Tag Archive | Bác Hồ

“Điểm mặt” những bộ tem nước ngoài về Bác Hồ


tem 1
Hai mẫu tem đặc sắc của Ấn Độ và Madagascar phát hành năm 1990, nhân dịp kỷ niệm
100 năm 
Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tính đến nay, có khoảng 15 quốc gia, vùng lãnh thổ phát hành tem bưu chính về Chủ tịch Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa kiệt xuất, Anh hùng giải phóng dân tộc, vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam.

Bộ tem bưu chính đầu tiên của thế giới về Hồ Chủ tịch là bộ tem “Kỷ niệm 80 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh” gồm 7 mẫu tem, do cố họa sĩ Felix René Mederos Pazos (1933 – 1996) thiết kế, được Cộng hòa Cuba chính thức phát hành vào ngày 19/5/1970. Họa sĩ này đã 2 lần sang Việt Nam thực tế vào các năm 1969 và 1972 để vẽ một số tranh về chiến tranh Việt Nam. Bộ tem “Kỷ niệm 80 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh” của Cuba thể hiện sinh động cảnh sinh hoạt và chiến đấu của quân dân hai miền như: Công binh xưởng, gặt lúa, lớp học dưới địa đạo… Trong đó, có 1 mẫu tem với giá mặt cao nhất 13 centavo (xu) mang hình chân dung Hồ Chủ tịch trên nền cờ đỏ sao vàng. Phong bì ngày đầu tiên có chân dung Người, bản đồ Việt Nam bị chia cắt tượng trưng bởi 2 màu xanh đỏ và hình ảnh người nông dân Việt Nam.

tem 2

Ngày 2/9/1970, kỷ niệm 1 năm Ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 25 năm Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Bưu điện Cộng hòa dân chủ Đức đã phát hành 1 tem nằm trong loạt 7 tem có phụ thu mang tiêu đề “Việt Nam bất khả chiến bại” để gây quỹ ủng hộ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Mẫu tem này mang hình chân dung Hồ Chủ tịch với dòng chữ tiếng Đức màu đen “Tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh” và màu đỏ “Việt Nam bất khả chiến bại”, giá mặt là 20 + 5 pf (xu).

Tiếp đó, vào ngày 19/5/1972, Cuba phát hành bộ tem “Hội nghị lần thứ ba về phản đối chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương” gồm 3 mẫu tem, trong đó có 1 mẫu tem giá mặt 3 centavo mang hình ảnh Jose Marti và Hồ Chí Minh, 2 lãnh tụ cách mạng vĩ đại của hai nước trên nền hình ảnh cách điệu của quốc kỳ Cuba và Việt Nam. Ngày 19 tháng 5 là Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là ngày mất của lãnh tụ Cuba Jose Marti.

tem 3

Ngày 17/2/1973, để chào mừng Hiệp định Paris về Việt Nam vừa được ký kết, Algeria đã phát hành 1 con tem giá mặt 0,40 dinar. Con tem mang hình ảnh bản đồ Việt Nam thống nhất màu nâu đỏ nổi bật trên bán đảo Đông Dương màu vàng nằm bên biển Đông xanh thẳm với chân dung Hồ Chủ tịch đặt trang trọng trong khung hình oval. Con tem mang dòng chữ tiếng Pháp “Tôn vinh nhân dân Việt Nam” và ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam “27/1/1973”.

te4

Kỷ niệm 90 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 12/7/1980, Liên Xô đã phát hành 1 tem giá mặt 6 kopeck. Trên mẫu tem này, chân dung Bác được thể hiện rất đẹp bằng màu xanh lam nổi bật trên nền lá cờ đỏ sao vàng, bên cạnh cột cờ Hà Nội.

tem 5
Bộ tem Liên Xô kỷ niệm 90 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

Kỷ niệm 1 năm ngày mất của Chủ tịch Kim Nhật Thành, ngày 8/7/1995, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên phát hành bộ tem “Lãnh tụ vĩ đại Kim Nhật Thành sống mãi với chúng ta” gồm 1 blốc tem và 3 tờ tem nhỏ. Bộ tem được thiết kế dựa theo ảnh tư liệu thể hiện hình ảnh Kim Chủ tịch với các nhà lãnh đạo thế giới. Trong đó, có 1 tờ tem nhỏ gồm 2 tem giá mặt 30 jon (xu) mang hình ảnh Kim Chủ tịch đàm đạo với Hồ Chủ tịch tại Phủ Chủ tịch ở Hà Nội nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam Dân chủ cộng hòa tháng 11 năm 1958 của Kim Chủ tịch và hình ảnh Kim Chủ tịch đón tiếp người Anh hùng huyền thoại Che Guevara tháng 12 năm 1960.

Ngày 15/3/1999, Cộng hòa quần đảo Marshall phát hành tờ tem “Thập kỷ của hiểm họa và phát triển 1950-1959” gồm 15 tem giá mặt 60 cent nằm trong loạt tem “Thế kỷ 20”. Tờ tem này thể hiện nhiều sự kiện quan trọng trong thập niên 50 của thế kỷ 20. Con tem thứ 9 trong tờ tem mang tên “Hoàng hôn trên đế chế thực dân” (Sun Sets on Colonial Empires) với chân dung Hồ Chủ tịch bên cạnh bản đồ Việt Nam màu đỏ rực bị chia cắt ở vĩ tuyến 17 và hình ảnh những chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam phất cao lá cờ đỏ “Quyết chiến, quyết thắng” trên nóc hầm tướng Pháp Đờ Cát trong Chiến dịch Điện Biên Phủ tháng 7 năm 1954.

Năm 2000, Dominica Liên hiệp, một quốc gia nhỏ ở vùng Caribbe đã phát hành tờ tem “Thế kỷ 20, 1960 – 1969” gồm 17 tem giá mặt 55 cent nằm trong loạt tem “Thiên niên kỷ 1000 – 2000”. Tờ tem này được in rất đẹp với hình ảnh nhiều sự kiện lớn trong thập niên 60 của thế kỷ 20, trong đó có có 1 tem về sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần năm 1969. Trên tem là hình chụp lại một khung ảnh chân dung Hồ Chủ tịch có chữ ký của Người, đặt trên nền cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam với dòng chữ “Hồ Chí Minh, lãnh tụ Bắc Việt Nam, từ trần”. Cũng trong năm 2000, xuất hiện một tờ tem mang quốc hiệu Afghanistan gồm 9 tem, thể hiện chân dung 9 chính trị gia lớn của Thế giới trong thế kỷ 20, trong đó có Hồ Chủ tịch.

Năm 2001, Rwanda phát hành bộ tem “Thiên niên kỷ” gồm nhiều tờ tem nhỏ, mỗi tờ có 4 tem với giá mặt 300 Rwanda Franc để tôn vinh các vĩ nhân thế giới trên mọi lĩnh vực trong Thiên niên kỷ vừa qua. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiện diện trên tờ tem thập kỷ 40 với bức chân dung đeo kính rất phúc hậu, râu tóc bạc phơ. Trên lề tờ tem này là hình ảnh người thanh niên Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp ở Tours (Pháp) tháng 12 năm 1920 và hình ảnh Hồ Chủ tịch cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm bộ đội diễn tập năm 1957.

Kỷ niệm 25 năm Hiệp ước hợp tác hữu nghị Lào-Việt, ngày 18/7/2002, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào phát hành bộ tem “Hợp tác Lào-Việt” gồm 2 mẫu, trong đó có 1 tem giá mặt 3.500 kip mang hình ảnh Hồ Chủ tịch đang đàm đạo với Chủ tịch Kaysone Phomvihan, Chủ tịch Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Hình ảnh 2 vị lãnh tụ trên tem được vẽ giản dị bằng 2 màu đen trắng.

Năm 2008, Cộng hòa Djibouti (vùng Đông Phi) phát hành 1 blốc gồm 2 tem về hoa lan và chim ruồi, trong đó mẫu tem 250 Djibouti franc giới thiệu loài hoa lan hài mang tên Hồ Chí Minh (Paphiopedilum Ho Chi Minh) do nhà trồng lan người Đức tên là Popow lai tạo năm 1999.

tem7Mẫu tem về loài lan hài mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngoài ra, chân dung Hồ Chủ tịch cũng xuất hiện trên lề tờ tem “Thiên niên kỷ 2000 – Thế giới trong chiến tranh” gồm 6 mẫu do Saint Vincent và Quần đảo Grenadines (vùng Caribbe) phát hành năm 2000 giới thiệu một số sự kiện chính từ Chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1941 đến Chiến tranh Việt Nam năm 1972 và trên lề tờ tem “Chiến tranh Việt Nam” gồm 6 mẫu do CH Guinea phát hành năm 2007.

Đặc biệt, trong năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người được UNESCO tôn vinh là Danh nhân văn hoá kiệt xuất và Anh hùng giải phóng dân tộc, đã có 5 quốc gia trân trọng phát hành tem về Người, đó là:

– Liên Xô: Ngày 3/2/1990 phát hành 1 tem giá mặt 10 kopeck. Chân dung Hồ Chủ tịch trên tem mang vẻ đẹp nghiêm nghị, dựa theo ảnh chụp của Người trong thập niên 60; trên tem có dòng chữ “Hồ Chí Minh 1890 – 1969” bằng tiếng Nga.

– Cuba: Ngày 19/5/1990, phát hành 1 tem giá mặt 50 centavo. Chân dung Hồ Chủ tịch trong bộ quân phục màu xanh lá trên tem dựa theo ảnh chụp “Bác Hồ sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954”. Nền tem là hình ảnh cách điệu của Quốc kỳ Việt Nam và Cuba liền một dải hình chữ Z. Trên tem có dòng chữ “Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh” bằng tiếng Tây Ban Nha. Phong bì ngày đầu tiên của con tem này có in hình chân dung Hồ Chủ tịch trên một lá cờ đỏ được dập nổi và in tinh khắc rất đẹp.

– Lào: Ngày 11/5/1990, phát hành bộ gồm 3 tem mang thể hiện các hình ảnh về Hồ Chủ tịch nói chuyện với đồng bào (40 kip), Hồ Chủ tịch bắt tay Hoàng thân Xuphanuvong (1909 – 1995) – Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (60 kip), Hồ Chủ tịch giơ tay vẫy chào (160 kip). Trên tem có dòng chữ “Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh” bằng tiếng Pháp và Lào. Phong bì ngày đầu tiên của bộ tem này có hình Hồ Chủ tịch đeo kính gần giống với phong bì ngày đầu tiên của Việt Nam nhưng dấu hủy đặc biệt là hình chân dung của Người.

tem 8Mẫu tem kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Bác Hồ được Ấn Độ phát hành ngày 17/5/1990.

– Ấn Độ: ngày 17/5/1990, phát hành 1 tem giá mặt 2 rupee mang hình chân dung Hồ Chủ tịch và ngôi nhà sàn tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội. Họa sĩ đã dùng 2 màu nâu và xanh mạ làm nổi bật chân dung Người. Trên tem có dòng chữ “Hồ Chí Minh” bằng chữ Ấn Độ và chữ Latine. Phong bì ngày đầu tiên của tem này được minh hoạ bằng bức ảnh “Hồ Chủ tịch sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954” và bức ảnh nổi tiếng của cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Lâm Hồng Long “Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn” chụp ngày 03/9/1960.

– Madagascar: Ngày 19/10/1990, phát hành 1 tem giá mặt 350 Franc Malagasy thể hiện chân dung Hồ Chủ tịch rất phúc hậu như tiên ông với khuôn mặt đầy đặn, hồng hào; râu tóc trắng như cước; nụ cười hiều hậu luôn nở trên môi. Trên tem có dòng chữ tiếng Pháp “Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam”.

Theo Baomoi.com
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Sự nhượng quyền và những kẻ được nhượng quyền

Sau khi bị binh lính bắn phá và chém giết, Đông Dương lại bị bọn cá mập thực dân cướp bóc đến tận xương tuỷ. Việc cướp bóc đê tiện ấy gọi theo tiếng thực dân là đồn điền.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược lâu dài, dân chúng phải bỏ đất đai đi lánh nạn, chờ cho qua ngày khói lửa. Trước hết, người ta mang đất đai của họ nhượng cho kẻ khác. Khi đã yên ổn rồi, những chủ cũ về làng thì thấy ruộng đất của mình đã bị chiếm mất; muốn về lại chỗ cũ làm ǎn, họ phải nhận những điều kiện của người mới đến: cày cấy chính đồng ruộng của mình cho một anh chủ người ngoại quốc.

Nhiều khi người ta nhượng cả những đất đai đã có người ở và cày cấy với cả làng mạc ở đó.

Nhiều nơi, cả làng bị tước đoạt hết đất đai như vậy, phải trở thành những người mà người ta gọi là “kẻ cướp”; thật ra họ chỉ là những người nổi dậy chống việc cướp đoạt bất công.

Những tên cướp bất công ấy lại được Chính phủ thuộc địa nâng đỡ.

Một tên toàn quyền đã nhượng một đồn điền lớn cho một công ty trồng chè ở Đà Nẵng – nhưng công ty chẳng phát đạt gì lắm -, đã mang đất đai của nhà vua An Nam nhượng cho kẻ khác, người ta cũng chưa lấy làm vừa lòng, người ta còn bắt cả nhà vua phải cho công ty vay 30 vạn bạc nữa. Ngoài ra công ty còn được thầu cung cấp chè cho binh lính. Nhưng người An Nam không thích uống thứ chè xấu ấy, nên chè cung cấp để mốc trong kho.

*

*     *

ở ngoại thành, nhiều người Âu không phải đóng thuế điền thổ, vì Nhà nước cho rằng bắt chủ đồn điền phải đóng thuế điền thổ là làm hại cho sự phát triển của nền nông nghiệp.

Giảm nhẹ thuế cho người Âu, dù là người Âu giàu có, là việc thường; đặc biệt ở Cao Miên, nhiều người được giảm thuế, và thường thường họ là những viên chức người Âu.

*

*     *

Người An Nam, dù có sẵn tiền cần thiết, cũng không xin được nhượng đến nǎm hécta, nhưng đối với thực dân thì diện tích xin không bị hạn chế. Nhiều người Âu có đồn điền rộng trên 25.000 hécta.

Người ta đã nhượng những đồn điền rộng từ 10 đến 20 ngàn hécta cho những kẻ chẳng hiểu biết chút gì về nông nghiệp; bọn này chỉ có một ý nghĩ: lập lại ở Đông Dương một chế độ phong kiến có lợi cho họ bằng cách coi người bản xứ như những nông nô thực sự.

Có hai viên công chức đã được nhượng làm đồn điền 30 ngàn hécta rừng với giá 5 phrǎng một hécta. Hơn nữa họ còn ghi rõ rằng 30 ngàn hécta ấy được miễn thuế trong suốt thời kỳ công ty kinh doanh, nghĩa là suốt 80 nǎm.

Một lần khác, khi vào sổ trước bạ cái vǎn tự bán 30 ngàn hécta đất với giá 150 ngàn phrǎng, viên chủ sự trước bạ ghi dưới vǎn tự như sau: “đã thu 10 phrǎng thuế theo lệnh của quan toàn quyền”. Chỉ 10 phrǎng thuế để chiếm làm của riêng được 30 ngàn hécta đất!

Vừa rồi, người ta cho bọn đầu cơ 8 ngàn, 10 ngàn và 20 ngàn hécta rừng công và ruộng đất của người An Nam ở thượng du. Bị cướp đoạt như thế, những người này tỏ ra bất bình. Thế là, Chính phủ đưa ngay máy bay chở bom lên, làm cho họ yên đi.

Bây giờ chúng ta xét sang bọn ǎn cướp một kiểu khác đã trổ hết tài khéo léo lừa cả Nhà nước lẫn dân bản xứ. Quân cướp này gọi là người cho thầu, người bỏ thầu hay thầu khoán.

Hãy kể vài ví dụ:

Người ta cho bỏ thầu công việc vận tải đường thuỷ làm hai lô, một lô vận tải đường sông và một lô vận tải đường biển. Bản hợp đồng định rằng khi cả hai lô đã cho bỏ thầu xong, thì một trong số người bỏ thầu có thể nhận thầu chung cả hai lô.

Lô thứ nhất được đem ra đấu giá. Ông R. xin 6 phrǎng rưỡi một hải lý. Vì không hợp lệ, ông R. bị loại ra ngoài. Lô thứ nhất được thầu 9 phrǎng một hải lý và lô thứ hai 18 phrǎng.

Xong rồi người ta đem cho đấu giá chung cả hai lô gộp lại. Chỉ những người đã đấu giá trúng riêng từng lô mới được đấu giá chung cả hai lô. Ông R. đã bị loại lần đầu, đáng lẽ không được tham gia lần đấu giá chung này. Tuy vậy, trong thời gian từ lần đầu đến lần này, họ đã thông đồng với nhau. Hai nhà trúng thầu lần trước không chịu đấu giá cả hai lô gộp lại. Vậy ông R. lại được phép bỏ thầu, và ông R. trước xin có 6 phrǎng rưỡi, nay lại đòi 9 phrǎng kia.

Sáu phrǎng rưỡi xin không đạt, mà nay lại được những chín phrǎng!

Công ty được thầu có lãi rất nhiều, thiệt hại cho xứ thuộc địa. Khi mới thành lập, công ty chỉ có 500.000 phrǎng làm vốn. Trong 30 nǎm, số vốn ấy đã thành 11.000.000 phrǎng.

Một thành phố ở Nam Kỳ mở một nhà máy điện. Công việc kinh doanh phát đạt lắm. Viên công sứ bắt hàng tỉnh phải nhượng không nhà máy cho một người bạn của ông ta. ít lâu sau, vì nhà máy không phát tài được nhưng đã là của tư nhân, nên hàng tỉnh bị cướp đoạt trước kia lại phải mua lại rất đắt cái mà họ đã phải cho không.

Để loè đời, người ta đã bỏ ra hàng ngàn bạc để đặt một đài vô tuyến điện ở Sài Gòn. Công việc vừa hoàn thành thì cả nhà cửa lẫn máy móc đã lọt vào tay một công ty của tư nhân. Nhưng việc kinh doanh lỗ mỗi ngày mất một ngàn bạc, công ty dàn xếp để chính xứ thuộc địa, nghĩa là những người dân đóng thuế, phải gánh sự thua lỗ ấy.

Một công ty khách sạn được thành lập với số vốn là 25.000 đồng. Lấy cớ để khuyến khích việc du lịch, Chính phủ góp phần vào 1.200.000 đồng để xây dựng nhà cửa. Ngoài ra, họ còn định rõ rằng nếu cho thầu không hết số tiền ấy thì số tiền tiết kiệm được sẽ chia cho công ty và Nhà nước. Khách sạn sẽ có tất cả 12 buồng. Thế là dân An Nam phải trả 100.000 đồng hay 1.000.000 phrǎng mỗi buồng để một ngày kia vài ông da trắng ǎn bám và lười biếng đến nghỉ tay chân rỗi rãi của các ông!

Một anh chủ thầu cống rãnh nào đó giao ống nước làm bằng vôi thay cho ống ximǎng, ống không đầy một mét lại khai là dài ba mét, rồi chia nhau với các ông hội đồng thành phố người Âu 1.600.000 phrǎng. Một ông kỹ sư khác, đồng thời kiêm cả nhiệm vụ phó đốc lý, biển thủ 300.000 phrǎng trong việc xây cống rãnh và sửa sang lại có một đường phố. Một ông kỹ sư địa chính và hội đồng thuộc địa nào đó đút túi hơn 900.000 phrǎng tiền công đo đạc để lập bản đồ đất đai ở ba tổng. Và, vì thấy ngài “thanh liêm” lắm và có chân trong công ty độc quyền hải cảng Sài Gòn, nên Chính phủ vừa mới giao cho ngài làm luôn cả các công việc đạc điền ở nhiều tỉnh khác.

Đại bợm nhất trong số kẻ cướp ấy là “Tổng công ty thuộc địa” vừa mới được nhượng hải cảng Sài Gòn – Chợ Lớn (Nam Kỳ). Cho hưởng độc quyền tức là cho công ty ấy hải cảng với cả đất đai nhà cửa, dụng cụ máy móc cần thiết để kinh doanh, cho quyền thu thuế và độc quyền vận tải để xuất cảng.

Như thế là, nông dân, tiểu thương, công nhân khuân vác ở cảng, chủ thuyền ở Nam Kỳ, tất cả mọi người đều bị phó mặc trong tay một công ty độc quyền ǎn cướp muốn làm gì thì làm, mà đại biểu là một tên kỹ sư và … là nghị viên hội đồng thuộc địa.

cpv.org.vn

Công chính

Thực dân Pháp đánh giá công ơn khai hoá của họ ở Đông Dương bằng những kilômét đường cái mà họ đã đắp bằng tiền và công sức của người An Nam. Song người Pháp cũng chỉ đặt đường xe lửa ở những nơi họ cần dùng để chuyên chở hàng hoá hay quân đội để đàn áp dân chúng; và đường sá đắp không phải để cho người bản xứ đi, vì những người này không có quyền tự do đi lại ngay cả đi từ tỉnh này sang tỉnh khác, mà là để phục vụ cho người Âu.

Có khi họ cũng hấp tấp xây dựng những công trình xa hoa lộng lẫy, nhưng không phải để cho những người đã bỏ tiền ra, không phải để cho người An Nam được hưởng.

Tai vạ là ở chỗ phần lớn những món tiền sẵn có lại thường đem dùng vào những việc phù phiếm (các quan sứ đi chơi, đi thanh tra, v.v.) còn đường sá cần thiết cho việc khai khẩn và thông thương trong xứ thì chỉ là những vũng nước đọng lầy lội, lún sụt, không thể đi được, dù cho trâu rừng cũng chịu. Đường cái, chỉ đẹp đẽ ở xung quanh tỉnh và các toà sứ còn ngoài ra thì ít ỏi, lại đắp và rải đá rất tồi. Không có lấy một con đường đi xe được vào các vùng đồng ruộng cày cấy.

Một con đường, để nối liền hai tỉnh Nam Kỳ, dài có 34 kilômét, nhưng đã ba mươi nǎm nay, họ mới đổ được ít đất và cát mà đã ngốn hết một số tiền khá lớn, đủ để lát được suốt con đường đó, từ đầu đến cuối, một lớp bạc dày.

ở Huế, người ta có đắp một đại lộ rộng 20 mét – thật ra là vô ích – chạy thẳng từ thành đến đàn Nam giao. Con đường ấy mở qua hai làng và một nghĩa trang, khi làm phải phá hay di chuyển mất sáu ngàn ngôi mộ. Người ta chẳng chịu bồi thường hay giúp đỡ gì cho các gia đình có nhà phải phá, có cây phải chặt, có mồ mả phải khai quật lên.

ở Bắc Kỳ, việc sửa sang tô điểm thành phố làm chẳng hết mấy đồng tiền, nhưng thiệt hại lớn cho người An Nam.

Một viên đốc lý người Pháp chỉ đơn giản ra một nghị định, bắt đắp một đường phố cho dài thêm, làm cho nhà cửa thẳng hàng, phá những lều tranh và phải làm lại bằng gạch. Những người nghèo khổ không có đủ tiền để tuân lệnh phải bỏ thành phố ra đi.

Người An Nam ở gần doanh trại bị đuổi đi. Họ được bồi thường bằng những miếng đất ở phố khác để dựng lại những túp lều tranh của họ.

ít lâu sau, người ta hạ lệnh cho họ phải xây nhà gạch. Nhiều người không có giấy chứng nhận quyền sở hữu vì trước kia sơ suất không xin nên phải bỏ nhà cửa. Thế là thành phố lấy lại đất và bán lấy tiền bỏ quỹ.

Trong phần nhiều các thành phố lớn, một hội đồng thành phố gồm toàn những người Âu, tuỳ ý sử dụng công quỹ do người bản xứ đóng góp mà chẳng đếm xỉa gì đến nguyện vọng và nhu cầu của những người An Nam khốn khổ này.

*

*     *

Một người Pháp tự hỏi: Có nước nào trên thế giới dám khoe như Đông Dương có nguyên liệu và nhân công rẻ mạt mà làm một đường xe lửa phải tốn phí từ 16 đến 20 phrǎng một xǎngtimét không ?

Khi làm đường hầm ở đèo Hải Vân, muốn cho công việc mau chóng, người ta đục cả hai đầu vào một lúc. Hai đoạn đục ở hai đầu vào không ǎn khớp với nhau, thành thử ra mỗi đoạn đã thành riêng biệt một đường hầm hoàn toàn. Hầm đục ngay giữa núi đá, thế mà người ta cứ phải xây thêm một lớp đá nữa ở ngoài, trát thật kỹ lưỡng làm hao tốn bao nhiêu của.

Đường Lạng Sơn, đắp để dùng vào việc bình định vùng ấy, dự trù hết có 4 triệu, nhưng làm xong tốn đến 38 triệu.

Chưa cắm được một cái mốc nào trên đoạn đường dự định làm, người ta đã cho trưng thầu cung cấp rất nhiều đường ray và nhiều vật liệu khác. Khi viên thanh tra gần tới, người ta đem chôn biến những đường ray đáng lẽ còn lâu lắm mới phải mua ấy, xuống những hố dài mấy kilômét.

Kỹ sư trù tính hết 94 triệu, nhưng khi chi tiêu lại mất đến 165 triệu.

Ông Combane, nhà thám hiểm kể trên, còn nói thêm rằng: Chỉ việc nghiên cứu để đặt đường xe lửa ở Đông Dương cũng đã tốn hết số tiền lớn có thể đủ để làm cả quãng đường ấy.

cpv.org.vn

Tạp dịch hay là khổ sai

 

Hằng nǎm, người An Nam phải làm một số ngày không công cho Nhà nước “bảo hộ”. Theo lệ, số ngày ấy định từ 10 đến 30 ngày. Nhưng khi có việc nhiều, chẳng hạn đắp một con đường, hoặc đào một cái lạch, người ta không tuân theo giới hạn quy định đó. Khi không có việc thì người bản xứ lại phải chuộc những ngày tạp dịch của mình, nghĩa là phải trả tiền cho Nhà nước thay cho những ngày không phải đi làm khổ sai không công ấy. Ngoài việc tạp dịch, còn có việc khuân vác. Mỗi lần có một người Pháp qua làng mình là người An Nam phải đi khiêng võng, khiêng đồ đạc cho ông ta, và khiêng cả võng và đồ đạc của những người tuỳ tùng của ông ta nữa. Nhiều khi, cả làng bị động viên đi làm cái việc không công ấy.

Nhưng thôi, tôi nhường lời cho chính người Pháp nói:

Công việc tạp dịch đã và vẫn còn là cơ hội cho người ta lạm dụng vô kể. Thường thì phu tạp dịch chỉ dùng để đắp những đường quanh các toà sứ để vài người Âu dạo cảnh. Tuy nhiên thỉnh thoảng có viên công sứ, tỏ lòng sốt sắng, quyết định làm một công trình quan trọng, như đắp một con đê hay khơi một cái lạch cho dòng nước chảy theo hướng khác. Trong trường hợp ấy, viên công sứ chẳng cần chú ý thảo ra một kế hoạch hợp lý, phân chia công việc làm sao khỏi cản trở đến công việc đồng áng; dân chúng phải đổ sức ra làm, và ảnh hưởng thường rất tai hại cho tình hình trong tỉnh.

Mới được tin viên Bộ trưởng Bộ Thuộc địa sắp sang thǎm Đông Dương, người ta đã lấy ngay một vạn người để hoàn thành gấp con đường V.L. để mời Ngài khánh thành.

Mùa hè nǎm 19… trong lúc nạn đói đang làm cho miền Trung Kỳ phải tiêu điều khổ sở, thì một vạn người An Nam bị lý trưởng làng họ bắt đi tập trung vét một cái lạch. Số dân đông đảo ấy, người ta không dùng hết mà vẫn cứ phải lìa xa đồng ruộng của mình hàng tháng giữa lúc hết sức cần thiết họ phải có mặt ở nhà. Cần chú ý rằng người ta chưa hề tập hợp một đoàn quân đông đảo như vậy bao giờ để ngǎn chặn một thiên tai. Trong thời kỳ kể trên, người ta có thể cứu vớt được những người chết đói khốn khổ ở Trung Kỳ, nếu người ta tổ chức từ Đà Nẵng trở đi một dây chuyền vận tải để tiếp tế cho các vùng bị nạn đói hoành hành; một vạn người vét lạch có thể phân phối trong các tỉnh của họ 2.000 tấn gạo trong một tháng.

Công việc đắp đường ở Đà Nẵng, ở Trấn Ninh và ở Lào đã để lại biết bao kỷ niệm xót xa. Người ta lấy phu làm đường trong đám dân đi tạp dịch. Họ phải đi bộ hàng trǎm kilômét mới đến được công trường, bị giữ lại nhiều ngày, sống trong những điều kiện ǎn ở và vệ sinh thảm hại. Không có tổ chức y tế. Dọc đường, lúc đi cũng như khi về, không có lấy một trạm cho họ nghỉ ngơi, một nơi cho họ trú ẩn. Cơm ǎn không đủ, chỉ với một tý cá mắm, nước uống thì uống ngay nước độc kinh khủng ở rừng núi. Bệnh tật, cực nhọc hành hạ tàn tệ đã gây nên chết chóc rùng rợn.

*

*     *

Người ta thay thế chế độ tạp dịch bằng chế độ trưng tập, và giữa hai chế độ chỉ có một điều khác nhau là tạp dịch còn có số ngày hạn định, mà trưng tập thì vô cùng. Chế độ trưng tập đã thoả mãn mọi nhu cầu; nếu nhà đoan cần chuyên chở muối, họ trưng dụng thuyền bè. Cần xây một cái kho ư ? Họ bèn trưng tập thợ thuyền và trưng dụng luôn cả vật liệu xây dựng.

Chế độ trưng tập trở thành chế độ phát vãng trá hình một cách vụng về. Bất chấp việc đồng áng, bất chấp cả những ngày hội hè hay những ngày không có nghĩa vụ gì cả, người ta trưng tập cả hàng xã, đưa đến công trường, mà rồi trở về chỉ là phần ít. Không nên kết tội đất đồng bằng hay rừng nhiệt đới nước độc, mà tội là ở chỗ thiếu thốn cả những nhu cầu đơn giản. Người ta trưng tập nhân công. Người ta làm đủ thứ cần thiết để rút những người lao động rời khỏi mảnh đất của mình, đưa họ đi xa hàng trǎm ngàn kilômét, nhưng chẳng bao giờ tổ chức một tý gì để đưa họ trở về quê quán.

*

*     *

Không mấy ai chưa từng nghe chuyện những đoàn phu bị cưỡng bức phải đi Langbiang. Trên đường đi những nơi rừng thiêng nước độc, đến những nơi thần chết đợi chờ, ǎn uống khổ sở, có ngày không được lấy hột cơm vào bụng, các đoàn ấy bỏ chạy tán loạn hay nổi lên chống lại, thì họ lại bị bọn lính áp giải đàn áp ghê gớm, và xác họ rải khắp nẻo đường.

Một viên quan cai trị được lệnh của chính phủ phải bắt phu cho quân đội ở Trung Quốc. Viên quan ấy liền cho túm cổ hết mọi người bản xứ đang lao dịch hoặc bốc hàng ở tàu, người ta trói họ lại và quẳng họ xuống tàu đợi sẵn ở bến mặc cho họ kêu ca phản đối, mặc cho vợ con họ khóc than thảm thiết, uất ức chẳng bao giờ lại được thấy mặt chồng, mặt cha nữa.

cpv.org.vn

 

 

 

 

Chính sách ngu dân

Người An Nam rất hiếu học. Trong các tầng lớp xã hội, người sĩ phu chiếm địa vị hàng đầu. Có con học giỏi là một vinh hạnh cho cha mẹ. Cho nên, dù có nghèo đói đến đâu, cha mẹ cũng cố tìm cách cho con cái được học hành. “Nửa bụng chữ bằng một hũ vàng” là một câu tục ngữ biểu hiện nhiệt tình ham muốn có học thức của dân tộc An Nam. ở làng xã nào cũng có trường công và trường tư. Chữ nho rất khó học thế mà hầu hết người An Nam đều biết “ký tên bằng chữ Hán”. Nạn mù chữ hầu như không còn.

Người Pháp đến đã làm đổi thay tất cả. Đời sống càng ngày càng khó khǎn. Thuế má nặng nề, phu dịch thường xuyên. Các gia đình khá giả nay bị sa sút không còn có thể nuôi thầy đồ dạy học cho con cái mình và con cái những người láng giềng như xưa nữa. Những kẻ nghèo đói thì bị bần cùng, nên họ phải chống đói đã rồi mới có thể nghĩ đến chuyện học hành.

Càng nghèo khổ thì số người thất học càng nhiều. Mặt khác, thực dân Pháp lại cố tâm huỷ bỏ Hán học mà chúng thấy là nguy hiểm cho sự thống trị của chúng, vì chúng biết rằng Hán học có thể đưa vào An Nam những tư tưởng tiến bộ phương Tây thông qua Trung Quốc và Nhật Bản. Người ta có thể tưởng rằng bỏ Hán học đi để đẩy lùi ảnh hưởng nước ngoài, người Pháp sẽ thay thế vào đó bằng nền giáo dục của họ. Không phải thế đâu. Thâm ý của họ chỉ là đẩy người An Nam vào vòng ngu tối. Tôi xin nêu ra sau đây một vài bằng chứng của người Pháp.

Đại tá Bécna viết: Về phương diện tinh thần, người Pháp không tổ chức một nền giáo dục mới thay thế cho nền giáo dục An Nam mà họ đã bỏ đi. Họ chỉ xây dựng được một ít trường học để đào tạo ra những con vẹt, những người vong bản thiếu đạo đức và thiếu cả kiến thức phổ thông.

Trong một bản báo cáo về tình hình Đông Dương, tướng Penơcanh cũng viết: Trong 50 nǎm chiếm đóng ở Nam Kỳ và 25 nǎm chiếm đóng ở Bắc Kỳ, những trường học Pháp không đào tạo lấy được một người An Nam thật sự có học thức.

Ông Mácxơ, vǎn sĩ thuộc địa, đã viết câu sau đây lột tả được đúng tư tưởng đang thống trị trong đầu óc của các nhà cai trị của chúng ta: Chúng ta chỉ cần dạy tiếng Pháp cho người An Nam, dạy cho họ biết đọc, biết tính toán chút ít thôi; biết hơn nữa chỉ là thừa vô ích.

Nhưng ngay cả nền giáo dục sơ đẳng ấy cũng chỉ được phổ cập một cách quá bủn xỉn và nhỏ giọt. Trường học rõ ràng là còn thiếu nhiều, giáo viên thì chưa đủ tư cách để giảng dạy. Cao Miên có 2.000.000 dân mà chỉ có 60 trường học. ở Trung Kỳ chỉ có 118 trường cho 6.000.000 dân. Trường học lập ra không phải để giáo dục cho thanh niên An Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho họ, mà trái lại càng làm cho họ đần độn thêm. Ngoài mục đích giáo dục để đào tạo tuỳ phái, thông ngôn và viên chức nhỏ đủ số cần thiết phục vụ cho bọn xâm lược – người ta đã gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa, vì một nền giáo dục như vậy chỉ làm hư hỏng mất tính nết của người đi học, chỉ dạy cho họ một lòng “trung thực” giả dối, chỉ dạy cho họ biết sùng bái những kẻ mạnh hơn mình, dạy cho thanh niên yêu một Tổ quốc không phải là Tổ quốc của mình và đang áp bức mình. Nền giáo dục ấy dạy cho thanh thiếu niên khinh rẻ nguồn gốc dòng giống mình. Nó làm cho thanh thiếu niên trở nên ngu ngốc. Điều gì có thể rèn luyện được cho học sinh biết suy nghĩ, biết phân tích thì người ta không dạy ở nhà trường. Vấn đề nào có liên quan đến chính trị, xã hội và có thể làm cho người ta tỉnh ngộ đều bị bóp méo và xuyên tạc đi. Có học lịch sử nước Pháp đi nữa, thì người ta không hề đả động đến chương nói về cách mạng. Người ta cấm học sinh đọc tác phẩm của Huygô, Rútxô và Môngtexkiơ. Nói tóm lại, trường học thật là tương xứng với chế độ đã khai sinh ra nó.

Cách đây vài nǎm, người ta ban cho chúng tôi một trường đại học. Một trường đại học thế nào? Theo những bài diễn vǎn chính thức và những lời tuyên truyền ầm ỹ xung quanh trường này thì trường đại học của chúng tôi có thể so sánh được với các trường đại học to nhất Âu châu kia đấy. Thực ra, thì hằng nǎm trường đại học chỉ sản xuất được hai ba ông cử nhân hạng tồi. Ông bố đỡ đầu cho cái trường “Xóocbon Annammít” ấy, hiện giờ là thống đốc Nam Kỳ, trong một lúc thành thật hiếm thấy xưa nay ở ngài, ngài đã thú nhận rằng chính ngài đã “hằng chǎm lo đến sự tiến bộ của cả dân tộc An Nam; mở trường y khoa và trường đại học là cốt để sau này (lời thú nhận vào tháng 3 nǎm 1924) người An Nam có thể thay thế người Pháp trong các chức vụ thứ yếu ở các công sở”.

Bên cạnh trường đại học đáng quý ấy, lập ra cốt để loè nước ngoài, để đưa ra khoe khoang trong các bài diễn vǎn và để lấy cớ ngǎn cấm người An Nam xuất dương du học, chúng tôi còn có một trường y khoa, một trường luật, một trường công chính, ba hoặc bốn trường chuyên nghiệp nữa, cho cả 20.000.000 dân.

Nhưng kết quả thu được ở các trường ấy thì như thế nào? Một tờ báo Pháp xuất bản ở Đông Dương đã trả lời câu hỏi đó như thế này: Số thanh niên An Nam có trình độ kỹ thuật chuyên nghiệp cao còn rất ít, rất ít người dân bảo hộ có thể đảm đương được xứng đáng chức vụ của một kỹ sư công chính, của một bác sĩ y khoa hay của một thanh tra hoả xa, chẳng hạn.

Cho nên bị chính sách ngu dân triệt để kiềm chế như vậy, người An Nam muốn học lên chỉ còn có 2 cách: đi du học ở nước ngoài hay ở Pháp. Nhưng nếu có một người An Nam nào có ý định đi du học nước ngoài thì sẽ bị coi như một người nổi loạn, một người chống Pháp, có tội lớn; người ta hãm hại người đó và cả gia đình họ. Anbe Xarô, nguyên toàn quyền Đông Dương, nay là Bộ trưởng thuộc địa đã nói rõ chính sách bao vây tinh thần ấy bằng những lời lẽ sau đây: “Để cho lớp thượng lưu trí thức được đào tạo ở nước ngoài thoát khỏi vòng kiềm toả của chúng ta, chịu ảnh hưởng vǎn hoá và chính trị của nước khác, thì thật là một điều nguy hiểm vô cùng. Những người trí thức đó trở về nước đã đưa hết tài nǎng của họ để tuyên truyền vận động chống lại chúng ta là những người bảo hộ đã ngǎn cấm không cho họ học tập”.

Còn sang du học ở Pháp lại là một chuyện khác hẳn. 1) Sinh hoạt ở Pháp đắt đỏ hơn ở Trung Quốc và ở Nhật Bản, nên du học sinh phải rất giàu mới có đủ tiền đến học ở một trường chính quốc. 2) Ngoài ra, người đó phải được bảo đảm về tinh thần nghĩa là cha mẹ anh ta phải có thái độ phục tùng Chính phủ; phải có bảo đảm về vật chất tức là phải đút lót thật nhiều cho các quan cai trị. 3) Du học sinh phải làm đủ các thể thức quái gở, vô ích và nhục nhã; những thể thức này thường làm cho người xin đi học phải nản chí, vả lại Chính phủ cũng chỉ muốn như thế thôi. 4) Khi đã sang Pháp, người du học sinh phải chịu sự giám sát, theo dõi và dò la của Chính phủ Pháp.

Chính phủ Pháp cố đưa du học sinh An Nam vào học ở những trường phản động nhất. Những sách vở báo chí mà anh ta đọc, những hoạt động, giao thiệp hằng ngày của anh đều bị kiểm soát, theo dõi. Người ta giao anh cho những tên ba que thực dân già đã về hưu trông nom. Chính phủ Pháp dựng lên một bức tường ngǎn cách hẳn du học sinh với những luồng tư tưởng chính trị và xã hội ở chính quốc. Để nắm chặt lấy anh ta, người ta dùng tiền thuế của người An Nam tổ chức ra những hội quán và câu lạc bộ cho du học sinh; ở đấy muốn làm gì thì làm, trừ việc học tập. Nếu anh sinh viên tỏ vẻ tự lập thì người ta sẽ bắt ép cha mẹ phải gọi anh ta về. Nếu anh ta không nghe, thì người ta cứ việc cắt lương của anh.

Học xong và nếu đã tốt nghiệp – dù tốt nghiệp bác sĩ y khoa, luật sư hay kỹ sư bách khoa – người An Nam muốn có việc làm ở trong nước thì phải nhập quốc tịch Pháp; mà muốn được vào làng Tây thì phải luồn lọt xin xỏ thật là nhục nhã và hèn hạ.

Muốn mở trường tư thì phải xin phép Chính phủ trước. Bất cứ lúc nào Chính phủ cũng có quyền kiểm soát hoặc bắt các trường phải đóng cửa.

Sau những cuộc biểu tình nǎm 1907 (58) mà tôi đã có dịp nói đến, Chính phủ cho lính tập về phá phách các trường học và bắt bớ giáo viên. Các ông giáo bị bắt, bị ngược đãi hành hạ, tay trói giật cánh khuỷu và bị dẫn từng xâu lên tỉnh lỵ; đầu trần, chân không, nhịn đói, nhịn khát, họ bị đánh đập như trâu ngựa, rồi bị kết án khổ sai. Còn trường học thì bọn sĩ quan Pháp dùng làm chuồng ngựa.

Mới đây, ở một tỉnh Nam Kỳ người ta thuyên chuyển cả một loạt giáo viên, lấy lý do là các nhà giáo đã quyết định xin ra hội mà trước kia họ bị bắt buộc phải gia nhập. Tên công sứ chủ tỉnh làm thủ quỹ hội này đã bắt giáo viên phải đóng thêm 40 phrǎng để bù vào tiền quỹ bị hụt. Các giáo viên bị thuyên chuyển đi cũng vì một lý do khác là tên phó sứ đã chửi mắng, làm nhục họ và doạ đánh vào mõm họ (nguyên vǎn).

Để làm rõ nét thêm cái chế độ tốt đẹp ấy, tôi cần phải nói thêm rằng: Chính phủ đã biếu bà quả phụ của một viên cựu thống đốc một món tiền là 1 triệu phrǎng, và trợ cấp 800.000 phrǎng cho 66 buổi kịch giải trí cho khoảng 3 hay 4 nghìn người Âu ở Sài Gòn; nhưng Chính phủ lại thu hồi khoản trợ cấp chỉ có 2.000 đồng cho một tổ chức giáo dục bình dân vì ông hội trưởng của tổ chức này là một người làng Tây có chân trong Hội đồng thuộc địa, đã viết những bài báo phản đối việc cho trưng thầu hải cảng Sài Gòn.

cpv.org.vn

—————————

58. Những cuộc biểu tình năm 1907: Phong trào cải cách bằng con đường hoà bình diễn ra sôi nổi khắp 3 kỳ trong năm 1907. Trung tâm của phong trào là các đô thị, nhất là Hà Nội. Những người cầm đầu phong trào này đều là các sĩ phu tiến bộ. Nội dung của phong trào chủ yếu là mở trường học, truyền bá tư tưởng mới, cổ động bỏ hủ tục và lồng vào đó là tư tưởng yêu nước, chống Pháp.

Tiêu biểu cho phong trào là Đông kinh nghĩa thục (từ tháng 3 đến tháng 11-1907) đứng đầu là Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ.

Phong trào đã diễn ra sôi nổi ở khắp nơi. Thông qua các cuộc diễn thuyết, bình văn thơ, các sĩ phu tuyên truyền những tư tưởng mới, đề cao tinh thần dân tộc, kích động và phát triển mạnh mẽ lòng yêu nước của nhân dân ta. Tr.402.

Báo chí

Nói xong vấn đề giáo dục, thì tự nhiên chúng tôi nghĩ ngay tới câu hỏi: Thế còn báo chí? Những điều tôi sẽ kể về báo chí An Nam nó kỳ dị quá đến nỗi khó mà tin được. Giữa thế kỷ XX này, ở một nước có đến 20 triệu dân mà không có lấy một tờ báo! Các bạn có thể tưởng tượng được như thế không? Không có lấy một tờ báo bằng tiếng mẹ đẻ của chúng tôi. Lý do như thế này. Chính quyền Pháp quyết định rằng không một tờ báo bằng tiếng An Nam nào được xuất bản nếu không được viên toàn quyền cho phép, rằng họ chỉ cho phép với điều kiện là bản thảo đưa đǎng phải trình viên toàn quyền duyệt trước đã, và giấy phép ấy họ thu hồi lúc nào cũng được. Tinh thần bản sắc lệnh về báo chí là như thế đấy. (Chúng tôi bị cai trị bằng chế độ sắc lệnh do viên toàn quyền ban bố chứ không phải bằng những đạo luật đã được thảo luận và biểu quyết ở nghị viện). Trên thực tế còn tệ hơn nữa. Mãi đến bây giờ, chưa có người An Nam nào được phép xuất bản một tờ báo cả.

Tôi gọi báo là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay vǎn học như ta thấy ở châu Âu và các nước châu á khác, chứ không phải một tờ do chính quyền thành lập và giao cho bọn tay chân điều khiển, chỉ nói đến chuyện nắng mưa, tán dương những kẻ quyền thế đương thời, kể chuyện vớ vẩn, ca tụng công ơn của nền khai hoá và ru ngủ dân chúng. Báo đầu độc người ta như thế, thì ở Đông Dương cũng có ba hay bốn tờ đấy.

Ngay cho đến cả những tờ thông tin thuần tuý về kinh tế và thương mại, người ký giả bản xứ cũng chỉ xin được phép bằng những biện pháp quanh co. Anh ta phải thuê tiền một người Pháp có địa vị và được kính nể. Ông này đi gặp quan cai trị và xin phép cho ông ta, là người Pháp. Vì ông ta vẫn sẽ là sáng lập viên của tờ báo, mặc dầu ông chẳng biết một tiếng An Nam nào gọi là có, ông chẳng phải bỏ tiền túi ra lấy một xu nhỏ, chẳng phải đụng tí gì đến công việc của tờ báo cả trừ việc đi gặp viên quan cai trị. Chỉ việc cho mượn tên mình, người Pháp kia nhận được hằng tháng một số tiền rất hậu mà người ký giả bản xứ phải trả cho ông lâu dài, báo còn ra là còn phải trả.

Trước khi đưa đi nhà in, tất cả các bài báo phải dịch ra tiếng Pháp và đưa kiểm duyệt đã. Cấm ngặt những tờ thông tin ấy không được đả động gì đến những vấn đề chính trị hay tôn giáo, mà chỉ được đǎng những tin tức thông thường, những vấn đề xét ra có lợi cho Nhà nước. Khi đất nước bị một thiên tai nào, lụt lội, bão táp, đói kém, v.v., phòng kiểm duyệt cấm báo không được cho dân chúng biết những tin “không vui” ấy, cấm báo không được mở lạc quyên giúp những người bị nạn. Báo không có quyền nói gì, dù chỉ bóng gió, đến việc bầu cử hội đồng thuộc địa hay hội đồng hàng tỉnh. Có một tờ, dịch ra tiếng An Nam đạo luật cấm những hành vi hối lộ trong việc tuyển cử, đã bị kiểm duyệt trắng mất nửa tờ báo mà còn bị khiển trách thêm nữa. Nhiều khi người ta cấm cả dịch đǎng những bài đã đǎng ở các báo tiếng Pháp xuất bản ở Đông Dương.

Các bạn chớ tưởng rằng mấy tờ báo thông tin khốn khổ ấy được tự do phân tích tất cả những cái thuộc về kinh tế. Chẳng hạn, họ không được nói đến đời sống đắt đỏ, đến việc mất mùa, đến việc buôn gian bán lậu của bọn con buôn người Âu, đến việc xoay xở tiền nong bất lương của bọn quan cai trị, đến những vụ đầu cơ đê tiện của bọn chủ đồn điền và chủ nhà máy người da trắng. Vừa rồi, người ta cấm báo chí không được đả động đến việc Chính phủ nhượng quyền kinh doanh hải cảng Sài Gòn, nếu không phải để tán dương công đức của công ty độc quyền và lòng vô tư của Chính phủ. Có một tờ cũng đã “tán dương”, nhưng kém nhiệt tình, nên phòng kiểm duyệt trước hết đã theo dõi bí mật, rồi đóng cửa hẳn tờ báo ấy.

Những người vào làng Tây, được hưởng quyền công dân Pháp, có thể xuất bản báo, nhưng chỉ bằng tiếng Pháp mà thôi – ở Nam Kỳ có 5, 6 tờ báo vào loại ấy. ở các vùng khác, không có tờ báo nào, vì không có hay có ít người vào làng Tây. Trong số các cơ quan ngôn luận ấy – thường là bán nguyệt san – có hai hay ba tờ có khuynh hướng quốc gia hợp pháp. Ghép hai tính từ trái ngược nhau ấy với nhau, có thể kỳ dị đấy và cần giải thích đôi chút. Những tờ báo này là của bọn tư sản bản xứ mới lên, có địa vị là nhờ ở nền đô hộ Pháp. Nền đô hộ ấy đã sinh ra bọn này, nhưng lại không để cho họ phát triển. Vì vậy, tầng lớp tư sản nhỏ bé đó bị ngạt thở trong phạm vi chật hẹp và phụ thuộc mà quan thầy ngoại quốc – cha đỡ đầu của họ- đã dành cho họ. Và vì thế, họ hờn mát nhưng cũng nhè nhẹ thôi. Bởi thân phận nửa dơi nửa chuột của họ, chẳng thuộc hoàn toàn trong xã hội An Nam vì họ là những người vào làng Tây, mà cũng chẳng thuộc trong tầng lớp “quý tộc” Tây vì họ xuất thân ra là người An Nam – nên họ cảm thấy lúng túng trong mọi việc. Đồng thời trong mọi hành động và tư tưởng của họ, đều thấy cái mâu thuẫn xã hội và tâm lý ấy. Báo của họ chỉ trích những vụ hà lạm, nhưng lại phỉnh nịnh những kẻ hà lạm; họ than phiền về những đạo luật đè nén áp bức, nhưng vẫn cậy thế vào nước mẹ; họ mủi lòng cho số phận khốn khổ của người An Nam, nhưng vẫn ca tụng công đức mơ hồ của một nền khai hoá tốt đẹp hơn. Họ muốn chữa bệnh, nhưng lại không dám tìm và tấn công vào nguồn gốc của bệnh.

Ảnh hưởng của họ bị cản trở mọi đường:

a) Vì chính sách ngu dân như các bạn đã biết, nên độc giả chỉ có một dúm người rất hạn chế. Mỗi số phát hành không bao giờ quá một hay hai nghìn bản, ấy thế mà bán không hết.

b) Vì thái độ lừng chừng, vì không có chương trình cụ thể, không có kế hoạch rõ ràng, không có khuynh hướng mạnh dạn, nên mấy tờ báo ấy không thu hút được cảm tình của dân chúng. Họ ngả nghiêng, hay đúng hơn, lơ lửng giữa dân chúng mà họ không gần gũi được và những kẻ thống trị không ưa họ.

c) Nhà nước thuộc địa cố tâm phá phách họ. Họ bị phá bằng nhiều cách. Sau đây là những cách thông thường nhất:

1. Nhà nước báo cho công chức và nhân viên người bản xứ biết rằng cấp trên đã coi những tờ báo ấy như làm cách mạng, rằng những người nào đọc những báo đó sẽ bị ghi danh sách riêng, và dĩ nhiên là bản danh sách ấy sẽ đính theo báo cáo thǎng hay giáng chức.
Có nhiều công chức đã bị bắt buộc phải đổi đi chỗ khác hay bị bắt về hưu chỉ vì đã vi phạm những điều rǎn đe ấy.

2. Đối với những độc giả không phải là công chức (tôi nói không phải là công chức chứ không nói tự do, vì ở đất nước chúng tôi không ai được tự do cả, trừ bọn xỏ lá ba que ra) thì viên quan cai trị cho gọi họ đến bàn giấy, ân cần khuyên bảo họ điều hơn lẽ thiệt. Nếu họ không biết nghe những lời khuyên tử tế ấy, thì họ bị cảnh sát theo dõi. Và cứ mười lần thì có đến chín, báo chí và thư từ của họ bị thất lạc như bị phép thần. Chính phủ hãy tạm vui lòng như thế trong lúc chờ đợi cơ hội để tóm cổ họ vì lẽ này hay lẽ khác.

3. Chính phủ cho bọn chủ nhà in lựa chọn nên làm việc cho một tờ báo “tin vịt không biết điều” được ít tiền, hay nên nhận in cho Nhà nước được lợi lộc và bảo đảm hơn nhiều.

Vì thế, một tờ báo ở Sài Gòn đã buộc phải đổi chủ in nhiều lần trong một tháng.

4. Chính phủ vi phạm quyền tự do thư tín, ngay cả thư riêng của các ký giả. Những người này bị “ghi” vào sổ đen, bị theo dõi, dò la, do thám và vu cáo. Chính phủ dùng cả áp lực đối với gia đình, bà con thân thuộc và bè bạn họ nữa. Chỉ nhờ địa vị có làng Tây và nhờ mánh khoé khôn khéo kết thúc mọi bình luận bằng cách nịnh hót tâng bốc hết mức nước mẹ bảo hộ, nhân từ, thiêng liêng, v.v. mà họ thoát khỏi đi tù.

Báo chí bản xứ bằng tiếng Pháp bị phá phách như vậy đấy. Những hành vi bất hợp pháp của lối trị an đê hèn ấy còn được tǎng cường và bổ sung thêm bằng những điều lệ pháp lý như thế này: “Mọi việc trưng bày hay gửi đi nơi khác những bài hát, bức hoạ hay tranh ảnh trái đạo tôn kính đối với các vị đại diện của Nhà nước, sẽ bị trừng phạt bao nhiêu tháng tù và phạt tiền bao nhiêu phrǎng đó, v.v.”.

Chưa hết đâu. Nền vǎn minh của thực dân đã dùng ngọn đuốc cổ truyền thủ tiêu đến chút tự do cuối cùng của người bản xứ. Đã làm cho người bản xứ phải đần độn và câm, chúng vẫn chưa vừa lòng; chúng còn muốn họ phải điếc nữa kia. Chúng bịt tai họ không cho họ nghe tiếng vang của những biến cố bên ngoài. Chỉ đơn giản bằng một nét bút, chúng đình chỉ hẳn đời sống tinh thần của cả một dân tộc. Cũng sắc lệnh vừa kể trên định rằng: “Sự lưu hành báo và tạp chí bất cứ bằng tiếng gì, có thể bị cấm do một nghị định của quan toàn quyền”. Các bạn có tin chắc rằng quan toàn quyền nhân từ chẳng sơ suất gì mà không dùng và lạm dụng quyền hành ấy. Báo chí bằng tiếng Pháp, xuất bản ở Pari, gửi sang đều bị tịch thu ở Đông Dương. Sở bưu chính, sở mật thám và các cơ quan hành chính cùng nhau làm nhiệm vụ đê hèn ấy. Và người ta doạ trừng phạt những người có tên nhận những tờ báo ấy. Người ta cấm ngặt không cho đọc báo Nhật và Trung Quốc. Giữ một tờ tạp chí, một quyển sách Trung Quốc nào đó có thể là một trọng tội đối với người An Nam. Tôi biết nhiều nhà vǎn thân bị kết án khổ sai chung thân vì đã đọc tạp chí Trung Quốc hồn, ẩm bǎng và những bài cùng loại ấy của các nhà duy tân Trung Quốc. Nǎm 1920, có nhiều người An Nam ở Bắc Kỳ bị kết án từ hai đến nǎm nǎm tù, chỉ vì một người đã làm thơ ca tụng tự do và các người khác đã nghe ngâm bài thơ ấy.

cpv.org.vn

Thuế khoá

Chính sách thực dân ǎn cướp, chẳng những đã tước đoạt mất ruộng đất, của cải, đã xoá bỏ hết mọi quyền lợi, mọi quyền tự do – kể cả quyền tự do thân thể của người dân bản xứ, mà còn bắt họ phải nộp thuế về những mảnh đất cằn cỗi còn lại trong tay họ, nộp thuế về nghề nghiệp sinh sống của họ, nộp cả thuế không khí mà họ thở nữa.

Đột nhiên người ta tǎng thuế thân từ một hào lên hai đồng rưỡi. Những người chưa đến tuổi nộp sưu, nghĩa là dưới 18 tuổi, trước kia không phải đóng góp gì, thì nay phải nộp một thứ thuế nặng gấp mấy lần thuế thân của suất đinh trước kia.

Người ta không những tǎng thuế lên gấp bội và bắt những người chưa hề phải đóng góp nay phải đóng góp, mà điều tai hại nhất đối với dân đinh là thuế suất thay đổi luôn và người dân bị bắt buộc phải mang nhiều loại thẻ tuỳ thân, thẻ thông hành, do đó mà phải đóng góp hết sức vô lý và có tính chất cưỡng bức.

Người An Nam bắt buộc lúc nào cũng phải mang thẻ thuế thân trong người, ai hỏi đến đều phải xuất trình. Thẻ dễ bị nhàu nát và bẩn thỉu, nhưng người nào quên hoặc đánh mất thẻ thì bị bắt và bị tù.

Nǎm 1919, người ta đã bỏ việc phân hạng đóng thuế thân ở Bắc Kỳ, chỉ bằng một nghị định của thống sứ. Mọi người dân từ 18 đến 60 tuổi, đều phải nhất luật đóng 5 đồng thuế thân.

Theo một nghị định khác thì bất cứ người An Nam nào không mang thẻ đều có thể bị tù và buộc phải đóng thuế một lần nữa dù trước kia người đó đã nộp rồi.

Để bù vào chỗ hao hụt do đồng bạc bị sụt giá, một viên toàn quyền đã có sáng kiến tǎng gấp bội số người phải chịu thuế lên để bắt các xã phải đóng góp thêm.

*

*     *

Người An Nam phải đóng thuế nặng hơn người ấn Độ, Mã Lai, Nam Dương và Nhật Bản nhiều. Nhưng đời sống kinh tế ở Nam Dương, ấn Độ và Nhật Bản lại cao hơn ở Đông Dương nhiều lắm, dân những nước này có thể đóng góp dễ dàng số thuế quá nặng đối với người An Nam.

*

*     *

Trước thời Pháp thuộc, bộ thuế điền thổ ghi đầy đủ ruộng đất công và ruộng đất tư có phân hạng theo loại sản vật trồng trọt. Thuế suất chỉ đánh từ một đến nǎm hào một mẫu đối với ruộng cấy lúa. Đối với các loại ruộng đất khác, thuế suất đánh từ hai hào đến một đồng tư. Đơn vị diện tích là mẫu tức là một diện tích vuông mỗi cạnh độ 150 thước. Chiều dài của một thước An Nam thay đổi tuỳ từng tỉnh từ 42, 47 đến 64 xǎngtimét, do đó diện tích một mẫu tuỳ nơi có thể là 3.970, 4.900 hoặc 6.200 mét vuông.

Để tǎng thêm thu nhập cho Nhà nước, người ta dùng một đơn vị đo đạc, dài 40 xǎngtimét, ngắn hơn tất cả các đơn vị thường dùng, vì vậy diện tích một mẫu chỉ còn 3.600 mét vuông. Bằng cách đó thuế điền thổ đã tǎng lên nhiều hay ít khác nhau tuỳ từng tỉnh: nơi thì tǎng một phần mười, nơi thì tǎng một phần ba, nơi bị thiệt thòi nhất thì tǎng đến hai phần ba.

Từ 1890, thuế trực thu tǎng lên gấp đôi; từ 1896 đến 1898 tǎng lên một nửa và cứ như thế tǎng lên mãi. Các xã thì cứ nai lưng ra đóng góp; còn biết kêu ai bây giờ? Bóp nặn được thì bọn công sứ lại càng ra tay bóp nặn. Bọn Pháp này cho rằng các xã vẫn ngoan ngoãn nộp đủ thuế thì tức là thuế má chưa đến nỗi quá nặng nề!

*

*     *

Hằng nǎm người ta phân bổ cho mỗi làng phải nộp thuế cho một số đinh và một số ruộng đất các hạng. Cần có thêm tiền để chi tiêu chǎng? Người ta cứ sửa lại con số, mặc dầu đang giữa nǎm, rồi người ta bắt các làng phải đóng đủ thuế cho số đinh, điền cao hơn số quy định đầu nǎm. Vì thế mà ở một tỉnh Bắc Kỳ, toàn bộ diện tích chưa tới 120.000 hécta mà bản thống kê lại ghi những 122.000 hécta ruộng và cứ như thế, người An Nam vẫn phải cúi đầu đóng thuế khống cho những ruộng đất không có thực. Có kêu ca cũng chẳng ai thèm nghe!

Không những thuế đã nặng nề mà lại còn thay đổi luôn.

Việc Chính phủ có nhân nhượng phần nào trong việc thu một số khoản thuế lưu thông hàng hoá đã làm cho dân làng bị phiền nhiễu hơn và đã mở đường cho tệ nhũng lạm. Có hôm người ta tha không đánh thuế cho một người gánh một gánh cau, nhưng hôm sau người ta lại bắt người đó đóng thuế tuy gánh một gánh nhẹ hơn. Đánh thuế như vậy thì khó mà công bằng được. Người ta cấp một giấy phép lưu thông cho 150 kilôgam thuốc lào. Sắp xếp làm sao để khỏi phải đánh thuế nhiều lần vào cùng một số thuốc đó khi số hàng này đã chuyển sang tay một chủ khác, hay khi 150 kilôgam thuốc đó đã đem chia cho ba, bốn người mua? Chỉ có tuỳ ở các ông nhà đoan, muốn làm gì thì làm chứ không có luật pháp nào cả. Cho nên người An Nam rất sợ nhà đoan, thoáng thấy nhân viên nhà đoan là họ đã vứt ngay giữa đường thúng muối, thúng thuốc lá hay thúng cau mà họ đang gánh trên vai; thà mất của còn hơn là đóng thuế quá nặng. Có vùng, người An Nam buộc phải nhổ thuốc lào, chặt cau đi, để tránh khỏi bị phiền nhiễu vì các thứ thuế mới.

Nǎm ngoái, miền trung Trung Kỳ bị điêu đứng vì nạn đói. Không cứu giúp thì chớ, Chính phủ còn tǎng thuế lên 30%.

Nhiều tỉnh ở Nam Kỳ bị nạn lụt phá hoại. Người ta cấm người An Nam bàn đến việc đó và cấm tổ chức lạc quyên giúp đồng bào của họ bị nạn. Hơn nữa, trong lúc dân chúng đói khổ vì thiên tai như vậy người ta vẫn bắt dân đóng thuế như thường lệ. Để thu cho được thuế, đã xảy ra bao nhiêu vụ lạm quyền, bao nhiêu cuộc truy bức thậm tệ đối với dân bị nạn.

Ở Cao Miên, có nhiều phụ nữ khốn khổ, chân mang xiềng sắt, phải đi quét đường. Họ chỉ có một tội là không nộp được thuế.

cpv.org.vn

Cuộc kháng chiến

Mặc dầu bọn vua chúa ươn hèn, mặc dầu địch đang chiếm ưu thế và mặc dầu chế độ quân chủ đã làm cho dân chúng quen lạnh nhạt, bàng quan, dân chúng cũng không thể chịu ách ngoại bang mà không bền bỉ chống lại. Lúc mới thấy các tàu chiến lớn và súng ống tinh xảo thì ngạc nhiên, nhưng khi cảm giác đầu tiên ấy đã qua thì những người yêu nước An Nam liền tổ chức đấu tranh. Cuộc xâm chiếm Đông Dương bắt đầu từ nǎm 1858 mãi đến 1909 mới kết thúc. Chính trong thời kỳ này, khi nhà ái quốc Đề Thám chết thì công cuộc chống Pháp có tổ chức và có vũ trang chấm dứt. Người anh hùng dân tộc ấy cùng với một ít nghĩa quân kiên quyết của ông đã chiếm lĩnh cả một tỉnh nhỏ và đương đầu với thực dân Pháp trong nhiều nǎm. Trong thời kỳ chiến tranh ở châu Âu, nhiều cuộc bạo động đã nổ ra nhưng lại bị dẹp tắt ngay trong biển máu. Trong số các cuộc khởi nghĩa đó, cần chú ý đến cuộc nổi dậy của binh lính An Nam – binh lính sắp được đem sang Pháp – do ông vua trẻ Duy Tân tổ chức. Sau khi âm mưu bại lộ, vua Duy Tân bị phế và đày sang châu Phi.

Trong cuộc đấu tranh tuyệt vọng của một dân tộc bị áp bức có nhiều hành động oanh liệt và nhiều sự hy sinh lớn, giá kể được ở đây để các bạn biết thì hay lắm, nhưng không thể nói hết được trong phạm vi nhỏ hẹp của buổi nói chuyện này của chúng ta. Vậy nên tôi chỉ có thể nhắc lại đây một đoạn hồi ký của phó đô đốc Rêvâye như sau:

“Nếu chúng ta đánh giá một người qua phẩm chất đạo đức chứ không phải qua những tri thức của người đó, thì chúng ta sẽ bớt kiêu cǎng về tính chất cao đẳng của chúng ta đối với người Viễn Đông, những người biết hy sinh một cách có ý nghĩa.

Nǎm 1862, chúng tôi được phái đi đàn áp một cuộc khởi nghĩa. Viên tư lệnh V. sai một trung uý đem quân chặn đường rút lui của nghĩa quân sau khi họ bại trận.

Mặt trời vừa lặn thì viên trung uý đem lính trở về, rất mệt mỏi, người đẫm bùn. Không thấy tù nhân, thấy nét mặt ai cũng có vẻ bối rối, chúng tôi biết ngay là cuộc chinh phạt này không kết quả. Những người An Nam dẫn đường, đầu cúi xuống, tay bị trói, đang đi giữa bốn người lính mang súng. Thân thể họ, gần như trần truồng, mang đầy vết thương. Viên trung uý bước tới trước viên tư lệnh và lúng túng nói:

– Thưa quan tư lệnh, từ sớm những người đưa đường đã dẫn chúng tôi khắp nơi, lội bùn ngập đến bụng, nhưng chúng tôi không tìm thấy một người chạy trốn nào cả.

Viên tư lệnh cho gọi hai người An Nam đến hỏi.

Hai người này là hai anh em vì họ giống nhau lắm. Chỉ có người anh trả lời những câu hỏi của viên tư lệnh:

– Chúng mày biết chỗ, chúng mày đã thú nhận rồi kia mà.

– Có, chúng tôi có biết chỗ.

– Tao đã giải thích cho chúng mày rất kỹ việc hướng dẫn lính đi tìm ở đâu và bằng cách nào rồi. Chúng mày đã khai hiểu rõ hết.

– Chúng tôi hiểu.

– Tao có nói: “Nếu chúng mày dẫn quân lính đi đúng đường thì chúng mày sẽ thoát chết; nếu đem họ đi lạc thì chúng mày sẽ bị xử bắn”, có đúng tao đã nói như thế không?

– Ông chỉ huy có nói như vậy.

– Chúng mày đã cố tâm làm lạc hướng cả đội quân trong đồng lầy.

Hai chàng thanh niên đứng im lặng.

– Lúc ra đi, tao đã nói trước rằng chúng mày sẽ bị bắn, nếu chúng mày không đưa đúng đường… Có phải như thế không? Trả lời đi.

– Ông chỉ huy có bảo như vậy, người anh cả trả lời.

– Vậy chúng mày biết trước chúng mày sẽ bị xử bắn chứ ?

– Chúng tôi đang chờ đây.

Người Nam Kỳ ấy trả lời với một thái độ chịu đựng rất thản nhiên của người á Đông. Thấy tra vấn đã xong, hai người An Nam chào đi ra.

Viên tư lệnh gọi một tên cai người Thổ Nhĩ Kỳ và bảo: “Lấy bốn lính và đem bắn hai tên tù này sau trại”.

Tên cai Thổ Nhĩ Kỳ vẫy hai người An Nam hai người này đi theo không hề ngập ngừng và cũng chẳng kêu ca gì. Một lát sau, tiếng súng nổ.

Viên tư lệnh mặt bừng đỏ, quay về phía chúng tôi nói: “Thật là anh hùng… ở Hy Lạp có lẽ người ta phải dựng tượng họ đấy, còn tôi, tôi phải bắn họ”.

Đến sáng, nhìn ra ngoài pháo thuyền, chúng tôi thấy bên bờ một tấm biển lớn đóng vào thân cây. Người thông ngôn dịch lại cho chúng tôi nghe một đoạn như sau:

“Các ông đã chiếm mất nhiều tỉnh của chúng tôi để làm giàu thêm cho đế quốc các ông, để cho thanh danh các ông càng thêm rạng rỡ. Các ông có đòi chúng tôi chuộc lại đất đai không ? Chúng tôi sẵn sàng trả, miễn là các ông đừng đánh nhau với chúng tôi nữa và đem quân trở về nước.

“Nhưng nếu các ông từ chối, chúng tôi sẽ không ngừng chiến đấu để tuân theo ý trời. Chúng tôi cũng có chút e ngại trước thế lực của các ông, nhưng chúng tôi sợ trời hơn sức mạnh của các ông. Chúng tôi nguyện sẽ chiến đấu mãi mãi không nghỉ. Khi không còn gì nữa, chúng tôi sẽ lấy cành cây làm cờ, làm gậy để vũ trang cho quân đội chúng tôi. Lúc đó các ông làm thế nào mà có thể sống được với chúng tôi?”.

Đây không phải là những lời nói suông: chưa có một dân tộc nào dám tổ chức kháng chiến trong một tình trạng nguy nan như thế.

Lúc phái quốc gia hấp hối, tôi bắt được một tù nhân có mang theo một khẩu súng lục. Tôi tiếc không giữ lại khẩu súng ấy. Súng làm bằng một cái ô! Tay cầm cán ô dùng làm báng súng; cán ô cắt ngắn còn chừng hai mươi xǎngtimét làm nòng súng; trên nòng có đục một lỗ nhỏ để cắm ngòi thuốc nổ.

Với những khí cụ như vậy, và sau những tai biến khủng khiếp, những người chủ trì còn lại của một dân tộc đã bị dồn đến bước đường cùng – vẫn chiến đấu chống lại quân đội phương Tây. Đôi khi họ giết một vài người chúng tôi bằng cạm bẫy, nhất là họ đã làm cho chúng tôi chết vì bệnh tật, vì phải đuổi theo họ trên những cánh đồng lầy uế khí, dưới ánh nắng gay gắt.

Có nhiều lần đuổi theo bắt những người yêu nước đó mà chúng ta thường gọi là kẻ phiến loạn, tôi cảm thấy vô cùng thương xót cho cả dân tộc ấy và cảm phục những người chỉ huy của họ, những người vững lòng tin ở công lý và có một nghị lực bất khuất.

Cuộc đại chiến kết thúc, dân tộc An Nam cũng như các dân tộc khác đã bị mê hoặc theo những lời tuyên bố rộng rãi của Uynxơn về quyền dân tộc tự quyết. Một nhóm người An Nam trong đó có tôi, đã gửi cho nghị viện Pháp và tất cả những đoàn đại biểu ở Hội nghị Vécxây một bản yêu sách sau đây:

YÊU SÁCH CỦA NHÂN DÂN AN NAM

Từ ngày Đồng minh thắng trận, tất cả các dân tộc bị lệ thuộc đều chứa chan hy vọng rằng theo những lời cam kết chính thức và trịnh trọng mà các cường quốc Đồng minh đã tuyên bố với toàn thế giới, trong cuộc đấu tranh của Vǎn minh chống Dã man, thì tiền đồ một thời đại công lý và chính nghĩa nhất định là phải đến với họ.

Trong khi chờ cho nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnh vực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận thật sự, nhân dân nước An Nam trước kia, nay là xứ Đông – Pháp, xin trình bày với các quý Chính phủ trong Đồng minh nói chung và với Chính phủ Pháp đáng kính nói riêng, những yêu sách khiêm tốn sau đây:

1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;

4. Tự do lập hội và tự do hội họp;

5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;

6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;

7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ;

Cuối bản yêu sách, chúng tôi có viết thêm rất nhiều câu ca tụng nhân dân và nhân đạo.

Nhưng sau một thời gian nghiên cứu và theo dõi, chúng tôi nhận thấy rằng “chủ nghĩa Uynxơn” (59) chỉ là một trò bịp bợm lớn. Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới.

cpv.org.vn

—————————-

59. Chủ nghĩa Uynxơn: Uynxơn là Tổng thống Mỹ từ năm 1913 đến 1921. Năm 1917, Uynxơn tuyên bố nước Mỹ tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất, đứng về phía Anh, Pháp để chống Đức. Khi chiến tranh sắp kết thúc, Uynxơn đưa ra “Chương trình 14 điểm” làm cơ sở cho Hội nghị Vécxây (1919). Nói chủ nghĩa Uynxơn là nói “Chương trình 14 điểm” đó. Thực chất của nó là chính sách đối ngoại ăn cướp của đế quốc Mỹ chống lại nước Nga Xôviết mới ra đời, lợi dụng sự suy yếu của các nước tư bản châu Âu để nâng cao địa vị quốc tế của Mỹ và tăng cường nô dịch các dân tộc bị áp bức. Nhưng nó lại được che giấu bằng những lời lẽ mị dân về “dân chủ” và “quyền dân tộc tự quyết”.

Bác Hồ một thiên tài dự báo

Bác Hồ là một vĩ nhân có tầm nhìn xa, trông rộng, có sự mẫn cảm chính trị hiếm có trong lịch sử đất nước ta, dân tộc ta. Với tầm nhìn chiến lược và khả năng tiên tri tuyệt vời, Bác đã đưa ra những dự báo lịch sử tiên đoán về cách mạng, chứng tỏ Bác là một thiên tài dự báo.

Đầu thế kỷ XX, dân tộc ta đắm chìm trong đêm trường nô lệ. Lớp lớp sĩ phu, văn thân, hào kiệt đứng lên chống giặc ngoại xâm nhưng đều thất bại. Cách mạng Việt Nam chưa có đường ra. Xã hội Việt Nam lâm vào khủng hoảng đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc. Vượt lên hạn chế của các nhà yêu nước tiền bối, Bác Hồ đã tìm đến chủ nghĩa Mác – Lênin và đi theo con đường cách mạng vô sản. Bác cho rằng “cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đó thực sự là tiên tri lịch sử của Bác và tiên tri đó đã được lịch sử cách mạng nước ta và nước khác trên thế giới trong thế kỷ XX chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.

Năm 1942, khi đang hoạt động cách mạng ở Cao Bằng, viết cuốn sách “Lịch sử nước ta”, Bác Hồ đã tiên đoán: “1945 Việt Nam độc lập”. Ba năm sau, Cách mạng Tháng Tám thành công, nước ta giành được độc lập, lịch sử cách mạng Việt Nam một lần nữa chứng minh tiên tri cách mạng của Bác Hồ là hoàn toàn chính xác.

Bh la thien taiHồ Chủ tịch trong phòng làm việc của Người ở căn cứ Việt Bắc – Ảnh: Tư liệu

Trước Cách mạng Tháng Tám, những năm chiến tranh thế giới lần thứ hai đã nổ ra, lan rộng nhiều nước, ở Việt Nam, dân tộc ta trong tình cảm “Một cổ đôi tròng”, Bác Hồ đã nhận định: “Nay cơ hội giải phóng đã đến rồi, đế quốc Pháp bên Âu đã không thể tự cứu, càng không thể cứu bọn thống trị Pháp ở ta. Đế quốc Nhật đã bị sa lầy ở Trung Hoa, lại đương gay go với Anh, Mỹ” và “nếu cuộc chiến tranh đế quốc lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc chiến tranh đế quốc lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”. Đó là tiên tri lịch sử của Bác và tiên tri đó thành hiện thực lịch sử những năm giữa thế kỷ XX. Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, những ngày đầu, tháng đầu lập nước, nước ta trong tình thế gieo neo “nghìn cân treo sợi tóc”. Với tầm trí tuệ và sự mẫn cảm chính trị của vị lãnh tụ vĩ đại, Bác Hồ nhìn thấu những khó khăn phức tạp đe dọa vận mệnh đất nước và Bác dự báo dân tộc ta phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhờ dự báo của Bác, nước ta chủ động kéo dài thời gian hòa hoãn, chuẩn bị nhân lực, vật lực cho cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi đã kéo dài 9 năm ròng rã.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta, mùa xuân năm 1947, Bác Hồ đã chỉ thị cho bộ đội phải anh dũng, kiên trì chiến đấu và gây cơ sở trong đồng bào các dân tộc Tây Bắc, phải “đem được lá cờ đỏ sao vàng cắm trên đất Điện Biên Phủ”. Tháng 6 năm 1949, viết tác phẩm “Giấc ngủ 10 năm”, lấy bút danh Trần Lực, Bác Hồ đã dự đoán chiến thắng Điện Biên Phủ” trận cuối cùng kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân pháp” và trận ấy “hơn một vạn giặc chết và bị thương”. 5 năm sau, ngày 7/5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, quân dân ta chiến thắng, dự báo của Bác, thêm một lần nữa, lại đúng.

Trong thời kỳ đế quốc Mỹ thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở miền Nam nước ta, đất nước ta bị chia cắt làm hai miền, trong “Bản thảo diễn văn nhân kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 15 nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 2/9/1960”, Bác Hồ đã viết: “Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc Nam nhất định sẽ sum họp một nhà”. Mười lăm năm sau, với đại thắng mùa xuân năm 1975 của quân dân ta, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, tiên tri của Bác trở thành một hiện thực lịch sử.

Là một thiên tài dự báo, một lãnh tụ vũ đại của dân tộc ta, người chiến sỹ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế, Bác Hồ được vinh danh trên đất nước ta và trên thế giới. Tại Hội thảo quốc tế “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa lớn” tổ chức tại Hà Nội năm 1990, tiến sĩ M.Át-Mét, Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đại diện đặc biệt của Tổng giám đốc UNESCO đã phát biểu: “Trong lịch sử thế giới chỉ có ít nhân vật trở thành huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người luôn được thế giới ghi nhớ không phải chỉ là người có công giải pháp cho đất nước mình và các dân tộc bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết thông thái, một tấm gương trong sáng thanh cao về cuộc sống, để lại một tư tưởng với viễn cảnh hy vọng mới cho những người đấu tranh loại bỏ bất công, bất bình đẳng khởi mặt đất này”.

Theo Trung Thành/ Báo Lạng Sơn online
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Thắt lưng của Bác

Trong suốt cuộc đời hi sinh vì dân vì nước, Bác đã gần như quên đi những gì thuộc về bản thân mình. Chúng ta, và cả người nước ngoài, đã biết tới đôi dép cao su, những chiếc áo, chiếc quạt, viên gạch sưởi lưng… vô cùng giản dị của Bác.

Nhân đọc một tư liệu lịch sử mới xuất bản của Trung Quốc (Chu Ân Lai và Hội nghị Geneve, Nhà Xuất bản Lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc) có một tình tiết mới rất cảm động về chuyện riêng của Bác Hồ mà lâu nay chúng ta chưa biết. Chuyện xoay quanh chiếc thắt lưng.

Thời kỳ đó là tháng 6 năm 1954. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu Đoàn đại biểu Việt Nam tới Geneve để đàm phán. Hội nghị kéo dài được gần một tháng thì các bên tạm nghỉ để về nước báo cáo lập trường các bên cho chính phủ mình.

Phía Trung Quốc đã mời phái đoàn Việt Nam sang Trung Quốc để trao đổi. Phái đoàn Việt Nam do Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu.

Hôm đó, Bác Hồ nghỉ tạm tại nhà nghỉ Đảng bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Quảng Tây. Sáng Bác Hồ đi họp. Ở nhà, một đồng chí của bạn đi kiểm tra phòng Bác xem các đồng chí phục vụ phòng có chu đáo không. Sau khi kiểm tra một lượt, đồng chí này thấy trên sàn nhà một mảnh vải đã cũ, dài khoảng 80cm, rộng khoảng 10cm, màu vàng đã bạc. Đồng chí này cầm lên xem, không hiểu là vật gì. Đoán đây là dây gói tài liệu rớt ra sau khi cầm tài liệu đi, đồng chí này bỏ mảnh vải vào thùng đựng giấy rác.

Bác đi họp về, hỏi: “Thắt lưng của tôi đâu? Tôi thường để sau ghế tựa nên bị rơi xuống đất”. Mọi người tìm và đưa lại cho Bác.

Một chiếc thắt lưng bằng da, bằng dây dù… cũng không đắt hơn một miếng vải là bao. Nhưng vấn đề ở đây: Cái quí báu trong nhân cách của Bác là tính cách luôn hi sinh, cái riêng bao giờ cũng là tối thiểu, cái dành cho sự nghiệp chung bao giờ cũng được ưu tiên tối đa. Phẩm chất trong sáng thể hiện thường trực trong những cử chỉ của Bác, dù nhỏ nhất.

Thời điểm đó, sau chiến dịch Điện Biên Phủ, thắt lưng chiến lợi phẩm thu được rất nhiều, nhưng Bác vẫn chỉ tiếp tục dùng chiếc thắt lưng quen thuộc cũ kỹ của mình.

Nguồn: báo Tuổi Trẻ (DT)
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Những kỷ niệm tháng sáu trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng vô cùng oanh liệt và phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh có biết bao nhiêu sự kiện quan trọng là bấy nhiêu ngày được ghi trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

Tháng 6 là tháng có nhiều sự kiện quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Kỷ niệm 97 năm ngày Văn Ba – Bác Hồ ra đi tìm được cứu nước (5/6/1911- 5/6-2008); 85 năm ngày Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp, bắt đầu cuộc hành trình trở về Tổ quốc để lãnh đạo công cuộc giải phóng đất nước (13/6/1923 – 13/6/2008); 83 năm ngày báo Thanh niên, tờ báo do Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên và cũng là Ngày báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2008); 60 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2008). Xâu chuỗi lại, chúng ta thấy cả 4 ngày kỷ niệm trong tháng 6 đều thấy liên quan đến sự kiện xảy ra cách đây đúng 100 năm- sự kiện Nguyễn Tất Thành tham gia phong trào chống thuế của nông dân Trung kỳ năm 1908. Liên tưởng như thế bởi vì theo lô gích, sự kiện sau chính là kết quả tất yếu của sự kiện trước.

Trong thời gian sống cùng cha ở Huế, Nguyễn Tất Thành đã tham gia biểu tình của nông dân 6 huyện Thừa Thiên Huế đòi giảm sưu, giảm thuế, do bị mất mùa liên tiếp trong 3 năm. Đây là một hoạt động yêu nước đầu tiên của Nguyễn Tất Thành. Anh đã chứng kiến thực dân Pháp thẳng tay đàn áp những người nông dân hiền lành. Hàng vạn người tay không tham gia biểu tình chỉ với một yêu sách nhỏ là đòi giảm thuế. Họ đi tay không, không có khí giới. Họ chỉ yêu cầu giảm thuế. Để tỏ tình đoàn kết nhất trí, họ đều cắt tóc ngắn và gọi nhau là “đồng bào”. Nhưng bọn thực dân Pháp dùng khủng bố đại quy mô để trả lời họ. Chúng giết hơn một nghìn người cầm đầu và những người bị nghi là có dính dáng đến việc đó. Nhà tù chật ních người… Hầu hết những phần tử trí thức yêu nước đều bị bắt bỏ tù. Nhiều học giả nổi tiếng được nhân dân kính mến, cũng bị chém đầu. Thực dân Pháp gọi phong trào ấy là “án đồng bào cắt tóc” vì nông dân dùng hai tiếng “đồng bào” để gọi nhau.

Sự kiện nông dân Trung Kỳ nổi dậy năm 1908, mà Nguyễn Tất Thành được tận mắt chứng kiến và tham gia, đã để lại trong anh dấu ấn không thể phai mờ. Nguyễn Ái Quốc viết lại sự kiện này trong bài báo đầu tiên nhan đề: Vấn đề dân bản xứ, đăng trên báo L’ Humanité (Báo Nhân đạo – cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp), ngày 2-8-1919. Trong bài, khi tố cáo, lên án chính sách cai trị, những thủ đoạn đàn áp, cướp bóc của thực dân Pháp ở Đông Dương và sự phản kháng của nhân dân An Nam, Nguyễn Ái Quốc đã dẫn ra vụ nổi dậy của nông dân Trung Kỳ năm 1908: “Buộc phải bị kiềm chế bởi sức mạnh, nhân dân An Nam, mà lịch sử chân chính đã khởi đầu từ hơn 3000 năm, từng lúc từng lúc như có những đợt cồn cào chống đối, biểu hiện bằng những mưu toan nổi dậy rộng khắp, hoặc bằng hành động của những con người tuyệt vọng, như những cuộc biểu tình ôn hoà năm 1908… Đó là những cuộc phản kháng vô hiệu mà mỗi lần đều đem lại những trận đàn áp đẫm máu”.

Một cuộc biểu tình ôn hòa, với những đề nghị thỉnh cầu tối thiểu nhất, lại bị đàn áp dã man. Sau này, trong nhiều bài viết và báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đều dùng những chữ “ôn hòa”, “thỉnh cầu tối thiểu” để viết về tính chất, mức độ cuộc nổi dây của nông dân Trung Kỳ. Sự kiện tham gia vào phong trào chống thuế của nông dân 6 huyện tỉnh Thừa Thiên Huế đã đánh dấu một mốc quan trọng trong cuộc đời của Nguyễn Tất Thành. Cùng với hàng loạt phong trào yêu nước của nhân dân bị thất bại, sự kiện nông dân biểu tình đòi giảm sưu cao, thuế nặng đã tác động đến suy nghĩ của anh. Anh đã thấy sức mạnh của quần chúng nhân dân. Hành động của dân chúng đã vượt ra khỏi khả năng lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước tiến bộ, như sau này anh nhận định: “Quần chúng căn bản là có tinh thần nổi dậy, nhưng còn rất dốt nát. Họ muốn giải phóng, nhưng họ chưa biết cách nào để đạt được mục đích ấy”. Làm thế nào để các cuộc khởi nghĩa của đông đảo các tầng lớp nhân dân không bị đàn áp, bị chết chóc, tù đầy. Đó là câu hỏi đã làm cho Nguyễn Tất Thành trăn trở, suy nghĩ. Đây cũng là sự kiện tác động trực tiếp nhất đến Nguyễn Tất Thành để anh càng nung nấu quyết tâm đi ra nước ngoài xem người ta làm như thế nào, sau đó trở về giúp đồng bào mình. Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành, với tên mới Văn Ba, xuống làm phụ bếp trên chiếc tàu buôn của Pháp Đô đốc Latúsơ Tơrêvin, bắt đầu cuộc hành trình đi tìm chân lý. Cuộc lên đường này đã đánh dấu một quyết định táo bạo, nhưng hết sức đúng đắn của anh thanh niên yêu nước Ngưyễn Tất Thành, người sớm có chí đuổi thực dân, giải phóng đồng bào.

Rời Tổ quốc, hành trang theo Người là tấm lòng yêu nước, thương dân, quyết tìm cách cứu dân tộc khỏi bị nô lệ, lầm than. Lênh đênh bốn biển, từ Pháp sang Mỹ, sang Anh rồi lại trở lại Pháp. Làm đủ mọi nghề để kiếm sống, để thâm nhập đời sống của giai cấp công nhân, hòa mình trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc. Tại Pari, thủ đô của nước Pháp, trung tâm chính trị, văn hóa của châu Âu, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp, hoạt động trong Ủy ban vận động ủng hộ Cách mạng Tháng Mười của Đảng Xã hội Pháp. Cũng tại Pari, vào một ngày tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã được đọc Luận cương của V.I Lênin về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Luận cương của V.I. Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do cho đồng bào. Sau này khi kể lại sự kiện quan trọng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: ” Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Đến với Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, với Luân cương của V.I Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã dứt khoát lựa chọn con đường, và cùng với những người cách mạng chân chính của nước Pháp, Nguyễn Ái quốc đã đã bỏ phiếu tán thành việc Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế thứ ba-Quốc tế Cộng sản, và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và Người cũng trở thành Người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Những hoạt động xuất sắc của Nguyễn Ái Quốc được Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đánh giá cao. Trung ương Đảng Cộng sản Pháp cử Nguyễn Ái Quốc đến Mátxcơva dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản. Điều này phù hợp với nguyện vọng cháy bỏng của Nguyễn Ái Quốc là muốn đến nước Nga, trung tâm của phong trào cách mạng thế giới để học tập kinh nghiệm lý luận và thực tiễn, chuẩn bị cho hành trình trở về tổ quốc. Và ngày 13-6-1923, Nguyễn Ái Quốc đã rời nước Pháp, để đến Mátxcơva, nước Nga. Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên có mặt trên đất nước Lênin, nơi nhân dân Liên Xô đã được tự do và đang xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, bình đẳng. Trên đất nước Lênin, quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Người đã học tập được kinh nghiệm xây dựng Đảng, và từng bước hoàn thiện việc khai phá con đường cứu nước.

Từ nước Nga Xô viết, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục vạch ra lộ trình của con đường cứu nước, Người trở về Quảng Châu, Trung Quốc, trung tâm của phong trào cách mạng châu Á, từng bước thực hiện tâm nguyện của mình: “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”. Tại Quảng Châu, Trung Quốc, từng bước thực hiện kế hoạch đã được vạch ra, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng cho sự ra đời một Đảng Mác xít ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã mở Lớp huấn luyện chính trị để chuẩn bị đào tạo đội ngũ cán bộ, chuẩn bị cho sự ra đời một chính Đảng. Cùng với việc đào tạo đội ngũ cán bộ, Nguyễn Ái Quốc chủ trương xuất bản báo chí làm phương tiện tuyên truyền. Và ngày 21-6-1925, Báo Thanh niên, cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và trực tiếp chỉ đạo ra số đầu tiên. Báo Thanh niên là tờ báo đầu tiên trong lịch sử báo chí vô sản nước ta góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác-lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam vào đầu năm 1930.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã từng bước lãnh đạo công cuộc giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cách mạng Tháng tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Chính quyền non trẻ vừa ra đời, chưa có thời gian củng cố, thì lại phải đối phó với muôn vàn khó khăn: nạn đói nạn dốt, thù trong giặc ngoài. Và cả dân tộc Việt Nam lại phải bước vào cuộc trường chinh kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau Chiến thắng Việt Bắc Thu Đông năm 1947, để động viên mọi lực lượng phục vụ công cuộc kháng chiến và kiến quốc, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 27-3-1948, Ban Thường vụ Trung ương đã ra Chỉ thị Phát động phong trào thi đua ái quốc. Chỉ thị vạch rõ: “Mục đích thi đua ái quốc là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến thiết chóng thành công”.

Nhân dịp kỉ niêm 1000 ngày toàn quốc kháng chiến, ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi, chính thức phát động phong trào thi đua yêu nước nhằm động viên toàn dân tập trung sức lực cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Như vậy một sự kiện lịch sử nữa được Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định vào tháng 6-1948. Điểm qua một số mốc kỷ niệm trong tháng 6, chúng ta thấy một sự chỉ đạo nhất quán, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là việc phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, đánh giá cao vai trò của đông đảo nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Người đã nhìn thấy điều này từ khi tham gia phòng trào chống thuế năm 1908: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917″. Sau này Người viết: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai. Nay muốn tự cấp, tự túc, đi kịp người ta, thì chúng ta phải đi mau”. Đi mau bằng cách tham gia vào các phòng trào thi đua yêu nước. Sức mạnh của quần chúng, truyền thống yêu nước, ý thức tự lực, tự cường của dân tộc phải được tập hợp, tổ chức và động viên vào vào sự nghiệp cách mạng. Bởi vì “Tinh thần yêu nước cũng như thứ của quý, có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng, dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất dấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”. Cùng với những văn kiện đã đi vào lịch sử như Bản Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến(1946), Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát đi ngày 11-6-1948, đã đi vào lòng người như lời hịch cứu nước, bởi mục đích của thi đua là để: “Diệt giặc đói khổ, diệt giặc dốt nát, diệt giặc ngoại xâm”, làm cho “Dân tộc độc lập. Dân quyền tự do. Dân sinh hạnh phúc”. Để đạt được mục đích đó không có con đường nào khác là: “Dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân. Để gây hạnh phúc cho dân”.

Khơi dậy truyền thống yêu nước của dân tộc ta từ lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tạo nên sự gắn kết tự nhiên giữa yêu nước và thi đua, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Thi đua là yêu nước, vì yêu nước phải thi đua. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống đế quốc Mỹ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã có hàng trăm phong trào thi đua của các ngành, các cấp, các giới được phát động và động viên được toàn dân tham gia. Thi đua yêu nước đã đã góp phần làm nên những kỳ tích của nhân dân ta trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, trong công cuộc kiến thiết nước nhà. Ngày nay thi đua yêu nước vẫn sẽ là nội lực quan trọng giúp nhân dân ta giữ vững nền độc lập nước nhà, đưa nước ta ra khỏi cảnh đói nghèo, kém phát triển. Mục đích của thi đua là để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, như Nghị quyết của Đảng ta đã đặt ra.

Trong tình hình mới, điều kiện mới, phong trào thi đua yêu nước cần phải được tổ chức thường xuyên, có phát động, có kiểm tra, tổng kết, đúc rút kinh nghiêm, phổ biến sáng kiến, để động viên khen thưởng kịp thời; khen thưởng đúng người, đúng việc. Tránh phô trương, hình thức khi phát động gây lãng phí tốn kém không cần thiết.

Phong trào thi đua yêu nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng và phát động 60 năm về trước đã góp phần quan trọng đánh thắng giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc thành công. Ngày nay, rất cần nhưng phong trào thi đua trong toàn quốc, trong từng ngành, từng giới, tạo nên nội lực đẩy mạnh công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, xóa đói giảm nghèo, đưa nước ta ra khỏi những nước kém phát triển, vững bước sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ hàng mong muốn.

Nhớ lại những sự kiện tháng 6 trong cuộc đời hoạt động của Bác Hồ kính yêu, hiểu được ý nghĩa lớn lao sâu sắc của mỗi sự kiện đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, để tiếp tục đi theo con đường của Người, đó chính là một cách thiết thực nhất để góp phần thực hiện cuộc vận động: Học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh./.

Theo Phạm Thị Lai

baotanghochiminh.vn

Chiêm ngưỡng chữ ký Hồ Chủ Tịch từ 1945 – 1969

79 chữ ký trải dài từ những ngày đầu nước nhà độc lập năm 1945 đến 1969, sẽ giúp chúng ta có thêm một góc nhìn thú vị về người Cha già của dân tộc Việt Nam.

Bộ sưu tập bắt đầu với chữ ký vào ngày 10/9/1945 tức chỉ 8 ngày sau khi nước ta dành độc lập và kết thúc vào năm 1969.

Theo dòng thời gian, có chữ ký thể hiện sự vui mừng của Bác khi nước nhà hoàn toàn độc lập, có những chữ ký nói lên sự suy tư của Người khi đất nước khó khăn, cũng có chữ ký quyết đoán trước những vấn đề trọng đại của dân tộc, tất cả đã làm hiện lên một vị Lãnh tụ trọn đời vì dân, vì nước.

Không chỉ là nét bút của một Lãnh tụ vĩ đại, mỗi chữ ký tại đây đều gắn liền với những sự kiện trong một giai đoạn lịch sử gian khổ nhưng hết sức hào hùng của dân tộc ta.

Bác Trần Chung, cán bộ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia II – một trong số ít những người đang có bản chính của bộ sưu tập này cho biết, những chữ kí có trong đây đều được chọn lọc từ hàng ngàn văn bản tại Cục Văn thư và lưu trữ Nhà nước (Bộ Nội vụ), và tất cả đã được thẩm định bằng những biện pháp nghiệp vụ cẩn trọng nhất.

Ngoài việc lưu trữ tại những bảo tàng trên nhiều miền đất nước, bộ sưu tập này còn được tặng tới nhiều chính khách nước ngoài khi đến thăm Việt Nam như một món quà giúp thế giới hiểu thêm về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả bộ sưu tập quý giá này:

D

D

JToàn cảnh các chữ ký của Bác trong bộ sưu tập

J
Khi đất nước dành độc lập từ tay phát xít Nhật

J
Trong những năm tháng sóng gió của nền độc lập non trẻ

J

F
Trong (hình trên) và sau (hình dưới) chiến dịch biên giới

N
Sau chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ

M
Thời gian chuẩn bị chiến dịch Tết Mậu Thân

H
Trước khi Bác đi xa

DS
Bác Trần Chung với bộ sưu tập hết sức ý nghĩa của mình

(Theo Infonet)
bee.net.vn