Thư viện

Tuổi 20 cho Ngày độc lập (Kỳ 1)

Chung một bóng cờ…

Cuộc hội ngộ sau hơn nửa thế kỷ của những chiến sĩ cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa Hà Nội (ông Thái Mỹ đứng thứ ba, ông Lê Tuấn đứng thứ tư từ phải sang)

TT – Tháng 8-1945, dưới ngọn cờ cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, cả dân tộc đã đứng dậy! Và hàng vạn, hàng triệu con người trong độ tuổi 20 đã đi cùng dân tộc, mở cánh cửa bước vào kỷ nguyên độc lập tự do. Cái tuổi 20 ngày ấy sau 60 năm vẫn còn hừng hực lửa…

Con đường của những người trẻ tuổi…

Hà Nội những năm 1940… trong cái thanh bình, tao nhã luôn ẩn chứa sự ngột ngạt và u uất như đã có sẵn ở mỗi con người.

Với cậu con trai người chủ hiệu khắc dấu Ích Cát ở 47 Hàng Gai cũng vậy, cậu thấy lòng nhức nhối trước cảnh những tên đội Tây vung dùi cui xua đuổi mấy bà hàng xôi với những bộ đồ vá víu chằng chịt chạy tán loạn như chim vỡ tổ, hay cảnh những đứa trẻ tóc vàng mắt xanh béo tốt, ngả ngớn trên xe tay vừa cười vừa đạp vào lưng người kéo xe tóc bạc còm nhom…

Đại tá Lều Đức Huy, biệt danh Thái Mỹ, vị lão thành cách mạng nay đã 81 tuổi, trú tại số 30 nhà B1 khu tập thể Quân đội (Mai Dịch, Hà Nội) và là tổ trưởng một tổ Việt Minh tiền cách mạng của thủ đô, nói về tâm trạng của mình. Mà chẳng riêng gì ông, những người trẻ Hà Nội ngày ấy, hôm nay gặp lại tuy đã bước vào tuổi 80 đều có chung tâm trạng, sự tủi nhục của người dân mất nước…

Nhật đảo chính Pháp, Hà Nội xuất hiện những đoàn quân Nhật mặc quần soóc lửng, áo kaki, mũ vải mềm. Điều đó với một số người dân Hà Nội là lạ lùng, hiếu kỳ. Nhưng với ông Nguyễn Ngọc Liên (cán bộ tiền kháng chiến, năm nay đã 82 tuổi) và nhiều thanh niên Hà Nội thì không có gì hào hứng. Những nỗi niềm đó ông thường tâm sự với một người bạn học là Phương Đình Kỷ.

Cha ông Kỷ làm nghề thủ thư và mẹ buôn bán nhỏ ở chợ Hôm. Một buổi chiều đẹp trời chừng 5-6 giờ, ông Liên đang ngồi học bài ở nhà một mình thì ông Kỷ đi vào, rút từ túi quần một cuốn vở học sinh đưa bạn và nói nhanh: “Cậu xem cái này đi!”. Ông Liên mở quyển vở, kẹp bên trong là một tập giấy nhỏ in mực đen đề dòng chữ “cờ giải phóng”, phía dưới có bài viết về phát xít Đức đã đầu hàng Đồng minh.

Bài thứ hai của tác giả Trường Chinh viết về nguyên nhân của nạn đói đang giết hàng triệu đồng bào là chính sách đàn áp của phát xít Nhật núp dưới chiêu bài Đại Đông Á. Tờ thứ hai là Lời kêu gọi đánh đuổi quân xâm lược của Nguyễn Ái Quốc và cuối cùng là năm tờ truyền đơn của tổ chức VN độc lập Đồng minh kêu gọi nhân dân vùng lên đánh Nhật… Ông Liên nhìn ra cổng, bạn đã khuất bóng, ánh mắt ông xa xăm, ông biết rằng mình đã tìm được con đường cho riêng mình…

Còn bà Minh Tâm (bí danh Lê Tuyết Minh), thành viên Thanh niên phản đế Hà Nội, nhớ lại: nữ sinh Đồng Khánh ngày ấy kiêu sa lắm, lúc nào ra đường cũng áo dài trắng thướt tha, guốc cao, tóc dài… Nhưng trước vận nước cũng không thể ngồi yên, bà Minh Tâm và nhiều nữ sinh Hà Nội tham gia “hội kín” Thanh niên phản đế Hà Nội từ rất sớm.

Gần đến ngày tổng khởi nghĩa, các chiến sĩ phải thoát ly gia đình chuyển đến Thanh Trì. Ngày ấy con gái bước ra khỏi nhà quá ngày là cả xóm dị nghị, vậy mà bà Tâm và nhiều nữ sinh khác đã bước qua lễ nghi phong kiến để chọn con đường đi theo cách mạng…

Ông Lê Tuấn (Phạm Thụy Uông), cháu nội quan tuần phủ Hưng Yên, lại là tổ trưởng 11 tiểu tổ Việt Minh nội thành Hà Nội. Ông bảo ngay khi Việt Minh còn trong “bóng tối”, người Hà Nội đã tin tưởng vào con đường giải phóng dân tộc của họ. Ông không thể nào quên câu chuyện hai cô gái con nghị sĩ đã âm thầm đóng góp tài chính cho Việt Minh, hay chuyện con trai ông chủ hiệu Tường An, là cháu viên hội đồng dân biểu Hà Nội đã tìm đến và ủng hộ ngay một khẩu súng… Mọi người âm thầm hướng về một bóng cờ đang ẩn hiện trong đêm trước bình minh của dân tộc…

Chuẩn bị cho ngày đứng lên…

Ngày 17-8-1945, nhận chỉ thị của ông Lê Tuấn – trưởng nhóm Việt Minh nội thành Hà Nội: tập trung tại Thuận Thành, Bắc Ninh để tập bắn đạn thật! Bốn chị em trong nhóm bà Minh Tâm ai nấy ăn mặc rất yểu điệu, đạp xe tung tăng qua cầu Long Biên. Vừa đi vừa cười nói, xe vướng vào nhau đổ kềnh cả ra đường. Điểm hẹn là một bãi cỏ rộng vắng người. Ông Lê Tuấn lấy ra một khẩu súng mút-cơ-tông cắm bia ngắm và giao hẹn: mỗi người chỉ được bắn hai phát. Thế là các thiếu nữ để nguyên quần áo trắng muốt, guốc cao thanh lịch mà lăn lê bò toài với súng ống.

Ông Lê Tuấn khi ấy là con trai ngài phụ tá quan phủ Thuận Thành, Bắc Ninh. Lê Tuấn chơi thân với con quan phủ cùng trạc tuổi và có thể mượn súng của bọn lính khố xanh gác cổng quan phủ bất cứ lúc nào. Không ai ngờ được cậu Hai Lê Tuấn lại chính là giảng viên quân sự của lực lượng Việt Minh từ Hà Nội sang…

Trước ngày khởi nghĩa, vũ khí, súng ống là chuyện xa xỉ của những người đi theo Việt Minh. Và những chiến sĩ Việt Minh trẻ tuổi đã tìm mọi cách để trang bị cho mình. Họ tìm súng bằng tinh thần mạo hiểm, tinh nghịch, tài tử và đầy sáng tạo. Đầu tiên phải kể đến vụ chôm súng sĩ quan Nhật của ông Lê Tuấn.

Một buổi tối đang đạp xe trên đại lộ Gambetta (đường Trần Hưng Đạo bây giờ) ông giật mình vì tiếng quát của một tên Nhật từ sau gốc cây: “Ê, cu ly xe!”. Người kéo xe sợ tên Nhật đang say rượu với súng gươm kè kè bên mình đánh nên năn nỉ ông Tuấn cùng quay lại cho đỡ sợ. Nhìn tên Nhật lảo đảo bò lên xe, ông Tuấn nghĩ ngay đến việc cướp khẩu súng. Bác phu xe nặng nhọc kéo thân hình tên Nhật to béo, còn ông Tuấn lóc cóc đạp xe chạy theo.

Ông Tuấn ra hiệu bác phu xe chở tên Nhật vào thẳng sân tòa án, một nơi rất vắng người và có nhiều cây to. Đến sân, hai người bê tên Nhật xuống đất. Ông Tuấn nhanh chóng tháo khẩu súng ngắn nhét vào bụng. Nghĩ đến bác phu xe, ông tháo thêm chiếc đồng hồ trên tay tên Nhật gí vào tay bác rồi cả hai tháo chạy. Đó là khẩu súng Chiêu Hòa mới cáu, thép xanh lét mà lần đầu tiên ông được nhìn thấy. Ít lâu sau, “cái mẹo” tìm súng của ông Tuấn được phổ biến cho đồng đội khắp nơi…

Còn khẩu súng ông Thái Mỹ lấy được của Nhật lại thú vị kiểu khác. Hôm đó ông Thái Mỹ đạp xe về quê ở Thường Tín, Hà Tây. Đến khu Bạch Mai bây giờ thì xe bị thủng lốp. Đang ngồi chờ vá xe thì một tên lính Nhật đi vào. Vì trong người mang tiền, tài liệu Việt Minh, ông định đứng dậy bỏ chạy chợt tên Nhật ra hiệu ngồi im. Ông còn đang phân vân chưa biết xử trí ra sao thì tên Nhật móc súng ra… và đặt lên bàn!

Hắn vừa nói vừa cố ra hiệu, ông mới hiểu nó định bán khẩu súng! Như một khách hàng thực thụ, ông cầm súng lên xem. Đó là khẩu Smít Oát-sơn của Anh. Ông đoán thằng Nhật đã ăn cắp súng ở đâu đó vì không phải súng Nhật và chắc muốn bán thật.

Vừa bán được 100 đồng Đông Dương tín phiếu của tổ chức, ông trả giá một hồi thì nó chịu bán với giá 50 đồng – giá trị tương đương một chiếc xe đạp cà tàng, còn với khẩu súng thì đó là cái giá quá rẻ… Tên Nhật nhận tiền đi thẳng. Còn ông gói khẩu súng vào khăn mùi soa nhét vào trong áo và mang về cho tổ chức đánh Nhật!

Trùng trùng lớp lớp những làn sóng người xông lên phía trước đưa dân tộc đi tới con đường độc lập tự do. Ngày 19-8-1945 có bao giờ quên được trong tâm khảm những người trẻ tuổi…

QUANG THIỆN

———

* Kỳ sau: Tuổi 20 “lên đường”!

tuoitre.vn

Người đóng vai Bác Hồ thành công nhất

Báo tin tức – Với khoảng 35 vai diễn về Bác Hồ trong các thể loại sân khấu, điện ảnh, phim truyền hình… đến nay, nghệ sỹ Tiến Hợi (Nhà hát Kịch Hà Nội) “giữ kỷ lục” là người được đóng vai Bác Hồ nhiều nhất. Được “trời phú” cho đôi mắt sáng, cùng ngoại hình tương đối giống Bác, cộng thêm việc chịu khó nghiên cứu, tập luyện nên Tiến Hợi đã rất thành công khi thể hiện hình tượng Bác Hồ.

Người đóng Bác Hồ thành công nhất

Cơ duyên đưa Tiến Hợi đến với vai Bác Hồ bắt đầu từ năm 1987, lúc anh đang công tác tại đoàn kịch Trường Sơn. Khi ấy, đạo diễn Doãn Hoàng Giang dựng vở kịch “Đêm trắng”, vở kịch đầu tiên về Bác Hồ với việc chống tham nhũng. Trong vở diễn, Bác đã thức trắng đêm với bao trăn trở, đau đớn khi đưa ra quyết định xử tử Đại tá Cục trưởng Cục Quân nhu vì tội tham ô, biển thủ công quỹ. Trong số các diễn viên được thử vai Bác Hồ, Tiến Hợi là người có ngoại hình giống Bác nhất. Vậy là anh được đạo diễn giao đóng vai Bác Hồ. Nghệ sỹ Tiến Hợi tâm sự: “Lúc ấy, tôi vừa bất ngờ, vừa lo lắng. Bất ngờ vì mình còn trẻ nhưng lại được giao vai diễn lớn, nhưng tôi rất lo lắng vì không biết sức mình có đảm nhiệm được vai diễn quá tầm như vậy không…”.

Nghệ sĩ Tiến Hợi vào vai Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Được anh em trong đoàn động viên, Tiến Hợi dành rất nhiều công sức tìm tòi, nghiên cứu vai diễn của mình. Anh đề nghị được xem các phim tư liệu về Bác để bắt chước phong cách, thần thái, động tác của Bác trong khi làm việc, trong đời sống thường ngày… thu lại giọng nói của Bác vào băng ghi âm để về nghe… Ròng rã 3 tháng trời với một lịch trình gần như cố định: Sáng lên sàn diễn luyện tập, chiều xem phim tư liệu về Bác, tối về lại nghe băng ghi âm để luyện giọng sao cho giống giọng nói của Bác…

Đến tận bây giờ, nghệ sỹ Tiến Hợi vẫn nhớ như in cảm giác hồi hộp và vui mừng trong đêm đầu tiên công diễn vở “Đêm trắng” ở Nhà hát Lớn Hà Nội. Anh kể lại: “Sau buổi diễn, có khán giả đã vào tận phòng hóa trang xin gặp diễn viên đóng vai Bác Hồ, rồi họ rất ngạc nhiên vì thấy diễn viên đóng vai Bác Hồ còn trẻ quá. Sau này, vở kịch “Đêm trắng” được diễn gần 300 đêm ở các tỉnh, thành phía Bắc. Đi đến đâu, đoàn cũng được nhân dân nhiệt tình đón nhận, cổ vũ.

Sau thành công của vai Bác Hồ trong vở kịch “Đêm trắng”, Tiến Hợi đã được nhiều đạo diễn “để mắt” đến mỗi khi có một tác phẩn sân khấu, điện ảnh nào có sự xuất hiện của Bác Hồ. Khi quyết định bấm máy bộ phim truyện “Hẹn gặp lại Sài Gòn”, bộ phim kể về cuộc đời Hồ Chí Minh khi Người còn trẻ, đang nung nấu ước nguyện ra đi tìm đường cứu nước, đạo diễn Long Vân đã không ngần ngại chọn Tiến Hợi vào vai Nguyễn Tất Thành. Để thể hiện thành công vai diễn, Tiến Hợi đã vào Huế, tìm gặp các cụ già sống cùng thời với Bác để tìm hiểu xem thanh niên thời đó nghĩ gì, làm gì và sống như thế nào…? Từ đó, anh luyện tập và thể hiện vai diễn về một thanh niên trong sáng, giàu nghị lực, sống mộc mạc, chân chất… nhưng đầy lý tưởng và hoài bão. Đến năm 1997, đạo diễn Đặng Nhật Minh đã mời anh vào vai Hồ Chủ tịch lịch lãm, kiên định, trong phim “Hà Nội, mùa đông năm 46”. Và sau này, trong nhiều bộ phim, vở kịch sân khấu khác, nhiều đạo diễn đã tín nhiệm mời anh đóng vai Bác Hồ.

Kỷ niệm khó quên

Mỗi lần đóng vai Bác Hồ đều để lại những kỷ niệm đáng nhớ đối với nghệ sỹ Tiến Hợi. Nhưng có lẽ ấn tượng sâu sắc nhất đối với anh là khi anh đi diễn vở “Đêm trắng” ở Việt Trì (Phú Thọ). Khi ấy, mọi người đang chăm chú xem kịch, đến đoạn Bác trăn trở về việc quyết định xử tử vị cán bộ tham nhũng, có một cụ già đứng lên giơ tay: “Thưa Bác, cho cháu được phát biểu ý kiến”, khiến khán giả cười ồ. Nhưng cụ già vẫn nhất quyết đòi được “có ý kiến với Bác”, vậy là anh em trong đoàn đành đưa cụ vào sau cánh gà đợi. Khi nghệ sỹ Tiến Hợi từ sân khấu bước vào sau cánh gà, cụ già đã sụp xuống lạy, anh vội vàng đỡ cụ dậy và nói: “Cụ ơi, cháu chỉ là diễn viên đóng vai Bác Hồ thôi”, nhưng cụ bảo: “Tôi biết, nhưng giống quá, giống quá, tôi xem như thấy Bác đang đứng cạnh tôi…”. Hỏi ra mới biết, xưa cụ già có tham gia kháng chiến chống Pháp, đơn vị của cụ được đón Bác đến thăm, cụ đã được gặp và nói chuyện với Bác. Nay thấy anh đóng giống Bác quá nên không kiềm chế được cảm xúc của mình.

Nghệ sỹ Tiến Hợi tâm sự, khó khăn nhất trong việc đóng vai Bác là làm thế nào thể hiện được thần thái, cốt cách của Bác: Trước kẻ thù, Người sang trọng, lịch lãm, nhưng ánh mắt phải đanh thép. Trước đồng bào, nhân dân, chiến sỹ, Người lại hết sức trìu mến, yêu thương. Hay việc thể hiện cảm xúc của Bác như vui mừng, trăn trở, nóng giận… Suốt một thời gian dài nghiên cứu, tìm hiểu để đóng vai Bác Hồ, hình ảnh Bác Hồ đã in đậm trong anh, đến nỗi nhắm mắt lại là anh có thể hình dung được hình ảnh, giọng nói Bác Hồ trong từng giai đoạn lịch sử. “Được hóa thân vào một nhân vật nổi tiếng, một anh hùng dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh là niềm tự hào song áp lực cũng rất lớn, bởi hình tượng Bác Hồ đã ăn sâu vào tâm tưởng mỗi người dân Việt Nam. Để thuyết phục được khán giả, tôi đã phải cố gắng rất nhiều, sao cho từng cử chỉ, hành động, lời nói giống Bác nhất”, nghệ sĩ Tiến Hợi bộc bạch.

Phương Lan

baotintuc.vn

Kỳ 3 – Dân chủ quá mới mẻ

TT – Thoát kiếp nô lệ, người dân VN háo hức đón chào ánh bình minh độc lập. Ngày ấy, dân chủ đối với dân ta còn quá mới mẻ. Đại đa số còn mù chữ và chưa hình dung QH là gì, nhưng đã cầm ngay lá phiếu đi bầu những người đại diện cho thể chế dân chủ đầu tiên của nước VN độc lập.

