Thư viện

Tư tưởng dân là chủ, Đảng là đầy tớ của nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam đã để lại những di huấn quan trọng cho cách mạng và Đảng ta, một trong những giá trị quý báu đó là tư tưởng dân là chủ, Đảng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

Ngay từ đầu thế kỷ XX, trong những khoá đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam ở Trung Quốc, Nguyễn ái Quốc đã khẳng định mục đích của lớp học là đào tạo cán bộ, đưa họ trở về nước để giáo dục, giác ngộ, tổ chức nhân dân đấu tranh giải phóng đồng bào thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, lập ra chính quyền dân chủ nhân dân. Trong Hội nghị thành lập Đảng (3-2-1930), Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng ta xây dựng cương lĩnh chính trị đúng đắn, đề ra chương trình hành động của Đảng. Nội dung các văn kiện đó toát lên mục tiêu hành động của Đảng là phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Trong suốt 24 năm giữ cương vị cao nhất cơ quan đảng và nhà nước, bên cạnh khẳng định vai trò làm chủ đất nước của nhân dân, Hồ Chí Minh thường huấn thị cho cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện và phấn đấu, xứng đáng là đày tớ trung thành của nhân dân.

Tư tưởng dân là chủ được Hồ Chí Minh nhắc lại nhiều lần sau khi nước độc lập, khi miền Bắc xây dựng CNXH. Dân là chủ, nghĩa là trong xã hội Việt Nam, nhân dân là người chủ của nước, nước là nước của dân. Các cơ quan đảng và nhà nước là tổ chức được dân uỷ thác làm công vụ cho dân. Dưới chế độ thuộc địa, nhân dân ta bị một cổ ba tròng, bị thủ tiêu hết mọi quyền dân chủ. Trong xã hội đó, quyền con người, quyền dân tộc bị kẻ thù chà đạp thô bạo, dã man. Lật đổ chính quyền thực dân đế quốc, lập chính quyền mới – chính quyền nhân dân trở thành mục tiêu trực tiếp của cách mạng Việt Nam, là nhiệm vụ cao cả của Đảng. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người”(1). Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, nếu nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập ấy cũng chẳng nghĩa lý gì. Giá trị cao nhất của độc lập dân tộc là đem lại quyền làm chủ thực sự cho dân, phải trao lại cho dân mọi quyền hành.

Trong mối quan hệ với Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh coi nhân dân là người “chủ”, nghĩa là dân có quyền được hưởng mọi quyền con người, có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm, có nghĩa vụ tuân theo pháp luật, có quyền tự do lựa chọn và đi theo con đường cách mạng chân chính. Nhân dân có quyền ứng cử, đề cử đại biểu vào cơ quan nhà nước, đồng thời có quyền “bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”(2). Nhân dân có quyền trong xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Mọi công việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia, dân tộc phải được công khai bàn bạc với dân, do dân quyết định. Trong mọi hoạt động, cán bộ, đảng viên phải luôn đặt lợi ích nhân dân lên trên, lên trước lợi ích của mình. Những biểu hiện xem thường, thủ tiêu các quyền dân chủ đều trái với tư tưởng dân là chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi bàn về mục tiêu hoạt động, Hồ Chí Minh khẳng định Đảng không có mục tiêu nào khác là đem lại lợi ích cho dân. Để thực hiện được mục tiêu đó Đảng phải thu phục, chinh phục được nhân dân, muốn vậy Đảng phải làm tròn trách nhiệm đày tớ của nhân dân. Đày tớ là công bộc của dân, với nội hàm là vì lợi ích chung mà gánh vác việc dân, trung thành và tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân.

Trong quan hệ giữa Dân và Đảng, Hồ Chí Minh quy vào quan hệ chủ và đày tớ. Chủ là dân, đày tớ là Đảng. Nói đày tớ nghĩa là nói tới đức trung thành của Đảng với dân, thể hiện ở sự hiểu biết lợi ích, tâm tư nguyện vọng của dân, biết giải quyết đúng đắn, kịp thời nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Tiến trình cách mạng Việt Nam luôn không ngừng vận động, với những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể phù hợp với từng thời kỳ, theo đó nguyện vọng của dân cũng có bước phát triển theo dòng thời gian. Khi nước mất, nhân dân Việt Nam trở thành người nô lệ, nhiệm vụ của Đảng là tập trung lãnh đạo nhân dân lật đổ chính quyền thực dân, giải phóng nhân dân thoát khỏi ách thống trị thực dân, lập chính quyền mới, đem lại quyền làm chủ cho nhân dân. Khi nước độc lập rồi thì Đảng phải nắm bắt và giải quyết kịp thời những nhu cầu trực tiếp mà nhân dân đặt ra như: Ăn, ở, học hành, chữa bệnh v.v… Nếu dân đói, dân rét thì đó là lỗi của Đảng và Chính phủ. Đối với hoạt động của cán bộ, đảng viên, Người thường nhắc nhở “việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”(3). Đức trung thành của Đảng với dân gắn liền với vận mệnh của nước. Khi đất nước bị chia cắt thành hai miền, thì sự trung thành của Đảng với dân thể hiện ở việc lãnh đạo giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nếu nước mất thì nhà tan; nước độc lập thống nhất thì dân mới có quyền hưởng tự do, hạnh phúc. Vì vậy, việc giải quyết lợi ích của dân phải gắn đồng thời với giải quyết những vấn đề về sinh mệnh của dân tộc, có như vậy Đảng mới làm đúng nghĩa trung với dân.

Là đày tớ của dân, Đảng và Nhà nước phải tận tâm, tận lực đối với dân trong từng việc làm. Cán bộ, đảng viên phải xông xáo, nhiệt tình, sâu sát nhân dân, gương mẫu và dám chịu trách nhiệm trước dân cả về lời nói và việc làm; phải luôn quyết tâm, bền bỉ, chịu đựng gian khổ, quan tâm và tìm mọi cách giải quyết kịp thời, hiệu quả những nhu cầu mà dân đặt ra, kể cả chấp nhận sự hy sinh để bảo vệ dân, phấn đấu vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Không chỉ thấm đượm trong từng lời nói, Hồ Chí Minh đã biến tư tưởng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân thành hành động cách mạng, trọn đời vì nước, vì dân. Sự hy sinh cao cả cho cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh trở thành tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa yêu nước, Người trở thành hiện thân của truyền thống kính dân, yêu dân của Đảng ta. Trên nền tảng tư tưởng đó, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể, nắm bắt và giải quyết kịp thời những tâm tư nguyện vọng và lợi ích của dân.

Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã thu được những thành tựu vô cùng quan trọng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân rất quan trọng là Đảng luôn kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, lấy phục vụ nhân dân làm nhiệm vụ cao nhất theo đúng Tư tưởng Hồ Chí Minh: Dân là chủ và “phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(4).

_____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 2, tr.270. (2) Sđd, tập 9, tr.591. (3) Sđd, tập 4, tr.22. (4) Sđd, tập 12, tr.510.

Ths CHẾ ĐÌNH QUANG

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Thể dục, Thể thao

Hầu hết các mặt quan trọng về TDTT đối với lợi ích con người về sức khoẻ và tinh thần đều được Hồ Chí Minh đề cấp với các quan điểm đúng đắn, sáng tạo. Các quan điểm đó toát lên sự hiện hữu tư tưởng Hồ Chí Minh về TDTT. Tư tưởng Hồ Chí Minh về TDTT bao hàm các quan điểm cơ bản và có vị trí, vai trò to lớn trong nền văn hoá thể chất Việt Nam.

“Dân cường thì nước thịnh”: quan điểm cơ bản nhất

Nói về mục tiêu thì dân cường và nước thịnh là hai mục tiêu cao quý của chế độ mới. Hai mục tiêu này không những có quan hệ với nhau mà còn có quan hệ bản chất với mục tiêu dân giàu nước mạnh, chúng đều đem lại hạnh phúc cho con người, cho dân tộc Việt Nam. Quan điểm “Dân cường thì nước thịnh” quy định tất cả các quan điểm khác của Hồ Chí Minh, hướng TDTT phục vụ đắc lực các mục tiêu dân cường, nước thịnh.

Dân cường làm nên nước thịnh. Điều này có nghĩa sức khoẻ của nhân dân là một trong những nhân tố to lớn quyết định sự phát triển đất nước đi tới “Dân giàu nước mạnh”. Do đó, TDTT phục vụ đắc lực sức khoẻ nhân dân cũng đồng thời góp phần phục vụ công cuộc chấn hưng đất nước.

Bởi vậy, các quan điểm khác của Hồ Chí Minh đều nhất quán sự định hướng TDTT phát triển mạnh vì sức khoẻ của nhân dân. Thông qua phục vụ sức khoẻ nhân dân, phục vụ sức khoẻ cho mọi người, TDTT góp phần phục vụ tất cả các hoạt động phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục… tức là phục vụ sự nghiệp phấn đấu cho mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh”.

Từ đó, tất cả các quan điểm khác về TDTT của Hồ Chí Minh đều được quy tụ: TDTT vì dân cường, nước thịnh.

Quan điểm Hồ Chí Minh về phát triển TDTT quần chúng

Theo từ điển tiếng Việt, quần chúng là mọi người trong xã hội. Như vậy TDTT quần chúng chính là TDTT cho mọi người, mọi nguồn nhân lực.

Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Dưới chế độ dân chủ, Thể thao và Thể dục phải trở thành hoạt động chung của quần chúng, nhằm mục đích làm tăng cường sức khoẻ của nhân dân. Nhân dân có sức khoẻ thì mọi công việc đều làm được tốt.” Người khuyến khích “Vậy nên luyện tập Thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi một người dân yêu nước”. Từ đó Hồ Chí Minh chủ trương “Chúng ta nên phát triển phong trào TDTT rộng khắp”. Đó là những quan điểm chung của Hồ Chí Minh về TDTT quần chúng, thể thao cho mọi người.

Thế hệ trẻ là một bộ phận rất đông đảo của quần chúng nhân dân. Giáo dục thể chất và thể thao là một thành phần rất cơ bản, nền tảng của TDTT quần chúng. Hồ Chí Minh rất coi trọng TDTT đối với thế hệ trẻ.

Về giáo dục thể chất tuổi trẻ học đường, Hồ Chí Minh xác định là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục quốc dân của nước Việt Nam độc lập và dân chủ: “Một nền giáo dục sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”. Từ quan điểm đó, sau này Hồ Chí Minh đã chỉ ra một cách cụ thể về giáo dục nói chung và giáo dục thể chất nói riêng, giáo dục toàn diện đó là “Thể dục kết hợp với gìn giữ vệ sinh chung và riêng, trí dục, mỹ dục, đức dục.” Bốn mặt giáo dục đó có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó Thể dục là tiền đề đầu tiên để phát triển các mặt giáo dục khác. Kể cả học viên trong nhà trường quân đội cũng vậy, Hồ Chí Minh đã đề cập giáo dục thể chất lên trước hết: “Các cháu phải ra sức thi đua: Luyện tập thân thể cho mạnh mẽ, nghiên cứu kỹ thuật cho thông thạo, trau dồi tinh thần cho vững chắc, hun đúc đạo đức của người quân nhân cách mạng cho vững vàng”.

Về giáo dục thể chất cho thanh niên đang tham gia mọi hoạt động trong mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy bảo tuổi trẻ thanh niên rằng: “Thanh niên phải rèn luyện TDTT vì thanh niên là tương lai của đất nước”. Ngoài các mặt học tập và rèn luyện khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu thanh niên phải tích cực rèn luyện thể chất “ Phải giữ vững đạo đức cách mạng. Phải xung phong trong mọi công tác. Phải học tập chính trị, văn hoá, nghề nghiệp để tiến bộ mãi. Phải rèn luyện thân thể cho khoẻ mạnh. Khoẻ mạnh thì mới đủ sức tham gia một cách dẻo dai, bền bỉ những công việc ích nước lợi dân”.

Trong quần chúng, có một bộ phận rất lớn, rất quan trọng, đó là nguồn nhân lực đang và sẽ tham gia thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh”. Nguồn lực con người như nông dân, công nhân, chuyên viên kỹ thuật, cán bộ nghiệp vụ, cán bộ quản lý, các nhà khoa học, văn nghệ sỹ… là trung tâm của sự phát triển. Nguồn nhân lực này không chỉ cần đông đảo mà đòi hỏi phải có chất lượng cao. Một trong những yếu tố cơ bản cấu thành chất lượng cao của nguồn nhân lực là sức khoẻ của mỗi con người. Hồ Chí Minh rất coi trọng sức khoẻ của nguồn nhân lực này. Để giữ gìn và tăng cường sức khoẻ cho họ, Hồ Chí Minh khuyên bảo họ tích cực tập TDTT. Người viết “muốn lao động sản xuất tốt, công tác và học tập tốt thì cần có sức khoẻ. Muốn giữ sức khoẻ thì nên thường xuyên tập TDTT.” Từ quan điểm này, Người chủ trương phát triển TDTT khắp mọi miền, mọi vùng của đất nước.

Quan điểm Hồ Chí Minh về TDTT trong lực lượng vũ trang

Hồ Chí Minh rất quan tâm tới TDTT trong cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang. Lực lượng này khá đông đảo, họ trực tiếp chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, gìn giữ an ninh xã hội. Do đó, họ phải có thể lực tốt.

