộ phận nhỏ bảo vệ Đoàn hòa giải hòa hợp dân tộc của ta đấu tranh với địch.

HÙNG TẤN
qdnd.vn

Tiếng nổ rạng sáng Mồng Hai Tết Mậu Thân

QĐND – Cánh cửa sắt sơn xanh lỗ chỗ vết đạn 12 ly nằm khuất lấp giữa hàng quán bừa bộn, ồn ào là vết tích của trận đánh ác liệt 45 năm trước. Đó là ấn tượng đầu tiên đập vào mắt du khách khi đến thăm căn nhà 287/70 Nguyễn Đình Chiểu (phường 5, quận 3, TP Hồ Chí Minh)-nơi có căn hầm bí mật cất giấu hơn hai tấn vũ khí của biệt động thành, chuẩn bị cho cuộc tấn công táo bạo trong Chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968.

Ông Nguyễn Quang Vinh giới thiệu cuộn cà tăng và sọt trái cây giấu vũ khí.

Đào hầm vũ khí giữa lòng địch

Trong căn nhà được công nhận là Di tích lịch sử Quốc gia, những vật dụng, hình ảnh, tư liệu… của chủ nhân và trận đánh ác liệt Xuân Mậu Thân 1968 vẫn được gìn giữ nguyên vẹn. Căn hầm vũ khí vẫn đấy và 10 năm nay nguyên thiếu tá đặc công Nguyễn Quang Vinh-người được chủ nhân tin tưởng giao trông coi ngôi nhà sau khi mất vẫn chăm lo sớm tối.

Ông Vinh kể: Đầu năm 1967, đồng chí Trần Văn Lai (thường gọi là Năm Lai, Năm U-Som hay Mai Hồng Quế) bỏ ra hơn 400 cây vàng để mua hai chiếc ô tô: Một chiếc Hino biển số EC-6045 và chiếc Citroen biển số NCE-5345. Đồng thời anh mua 3 căn nhà liền kề trong đó có căn nhà gác lửng này. Tất cả đều theo sự thống nhất với người chỉ huy đơn vị là ông Nguyễn Văn Trí, chính trị viên đơn vị Biệt động 159 (sau đổi tên là J9/T700), thuộc Quân Khu Sài Gòn-Gia Định, theo lệnh của Trung ương Cục miền Nam. Căn nhà có 2 mặt tiền, gồm mặt đường Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu) và mặt đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần), diện tích khoảng 37m2, dài 14,9m, rộng 2,5m. Dưới lớp vỏ là một nhà thầu khoán có cỡ làm việc cho Dinh Độc Lập, anh Năm dùng căn nhà để chứa vật liệu xây dựng, nhưng thực chất là để cất giấu vũ khí chuẩn bị cho kế hoạch đánh vào cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn trong chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968. Lấy cớ sửa nhà cần đào hầm vệ sinh và hệ thống thoát nước, ngày đêm anh Năm đào hầm bí mật giấu vũ khí…

Gần một năm thực hiện nhiệm vụ tối mật là gần một năm ông Năm Lai sống trong cảnh chồng không gặp mặt vợ, cha không gặp mặt con. Vợ con ở Gò Vấp không hề hay biết ông ngày là một thầu khoán tài ba, đêm lại hì hục một mình đào hầm. Để qua mắt địch, đất đào xong được bỏ vào những thùng các-tông, rồi đưa lên ô tô chở về tận Bình Chánh để đổ. Căn hầm hoàn thành có kích thước dài hơn 8m, ngang 2m, cao 2,5m, trát xi măng dày để chống thấm và có 4 lối thoát hiểm. Vũ khí được giấu khéo léo trong những bộ ván bóng lưỡng rỗng ruột, cuộn cà tăng (loại cót dùng làm vách), sọt trái cây…

Tiếng nổ rạng sáng ngày Mồng Hai Tết

Đêm Mồng Một, rạng sáng Mồng Hai Tết, 18 chiến sĩ Đội 5 biệt động di chuyển đến nhà của Năm Lai nhận vũ khí. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Trương Hoàng Thanh (Ba Thanh), đội xuất phát trên 3 chiếc ô tô và một xe máy hon đa tiến về Dinh Độc Lập. Vì nắm rõ đường ngang ngõ tắt cơ quan đầu não của địch trong lòng bàn tay, Năm Lai được giao làm tài xế và phục vụ chiến đấu.