Tuổi Trẻ ghi lại hồi ức của ông Nguyễn Thiện Ngữ (đại biểu Quốc hội khóa I).

>> Cuộc tổng tuyển cử của lòng dân
>> Quốc hội chất vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh

Những cử tri đầu tiên của người Việt

Không chỉ với trên 90% dân số còn mù chữ mà nhiều người trong giới trí thức cũng chưa biết QH là gì, tại sao phải có và người dân góp phần gì trong cơ quan này. Thế nhưng chính phủ phải làm cho toàn dân hiểu một cách cụ thể nhất, sớm nhất và đúng nhất.

Thời điểm này tôi là cán bộ Ủy ban hành chính lâm thời tỉnh Phú Thọ, đồng thời là ứng cử viên đại biểu QH. Tôi đã chứng kiến và tham gia sự kiện trọng đại này cùng bà con nhân dân Phú Thọ.

Từ nhiều tháng trước ngày bầu cử, tất cả cán bộ Việt Minh cấp cơ sở ngày đêm tuyên truyền, phổ biến tới nhân dân những kiến thức cơ bản nhất về QH nước VN dân chủ cộng hòa cùng quyền và nghĩa vụ của người dân VN.

Cán bộ phải ở bên dân khi làm đồng, xay gạo, lấy bèo, học chữ… cả đêm cũng như ngày chỉ để nói rằng: người có quyền trên đất nước chúng ta từ nay không phải là quan Tây, lính Nhật hay lý trưởng, chánh tổng, quan lại… mà là chính các cô bác anh chị.

Mọi người được cùng bàn chuyện đất nước bằng cách mỗi người sẽ bầu ra một số vị đại diện cho mình. Người đại diện đó sẽ tập trung trong một cơ quan gọi là QH để thực hiện ý muốn của dân.

Họ được gọi là đại biểu QH. Đại diện cho nhân dân tỉnh Phú Thọ chúng ta sẽ là năm người. Đây là danh sách những người được giới thiệu để nhân dân lựa chọn. Còn đây là thẻ cử tri…

Lúc này, quân của tướng Lư Hán (của Tưởng Giới Thạch) đã có mặt ở Phú Thọ. Chúng hợp tác với các đảng phái Quốc dân Đảng (Việt quốc), VN cách mạng đồng minh hội (Việt cách) trong nước ra sức chống phá tổng tuyển cử.

Ngày ngày chúng ôm súng canh gác các đường, chợ dọa nạt, gây khó dễ cho cử tri và người vận động. Đêm

4-1 chúng cho người xuống nhà dân thu thẻ cử tri và danh sách ứng cử viên rồi sai người tháo dỡ khẩu hiệu, apphich…

Chỉ còn khoảng 30 tiếng đồng hồ nữa là phòng bầu cử mở cửa… Ủy ban bầu cử quyết định cử cán bộ bằng mọi cách in ấn đầy đủ tài liệu, xuống từng nhà dân phân phát lần nữa. Trên các lề đường, quán chợ các cô gái công kênh nhau lên vai để treo dán apphich, khẩu hiệu.

Những tên lính Tàu hùng hổ chạy lại liền bị chị em bu lấy tranh cãi, giằng co. Trẻ em, người già bên ngoài hô hào, chế giễu, chê cười khiến chúng co cẳng lủi mất. Bà con đem đủ loại bàn ghế, phông, vải ra sân đình, trường học, cổng chợ… để trang trí nơi bỏ phiếu.

Hàng loạt hòm phiếu được khoan lỗ để bắt vít dính chặt xuống mặt bàn đề phòng kẻ gian cướp chạy. Tuy nhiên trước khi bỏ phiếu thì đinh vít được tháo ra để công khai kiểm tra hòm phiếu.

Nhiều người biết chữ bầu xong rồi còn ở lại đến tận trưa, chiều để đọc tên ứng viên, giới thiệu họ để cử tri lựa chọn. Có cụ già hơn 80 tuổi đi bộ từ sáng đến tối, vượt qua cả cánh rừng để đến điểm bầu. Khi đến nơi cụ xòe tay, tờ thẻ cử tri nhàu nát vì cụ giữ nó quá chặt… Tổng tuyển cử trên cả nước đã bầu ra được 333 đại biểu QH.

Những phiên họp độc đáo và thú vị

Phiên họp thứ hai của QH diễn ra tháng 11-1946 bàn về các vấn đề thông qua hiến pháp, quốc kỳ, quốc ca và kế hoạch kháng chiến cùng một số vấn đề cấp bách của dân sinh.

Tại hội trường Nhà hát lớn, chủ tịch đoàn ngồi phía trên, các đại biểu thuộc đảng Dân chủ ngồi bên phải với đồng phục càvạt nửa xanh nửa đỏ. Việt Minh, Hội Nghiên cứu chủ nghĩa mác-xít ngồi ở giữa.

Các đại biểu Việt quốc, Việt cách vì đến sau nên chỉ còn khoảng bên trái hội trường. Một đại biểu của họ đứng lên thắc mắc: Chúng tôi bị coi là cánh hữu hay sao mà phải ngồi đây?”.

Lập tức một đại biểu của Việt Minh ôn tồn nói: nếu sợ bị hiểu như vậy thì mời các anh đổi chỗ sang bên này! Hội trường bật cười…

Phiên họp đầu tiên của QH VN tổ chức ngày 2-3-1946 chứa đựng nhiều điều kỳ lạ, độc đáo, thú vị có một không hai, rất… VN và rất… 1946. Phiên họp chỉ diễn ra trong vài tiếng đồng hồ bàn về việc thành lập chính phủ.

Thật ra chính xác hơn là chỉ lấy biểu quyết để thông qua. Tất cả cùng giơ tay tán thành rồi bế mạc. Điều độc đáo và thú vị thứ hai là QH có 70 ông nghị (đại biểu QH) chẳng ai bầu, chẳng cần ứng cử nhưng vẫn nghiễm nhiên thành đại biểu. Cuộc họp này chỉ mang ý nghĩa công khai những điều đã được QH bàn thảo từ trước đó hàng tháng trời.

Linh hồn của phiên họp đầu tiên đã được quyết định trong cuộc họp tại Đình Bảng, Từ Sơn (Bắc Ninh). Cuộc họp ấy QH được “cắt” ra làm hai rồi đến khi họp chính thức lại hợp vào một.

Đó là khi phát xít đầu hàng đồng minh, quân Tưởng, Pháp, Mỹ, Anh… đều muốn có một chính phủ mới ở VN chịu sự ảnh hưởng của họ. Hai đảng phái của người Việt là Việt cách và Việt quốc cũng muốn nắm quyền và chịu ảnh hưởng nước ngoài.

Chính phủ ta tuy đã thành lập nhưng về mặt lý thuyết thì chưa được quốc tế công nhận. Muốn được công nhận thì chính phủ phải do QH bầu ra. QH phải do nhân dân thuộc các tầng lớp, tôn giáo, đảng phái chính trị… trong nước bầu ra.

Khi tổng tuyển cử thì các đảng phái khác biết chắc sẽ không thể chiếm ưu thế trong QH và quyền lực sẽ cơ bản do lực lượng Việt Minh nắm giữ nên chúng ra sức tẩy chay. Không một nhân vật nào của Việt quốc, Việt cách ứng cử.

Đến khi tổng tuyển cử đã xong, các đảng phái này cũng biết không thể lật được thế cờ nên họ chấp nhận thương lượng với Việt Minh để thành lập một chính phủ chính thức do QH bầu ra.

Việt Minh cũng muốn thực hiện đúng nhất tinh thần dân chủ của chính thể cộng hòa, nên tư tưởng của chúng ta là sẽ thành lập một chính phủ thể hiện tính hòa hợp dân tộc, đại đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân VN.

Mặt khác, VN lúc này cần ra mắt càng sớm càng tốt một chính phủ mới có tư cách đàng hoàng trước quốc tế để nắm quyền tự chủ quốc gia (do QH bầu ra) khiến không một quốc gia nào có thể kiếm cớ nhảy vào.

Vì vậy, tại Hà Nội, Bác Hồ và chính phủ lâm thời tiến hành đàm phán với các đảng phái khác. Tôi được biết cuộc đàm phán khá căng thẳng và cuối cùng Việt Minh đã đồng ý dành 70 ghế đại biểu QH cho Việt quốc, Việt cách.

Điều đó đồng nghĩa họ cũng sẽ có chân trong nội các chính phủ mới. Thế là đến khi phiên họp đầu tiên của QH khóa I diễn ra có thêm 70 đại biểu mà chưa từng được cử tri nào bầu. Và vì nội dung đã thông qua thương lượng nên việc thành lập chính phủ mới chỉ cần tuyên bố là xong. Phiên họp diễn ra có vài tiếng đồng hồ.

Công việc số 1 của QH là lập hiến. Hiến pháp đầu tiên của dân tộc ta đến nay vẫn được giới chuyên môn đánh giá rất cao đã thông qua trong phiên họp lần hai của QH khóa I. Tôi được biết thời điểm đó có hai bản dự thảo hiến pháp được gửi đến từng đại biểu.

Một bản do Bác Hồ và ủy ban soạn thảo (của Việt Minh) thực hiện. Một bản do Ủy ban kiến quốc (một tổ chức ngoài Việt Minh) thực hiện.

Bản hiến pháp do Hồ Chủ tịch soạn được đại biểu Đỗ Đức Dục, một thanh niên trí thức trong trung ương Đảng Dân chủ (một đảng đứng về phe Việt Minh) thuyết trình rất hùng hồn.

Do đáp ứng tính tiến bộ, trung chính, hợp lòng dân, hợp hoàn cảnh đất nước, dân tộc nên bản hiến pháp này đã được đại đa số đại biểu tán thành. Chỉ có hai đại biểu không tán thành. Một của các đảng đối lập và một của nhà tư sản dân tộc Nguyễn Sơn Hà, vì ông này muốn mở rộng tối đa quyền tự do kinh doanh.

Phần bàn về quốc kỳ là căng thẳng nhất. Phía Việt quốc, Việt cách muốn dùng cờ “thanh thiên bạch nhật” có ngôi sao trắng, viền xanh. Phía Việt Minh muốn dùng cờ đỏ sao vàng.

Có đại biểu nói: không thể thay đổi màu cờ đỏ vì nó đã thấm máu đồng bào ta vì độc lập, tự do bao thế hệ rồi. Phía kia chấp nhận màu đỏ nhưng đòi viền xanh. Phía Việt Minh vẫn không nghe. Cuối cùng thì cờ đỏ sao vàng đã là quốc kỳ thiêng liêng của dân tộc ta từ đó đến nay.

NGUYỄN THIỆN NGỮ (đại biểu Quốc hội khóa I)

Nguyên chủ tịch quốc hội Nguyễn Hữu Thọ: “Dân chủ không thể có bằng sự ban ơn…”

Năm 1988, trong khí thế đổi mới, tại Đại hội MTTQ VN TP.HCM, luật sư Nguyễn Hữu Thọ – chủ tịch MTTQ VN – đã phát biểu: “…Quốc hội (QH) là cơ quan quyền lực cao nhất nhưng cũng đấu tranh yếu ớt.

Những gì đạt được ở những phiên họp QH gần đây vẫn chưa phải là những điều cơ bản. Bãi miễn các chức vụ nhà nước là quyền của QH và Hội đồng nhân dân (HĐND), nhưng quyền ấy chưa bao giờ được sử dụng.

QH đã thế, HĐND còn yếu hơn. Chúng ta tốn tiền của, thì giờ để tổ chức bầu cử ra các cơ quan dân cử, để các cơ quan đó hội họp mỗi năm mấy lần, nhưng đã giải quyết được những gì phục vụ nhân dân?

Người ta chỉ thấy cơ quan thừa hành là ủy ban nhân dân là tổ chức chịu sự kiểm soát của HĐND, nhưng chủ tịch của UBND lại cũng là chủ tịch của HĐND. HĐND quyền lực như thế mà không có bộ máy đầy đủ, không có ngân sách, thậm chí còn không có cả trụ sở. Những điều khôi hài như thế vẫn chưa được đấu tranh để thay đổi.

Điều đau lòng là trong nhiều năm liền trôi qua, chúng ta vẫn còn duy trì những thứ hình thức, hữu danh vô thực đó. Khuyết điểm lớn của chúng ta là chưa có dân chủ thật sự. Nhiều nguyện vọng chính đáng của người dân chưa được đấu tranh thực hiện, người dân chưa thật sự chọn lựa được những người lãnh đạo theo sự tín nhiệm của họ.

Tất cả vấn đề là phải đấu tranh để thực hiện. Cuộc đấu tranh này không giống cuộc đấu tranh đối kháng với địch trước đây nhưng cũng phải diễn ra quyết liệt.

Nghị quyết Đại hội VI và những chủ trương đúng đắn của Đảng phải được đấu tranh để thể chế hóa thành luật. Khi đã có luật thì phải đấu tranh để luật được thi hành. Không có luật pháp thì không thể bảo đảm được quyền dân chủ.

Chức năng, nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, các cơ quan dân cử, các tổ chức quần chúng phải được phân định rõ ràng, không thể để tình trạng giẫm chân, bao biện làm thay tiếp tục xảy ra mãi được.

Tòa án phải có tính độc lập, không thể xử án theo những lệnh lạc đã được ra sẵn. Tôi cho rằng Mặt trận Tổ quốc cũng cần có một qui chế rõ ràng về mối quan hệ của mình với các cơ quan nhà nước.

Tôi nghĩ rằng dù cho đại hội này của Mặt trận Tổ quốc TP có thành công đến đâu, vấn đề vẫn tùy thuộc ở sự dũng cảm đấu tranh trong những ngày sắp tới. Dân chủ không thể có bằng sự ban ơn mà bằng sự đấu tranh”.

VÕ LINH HÀ ghi (TheoLuật sư Nguyễn Hữu Thọ gắn bó với dân tộc, với nhân dân, với cách mạng” – NXB Chính Trị Quốc Gia – 1996)

tuoitre.vn

Kỳ 2 – Quốc hội chất vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh

TT – Hai phiên họp đầu tiên của Quốc hội (QH) khóa đầu tiên đều nóng bỏng, căng thẳng. Phiên họp thứ nhất đứng trước nguy cơ bị tẩy chay, còn phiên họp thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh phải trả lời chất vấn trước QH.Trong những câu trả lời, chúng tôi đặc biệt chú ý những câu trả lời của Hồ Chủ tịch, lập trường thì rõ ràng, dứt khoát, hình thức thì đôi lúc dí dỏm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên thệ trước Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất ngày 2-3-1946 – Ảnh: Tư liệu TTXVN

>> Cuộc tổng tuyển cử của lòng dân

Kỳ họp căng thẳng

Để chuẩn bị về nội dung, địa điểm và thời gian cho kỳ họp đầu tiên của QH, nhiều cuộc họp liên tịch đã được tiến hành từ hạ tuần tháng 2-1946 giữa một bên là đại biểu của Chính phủ và các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh, một bên là đại biểu của VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội.

Theo sự thỏa thuận giữa hai bên thì QH sẽ bắt đầu họp vào 7g sáng ngày 3-3 tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội và sau đó tiếp tục họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh). Chính phủ đã căn cứ vào sự thỏa thuận đó mà báo tin cho các đại biểu QH biết và gửi giấy mời phóng viên báo chí trong nước và nước ngoài tham dự buổi họp khai mạc.

Nhưng đột nhiên chiều 1-3 ở nhiều nơi trong thành phố Hà Nội xuất hiện truyền đơn do Nguyễn Hải Thần ký tên kêu gọi nhân dân “tẩy chay QH”. Hành động này bộc lộ ý đồ phá hoại kỳ họp đầu tiên của QH.

Để đề phòng, ngay tối hôm đó Chính phủ đã báo tin cho các đại biểu QH biết là QH sẽ khai mạc vào 7g sáng 2-3 (trước ngày đã định một ngày) tại Nhà hát lớn Hà Nội và đề nghị các đại biểu chỉ có mặt đúng giờ họp rồi đi thẳng vào phòng họp mà không nên tập trung trước cửa Nhà hát lớn.

Theo đúng ngày giờ qui định, các đại biểu QH đã đến họp trước sự bất ngờ của bọn phá hoại và những bộ mặt ngơ ngác của bọn hiến binh Tưởng Giới Thạch đang tuần tiễu trên các ngả đường xung quanh Nhà hát lớn.

Ngồi trong phòng họp, các đại biểu QH rất nóng lòng chờ đợi khai mạc, vì đã quá 8g rồi mà vẫn chưa thấy Hồ Chủ tịch và các vị trong Chính phủ đến. Mọi người đều nghĩ đến vụ rải truyền đơn chiều hôm qua của bọn phản động nên không khỏi băn khoăn, lo lắng về những biến cố có thể xảy ra.

Lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước Quốc hội (*)

Lần này là lần thứ hai Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. VN chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận.

Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài.

Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

Tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân, trước thế giới: Tôi chỉ có một Đảng, Đảng VN.

Tuy trong quyết nghị không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết.

Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà.

Anh em trong Chính phủ mới sẽ dựa vào sức của Quốc hội và quốc dân, dầu nguy hiểm mấy cũng đi vào mục đích mà quốc dân và Quốc hội trao cho.

(*): Đọc tại phiên họp ngày 31-10-1946 của kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, sau khi được Quốc hội nhất trí giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới.

(Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 2000)

Vì thay đổi ngày họp nên từ 5g sáng 2-3, Hồ Chủ tịch cùng hai đồng chí tự vệ không vũ trang đến tận sào huyệt của VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội ở phố Ôn Như Hầu (nay là Nguyễn Gia Thiều), nơi mà anh em cán bộ Việt Minh và những người dân lương thiện phải tránh xa, báo cho họ biết là QH họp ngày 2-3 để họ cử đại biểu đến dự.