Trước và sau Cách mạng tháng Tám thành công, trong kháng chiến và sau kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, nhiều lần Hồ Chí Minh trực tiếp nói chuyện, chỉ bảo, khuyến khích các cán bộ, chiến sỹ quân đội, tự vệ tập luyện TDTT. Người còn hướng dẫn, sửa chữa những động tác sai trong khi tập Thể dục, luyện Võ thuật cho nhiều cán bộ chiến sỹ quân đội. Tấm gương rèn luyện thân thể được các đoàn quân trên đường hành quân ra chiến trường noi theo: “Ngọn Tây Phong Lĩnh Bác trèo; Để nay có núi có đèo con qua”.

Hồ Chí Minh chủ trương: “Đẩy mạnh phong trào TDTT trong quân đội, làm cho quân đội chúng ta có thể chất khoẻ, tinh thần khoẻ để làm tròn mọi nhiệm vụ”. Chủ trương này thể hiện một quan điểm sâu sắc của Hồ Chí Minh về sức khoẻ thể chất và tinh thần đối với cán bộ, chiến sỹ quân đội là nhân tố có tính quyết định làm tròn mọi nhiệm vụ. Để có được sức khoẻ cả thể chất lẫn tinh thần, cán bộ chiễn sỹ phải tập luyện TDTT.

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về TDTT có vai trò định hướng sự hình thành và phát triển nền TDTT của chế độ mới từ sau cách mạng tháng Tám 1945 cho đến ngày nay và cả mai sau. Đảng cộng sản Việt Nam vạch ra đường lối quan điểm TDTT, trong đó phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trên nhiều quan điểm về TDTT. Ngành TDTT đang từng bước thực hiện có kết quả tích cực đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về TDTT.

Quan điểm Hồ Chí Minh về thể thao thành tích cao

TDTT quần chúng là nền tảng xã hội của thể thao thành tích cao, Hồ Chí Minh rất quan tâm tới thể thao thành tích cao. Nhưng theo Người, thể thao thành tích cao phát triển trên cơ sở TDTT quần chúng. Hồ Chí Minh từng lưu ý rằng, phát triển thể thao thành tích cao vừa phấn đấu giành “vinh quang của dân tộc về mặt thể thao” vừa thúc đẩy TDTT quần chúng vì sức khoẻ cho mọi người dân.

TDTT quần chúng phải được phát triển phong phú đó là sự đa dạng các loại hình, sâu rộng các địa bàn và hầu hết các đối tượng tập luyện. Tính phóng phú đó là nền tảng của thể thao thành tích cao. Đồng thời thể thao thành tích cao phát triển mạnh cũng thể hiện tính phong phú của nó về cả loại hình, đối tượng, địa bàn. Trong thư chúc mừng Đại hội thể thao GANEFO châu Á lần thứ nhất, tổ chức vào cuối năm 1966 ở Campuchia, Hồ Chí Minh viết: “Đây là cuộc gặp gỡ lớn để các lực lượng mới trỗi dậy ở châu Á, tỏ rõ cho toàn thế giới thấy khả năng phong phú của mình trong lĩnh vực thể thao”. Quan điểm này còn có nghĩa rằng, thể thao của các lực lượng mới trỗi dậy ở châu Á với khả năng phát triển mạnh mẽ cả về TDTT quần chúng và thể thao thành tích cao.

TDTT quần chúng mà nổi bật là thể thao trong các trường học, trong lực lượng vũ trang phát triển mạnh, đạt được nhiều thành tích trong thi đấu quốc gia, quốc tế, đó là điều kiện tất yếu, thường xuyên để phát triển thể thao thành tích cao của nước nhà, vươn tới tầm vóc khu vực, châu lục và thế giới. Bởi vậy, cần phải quan tâm tới mọi điều kiện phát triển thể thao quần chúng, nhất là thể thao thế hệ trẻ. Hồ Chí Minh dạy rằng: “Tuổi trẻ là tương lai của đất nước và của thể thao nước nhà, các cháu phải có đầy đủ phương tiện tập luyện để nâng cao thể lực”.

Phát huy tinh thần dân tộc trong lĩnh vực thể thao

Năm 1922 ở Pháp, Hồ Chí Minh đã từng đề cập đến lòng tự hào dân tộc. Người khuyến khích phát triển thể thao thành tích cao, khuyến khích các đấu trường thể thao nhằm phát huy tinh thần dân tộc và rèn luyện thể lực cho thế hệ trẻ.

Hồ Chí Minh chỉ ra cho thể thao Việt Nam rằng: “Phong trào và thành tích thể thao của thế giới phát triển mạnh, Việt Nam ta hãy cố gắng tiến kịp”. Người mong muốn ở đây là thể thao thành tích cao của Việt Nam phải được phát triển mạnh mẽ, tiến tới giành được những thành tích tốt, những tấm huy chương cao quý trên các đấu trường quốc tế “bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm Châu”.

Cuối năm 1966, đoàn Thể thao Việt Nam tham dự Đại hội thể thao GANEFO lần thứ nhất tổ chức tại Campuchia giành được thành tích tốt. Ngay sau khi về nước được Bác Hồ tiếp, Người rất vui bởi vì thể thao Việt Nam đã phát huy cao tinh thần dân tộc, giành vinh quang về cho đất nước, nhân dân. Hồ Chí Minh khen ngợi các VĐV rằng: “Tất cả các cháu giành được huy chương, nhiều cháu giành được HCV, thế là rất tốt” Người căn dặn các VĐV: “Các cháu hãy cố gắng nhiều hơn nữa để xứng đáng là những VĐV của dân tộc Việt Nam anh hùng”. Quan điểm này nói lên rằng, dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng, phải có những VĐV tài năng, phát huy cao độ tinh thần dân tộc giành “vinh quang cho dân tộc về mặt thể thao”.

Quan điểm đạo đức nhân văn trong thể thao thành tích cao

Hồ Chí Minh rất coi trọng những giá trị đạo đức và nhân văn trong thể thao thành tích cao. Hồ Chí Minh “là người chống lại mọi thứ bạo lực” trong thể thao, vì có hại đến sức khoẻ, sinh mệnh của VĐV. Người nhắc nhở VĐV Việt Nam rằng “Các cháu đừng vì thắng lợi mà kiêu căng, tự mãn” và căn dặn “các cháu luôn luôn nhớ phải khiêm tốn học tập cái hay, cái giỏi của các bạn. Trong thi đấu thắng không kiêu, bại không nản, thế mới là VĐV tốt”.

Đấu trường thể thao còn được Hồ Chí Minh ghi nhận là dịp để tăng cường sự bình đẳng dân tộc, chủng tộc và đoàn kết giữa các dân tộc với nhau, hiểu biết lẫn nhau.

Quan điểm Hồ Chí Minh về vị trí của công tác TDTT và nhiệm vụ của người cán bộ trong lĩnh vực này

Vị trí của công tác TDTT được Hồ Chí Minh xác định là một công tác cách mạng. Đối với cán bộ TDTT có nhiệm vụ học tập, nghiên cứu chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, ra sức công tác phục vụ nhân dân và đất nước. Hồ Chí Minh dạy rằng: “Cán bộ TDTT phải học tập chính trị, nghiên cứu nghiệp vụ và hăng hái công tác. Vì đó cũng là một công tác trong những công tác cách mạng khác”. Rõ ràng đây là một quan điểm của Hồ Chí Minh coi trọng công tác TDTT và coi trọng cán bộ TDTT.

Đó là những nét cơ bản trong 5 nội dung của các quan điểm cơ bản về TDTT của Hồ Chí Minh. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về TDTT có vai trò định hướng sự hình thành và phát triển nền TDTT của chế độ mới từ sau cách mạng tháng Tám 1945 cho đến ngày nay và cả mai sau. Đảng cộng sản Việt Nam vạch ra đường lối quan điểm TDTT, trong đó phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trên nhiều quan điểm về TDTT. Ngành TDTT đang từng bước thực hiện có kết quả tích cực đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về TDTT.

Theo TDTT VN

binhthuansports.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đánh giá và sử dụng cán bộ

Xây dựng đội ngũ cán bộ là một nội dung lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Suốt cuộc đời, Người không ngừng chăm lo bồi dưỡng, huấn luyện đội ngũ cán bộ cho Đảng đủ Đức và Tài để phục vụ sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH.

Theo Người, ”cán bộ là gốc của công việc”, do đó Người yêu cầu ”phải biết rõ cán bộ” và ”hiểu biết cán bộ” để có kế hoạch bồi dưỡng, huấn luyện, sử dụng phù hợp. Đánh giá đúng cán bộ tức là xác định chính xác ai tốt ai xấu, ai mạnh chỗ nào, yếu chỗ nào, khả năng hoàn thành công việc đến đâu, quan hệ với quần chúng ra sao để từ đó ”tìm thấy những nhân tài mới… những người hủ hoá cũng lòi ra”

Cán bộ là con người, vì vậy người cán bộ luôn chịu sự tác động của hoàn cảnh lịch sử, xã hội nên khi đánh giá cán bộ, Hồ Chí Minh luôn đặt cán bộ trong mối quan hệ toàn diện, nhiều chiều, phát triển và không định kiến ”một người cán bộ khi trước có sai lầm, không phải sẽ sai lầm mãi. Cũng có cán bộ đến nay chưa bị sai lầm nhưng chắc gì sau này không bị sai lầm? Quá khứ, hiện tại và tương lai của mọi người không phải luôn luôn giống nhau… lúc cách mạng lên cao thì hăng hái, lúc cách mạng gặp khó khăn thì đâm ra hoang mang” hoặc ”nhận xét cán bộ không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc mà phải xét kỹ cả toàn bộ công việc của cán bộ”. Theo Người, phải lấy tiêu chuẩn để đánh giá ”cán bộ nào, phong trào ấy”. Một người cán bộ tốt phải là người có đủ đức và tài, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đức là đạo đức cách mạng, là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tài là người có khả năng hành động, làm việc mang lại hiệu quả cao. Đức và tài phải thống nhất với nhau trong đó ”Đức là gốc”.

Một điều quan trọng nữa là người đánh giá cán bộ. Để đánh giá đúng, đòi hỏi người đánh giá phải công tâm, vô tư, khách quan. Do đó, bản thân người đánh giá cũng phải ”tự sửa mình” để “nếu không biết sự phải trái của mình thì không thể nhận rõ cán bộ tốt hay xấu”. Đặc biệt đánh giá cán bộ phải dựa vào dân, lấy ý kiến của dân, đem ra tập thể bàn bạc và đi đến thống nhất.

Đánh giá đúng cán bộ để Đảng có kế hoạch huấn luyện cán bộ vì ”cán bộ là tiền vốn của Đảng”, ”công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc, càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Sử dụng cán bộ thế nào? Theo Hồ Chí Minh, trước hết phải xác định đúng yêu cầu của công việc, ”công việc yêu cầu cán bộ” và khi bố trí, sử dụng phải tránh sự thiên vị cá nhân. Dùng người là cả một khoa học và nghệ thuật, do đó, nếu bố trí đúng sẽ phát huy mặt mạnh của cán bộ, thúc đẩy được phong trào và còn hạn chế được mặt yếu, mặt dở của họ. Người chỉ ra những khuyết điểm khi sử dụng cán bộ, người quản lý hay mắc phải đó là ”ba ham”. ”Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài. Ham dùng những kẻ nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực. Ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người tính tình không hợp với mình”.

Người căn dặn 5 vấn đề mà người cán bộ lãnh đạo phải thực hiện khi dùng người:

”Mình phải độ lượng, vị tha thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công -vô tư, không có thành kiến, khiến cán bộ không bị bỏ rơi”; ”Phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gũi những người mình không ưa”; ”Phải có tính chịu khó dạy bảo mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ”; ”Phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt”; ”Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi mình”.

Đồng thời, Hồ Chí Minh nhắc nhở phải mạnh dạn cất nhắc cán bộ và thường xuyên luân chuyển cán bộ, chống bệnh ích kỷ, địa phương, kéo bè, chia rẽ phái này phái kia ”phải kết thành một khối không phân biệt, không kèn cựa và giúp đỡ nhau thì công việc mới chạy”. Trong quá trình sử dụng cán bộ phải thường xuyên đánh giá để kịp thời uốn nắn, sửa chữa khuyết điểm cho cán bộ và bố trí lại cán bộ khi cần thiết.

Thực tế, trong cuộc đời làm cách mạng, Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta di sản quý báu đó là khoa học và nghệ thuật về đánh giá và sử dụng cán bộ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ có nội hàm hết sức phong phú nên cần được nghiên cứu ở nhiều phương diện. Song, cần khẳng định: Đánh giá cán bộ, sử dụng cán bộ là cả một vấn đề khoa học và nghệ thuật, và phải luôn ghi nhớ lời Bác dạy: “Công việc thành hay bại đều từ cán bộ mà ra”.