1 giờ 30 phút sáng Mồng Hai Tết Mậu Thân, chiếc xe Hino của tài xế Năm Lai và các xe khác của đội đến gần đường Nguyễn Du, phía cổng sau Dinh Độp Lập thì bị lính gác ra hiệu dừng lại kiểm tra. Thấy xe vẫn tiến, địch báo động. Các chiến sĩ nhanh chóng xả súng tiêu diệt địch và ném bộc phá để phá cổng. Nhưng đáng tiếc, trái bộc phá không nổ. Các chiến sĩ đành dàn trận trên đường và tìm cách lọt vào bên trong. Địch bắn trả dữ dội khiến hai chiến sĩ hy sinh, hai người bị thương. Lực lượng của địch càng lúc càng đông, chúng điều tới 7 xe Jeep chở đầy lính. Trước tình thế nguy cấp, các chiến sĩ vẫn chiến đấu ngoan cường. Hai xe Jeep của địch bị quân ta dùng B40 và lựu đạn tiêu diệt, bắn gục 20 tên lính. Cuộc chiến đấu mỗi phút càng thêm ác liệt, phía ta thêm một chiến sĩ ngã xuống. Đến 4 giờ, Ba Thanh hy sinh. Thấy không thể cầm cự được lâu và quyết không để rơi vào tay địch, phía ta tạm rút lui. 8 chiến sĩ còn lại rút vào nhà số 56 Thủ Khoa Huân, cố thủ trên tầng 3 và tiếp tục chiến đấu quyết liệt đến viên đạn cuối cùng. Địch dùng thang cứu hỏa leo lên, quân ta dùng đất đá chặn lại. Đồng chí Lê Tấn Quốc (Bảy Rau Muống) đã anh dũng dùng AK chốt chặn địch ở cầu thang và hy sinh. Mờ sáng Mồng Ba, cả 7 chiến sĩ còn lại trên sân thượng chuyển qua ngôi nhà kế bên và tiếp tục vừa đánh địch vừa di chuyển. Đến nhà số 108 Gia Long (nay là đường Lý Tự Trọng), tất cả rơi vào tay giặc. Nghi ngờ căn nhà 287/70 Nguyễn Đình Chiểu chứa chấp các chiến sĩ biệt động, địch đến bắn phá dữ dội.

Sau trận đánh đó, chủ thầu khoán Mai Hồng Quế (tức Năm Lai) bị truy nã ráo riết. Năm 1972, Năm Lai bị bắt. Địch giam cầm và tra tấn ông dã man ở nhà tù chi khu Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) dù ông đã làm giả giấy tờ và giả điên. Căn nhà rơi vào tay địch nhưng hầm vũ khí mãi là bí mật với chúng. Sau giải phóng, khi căn nhà được thu hồi, lính ngụy mới té ngửa. Có giỏi tưởng tượng thế nào, bọn chúng cũng không thể ngờ rằng: Căn hầm làm nên trận đánh rung động chính quyền Sài Gòn lại nằm trong lòng thành phố.

Ông Nguyễn Quang Vinh cho biết: “Năm 2000 khi đang công tác ở Hội Cựu chiến binh quận 3, tôi đến thăm di tích lần đầu tiên và thực sự xúc động khi chứng kiến căn hầm và nghe câu chuyện về sự hy sinh anh dũng của các anh em. Như một duyên số, anh Năm Lai có nhắn nhủ sau này nếu ảnh mất thì nhờ tôi trông coi giùm nơi đây. Năm 2002, anh mất. Tôi về trông coi di tích từ đó đến nay…”.