Khi Hồ Chủ tịch đến, họ chưa ngủ dậy. Bị đột ngột, bất ngờ, họ không nghĩ kịp cách đối phó mà chỉ tranh nhau đi dự QH. Hồ Chủ tịch phải đứng dàn xếp bảo ai đi, ai ở nhà.

Gần 9g, việc dàn xếp ở phố Ôn Như Hầu mới xong, Hồ Chủ tịch lên xe đi đến hội trường, các “đại biểu QH” do VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội cử đi dự họp QH ăn mặc quần áo sang trọng kéo theo sau vào ngồi đứng lô nhô ở phòng chờ của Nhà hát lớn. Họ phải chờ sự ưng thuận của QH mới được phép vào phòng họp. Đây chính là những người đến tận ngày hôm qua vẫn tiếp tục gây rối loạn khắp nơi.

Vẫn với bộ quần áo kaki bạc màu, đôi giày vải cũ thường ngày, Hồ Chủ tịch bước vào hội trường, theo sau là ông Vĩnh Thụy và các vị trong Chính phủ.

Hơn 300 đại biểu, cùng với nhiều khách và các nhà báo trong nước và nước ngoài đứng dậy hoan hô không ngớt khi thấy Hồ Chủ tịch. Mấy trăm cặp mắt đều đổ dồn vào Người. Tiếng vỗ tay và tiếng hoan hô chỉ dứt khi ban âm nhạc vệ quốc đoàn mặc đồng phục trắng bắt đầu cử quốc ca.

Hồ Chủ tịch bước tới máy phóng thanh, đứng im lặng một lát đưa cặp mắt trìu mến nhìn các đại biểu thay mặt các tầng lớp nhân dân cả nước về họp QH. Bằng một giọng xúc động, Người tuyên bố khai mạc đại hội, và bắt đầu đọc báo cáo về kết quả cuộc tổng tuyển cử ngày 6-1-1946. Sau đó, Hồ Chủ tịch chuyển đề nghị của Chính phủ với đại hội xin mở rộng thêm 70 đại biểu nữa trong QH và số ghế này sẽ dành cho VN Quốc dân đảng và VN Cách mạng đồng minh hội.

Toàn thể các đại biểu QH giơ tay biểu quyết và đồng thanh hô to “tán thành”.

Cuộc chất vấn đầu tiên tại Quốc hội

Để QH nghe các báo cáo và nhận định về các hoạt động của Hồ Chủ tịch và các phái đoàn QH và Chính phủ trong thời gian qua, giải quyết những vấn đề quan trọng do tình hình mới đề ra và thông qua bản hiến pháp đầu tiên của nước ta, Ban Thường trực QH triệu tập QH họp kỳ thứ hai vào ngày 28-10-1946 tại Hà Nội.

Tại kỳ họp này cụ Nguyễn Văn Tố, trưởng Ban Thường trực QH, trả lời các câu hỏi chất vấn về công tác của Ban thường trực QH. Hồ Chủ tịch và các bộ trưởng trả lời các câu hỏi và chất vấn về công tác của Chính phủ.

Trong những câu trả lời, chúng tôi đặc biệt chú ý những câu trả lời của Hồ Chủ tịch, lập trường thì rõ ràng, dứt khoát, hình thức thì đôi lúc dí dỏm, đề cập đến những vấn đề mà nhân dân ta rất quan tâm trong tình thế đất nước lúc bấy giờ.

Sau đây là những câu trả lời chất vấn của Hồ Chủ tịch:

* Về ông phó chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông nguyên bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Tường Tam và ông phó chủ tịch quân sự, ủy viên hội Vũ Hồng Khanh?

Những người bỏ việc đi kia họ không muốn gánh việc nước nhà, hoặc họ không đủ năng lực mà gánh nổi, nay chúng ta không có họ ở đây. Chúng ta cũng cứ gánh được như thường. Nhưng nếu các anh em ấy biết nghĩ lại, dối không nổi với lương tâm, với đồng bào, với Tổ quốc mà trở về thì chúng ta vẫn hoan nghênh.

Còn cái tin ông Nguyễn Hải Thần tự xưng là tổng tư lệnh hải, lục, không quân VN? VN không có hải, lục, không quân thì ông Nguyễn Hải Thần cứ việc mà làm tổng tư lệnh. Nhưng nếu ông Nguyễn Hải Thần tổ chức được hải, lục, không quân cho VN thì cố nhiên chúng ta hoan nghênh.

* Về ông Chu Bá Phượng, bộ trưởng Bộ Kinh tế:

Các báo Pháp có đăng vài tin (ông Chu Bá Phượng – đại biểu VN Quốc dân đảng, thành viên của phái đoàn Chính phủ đi dự hội nghị đàm phán ở Fontainebleau, khi sang Pháp có mang vàng theo để buôn lậu, bị nhà chức trách Pháp khám phá và làm khó dễ. Các báo Pháp đều có đăng tin và ông Phượng vẫn có mặt tại kỳ họp QH này) nhưng tin ấy có thật hay không thì đã qua rồi, vả lại cũng chẳng có ảnh hưởng gì lớn, xin thôi đừng nhắc đến.

Nếu trong Chính phủ còn có những người khác làm lỗi, thì lỗi ấy tôi xin chịu, xin gánh và xin lỗi với đồng bào.

Hồ Chủ tịch năm 1946

* Về tạm ước ngày 14-9?

Tạm ước ngày 14-9 có ảnh hưởng đến các hiệp ước kỳ sau này không? Trong xã hội loài người, cái gì mà chẳng có ảnh hưởng đến cái khác? Tuy vậy những sự điều đình sau này không bị ràng buộc được. Bản tạm ước này tùy theo sự thi hành thế nào, sẽ thúc đẩy cho những điều đình sau chóng tới kết quả một cách dễ dàng.

Còn nói rằng “tạm ước 14-9 là bất bình đẳng?” thì Chính phủ không dám nhận như thế. Với bản tạm ước ấy, mỗi bên nhân nhượng một ít, ta bảo đảm cho Pháp những quyền lợi kinh tế và văn hóa ở đây, thì Pháp cũng phải bảo đảm thi hành tự do dân chủ ở Nam bộ và thả các nhà ái quốc bị họ bắt bớ.

Còn nói Pháp không thành thật thi hành tạm ước, thì ta nói vơ đũa cả nắm. Pháp cũng có người tốt, người xấu. Tôi có thể nói quyết rằng nhân dân Pháp bây giờ đại đa số tán thành ta độc lập và thống nhất lãnh thổ.

* Vì sao Chính phủ đã đề nghị thay đổi quốc kỳ?

Chính phủ không bao giờ dám đề nghị thay đổi quốc kỳ, chỉ vì một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy lên, nên Chính phủ phải đề qua Ban Thường trực QH xét.

Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều. Lá cờ đỏ sao vàng đã nhuộm bao nhiêu máu chiến sĩ VN ở Nam bộ và Nam Trung bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn. Bây giờ trừ khi cả 25 triệu đồng bào, còn ra không ai có quyền gì mà đòi thay đổi nó. (Nói đến đây mắt Người sáng quắc lên, giọng Người vang to lên, và dằn mạnh từng tiếng một, trái hẳn với vẻ điềm đạm lúc thường).

* Về Chính phủ liêm khiết?

Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở các ủy ban là đông lắm và phức tạp lắm. Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương, và nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết.

…Sau khi trả lời và nghe cụ Nguyễn Văn Tố và các vị bộ trưởng trả lời các câu hỏi chất vấn của các đại biểu QH, Hồ Chủ tịch phát biểu:

“Chính phủ hiện thời mới thành lập hơn một năm hãy còn thanh niên. QH bầu ra được hơn tám tháng lại còn thanh niên hơn nữa. Vậy mà QH đã đặt những câu hỏi thật già dặn, sắc nét, khó trả lời, đề cập đến tất cả những vấn đề có quan hệ đến vận mệnh nước nhà. Với sự trưởng thành chính trị và sự quan tâm về việc nước ấy, ai dám bảo dân ta không có tư cách độc lập?”.

—————

Kỳ cuối:  Dân chủ quá mới mẻ

90% dân số VN còn mù chữ. Rất nhiều người chưa hiểu QH là gì thế mà họ đã bầu ra QH đầu tiên trong tình thế nước sôi lửa bỏng.

LÂM QUANG THỰ (đại biểu Quốc hội khóa)

tuoitre.vn

Kỳ 1 – Cuộc tổng tuyển cử của lòng dân

TT – Một ngày sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khai sinh, Bác Hồ đã nghĩ đến việc lập một thiết chế dân chủ, cái mà trước đó trong lịch sử dân tộc ta chưa hề có, dân ta chưa hề được hưởng… Và câu chuyện “tổng tuyển cử đầu tiên” (6-1-1946) đã được công bố trong cuốn sách Lâm Quang Thự – người con đất Quảng

Nhân dân Hà Nội bỏ phiếu bầu Quốc hội khóa I – Ảnh tư liệu

(Sách do Hội Khoa học lịch sử TP Đà Nẵng phối hợp Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản).

Bỏ được lá phiếu có chết cũng hả dạ

Ngày 3-9-1945, một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tại phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm thời, Hồ Chủ tịch đề nghị: “Trước do chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền bầu cử và ứng cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống”. (Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội, 1980, tập 1, trang 356).

Những đề nghị của Hồ Chủ tịch đáp ứng nguyện vọng thiết tha của đồng bào ta đã được Hội đồng Chính phủ nhất trí tán thành.

Thế là ngày 8-9-1945, tức là không đầy một tuần sau ngày nước VN dân chủ cộng hòa ra đời, Chính phủ ra sắc lệnh qui định trong thời gian hai tháng sẽ mở tổng tuyển cử trong cả nước bầu ra Quốc dân đại hội để ấn định hiến pháp cho nước VN dân chủ cộng hòa. Sau đó, Chính phủ ra sắc lệnh ngày 17-10-1945 qui định thể lệ tổng tuyển cử và sắc lệnh ngày 23-10-1945 ấn định ngày 6-1-1946 là ngày tiến hành tổng tuyển cử.

Đi đôi với việc ban hành các sắc lệnh về tổng tuyển cử, Chính phủ lâm thời công bố bản dự thảo hiến pháp đầu tiên để nhân dân tham gia ý kiến.

Trong lịch sử các dân tộc đấu tranh giành được độc lập, chưa bao giờ những sắc lệnh về tổng tuyển cử và dự án hiến pháp được công bố sớm như thế.

Trích lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày mai, mồng 6 tháng giêng năm 1946.

Ngày mai, là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ.

Ngày mai, là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử VN mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: Về mặt trận quân sự thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân VN ta đã:

Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ
Kiên quyết chống bọn thực dân
Kiên quyết tranh quyền độc lập

Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình và gánh vác việc nước.

Những người trúng cử sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng.

(Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2000)

Lần đầu tiên trong lịch sử nước nhà, nước VN mới thật sự là của toàn thể nhân dân VN “không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (điều 1 của dự án hiến pháp). Trong cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc dân đại hội, “tất cả công dân VN từ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử” (điều 2 của sắc lệnh ngày 17-10-1945).

Cuộc tổng tuyển cử đã được nhân dân cả nước từ Bắc đến Nam, từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược nhiệt liệt hưởng ứng. Ai nấy đều nô nức, phấn khởi tham gia chuẩn bị cho cuộc bầu cử và nóng lòng chờ ngày đi bỏ phiếu.

Quang cảnh ngày 6-1-1946 là một ngày hội lớn của nhân dân cả nước. Từ sáng sớm từng đoàn người ăn mặc chỉnh tề tấp nập đi bỏ phiếu. Ở nhiều nơi các cụ già, những người ốm không đi được thì đòi con cháu hoặc người hàng xóm cõng, cáng đến nơi bầu cử để tự tay mình bỏ lá phiếu vào hòm phiếu. Nhiều cụ đã nói: “Bây giờ có chết cũng hả dạ vì đã bỏ được lá phiếu góp phần xây dựng nền móng đầu tiên của nước VN dân chủ cộng hòa cho con cháu mình”.

Giữ lá phiếu trước thù trong giặc ngoài

Cuộc tổng tuyển cử tiến hành trong tình thế nước nhà lúc bấy giờ vô cùng khó khăn, phức tạp. Nửa vạn quân đội Anh và 18 vạn quân đội Tưởng Giới Thạch kéo vào nước ta giữa tháng 9-1945 – sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công – với danh nghĩa quân đội đồng minh để giải giáp quân đội Nhật bại trận.

Ở miền Nam, quân đội Pháp được quân đội Anh với Nhật yểm hộ đã quay trở lại đánh chiếm Sài Gòn và các tỉnh Nam bộ, cực Nam Trung bộ và Tây nguyên. Tại những nơi này, bất chấp cả lưỡi lê và mũi súng của quân thù, quần chúng đã hăng hái tham gia tổng tuyển cử với tất cả dũng khí cách mạng của mình.

Trong những vùng bị địch tạm chiếm đóng, nhân dân tập trung bỏ phiếu, quân Pháp và Việt gian kéo đến khủng bố, nhân dân phải mang hòm phiếu chạy đến một nơi khác và tiếp tục bỏ phiếu. Như ở xã Mỹ Hòa (Cần Thơ), trong ngày bầu cử nhân dân phải di chuyển hòm phiếu đến bốn địa điểm khác nhau để hoàn thành việc bỏ phiếu.

Tại vùng Tây nguyên như ở Buôn Krong, Prong (Đắc Lắc), nhân dân tập trung ở nhà làng để bỏ phiếu, địch tới bao vây, nhân dân chạy sâu vào rừng, địch lại tấn công vào rừng, nhân dân đi sâu vào khe suối, mang theo gạo ăn để bỏ phiếu. Tại nhiều đô thị như Nha Trang, Sài Gòn, Tân An, hàng chục cán bộ ta đã bị địch sát hại trong lúc tổ chức bầu cử.

Ở miền Bắc, bọn VN quốc dân đảng và VN cách mạng đồng minh hội theo gót quân đội Tưởng Giới Thạch kéo về nước với mưu đồ lật đổ Chính phủ ta, làm tay sai cho bọn thống trị phương Bắc.

Chúng không hi vọng gì nếu chúng đưa người ra ứng cử, nên dựa vào quân đội và hiến binh Tưởng Giới Thạch chống phá tổng tuyển cử một cách điên cuồng, âm mưu ám sát, bắt cóc những người được Mặt trận Việt Minh giới thiệu và ứng cử. Ngay tại Hà Nội, chúng mang cả tiểu liên đến Ngũ Xã ngăn không cho đặt hòm phiếu, chúng cấm cả nhân dân treo cờ, đồng bào Ngũ Xã phải kéo sang khu phố gần đó để bỏ phiếu.

Hi sinh cho cuộc tổng tuyển cử thắng lợi

Ở khắp nơi, sự đoàn kết đấu tranh đầy hi sinh dũng cảm của nhân dân ta đã đưa cuộc tổng tuyển cử đến thắng lợi vẻ vang. Ở miền Nam, tại các vùng bị quân Pháp tạm chiếm đóng, cử tri đã đi bỏ phiếu từ 65-85%, ở miền Bắc có 75-95% cử tri đi bỏ phiếu bầu.

Từ nhiều địa phương, đồng bào viết thư về đề nghị Hồ Chủ tịch không cần ra ứng cử ở một tỉnh nào, nhân dân cả nước sẽ bỏ phiếu cử Bác vào Quốc dân đại hội, ai cũng muốn được ghi tên Bác đầu tiên trên lá phiếu của mình. Bác đã viết một bức thư ngắn trả lời đề nghị này:

Tôi là một công dân của nước VN dân chủ cộng hòa, nên tôi không thể vượt qua khỏi thể lệ tổng tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội nên không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa. Xin cảm tạ đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm trọn nhiệm vụ người công dân trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới”.

Ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thu được 98,4% số phiếu bầu.

Trong cuộc tổng tuyển cử này, nhân dân cả nước đã bầu vào Quốc dân đại hội 333 đại biểu, trong đó Bắc bộ có 152 đại biểu, Trung bộ có 108 đại biểu và Nam bộ có 73 đại biểu.

————–

Kỳ sau: Quốc hội chất vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh

Không chỉ chất vấn các bộ trưởng, Quốc hội khóa đầu tiên đã chất vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều câu hỏi gai góc về vụ buôn lậu của bộ trưởng kinh tế Chu Bá Thượng, về đề nghị thay đổi quốc kỳ…

LÂM QUANG THỰ (đại biểu Quốc hội khóa I)

tuoitre.vn

Nửa thế kỷ giữ ảnh Bác Hồ

Bà Nguyễn Thị Chuyên với bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh mua từ cuối năm 1954 Ảnh: Nguyên Nhung

TTCT – Trong ngôi nhà gỗ cổ ba gian ở thôn Hạ Lũng (quận Hải An, Hải Phòng) của cụ bà Nguyễn Thị Chuyên có một tấm ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh treo trang trọng. Bức ảnh đen trắng treo áp vào hàng rui, mè bằng gỗ lim nâu bóng. Trong ảnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh trông không giống như những bức chân dung thường thấy, vẫn đôi mắt sáng, vầng trán tinh anh nhưng trông Người trẻ và gầy hơn, phía dưới ảnh ghi: “Hồ – Chí – Minh. Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Đó là bức ảnh mà bà Chuyên mua về từ cuối năm 1954, khi Hải Phòng còn chưa hoàn toàn giải phóng và gìn giữ đến bây giờ.

Hơn nửa thế kỷ trước, đó là những ngày Hải Phòng còn ngột ngạt trong sự kìm kẹp của giặc Pháp trong 300 ngày giải giáp vũ khí sau khi Hiệp định Geneve về đình chiến ở Đông Dương được ký kết. Theo hiệp định, Hải Phòng và Kiến An là khu vực quân Pháp tập kết 300 ngày để rút khỏi miền Bắc. Đây cũng là nơi cuối cùng của miền Bắc được giải phóng.