Đình Thanh

dalat.gov.vn

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng văn hóa

Bác Hồ đi thăm bà con nông dân tỉnh Tuyên Quang trong cải cách ruộng đất

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như việc vận dụng tư tưởng của Người trong mọi lĩnh vực của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, với sự đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cách mạng cũng như những con người Việt Nam mới luôn là vấn đề thời sự, thể hiện tính cần thiết, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục đào sâu suy nghĩ, kiên trì phấn đấu và noi theo. Đó là sự nghiệp của toàn Đảng, của hệ thống chính trị, nhằm góp phần xây dựng thành công một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

1 – Vị trí của vấn đề đạo đức trong văn hóa nói chung

Văn hóa, theo định nghĩa chung nhất, là những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng tạo nên trong tiến trình lịch sử. Còn theo cách hiểu thông thường nhất, đó là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, bao gồm cả tư tưởng xã hội, tri thức xã hội, đạo đức xã hội, đời sống và lối sống xã hội…

Không phải đến bây giờ, mà ngay từ lâu, khi Đảng ta mới thành lập và khi nhà nước cách mạng mới ra đời, Bác Hồ đã khẳng định rằng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Có nghĩa, đạo đức chỉ là một bộ phận của văn hóa chứ không phải là toàn bộ nền văn hóa. Tuy nhiên, đó là bộ phận có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Bởi lẽ, khi xem xét trình độ văn hóa của một xã hội, người ta không thể không nói đến con người trong xã hội, mà nói đến con người thì không thể không nói đến đạo đức. Tư tưởng xã hội và đạo đức xã hội đều có vai trò quyết định đối với hành vi của con người trong xã hội. Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc sống và hành động được dư luận xã hội thừa nhận. Những tiêu chuẩn, nguyên tắc đó quy định, điều chỉnh hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Như vậy, đạo đức cũng chính là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đó mà có. Trong các quan hệ xã hội, những vấn đề thuộc về dân tâm, dân ý, dân trí, dân quyền, và dân sinh …, đều thuộc về và là sự biểu hiện của văn hóa một xã hội, mà mức độ biểu hiện cao hay thấp tùy thuộc một phần quan trọng vào đạo đức.

2 – Vị trí của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh

Đại hội IX của Đảng ta đã đưa ra một mệnh đề cấu thành định nghĩa rất chuẩn xác về tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu không phải dưới góc độ những ý kiến, những suy nghĩ riêng lẻ, cụ thể, mà trong sự tổng hợp có tính hệ thống, tức là nghiên cứu dưới góc độ một học thuyết chính trị – cách mạng. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một bộ phận của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa lại là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu, một mẫu mực tuyệt vời về đạo đức, không chỉ đạo đức của con người xã hội mà còn là đạo đức của một lãnh tụ cách mạng, suốt đời hy sinh, phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Tuy nhiên, nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nghiên cứu những phẩm chất cao quý thể hiện trong cuộc sống của Người, mà còn là nghiên cứu những quan điểm của Người về đạo đức, những quan điểm đó đã, đang và sẽ còn chỉ đạo dài lâu cho sự nghiệp của Đảng ta xây dựng văn hóa dân tộc nói chung và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng.

Xuyên suốt các tác phẩm của Người, từ “Đường Cách mệnh” (1927), “Sửa đổi lối làm việc” (1947), “Cần, kiệm, liêm, chính” (1949) cho đến “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969) và bản Di chúc của Người (1969), ta thấy toát lên tinh thần và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.

Khái niệm đạo đức, được Hồ Chí Minh tập trung đề cập trong các tác phẩm của Người là đạo đức của xã hội mới, cao hơn nữa là đạo đức cách mạng, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Những phẩm chất đạo đức cao quý chung nhất, cơ bản nhất mà Người nêu lên đối với cán bộ cách mạng:

Một là: Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Không phải một lần mà rất nhiều lần, không phải đối với một số đối tượng nhất định mà đối với rất nhiều đối tượng khác nhau, Người luôn luôn nhắc nhở rằng, điều chủ chốt nhất của đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, là trung với nước, hiếu với dân.

Hai là: Nhân, nghĩa, trí, dũng. Nhân là thật thà yêu thương, giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn sàng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không ngại cực khổ, không sợ uy quyền. Nghĩa là ngay thẳng, không có tà tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Trí là đầu óc trong sạch, sáng suốt, dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng, biết xem người, xét việc,… Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa; cực khổ khó khăn có gan chịu đựng; có gan chống lại vinh hoa phú quý không chính đáng; nếu cần, có gan hy sinh cả tính mạng mình…

Ba là: Cần, kiệm, liêm, chính. Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm; thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta… Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của của nhân dân, của nước, của bản thân mình, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi; không phô trương hình thức, không liên hoan chè chén lu bù… Liêm là luôn luôn tôn trọng, gìn giữ của công và của dân; phải trong sạch, không tham lam; không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình… Chính “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn”. Đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa chữa điều dở… Đối với người thì không nịnh hót cấp trên, không xem khinh người dưới; luôn luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà… Cần, kiệm, liêm, chính luôn luôn đi liền với chí công, vô tư, tức là hết lòng chăm lo công việc chung, không tơ hào, tư lợi.

Trung, hiếu, nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đều là những khái niệm vốn có từ Nho học và đạo đức từ lâu đời của ông cha ta, song đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đổi mới và phát triển, thậm chí có những khái niệm đổi mới hẳn về nội dung, như xưa kia là trung với vua, hiếu với cha mẹ, nay là trung với nước, hiếu với dân. Do đó, những phẩm chất đạo đức được Người nêu lên chính là những phẩm chất của đạo đức mới, của con người mới và nền văn hóa mới. Nó là sự kết hợp tinh thần cách mạng của giai cấp công nhân với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa đạo đức của nhân loại.

Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn có tầm sâu rộng hơn, vượt qua khuôn khổ quốc gia để tạo nên sự kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, xem “bốn phương vô sản đều là anh em”…

3 – Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) của Đảng ta nêu rõ rằng, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những nội dung cơ bản của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng yêu cầu: đưa các nhân tố văn hóa, tinh thần thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, ghi rõ: “Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa, phải xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước…” và khẳng định rằng: “Đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình”. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa yêu cầu: “Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân”. Kết luận của Hội nghị Trung ương 10, khóa IX, nhấn mạnh: Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước. Trong Diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Đảng, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng yêu cầu phải phấn đấu để mỗi tổ chức đảng và đoàn thể, mỗi cơ quan nhà nước đều là “một tấm gương văn hóa trong xã hội”.

Nhắc lại các nghị quyết nói trên để thấy rõ tính bức bách của nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay; cũng là để thấy rõ rằng muốn xây dựng được tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết phải xây dựng được các phẩm chất đó trong các tổ chức của Đảng và bộ máy của Nhà nước…

Đối chiếu với tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức mà chúng tôi vừa đề cập, ta càng thấy rõ vai trò quan trọng biết dường nào của đạo đức cách mạng trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung, và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng. Không phải ngẫu nhiên trong Di chúc Người nói về Đảng và đặc biệt nhấn mạnh vấn đề đạo đức: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Những lời dạy của Bác Hồ về đạo đức cách mạng, đối với Đảng ta, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, ngày nay vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi; nhất là những phẩm chất trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân, về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, về đảng viên đi trước, làng nước theo sau… là không bao giờ cũ. Nếu có cái gì gọi là cũ thì đó chính là nhận thức của chúng ta về các lời dạy của Bác không đến nơi, đến chốn, không thật đầy đủ và nhuần nhuyễn, nhất là chúng ta nói mà không đi đôi với làm, hoặc nói nhiều làm ít, khiến cho đời sống văn hóa trong Đảng, nhất là đời sống về đạo đức, có những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII, đòi hỏi phải khắc phục bằng được tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức và lối sống trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, một căn bệnh nguy hiểm đang đục khoét cơ thể sống của Đảng ta. Trong cuộc chiến đấu sinh tử này, mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta càng phải đề cao trách nhiệm tu dưỡng và thực hành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

Theo Hà Đăng
(Tạp chí Cộng sản tháng 8-2005)

dalat.gov.vn

Tư tưởng đoàn kết quân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(Congannghean.vn) – Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mối quan hệ quân dân là mối quan hệ đặc biệt, “quan hệ cá nước”. Trong đó, “nhân dân là nền tảng, là cha là mẹ của bộ đội” (Hồ Chí Minh toàn tập. T5).

Quân đội muốn hoàn thành được nhiệm vụ cao cả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó thì phải gắn bó mật thiết máu thịt với nhân dân. Bởi vì, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng mọi sức mạnh đều ở nhân dân, từ cơm ăn, áo mặc, xe cộ đi lại đến vũ khí đánh giặc đều do mồ hôi công sức nhân dân mà có.

Trước ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, trong một lần trò chuyện với đồng chí Võ Nguyên Giáp ở Pắc Bó (Cao Bằng), Bác nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng: “Phải biết dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được”.

Đó chính là nền tảng ban đầu cho vấn đề đoàn kết quân – dân. Ngay trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Bác cũng đã nêu rõ: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”.

Những ngày đầu thành lập, những người đứng đầu Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân hỏi Bác: Đội tuyên truyền hoạt động theo kế hoạch của liên tỉnh, khi tới địa phương thì quan hệ thế nào? Bác nói: “Thống nhất chỉ đạo cả chủ lực và địa phương. Ba lực lượng ấy đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với nhau…”. Đó cũng chính là phương châm mà quân đội ta đã thực hiện trong suốt hai cuộc kháng chiến lâu dài.

Trong hồi ký “Một lòng theo Bác”, Thượng tướng Chu Văn Tấn có viết: Bác căn dặn rằng: “Cán bộ không được tự kiêu, tự mãn như ông tướng, mà phải khiêm tốn… Phải lấy dân làm gốc như cá dựa vào nước tùy theo lực lượng của quần chúng mà nâng dần lên; Phải gương mẫu, chịu hi sinh gian khổ, đi đầu trong mọi khó khăn…”. Bộ đội về Bắc Sơn, Vũ Nhai đánh giặc, tới Đông – Ngàn, thấy quần chúng đông nghịt như hội, hát si, hát lượn… Hỏi ra thì biết, nhân dân tổ chức si lượn để che mắt địch, đón bộ đội.

Trong điều kiện hiện nay của đất nước ta, nhắc lại tư tưởng của Bác về vấn đề đoàn kết quân dân vẫn là điều vô cùng cần thiết và quan trọng. Để thực hiện tốt tư tưởng trên của Người và không ngừng tăng cường, củng cố, phát triển mối quan hệ máu thịt này, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đang ra sức thi đua và thực hiện tốt những vấn đề lớn theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quân dân.

Người khẳng định: “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do nhân dân đẻ ra, vì nhân dân mà chiến đấu” (Hồ Chí Minh toàn tập. T5). Người luôn nhắc nhở, giáo dục cán bộ, chiến sĩ phải hiểu rõ: nhân dân là nền tảng, là gốc rễ sinh ra quân đội. Muốn quân đội vững mạnh thì phải dựa vào cái gốc, cái nền tảng ấy: “Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 2, Bác đã có thư gửi đồng bào, chiến sĩ và nêu rõ: “… Chúng gây nên chiến tranh… muốn chia rẽ dân ta… Trước sự xâm lược dã man đó, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta đã đoàn kết thành một bức tường đồng, kiên quyết giữ gìn Tổ quốc, nhờ tinh thần đoàn kết, ý chí quật cường đó, mà hai năm kháng chiến… lực lượng của địch thì ngày càng hao mòn, ta thì càng đánh càng hăng, càng mạnh… Hãy tin tưởng vào vận mệnh lớn lao của Tổ quốc, tin tưởng vào sức đoàn kết, chiến đấu của ta… Tướng sĩ ở mặt trận, đồng bào ở hậu phương, ai nấy đều phải đoàn kết chặt chẽ… thì cuộc trường kì kháng chiến của ta nhất định thành công” (Hồ Chí Minh toàn tập, T4).

Bác dạy: “Mình đánh giặc là vì dân, nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân mà mình phải có trách nhiệm phụng sự nhân dân” (HCM toàn tập.T6). “Phải giúp đỡ nhân dân bất kì việc to, việc nhỏ” … Đó là điều “Thương dân, trọng dân, tốt với dân”. Có vậy, mới gắn bó chặt chẽ được với nhân dân, mới được dân tin, dân phục, dân yêu.

Quán triệt, thấm nhuần và tiếp thu tư tưởng đoàn kết quân dân của Hồ Chủ tịch, 67 năm qua, những thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã kế tiếp chăm lo xây dựng, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết quân dân. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, mối quan hệ quân dân cá nước, đoàn kết gắn bó keo sơn đó đã phát huy được sức mạnh hiệu quả của nó.

Nguyễn Thanh

congannghean.vn

Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh qua tác phẩm “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo hai vấn đề lớn liên quan nguy cơ của Ðảng cầm quyền. Một là, sai lầm về đường lối của Ðảng, và hai là, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Bước chân vào con đường hoạt động cách mạng, Bác Hồ quan tâm hàng đầu tới việc giáo dục đạo đức cho mọi người Việt Nam yêu nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, “cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.

Theo Người, tư cách của người cách mạng là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp các thế hệ người Việt Nam vững tin đi vào con đường cách mạng và đưa sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản đến thắng lợi cuối cùng. Bởi vì, đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng. Mọi việc thành hay bại, chủ yếu là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không. Ðạo đức cách mạng không chỉ tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ thù, mà còn là thước đo lòng cao thượng của con người.