Bài và ảnh: QUỲNH NGA
qdnd.vn

Lần đầu xe tăng ta xuất kích

QĐND Online – Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, Tiểu đoàn tăng 198-Đơn vị xe tăng đầu tiên của quân đội ta đã bất ngờ xuất hiện trên chiến trường và ra quân đánh thắng trận đầu ở Tà Mây – Làng Vây trong chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh năm 1968, mở đầu truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng” của bộ đội Tăng-Thiết giáp (TTG) Việt Nam.

Xe tăng vào chiến trường như thế nào? 45 năm đã trôi qua, nhưng đối với nhiều người đến nay đó vẫn là một điều hấp dẫn? Tôi đã may mắn được gặp gỡ những người trực tiếp tham gia đánh trận Tà Mây – Làng Vây, để tìm hiểu về sự kiện “gùi” xe tăng vào chiến trường.

Gặp mặt các cán bộ Tiểu đoàn tăng 198 làm nên chiến thắng trận đầu ngày 7-2-1968

Người đầu tiên mà tôi gặp là ông Hà Tiến Tuân, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tăng 198. Tôi hỏi: “Thưa Bác! Bác có thể kể đôi điều về việc “gùi” xe tăng vào chiến trường được không ạ?” Bác nhìn tôi: “Gùi” xe tăng à? Thật là một cách nói nghệ thuật! Tất nhiên mắt xích xe tăng tháo rời ra từng mảnh thì có thể “gùi được, đạn pháo xe tăng cũng có thể gùi được… nhưng không ai có thể “gùi” được thân xe tăng và tháp pháo vì đó là những khối thép nặng hàng chục tấn. Thực chất là ta đã tổ chức hành quân bằng xích để đưa xe tăng vào chiến trường. Đây là cuộc hành quân của xe tăng có một không hai trong lịch sử chiến tranh trên thế giới đấy đồng chí ạ!”

Ông Lê Ngọc Quang, nguyên Chính ủy Binh chủng kể lại: Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Đảng ủy Binh chủng đã xác định: “Mặc dù mới chỉ đưa một lực lượng nhỏ đi chiến đấu, nhưng phải bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ cao nhất, vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, quyết tâm đánh thắng ngay từ trận đầu”. Căn cứ nhiệm vụ được giao, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Binh chủng đã chọn Đại đội tăng 3 và Đại đội tăng 9 thuộc Trung đoàn 203 thành lập một Tiểu đoàn mới có phiên hiệu là Tiểu đoàn 198 để đưa vào chiến trường. Ngay sau khi được thành lập, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn tăng 198 đã khẩn trương làm công tác chuẩn bị củng cố xe pháo, trang bị kỹ thuật, tranh thủ thời gian huấn luyện bổ sung, đặc biệt là tổ chức huấn luyện cho xe tăng bơi nước tại đập Đồng Tranh, Hòa Bình. Ngày 14-10-1967, Tiểu đoàn tăng 198 bắt đầu thực hiện cuộc hành quân bí mật bằng xích vào chiến trường, xuất phát là huyện Lương Sơn, Hòa Bình.

Sau hơn 50 ngày đêm hành quân vượt hơn 1000km đường Trường Sơn với nhiều địa hình phức tạp dưới mưa bom, bão đạn của quân thù, Tiểu đoàn tăng 198 đã đến vị trí tập kết an toàn. Đại đội tăng 3 hành quân 931km, ngày 21-12-1967 tới vị trí tập kết ở Nậm Khang trên đường số 9. Đại đội tăng 9 vượt qua chặng đường dài gần 1.500km tập kết tại phía Nam đường 9.

Ông Hoàng Đức Miêng, nguyên chiến sĩ lái xe tăng số hiệu 555, thuộc Đại đội tăng 9 cho biết: Cuộc hành quân của Tiểu đoàn 198 vào chiến trường chủ yếu được thực hiện vào ban đêm. Để giữ bí mật, các xe tuyệt đối không được bật đèn pha mà phải sử dụng đèn gầm có lắp thêm thiết bị hạn chế ánh sáng. Những đêm mù sương, các đồng chí trưởng xe (hoặc pháo thủ số 2) phải đi bộ trước mũi xe, khoác vải trắng dẫn đường. Các kíp xe phải dùng cành cây tươi che bớt bụi lửa phóng ra từ ống xả, khi lá khô phải kịp thời thay cành cây mới, nhờ đó mà giữ được bí mật, an toàn.

Khi được hỏi để che mắt không quân Mỹ, xe tăng hành quân chủ yếu về ban đêm còn ban ngày làm thế nào để giữ được bí mật khi trú quân, ông Ngô Xuân Nghiêm, nguyên Đại đội trưởng đại đội tăng 9 hào hứng cho hay: Phải ngụy trang cho thật tốt! Đây là điều cực kỳ quan trọng. Công việc đầu tiên là phải xóa hết các vết xích trên lối rẽ vào nơi giấu xe. Nếu là bãi đất trống thì dùng hai cành cây to có nhiều lá buộc vào sau chiếc xe cuối cùng, những cành cây này sẽ xóa đi các vết hằn của xích trên mặt đất. Tất nhiên vẫn phải kiểm tra lại chỗ nào chưa xóa được thì phải xóa cho hết. Nếu phải đi qua đồi cây lúp xúp hay đồi cỏ tranh thì phải đào cây mới trồng lên và phải tưới nước để cây không bị khô héo. Nếu trú quân ở rừng thì tuy có khó khăn về phòng chống cháy, nhưng dễ ngụy trang hơn, chỉ cần buộc vít các ngọn le lại với nhau tạo thành các đường vòm che vết xích đi là được.

Thiếu tướng Lê Xuân Tấu, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Tư lệnh Binh chủng, nguyên Trung đội phó, Trưởng xe tăng 555 bồi hồi nhớ lại: Tuyến đường hành quân được chia thành nhiều cung, mỗi cung chia thành 3 chặng, mỗi chặng (đi trong 1 đêm) trung bình dài 30 đến 45km (Đại đội tăng 3 hành quân 15 chặng, Đại đội Tăng 9 hành quân 23 chặng). Đường Trường Sơn là đường rừng núi hiểm trở, nhiều cua ngoặt gấp khúc, máy bay địch đánh phá ác liệt nên thường xảy ra sự cố kỹ thuật và có thương vong, nhưng nhờ các đơn vị thanh niên xung phong, trung đoàn pháo phòng không Nguyễn Viết Xuân, các đơn vị bạn cùng nhân dân các dân tộc Lào và nhân dân địa phương hết lòng giúp đỡ, che chở, bảo vệ, nên các khó khăn về bảo đảm đường cơ động, sửa chữa, cứu kéo, vận chuyển đều được giải quyết kịp thời, giúp đơn vị hành quân tới đích an toàn, đúng quy định.

Ông Trần Vĩnh Đại, kiện tướng lái xe tăng, nguyên Đại đội phó Đại đội tăng 9 kể lại: Do hành quân đường dài nên bánh đỡ nặng và xích xe bị hư hỏng nhiều, bánh đỡ nặng vỡ hết phần cao su, chốt xích mòn vẹt, vấu xích gãy, cong, vênh, rạn, nứt. Đơn vị phải khắc phục bằng cách đảo xích bên phải sang trái và ngược lại, lắp xen kẽ mảnh xích lành với mảnh xích hỏng để tiếp tục hành quân.

Cuộc hành quân thắng lợi đã khẳng định: Trong điều kiện địa hình hiểm trở của tuyến đường chiến lược, không quân địch đánh phá ác liệt suốt ngày đêm nhưng quân đội ta vẫn có thể đưa được một lực lượng lớn xe tăng vào chiến trường (gồm cả con người và đầy đủ vũ khí, trang bị) để tham gia chiến đấu. Đây là mốc mở đầu cho quá trình triển khai lực lượng TTG ở các địa bàn chiến lược trên chiến trường, đáp ứng yêu cầu phát triển của cuộc chiến tranh giải phóng đất nước.

Bài và ảnh: THANH THẢO
qdnd.vn