Hạ Lũng là một làng trồng rau màu và hoa ở ngoại ô. Sớm sớm, người làng mang rau củ, hoa trái vào bán trong phố. Đôi mắt giăng mây, cụ Chuyên chậm rãi kể: “Hôm đó bán hết gánh hàng hoa, tôi quảy quang gánh đi vào cửa hàng tạp hóa gần chợ Sắt để mua kim chỉ, nhòm vào gian trong thấy treo bốn bức ảnh đã đóng sẵn trong khung kính. Ảnh chụp một ông cụ, mắt sáng, mũi thẳng, miệng rộng, tai to, nét nào ra nét ấy, đẹp quá.

Thấy tôi cứ ngẩn ra nhìn, người bán hàng bảo đấy là ông Chủ tịch nước. Hồi ấy đã nghe nói nhiều về ông Hồ rồi, dân tình đồn đại là ông đang kéo quân về đây đuổi giặc Pháp đi, nước mình sẽ tự làm chủ, thế là tôi mừng quá lấy hết tiền bán hoa ra đòi mua bức ảnh to nhất. Hồi ấy vẫn tiêu bằng tiền “gánh dưa”, tức đồng tiền Đông Dương có in hình người gánh dưa, lâu ngày quá không nhớ là bao nhiêu nhưng cũng gần hết số tiền tôi bán gánh hoa hôm ấy. Người bán hàng giúp tôi bọc kỹ bức ảnh, khuyên nên lấy cái nón đậy lên trên kẻo bị chú ý.

Bấy giờ, lính Tây, mật thám và người của các đảng phái phản động nhan nhản, tôi cũng lo lắm, sợ nhỡ nó phát hiện ảnh Cụ Hồ mà tịch thu mất. May sao, đận ấy chúng đang dồn dịch người ra mấy cái tàu “há mồm” cuối cùng đỗ ngoài cửa biển để vào Nam, tôi đi thoát về nhà. Ông nhà tôi bảo: “Sắp qua 300 ngày, Pháp chuẩn bị rút hết rồi, để tôi treo lên mái nhà, chỗ cái tràng kỷ tiếp khách này cho mọi người biết Cụ Hồ”.

“Đó là bức ảnh Bác Hồ duy nhất ở làng lúc ấy nên người ta đến xem đông lắm – bà Chuyên nhớ lại – Ai cũng trầm trồ thán phục vì danh tiếng ông cụ lúc ấy đã vang trong dân từ lâu. Hôm 19-5-1955, cả nhà tôi lên phố dự mittinh ở quảng trường Nhà hát lớn để mừng thành phố quê hương giải phóng. Người ta bảo “Hôm nay là sinh nhật Cụ Hồ”. Cái hôm cụ về Hải Phòng lần thứ hai vào mùng 2-6-1955, tôi đang bán hoa ở bờ sông Lấp, nom rõ ôtô chở cụ chạy chầm chậm qua. Ông cụ giống y trong bức ảnh treo ở nhà tôi. Dân mình đổ ra đón đông lắm, hàng vạn người tập trung hai bên đường vỗ tay, reo hò”.

Dưới mái ngói cổ kính của ngôi nhà gỗ có tuổi đời hơn một thế kỷ đã diễn ra bao biến cố nhưng bức ảnh luôn được gìn giữ cẩn thận, treo trang trọng trên cao giữa gian phòng khách. Năm 1968, cơn bão số 7 cấp 12 quét qua làng, nhà bay hết ngói, may sao tấm ảnh với cái khung bằng gỗ thông dầu vẫn nguyên vẹn. Rồi năm 2009, khi ngôi nhà đã xuống cấp phải dỡ ra làm lại, bà Chuyên sai con cháu bọc cất bức ảnh cẩn thận để khi nhà làm xong lại đem tấm ảnh treo đúng chỗ cũ.

Sau hơn nửa thế kỷ, bức ảnh hầu như không thay đổi, vẫn khung gỗ thông lên nước đen bóng, mặt kính vẫn trong veo như ngày mới mua về khiến chân dung Cụ Hồ hiện sáng rõ từng đường nét. Hỏi vì sao giữ bức ảnh Cụ Hồ được lâu đến thế, bà Chuyên chỉ trả lời giản dị: “Cụ Hồ vì dân vì nước, ai nhìn ảnh cũng thấy đẹp thì tại sao lại không treo, không giữ”. Rồi bà nhắc con cháu cẩn thận khi bắc thang lấy ảnh xuống cho chúng tôi chụp lại…

Theo bà Chu Ngọc Lan – Trưởng phòng Kiểm kê – Bảo quản, Bảo tàng Hồ Chí Minh, đây là bức ảnh được nhà nhiếp ảnh Vũ Năng An chụp năm 1950. Tuy nhiên, Bảo tàng không có thông tin về việc ảnh được in ấn ở đâu, phát hành như thế nào…

NGUYÊN NHUNG
Theo tuoitre.vn
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Kỷ niệm của người đội viên du kích dũng cảm bốn lần được gặp Bác Hồ

Ông Hoàn cùng các đội viên chụp ảnh lưu niệm nhân dịp 55 năm thành lập Đội Thiếu niên du kích Đình Bảng

(ĐCSVN)- Ông Nguyễn Thạc Hoàn, ở Đình Bảng (Từ Sơn – Bắc Ninh) tham gia Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng khi mới 14 tuổi, sau đó đã trở thành đội trưởng của đội. Mưu trí, dũng cảm, ông đã không ít lần lập được những chiến công hiển hách và nhận được nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước. Nhưng vói ông, bốn lần vinh dự gặp Bác, trực tiếp nghe Bác dạy bảo chính là phần thưởng cao quý nhất.

Người đội trưởng mưu trí.

Sinh năm 1935, ở vùng quê bị địch chiếm đóng, có lòng yêu nước nồng nàn và sớm được giác ngộ, mới 12 tuổi, cậu bé Nguyễn Thạc Hoàn đã tham gia vào đội liên lạc của du kích xã. Đến năm 14 tuổi đã trở thành đội viên Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng.

Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng ngày đó được giao nhiệm vụ thâm nhập vào những nơi địch chiếm đóng để lấy thông tin, nắm tình hình địch rồi thông báo cho lực lượng của ta. Ông Nguyễn Thạc Hoàn nhớ lại: Những ngày đầu, ông vào đồn lân la làm quen và giặt hộ quần áo cho một sỹ quan Pháp tên Sác-lơ. Khi đã quen, ông làm đủ mọi việc như: Dọn dẹp, nấu ăn, bê nước trong các hội nghị cho chúng. Vì vậy, ông đã lấy được rất nhiều thông tin quý giá cho cách mạng.

Năm 1950, ông được tín nhiệm trở thành Đội trưởng Đội Du kích tThiếu niên Đình Bảng. Với nhiệm vụ quan trọng trọng là giữ liên lạc giữa các tổ Quân Báo, thu thập, xác định thông tin một cách chính xác sau đó chuyển về vùng du kích. Lúc này, ông hóa trang thành cậu bé cắt tóc mở cửa hiệu ngay cạnh bốt địch. Hàng ngày, vừa cắt tóc vừa nghe ngóng thông tin từ binh lính và sỹ quan địch, báo cáo lại cho cách mạng.
Hồi ức lại những năm tháng gian khổ mà hào hùng, ông kể: “Cắt tóc vừa làm nhiệm vụ lại kiếm được tiền, tôi để dành cho đội du kích thiếu niên mua sắm những thứ cần thiết để hoạt động. Có lần thấy địch nhập về kho mấy xe hòm thuốc súng, chúng tôi bàn nhau lấy trộm về cho bộ đội. Chúng tôi lấy tiền để dành mời bọn lính coi kho đi uống bia say mèm, sau đó đột nhập vào kho lấy được hơn 10 thùng thuốc súng mà chúng không hề hay biết gì”

Với cương vị Đội trưởng Đội Du kích Thiếu niên, ông từng gặp rất nhiều nguy hiểm. Ông kể về một lần thoát chết mà ông vẫn nhớ như in: “Vào cuối năm 1952, tôi đang mang các tài liệu quan trọng về vùng du kích thì địch phát hiện. Chúng ráo riết đuổi theo. Tôi cắm đầu chạy trong làn đạn chúng bắn đuổi sát sạt bên người. Trước tình thế quá nguy hiểm, sờ thấy bên sườn còn quả lựu đạn, tôi bèn giật nụ xòe thả ngay dưới chân, rồi gắng sức chạy thêm một đoạn, lao đến nằm sau một mô đất. Lúc bọn giặc đuổi đến chỗ lựu đạn thì nó phát nổ. Thằng chết, thằng bị thương, chúng kêu gào ầm ĩ. Nhân cơ hội đó, tôi bèn lẩn vào các bụi rậm và trốn thoát”

Với các hoạt động mưu trí, dũng cảm, Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng đã lập nên nhiều chiến công vang dội, đóng góp vào những trận thắng lớn của quân ta. Điển hình như trận chống càn Tiên Du – Quế Võ, ta tiêu diệt hàng mấy trăm tên địch, thu nhiều vũ khí, khiến địch hết sức khiếp sợ.

Rời Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng, ông được cử đi học lớp chỉnh quân Chính trị ở Việt Bắc. Sau đó ông tham gia cuộc phát động giảm tô ở Cao Bằng, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, lấy lương thực chi viện cho chiến trường. Hòa bình lập lại, ông làm việc tại Ban Chỉ huy Quân sự địa phương và tham gia giảng dạy tại Trường Trung cấp Nông Lâm của tỉnh Bắc Ninh. Lúc này, ông lại đem hết nhiệt huyết và những kiến thức của mình để truyền cho thế hệ trẻ, phục vụ công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Đội trưởng Nguyễn Thạc Hoàn cùng đồng đội tìm lại hòm thư quân báo bí mật tại khu Lăng Lý Thái Tổ.

Bốn lần vinh dự gặp Bác Hồ

Với những đóng góp của mình cho cách mạng, ông Nguyễn Thạc Hoàn trở thành niềm tự hào của nhân dân Đình Bảng và được Đảng, Nhà Nước trao tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì (năm 1952), Huân chương Chiến công hạng Ba (năm 1953). Nhưng theo ông, bốn lần được gặp Bác Hồ mới chính là phần thưởng lớn nhất trong cuộc đời ông.

Về lần gặp Bác thứ nhất, ông kể: Vào tháng 5/1952, tôi được cử đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất tại chiến khu Việt Bắc. Tôi vừa đến, đã được gặp Bác ngay. Bác bắt tay tôi, khen ngợi Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng. Bác nói Bác tự hào về những thiếu niên nhỏ tuổi nhưng gan dạ, anh dũng.

Lần thứ hai, ngày 12/11/1954, ông lại được gặp Bác ở Hà Nội sau ngày giải phóng Thủ đô. Ông Hoàn nhớ lại: “Bác đến gần chỉnh sửa áo quần cho tôi. Tôi đã rất cảm động khi nghe Bác dặn: “Trong cuộc kháng chiến chống Pháp các cháu đã chiến đấu dũng cảm, là con em của Đình Bảng có truyền thống cách mạng, giờ hòa bình các cháu vẫn phải ra sức rèn luyện, học tập để bảo vệ Tổ quốc, làm giàu cho quê hương, Bác tin tưởng ở các cháu”.

Lần thứ ba gặp Bác đã để lại những kỷ niệm sâu sắc nhất trong ông. Đó là vào ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6/1955, khi ông trực tiếp dẫn 14 thiếu niên xuất sắc của Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng vào Phủ Chủ tịch gặp Bác Hồ cùng Bác Tôn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông sung sướng khoe: “Trong cuộc đời mình, tôi chưa bao giờ vui như thế. Bác phát kẹo cho chúng tôi. Rồi Bác tự tay bóc kẹo cho từng cháu dưới con mắt ngạc nhiên của tất cả mọi người. Sau đó, Bác cầm tay chúng tôi thành vòng tròn nhảy múa rất vui. Khi về, Bác còn gửi 3 cân kẹo cho chúng tôi làm quà cho các bạn ở nhà”.

Đến ngày 2/9/1955, lần thứ tư, ông lại vinh dự được đứng bên Bác trên kỳ đài tại Quảng trường Ba Đình lịch sử nhân dịp kỷ niệm trọng thể 10 năm Ngày Quốc khánh của dân tộc.

Chia tay chúng tôi, ông Hoàn tâm sự: “Cuộc đời trôi qua thật nhanh. Giờ đây, tôi đã là một cán bộ hưu trí, nhưng trong tâm trí tôi không bao giờ quên ân tình sâu đậm của Bác. Tôi vẫn hằng răn dạy con cháu: Cố gắng học tập và lao động thật tốt, góp phần xây dựng quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp như Bác Hồ mong đợi”./.

Theo http://www.cpv.org.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Kỷ vật của Bác Hồ – Kỳ cuối

Hành trình của người phụ nữ Mỹ

TT – Người phụ nữ Mỹ này tận tụy gõ từng cánh cửa các sứ quán, bảo tàng, trung tâm lưu trữ của nhiều quốc gia trên thế giới để tìm kiếm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lady Borton không nhớ rõ bao nhiêu cánh cửa đã mở rộng và bao nhiêu cánh cửa khép chặt khi bà tìm đến. Với Lady Borton, Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh là duyên nợ, là tình yêu lớn của cuộc đời bà.

Bìa cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh của Lady Borton – Ảnh: Hà Hương

>> Kỳ 1: Cảm xúc từ ngõ Compoint
>> Kỳ 2: 1.000 ngày trên đất Thái

Tìm Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong

Lady Borton sinh năm 1942 tại Washington DC (Mỹ). Bà đến Việt Nam trước năm 1975 và tham gia các hoạt động nhân đạo của Tổ chức Quaker (trung tâm tái định cư) tại Quảng Ngãi. Lady Borton nói được tiếng Việt, bà sống và làm việc tại Việt Nam từ năm 1978 với tư cách nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà hoạt động từ thiện. Những cuốn sách Lady Borton đã viết: Phía sau nỗi buồn (kể về số phận những phụ nữ Việt Nam trong và sau hai cuộc kháng chiến), Hồ Chí Minh – một chân dung (viết chung với C.David Thomas), Hồ Chí Minh – một hành trình…

“Các bạn luôn tin tưởng một cách tuyệt đối vào thông tin về cuộc đời Hồ Chí Minh. Nhưng một số học giả phương Tây nghi ngờ điều đó, đặc biệt họ đặt nhiều câu hỏi về quãng thời gian Hồ Chí Minh ở nước ngoài. Tôi lần theo hành trình của Hồ Chí Minh và tôi muốn chứng minh những lời kể của Hồ Chí Minh bằng tư liệu và dẫn chứng lịch sử” – Lady Borton mở đầu chuyện kể về những hành trình “theo chân” Hồ Chí Minh của mình như vậy.

Cuộc tìm kiếm thầm lặng của Lady Borton kéo dài ròng rã hàng năm trời. Bà bắt đầu tìm kiếm tư liệu về vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong từ kho lưu trữ tòa án, bộ ngoại giao của Anh, Pháp và tất nhiên là ở Hong Kong. Bà nói: “điều tôi luôn băn khoăn là người Pháp, người Anh lúc đó họ nghĩ gì và đánh giá ra sao về Nguyễn Ái Quốc. Những tư liệu về phiên tòa này ở hai bên hẳn ẩn chứa nhiều bất ngờ”.

“Điều thú vị là ngay trang đầu của tập hồ sơ dài 250 trang, người Anh đánh dấu hỏi rất lớn: Nguyễn Ái Quốc là ai? Người Pháp nói với họ rằng Nguyễn Ái Quốc là cộng sản nhưng theo luật Anh, cộng sản cũng có quyền. Họ chỉ quan tâm một điều duy nhất là người thanh niên này chống lại thống đốc Hong Kong. Và chắc họ cũng muốn biết tại sao người Pháp lại sốt sắng bắt người này đến vậy” – Lady Borton kể.

Đàm Thư, một người bạn Việt Nam, đã giúp Lady tìm kiếm tư liệu ở Pháp. Lady hài hước kể: “Chúng tôi gặp một tình huống ngang trái, tôi biết cách tìm nhưng không biết tiếng Pháp, lại là người Mỹ nên không được lên kho lưu trữ. Còn Đàm Thư biết tiếng Pháp, được phép vào nhưng không biết cách tìm”. Cuối cùng khi tìm thấy thì Lady gặp rắc rối lớn là những tài liệu đó chưa đến hạn giải mã. Số tài liệu này sau đó được photocopy và chuyển về Việt Nam thông qua con đường ngoại giao.

“Những tư liệu cho thấy Anh – Pháp tranh cãi với nhau khá gay gắt về Nguyễn Ái Quốc” – Lady Borton khẳng định.

Bà Lady Borton – Ảnh: Hà Hương

Tình yêu của Lady

“Năm 1954 tôi 12 tuổi, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc. Trên tờ báo của trẻ con ở Mỹ có đăng một hình minh họa và kèm theo những lời hù dọa: cộng sản sẽ ăn cắp thế giới. Lúc đó tôi sợ Việt Nam, sợ cả Hồ Chí Minh” – Lady Borton bật cười nhớ lại lần đầu nghe những cái tên đầy duyên nợ với bà.

Nỗi sợ hãi vì những lời hù dọa trẻ con đó nhanh chóng biến mất, thay vào đó là một tình yêu lớn đối với Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lady Borton kể chuyện với ánh mắt lấp lánh: năm 1965 người Mỹ nói nhiều đến Việt Nam và Hồ Chí Minh, trên phố mọi người biểu tình phản đối chiến tranh. Vào thập niên 1960, Lady nhớ tên Việt Nam – Hồ Chí Minh còn nhiều hơn cả tên của những ngôi sao ca nhạc cùng thời.

“Tôi gặp Đàm Thư – một phụ nữ Hà Nội đã sống qua những năm tháng chiến tranh và gian khó. Đàm Thư kể cho tôi về ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình. Đó là Việt Nam qua con mắt của một cô bé 10 tuổi. Đàm Thư kể rằng mọi người đều muốn đổ ra đường, nhưng gia đình nào cũng có một người ở nhà để thắp hương cho những người đi xa báo rằng nước mình đã độc lập. Đàm Thư cũng kể về Tết Trung thu 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nói chuyện với trẻ em. Người nói rằng: các cháu là dân của một nước độc lập. Có lẽ chính những câu chuyện nhỏ của Đàm Thư đã tiếp thêm tình yêu của tôi với Việt Nam và Hồ Chí Minh. Và tôi bắt đầu nghiên cứu sâu về Hồ Chí Minh từ đó” – Lady kể về mối duyên của mình như vậy.

Mùa hè này Lady Borton sẽ về Mỹ để tiếp tục cuộc tìm kiếm mới của mình, đó là những tư liệu về thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Mỹ năm 1913. Bà chia sẻ: “Tôi nghĩ bản thân Hồ Chí Minh biết cách mạng Mỹ hoàn toàn không phù hợp với Việt Nam. Tại sao nước Mỹ lại giữ chân Hồ Chí Minh lâu đến vậy? Có thể ở Boston, Người đã tiếp xúc với phong trào đấu tranh của người da đen và đọc bản yêu sách do William Monroe Trotter (một người Mỹ da đen đã tốt nghiệp Đại học Harvard) viết, kèm chữ ký của 200.000 người gửi tổng thống Thomas Woodrow Wilson.

Hơn nữa, tôi nhớ một nhà báo nước ngoài từng nói những tháng năm ở Mỹ sẽ ảnh hưởng rất lớn cách nhìn và các quyết sách của Hồ Chí Minh khi Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Cho nên việc Hồ Chí Minh đã đi đâu, tiếp xúc với ai trong năm 1913 sẽ là những thông tin quan trọng để giải mã thêm giai đoạn đầu ra đi tìm đường cứu nước của Người”.

Cuộc “theo chân” chàng trai Nguyễn Ái Quốc có đôi mắt sáng ở Mỹ của Lady Borton đã bắt đầu từ vài năm nay. Với bà, khi cánh cửa này đóng lại cũng có nghĩa là cánh cửa khác mở ra, và hành trình tìm kiếm những “miếng ghép” của cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa bao giờ dừng lại.

HÀ HƯƠNG

tuoitre.vn

Kỷ vật của Bác Hồ – Kỳ 2

1.000 ngày trên đất Thái

TT – Một ngày tháng 9-1969, người thanh niên Ngô Vĩnh Bao lặng lẽ cất vào ngăn tủ một chiếc băng tang. Chiếc băng tang được ông giữ lại sau lễ viếng Bác Hồ. Rồi ngăn tủ có thêm một viên gạch xây lăng ông tìm thấy ở quảng trường Ba Đình năm 1976.

Gần 40 chuyến đi trong suốt 1.000 ngày ở Thái Lan, ông Ngô Vĩnh Bao kiên trì lần theo từng chút thông tin, đầu mối cho biết về những địa điểm Bác Hồ từng đi qua từ năm 1929-1931. Cứ hết giờ làm việc ở Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Khonkaen (Thái Lan), ông Bao lại vùi đầu nghiên cứu hàng chục cuốn hồi ký của những Việt kiều từng hoạt động với Bác Hồ tại Thái Lan, các bài viết hay câu chuyện kể của Người.

Năm 1911

Tháng 6, sau ngày 5: Sau khi nhận việc ở tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, Nguyễn Tất Thành viết thư về cho thầy giáo Hải, dạy tiếng Pháp ở Trường Dục Thanh báo tin mình đã đi ra nước ngoài.

– Hồi ức của các ông: Nguyễn Quý Phầu, Nguyễn Ðăng Lầu, Từ Trường Phùng, học sinh Trường Dục Thanh năm học 1910-1911. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Tư liệu của cuộc Hội thảo khoa học Bác Hồ với Thuận Hải, Thuận Hải với Bác Hồ, tháng 5-1986. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh. (…)

Tháng 10, trước ngày 31: Nguyễn Tất Thành vẫn làm việc trên tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, theo hành trình con tàu trở về Sài Gòn.

– Hồi ký của Từ Trường Phùng.

– Sổ lĩnh lương tàu Amiran Latusơ Tơrêvin (bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh, ghi rõ nhận lương tại Sài Gòn, ngày 16-10-1911, chữ ký Văn Ba).

Tháng 10, ngày 31: Từ Sài Gòn Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ chuyển số tiền 15 đồng cho cha là Nguyễn Sinh Huy. Số tiền trên đã được ông Nguyễn Sinh Huy ký nhận ngày 9-11-1911.

– Hồ sơ của Chánh mật thám Trung kỳ lập tại Huế, ngày 12-1-1923. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– D.Hémery: Jeunesse d’un colonisé, genese d’un exil…, Approche – Asie No11 – 1992, p.132.

(Sách Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử tập 1
(1890-1929) NXB Chính Trị Quốc Gia năm 2006,
trích trang 41, 42 và 45).

Lật cuốn tư liệu mô tả hành trình của ông Thầu Chín (tên của Bác Hồ thời ở Thái Lan) trong ba năm tại Thái Lan, ông Ngô Vĩnh Bao xúc động nói: “Tôi trở đi trở lại trên những con đường Bác đã đi qua. Mỗi chặng hành trình của Bác, tôi cố gắng trở lại, đôi khi không phải chỉ để tìm kiếm kỷ vật mà để cố gắng hiểu tâm trạng của Người”.

Có lần ông Bao đi tìm nơi Bác Hồ đã viết một bài thơ. Một người Thái tốt bụng đã đưa ông đi tìm khúc sông hằng ngày Bác vẫn ngồi ngắm cảnh. “Có những lúc ròng rã tìm kiếm mấy ngày trời rồi lại thất vọng về không”, ông Bao kể về những ngày đầu dò đường đi tìm kỷ vật Bác Hồ ở Thái.

Cứ mải miết đi về từng chuyến như vậy, nhưng có những kỷ vật của Bác ông tìm ròng rã suốt ba năm trời trên đất Thái. Chỉ chiếc phản gỗ đặt trang trọng giữa nhà, ông Bao bồi hồi nhớ lại: “Tôi tìm chiếc phản này suốt thời gian ở Thái Lan, may mắn đến lúc sắp về nước mới tìm thấy. 80 năm, chiếc phản đã kịp qua tay 10 người chủ. Tôi là người chủ thứ 11 của chiếc phản này đấy”.

Đó là chiếc phản gỗ mà Bác Hồ đã ngủ trong những ngày ở lại hiệu thuốc của ông Đặng Văn Cáp (năm 1929). Sau đó không lâu ông Cáp bị bắt, những Việt kiều ở Thái Lan chia nhau cất giữ tài sản trong hiệu thuốc.

Ông Bao kể: “Tôi đến Thái chỉ biết một đầu mối duy nhất là chiếc phản được ghép từ ba miếng gỗ, miếng giữa lớn và nguyên, còn hai miếng bên cạnh có vết nứt. Rồi tình cờ tôi tìm thêm được hồi ký của ông Cáp, dò hỏi từng gia đình Việt kiều về chiếc phản gỗ. Ký ức gần 80 năm người nhớ người quên, người nhớ cũng không rõ ràng gì. Tôi cứ tìm hết người chủ này đến người chủ kia, đến người thứ 10 thì tôi tìm thấy chiếc phản.

Có một điều mà suốt ba năm đi tìm chiếc phản ông Bao không thể ngờ tới là những Việt kiều ở Thái đã giữ gìn nó như giữ gìn sinh mạng của chính mình và luôn mong ngày chuyển chiếc phản về Tổ quốc. Ngày ông tìm đến nhà ông Bùi Bá Ba ở tỉnh Sakon Nakhon, người chủ thứ 10 của chiếc phản đang bị nhồi máu cơ tim phải cấp cứu trong bệnh viện.

“Tôi nhớ lúc tôi theo cô con gái vào thăm ông Ba, ông ấy còn yếu và chưa nói được. Cô con gái cầm tay cha hỏi: người này có thể xin lại chiếc phản gỗ mang về Việt Nam không? Ông Ba gật đầu mà khóe mắt rơm rớm” – ông Bao xúc động kể.

Những kỷ vật của cuộc đời

1.000 ngày “theo chân Bác” mang lại những kỷ vật vô giá như chiếc phản gỗ, chiếc ghế Bác từng ngồi làm việc, viên gạch lát nền nhà ở bản Mạy (tỉnh Nakhon Phanom), hai chiếc chân đèn bằng gỗ Bác Hồ dùng năm 1929… Những kỷ vật này được ông cất cẩn thận như một phần máu thịt của mình suốt nhiều năm qua.

Ông Ngô Vĩnh Bao còn giữ được 20 cuốn hồi ký của các Việt kiều từng hoạt động cùng Bác trong thời gian Người ở Thái. “Đọc hồi ký tôi biết họ đã cùng Bác đi đến những điểm nào, trong thời gian bao lâu. Ráp nối các chi tiết đó, tôi đã vẽ được toàn bộ hành trình của Bác đi qua chín tỉnh Thái Lan từ năm 1929-1931”, ông Bao nhớ lại.

Riêng bản đồ hành trình, các tư liệu ghi chép Bác Hồ đã đi những đâu, gặp gỡ ai, ảnh tư liệu hay nhân chứng hành trình của Bác, ông Bao tập hợp trong ba tập dày.

Nhìn kho tư liệu chật kín các ngăn tủ, ông Bao nói: “Ban đầu tôi thu thập tư liệu về Bác Hồ chủ yếu để làm một bộ sưu tập chi tiết về ba năm Người sống và hoạt động ở Thái Lan. Nhưng sau khi hoàn thành xong ba tập, tư liệu vẫn còn ngập cả một gian phòng lớn. Tôi sắp xếp lại theo thứ tự thời gian từ lúc Bác còn nhỏ đến ngày Bác ra đi, xếp đi xếp lại đến 19 tập dày”.

Đối với ông, những kỷ vật về Bác Hồ từ lâu đã trở thành một phần đời không thể thiếu của mình…

HÀ HƯƠNG

Ông Ngô Vĩnh Bao và cuốn tư liệu về hành trình của Bác Hồ từ năm 1911 Ảnh: Tiến Thành

Ông Ngô Vĩnh Bao sinh ở Vientiane (Lào) năm 1944. Năm 2 tuổi, ông theo gia đình di cư sang Thái Lan. Mãi đến năm 1960 gia đình ông mới hồi hương về Việt Nam. Ông Ngô Vĩnh Bao học phổ thông, đi làm công nhân, học đại học rồi về công tác tại văn phòng Cục Phục vụ (Bộ ngoại giao). Từ năm 1999-2002, ông giữ chức lãnh sự tại Tổng lãnh sự quán Việt Nam ở tỉnh Khonkaen (Thái Lan). Nhiều Việt kiều ông gặp trong hành trình 1.000 ngày “theo chân Bác” là người quen cũ thời còn sống trên đất Thái.

_________________

Người phụ nữ Mỹ tận tụy đến gõ từng cánh cửa của các sứ quán, bảo tàng, trung tâm lưu trữ… của nhiều quốc gia trên thế giới để tìm kiếm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bà không nhớ rõ bao nhiêu cánh cửa đã mở rộng với mình…

Kỳ tới: Hành trình của người phụ nữ Mỹ

tuoitre.vn

Kỷ vật của Bác Hồ – Kỳ 1

Cảm xúc từ ngõ Compoint

TT – Câu chuyện xúc động về những người đã lần theo hành trình cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh để sưu tầm những kỷ vật liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Người.

Một lần tình cờ được dẫn xuống tầng hầm của Bảo tàng Hồ Chí Minh, anh chuyên viên trẻ chỉ vào một người đang cặm cụi soi kính lúp trên những trang giấy ố vàng và giới thiệu: “Chuyện đi tìm kỷ vật cứ hỏi bác Thái. Chiếc tủ gỗ ở nhà số 9 ngõ Compoint, Paris đang trưng bày ở bảo tàng là một trong những kỷ vật của Bác Hồ ở nước ngoài được mang về VN rất sớm. Bác Thái là người biết rõ chuyến trở về Tổ quốc của chiếc tủ gỗ ngõ Compoint đấy!”. Người cặm cụi soi kính lúp trên những chồng tư liệu về Bác Hồ chính là ông Trịnh Ngọc Thái (nguyên đại sứ VN tại Pháp 1992-1997).

Mô hình ngôi nhà số 9 ngõ Compoint, Paris, Pháp được trưng bày tại triển lãm“Chủ tịch Hồ Chí Minh và con đường giải phóng dân tộc” ở Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội – Ảnh: Tiến Thành

Chiếc tủ gỗ ở ngõ Compoint

Một cuộc đời ăm ắp sự kiện, nhưng với ông Trịnh Ngọc Thái, chuyến trở về VN của chiếc tủ gỗ để lại một ấn tượng đặc biệt. “Đó là năm 1968, một ngày đầu mùa xuân, tuyết rơi dày và rất lạnh, đoàn đại biểu do Bộ trưởng Xuân Thủy dẫn đầu đến thăm ngôi nhà số 9 ngõ Compoint – nơi Bác Hồ từng sinh sống”, ông Thái hồi tưởng.

Ngõ Compoint – con ngõ được coi là nghèo nhất của khu lao động nghèo – có bốn ngôi nhà lụp xụp. Ông Thái còn nguyên cảm giác xúc động khi lần đầu tiên bước vào căn nhà cũ kỹ trong ngày mùa xuân Paris rét buốt đó: “Người ta cứ nghĩ căn phòng trọ Bác từng ở dù không tiện nghi nhưng cũng phải tử tế. Nhưng khi đi bộ trong lúc tuyết rơi, nhiệt độ xuống mức âm, bước trên cầu thang gỗ ọp ẹp và vào căn phòng bé con con, chúng tôi thật sự ngỡ ngàng”.

Một căn phòng không quá 9m2 chỉ đủ kê một giường cá nhân, một tủ gỗ đựng quần áo, một tủ nhỏ kê đầu giường dùng để viết lách và ngồi ăn cơm… “Mùa đông ở nước Pháp lạnh đến tê người, Bác đã sống thế nào trong một căn phòng không có lò sưởi, chỉ với một viên gạch ủ trong chăn? Một viên gạch bỏ vào chăn chỉ ấm được một lúc thôi, làm sao giữ ấm được suốt đêm?”, ông Thái xúc động nói.

Nhưng ngôi nhà sẽ bị phá bỏ vì quá cũ kỹ, một nơi lưu giữ nhiều ký ức của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm 1921-1923 có nguy cơ biến mất. “Lúc trở về, ông Xuân Thủy đã nghĩ ngay đến việc làm thế nào để giữ được kỷ vật vô giá của Bác Hồ. Phải nhớ rằng đó là năm 1968, hai năm sau – tháng 11-1970 – ban phụ trách xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh mới được thành lập”, ông Thái kể.

Tuy nhiên, mãi đến năm 1974 những kỷ vật của Bác Hồ ở Paris mới được đưa về VN. Đó là chiếc tủ quần áo và chiếc tủ gỗ để đầu giường. Còn những hiện vật khác như tấm bảng sắt ghi số 9 ngõ Compoint, cánh cửa ra vào bằng gỗ, lavabo rửa mặt, tấm sàn gỗ… sau này được đưa đến căn phòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Lịch sử sống thành phố Montreuil (Pháp).

Hai người cận vệ tên là Cận và Lành đã áp tải các kỷ vật quý giá đó trên chuyến xe lửa suốt nửa tháng trời từ Paris (Pháp) qua Berlin (Đức), Ba Lan, qua Siberia (Nga), Trung Quốc rồi mới về tới Hà Nội. Hai kỷ vật của Bác được giao lại cho ban phụ trách xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tìm Bác khắp năm châu

Theo bà Nguyễn Thị Tình (nguyên giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh), đến năm 2006 bảo tàng có chuyến đi tìm kiếm kỷ vật Bác Hồ. “Chuyến đó ba nhân viên bảo tàng đi Nga suốt một tháng trời. Tuy nhiên, gần một thế kỷ đã trôi qua, những hiện vật gắn bó với cuộc đời của Người hầu như không giữ lại được. Chúng tôi chỉ tìm kiếm được bản gốc các tác phẩm của Người, scan lại rồi mang về nước”, bà Tình cho biết.

Ba lần đến Nga, hai lần đến Pháp, rồi đến Đài Loan, Hong Kong…, hàng ngàn tư liệu có bút tích của Bác Hồ đã được mang về. Một cán bộ phòng sưu tầm bảo quản Bảo tàng Hồ Chí Minh kể: “Chúng tôi phải lần theo những manh mối rất nhỏ để tìm kiếm các kỷ vật của Người. Có những tư liệu chúng tôi chỉ tình cờ tìm thấy trước giờ lên máy bay hai tiếng. Tuy nhiên, trong số đó có rất nhiều tư liệu quý mà phải thuyết phục rất lâu mới có thể sao chụp được, vì theo quy định thời hạn giải mã mãi đến năm… 2014”.

“Nhiều tài liệu dưới dạng scan được mang về VN trong năm năm qua. Sau gần một thế kỷ mọi việc sưu tầm đã trở nên khó khăn hơn nhiều. Hơn nữa Người luôn sống ở những khu lao động nghèo với nhiều bí danh khác nhau nên khi chúng tôi tìm đến, những nơi đó đã bị đập đi để xây khách sạn và cao ốc”, bà Tình nói.

Hàng chục năm qua, đã có rất nhiều người lần theo hành trình của Bác để tìm kiếm kỷ vật và tư liệu về Người. Họ đặt chân trên những con đường Người đã đi qua, đến ngôi nhà Người từng ở, trăn trở tìm kiếm những vật nhỏ nhất từng gắn bó với Người. Nhiều kỷ vật của Bác Hồ đã trở về Tổ quốc bằng những con đường rất riêng như thế.

“Ông cố vấn” của bảo tàng

Ngày nắng cũng như ngày mưa, ông tất bật đi về giữa Bảo tàng Hồ Chí Minh và ngôi nhà ở Hồ Xuân Hương nhìn ra hồ Thiền Quang nhiều gió. Ở bảo tàng mọi người gọi ông là “ông cố vấn” Trịnh Ngọc Thái. Bởi nhiều năm nay ông giữ vai trò cố vấn, nghiên cứu, dịch các bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. “Ông cố vấn” chẳng có phòng riêng, chiếc bàn nhỏ và cũ kỹ đặt ở phòng bảo quản dưới tầng hầm bảo tàng là nơi ông ngồi làm việc.

Hơn 80 tuổi nhưng ông có số lượng công việc còn rất nhiều. Đi tìm kiếm, dịch tư liệu, ghi chép và viết sách… mỗi ngày của ông cứ xoay vòng cho từng đó việc. Nhiều cuốn sách về Bác Hồ của Bảo tàng Hồ Chí Minh đều có bàn tay đóng góp của ông.

Với ông Trịnh Ngọc Thái, việc dịch những tư liệu có bút tích của Bác Hồ còn là một duyên nợ. 51 năm về trước, ông Thái chính là phiên dịch trong các buổi làm việc chung của luật sư Loseby khi ông sang VN theo lời mời của Bác. “Điều thú vị khi dịch cho ông Loseby chính là cung cách nói chuyện của Bác với ông luật sư tự nhiên như người một nhà. Bác thường đến không báo trước và ở lại chơi rất lâu. Đi đâu Bác cũng giới thiệu ông luật sư là ân nhân của Bác, dù trong cuộc gặp với công nhân hay học sinh”, ông Thái nhớ lại.

HÀ HƯƠNG

___________

Câu chuyện về 1.000 ngày nghiên cứu, tìm kiếm của một cán bộ ngoại giao Việt Nam ở Thái Lan để dựng lại chặng hành trình của Bác trên đất Thái.

Kỳ tới: 1.000 ngày trên đất Thái

tuoitre.vn

Đi tìm ẩn tích Hồ Chí Minh

Nhà Văn Sơn Tùng

Nguyễn Tất Thành làm đơn xin vào học trường Thuộc địa là một “thông báo” về nước – Nguyễn Tất Thành con Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã có mặt tại nước Pháp “mẫu quốc của dân An Nam!”. Cho nên, bỏ vào thùng thư tại Marseille đơn xin học trường Thuộc địa Paris, Nguyễn Tất Thành xuống tàu đi tiếp đến Havre.

Một ngày giáp Tết. Rét xuyên xương. Một cán bộ của Trung tâm Dịch vụ báo chí của Bộ Ngoại giao đến gặp, đề nghị tôi tiếp ông J.Edward Milner, một nhà báo, nhà đạo diễn và quay phim của Hãng ACACIA và Hãng Truyền hình Channel Four Television của nước Anh. Vị cán bộ ngoại giao cho biết: “Ông ta đang ấp ủ đề tài Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Từ ngày bị thương nặng ở mặt trận trở về, tôi rất ngại ngùng khi phải tiếp xúc với những người lạ vì đã bị mất nhiều thứ… mất cả cái ứng xử nhạy bén, cái giao tiếp linh hoạt do cơ thể không còn lành lặn!

Nhưng đối với các vị khách nhà văn, nhà báo từ nước ngoài đến Việt Nam tìm hiểu về đất nước, về con người, về Bác Hồ… tôi không thể từ chối gặp được.

Ông J.E.Milner bước vào phòng với cái bắt tay trân trọng, lịch thiệp, nhưng ông hơi ngỡ ngàng vì bàn tay tôi không còn nguyên vẹn và ông phải vất vả xếp đôi chân dài của mình để ngồi bệt xuống cái chiếu dưới sàn nhà! Ông cười với một cử chỉ bạt thiệp và giọng nói có màu ấm:

– Tôi đang tập ngồi kiểu này.

– Tính nhẫn nại của người phương Đông có từ trong cách ngồi. Ngồi kiểu này là vững chắc nhất, ngồi được lâu, thưa ngài.

Ông J.E.Milner ứng đáp rất nhà báo:

– Ngồi trên ghế có khi ngã vì ghế mọt.

Thế là chủ khách cùng cười, hội nhập. Tôi mời ông nâng chén:

– Ngài là khách từ một vương quốc rượu ngon, xin ngài nhấp với tôi ly rượu gạo của xứ sở nền văn minh lúa nước.

Ông J.E.Milner cạn chén:

– Tuổi thọ của rượu bằng tuổi thọ của loài người. Rượu cất bằng ngũ cốc là ngon, bằng gạo lại càng ngon, thưa ngài.

Nhà văn Sơn Tùng (người cầm sổ) trong chuyến được đi cùng Bác Hồ để viết về Người (năm 1964). Ảnh tư liệu do nhà văn Sơn Tùng cung cấp.

Qua những phút khởi đầu, ông J.E.Milner vào việc:

– Được biết ngài là một ký giả, một nhà văn đã viết nhiều sách và nhiều bài về Chủ tịch Hồ Chí Minh, được nhiều giới bạn đọc mến mộ. Hiện nay có người nói rằng: Cụ Hồ lúc còn là chàng trai Nguyễn Tất Thành phải đến cảng Nhà Rồng làm phu khuân vác, làm bồi tàu viễn dương để kiếm sống… Gặp thế cuộc, Tất Thành mới tham gia hoạt động chính trị ở Paris với tên gọi Nguyễn Ái Quốc nổi tiếng và trở thành lãnh tụ của phong trào đấu tranh chống đế quốc thực dân, giành độc lập dân tộc. Ngài có luận cứ gì khác để khẳng định Hồ Chí Minh – người yêu nước từ thời mang tên Nguyễn Tất Thành?

Ông J.E.Milner nhìn tôi vẻ thăm dò… sau lúc nêu câu hỏi. Tôi vui vẻ:

– Thưa ngài, sách Khế ước xã hội của triết gia đại văn hào J.J.Rousseau ra đời từ 1762. Ở nước chúng tôi gần đây mới dịch ra tiếng Việt được trọn quyển (Dịch giả, nhà sử học Hoàng Thanh Đạm). Tôi rất thấm thía một điều trong sách ấy: “…Những tâm hồn thấp kém không thể hiểu thấu các bậc vĩ nhân, cũng như kẻ nô lệ nhe răng cười khi nghe hai tiếng tự do”. Có thể một ác ý của sự thiên kiến, cũng có thể do không có được những cứ liệu chuẩn xác về quá trình hình thành của một nhân cách mà hiểu sai lệch về nhân vật lịch sử… Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng tôi là một nhà yêu nước từ thuở còn nằm trong bào thai của mẹ. Thật vậy, mẫu thân của Người lúc gánh gạo đi tiếp tế cho nghĩa quân Phan Đình Phùng chống giặc Pháp thì bụng bà đang mang thai, khi đứa bé ra đời được mang tên “lót nôi” Nguyễn Sinh Côn thì được bú dòng sữa, được uống lời ru của người mẹ yêu nước, căm thù giặc Pháp về đốt làng, giết người, cướp của. Tuổi lên năm, lên mười, Nguyễn Sinh Côn đã được nghe cha đàm đạo việc nước, việc nhà với các nhà đại cách mạng Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế… Ngày Nguyễn Tất Thành đang ngồi trên ghế trường Quốc học Huế, là con quan Thừa biện Bộ lễ, Nguyễn Tất Thành đã đứng vào hàng ngũ những người cùng khổ trong làng quê đấu tranh đòi giảm thuế, bỏ sưu, chống đàn áp bóc lột (1908). Mật thám Trung Kỳ truy nã, Nguyễn Tất Thành phải bỏ học trốn vào cực Nam Trung Kỳ. Một nhà có bốn cha con thì cả bốn người đều bị ghi “sổ đen” của mật thám Trung Kỳ: Nguyễn Sinh Sắc A. 3760; Nguyễn Thị Thanh A.1166; Nguyễn Tất Đạt A.3781; Nguyễn Tất Thành A.3607.

Đó là “Những phần tử nguy hiểm cho nền cai trị của chính phủ bảo hộ“.

Nói rằng Nguyễn Tất Thành không có công ăn việc làm… “phải đi làm phu khuân vác”. Thiết tưởng thân mẫu của Nguyễn Tất Thành là con một gia thế. Cụ tú Hoàng Xuân Đường giàu chữ giàu của cải để nuôi con gái đèn sách hơn mười năm, khi kết duyên với thân phụ của Nguyễn Tất Thành thì bà mới nghỉ việc học. Thân phụ của Nguyễn Tất Thành được ông bà cụ Tú nuôi ăn học từ nhỏ, thi đỗ cử nhân, gả con gái cho và nuôi tiếp chàng rể ăn học, thi đỗ Phó bảng, phải ba lần cụ Tú bán ruộng cho chàng rể sắm “lều chõng”, lộ phí thi Hương trường Nghệ, thi hội tận kinh đô Huế. Rồi thân phụ của Tất Thành làm quan Thừa biện Bộ lễ triều vua Thành Thái, làm quan huyện Bình Khê triều vua Duy Tân. Thế thì, Nguyễn Tất Thành là “cậu ấm”, con quan, đang dạy học tại trường Dục Thanh, Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, thầy giáo Thành đang “ngồi cùng chiếu nhà giáo” với các bậc thầy danh tiếng: Hồ Tá Bang, Trần Lê Chất, Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh, Nguyễn Hiệt Chi, Robert Hải, Ngô Văn Nhượng… Nguyễn Tất Thành đã hoàn thiện một nhân cách thanh niên trí thức yêu nước cháy bỏng tâm hồn trước thảm cảnh nước mất: Hai vua Hàm Nghi, Thành Thái bị đế quốc Pháp bắt đi đày biệt xứ, hàng trăm ông nghè, ông cử, ông tú yêu nước bất khuất bị giam chật nhà ngục Côn Lôn, cha làm quan huyện Bình Khê bị triều đình Huế triệu hồi về kinh đô hạ ngục ngày 19/5/1910… Nguyễn Tất Thành quyết dấn thân vào con đường “năm châu bốn bể” để tìm cho được cái phương cách mà trở về giúp dân, cứu nước…

– Thưa ngài, trong cuốn sách “Hồ Chí Minh L’Indochine au Vietnam”, ông Daniel Mémery công bố một tờ đơn của Nguyễn Tất Thành gửi Tổng thống nước Cộng hòa Pháp, xin được vào học trường Thuộc địa tại Paris, ngài có suy nghĩ gì về lá đơn xin được học trường Thuộc địa của Nguyễn Tất Thành?

– Cho tôi được hỏi ngài một chi tiết nhỏ.

– Xin mời ngài hỏi.

– Ngài có nhận xét gì về chữ viết, về trình độ tiếng Pháp của Nguyễn Tất Thành qua lá đơn bằng Pháp ngữ ấy?

– Chữ viết tuyệt đẹp, lời chuẩn, diễn đạt mạch lạc, rõ ràng. Chứng tỏ sự học của Nguyễn Tất Thành chuyên cần và tài hoa.

– Như ngài thấy ở lá đơn của Nguyễn Tất Thành viết tại: “Marseille le 15 Septembre 1911”. Dấu triện đỏ hình bầu dục đóng trên lá đơn ngày “20 – Septembre 1911”. Vậy là Nguyễn Tất Thành rời cảng Nhà Rồng ngày 5/6/1911 với tên gọi Văn Ba (không phải là anh Ba) nghĩa là vượt qua muôn trùng sóng cả để nghe và hiểu, mà biết… Lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành đến nước Pháp in bước chân ban đầu xuống thành phố Marseille. Từ thành phố này, Thành làm đơn xin học trường Thuộc địa với một chủ đích khác chứ không phải “đi du học”. Nếu Thành học với lý tưởng ra làm công chức, làm quan để có vợ đẹp, nhà lầu, xe hơi thì Nguyễn Tất Thành đã chịu làm “tờ thú” với khâm sứ Trung Kỳ lúc anh tham gia cuộc đấu tranh của nông dân Thừa Thiên – Huế 1908, sẽ được tiếp tục học và thi tốt nghiệp năm sau đó. Thành biết rất rõ mục đích của trường Thuộc địa Paris là đào tạo ra các ông quan cai trị cho các xứ thuộc địa, tiêu chuẩn hàng đầu phải là con quan từ Nhị phẩm trở lên và trung thành tuyệt đối với mẫu quốc Pháp mới được tuyển vào trường này. Thầy học của Thành là cụ Lê Văn Miến, một trong ba người Việt Nam đầu tiên sang Paris học trường Thuộc địa. Ông Hoàng Trọng Phu, ông Thân Trọng Huề học trường này trở về làm quan rất to, riêng cụ Lê Văn Miến, học xong lại xin học tiếp trường mỹ thuật Paris rồi về dạy học và vẽ tranh sơn dầu.

Nguyễn Tất Thành làm đơn xin vào học trường Thuộc địa là một “thông báo” về nước – Nguyễn Tất Thành con Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã có mặt tại nước Pháp “mẫu quốc của dân An Nam!”. Cho nên, bỏ vào thùng thư tại Marseille đơn xin học trường Thuộc địa Paris, Nguyễn Tất Thành xuống tàu đi tiếp đến Havre. Các bạn cùng chuyến với Thành tiếp tục phục vụ trên tàu quay trở về Đông Dương… Thành ở lại Havre ít lâu rồi xuống tàu viễn dương khác để “đi xem các nước” và anh đã xuyên qua các đại dương, ghé các bến bờ: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Algéria, Tunisie, Libye, các cửa biển Đông Phi, đến Cônggô, sang Anh quốc, sang Mỹ quốc, xuống Nam Mỹ, đến tận Granđe de Ile de terre de feu, xuyên sang Port Elizabeth xuống Sydney, Australia… Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành trở lại London và dừng chân tại đây một thời gian lâu. Qua bao năm tháng ấy, Nguyễn Tất Thành chẳng hề quan tâm đến cái đơn xin học trường Thuộc địa.

Ông J.E.Milner lại đặt tiếp một câu hỏi rất “kẹt” cho tôi:

– Chủ tịch Hồ Chí Minh được Tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hóa (UNESCO) của Liên hiệp quốc tôn vinh trong dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người: “Vị anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa kiệt xuất (…heros de la libération nationale et éminent homme de culture…), một biểu tượng kiệt xuất và quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội (…éminent symbole de I’affirmation nationnale, a consacre toute sa vie à la libération nationale de peuple Vietnamien, contribuant à la lutte commune des peuples pour la paix, I’indépendan nationale, la démocratie et le progrès social…). Tại sao trong bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại có một điều tôi cảm nhận như “trái ngược” với cái đức lớn của Người, đó là “…phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”… Chẳng lẽ Hồ Chí Minh quên đi gặp các vị anh hùng dân tộc tiền bối của mình?

– Tôi chân thành cảm tạ ngài đã cho tôi một lời thẩm luận rất có ý nghĩa và lý thú. Với sự lãnh hội của tôi về vấn đề này thì, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất nhuần nhuyễn học thuyết Đại Đồng trước khi tiếp nhận học thuyết Mác – Lênin. Người thấy trong học thuyết của các vị Các Mác, Lênin có những vấn đề phải được tiếp tục nghiên cứu… Mà lúc sinh thời Hồ Chí Minh không gặp được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, cho nên phải “đi gặp các cụ” ở thế giới bên kia. Còn các anh hùng dân tộc tiền bối, Hồ Chí Minh không thấy có điều gì phải “chất vấn” nữa…

Nhà báo, nghệ sĩ điện ảnh J.E.Milner nâng chén rượu.

– Vậy là… có những “ẩn tích Hồ Chí Minh”, phải đi tìm như Người đã từng đi vào mọi cuộc đời trên khắp hành tinh của chúng ta… Chúng ta chúc mừng Bác Hồ của bạn, và Bác Hồ của chúng ta – Người hằng sống.

Đặt chén xuống, ông nói giọng tha thiết:

– Tôi đã làm một bộ phim về Việt Nam và đã tặng Bộ Ngoại giao Việt Nam trong chuyến thăm Việt Nam lần này. Bộ phim Việt Nam của tôi ra không gặp thời điểm lịch sử, ít được hoan nghênh. Nhưng dòng chảy của lịch sử không bao giờ dừng lại… Cho nên, tôi sẽ tiếp tục làm một bộ phim về Hồ Chí Minh. Với tình đồng nghiệp, tôi xin bạn cho tôi được hỏi một lời về nghề nghiệp: Là nhà văn, bạn tiếp nhận điều gì sáng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh cho sáng tác của mình?

– Tôi luôn luôn nhớ lời của Người: “Chỉ có nhân dân mới nuôi dưỡng sáng tác của nhà văn bằng những nguồn nhựa sống. Còn nếu nhà văn quên điều đó nhân dân cũng sẽ quên anh ta“…

Con chim cu gáy tự do trên giá sách mở tiếng gáy trưa đồng nội… Mười một giờ. Gặp bữa cơm trưa của gia đình, theo tập tục của Việt Nam và nếp nhà, vợ tôi thành tâm mời vị khách quý từ “viễn quốc” tới cùng ăn bữa cơm đạm bạc với gia đình. Ông J.E.Milner cảm động và ngỡ ngàng giây lát:

– Thưa… bà! Tôi được một vinh hạnh bất ngờ! Đến Việt Nam nhiều lần, lần này tôi mới gặp sự ước mong được ăn một bữa cơm gia đình người Việt Nam. Tôi chân thành cảm tạ lòng hiếu khách của ông bà dành cho tôi. Nhưng tôi lại chưa được cái may mắn hưởng bữa cơm gia đình của một nhà văn Việt Nam. Bởi tôi đã có hẹn dự tiệc của một cơ quan mời 12 giờ hôm nay. Chúng ta còn có dịp tái ngộ, tôi sẽ được như thành ngữ Việt Nam “Cùng đồng bàn đồng bát” với ông bà… Vì tôi sẽ còn làm một bộ phim về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chúng tôi chia tay ông J.E.Milner trong tiếng vang cu gáy mênh mang thành phố vào xuân!

(Theo “Hoa râm bụt”, NXB Thanh niên năm 2010)

Hồ Chí Minh là một trí thức lớn hoạt động thực tiễn

GS Đỗ Huy

Nhân sơ kết 4 năm hưởng ứng Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, kỷ niệm 121 năm ngày sinh, 100 năm tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, VHNA đã có lời mời giáo sư Đỗ Huy (ViệnTriết học), người đã có nhiều năm nghiên cứu về Hồ Chí Minh làm khách tháng 4. Câu chuyện trao đổi tập trung về sự nghiệp và nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó với sự vận động của văn hoá nước nhà. Chúng tôi giới thiệu một số nội dung của cuộc trao đổi này.

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh bắt nguồn từ cái đúng, cái tốt

Thưa GS, là người có nhiều năm nghiên cứu về văn hoá và Hồ Chí Minh, vậy theo GS ở Hồ Chí Minh những phẩm chất văn hoá nào là nổi trội và tiêu biểu nhất?

Nếu văn hoá là trình độ Người của các quan hệ xã hội, thì nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh tiêu biểu cho một trình độ trí tuệ vô cùng mẫn cán và thông thái, một tầm nhìn rất xa, rất rộng, khoan dung và giàu năng lượng thực tiễn; một ý chí vô song biểu hiện thành những giá trị đạo đức vĩnh cửu và một tấm lòng yêu nước cháy bỏng, tinh thần tự hào dân tộc hoàn quyện với những giá trị văn minh tiến bộ của nhân loại. Theo tôi, phẩm chất văn hoá nổi trội và tiêu biểu nhất ở Hồ Chí Minh biểu hiện trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh. Đó là một nhân cách của vĩ nhân thấu hiểu thực tế hơn mọi người, nhìn xa hơn mọi người, nhận thức đúng hơn mọi người và có ý chí mạnh mẽ hơn mọi người, đặc biệt là hoà quyện và thấu hiểu cuộc sống của bản thân mình với nhiều tầng lớp, giới tính, thế hệ khác nhau trong dân tộc và nhân loại. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh đã kết tinh cái đúng, cái tốt và cái đẹp của dân tộc và loài người tiến bộ.

Văn hoá Hồ Chí Minh là một hệ thống thống nhất hài hoà các giá trị, chúng tôi nghĩ vậy. Theo GS thì hệ thống giá trị đó được kết tinh từ những nguồn gốc nào?  Và năng lượng, năng lực nào đã chọn lựa, thâu hoá và sắp xếp các giá trị từ các hệ thống khác nhau thành một hệ thống hoàn hảo, và hài hoà ở Hồ Chí Minh, thành văn hoá Hồ Chí Minh?

Hệ thống giá trị tạo nên nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh bắt nguồn từ cái đúng. Những phẩm chất văn hoá ở Hồ Chí Minh luôn luôn gắn liền với các quy luật vận động khách quan, là sản phẩm lịch sử của quá trình hoạt động thực tiễn của Người trong các phong trào lớn của thế kỷ XX. Cái đúng thể hiện trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh vừa gắn liền với các quy luật khách quan vừa gắn với tầm nhìn khoa học, với năng lượng trí tuệ, gắn lý luận với thực tiễn, gắn dân tộc với nhân loại, cá nhân với xã hội, gắn cái chung với cái riêng, gắn cái động với cái tĩnh…

Trong hệ thống giá trị tạo thành nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh thì cái tốt được thể hiện thành ý chí và tư tưởng đạo đức của Người. Và tư tưởng đạo đức ấy có nguồn gốc rất xa từ những giá trị đạo đức của dân tộc. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là hiện thân của tư tưởng hoà đồng, đoàn kết, yêu nước, thích ứng, tiết kiệm, giản dị của truyền thống dân tộc. Tuy nhiên, hệ thống giá trị tạo nên nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh về phương diện đạo đức và tư tưởng đã gắn với thế giới quan khoa học của cái đúng. Hồ Chí Minh đã nâng các giá trị đạo đức của truyền thống dân tộc lên một tầm cao mới. Ý chí đạo đức, tinh thần yêu nước ở Hồ Chí Minh gắn với những thành tựu khoa học và thế giới quan biện chứng của thế kỷ XX. Vì thế, những giá trị và tư tưởng đạo đức trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh đã vượt xa và cơ cấu lại những nội dung cơ bản của các giá trị đạo đức truyền thống.

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh còn thể hiện mạnh mẽ sức sống trong hệ thống giá trị của cái đẹp. Về phương diện thẩm mỹ đặc trưng ở khả năng sáng tạo tuyệt vời trong mọi hoạt động của Người đều hướng tới cái hài hoà, cái đẹp. Mỹ cảm và lý luận về giáo dục thẩm mỹ trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh luôn luôn đánh thức những khát vọng sâu thẳm của con người về một thế giới khoan dung và hoàn thiện. Chính hệ thống giá trị mỹ cảm này đã làm cho nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh không chỉ sáng tạo nên các tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ cao mà còn tạo nên những chuyển biến lý luận căn bản của văn hoá nghệ thuật cách mạng ở Việt Nam.

Hệ giá trị ấy là thành quả của phương pháp khoa học ở Hồ Chí Minh trong mọi hoạt động sống. Phương pháp ấy gắn cái riêng với cái chung, cái dân tộc với cái quốc tế, cái dân tộc với các tộc người, các cá nhân với cái xã hội, con người với tự nhiên. Hệ giá trị ấy đồng thời cũng là thành quả của ý chí đạo đức Hồ Chí Minh.

Xét về mặt hình thức thì văn hoá Hồ Chí Minh gần hơn với hệ thống văn hoá nào theo cách phân loại giai cấp tính (phong kiến, tư sản, vô sản…), hoặc là theo địa lý nhân văn (phương Đông hay phương Tây, Khổng giáo hay Ki tô giáo…)?

Nhiều người nghĩ rằng, hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn là hình thức văn hoá Nho giáo. Sự thật thì ngay từ năm 1927, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện hệ thống giá trị Nho giáo duy trì rất nhiều bất công, bất bình đẳng xã hội. Vì thế, trên phương diện hệ thống, hình thức văn hoá Nho giáo không thể phù hợp với nền văn hoá mới ở Việt Nam. Tuy hệ thống Nho giáo có những yếu tố nhập thế, hành đạo giúp đời, mang thế giới đại đồng và có kỹ năng giáo dục đạo đức tỉ mỉ, nhưng nó là hình thức văn hoá duy trì một trật tự xã hội bình yên, không bao giờ thay đổi. Hồ Chí Minh trong các tư tưởng về văn hoá của mình có sử dụng nhiều khái niệm thuộc hệ thống giá trị văn hoá Nho giáo, nhưng Người đã đưa vào đó những nội hàm rất mới. Những nội hàm này hoàn toàn không nằm trong hệ thống giá trị văn hoá Nho giáo mà nó là một bộ phận hợp thành của hệ thống giá trị văn hoá Việt Nam mới của thời đại Hồ Chí Minh.

Cũng như vậy, cụ Hồ nói cụ cố gắng làm một người học trò nhỏ của Giêsu nói riêng và của đạo đức phương Tây nói chung vì ở đó tán dương lòng bác ái, cổ vũ lòng từ thiện. Song hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn lại không thể là hình thức văn hoá Thiên chúa giáo hay của phương Tây bởi vì hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn để xây dựng nền văn hoá Việt Nam mới phải gắn liền với việc giải phóng những người nghèo khổ ra khỏi mọi sự tha hoá, trong đó có sự tha hoá, sự ban ơn về mặt tinh thần. Hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn là một hình thức văn hoá gắn với những năng lượng giải phóng, đổi mới, phát triển của đại đa số nhân dân. Phải hành động để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người lao động, người cùng khổ khỏi mọi tha hoá. Vì thế, hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn phải là thành quả của cuộc đấu tranh của tuyệt đại đa số nhân dân vì phẩm giá dân tộc và tự do của con người. Hình thức văn hoá ấy phải bắt nguồn từ truyền thống và những năng lượng tiềm ẩn của dân tộc.

Nhiều người cho rằng, học thuyết của Tôn Văn được Chủ tịch Hồ Chí Minh chú ý nhất để xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam. Đúng là chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ngưỡng mộ khi ông chủ trương liên Nga, liên công và phù trợ công nông và phê phán đạo đức học của Hán và Tống Nho. Sự gặp gỡ giữa tư tưởng của Tôn Trung Sơn và Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc. Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã nhận định: “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước” (Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.1, tr. 467). Tuy vậy, hình thức văn hoá mới ở Việt Nam mà Hồ Chí Minh lựa chọn không phải là hình thức văn hoá mà Tôn Văn đề xuất. Trước hết là chủ nghĩa dân tộc trong văn hoá Việt Nam không phải là chủ nghĩa dân tộc chật hẹp, một chủ nghĩa quốc gia. Trong văn hoá mới ở Việt Nam , Hồ Chí Minh đã lựa chọn một chủ nghĩa dân tộc gắn liền với tinh thần quốc tế, một hình thức văn hoá dân tộc khi thắng lợi nó sẽ gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế. Trong hình thức văn hoá này mọi sự sáng tạo, hưởng thụ đều là do nhân dân quyết định. Phạm trù nhân dân tạo nên bản sắc, sức sống và hình thức văn hoá mới do Hồ Chí Minh lựa chọn.

Trong hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh hướng đến xây dựng, người ta thấy rõ nhất là những giá trị tinh thần truyền thống. Đó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần khoan dung, ý chí tự lực tự cường, ý thức đoàn kết; song những giá trị truyền thống này đã được Hồ Chí Minh gắn với tinh thần của thời đại mới, những mục tiêu phát triển đất nước theo hướng chủ nghĩa xã hội.

Nghiên cứu tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh, ta có thể thấy, ngoài tính dân tộc, tính nhân loại phổ biến của các hình thức văn hoá, còn có hình thức giai cấp, hình thức dân tộc, hình thức tộc người, hình thức vùng, hình thức miền, hình thức nhóm, hình thức liên văn hoá văn hoá cá nhân… Văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn là gắn truyền thống với hiện đại, dân tộc với quốc tế, cá nhân với xã hội vì một chủ nghĩa nhân văn cao cả. Sự đa dạng văn hoá là cội nguồn của sự phát triển văn hoá.

Văn hoá Hồ Chí Minh có những giá trị nào có ý nghĩa toàn nhân loại?

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh đã cống hiến cho thời đại nhiều giá trị xuất sắc. Những kiệt tác của Người như Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường kách mệnh, Tuyên ngôn độc lập… không chỉ có ý nghĩa cho công cuộc giải phóng dân tộc ở Việt Nam mà nó còn cổ vũ phong trào giải phóng nhiều dân tộc trên thế giới. Hồ Chí Minh đã được tổ chức UNESCO tôn vinh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam.

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh vừa là một nhà hoạt động cách mạng quốc tế vừa là một anh hùng giải phóng dân tộc. Những hoạt động văn hoá, những sản phẩm văn hoá của Hồ Chí Minh đều hướng tới chống cái xấu, cái ác, bảo vệ, cổ vũ cái tốt, cái đẹp. Hoạt động của Hồ Chí Minh mang lại ấm no, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam và góp phần bảo vệ hoà bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Vì lý do đó, nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh sống mãi không chỉ trong lòng dân tộc Việt Nam mà còn mãi trong lòng nhân dân nhiều dân tộc trên thế giới.

Như tôi đã nói ở trên, tính bất tử, tính nhân loại của những giá trị văn hoá của nhân cách văn hoá theo Hồ Chí Minh không phải ở chỗ nhà văn hoá đó hoạt động văn hoá ở ngoài dân tộc mà tính nhân loại phổ biến của văn hoá nằm ngay trong tính dân tộc của văn hoá. Nhiều nhà văn hoá tầm cỡ trên thế giới được toàn thể nhân loại tôn vinh do họ hoạt động văn hoá vì cái đúng, cái tốt, cái đẹp của dân tộc mình. Trong thế giới này, mỗi dân tộc đều là một bộ phận của cộng đồng quốc tế. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh chống chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh mang lại độc lập tự do, quyền bình đẳng và công bằng cho nhân dân Việt Nam đều được nhân loại tôn vinh. Vì thế, nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh vừa có giá trị dân tộc vừa có giá trị nhân loại.

Hồ Chí Minh là một trí thức lớn hoạt động thực tiễn

Hồ Chí Minh là một trí thức lớn của dân tộc. Đề nghị GS phân tích vai trò của Hồ Chí Minh với dân tộc trong tư cách một trí thức lớn?

Vâng, đúng, tôi cũng đồng ý với cách tiếp cận và nhận thức của anh khi nhận định Hồ Chí Minh là một nhà trí thức lớn, mặc dù cho đến nay rất ít công trình nghiên cứu chuyên biệt về nhà trí thức lớn Hồ Chí Minh. Sở dĩ ở Việt Nam và cả nhà nghiên cứu nước ngoài chưa có những công trình tầm cỡ nghiên cứu chuyên biệt về nhà trí thức Hồ Chí Minh bởi vì những chuẩn mực về trí thức, nhà trí thức, nhà trí thức lớn ở mỗi dân tộc, mỗi thời đại, mỗi giai cấp có sự khác nhau.

Tôi nghĩ cụ Hồ là một trí thức lớn trên cả lĩnh vực khoa học và lĩnh vực nghệ thuật. Mỗi lĩnh vực Cụ đều có sản phẩm có chất lượng cao và có ý nghĩa xã hội to lớn. Kiệt tác Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường kách mệnh, Tuyên ngôn độc lập, Sửa đổi lối làm việc đều là những di sản tinh thần quý hiếm đặc trưng cho văn hoá Hồ Chí Minh, thời đại Hồ Chí Minh. Những bài thơ trong Ngục trung nhật ký, những bài thơ làm trong khi đi đánh trận, trên rừng Việt Bắc và hàng ngàn bài báo của Hồ Chí Minh chứa rất nhiều giá trị lịch sử, nghệ thuật mà nhiều đời sau còn phải nghiên cứu. Toàn tập Hồ Chí Minh, hàng vạn trang sách chứa đựng một trình độ tri thức uyên bác, chúng trở thành những cuốn sách kinh điển của cả dân tộc Việt Nam và loài người tiến bộ. Có nhà trí thức lớn nào ở Việt Nam đã có sản phẩm trí tuệ, sản phẩm văn hoá như thế!

Trong hoạt động thực tiễn truyền đạt tri thức, Hồ Chí Minh đã mở những lớp huấn luyện lý luận cách mạng cho những nhà hoạt động cách mạng, những nhà trí thứ lớn. Người đóng góp to lớn vào việc xây dựng hệ thống giáo dục nhân dân và những quan điểm giáo dục mới ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh là một nhà trí thức hoạt động thực tiễn. Người đã đào tạo rất nhiều nhà trí thức kiểu mới. Với đường lối công – nông – trí đoàn kết thành một khối, Người đã đưa nhiều nhà trí thức từ nghiên cứu sách vở xuống hoạt động thực tiễn và nhiều người lao động chân tay đến lớp học cũng như tự học trở thành những trí thức thực tiễn của dân tộc.

Tôi đồng ý với anh, Cụ Hồ là một nhà trí thức lớn của Việt Nam. Cái tôi chú ý nhất ở nhà trí thức Hồ Chí Minh là Người luôn tìm cách nâng cao dân trí và đặc biệt là đào tạo thật nhiều trí thức cho đất nước. Cách mạng vừa thành công Cụ đã mở một mặt trận to lớn chống giặc dốt. Cuộc chiến đấu chống ngoại xâm rất ác liệt, Cụ vẫn cho mở rất nhiều trường học để đào tạo trí thức cho cuộc kháng chiến. Cụ đã gửi rất nhiều thanh niên sang nước ngoài để học tập kiến thức về kiến thiết đất nước.

Có thể nói, vai trò của nhà trí thức Hồ Chí Minh là nâng cao trình độ tri thức cho dân tộc, rèn tạo đội ngũ trí thức kiểu mới, gắn trí thức với mọi hoạt động thực tiễn của dân tộc, nâng dân tộc Việt Nam lên một tầm cao trí tuệ mới của thời đại, đặt cơ sở cơ bản cho một xã hội học tập và chuẩn bị tích cực cho nền kinh tế trí thức.

Trong bối cảnh hiện nay, theo GS thì giới trí thức nước ta cần học tập và làm theo những phẩm chất nào nhất của Hồ Chí Minh?

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh hội tụ trí thông minh của một nhà minh triết, lòng dũng cảm phi thường của một anh hùng, ý chí mạnh mẽ của một nhà đạo đức, tài năng của nhà nghệ sĩ, sự mềm dẻo và khôn khéo của một nhà ngoại giao, sự kiên định của người cộng sản và lòng khoan dung vô bờ của một người mẹ hiền .

Anh hỏi chúng ta nên làm theo những phẩm chất nào ở Hồ Chí Minh? Câu trả lời không dễ, bởi vì tuỳ công việc của mỗi người, tuỳ trình độ của mỗi người, tuỳ hoàn cảnh của mỗi người, chúng ta coi tấm gương nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh là nguồn cổ vũ và giáo dục. Tôi nghĩ rằng, Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, có rất nhiều phẩm chất của một vĩ nhân mà ta muốn làm theo cũng rất khó, đấy là chưa nói đến không thể. Tôi nhớ đến hai sự việc. Một sự việc vào năm 1945, ngay khi cách mạng mới thành công, trong hàng ngũ cách mạng đã xuất hiện rất nhiều ông quan cách mạng. Nhiều người đọc bức thư của Cụ Hồ gửi cho uỷ ban nhân dân các làng, các xã, các huyện, các tỉnh, các kỳ và muốn làm theo để chống lại mấy ông quan cách mạng tham ô, hủ hoá, nhưng quan điểm giai cấp coi công nông là tốt đẹp, là trong sạch, những người trí thức không có phương tiện và phương thức gì để giúp đỡ cách mạng chống lại những “ông quan cách mạng” ấy. Vào những năm cuối của thập kỷ 60 của thế kỷ XX, trong Di chúc của Cụ Hồ có viết đến một cuộc chiến đấu khổng lồ dựa vào nhân dân để chống lại những hư hỏng của cán bộ đảng viên. Cụ nói, trước tiên là xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Công việc lớn như vậy vào những năm 60 của thế kỷ trước trong cơ chế quan liêu bao cấp, giới trí thức cũng bất lực không đóng góp gì được trước cái hư hỏng của xã hội. Trên quan điểm giai cấp ấu trĩ, có thời kỳ trí thức đã trở thành đối tượng cần cải tạo trước tiên.

Vậy trí thức của nước ta cần thể hiện vai trò của mình với dân tộc như thế nào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay?

Bây giờ, vào thời kỳ đổi mới, nhưng đổi mới lại đẻ ra rất nhiều quyền lực. Quyền lực chính trị, quyền lực của đồng tiền, quyền lực thế hệ. Trong xã hội, sự phân tầng rất nhanh, đơn giá cho nhiều sản phẩm của người lao động trí óc rất rẻ, địa vị xã hội của họ không được những chuẩn mực bảo hộ đúng đắn. Tôi đơn cử: một giáo sư, một viện sĩ sản xuất một cuốn sách từ 5 năm đến 10 năm, đưa đến nhà xuất bản, khi sách ra, họ được tiền nhuận bút 10% theo giá bìa và số lượng in. Cuốn sách nào cũng in với số lượng rất ít, tiền nhuận bút vô cùng ít ỏi. Các trí thức muốn phục vụ Tổ Quốc cũng khó.

Theo ý tôi, hiện nay trong xã hội Việt Nam có rất nhiều lĩnh vực vô chuẩn tạo ra tình trạng thiếu công bằng, quy luật giá trị của thị trường bị vi phạm nghiêm trọng. Chúng ta chuyển từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái cơ chế này tồn tại còn lâu dài nhưng hệ thống lý luận về nó, công cụ hành chính điều chỉnh nó đang có chỗ bất cập, chưa hoàn thiện. Tôi nghĩ, hãy tập trung giới trí thức có năng lực lý luận và thực tiễn xây dựng cho được một hệ thống lý luận phát triển đất nước theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đủ sức thuyết phục là một công việc lớn hiện nay.

Phản biện với mục đích xây dựng có phải là yêu nước, là có trách nhiệm với đất nước không?

Rõ ràng xã hội của chúng ta đang có rất nhiều vấn đề cần phải bàn, phải phản biện để làm rõ những cản trở, những mâu thuẫn, những vấn đề cần giải quyết để thúc đẩy xã hội tiến lên. Những vấn đề đó có liên quan trực tiếp đến vấn đề tôi vừa trình bày ở trên. Đó là xây dựng nội dung lý luận có tính thuyết phục về lộ trình phát triển cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với thực tiễn ở nước ta. Tích tụ ruộng đất cho sản xuất lớn trong nông nghiệp theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là thế nào? Vì sao đất đai nhà nước quản lý mà lại lộn xộn và khiếu kiện như vậy? Vì sao sự phân tầng xã hội ta lại nhanh và sâu đến như vậy? Những vấn đề ngân hàng, tài chính, môi trường, công nghiệp hoá, hiện đại hoá… phạm vi phản biện xã hội đến đâu? Phản biện xã hội có trách nhiệm rồi có thể thực hiện được không? Rất nhiều vấn đề lý luận, mục tiêu thì tốt đẹp nhưng thực hiện được trong thực tế là rất khó. Tôi nghĩ rằng cần thiết phải phản biện xã hội để thiết lập cho được một số hệ chuẩn cơ bản làm cho xã hội ổn định, sinh thành và phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong đó phải thiết lập được hệ thống hữu hiệu khắc phục rủi ro, đề phòng khủng hoảng, ngăn chặn cái dốt, cái xấu, cái ác.

Phản biện xã hội có trách nhiệm trong lúc này chính là thể hiện lòng yêu nước tích cực. Hãy phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc để những phản biện có ý nghĩa tích cực, đẩy xã hội tiến lên.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được phát động hơn 4 năm. Chúng tôi thấy sự hưởng ứng rất rộng rãi và sôi nổi. Với tư cách một chuyên gia nghiên cứu về Hồ Chí Minh, theo ông, cuộc vận động đã đem lại những hiệu quả xã hội như thế nào? Nó đã có những tác động đến đời sống của đất nước ra sao?

Điểm nổi bật trong tấm gương và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là các quan hệ đạo đức mới phải gắn với khoa học và pháp luật. Nên tập trung vào tiêu điểm những giá trị đạo đức dựa trên khoa học và pháp luật để học tập, giáo dục và làm theo. Khoa học, pháp luật sẽ giúp chúng ta hiểu đúng đắn và nên làm theo nhân cách phẩm chất đạo đức nào ở Hồ Chí Minh. Gắn việc học tập và làm theo tấm gương cũng như tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với những cơ sở khoa học và chuẩn mực pháp luật, người học tập và làm theo sẽ có ý thức tự chủ và tự giác rõ ràng hơn.

Cụ Hồ đã đi xa hơn 40 năm rồi. Các thế hệ cháu chắt của Cụ hôm nay vẫn thông cảm sâu sắc trước nỗi đau thống thiết của Cụ trước những sai phạm về đường lối cải tạo nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp ở Việt Nam trong tình hình thế giới có cuộc đối đầu khốc liệt. Cơ chế đạo đức do Cụ thiết lập trong thời kỳ quan liêu, bao cấp khi chuyển sang cơ chế thị trường, dù là cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đã biến đổi và biến dạng rất nhiều và rất mau chóng; Nó đã làm lỏng lẻo, lay chuyển, khoả lấp rất nhiều quan hệ đạo đức trong gia đình và ngoài xã hội. Sự phân tầng xã hội rất mau và rất sâu làm đảo lộn rất nhiều quan hệ đạo đức tốt đẹp do Cụ Hồ xây dựng trước đây. Nhiều người tốt, người lao động trung thực bị cái xấu, cái ác lừa đảo, tấn công trở thành bi kịch. Lối sống thực dụng đang gia tăng mạnh mẽ. Nhiều quan hệ xã hội hiện nay đang được bôi trơn bằng tiền bạc. Sự huênh hoang về những giá trị vật chất đang lấn át những giá trị tinh thần… Trước tình hình như vậy, cần phải học tập và làm theo những tư tưởng và tấm gương đạo đức tốt đẹp của Người trên cơ sở khoa học và pháp luật./.

Cơ chế đạo đức do Bác thiết lập trong thời kỳ quan liêu, bao cấp khi chuyển sang cơ chế thị trường, dù là cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đã biến đổi và biến dạng rất nhiều và rất mau chóng. Sự phân tầng xã hội rất mau và rất sâu làm đảo lộn rất nhiều quan hệ đạo đức tốt đẹp do Bác Hồ xây dựng trước đây. Nhiều người tốt, người lao động trung thực bị cái xấu, cái ác lừa đảo, tấn công trở thành bi kịch. Lối sống thực dụng đang gia tăng mạnh mẽ. Nhiều quan hệ xã hội hiện nay đang được bôi trơn bằng tiền bạc. Sự huênh hoang về những giá trị vật chất đang lấn át những giá trị tinh thần… Trước tình hình như vậy, cần phải học tập và làm theo những tư tưởng và tấm gương đạo đức tốt đẹp của Bác trên cơ sở khoa học và pháp luật. Tôi thấy việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong thời gian vừa qua dù ít hay nhiều đã khơi dậy được tính thiện trong cộng đồng, hướng mọi người đến những điều tốt đẹp và qua đó ngăn chặn được phần nào tình trạng suy thoái đạo đức xã hội, nhất là trong cán bộ, đảng viên.

Theo GS thì đời sống văn hoá nước nhà hiện nay đang có những vấn đề, những biểu hiện nào là đáng lo ngại, đáng chấn chỉnh, điều chỉnh nhất? Căn nguyên của tình trạng sa sút, bất cập đó là gì? Và chúng ta phải bắt đầu từ đâu để “căn chỉnh” lại nền văn hoá của chúng ta?

Nền văn hoá mà chúng ta đang xây dựng là một nền văn hoá của cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó cùng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo thành một chỉnh thể hữu cơ của thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Nó vừa là sản phẩm vừa là động lực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó phát triển và tồn tại suốt thời kỳ đổi mới trong thể chế kinh tế thị trường.

Kể từ năm Bính Dần (1986) đến nay nền văn hoá này đã trải qua 2 Giáp Dần, 5 kỳ đại hội Đảng. Mỗi kỳ đại hội Đảng nó lại được đổi mới cho sát với thực tiễn của nền kinh tế thị trường hơn. Tuy nhiên, thực tiễn hơn hai thập kỷ qua đã cho người ta nhận thấy rằng rất nhiều vấn đề về văn hoá cần phải quan tâm hơn nữa thì thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới trở thành một chỉnh thể phát triển nhịp nhàng. Các làn sóng xuất khẩu, đầu tư, tin học, các quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá diễn ra cấp tập đẩy nền văn hoá tiến tới hiện đại trong khi đó chưa có một cơ chế tổng thể đủ mạnh để gìn giữ những giá trị truyền thống. Rõ ràng, căn nguyên nhãn tiền là ta phát triển những giá trị hiện đại mà không có cơ chế đủ mạnh gìn giữ, phát huy những giá trị truyền thống. Ta phát triển thị trường tự do ào ạt mà sung lực của định hướng xã hội chủ nghĩa lại chưa đủ mạnh. Đó là chưa nói tới một vấn đề quan trọng là chúng ta giải quyết vấn đề lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân không nhất quán, thiếu cơ sở khoa học làm cho chủ nghĩa cá nhân phát triển rất mạnh trong nền văn hoá, sản sinh ra những lối sống thực dụng đề cao quá mức các giá trị vật chất, xem thường thậm chí không chú ý đến đạo đức, đến các giá trị tinh thần. Nền văn hoá tình nghĩa bị sa sút, nền văn hoá biết xấu hổ bị mai một. Các văn kiện của Đảng suốt 20 năm qua liên tục chỉ mặt, đặt tên cho những hiện tượng tham nhũng, sa sút lý tưởng… nhưng chúng vẫn còn đó!

Trong Di chúc, Bác đã chỉ rõ những hư hỏng trong xã hội và đề xuất một cuộc chiến đấu khổng lồ để chống lại những hư hỏng đó, để xây dựng những cái tốt đẹp trong nền văn hoá mới. Cuộc chiến đấu này phải dựa vào sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Theo Bác Hồ trong Di chúc, thì việc trước tiên là xây dựng và chỉnh đốn Đảng và việc đầu tiên là quan tâm đến các vấn đề con người. Con người đầu tiên Bác Hồ quan tâm đó là người cộng sản. Nếu người cộng sản mà đánh mất lý tưởng, sa sút về đạo đức thì không thể trở thành người lãnh đạo nền văn hoá mới mà sự thật, nhân dân cũng không cần những người như họ là người đầy tớ trung thành của mình.

Chúng ta thường hay nói tới một giải pháp để phát triển mạnh mẽ nền văn hoá là Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Nhưng mà Đảng muốn lãnh đạo tốt nền văn hoá mới thì phải nâng cao năng lực lãnh đạo, phải chỉnh đốn phương pháp làm việc. Cũng như vậy, nhà nước muốn quản lý tốt nền văn hoá mới thì các quan chức của nhà nước phải trong sạch và bộ máy phải tổ chức có hiệu lực. Còn nhân dân không thể làm chủ tốt được nếu trình độ dân trí thấp và thiếu hiểu biết về pháp luật.

Trong Di chúc, Bác Hồ đã chỉ ra rằng, để xã hội có một nền văn hoá tốt đẹp thì đầu tiên phải là vấn đề con người. Ngoài vấn đề người cộng sản ra, chúng ta phải quan tâm đến đất đai cho nông dân, tiền lương và chỗ ở cho công nhân, việc làm và định hướng giá trị cho thanh niên, giải phóng tiềm năng sáng tạo của phụ nữ, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công và người cao tuổi… Khi thực hiện tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá phải quan tâm quyết liệt đến tiến bộ và công bằng xã hội.

Rõ ràng là nguyên nhân căn bản của sự sa sút về văn hoá là do trình độ tổ chức xã hội của chúng ta yếu kém, hệ thống lý luận về phát triển xã hội theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ và nó chưa phản ánh được những vấn đề sâu xa của cuộc sống… Chúng ta chưa tổ chức và quản lý tốt nguồn lực con người, không quản lý tốt nguồn tài nguyên của đất nước, chưa hiểu hết và làm chủ được nguồn lực tài chính. Nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, nguồn tài chính là linh hồn của một nền văn hoá. Làm chủ được nhân lực, tài nguyên, tài chính chúng ta có thể điều chỉnh được hầu hết các quan hệ văn hoá; chúng ta có thể gìn giữ các di sản quý hiếm và hiện đại hoá nền văn hoá, chúng ta có thể khắc phục được những yếu kém và nuôi dưỡng những cái tốt đẹp.

Từ năm 1923 đã có người nói rằng, Hồ Chí Minh là đại diện của nền văn hoá của tương lai. Liệu bây giờ chúng ta có thể căn cứ vào những giá trị Hồ Chí Minh để sửa, và xây nền văn hoá của chúng ta?

Vâng, đúng là từ năm 1923, ông Menđenxtam – một nhà nghiên cứu văn hoá người Nga có tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc/ Hồ Chí Minh. Lúc đó, ông nhìn thấy trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh rất nhiều điểm mới lạ so với văn hoá phương Tây và ông cho rằng từ nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh toả ra một ánh sáng văn hoá của tương lai. Đó là một lời khen rất tuyệt vời về văn hoá giàu bản sắc Việt Nam. Thực tế lúc đó, Hồ Chí Minh là một nhân cách văn hoá Việt Nam hiện hữu chứ không phải là tương lai Việt Nam hay thế giới ngày mai mới xuất hiện những giá trị văn hoá ấy.

Từ năm 1923 cho đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh ngày càng được nhân dân Việt Nam, nhân dân thế giới yêu chuộng hơn. Thậm chí, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời được hơn 20 năm sau, năm 1990, tổ chức UNESCO còn tôn vinh Người là một nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh có một năng lượng kế thừa và toả sáng những nhân cách văn hoá lỗi lạc trong lịch sử dân tộc Việt Nam tạo thành cả một thời đại mang tên mình.

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có nhiều nhà văn hoá là sản phẩm và mang dấu ấn của mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Nhà văn hoá Nguyễn Trãi, nhà văn hoá Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà văn hoá Nguyễn Du đều là sản phẩm của thời đại mà các ông sống. Nhà văn hoá Hồ Chí Minh đánh dấu thời đại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người của Việt Nam trong thế kỷ XX. Những di sản văn hoá của Người hiện thân của những phẩm giá dân tộc, rất giàu sức sống, đang toả sáng ở những năm đầu của thế kỷ XXI này.

Tôi nghĩ, lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam sẽ xuất hiện những nhà văn hoá mới kế thừa những giá trị của nhà văn hoá Hồ Chí Minh khi họ hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ lịch sử mới của thời đại và dân tộc.

Nếu vậy thì, theo GS, chúng ta, nhà nước và mỗi người dân cần phải làm gì, đặc biệt là vai trò của giới trí thức trong công cuộc vĩ đại nhưng gian khó và phức tạp này?

Chúng ta đang sống trong một thế giới đa cực đầy biến động nhanh chóng. Việt Nam đang vươn lên để khoả lấp những mất mát của những năm dài chinh chiến, để sánh vai cùng với những cường quốc khác trên thế giới. Điểm bắt đầu vươn lên của chúng ta rất mệt nhọc và vô cùng khó khăn: ruộng đất manh mún, công nghiệp, nông nghiệp đều kém phát triển, cơ sở hạ tầng còn chắp vá. Một thập kỷ nữa chúng ta mới phấn đấu trở thành nước công nghiệp… Tôi nghĩ, hiện nay đất nước đang cần đến nhiều nhà trí thức để xây dựng nền kinh tế tri thức. Vấn đề chính như tôi đã trình bày là giải phóng tiềm năng của những nguồn lực. Làm thế nào để đào tạo và sử dụng tốt trí thức để xây dựng đất nước ta hiện nay không phải là dễ. Cơ sở vật chất để sáng tạo, điều kiện vật chất và tinh thần cùng với những quan hệ đồng sự trong lao động sáng tạo đều là những bài toán khó trong cơ chế thị trường đang từng ngày, từng ngày tạo ra sự phân tầng xã hội rất nguy hiểm.

Trong xã hội của chúng ta hiện nay, ngành sản xuất tinh thần còn chưa được chú ý thích đáng và đúng mức do đó nó ảnh hưởng rất nhiều đến việc phát huy các tiềm năng lao động của trí thức. Có lẽ người trí thức hiện nay đang chờ nhu cầu của thị trường để sáng tạo và chờ những chính sách đột phá khả thi để sẵn sàng lao động.

Dù trong tình hình khó khăn và phức tạp như thế nào, tôi vẫn tin tưởng lòng yêu nước tuyệt vời và sức chịu đựng phi thường của người trí thức Việt Nam. Họ luôn gìn giữ phẩm giá cá nhân và phẩm giá dân tộc.

Bản chất của sự phát triển văn hoá là phát triển tự do của con người. Cụ Hồ Chí Minh nói rằng: Không có gì quý hơn độc lập tự do. C.Mác và Ph.Ăngghen cũng nói: “Phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Người trí thức Việt Nam có văn hoá là những người rất yêu tự do. Họ hướng đến những giá trị tự do do Cụ Hồ, C.Mác và Ph.Ăngghen đề xuất để lao động, để sáng tạo, để phục vụ Tổ quốc, để phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam./.

Phan Thắng (Thực hiện)
Theo Văn hóa Nghệ An

tutuonghochiminh.vn