Bác Hồ quan tâm đạo đức cách mạng một cách nhất quán, xuyên suốt từ những năm hai mươi đến tận cuối đời. Người đặc biệt chú trọng cả hai mặt lý luận và thật sự thực hành đạo đức của cán bộ, đảng viên từ khi Ðảng ta trở thành Ðảng cầm quyền. Tại sao như vậy? Bởi vì trong điều kiện Ðảng cầm quyền thì cán bộ, đảng viên dễ mắc bệnh quan liêu, nhũng lạm. Trong điều kiện Ðảng cầm quyền, hệ thống chính trị là tấm gương của xã hội. Gương sáng thì dân soi, gương mờ làm lòng dân không yên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo hai vấn đề lớn liên quan nguy cơ của Ðảng cầm quyền. Một là, sai lầm về đường lối của Ðảng, và hai là, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tóm lại, Ðảng cầm quyền liên quan vận nước. Ðảng và mỗi cán bộ, đảng viên vui với mỗi bước phát triển, đi lên của đất nước và phải chịu trách nhiệm trước những lời kêu ca, phàn nàn của dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh có nỗi quan tâm lớn từ khi Ðảng ta trở thành Ðảng cầm quyền, bởi sứ mệnh nặng nề của Ðảng là làm cho dân tự do, hạnh phúc sau khi giành được độc lập dân tộc. Người chú trọng giáo dục việc nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Nâng cao đạo đức cách mạng, trước hết là nâng cao nhận thức và thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân. Trong điều kiện Ðảng cầm quyền, Ðảng có quyền lực chính trị, lãnh đạo xã hội và hệ thống chính trị. Vì vậy, Ðảng phải nâng cao ý thức phục vụ nhân dân. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, thanh niên…, cùng với những đức tính cần cù, tiết kiệm, chính trực, thì phải trong sạch, không tham lam tiền của, đặc biệt không tham địa vị, quyền hành, vì địa vị quyền hành dẫn tới lợi ích vật chất. Là cán bộ, đảng viên thì phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước lợi ích cá nhân. Nêu cao ý thức phục vụ nhân dân là đạo đức đẹp đẽ nhất của mỗi cán bộ, đảng viên. Ðặc biệt, trên cơ sở nhận thức Ðảng cầm quyền, nhưng dân là chủ, là gốc; Ðảng cầm quyền cho dân làm chủ, cán bộ đảng viên phải có ý thức chịu trách nhiệm trước nhân dân. Vì Ðảng, Nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, như cách nói của Bác Hồ.

Chống suy thoái về đạo đức là chống lười biếng, xa xỉ, quan liêu và đặc biệt là chống sự nhũng lạm. Theo quan điểm Hồ Chí Minh, là cán bộ, công chức Nhà nước thì dù ít, dù nhiều đều có quyền hành. Cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Có quyền mà thiếu lương tâm, không chịu tu dưỡng rèn luyện thì dễ trở nên hủ bại, dễ biến thành sâu mọt, dễ “dĩ công vi tư”. Vì vậy, tham nhũng theo tinh thần Hồ Chí Minh là bệnh của những người có quyền lực, lạm dụng quyền lực cộng với lòng tham để nhũng nhiễu dân. Muốn chống tham nhũng, phải chống cả xa xỉ, vì xa xỉ mà sinh ra tham nhũng. Mà chống tham nhũng trước hết là chống tham quyền. Chống tham nhũng phải bằng giáo dục, công tác tư tưởng. Nhưng chỉ có giáo dục đạo đức không thôi thì không thể xóa bỏ được tham nhũng, mà phải kết hợp chặt chẽ với pháp luật, mà quan trọng là tính khoa học và minh bạch của bộ máy; đồng thời phải dùng cả “pháp trị” với tính nghiêm minh của pháp luật, phép nước theo tấm gương Hồ Chí Minh.

Chống suy thoái về đạo đức, đặc biệt phải tập trung chống chủ nghĩa cá nhân. Bởi vì chủ nghĩa cá nhân là một loại giặc, đồng minh với các loại giặc khác. Muốn chống các loại giặc khác, trước hết phải chống giặc trong lòng, tức chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh khác nhau. Nó không chỉ ảnh hưởng tới từng cá nhân, đối với dân tộc, mà còn làm mất niềm tin của nhân dân đối với Ðảng. Nói ngắn gọn, theo quan điểm Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là một trở lực trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, là đối lập với chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là chà đạp lên lợi ích cá nhân.

Giờ đây, trong bối cảnh tình hình mới, việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức trở thành một nhu cầu cấp bách và có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chứa đựng một ý nghĩa sâu xa về lý luận và thực tiễn, tiếp tục soi sáng công cuộc đổi mới đất nước.

PGS,TS Bùi Ðình Phong

dalat.gov.vn

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng qua một số tư liệu gốc tại bảo tàng cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới đã về với cõi vĩnh hằng được gần 38 năm. Người ra đi, nhưng đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một di sản vô cùng to lớn – đó là tư tưởng về đạo đức cách mạng.

Có thể nói rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng được bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, nền đạo đức đã được hình thành hàng ngàn năm suốt chiều dài lịch sử dân tộc và kế thừa tư tưởng đạo đức phương Đông cũng như tinh hoa đạo đức của nhân loại và dựa trên nền tảng tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Song, với tư duy độc lập và sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những giá trị đạo đức của quá khứ, đề xuất những tư tưởng đạo đức mới, phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Thông qua các tác phẩm, các bút tích gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, chúng ta có thể nhận thấy trong lĩnh vực đạo đức cách mạng, Người thường sử dụng nhiều khái niệm, phạm trù của các tư tưởng đạo đức đã có từ trước như: trung, hiếu, nhân, nghĩa, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đã có trong Nho giáo từ mấy trăm năm trước Công nguyên; hoặc các khái niệm tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái… xuất hiện tại Tây Âu từ thời Hy-La cổ đại. Song Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “Việt Nam hóa” thành các khái niệm đơn giản dễ hiểu, dễ thực hiện và gần gũi hơn với cán bộ và nhân dân lao động.

Nhìn chung, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng có thể khái quát thành bốn nội dung cơ bản, là : Trung với nước, hiếu với dân ; Yêu thương con người; Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư và tinh thần quốc tế trong sáng. Trong hàng trăm trang tư liệu gốc – các bản thảo quí hiếm của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đang có vinh dự được lưu giữ, thì hai nội dung được đề cập đến nhiều nhất, đó là Trung với nước, hiếu với dân và Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Phẩm chất trung, hiếu là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống của người phương Đông, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng và đưa vào đó những nội dung mới. Tư tưởng trung với nước, hiếu với dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh không những kế thừa giá trị của chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc, mà còn vượt qua những hạn chế của truyền thống đó. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì trung với nước là trung thành với sự nghiệp cách mạng, với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nước ở đây là nước của dân, còn dân chính là chủ nhân đích thực của nước.

Như chúng ta đã biết, sau gần 30 năm bôn ba ở nước ngoài đi tìm đường cứu nước, tháng 1 năm 1941 trở về Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập báo Việt Nam Độc lập (số đầu tiên ra ngày 1-8-1941) để tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Thông qua những mẩu chuyện, những tin, bài ngắn, súc tích, dễ hiểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu dương những tấm gương người tốt, việc tốt, qua đó để giáo dục tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, tinh thần dám xả thân vì độc lập tự do của dân tộc. Trên báo Việt Nam độc lập, số 3 ra ngày 21-8-1941, ngay trên trang nhất, báo đã in trang trọng câu thơ: “Có Tổ quốc mới có ta; Nước là rất trọng ta là rất khinh” (Khinh là xem nhẹ – TVH). Còn trong một tài liệu khác dưới tiêu đề “Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh” do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo (bản gốc hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam), Người kịch liệt phê phán những cán bộ miệng thì nói dân chủ, nhưng khi thực hiện công việc thì lại theo lối quân chủ và xa rời nhân dân. Người viết: Bệnh quan liêu mệnh lệnh từ đâu mà ra? Nguyên nhân bệnh ấy là:

Xa nhân dân: do đó mà không hiểu tâm lý của nhân dân, nguyện vọng của nhân dân.

Khinh nhân dân: cho là dân ngu khu đen, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị cao xa như mình.

Sợ nhân dân: Khi có sai lầm khuyết điểm thì lại sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng không có lực lượng nhân dân thì việc nhỏ mấy dễ mấy làm cũng không xong; có lực lượng nhân dân thì việc khó mấy to mấy cũng làm được.

Không hiểu biết nhân dân: họ quên rằng nhân dân cần trông thấy quyền lợi thiết thực, lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc, đối với dân không thể lý luận suông.

Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân tăng gia sản xuất, cải thiện sinh hoạt, để bồi dưỡng sức của sức người của nhân dân.

Cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra cách chữa bệnh quan liêu mệnh lệnh là phải theo đúng đường lối quần chúng và phải thực hiện tốt 6 điều:
Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình.

Sẵn sàng học hỏi nhân dân;

Tự mình phải làm kiểu mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo.

Thực ra tư tưởng Hồ Chí Minh về chống bệnh quan cách, ức hiếp nhân dân đã được Người cảnh báo từ trước cách mạng Tháng Tám 1945. Khi hình thành khu giải phóng, có một số cán bộ hống hách, ức hiếp, ăn chặn của dân, xa rời dân, báo Việt Nam độc lập đã có một loạt bài lên án các ông quan cách mạng tha hóa ấy.

“Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” là một phẩm chất đạo đức gắn liền với các hoạt động hàng ngày của mọi người. Nhưng đối với những người cách mạng, thì đây là một phẩm chất quan trọng nhất. Vì vậy, trong các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng phẩm chất này được đề cập đến nhiều nhất, thường xuyên nhất. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cần kiệm liêm chính, chí công vô tư có quan hệ mật thiết với nhau. Có khi Người coi cần kiệm như hai chân của con người, phải đi đôi với nhau, có khi Người coi cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính quan trọng của mỗi con người, mà thiếu một đức tính thì không thành người. Đức tính cần kiệm được thể hiện ngay trong các việc làm nhỏ nhất và thường nhật của Người. Trong hơn 300 bài báo, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đang lưu giữ bản gốc, thì có tới 90% bài viết Người sử dụng các mảnh giấy loại đã viết một mặt: như bản tin, giấy tiêu đề của Chủ tịch phủ in bằng tiếng Trung Quốc, thậm chí có những bản thảo bài báo ngắn khoảng gần 200 chữ, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng hai mảnh giấy nhỏ chắp lại. Trong một tài liệu dài 5 trang đánh máy do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào năm 1949 dưới tiêu đề “Kiểm điểm công việc của Đảng”, Người đã chỉ ra một số khuyết điểm của các đảng viên, như: Trong cuộc đấu tranh to lớn, lâu dài, gay go, ít nhiều đảng viên, ít nhiều nơi không tránh khỏi những khuyết điểm: chủ quan, hẹp hòi, mạo hiểm, hủ hóa, xa quần chúng, chủ nghĩa địa phương, không giữ kỷ luật, làm việc luộm thuộm, tự kiêu, tự mãn v.v…

Dù đó là chứng bệnh thanh niên (có lẽ từ bệnh thanh niên ở đây nên hiểu là bệnh ấu trĩ – TVH), nhưng từ nay Đảng đòi hỏi các Đảng viên phải kiên quyết tẩy cho kỳ sạch những bệnh ấy, vì nếu không trị cho khỏi hết thì nó có thể lây ra mà trở nên rất nguy hiểm cho Đảng. Sau đó Người viết tiếp: Mỗi một đảng viên phải kiên quyết thực hành những việc sau đây:

– Nghiên cứu chủ nghĩa (không hiểu chủ nghĩa thì như mò trong đêm tối).

– Gần gũi quần chúng (cách xa quần chúng, thì việc gì cũng không thành).

– Giữ nghiêm kỷ luật (kỷ luật không nghiêm thì lực lượng kém sút)

– Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư (không làm được như thế, thì không xứng đáng là người cộng sản).

Trong một số tài liệu khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng, người cán bộ phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, vì trách nhiệm trước nhân dân chính là một trong những thước đo quan trọng về phẩm chất đạo đức của mỗi cán bộ đảng viên. Dưới tiêu đề “Tinh thần trách nhiệm”, một bài báo được viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và lấy bút danh là C.B, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lý giải về tinh thần trách nhiệm của người nấu bếp, của người cán bộ quân sự được thể hiện các công việc hàng ngày và cuối cùng Người kết luận: Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm. Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ. Cũng nằm trong phông tư liệu gốc về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đang lưu giữ có một tập Bản thảo chương trình lớp huấn luyện bổ túc cấp xã do Bộ Nội vụ chuyển giao ngày 14-8-1958. Tập bản thảo dài 27 trang đánh máy trên giấy dó đã ngả màu. Đây là tập giáo trình do Bộ Nội vụ soạn thảo từ năm 1949 dùng để tập huấn bổ túc kiến thức lãnh đạo cho cán bộ cấp xã trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Điều đặc biệt là tập bản thảo này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc và sửa chữa trực tiếp. Tại mục D – Công việc lãnh đạo từ nay về sau phải như thế nào? của phần thứ V giới thiệu về “Phối hợp lãnh đạo”, trong dự thảo có 5 tiểu mục là: Nhận thức cho rõ vai trò lãnh đạo; Học tập nghiên cứu; Phải có tinh thần trách nhiệm; Cùng nhau bàn bạc để thống nhất ý chí; Theo dõi đôn đốc điều tra. Sau khi xem Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thêm một số ý vào các tiểu mục và bổ sung thêm 2 tiểu mục mới. Cụ thể như sau: Tiểu mục Học tập nghiên cứu, Người sửa thành Học tập phương pháp lãnh đạo; tiểu mục Cùng nhau bàn bạc để thống nhất ý chí, Người sửa thành “Cùng nhau bàn bạc thống nhất chủ trương hành động”; Còn 2 tiểu mục Chủ tịch Hồ Chí Minh mới thêm là: 6/-Kiểm thảo; 7/- Học hỏi thêm. Sau đó Người viết thêm: Bất kỳ công việc gì, còn một người dân chưa hiểu rõ, chưa làm đúng tức là lãnh đạo còn kém. Cuối cùng, trong phần câu hỏi thảo luận, Người viết : Muốn lãnh đạo: 1/- Người cán bộ hiểu thật rõ công việc; 2/- Phải tìm cách giải thích cho mọi người hiểu việc đó; 3/- Cán bộ phải xung phong gương mẫu.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, thì tự phê bình và phê bình là một nguyên tắc không thể thiếu được trong xây dựng nền đạo đức mới – đạo đức cách mạng. Trong một bài báo dưới tiêu đề Phê bình (bản gốc lưu tại BTCMVN viết là Fê bình), được viết vào năm 1951 đã đăng trên báo Nhân dân, số 16 ra ngày 12-7-1951, sau khi giải thích thế nào là phê bình, cách thức phê bình, mục đích phê bình, nguyên tắc phê bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Phê bình là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là thực hành dân chủ… Không phê bình tức là bỏ mất một quyền dân chủ của mình. Song phê bình phải đường hoàng, chính đáng, tuyệt không nên “thầm thì thầm thụt”, viết thư dấu tên như một vài cán bộ Thái Nguyên đã làm – (Chữ Thái Nguyên trong bản gốc, khi đưa đi đăng báo đã sửa lại thành ở T.N) (9). Phần cuối bài báo Người viết: Người ta luôn luôn cần lửa và nước cho đời sống. Người cách mệnh và đoàn thể cách mệnh cần phê bình và tự phê bình cũng thiết tha như người ta cần lửa và nước – (Theo như bản gốc thì 2 từ lửa và nước trước khi đăng báo sửa thành không khí).

Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là một di sản tinh thần vô cùng quí báu của Đảng và dân tộc ta. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, vấn đề đặt ra không chỉ ở chỗ thừa nhận và khẳng định những giá trị thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh, mà một điều rất quan trọng là vận dụng và phát triển những giá trị tư tưởng đó vào sự nghiệp xây dựng đội ngũ cán bộ của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. Những tư liệu gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam là những di sản vật chất quí báu để góp phần nghiên cứu tư tưởng của Người.

Th.s Triệu Văn Hiển
(Giám đốc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam)

dalat.gov.vn

Tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

(DVHNN) 1. Trọng dân, gần dân, thân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì nhân dân quên mình, chăm lo đến lợi ích của dân, dân chủ với dân, thật sự tôn vinh nhân dân làm chủ xã hội là một tư tưởng lớn, mang tính văn hóa, nhân văn, nhân đạo cao cả và tính cách mạng, tính nhân dân sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người tận tâm suốt đời với sự nghiệp đấu tranh để giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Chưa thấy ai nói lên được đầy đủ nỗi khổ của nhân dân, phản ánh chân thực tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và cũng chưa thấy ai bênh vực quyền lợi cho nhân dân như Hồ Chí Minh.

Ngay từ những năm, tháng gian nan vất vả đi tìm đường cứu nước, Người đã nói rõ mục đích của mình là để giải quyết vấn đề dân tộc và dân chủ ở Việt Nam. Dân tộc là đấu tranh để giải phóng dân tộc, dân chủ là giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân. Tư tưởng dân chủ của Người được phát triển từng bước, khi Người khẳng định: Nước ta là nước dân chủ. Một nước dân chủ, theo quan điểm của Người là tất cả lợi ích, quyền hạn, quyền hành, trách nhiệm đều quy về nơi dân, đều ở nơi dân. “Nhân dân”, hai tiếng thiêng liêng ấy vang lên trong lòng Người, cũng là tiếng chuông rung lên trong hàng triệu, hàng triệu trái tim của nhân dân Việt Nam. Ngay từ năm 1907, 1908, Người đã chứng kiến sức quật khởi vùng lên của nhân dân trong phong trào chống sưu thuế ở Trung Kỳ. Từ “đồng bào” (chung một bọc) được Người dùng từ đây và trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Người lấy đức, lấy tình thương yêu thật sự để cảm hóa dân.

Tư tưởng trọng dân được thể hiện không chỉ ở những trang sách lý luận bàn về dân, dân làm chủ, mà điểm chính yếu là người ta đã tìm thấy trong hoạt động thực tiễn của Người. Trọng dân, Người đến với dân. Trọng dân, Người gần gũi với các cụ già, trẻ thơ, thăm hỏi ân cần những người dân lương thiện, lao động cần cù, một nắng hai sương, an ủi họ, tạo mọi điều kiện để họ có cơ hội sống tốt, sống khỏe, sống vì mình, vì người, vì cộng đồng của 54 dân tộc anh em.

Tư tưởng dân chủ là tư tưởng tiến bộ nhất của phương Tây thời cận, hiện đại. Hồ Chí Minh xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện tiếng nói của dân tộc là tiếng nói chung của nhân dân, các quyền của nhân dân, chính quyền thật sự của nhân dân.

Hồ Chí Minh nói nhiều đến lòng tin của người dân với Ðảng và Nhà nước, cụ thể là với những người lãnh đạo, quản lý. Người cho rằng, muốn được dân tin Ðảng, tin Nhà nước của mình, thì người lãnh đạo và quản lý, trước hết, phải dân chủ với dân, tôn trọng dân như tôn trọng chính bản thân mình. Không tôn trọng dân, không dân chủ với dân sẽ làm khoảng cách giữa Ðảng, Nhà nước với dân ngày một xa, làm cho lãnh đạo và người dân cách biệt nhau, xa rời nhau. Người chỉ ra: Trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp. Dưới thì có gì không dám nói ra. Họ không nói, không phải vì họ không có ý kiến, nhưng vì họ nói ra, cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị trù dập. Họ không dám nói ra thì họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản. Rồi sinh ra thói “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Ðảng im tiếng, ngoài Ðảng nhiều mồm”, sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và những thói xấu khác. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ cần phải nâng cao, mở rộng dân chủ, để cho người dân được “mở mồm”, động viên mọi người suy nghĩ để làm những việc ích lợi cho dân.  Người nói: Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: Dân rất tốt. Theo Người: Mỗi công việc của Ðảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, đó là trọng dân.

Hồ Chí Minh đã thường xuyên giáo dục cán bộ phải làm tốt công tác vận động nhân dân. Dân vận là vận động từng người dân, góp thành lực lượng toàn dân để chung sức chung lòng xây dựng và bảo vệ đất nước. Ðiều quan trọng là kiên trì giải thích cho dân hiểu trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ, lợi ích của mình. Người lãnh đạo chân chính bao giờ và bất cứ việc gì cũng phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, sao cho phù hợp với trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, lòng ham ý muốn của dân. Xét cho cùng, mọi cái đều từ dân mà ra và trở về nơi dân. Ðể cho dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là trọng dân.

Hồ Chí Minh cho rằng, vấn đề quan trọng bậc nhất là vấn đề lợi ích của người dân. Nếu lãnh đạo mang lại lợi ích thiết thực cho dân, sẽ làm cho dân tin Ðảng, tin chế độ. Nguyên tắc chung của chính sách với dân là tạo sự hài hòa giữa ba lợi ích: Lợi ích công dân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, trong đó, phải hết sức coi trọng lợi ích của người lao động chân chính. Ðiều tiết thu nhập hợp lý và phân chia công bằng lợi ích giữa các tầng lớp nhân dân là việc làm có ý nghĩa nhằm củng cố niềm tin của nhân dân vào Ðảng và Nhà nước. Muốn mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, trước hết, phải có chính sách đúng.  Quan điểm của Hồ Chí Minh là, tất cả đường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước đều có ảnh hưởng trực tiếp đến dân, đều phải hướng vào dân và nhằm nâng cao đời sống của nhân dân. Trong Di chúc, Người viết: Ðảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân (Người gạch dưới nhấn mạnh cụm từ “nâng cao đời sống của nhân dân”). Mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, là trọng dân.

2. Hồ Chí Minh là người có phong cách rất đặc biệt để gần dân. Ðó là phong cách cao thượng đến giản dị. Tiết kiệm và giản dị là phong cách nổi trội của Hồ Chí Minh. Vì vậy, dân được đến với Người, được đứng bên người, được trò chuyện với Người, như được trò chuyện với người hiền, người cha, người thân yêu nhất của mình. Ðến với nông dân, Người mặc quần nâu, áo vải, khăn mặt vắt vai, đầu đội mũ cát. Ðến với công nhân, Người mặc bộ quần áo xanh đã bạc mầu, đi đôi dép cao-su. Ðến với trí thức, Người mặc bộ quần áo ka-ki mầu vàng, đi đôi giày vải, thể hiện sự hòa đồng rất tự nhiên với nhân dân lao động nói chung.

Sự tiết kiệm đến mẫu mực, thể hiện phong cách cao thượng  của  Hồ Chí Minh.

Tham ô (mà ngày nay chúng ta gọi là tham nhũng) và lãng phí, dựa vào tiền “chùa” để ăn chơi vung phí, cái mà Người ghét cay, ghét đắng, thường xuyên lên án. Người nói: Tham ô là hành động xấu xa nhất, tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội. Tham ô là trộm cắp của công, chiếm của công làm của tư. Nó làm hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà; hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân; hại đến đạo đức cách mạng của người cán bộ và công nhân. Lãng phí tuy khác với tham ô ở chỗ người gây ra lãng phí không trực tiếp trộm cắp của công làm của riêng. Nhưng kết quả thì làm tổn hại nghiêm trọng cho Nhà nước, cho nhân dân.

Tiết kiệm thời giờ là một trong những phong cách đặc sắc, thể hiện đạo đức cao quý của Hồ Chí Minh. C.Mác có lần đã nói: Tiết kiệm thời gian chính là một trong những nguồn gốc để tạo nên giá trị và giá trị sử dụng. Với Hồ Chí Minh, vấn đề tiết kiệm thời gian được xem như “thì giờ là vàng ngọc”, cho nên phải tiết kiệm thì giờ đi đôi với tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nó phải được xem như là một yếu tố kinh tế – xã hội, là vấn đề mang tính quy luật của quá trình vận động xã hội. Người là hiện thân và mẫu mực của việc sử dụng thời gian hợp lý trong mọi công việc. Trong hồi ký của một vị lão thành cách mạng kể rằng, khi còn là người đi lao động làm thuê ở nước ngoài trong lộ trình đi tìm đường cứu nước, đã chiếm hết thời gian trong mỗi ngày của Bác, nhưng khi rảnh rỗi, nhất là về đêm, Bác lại tranh thủ học tập, nghiên cứu. Khi trở về Tổ quốc thân yêu để lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, Bác đã dành hết thời gian để chăm lo, xây dựng lực lượng cách mạng, phát động quần chúng, tiến lên giành thắng lợi trong tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân. Trong những ngày hòa bình lập lại ở miền bắc, Bác thường xuyên nhắc nhở cán bộ và nhân dân phải tranh thủ mọi thời gian để lo vào việc sản xuất và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền bắc, ủng hộ đồng bào miền nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tiết kiệm thời gian sẽ góp phần đẩy nhanh tới thống nhất đất nước.

Phong cách gần dân của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở những công việc giản dị, đơn sơ hằng ngày khi tiếp xúc với dân, ở cách cư xử đầy tính nhân văn của tình người, tình làng, nghĩa xóm. Trong Hồi ký: Con đường theo Bác, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã kể lại, trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, hồi ở núi rừng Việt Bắc, Ðảng, Chính phủ và Bác đã phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước trong công nhân, nông dân, trường học, các lực lượng vũ trang như phong trào tăng gia, sản xuất, tiết kiệm. Bản thân tôi thuộc loại “chân yếu” (1), nhưng chiều nào cũng vác cuốc đi tăng gia. Có hôm cuốc đất tới lúc trời tối hẳn mới về. Sự cố gắng được đền bù bằng những luống rau xanh, bí, ngô, khoai. Tôi trồng được một vườn bí sai quả. Khi bí to, tôi hái vài quả, nhờ đồng chí thư ký mang sang biếu Bác. Bác nhận bí, rồi gửi lại đồng chí thư ký chuyển cho tôi bức thư. Trong thư, Bác đề vẻn vẹn có hai câu thơ:

“Ăn quả nhớ người trồng cây

Cảm ơn chú Việt. Bí này còn non”.

Câu thơ của Bác nhắc nhở tôi đừng vội hái quả non, mọi cái phải đạt tới “độ chín” mới có giá trị. Cách nhắc nhở nhẹ nhàng của Bác làm tôi thấm sâu. Ðặc điểm trong phong độ của Bác bao giờ cũng tế nhị, nhưng sâu sắc, chính vì thế mà Bác cảm hóa được nhiều người.

Tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Hồ Chí Minh là điểm hội tụ hợp thành đạo đức Hồ Chí Minh. Người là hiện thân của đạo đức, tình cảm, lương tâm, danh dự vì nhân dân.

Học tập tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Hồ Chí Minh là việc làm đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. Tiếc rằng, trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên còn không ít những người xa dân, lên mặt với dân. Miệng nói phục vụ nhân dân, nhưng trong lòng lại chỉ muốn nhân dân phục vụ mình. Miệng nói nguyện làm đầy tớ của dân, nhưng việc làm lại bắt dân làm đầy tớ cho mình, còn mình thì chễm trệ ngồi trên ghế ông chủ. Miệng nói mang lại lợi ích cho dân, nhưng trong lòng lại chỉ lo thu vén cho mình. Trên bục giảng, có người thao thao bất tuyệt về học tập đạo đức Hồ Chí Minh, nhưng khi về đến nhà lại đánh nhau với người hàng xóm. Thật trớ trêu! Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải rất nghiêm túc trong việc học tập đạo đức Hồ Chí Minh. Học tập tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Người, mỗi người chúng ta phải phấn đấu, rèn luyện rất gian khổ, thì mới có thể thấm nhuần tư tưởng đạo đức trọng dân và phong cách gần dân của Người.

Chúng ta hãy thực hiện điều mong ước của Người: Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Ðược như thế thì trong Ðảng sẽ không có bệnh mà Ðảng sẽ mạnh khỏe vô cùng.

(1) Bản thân đồng chí Hoàng Quốc Việt, trong thời gian hoạt động bí mật của những ngày đầu thành lập Ðảng, bị mật thám Pháp bắt, đánh đến tàn phế, què chân, suốt đời phải đi “cà nhắc”, cho nên đồng chí đó thường nói vui: Tôi thuộc loại chân yếu, tay mềm.

PGS. TS ÐỨC VƯỢNG
Nguồn tin: THEO NHÂN DÂN ĐIỆN TỬ

dvhnn.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân do dân vì dân

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02/9/1945 tại Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Từ đó khai sinh ra nước Việt Nam mới. Ngày 03/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra với Chính phủ 1 trong 6 nhiệm vụ cấp bách là: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để sớm có Nhà nước lập hiến do dân bầu ra. Thực hiện lời đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 06/01/1946 nước ta tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I thành công tốt đẹp. Tiếp đó, ngày 02/3/1946 Quốc hội họp phiên đầu tiên và bầu Người làm Chủ tịch Chính phủ. Đây là các đại biểu Quốc hội của nhân dân, do nhân dân bầu có đầy đủ tư cách và hiệu lực trong việc giải quyết mọi vấn đề nội trị và ngoại giao của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bác Hồ trong một chuyến về thăm bà con nông dân năm 1956 (T-TNN st)

Ngay từ buổi đầu Bác Hồ đã khẳng định “Nước ta là nước dân chủ”, nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Nhà nước là của dân, do dân, vì dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, thực hiện dân chủ với đa số nhân dân và chuyên chính với thiểu số phản động chống lại nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ xã đến Trung ương do dân cử ra. Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Chính đó là điểm khác nhau về bản chất giữa nhà nước dân chủ của ta và nhà nước của các giai cấp bóc lột.

Theo Bác Hồ, Nhà nước ta là nhà nước của dân vì “tất cả quyền hành trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”… “nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân, nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”. Các vị đại diện của dân, do dân cử ra chỉ là thừa ủy nhiệm của dân, chỉ là “công bộc của dân”. Bác Hồ phê phán những vị đại diện lầm lẫn sự ủy quyền đó với quyền lực cá nhân: “cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân, chứ không phải cậy thế với dân”.

Theo Bác Hồ, Nhà nước do dân, là nhà nước do dân lựa chọn bầu ra, do dân ủng hộ giúp đỡ, đóng thuế để nhà nước chi tiêu, hoạt động, do dân phê bình xây dựng. Cho nên Bác Hồ luôn yêu cầu: Tất cả các cơ quan nhà nước phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và sự giám sát, kiểm tra, kiểm soát của nhân dân.

Về Nhà nước vì dân, theo Bác Hồ, chỉ có nhà nước thực sự của dân, do dân tổ chức xây dựng mới có thể là nhà nước vì dân. Nhà nước vì dân là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của dân, không có đặc quyền, đặc lợi, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, trong sạch vững mạnh. Bác Hồ yêu cầu “việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại cho dân ta phải hết sức tránh”. Vì vậy cán bộ nhà nước phải là đầy tớ của dân, đồng thời là người lãnh đạo hướng dẫn nhân dân. Bác dạy: “người thay mặt đều phải đủ cả đức và tài, vừa hiền lại vừa minh”.

Nhận thức về nhà nước của dân, do dân, vì dân cũng cần thấy rõ sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nhà nước dân chủ của ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời, tồn tại và phát triển đến ngày nay là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ với sự hy sinh xương máu của bao thế hệ trước và sau Cách mạng Tháng Tám. Khi nhà nước vừa ra đời phải đảm nhận nhiệm vụ lịch sử tổ chức cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ của dân tộc để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ lợi ích của nhân dân, của dân tộc, giữ vững nền độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội của đất nước. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

HOÀNG KIM

binhthanh.hochiminhcity.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đảng viên

Vấn đề phát triển Đảng là vấn đề quan trọng trong xây dựng Đảng. Quan điểm, tư tưởng của Người về vấn đề này có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Đảng “cũng ở trong xã hội”. Đảng là một cơ thể sống, tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan, có hấp thụ, có đào thải. Đảng phải có một số lượng đảng viên nhất định mới hình thành nên tổ chức đảng. Sự nghiệp lãnh đạo cách mạng của Đảng là sự nghiệp vĩ đại lâu dài phải do nhiều thế hệ chiến sĩ cộng sản tham gia gánh vác. Đảng phải liên hệ mật thiết với quần chúng, phải không ngừng nâng cao chất lượng lãnh đạo, sức chiến đấu tương xứng với đòi hỏi khách quan của tình hình nhiệm vụ cách mạng. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu chỉ có thể có trên cơ sở số lượng, chất lượng đội ngũ đảng viên tương ứng. Do đó, Đảng phải thường xuyên làm tốt công tác phát triển đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích: “Nếu Đảng ta không biết chọn lọc, kết nạp, đề bạt đồng chí mới thì đâu có như ngày nay”(1). Người vạch rõ tính tất yếu, yêu cầu, phương châm, phương pháp của công tác phát triển đảng: “Để làm tròn nhiệm vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang… Đảng phải phát triển tổ chức của mình một cách thận trọng, vững chắc và rộng rãi trong quần chúng”(2).

Tư tưởng quán xuyến trong quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển Đảng là “coi trọng chất lượng”. Người dạy rằng, Đảng mạnh không phải chỉ do số lượng đảng viên quyết định; số lượng đảng viên chỉ trở thành sức mạnh một khi nó đạt những yêu cầu về chất lượng. Theo Người, nếu không quán triệt và thực hiện đúng đắn vấn đề có tính nguyên tắc đó, thì dù có kết nạp được nhiều đảng viên, dù số lượng đảng viên tăng, vẫn không làm cho tổ chức đảng mạnh lên mà trái lại có khi còn làm cho tổ chức đảng trở nên lỏng lẻo, biến Đảng thành câu lạc bộ, không làm tròn vai trò người lãnh đạo. Do vậy, Người luôn nhắc nhở: “Đảng không phải chỉ cần số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên”(3). Người đặc biệt nhấn mạnh khi tiến hành phát triển đảng “phải nắm vững phương châm phát triển Đảng là trọng chất hơn lượng”(4).

Ngày nay, đất nước ta bước vào thời kỳ hội nhập, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Thắng lợi của sự nghiệp này gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo và hoạt động của Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định tạo nên những thành tựu đổi mới to lớn hơn. Điều đó đòi hỏi Đảng hơn bao giờ hết phải tiếp tục nâng cao phẩm chất cách mạng và khoa học, không ngừng củng cố sức mạnh chiến đấu, lãnh đạo có kết quả công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong những tình huống mới hết sức phức tạp. Yêu cầu xây dựng Đảng ngang tầm đòi hỏi của thời kỳ mới đặt ra cho công tác phát triển đảng những yêu cầu mới. Để quán triệt và thực hiện đúng đắn những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo chúng tôi, cần tập trung làm tốt mấy vấn đề sau:

Một là, phải xác định và vận dụng đúng đắn tiêu chuẩn đảng viên. Đây là vấn đề then chốt. Tiêu chuẩn đảng viên là những chuẩn mực phản ánh bản chất của người đảng viên, là căn cứ để phân biệt sự khác nhau giữa người đảng viên với quần chúng, là cơ sở để cho từng đảng viên tự tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện và là căn cứ để thu nạp những quần chúng tốt vào Đảng, loại bỏ những đảng viên thoái hoá ra khỏi Đảng. Tiêu chuẩn đảng viên trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cách mạng biểu hiện tuy có khác nhau, song bản chất của nó không hề thay đổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những tiêu chuẩn cơ bản thể hiện bản chất đó:

“Từ nay về sau, tất cả các đảng viên, cán bộ và chi bộ cần thường xuyên ôn lại, tự liên hệ và giữ cho đúng những tiêu chuẩn của người đảng viên.

1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

2. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm, kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài.

3. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi ích riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng.

4. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và đường lối của Đảng.

5. Liên hệ chặt chẽ với quần chúng.

6. Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình”(5).

Khi vận dụng tiêu chuẩn đảng viên để xem xét kết nạp quần chúng vào Đảng, Người căn dặn các tổ chức đảng phải đặc biệt quan tâm đến sự giác ngộ, lòng trung thành, thái độ trách nhiệm với Đảng, với nhân dân của người xin vào Đảng, Người nhấn mạnh: “Gọi là đảng viên thì phải nhận rõ, phải biết rõ Đảng ta phải làm gì, vào Đảng để làm gì”(6).

Hai là, phải thực hiện tốt phương hướng phát triển đảng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phương hướng phát triển Đảng là yếu tố quan trọng đảm bảo cho công tác phát triển đảng có chất lượng, giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng.

Trong khi khẳng định phải coi trọng việc phát triển Đảng trong công nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng không nên hẹp hòi với các thành phần lao động khác. Theo Người, nếu những người xuất thân từ các thành phần lao động khác đó tự nguyện rèn luyện tư tưởng, lập trường giai cấp công nhân, muốn đứng trong hàng ngũ của Đảng để phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, xét thấy có đủ điều kiện thì kết nạp vào Đảng. Có như vậy mới thường xuyên tăng thêm nguồn sinh lực và sức chiến đấu mới cho Đảng, tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Vì vậy, Đảng phải chú trọng phát triển toàn diện vào các vùng, các ngành, các giới, đặc biệt đẩy mạnh việc phát triển Đảng vào thanh niên, phụ nữ, vào các vùng xung yếu, các cơ sở còn ít đảng viên.

Ba là, phát triển Đảng phải tích cực, thận trọng, phát triển phải luôn luôn đi đôi với củng cố. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu các tổ chức đảng phải có kế hoạch phát triển Đảng trong từng thời kỳ, bảo đảm đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng của Đảng; phải tiến hành thật tích cực, chủ động, không bị động, ỷ lại ngồi chờ người có đủ điều kiện rồi kết nạp theo lối ăn sẵn, phải gây dựng, đẩy mạnh phong trào cách mạng để trên cơ sở đó mà phát hiện, tìm hiểu, tuyên truyền, giáo dục và rèn luyện các phần tử tích cực, nâng cao dần trình độ của họ từ thấp đến cao, tạo cho họ có đủ điều kiện trở thành người đảng viên. Khi xét kết nạp người vào Đảng, phải xem xét toàn diện cả trình độ giác ngộ, động cơ vào Đảng, cả phẩm chất đạo đức và năng lực hành động thực tế, cả lý lịch gia đình, bản thân và uy tín trước quần chúng…; phải xem xét sự rèn luyện, tu dưỡng và kết quả hoàn thành nhiệm vụ trong một quá trình liên tục với những đều kiện, hoàn cảnh và những thử thách khác nhau; phải thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc, thủ tục kết nạp đảng, hết sức cảnh giác đề phòng các phần tử thù địch, cơ hội chui vào Đảng. Chống giản đơn, phiến diện, chạy theo chỉ tiêu số lượng, kết nạp ẩu, hoặc vin vào thận trọng sinh ra rụt rè, bảo thủ, hẹp hòi, cục bộ.

Phát triển Đảng phải luôn luôn đi đôi với củng cố đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đây là hai vấn đề của xây dựng Đảng, có quan hệ hữu cơ với nhau. Củng cố Đảng tốt là điều kiện để tiến hành phát triển Đảng có chất lượng. Phát triển Đảng có chất lượng là cơ sở để củng cố Đảng tốt hơn. Do đó, cấp ủy đảng cần phải xem công tác củng cố và phát triển đảng là một công tác quan trọng và thường xuyên. Phải coi trọng giáo dục rèn luyện đội ngũ đảng viên để mỗi đảng viên vừa là “người lãnh đạo” vừa là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, là tấm gương để quần chúng ngưỡng mộ, muốn vào Đảng, được là đồng chí của những người tiên tiến. Đồng thời, kiên quyết loại ra khỏi Đảng những phần tử thoái hoá, biến chất.

Bốn là, thực hiện tốt các bước phát triển Đảng. Phát triển Đảng là quá trình lựa chọn, chuyển hoá những quần chúng ưu tú trong đấu tranh cách mạng thành những chiến sĩ cộng sản, quá trình đó chỉ đạt hiệu quả cao khi nó được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ.

– Bước thứ nhất là thông qua phong trào cách mạng của quần chúng, phát hiện, lựa chọn đưa vào nguồn phát triển Đảng những quần chúng ưu tú “có lịch sử chính trị rõ ràng”, “đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong việc đấu tranh”, “liên lạc mật thiết với quần chúng”, tin tưởng vào Đảng và có nguyện vọng muốn gia nhập Đảng để phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Việc tạo nguồn phát triển Đảng do tổ chức có thẩm quyền quyết định, dựa trên cơ sở phát hiện, giới thiệu của đảng viên, tổ đảng và tổ chức quần chúng của Đảng.

– Bước thứ hai là tuyên truyền, giác ngộ, giáo dục, rèn luyện, thử thách. Nội dung giáo dục, rèn luyện phải toàn diện, cả phẩm chất và năng lực, cả chính trị, đạo đức và nghiệp vụ chuyên môn, trong đó “lấy đức làm gốc”. Phương pháp cơ bản để giáo dục, chuyển hoá quần chúng là: Động viên quần chúng tự giác, rèn luyện theo tiêu chuẩn đảng viên; đồng thời, thông qua hoạt động sản xuất, đấu tranh cách mạng và bằng giáo dục, thuyết phục, nêu gương, tự phê bình và phê bình trong các đoàn thể cách mạng mà cảm hoá, xây dựng, nâng dần trình độ giác ngộ của quần chúng từ thấp lên cao, từ giác ngộ dân tộc đi đến giác ngộ giai cấp, từ tán thành những chủ trương, chính sách của Đảng đi đến ủng hộ, đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và tự nguyện xin gia nhập Đảng.

– Bước thứ ba là kết nạp quần chúng vào Đảng theo đúng thủ tục mà Điều lệ Đảng đã quy định.

– Bước thứ tư là tiếp tục bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện đảng viên mới và làm đúng, đủ các thủ tục chuyển đảng viên dự bị thành đảng viên chính thức.

Để thực hiện có hiệu quả quy trình trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn các tổ chức đảng phải có kế hoạch, có kiểm tra, đôn đốc và thường xuyên tổng kết đúc rút kinh nghiệm. Đồng thời, phải gắn kết hoạt động phát triển Đảng với các hoạt động xây dựng đảng, xây dựng đơn vị và thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các ngành, các giới, các lực lượng tham gia xây dựng, phát triển Đảng n

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 10, tr.467. (2) Sđd, tập 10, tr.20,21. (3) Sđd, tập 12, tr.222. (4) Sđd, tập 11, tr.155. (5) Sđd, tập 10, tr.69. (6) Sđd, tập 12, tr.221.

Trần Thông
Học viện Chính trị quân sự Bắc Ninh

xaydungdang.org.vn

Xây dựng chính quyền “Thân Dân” theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tiếp nhận dòng chảy văn hóa truyền thống của dân tộc và thời đại, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được vai trò to lớn của nhân dân. Không chỉ dừng lại ở đó, Người còn luôn luôn tôn trọng, tin tưởng và đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Chính vì vậy, cả cuộc đời của Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Về thực chất, đây cũng chính là tư tưởng thân dân. Người cán bộ giữ được cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, là người có ý thức phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc, của Đảng lên trên hết, là thân dân.

134.jpgChính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ảnh: Tuấn Anh

Vậy thì vì sao ta phải xây dựng chính quyền “Thân dân”? Hồ Chí Minh giải thích: dân là gốc của nước. Dân là người đã không tiếc máu xương để xây dựng và bảo vệ đất nước. Nước không có dân thì không thành nước. Nước do dân xây dựng nên, do dân đem xương máu ra bảo vệ, do vậy dân là chủ của nước. Nhân dân đã cung cấp cho Đảng những người con ưu tú nhất. Lực lượng của Đảng có lớn mạnh được hay không là do dân. Nhân dân là người xây dựng, đồng thời cũng là người bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ của Đảng. Dân như nước, cán bộ như cá. Cá không thể sinh tồn và phát triển được nếu như không có nước. Nhân dân là lực lượng biến chủ trương, đường lối của Đảng thành hiện thực. Do vậy, nếu không có dân, sự tồn tại của Đảng cũng chẳng có ý nghĩa gì. Đối với Chính phủ và các tổ chức quần chúng cũng vậy.

Chính quyền “Thân dân”, phải là chính quyền hiểu dân, nghe được dân nói, nói được cho dân nghe, làm được cho dân tin, là nhận biết được những nhu cầu của họ, biết được họ đang suy nghĩ gì, trăn trở cái gì? Họ mong muốn những gì? Và họ đang mong đợi gì ở chính quyền, nhất là ở người lãnh đạo, quản lý; phải biết phát hiện và đáp ứng kịp thời những nhu cầu và lợi ích thiết thực của dân; là nhìn thấy cả cái thực tại và vạch ra được viễn cảnh (tương lai) đúng đắn cho dân phát triển; là biết chia sẻ, đồng cảm và gần gũi với cuộc sống của dân, mọi quyết sách đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của dân, phản ánh đúng tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của dân. Tháng 10-1945, trong thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “…Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì… Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(1) . Người yêu cầu cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống đều phải là đày tớ trung thành của nhân dân. Theo Người: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”(2) .

420.jpgTheo Hồ Chí Minh thì cán bộ là công bộc, là đầy tớ trung thành của nhân dân. Ảnh: Tuấn Anh

Từ thực tế, Hồ Chí Minh đã thẳng thắn phê phán nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, khi xuống cấp dưới triển khai công việc thì khệnh khạng như “ông quan” và nội dung truyền đạt thì rất đại khái, hình thức, vì vậy mà quần chúng không hiểu và rất sợ đi họp. Đó là bệnh xa quần chúng, bệnh hình thức, không phải vì lợi ích của quần chúng. Việc đặt ra chương trình làm việc, kế hoạch hành động, tuyên truyền, nhiều cán bộ cũng không hỏi xem quần chúng cần cái gì, muốn nghe, muốn biết cái gì, “chỉ mấy ông cán bộ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy mà viết, cứ tưởng những cái mình làm ra là đúng, mình viết là hay. Nào có biết, cách làm chủ quan đó, kết quả là “đem râu ông nọ chắp cằm bà kia”, không ăn thua, không thấm thía, không lợi ích gì cả”.

Là người phục vụ nhân dân, cán bộ Đảng, Nhà nước, đoàn thể đồng thời là người lãnh đạo, người hướng dẫn của nhân dân. Theo Người: Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng, nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường. Cán bộ, đảng viên phải làm thế nào để xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Điều này cho thấy, Hồ Chí Minh không bao giờ đối lập vai trò người lãnh đạo với người đày tớ của nhân dân trong bản thân người cán bộ của Đảng và Nhà nước, mà trái lại Người yêu cầu phải làm thế nào để xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Là lãnh đạo không có nghĩa là đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Bởi vì: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ cấp nào và ngành nào đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”(3).

Trong Nhà nước của dân thì dân là chủ, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, nghĩa là có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực, hình thành được các thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân. Cũng trên ý nghĩa đó, các vị đại diện của dân, do dân cử ra, chỉ là thừa ủy quyền của dân, chỉ là “công bộc” của dân theo ý nghĩa đúng đắn của từ này.

Chính những tư tưởng của Người về vấn đề thân dân đã chỉ đạo cho hoạt động cách mạng của chúng ta trong việc huy động sức mạnh vật chất và tinh thần phục vụ cho cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng mối quan hệ đoàn kết toàn dân. Hiện nay, đại đa số cán bộ, đảng viên ta đã nhận thức và làm tốt việc coi trọng nhân dân, vì nhân dân phục vụ, làm cho kinh tế, văn hóa và xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện…

Tuy nhiên, dưới tác động mặt trái của cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập cùng những thiếu sót, khuyết điểm chủ quan của chúng ta trong lãnh đạo, quản lý cũng như trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước nên thời gian qua ở nước ta, các hiện tượng tiêu cực xã hội phát triển, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống. Tệ tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, có nguy cơ làm biến chất Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào Nhà nước và chế độ, làm giảm sút mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, gây nguy hại cho sự nghiệp cách mạng.

Trong quan hệ giữa chính quyền với nhân dân, những biểu hiện như quan liêu, cửa quyền, vô cảm với nhân dân, xa dân, sách nhiễu dân đang có nguy cơ phát triển. Sự tha hóa của một bộ phận cán bộ có chiều hướng phát triển, thể hiện ở xa dân, sách nhiễu dân, tệ quan liêu, tham nhũng… Cán bộ lãnh đạo một số nơi còn lúng túng trước nhiệm vụ đặt ra, hội họp nhiều nhưng giải quyết công việc chưa hiệu quả, không sâu sát thực tế…

Đối thoại giữa chính quyền và người dân chưa thường xuyên. Còn đùn đẩy, né tránh trách nhiệm nên giải quyết khiếu nại, tố cáo chậm. Bệnh che giấu khuyết điểm, nơi này đổ lỗi cho nơi kia còn khá phổ biến… Tình trạng hành dân, khinh dân, thậm chí lợi dụng quyền hành để bắt dân cống nạp, vẫn xảy ra ở nơi này nơi kia trong bộ máy chính quyền các cấp, kể cả cấp cơ sở, ở các vùng nghèo, vùng sâu.

Nhiều cơ quan công quyền thường có thói quen ra những mệnh lệnh, những quyết định bắt người dân phải thi hành mà không tham khảo ý kiến của nhân dân. Ở nhiều địa phương việc xây dựng Quy chế dân chủ còn hình thức, trên thực tế người dân chưa được thực hiện quyền chính đáng của mình. Chính quyền một số nơi, nhất là ở cơ sở, nơi trực tiếp với nhân dân nhưng lại xa dân, ít quan tâm đến đời sống của nhân dân, không chú ý tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc và tâm tư, nguyện vọng của dân, phong cách chỉ đạo, quản lý nặng về quan liêu, mệnh lệnh, vô cảm trước khó khăn, vất vả của dân. Những chủ trương liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi của dân không được đưa ra bàn bạc, thảo luận, lấy ý kiến của nhân dân hoặc giải thích cho nhân dân hiểu rõ để nhân dân tự giác chấp hành. Vì vậy, một số quyết định của chính quyền cấp cơ sở không được nhân dân đồng tình, có nơi khiến nhân dân bất bình, là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh tình trạng khiếu kiện vượt cấp, kéo dài.

Để khắc phục được tình trạng đó, đòi hỏi chính quyền các cấp, những “đày tớ”, “công bộc” của dân, có bổn phận phục vụ nhân dân, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của dân giao, chịu sự kiểm soát của dân và sẽ bị tước quyền nếu đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Để phục vụ nhân dân, người cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có giác ngộ sâu sắc về mục đích sống, mục đích hành động và việc làm của mỗi người, để trở thành những người “vừa hồng, vừa chuyên”, thực sự là tấm gương sáng để quần chúng nhân dân noi gương. Tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân chỉ có được khi chính quyền các cấp có cán bộ, đảng viên thực sự thân dân.

Thời đại Hồ Chí Minh, những giá trị văn hóa chính trị yêu nước, thương dân, lấy dân là gốc được soi sáng và phát triển rực rỡ, trở thành chân lý khoa học, kim chỉ nam cho hành động. “Thân dân”, luôn coi dân là gốc, là đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên những người đại diện cho chính quyền, đoàn thể các cấp phải tự đặt mình vào địa vị của người dân mà mình đại diện để hiểu, suy xét, chia sẻ tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị, đề xuất , mong muốn của người dân. Có lắng nghe, thấu hiểu nguyện vọng chính đáng của dân thì đại biểu dân cử mới thực hiện tốt việc “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến cho dân ta phải hết sức tránh”. Bởi, ta có yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta.

Xây dựng chính quyền “Thân dân” biểu hiện ở việc cán bộ, đảng viên thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi do pháp luật quy định. Tức là, phải trung thành với mục tiêu lý tưởng, với chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, phải hướng đến một nền hành chính, một tổ chức, một bộ máy phục vụ nhân dân; luôn gương mẫu hoàn thành kế hoạch được giao và nếu có chức vụ phải biết sử dụng quyền lực để giao việc, kiểm tra, theo dõi, đánh giá, phê bình, khen thưởng một cách công minh chính trực; phải lắng nghe và dựa vào quần chúng nơi cơ quan để xây dựng quy chế làm việc, quy chế dân chủ cơ sở, quy chế chi tiêu tài chính, các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, làm cho cơ quan đoàn kết nhất trí; không xu nịnh, không ưa nịnh, không chia bè chia cánh, cục bộ, bản vị; phải luôn đề cao trách nhiệm vì dân để giải quyết nhanh chóng, kịp thời những chế độ, chính sách liên quan đến người dân; phải thận trọng trong việc xem xét, quyết định các vấn đề hệ trọng có ảnh hưởng đến quyền bình đẳng, quyền lợi của các tầng lớp nhân dân. Khi nhân dân có ý kiến, khiếu nại, tố cáo, kể cả tố cáo cá nhân mình, thì phải biết bình tĩnh lắng nghe, phân tích và có thái độ kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, nếu quyết định của mình chưa đúng. Không né tránh, đùn đẩy, gây phiền hà và khó khăn, tốn kém cho dân…

Nói và thực hành “Thân dân” trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay càng đòi hỏi chính quyền các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên phải gần dân, sát dân, luôn luôn lắng nghe và thấu hiểu mọi tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của dân, nhằm giải quyết kịp thời những nhu cầu và lợi ích chính đáng, thiết thực và cụ thể của quần chúng; phải từ trong dân, từ ý chí và tâm trạng của dân để phục vụ nhân dân.

Th.S Nguyễn Năng Nam
Phòng Chính trị, Học viện Khoa học Quân sự


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t.4, tr.56-57.
[2] Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.375.
[3] Hồ Chí Minh: Sđd, t.10, tr.323.

nhoNguoicha

Tìm hiểu tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Từ nhiều năm nay, tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Đã có nhiều bài tham luận, bài viết, bài báo về đề tài này. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, chúng tôi xin tiếp cận đề tài đó ở những vấn đề sau đây:

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng vào lực lượng và trí tuệ của nhân dân.

Ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh đã dạy cán bộ, đảng viên bài học “Nước lấy dân làm gốc”. “Trong cuộc kháng chiến kiến quốc lực lượng chính là ở dân”. Vì vậy, Người đề ra “cách làm là dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân”(1).

Tin tưởng vào lực lượng và trí tuệ của nhân dân là một trong những phẩm chất cơ bản của người cộng sản. Trong hoàn cảnh đất nước càng gian khổ thì lại càng phải tin vào khả năng cách mạng, tin vào lực lượng quần chúng nhân dân. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Nhà nước Việt Nam non trẻ đứng trước những thử thách ngàn cân treo sợi tóc. Ngân quỹ quốc gia chỉ vẻn vẹn có hơn 1 triệu đồng bạc rách, nhưng lại có rất nhiều việc phải chi tiêu, nhiều vấn đề phải giải quyết. Chỉ còn cách duy nhất là dựa vào dân, tin vào dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra phong trào thi đua yêu nước, phát động “Tuần lễ vàng” kêu gọi sự ủng hộ của nhân dân với Chính phủ. Đáp lại niềm tin của Cụ Hồ, chỉ trong một thời gian ngắn, với lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân ta đã quyên góp vào nền tài chính quốc gia được hơn 20 triệu đồng và hơn 370 kg vàng.

Như người xưa từng nói: “Nguy cơ lớn nhất đối với một đất nước là trong nước có người tài mà không biết, biết mà không dùng, dùng mà không tin”. Để kêu gọi, nhắn nhủ những người hiền tài ra giúp nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tìm người tài đức” đăng Báo Cứu quốc, số 411, ra ngày 20/11/1946. Người nhấn mạnh: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết”. Chính nhờ tấm lòng rộng mở, đầy khoan dung, được thừa kế từ truyền thống lâu đời của dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho tầng lớp nhân sĩ, trí thức đem hết công sức của mình vào sự nghiệp cách mạng. Ngay các quan lại cao cấp trong triều đình Huế, trong Chính phủ Trần Trọng Kim, Phan Kế Toại, Phạm Khắc Hòe,… cũng đã được ánh hào quang từ Người soi rọi, dẫn đường. Cụ Vũ Đình Hòe đã viết trong Hồi ký: “tôi đã từng nghe bạn bè nói đến Nguyễn Ái Quốc một cách cung kính, nhưng mãi đến Cách mạng Tháng Tám thành công mới được giáp mặt với Người tức thì bị chinh phục ngay bởi đôi mắt Hồ Chí Minh”. Giáo sư Tôn Thất Tùng cũng đã viết những dòng rất xúc động về Bác Hồ: “Công ơn Bác với con thật như trời, như bể. Chính Bác là người đã thay đổi đời con, quyết định cả sự nghiệp khoa học của con. Bác là người cha, người thầy đã tái sinh và dạy dỗ con“…

Trong bài phát biểu tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam (tổ chức tại Hà Nội từ 5 – 10 tháng 9 năm 1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân”(2).

Những việc Người tiến hành, những vấn đề Người nêu ra để thực hiện là sự vận dụng sáng tạo quan điểm lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam và phát triển nó trong từng giai đoạn của cách mạng.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phát huy tinh thần làm chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân.

Nước lấy dân làm gốc” vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là bí quyết thắng lợi của mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân và do nhân dân xây dựng. Nghĩa là phải phát huy tinh thần làm chủ và tinh thần sáng tạo của nhân dân; nhân dân phải được tham gia một cách thực tế vào công việc quản lý sản xuất và đời sống của mình; phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân thông qua các tổ chức đoàn thể đại diện như: Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ. Những vấn đề liên quan đến đường lối chính sách, đến cơ chế tổ chức có liên quan đến sinh mệnh, cuộc sống, tương lai hy vọng của hàng chục triệu quần chúng, nếu không có ý kiến của quần chúng, không tập hợp được trí tuệ của quần chúng sẽ không tránh khỏi những hạn chế sai lầm.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: Phải ra sức thực hành dân chủ, thật sự tôn trọng quyền làm chủ của quần chúng, dân chủ về kinh tế, dân chủ về chính trị. Theo Người “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”, “Có dân chủ thì dân mới tin, mới dám nói, mới có sự sáng tạo”, do đó mới tạo nên động lực. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân… Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(3).Vì vậy, phải thực hiện một nền dân chủ của nhân dân, đảm bảo lợi ích chính đáng của dân, dân chủ thực sự cho dân. Đồng thời cũng phải đề ra quyền lợi và nghĩa vụ rõ ràng cho mỗi công dân làm theo đúng Hiến pháp và pháp luật. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Đó là mối quan hệ khăng khít “Vì dân” và “Do dân”.

Suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến vấn đề Nhà nước, vấn đề chính quyền; làm thế nào để xây dựng được một nhà nước mà chính quyền thực sự thuộc về nhân dân và làm thế nào để mọi quyền hạn đều là của dân, mọi quyền hành thuộc về nhân dân. Diễn đạt thì dễ nhưng thực hiện được nguyên lý đó là cả một vấn đề khó khăn phức tạp. Dân làm chủ chỉ ở phạm vi hẹp, còn ở phạm vi rộng thì chỉ có thể làm chủ gián tiếp thông qua người đại diện của mình. Vì vậy, quan trọng là phải có một cơ chế để quyền làm chủ của nhân dân không bị vi phạm và nếu có bị vi phạm thì sẽ được ngăn chặn kịp thời. Vấn đề chính vẫn là ở những con người đại diện cho quyền lực của nhân dân, đang thực thi các công vụ trong bộ máy của chính quyền. Bộ máy chính quyền ấy chỉ đúng là của dân khi mà họ luôn là “Đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đồng chí Vũ Kỳ – Thư ký của Bác Hồ kể chuyện: Có lần đồng chí hỏi Bác Hồ về kinh nghiệm chữa bệnh nóng giận. Bác Hồ hỏi: Bác đã khi nào nóng giận với chú chưa? Đồng chí Vũ Kỳ trả lời: Chưa ạ!. Bác Hồ nói “Chúng ta tôn trọng nhau”. Một bài học đáng ghi nhớ ở đây là đồng chí Vũ Kỳ là người giúp việc của Bác Hồ, thì rất khó có thể nóng giận với Bác. Nhưng Bác Hồ là cấp trên của đồng chí Vũ Kỳ mà không khi nào nóng giận với cấp dưới, vì Người có lòng yêu thương, quý trọng con người. Tình cảm đó xuất phát từ tâm can, thể hiện thành phong cách làm việc và thái độ ứng xử hàng ngày với con người, với nhân dân của Bác.

3. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, nghiêm khắc phê phán những biểu hiện vi phạm lợi ích của nhân dân.

Với quan điểm “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem mình là người phục vụ quần chúng, chịu trách nhiệm trước quần chúng. Người nghiêm khắc phê phán những biểu hiện của tệ quan liêu, xa dân, khinh dân, đặc biệt là thói kiêu ngạo “quan cách mạng”, ra lệnh, ra oai, “không tin dân” để dẫn đến chỗ “dân không tin” làm hại đến uy tín của Đảng, của Chính phủ. Trong điện gửi các cán bộ chính quyền và đoàn thể miền Nam Trung Bộ năm 1950, Người phê bình: “…Máy móc, ép buộc đồng bào, nhiều việc quá trình độ, dân không hiểu, không thích. Đã thấy sai lầm mà không kịp thời sửa chữa, kịp thời báo cáo. Dùng thói quan liêu, chỉ biết ra lệnh, ép buộc dân chúng đóng góp”(5).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải đè đầu dân…”. “Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(6). Những thói tham ô, lãng phí, quan liêu hại đến sức lực tiền của của nhân dân đã bị Người lên án mạnh mẽ. Một trong những bằng chứng cụ thể là việc Người đã phê chuẩn án tử hình đối với Trần Dụ Châu, nguyên Đại tá, Giám đốc Nha quân nhu – Tổng cục Cung cấp (nay là Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng) can tội ăn cắp công quỹ và làm nhiều điều bỉ ổi. Vụ án này được xét xử vào ngày 5/9/1950 tại chiến khu Việt Bắc. Có thể coi là vụ án tham nhũng điển hình xảy ra trong bối cảnh Đảng, Nhà nước, quân và dân ta còn gặp muôn trùng khó khăn, ăn đói, mặc rét nhằm đẩy mạnh công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Kết thúc phiên tòa, hai bị cáo trong vụ án này là Trần Dụ Châu và Lê Sỹ Cửu bị tuyên phạt với mức án cao nhất – tử hình. Bản án đã nhanh chóng báo cáo lên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi cân nhắc, Người đã bác đơn xin giảm tội của Trần Dụ Châu. Quyết định xử tử hình Trần Dụ Châu của Bác thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và đã được nhân dân đồng lòng ủng hộ. Nhân dân đã thấy rõ: Chính quyền và đoàn thể không bao giờ dung túng một cán bộ nào làm bậy, dù cán bộ cao cấp đến đâu đi nữa.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ chỉ lo trách nhiệm với cấp trên thôi thì chưa đủ phải lo trách nhiệm với dân trước hết. Phải lấy trách nhiệm với nhân dân làm động lực để hoàn thành tốt công việc, rồi mới đem công việc đó báo cáo với cấp trên. Người phê phán những cán bộ “miệng thì nói dân chủ nhưng làm việc thì họ theo lối quân chủ. Miệng thì nói phụng sự quần chúng, nhưng họ làm trái ngược với phương châm chính sách của Đảng và Chính phủ”.

Phỏng theo quan điểm “Tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc” (nghĩa là: khó khăn thì chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ), trong các tác phẩm, bài nói, bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần đề cập đến để căn dặn cán bộ, Đảng viên. Năm 1947, trong “Thư gửi các bạn thanh niên”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi thanh niên, các cán bộ đoàn phải thực hiện cho được: “các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước nguời ta, còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước”(7). Năm 1955, trong bài “Đạo đức cách mạng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho cán bộ chiến sĩ “Lo, thì lo trước thiên hạ; hưởng, thì sau thiên hạ”(8). Tháng 3/1961, trong bài “Xây dựng những con người xã hội chủ nghĩa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ mỗi người phải ra sức góp công, góp sức để xây dựng chủ nghĩa xã hội, chớ nên “ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau” mà phải “chí công, vô tư” và phải có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người khẳng định: “Đó mới là đạo đức của người Cộng sản” và “Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”(9).

4. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo đến cuộc sống của nhân dân.

Suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chăm lo đến cuộc sống của nhân dân như Người từng thổ lộ: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(10). Khi nước nhà vừa giành được độc lập, Người nêu rõ quan điểm: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(11).

Năm 1955, nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định trách nhiệm của Đảng, Chính phủ đối với cuộc sống hàng ngày của dân. Người nhấn mạnh: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi…” “Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được”(12). Bước sang thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người chỉ rõ: “Mục đích của Chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách giản đơn, dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”(13). Người yêu cầu Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để “phát triển kinh tế và văn hoá”, “Làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xoá bỏ”(14).

Từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa là cuộc cách mạng to lớn, phức tạp, mới mẻ, chưa có tiền tệ trong lịch sử nên Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến cơ sở vật chất, kỹ thuật, đến sản xuất, đến hiệu quả kinh tế. Nhưng trước hết Người quan tâm đến điều kiện sinh hoạt, đến cuộc sống cụ thể của người dân như ăn, mặc, ở, đi lại. Người vừa chăm lo đến cuộc sống, vừa chăm lo đến cái chung, vừa chu đáo từng việc làm cụ thể đối với con người cụ thể thuộc các giai cấp, các tầng lớp, các lứa tuổi, từ cụ già, trẻ nhỏ, đến người tàn tật cô đơn. Mọi người dân Việt Nam đều nhận được những tình cảm chu đáo của Người đúng như lời thơ của Tố Hữu “Sữa để em thơ, lụa tặng người già”. Người căn dặn cán bộ từ trên xuống dưới “phải quan tâm đến điều kiện sinh hoạt vật chất của công nhân, phải chăm nom đến chỗ ăn, ở của người lao động”(15).

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đau đáu nỗi lòng về chăm lo cuộc sống của nhân dân, Người đã để lại những lời căn dặn tỉ mỉ những việc cần làm đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình, đối với cha mẹ, vợ con của thương binh liệt sĩ, đối với chiến sỹ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang và thanh niên xung phong, đối với nông dân, với việc “xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ”, “phát triển công tác vệ sinh y tế”, “sửa đổi chế độ giáo dục”… nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng vì nhân dân, vì con người. Dựa vào dân, tin vào lực lượng, trí tuệ của nhân dân, chăm lo cho cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là tạo nên sức mạnh đoàn kết và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, nhân dân. Đó là những nền tảng của công cuộc đổi mới và phát triển mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang lãnh đạo nhân dân thực hiện.

Lê Văn Tuyên – Ngô Tuấn Anh

Chú thích:

1. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, T5, tr444
2. Sđd. T.10, tr.197
3. Sđd. T.5, tr.698
4. Sđd. T.5, tr.293
5. Sđd. T.6, tr.118
6. Sđd. T.4, tr.56-57
7. Sđd. T.5, tr.185
8. Sđd. T.7, tr.586
9. Sđd. T.10, tr.311
10. Sđd. T.4, tr.161,152
11. Sđd. T.10, tr.271
12. Sđd. T.7, tr.572
13. Sđd. T.10, tr.17
14. Sđd. T.10, tr.591
15. Sđd. T.10, tr.3

Theo Ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn