Thư viện

Lượng khách “về nguồn” tham quan Khu di tích Tân Trào tăng đột biến

Bà Hoàng Như Loan, Phó Giám đốc phụ trách Ban Quản lý Khu di tích lịch sử văn hóa và sinh thái quốc gia Tân Trào (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) cho biết, từ đầu tháng 8 đến nay, lượng khách “về nguồn” tham quan Khu di tích tăng đột biến. Trong tháng 8, Khu di tích đã đón 40.000 lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan, tăng 10.000 lượt người so với những tháng trước đó.

Khu di tích lịch sử Tân Trào có 17 di tích gồm lán Nà Lừa, cây đa Tân Trào, đình Tân Trào, đình Hồng Thái… Tháng 5/1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tuyên Quang để chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước. Người đã chọn xã Tân Trào (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) làm “Thủ đô Khu giải phóng”, căn cứ địa cách mạng của cả nước.

Những năm gần đây, để phát huy giá trị của Khu di tích, tỉnh Tuyên Quang đã quy hoạch tổng thể Khu di tích lịch sử, văn hóa và sinh thái quốc gia Tân Trào định hướng đến năm 2020; tổ chức tập huấn nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch cho 17 đại diện hộ gia đình trong xã; hỗ trợ đầu tư xây dựng bê tông hóa đường làng ngõ xóm; hỗ trợ xi măng làm nền nhà cho các hộ dân xung quanh khu di tích cây đa Tân Trào, đình Hồng Thái… đưa Khu di tích thành điểm du lịch thu hút du khách trong và ngoài nước, nơi giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.

Năm 2011, Khu di tích lịch sử văn hóa và sinh thái quốc gia Tân Trào phấn đấu đón 400.000 lượt khách đến tham quan, chiếm 67% lượng khách du lịch đến thăm tỉnh Tuyên Quang.

Vũ Quang Đán
baotintuc.vn

Đón nhận Bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào

Ngày 16/8, tại Quảng trường Tân Trào, huyện Sơn Dương, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2/9 và đón nhận Bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào.

Đồng chí Lê Hồng Anh và các đại biểu dâng hương tại đình Tân Trào. Ảnh: Trọng Đức – TTXVN

Về dự lễ kỷ niệm có các đồng chí: Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; Hà Thị Khiết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương; Huỳnh Ngọc Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội; đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành trung ương, lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và đông đảo nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang.

Đọc diễn văn tại lễ kỷ niệm, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang Chẩu Văn Lâm đã ôn lại lịch sử ra đời và phát triển của cách mạng Việt Nam.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, đồng chí Lê Hồng Anh khẳng định: Việc tỉnh Tuyên Quang tổ chức Lễ kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2/9 và đón nhận Bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào là dịp để chúng ta ôn lại truyền thống lịch sử hào hùng, vẻ vang rất đỗi tự hào của Đảng ta, nhân dân ta, của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Tuyên Quang; đồng thời để tiếp thêm niềm tin, quyết tâm kế thừa và phát huy truyền thống đó trong thời kỳ cách mạng mới. Di tích lịch sử Tân Trào được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt càng khẳng định truyền thống của quê hương cách mạng Tân Trào lịch sử – Thủ đô khu giải phóng – Thủ đô kháng chiến. Đồng chí Lê Hồng Anh thay mặt Bộ Chính trị, Trung ương Đảng chúc mừng và biểu dương những thành tựu đã đạt được của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang trong thời gian qua.

Đồng chí Lê Hồng Anh nhấn mạnh: Phát huy truyền thống quê hương cách mạng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Tuyên Quang cần tiếp tục đoàn kết, chủ động, sáng tạo khai thác triệt để tiềm năng, kết hợp tiềm lực nội sinh với tiềm lực bên ngoài để phát triển nhanh, bền vững, đưa Tuyên Quang trở thành một trong những tỉnh miền núi phát triển toàn diện, hòa nhập cùng với cả nước vững bước đi lên trên con đường đổi mới.

Cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, Đảng bộ tỉnh cần quán triệt đặc biệt đến công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; tăng cường phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nâng cao chất lượng việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu, trách nhiệm của từng đảng viên và các tổ chức đảng trong việc phục vụ nhân dân; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội.

Tỉnh cần có kế hoạch và biện pháp cụ thể, thiết thực phát triển kinh tế – xã hội đối với khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng; triển khai thực hiện ngay việc quy hoạch đề án lưu giữ và phát triển di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào và các di tích lịch sử cách mạng khác tại Tuyên Quang, góp phần tuyên truyền, quảng bá di sản vô giá mà các thế hệ cha anh truyền lại cho muôn đời con cháu mai sau…

Cũng tại buổi lễ, đồng chí Lê Hồng Anh đã thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước trao Bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào cho tỉnh Tuyên Quang.

Nhóm PV TTXVN tại Tuyên Quang
baotintuc.vn

Chuyện về 14 cô gái dân quân được Bác Hồ gửi thư khen ngợi

Gần 40 năm trước, Đông Ngàn là một trận địa ác liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nơi đây đã ghi dấu ấn lịch sử của 14 cô gái dân quân với chiến công bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Giờ đây, nó đang trở thành những cánh đồng màu mỡ.

Quên mình vì Tổ quốc

Chúng tôi tìm về trận địa Đông Ngàn, nơi ghi dấu chiến tích của 14 nữ dân quân Hoa Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa vào một ngày nắng tháng 4. Những nữ dân quân ngày ấy bây giờ đều đã ngoài 60 tuổi, thế nhưng khi nhắc lại những ngày tháng gian khổ mà hào hùng ấy, ánh mắt của các bà, các mẹ vẫn rực sáng. Cái hào khí diệt giặc, bảo vệ quê hương dường như vẫn còn sục sôi trong họ.

14 co dan quan 1
Hình ảnh 14 nữ dân quân Hoa Lộc năm xưa.

Trong những năm 1965 – 1967, đế quốc Mỹ có những hoạt động khiêu khích, phá hoại và chuẩn bị cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân chống phá miền Bắc ngày càng ác liệt. Mỗi ngày có hàng chục đoàn máy bay liên tục tấn công những con đường trọng yếu của ta. Chúng đánh phá nhà cửa, làng mạc, bắn phá căn cứ, kho thóc và một số tuyến đường vận chuyển huyết mạch của ta như phà Thắm, cầu De, đường 5 (nay là đường 10)…

Trước tình hình trên, được cấp trên cho phép, Trung đội “nữ dân quân Hoa Lộc” đã được thành lập vào ngày 1/6/1967. Cả Trung đội được giao 3 khẩu súng phòng không 12,7 ly để bảo vệ bầu trời, kho thóc và tuyến đường sông, đường biển quan trọng từ Bắc vào Nam. Cũng từ đó cái tên “trận địa Đông Ngàn” được người ta nhắc tới.

Toàn trung đội có 14 cô gái đang còn rất trẻ, hầu hết họ mới 18 đôi mươi, và còn đang ngồi trên ghế nhà trường. Thế nhưng theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, họ đã rời ghế nhà trường để tham gia trực chiến, bảo vệ quê hương, hậu phương.

14 co dan quan 2
Chị em dân quân đang rèn luyện kỹ năng bắn súng.

 14 co dan quan 3
Trung đội trưởng Hoàng Thị Mợi năm xưa.

Năm 1967, cô thôn nữ Hoàng Thị Mợi, vừa tròn 18 tuổi đã xung phong vào Trung đội dân quân trực chiến phòng không xã Hoa Lộc và được cử làm Trung đội trưởng. Đã gần 40 năm trôi qua, chị vẫn nhớ như in: “Ngày đó, máy bay dội không ngớt trên bầu trời miền Bắc, chúng kéo hàng đoàn ném bom, bắn rốc – két ầm ầm, sáng rực cả vùng trời. Chị em chúng tôi cứ phải chuyển căn cứ liên tục. Có những đêm trời mưa, ai nấy đều ướt nhẹp, bụng đói cồn cào, đường thì trơn thế mà cứ chân trần, đầu đội mũ cọ đi trong đêm dưới sức công kích của hàng chục máy bay giặc. Cho đến bây giờ, nghĩ lại không hiểu sao lúc đó mình khỏe thế, mình làm được những điều phi thường đến như vậy”.

Tìm về nhà bà Triệu Thị Tình, một trong 14 cô dân quân Hoa Lộc, bà Tình thổ lộ: “Những năm 1967 – 1968, cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ càng trở nên ác liệt. Mỹ điên cuồng dội bom suốt ngày đêm. Chúng càn quét, đánh phá khắp nơi. Vào sáng ngày mồng 2/11/1967, máy bay Mỹ càn quét, tôi bị thương vào đầu. Sau đó tôi được mọi người nhai lá cây dại đắp vào vết thương, cầm máu xong lại tiếp tục chiến đấu, cho đến tối mới có người ở trạm xá vào rửa vết thương và sơ cứu cho tôi, lúc ấy sao mình không biết sợ là gì”.

14 co dan quan 4
Không những trực chiến, chị em dân quân còn tham gia sản xuất
để tự cung tự cấp.

“Ngày đó khổ lắm, cơm không có mà ăn, toàn ăn rau dại. Để đảm bảo an toàn, trận địa pháo phòng không phải liên tục di chuyển, mà toàn phải di chuyển trong đêm. Thế mà chị em lúc đó khỏe lắm, không biết mệt là gì”, bà Tình vừa nhai trầu bỏm bẻm vừa cười, nụ cười rạng ngời vô tư như hồi còn là “O du kích”.

Những “O du kích nhỏ” bắn 3 máy bay hiện đại của đế quốc Mỹ

Sau 10 ngày bắn phát súng ra quân đầu tiên của đội nữ dân quân Hoa Lộc, một máy bay Mỹ đã bị bắn rơi và bốc cháy lao xuống biển. Kể về chiến công lừng lẫy của đội mình, chị Mợi hướng đôi mắt nhìn xa xăm, kỷ niệm chiến đấu năm xưa cùng đồng đội như những thước phim quay chậm bỗng ùa về: “Hơn 40 năm trôi qua, thời gian dài bằng nửa đời người, thế nhưng những gì chúng tôi đã làm trong những năm tháng ấy không bao giờ phai mờ trong ký ức của chị em. Hôm đó là ngày 16/6/1967, vào khoảng 3 giờ chiều, không quân Mỹ lợi dụng ánh nắng mặt trời, 2 tốp máy bay gồm 4 chiếc A4D bay từ Lạch Sung (huyện Nga Sơn) lên thả 6 quả bom xuống phà Thắm, khi chúng chuẩn bị lao lên khu vực cầu De, chưa kịp ném bom thì 21 viên đạn từ 3 khẩu súng phòng không 12,7 ly đồng loạt nổ súng.

14 co dan quan 5
Trận địa Đông Ngàn, ngày ấy – bây giờ.

Một trong 4 chiếc máy bay bốc khói nghi ngút, thấy vậy cả tốp máy bay quay đầu tháo chạy ra biển. Lúc đó chị em cũng không chắc rằng mình đã bắn rơi máy bay, mãi đến tối khi đài tiếng nói Việt Nam phát lên, rồi thông tin từ đài quan sát của ta ở đảo Nẹ báo về, chúng tôi mới tin mình đã làm được điều phi thường. Chị em cứ thế mà ôm nhau mừng đến rơi nước mắt”.

Kể đến đây, giọng bà như chùng xuống, ký ức ngày xưa cứ thi nhau ùa về khiến cho đôi mắt của bà đỏ hoe. Lặng lẽ lau những giọt nước mắt, bà Mợi kể tiếp: “Bắn rơi được chiếc đầu tiên, được Bác Hồ gửi thư khen ngợi, chị em lại càng quyết tâm chiến đấu hơn. Sau lần bắn rơi chiếc đầu tiên, chúng tôi được cấp 3 khẩu súng phòng không 14 ly 5 để thay thế 3 khẩu súng cũ.

Ngày 2/11/1967, địch ném bom khu vực cầu De, Trung đội đã hạ gục một chiếc F4. Sau lần hạ chiếc máy bay thứ hai, địch bắt đầu giảm tấn công. Thời gian này chị em vừa trực chiến vừa tham gia sản xuất, nuôi lợn, trồng lúa để tự cung tự cấp.

14 co dan quan61
14 nữ dân quân Hoa Lộc chụp ảnh lưu niệm với các nhà báo nước ngoài sau khi bắn rơi chiếc máy bay Mỹ đầu tiên (Ảnh: Nhân vật cung cấp).

14 co dan quan 7
Hai nữ dân quân Triệu Thị Tình (trái) và Bùi Thị Bản đang kể lại kỷ niệm những năm chiến đấu với PV.

Đến khoảng tháng 4 năm 1972, Mỹ lại điên cuồng cho máy bay bắn phá miền Bắc, chính thức tuyên bố cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ 2. Trong thời gian này cả miền Bắc phải gồng mình hứng chịu những trận mưa bom của máy bay Mỹ, tất cả miền Bắc được đặt trong tình trạng chiến tranh. Trước tình hình đó, được lệnh cấp trên, đội dân quân đã chuyển từ dã chiến sang trực chiến và sẵn sáng chiến đấu.

Cho đến ngày 30/7/1972, bất ngờ quân địch ồ ạt tấn công, máy bay B52 ầm ầm kéo đến vần vũ cả bầu trời. Nhận được lệnh, chị em lại vào vị trí tiếp tục chiến đấu. 4 giờ chiều cùng ngày, chị em đã góp phần bắn rơi một chiếc B52 của Mỹ”, bà Mợi bồi hồi nhớ lại.

14 co dan quan 8
Trung đội trưởng Hoàng Thị Mợi bùi ngùi khi nói về những kỉ niệm

Với thành tích to lớn đó, trung đội dân quân Hoa Lộc ngoài vinh dự và tự hào được Bác Hồ gửi thư khen ngợi và tặng mỗi người một huy hiệu, còn được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng 3, được báo chí trong và ngoài nước biết đến. Với những loại vũ khí thô sơ nhưng thật bất ngờ các chị có thể bắn rơi được những chiếc máy bay tối tân nhất của quân đội Mỹ vào thời điểm bấy giờ.

Gần 40 năm đã qua đi, mảnh đất từng là “túi bom” khổng lồ của đế quốc Mỹ giờ đây đã đổi thay rất nhiều, những vết tích của chiến tranh đã được hàn gắn bằng những cánh đồng màu mỡ, những ngôi nhà ngói mới đỏ tươi, những con đường bê tông khang trang sạch đẹp. Có lẽ càng không thể quên đi những gì mà trung đội nữ dân quân Hoa Lộc năm xưa đã làm.

Nguyễn Thùy – Duy Tuyên
Theo dantri.com.vn
Thu Hiền (st)

Một góc nhìn về văn hóa Hồ Chí Minh

“Đã có nhiều đoàn làm phim với nhiều góc độ tiếp cận về Bác, nên sau khi khảo sát, chúng tôi quyết định chọn cách tiếp cận mới, là một góc nhìn văn hóa về Hồ Chí Minh. Thực tế, nét văn hóa ở Bác chính là điều các nhân chứng đặc biệt ấn tượng”, NSƯT đạo diễn Trần Cẩm, tác giả kịch bản và đạo diễn phim “Hồ Chí Minh với nước Nga”.

Kỷ niệm 122 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) đang phát sóng bộ phim “Hồ Chí Minh với nước Nga”. Đây là bộ phim tài liệu lịch sử nhiều tập đầu tiên về Bác được VTV đầu tư, thực hiện tại nước ngoài trong thời gian ngắn nhất. Với những câu chuyện được bố cục có hệ thống, phim đã mang đến những hình ảnh chân thực, xúc động về tình cảm của Bác với nhân dân Nga, sự thủy chung, sâu nặng của nhân dân Nga với Bác, với nhân dân Việt Nam. Nhân dịp này, chúng tôi đã gặp gỡ NSƯT, đạo diễn Trần Cẩm, tác giả kịch bản và đạo diễn phim.

PV: Là một trong các “chuyên gia” phim tài liệu về Hồ Chủ tịch với gần 20 bộ phim và từng đoạt Cánh diều vàng ở thể loại này, vì sao đến nay, ông mới quyết định làm phim về Bác ở Nga?

NSƯT Trần Cẩm: Trong 30 năm Bác bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã đi nhiều nước, nhưng có tới 6 năm Người học tập và làm việc ở Liên Xô. Người đã tìm thấy ở nước Nga những kinh nghiệm quý báu để giành độc lập tự do cho dân tộc và cả nền văn hóa tương lai. Vì thế, có nhiều sự kiện, nhân chứng quan trọng ở Nga. Nhưng đến giờ VTV mới có điều kiện làm phim, bởi chi phí rất lớn, do phải đi nhiều nơi, vì sinh thời, Bác từng có mặt ở hầu khắp nước Nga. Các nhân chứng ngày ấy đều đã cao tuổi, nhiều người không còn nữa, nếu chúng tôi không chạy đua với thời gian, sẽ không kịp gặp ai nữa. Việt Nam xác định Nga là đối tác chiến lược đặc biệt, là nước đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều trong chiến tranh, cho đến hôm nay, như lời Tổng thống Putin: “2 nước có mối quan hệ đặc biệt mà trách nhiệm của chúng ta phải gìn giữ quan hệ tốt đẹp đó”.

PV: Cách ông xác định tiêu chí và lựa chọn các địa danh ở Nga có liên quan đến Bác?

NSƯT Trần Cẩm: Nguồn thông tin quan trọng là hồi ký của ông Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ và Bảo tàng Hồ Chí Minh. Chúng tôi cũng thông qua đại diện của VTV tại Nga để tìm lại những người từng gặp Bác. Chúng tôi đã gặp gỡ hơn 60 nhân chứng người Nga và hơn 10 người Việt ở 9 thành phố và 2 nước cộng hòa, với những câu chuyện tiêu biểu, ấn tượng sâu đậm, để có chất liệu cho bộ phim mang ý nghĩa lịch sử này.

PV: Ông có thể nói rõ hơn về điều này?

NSƯT Trần Cẩm: Bộ phim là 8 câu chuyện kể độc lập, nhưng xâu chuỗi hợp lý, giúp người xem dõi theo hành trình của Bác: St Peterburg là một điểm nhấn, vì là nơi lần đầu tiên Người đặt chân đến nước Nga vào ngày 30/6/1923 từ cầu tàu số 7. Hay tượng đài Bác Hồ với thông điệp “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” ở thủ đô nước Nga được xây dựng những năm 90 và gìn giữ đến nay, trong bối cảnh tượng đài Lênin, Các Mác bị tháo dỡ, cho thấy nhân cách của Người đã tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ với các tầng lớp nhân dân Nga.

Chúng tôi gặp gỡ nhà báo Cô-bê-lep, tác giả “Đồng chí Hồ Chí Minh” đã 3 lần tái bản, với lượng phát hành 200.000 bản, vượt xa nhiều cuốn tiểu thuyết ăn khách. Tầm tư tưởng của Người: muốn xây dựng đất nước phải đào tạo con người, được thể hiện qua câu chuyện 100 thanh niên và 100 thiếu niên đầu tiên được người cử sang Nga học từ năm 1954. Thực tế, nhiều lưu học sinh ở Nga về sau đã trở thành lãnh đạo cao cấp, nhà khoa học xuất sắc và cán bộ chủ chốt trong mọi ngành của đất nước v.v…

Bác Hồ với người dân Nga.

PV: Có câu chuyện nào liên quan đến Bác lần đầu được hé lộ trong phim?

NSƯT Trần Cẩm: Có chứ! Chúng tôi được tiếp cận với nhiều tài liệu của KGB từng được coi là tuyệt mật như “Hồi ức cựu binh”, “Những điều bí mật về chiến tranh Việt Nam” v.v… để hiểu thêm nhiều điều về tình cảm sâu nặng của Bác với những người bạn Nga, cũng như của các bạn Nga với Bác, với nhân dân Việt Nam.

PV: Đã rất nhiều người làm phim về Bác. Đây là thách thức cho những người đi sau. Ông có sự mới lạ trong tiếp cận hình tượng Bác để hấp dẫn người xem?

NSƯT Trần Cẩm: Đã có nhiều đoàn làm phim với nhiều góc độ tiếp cận về Bác, nên sau khi khảo sát, chúng tôi quyết định chọn cách tiếp cận mới, là một góc nhìn văn hóa về Hồ Chí Minh. Thực tế, nét văn hóa ở Bác chính là điều các nhân chứng đặc biệt ấn tượng. GS. Titarenco, Viện trưởng Viện Viễn Đông, chia sẻ: “Trên ngực con người đó không có tấm huân chương nào, nhưng vẫn đóng góp hết mình cho Tổ quốc và điều đó khiến chúng tôi phải suy nghĩ”. Có nhiều người Nga chưa gặp Bác, nhưng sau khi thăm nhà sàn, ao cá Bác Hồ, đã nhận ra sự khác biệt của vị lãnh tụ Việt Nam với các lãnh tụ mà họ biết. Thiếu tướng Anatoly Gozdeev, cựu quân nhân Nga tham gia bảo vệ bầu trời miền Bắc Việt Nam 1965-1972 nhớ lại: Giữa bom đạn dày đặc, Người vẫn đến thăm các chuyên gia quân sự Nga đang ở Việt Nam. Điều đó, truyền đến chúng tôi sự dũng cảm và niềm lạc quan chiến thắng.

PV: Những ngày làm phim về Bác ở nước Nga, ông cảm nhận thế nào về tình cảm của người dân Nga với Bác Hồ và với Việt Nam?

NSƯT Trần Cẩm: Chúng tôi đã gặp gỡ nhiều người, ở nhiều lứa tuổi khác nhau và khi biết làm phim về Bác, họ đều nhiệt tình giúp đỡ, tận tình dẫn đường đến những nơi Bác Hồ đã tới và sinh sống. Nhiều người ở xa hàng trăm cây số cũng trở về để trả lời phỏng vấn. Có người đã cao tuổi, sức yếu, vẫn đồng ý lên hình. Đó là tình cảm sâu nặng của họ với Bác Hồ, với Việt Nam và là điều phim ảnh không thể nói hết được. Với bộ phim này, chúng tôi muốn gửi đến người xem cái nhìn đầy đủ về quãng thời gian Bác sống, làm việc ở Nga; đồng thời, là sự tri ân tình cảm thủy chung hiếm có Việt – Nga mà nhân dân Nga dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Nam.

PV: Xin cảm ơn ông!

Thanh Hằng (thực hiện)
cand.com.vn

Hồ Chí Minh, dân tộc và nhân loại

Thường kính cẩn nghe HÒA THƯỢNG THÍCH CHƠN THIỆN – ĐBQH, PHÓ CHỦ TỊCH THƯỜNG TRỰC GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM, TIẾN SĨ KHOA HỌC – nói về vô ngã, trong nhiều lần chuyện trò, sự uyên bác của Hòa Thượng không dừng lại ở hai cái tên Đức Phật và Hồ Chí Minh, nhưng đó là hai cái tên được nhắc đến nhiều nhất… Chúng tôi tự sự:

– Thưa Hòa Thượng, lần này chúng ta đề cập tới một vấn đề khó, không phải để nhìn lại, không phải làm sáng tỏ hơn mà tự sự về cái chúng ta thường có – Hồ Chí Minh tồn tại trong mỗi con người Việt Nam yêu nước, trong sự nghiệp của chúng ta, trong đời thường và cả trong đức tin Phật giáo… thưa Hòa Thượng, có thể nêu nhận xét ngắn gọn nhất về Người?– Đề cập đến Hồ Chí Minh là một vấn đề rất khó, đúng như nhận định: “…chúng ta đề cập đến vấn đề khó, không phải để nhìn lại, không phải làm sáng tỏ hơn mà tự sự về cái chúng ta thường có…”. Ở đây, tôi đề cập đến Người chỉ vì lòng ngưỡng mộ, dù nhận thức và ngôn ngữ của mình có hạn chế đến mức nào đi chăng nữa.

Nhận xét ngắn gọn nhất về Người thì thông thường nhiều người nói: “Người là nhà yêu nước vỹ đại”, “Người là một nhà lãnh đạo thiên tài”, hay là “Người là một nhà văn hóa tỏa sáng”.v.v… Phát biểu ngắn gọn thế nào về Người tôi cũng cảm thấy có cái gì thiêu thiếu, có một cái gì bị đánh mất, hoặc giả có cái gì trống trải làm sao ấy! Một lần, trên báo Đại Biểu Nhân Dân, tôi đã viết:

– Năm 1926, năm Người 36 tuổi, đã vạch ra 12 điều của một mẫu mực cách mạng, trong đó điểm thứ nhất và thứ hai nói rằng:

Tượng đức phật ở Bồ Đề đạo Tràng, mặt quay về hướng đông đúng tư thế khi người giác ngộ

Ảnh: Thăng Long

Điểm 1: Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại.

Điểm 2: Hy sinh tiền bạc, thời gian và cả máu vì lợi ích các dân tộc bị áp bức; tóm lại phải vị tha và không ích kỷ, phải tuân thủ theo phương châm Tổ quốc trên hết ở mọi nơi và mọi lúc.

– Năm 36 tuổi, Người đã đầy lòng vong ngã, vị tha, đầy lòng cứu dân, cứu nước, cứu nhân loại, tâm thức không còn chỗ đứng cho các ý niệm về “tôi”, “của tôi”. Tâm thức ấy là đất hứa của nghìn sáng tạo chấp nối thành các thành quả của cách mạng Việt Nam cận đại và hiện đại…

Nay thì tôi nói thêm: Người là một trí tuệ lớn, một nguồn tâm lớn, cần nhìn rõ Người qua nhiều khía cạnh: quốc gia và quốc tế; văn hóa và giáo dục; chính trị và xã hội, mới có thể có phát biểu có giá trị gần gũi với Người. Để khách quan hơn, tôi xin trích dẫn thêm một vài đoạn ngắn trong phần kết của tập Hồ Chí Minh (New York, 2001), do William Duiker biên soạn (suốt hơn 40 năm về Người) rất giá trị:

“…không thể phủ nhận rằng sự nghiệp mà ông Hồ Chí Minh đã thúc đẩy và chỉ đạo đã tạo ra một thời điểm quan trọng trong thế kỷ XX, thể hiện đỉnh cao của thời đại Giải phóng Dân tộc ở thế giới thứ 3 và lần đầu tiên người ta công nhận rõ ràng những giới hạn của chính sách Hoa Kỳ về kiềm chế chủ nghĩa Cộng sản. Sau Việt Nam, thế giới sẽ không bao giờ như cũ nữa”.“Ông Hồ Chí Minh không những là người sáng lập ra Đảng của mình và sau đó là Chủ tịch nước mình mà Ông còn là nhà chiến lược chủ yếu và biểu tượng gây truyền cảm nhất của Việt Nam. Một nhà tổ chức có tài và một nhà chiến lược khôn ngoan và một lãnh tụ có sức lôi cuốn quần chúng, ông Hồ Chí Minh là một nửa Lê Nin và một nửa Gandhi, và là một sự phối hợp đầy năng động”.

“Như vậy, như câu nói đáng ghi nhớ của một triết gia Hoa Kỳ, Sidney Hook, ông Hồ Chí Minh là “Người tạo ra thời thế”, một “người con của khủng hoảng” đã kết hợp trong con người của mình hai trong số các sức mạnh trung tâm của lịch sử Việt Nam hiện đại: mong muốn độc lập dân tộc và tìm kiếm công bằng xã hội và kinh tế… Bất kể có sự phán xét như thế nào đối với di sản của ông, ông đã có chỗ trong Lăng các nhà anh hùng cách mạng đã đấu tranh mạnh mẽ để những người cùng khổ trên thế giới có thể nói lên tiếng nói đích thực của mình”.

Cá nhân tôi, tôi chỉ biết nghiêng mình trước trí tuệ, tấm lòng vời vợi, nghị lực phi thường chiến đấu thắng mọi gian khó của Người. Người sẽ vĩ đại hơn thế, nếu đất nước Việt Nam lớn hơn ba mươi lần hiện tại! Vĩ đại và đầy kính mến!…

– Tôi nhớ, và Hòa Thượng cũng thường nhắc một nhận định của W. Duiker trong tác phẩm Hồ Chí Minh (New York, 2001), là vào năm 1924 Nguyễn Ái Quốc nhận xét: phải bổ sung vào chủ nghĩa Marx chủ nghĩa yêu nước để chủ nghĩa Marx không chỉ đúng ở châu âu mà còn đúng ở phương Đông nữa. Có thể vin vào điều này mà nhiều học giả phương Tây cho rằng, Hồ Chí Minh là dân tộc chủ nghĩa. Hòa Thượng có thể cho biết ý kiến riêng của mình được không?

– Đúng như W. Duiker đã viết trong tác phẩm Hồ Chí Minh (New York, 2001): Hồ Chủ tịch đã bổ sung vào chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa yêu nước, và đối tượng mà quốc tế vô sản đấu tranh không chỉ giải phóng giai cấp công nhân mà còn giải phóng giai cấp nông dân ở Á, Phi nữa. Và đúng như nhận định của Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, trong Hồ Chí Minh toàn tập: (Tập II, chương XI) đã viết:

“Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là một đóng góp của cách mạng Việt Nam vào kho tàng của chủ nghĩa Marx – Lê nin, vào lý luận cách mạng xã hội trong thời đại hiện nay”.

W. Duiker, trong chương “Tập làm cách mạng”, đã viết về Hồ Chí Minh – bấy giờ là Nguyễn Ái Quốc – theo lập luận của tác phẩm Hồ Chí Minh (New York, 2001) với các đoạn:

“…Nông dân bị áp bức nặng nề và nếu được tổ chức, họ có một tiềm năng cách mạng lớn. Nhưng nguồn hoạt động chính trị chủ yếu là các trí thức và nho sĩ yêu nước. Theo Anh (Nguyễn Ái Quốc), chính họ là những người đã gây ra tất cả các cuộc nổi dậy trong quá khứ. Vì vậy, điều cần thiết trước mắt là phải xây dựng hành động chung giữa các nhà yêu nước “cách mạng dân tộc” đó và một đảng Cộng Sản…”.

“…Anh Quốc khẳng định rằng Commitern chỉ có thể trở thành một Quốc tế Cộng sản thực sự khi nó bao gồm cả các đại diện nông dân châu Á trên tư cách là những người tham gia tích cực.

Vào cuối hội nghị, những người tổ chức đã nhất trí lập một Quốc tế Nông dân mới, gọi là Krestintern… phối hợp thực hiện khẩu hiệu xây dựng một chính quyền Công –  Nông…”.

“…Vai trò của giai cấp nông dân cũng rất ít được quan tâm. Sau một sự khởi đầu mạnh mẽ, Krestintern đã bị thất sủng và không còn được coi trọng bởi các phần tử quan liêu và viên chức Mátxcơva có tư tưởng thiên về giai cấp Công nhân… Nguyễn Ái Quốc đã cố gắng duy trì sức sống cho vấn đề này, và đã phát biểu về vấn đề nông dân tại một cuộc họp của Krestintern vào tháng 6.1924, nhưng ít được hưởng ứng. Khi nói chuyện với một người bạn, anh Quốc đã cười và đã tự ví mình là tiếng than trong bãi sa mạc”.

Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa Marx không chỉ đúng ở châu Âu mà còn phải đúng ở phương Đông nữa

Về sau Hồ Chủ tịch phải trải qua một thời gian chịu “vất vả, lận đận” vì bị nhiều lãnh tụ quốc tế nghi ngờ Người theo chủ nghĩa dân tộc mà không hẳn là chủ nghĩa vô sản…Ngày nay, thật tỉnh táo chúng ta thấy rằng ý kiến đề đạt của Nguyễn Ái Quốc đến Commitern là rất là trí tuệ và rất là Cộng sản Quốc tế bởi các lý do:

Quốc tế vô sản sẽ được mở rộng qua Á, Phi – nơi có nhiều dân tộc bị trị – với thành phần quần chúng đông đảo chiếm hơn 80% dân số các nước là nông dân làm hậu thuẫn sẽ tạo nên một sức mạnh vô song cho Quốc tế vô sản, sẽ dễ dàng chiến thắng Tư bản.

Nếu với lực lượng đông đảo nông dân ấy bất hợp tác (và cả chống đối) với các nước tư bản, không làm giàu cho Tư bản thì Tư bản sẽ yếu đi nhiều; cách mạng sẽ cắt đứt đi cái vòi “bạch tuộc” của Tư bản, sẽ dễ dàng đánh bại Tư bản.

Giải phóng cả giai cấp nông dân bị trị thì mới đúng với ý nghĩa giải phóng các giai cấp bị Tư bản thống trị. Bấy giờ chính nghĩa của Quốc tế Cộng sản càng tỏa sáng lòng nhân ái, tỏa sáng ý nghĩa chống bất công áp bức.

Thế giới là một sự tương quan bất khả phân ly giữa cá thể và tập thể, giữa quốc gia và quốc tế, vì thế sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế là vô cùng thuận tình, thuận lý, và thuận cả sách lược.

Đối với thanh niên Nguyễn Ái Quốc, sự kết hợp trên là sự kết hợp đẹp đẽ giữa sứ mệnh giải phóng đất nước và sứ mệnh giải phóng các giai cấp bị trị của Quốc tế Cộng sản.

Thật đáng tiếc là Quốc tế Cộng sản đã giác hiểu sáng kiến đề đạt của thanh niên Nguyễn Ái Quốc khá muộn, quá muộn, một sáng kiến độc chiếu lúc bấy giờ!

– Một triết gia vĩ đại, hay một nhà thực hành vĩ đại thì ngay trong cái nhỏ bé của thường ngày cũng vẫn có tầm vóc nhân loại. Hơn nữa, vấn đề yêu nước là phạm trù lớn, thưa Hòa Thượng?

– Thế giới có một mối liên hệ chằng chịt giữa các hiện hữu. Va chạm đến vấn đề cá nhân thì liền va chạm đến cộng đồng – cộng đồng địa phương, dân tộc và nhân loại –, va chạm đến thiên nhiên, xã hội. Vì vậy tư tưởng của các triết gia, chưa nói đến triết gia vĩ đại, các nhà hành động lớn thường đi vào phổ quát của vấn đề nhân sinh, nhân loại từ một vấn đề cá nhân bình thường. Với các nhà thơ, nhà văn cũng thế: cảm xúc luôn đi vào phổ quát. Nói đến thân phận Thúy Kiều, Nguyễn Du đi vào thân phận của kiếp người:

“Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau…”

Khó mà tách cá thể ra khỏi cộng đồng, khó mà tách vấn đề yêu nước khỏi vấn đề yêu nhân loại. Cũng vậy, khó mà tách rời vấn đề công – nông của nước nhà và thế giới. Hồ Chí Minh lên đường cứu nước, thoạt đầu là vì dân tộc, nhưng khi đụng chạm với quốc tế thì liền nối kết ngay với vấn đề công – nông thế giới. Theo tài liệu của CRN (http://www.cercledereflexion), “Thanh niên Nguyễn Tất Thành đến Paris liên hệ với tổ chức kín “Tam Điểm” năm 1919 và gia nhập đại đường Benjamin Franklin tại Thụy Sĩ” (đây là một tổ chức nhân bản và khát vọng chân lý chống lại với mọi chủ trương xâm lược, bóc lột, đàn áp). Sau đó, năm 1926, Người đã viết một trong mười hai điều mẫu mực cách mạng rằng: “Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại”. Nếu từ chủ trương bổ sung chủ nghĩa yêu nước vào phong trào Quốc tế Cộng sản mà kết luận Nguyễn Ái Quốc theo chủ nghĩa dân tộc (nghĩa là không quốc tế) là một tư duy máy móc và thiển cận. Chỉ những ai thiếu tâm hồn yêu con người yêu đất nước thật sự mới có thiển kiến ấy, bởi vì họ không có trải nghiệm về tình yêu. Huống nữa, với trí tuệ, nêu vấn đề dân tộc thì dễ xúc tiếp với quần chúng, dễ tác động quần chúng hơn là vấn đề quốc tế sâu xa và khá mơ hồ đối với họ. Chân lý vẫn đứng về phía Nguyễn Ái Quốc.

– Một nghịch lý từ kinh nghiệm làm việc, thường thì sự phối hợp giữa việc chung và việc riêng hay có độ vênh. Đây là hai vấn đề lớn, vấn đề dân tộc gần hơn và vấn đề giai cấp mang tính toàn cầu hơn. Lựa chọn phối hợp chắc chắn cũng không phải là việc dễ ngay cả đối với vỹ nhân, thưa Hòa Thượng?

– Vấn đề phối hợp nhuần nhuyễn giữa việc chung và việc riêng là vấn đề của trí tuệ, vấn đề của tâm lý đã được huấn luyện, và là vấn đề của nghệ thuật. Ở mặt nhận thức thì dễ thực hiện hơn là thực tế, bởi trên thực tế phải đối mặt với nhiều khác biệt về vấn đề tập quán nhận thức và hành động. Văn hóa phương Tây và văn hóa Trung Quốc thường xác định quá rõ ràng từng cá thể trong đó có cá thể của cá nhân và cá thể cộng đồng. Ở đó, rất khó hành xử cho các nhà tư tưởng lớn và hành động lớn. Như  Hồ Chí Minh – bấy giờ là Nguyễn Ái Quốc – đã từng ví mình “là lời than giữa sa mạc” khi không thể thuyết phục được tập thể chấp nhận sự phối hợp giữa chủ nghĩa quốc tế với chủ nghĩa yêu nước. Vượt qua được trở ngại này, đòi hỏi có một trí tuệ lớn, một nỗ lực lớn, và cả với một cơ duyên lớn.  Nguyễn Ái Quốc đã buông lời than, thì thường tình như ta còn có thể làm gì được hơn thế. Chỉ còn lại một trường hợp duy nhất có thể thực hiện là khi văn hóa của nhân loại cùng nhất trí rằng cái chung và cái riêng, cá nhân và tập thể là các thực thể cộng sinh, cộng tồn, không có tách ly và không có mâu thuẫn. Thì bấy giờ đề đạt của Nguyễn Ái Quốc hẳn là được tập thể Commitern hoan hỷ đón nhận, và W.Duiker đã không phải ghi lại lời than ấy.

– Xin Hòa Thượng đề cập thêm một chút về đức hy sinh, có phải cứ thực hành học thuyết là phải hy sinh hay không? Bài học của Đức Phật và bài học của Hồ Chí Minh về đức hy sinh là gì? Có điểm gì giống và khác nhau thưa Hòa Thượng?

– Trước hết từ hy sinh có nghĩa là tự nguyện nhận về mình một sự mất mát nào đó, bao gồm cả thân mạng, vì phục vụ cho tha nhân, tập thể, tổ quốc hay nhân loại. Đấy là nghĩa từ. Trên thực tế, nhiều trường hợp gọi là hy sinh mà thật ra không phải là một sự hy sinh: nó đánh đổi giá trị này bằng một giá trị khác cao đẹp hơn, lợi ích hơn, cao thượng hơn, hay hạnh phúc hơn. Một người từ bỏ niềm vui cá nhân để phục vụ bố mẹ, chăm sóc gia đình, hay để làm việc công ích, người ấy trên thực tế không hy sinh gì cả, mà là đang sống với niềm vui lớn hơn, hạnh phúc hơn. Ở đây, từ hy sinh bị phá sản.

Trường hợp Hồ Chủ tịch, rũ bỏ tất cả đời sống riêng tư (tuổi trẻ, tuổi thành niên và tuổi người lớn) để theo đuổi chỉ một mục đích: tìm đường cứu dân, cứu nước. Người đời nói rằng Người đã hy sinh tất cả vì tổ quốc, nhân dân. Trên thực tế đó là hành động chọn lựa của một vỹ nhân, sống với tâm hồn cao thượng và hạnh phúc cao thượng mà không có một ý nghĩa nào hy sinh ở đây cả. Từ hy sinh ở đây trở thành trống rỗng, bởi vì đó là sự hành xử của một vỹ nhân, một bậc trí tuệ và nhân ái. Sự hy sinh không làm thành một vỹ nhân, mà sự hành xử trí tuệ, nhân ái (yêu nước, yêu con người) mới làm nên vỹ nhân. Người là một nhà cách mạng trí tuệ trọn đời sống để xây dựng hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam, nhân dân các nước bị trị, và để xây dựng công bằng xã hội. Ở đây, nếu nói hy sinh thì sẽ tầm thường hóa một nhân cách lỗi lạc. Nhân cách lỗi lạc sống như thế, hạnh phúc như thế, và được người đời (nhân dân) ngưỡng mộ, tôn kính như thế.

Với đức Phật, đức Phật không chỉ rũ bỏ đời sống riêng tư, mà còn rũ bỏ cả ngôi báu (ngai vàng), rũ bỏ triều đình, cung phi mỹ nữ, và rũ bỏ cả nhân dân “khốn khó”, của đất nước của Ngài vì lòng thương tưởng muốn cứu độ nhân dân, nhân loại, chúng sinh khỏi nỗi khổ nghìn đời của sinh, già, bệnh, chết để đi tìm đạo giải thoát khổ mà Ngài tin nhất định có (có khổ sinh ắt hẳn có khổ diệt). Ở đây Ngài không hy sinh gì cả, mà chỉ đi trên con đường của một vỹ nhân giải thoát, đấng giác ngộ, đi đến chân hạnh phúc của chân giải thoát. Người đời, về sau, tôn xưng và đảnh lễ Ngài là đấng giác ngộ, đấng đại hùng, đại lực, đại từ bi; tôn xưng và đảnh lễ niệm ân Ngài vì Ngài đã giới thiệu một nếp sống Giới, Định, Tuệ vượt qua mọi ưu, bi, khổ, não ở đời. Người đời không tôn xưng và đảnh lễ vì Ngài đã “hy sinh” vương vị.

Hai bậc vỹ nhân có điểm tương đồng ở chỗ rũ bỏ trần gian, rũ bỏ đời sống riêng tư để theo đuổi lý tưởng cao thượng của mình. Hai bậc vỹ nhân khác nhau ở điểm: một đi vào cuộc cách mạng xã hội đầy thị phi, truân chuyên; một đi vào cuộc cách mạng tâm linh, giải thoát, con đường chiến thắng tự ngã để đi vào giải thoát toàn triệt. Một thuộc “trần thế”, một thuộc “xuất thế”. Thực nghĩa là vậy. Nếu một người cán bộ, chiến sĩ cách mạng thấy rằng mình đang chịu (hay bị) hy sinh thì hẳn không phải là một cán bộ, chiến sĩ cách mạng thực thụ (chỉ nửa vời). Nếu một tu sĩ thấy mình hy sinh đời sống gia đình, thì ắt hẳn không phải là một vị chân tu. Ý nghĩa là thế.

Từ nguồn hạnh phúc cao thượng của các bậc vỹ nhân, ta có thể rút ra một bài học có ý nghĩa: có hai nguồn hạnh phúc: một thuộc về vật chất đến từ sự thỏa mãn liên hệ đến tai, mắt, mũi, lưỡi, và thân; một thuộc về tinh thần là hạnh phúc do tâm lý cảm nhận; hạnh phúc tinh thần bao giờ cũng có nguồn rung động cao hơn nhiều so với hạnh phúc đến từ vật chất. Hạnh phúc cao thượng nhất là hạnh phúc giải thoát. Trung thành thực hành lý tưởng bao giờ cũng đón nhận được nguồn hạnh phúc cao cả như là phần tưởng thưởng. Nguồn hạnh phúc tâm lý luôn là nguồn vị tha, vì tha nhân và cộng đồng: Càng vong ngã, càng hạnh phúc: đây là kinh nghiệm từ con đường tu tập giải thoát của nhà Phật. Vong ngã vị tha là nếp sống của trí tuệ, mà không phải là một sự hy sinh. Đây là bài học đòi hỏi trải nghiệm.

– Xin chân thành cảm ơn Hòa Thượng!

Thăng Long thực hiện
daibieunhandan.vn

“Cuộc chiến đấu khổng lồ” sau ngày thống nhất

Hồ Chủ tịch gọi công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh là “cuộc chiến đấu khổng lồ” và “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”!

Tư tưởng đổi mới của Đảng mở đường cho những thành quả to lớn trong xây dựng, phát triển đất nước.Trong ảnh: Hai cựu chiến binh ở quận 1, TP.HCM tự hào ngắm nhìn sự phát triển của TP.HCM qua triển lãm ảnh “40 năm son sắt lời thề” tại Công trường Lam Sơn. Ảnh: HTD

“Tại sao Bác lại “trước tiên nói về Đảng”? Mỗi câu chữ trong Di chúc, Bác cân nhắc rất kỹ, vì vậy khi đặt bút viết như thế thì có nghĩa vấn đề đó là nỗi quan tâm, trăn trở lớn nhất cuối đời Hồ Chủ tịch”. PGS-TS Nguyễn Trọng Phúc (ảnh), Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Lịch sử Đảng, nói trong cuộc trò chuyện về 40 năm thực hiện Di chúc Hồ Chủ tịch.

Không nên rập khuôn theo nước ngoài

* Nói về công việc tái thiết đất nước sau cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bác hai lần nhắc đến chữ “to lớn”, “phức tạp” và Bác gọi nó là “cuộc chiến đấu khổng lồ”. Ông bình luận gì về nội dung này trong Di chúc?

PGS-TS Nguyễn Trọng Phúc

– PGS-TS Nguyễn Trọng Phúc: Quả thật đó là vấn đề rất lớn lao và phức tạp, được Bác nhìn thấy từ trước. Chúng ta xây dựng CNXH chưa có tiền lệ mà lại rập khuôn mô hình Xô-viết. Ta cũng có nhiều khuyết điểm như duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, các chính sách, chỉ tiêu kinh tế đặt ra chưa phù hợp… Quan trọng là tư duy đổi mới chậm thành ra phát triển kinh tế của mình không những khó khăn mà từ năm 1979 bị lâm vào khủng hoảng (lạm phát, giá cả tăng, hàng hóa thiếu, đời sống nhân dân khó khăn…).

Thật may là Đảng ta đã sớm nhận ra và đến Đại hội VI (1986) thì định ra đường lối đổi mới. Đấy tôi muốn nói là xây dựng đất nước phải từ đường lối chứ đường lối sai là gay go. Trước đó, Bác cũng đã nói phải tổng kết kinh nghiệm của mình chứ không nên rập khuôn theo nước ngoài. Phải tìm ra quy luật riêng của cách mạng Việt Nam. Tôi cho rằng tư tưởng đổi mới đến nay đã đạt được những thành quả to lớn, là thực hiện đúng Di chúc Bác Hồ.

* Để khủng hoảng xảy ra, có nguyên nhân khách quan và chủ quan. Không ít người nhìn nhận rằng một trong những yếu tố chủ quan là sau cuộc kháng chiến rất vĩ đại, chúng ta đã quá kiêu hãnh nên sinh ra tư tưởng chủ quan, duy ý chí. Ông nghĩ sao?

– Đúng. Bây giờ chúng ta kết luận là đất nước bước vào khủng hoảng từ 1979, đến năm 1996 mới bước ra khỏi khủng hoảng. Nguyên nhân: Về khách quan thì trước hết là hậu quả của 30 năm chiến tranh rất nặng nề mà lúc đầu mình chưa hình dung hết. Khi kết thúc chiến tranh, mình phấn khởi lắm, lúc đầu cứ tưởng sẽ tiến rất nhanh. Nhưng dần dần những hậu quả về kinh tế, xã hội, nhận thức, tư tưởng… mới bộc lộ hết ra. Hai là sự bao vây, cấm vận của Mỹ. Ba là các cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, phía Bắc.

Nhưng trong các loại nguyên nhân, sau này Đảng ta vẫn nhận định chủ quan là chính. Đó là trong đường lối chính sách chúng ta duy trì quá lâu cơ chế cũ không còn phù hợp. Rồi trong tư duy, nhận thức, lý luận lại mắc bệnh chủ quan, duy ý chí, nóng vội. Có cái thì nóng vội, có cái thì trì trệ. Trì trệ trong việc sửa đổi cơ chế, cách thức quản lý nhưng nóng vội trong cải tạo XHCN, muốn quốc doanh, tập thể nhanh, trái với quy luật khách quan.

Năm 1947, Bác đã dùng từ “chỉnh đốn Đảng”

* Nói về tái thiết đất nước sau chiến tranh, Người đề cập “việc trước tiên cần phải làm là chỉnh đốn lại Đảng”. Như vậy, Người coi chỉnh đốn Đảng là tiền đề để phát triển đất nước?

– Đúng thế. Đường lối của Đảng mà sai thì đất nước làm sao phát triển được. Chỉ mới một chặng mà trục trặc một chút thì đất nước đã lâm vào khủng hoảng rồi…

* Thưa, toàn văn Di chúc được công bố năm 1989 bởi Bộ Chính trị Ban Chấp hành TƯ khóa VI, lúc đó mới có đoạn nói về “chỉnh đốn Đảng” và đến năm 1992 thì từ “chỉnh đốn” mới chính thức được viết trong một văn kiện của Đảng. Phải chăng nhận thức của Đảng về vấn đề này chậm hơn so với mong muốn của Bác?

– Thực ra xây dựng Đảng là công việc thường xuyên và trước đổi mới cũng có nhiều nghị quyết về xây dựng Đảng. Từ năm 1974, Nghị quyết TƯ 23 khóa III đã nêu rất cụ thể về vấn đề này tuy không dùng từ “chỉnh đốn”.

Nhân đây tôi cũng phải nói từ ngữ một chút là khi dùng từ “xây dựng” thì người ta thấy bình thường hơn. Nhưng dùng chữ “chỉnh đốn” thì lại nghĩ rằng chắc có chuyện gì mới phải “chỉnh đốn”.

* Nhưng Bác đã dùng từ “chỉnh đốn”…

– Đúng vậy. Trước đây mình cứ ngại về câu chữ, cứ sợ người ngoài không hiểu. Thực ra từ năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lề lối làm việc Bác dùng từ này rồi. Bác còn nói rằng chỉnh đốn sẽ làm cho Đảng đúng đắn, trong sạch, không chệch choạc…

Đến năm 1992, Đảng ta mới dùng từ “đổi mới và chỉnh đốn”. Nhưng sau này có lúc lại ngại từ “đổi mới” nên có giai đoạn lại dùng từ “xây dựng và chỉnh đốn”. Sau đó đến Đại hội X lại dùng từ “đổi mới”. Đó là cả một quá trình nhận thức.

* Và đổi mới là đúng!

– Phải đổi mới Đảng từ công tác tổ chức, cán bộ, công tác lý luận, cả cương lĩnh, đường lối.

“Chưa đạt yêu cầu”

* Nhiều người rất băn khoăn về sự thoái hóa, biến chất trong nội bộ Đảng dường như ngày càng gia tăng, các văn kiện của Đảng cũng cho thấy rằng trước đây là “một bộ phận đảng viên” đến “một bộ phận không nhỏ”, từ “thoái hóa, biến chất” đến “trầm trọng”, thậm chí là “sống còn đối với sự tồn vong của chế độ”… Phải chăng việc chỉnh đốn Đảng chưa làm được như ý nguyện của Bác Hồ?

– Như trên tôi đã nói là Đảng ta đã rất cố gắng. Nhưng nếu chỉ cố gắng theo kiểu hạ quyết tâm thôi thì chưa đủ. Và cần phải có những giải pháp mạnh mẽ hơn thì mới có hiệu quả hơn.

Vậy nên vừa rồi Đảng ta mới quan tâm đến mấy vấn đề thế này: Một là về lý luận được coi trọng, đặc biệt là lý luận về con đường đi lên CNXH thế nào thì bây giờ nhận thức rõ hơn. Đấy chính là chỉnh đốn chứ nếu lý luận mà sai, mà thấp kém thì cách mạng chệch choạc ngay. Hai là chú ý đến cương lĩnh, năm 1992 đã có cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH.

Sắp tới, Đại hội XI sẽ bổ sung cương lĩnh. Thứ ba là thể chế hóa đường lối của Đảng thành pháp luật, chính sách của nhà nước pháp quyền. Đấy cũng là nội dung cầm quyền của Đảng. Thứ tư là xây dựng cơ cấu, tổ chức của Đảng, như vừa rồi Hội nghị TƯ 4, khóa X đã sắp xếp gọn lại bộ máy của Đảng. Như vậy, về khoa học tổ chức đã có bước tiến. Cạnh đó là công tác cán bộ: đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, luân chuyển… làm bài bản hơn, bước đầu dân chủ hóa công tác này. Tiếp đó là vấn đề đạo đức.

Rất cố gắng như vậy nhưng Đại hội X cũng khẳng định là “chưa đạt yêu cầu”. Tôi tin sắp tới đại hội Đảng các cấp thì mình sẽ có thêm kinh nghiệm mới, khí thế mới.

Đổi mới chính trị là xây dựng nhà nước pháp quyền

* Khi bắt đầu đổi mới, chúng ta khẳng định lấy đổi mới kinh tế làm trung tâm và trước tiên. Sau một quãng thời gian khá dài đổi mới kinh tế và thu được những thành quả nhất định, có nhiều người cho rằng kinh tế vẫn cần phải đổi mới hơn nữa và cùng với đó là đổi mới chính trị. Đã đến lúc chúng ta mạnh dạn nói đến “đổi mới chính trị” và cần phải làm như thế nào, thưa ông?

– Đổi mới kinh tế và chính trị có quan hệ mật thiết với nhau. Nếu anh chỉ nói đổi mới kinh tế mà không nói đổi mới chính trị thì không đúng. Mà xét cho đến cùng là phải đổi mới chính trị. Phải từ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước như thế nào thì nó mới ra các chính sách kinh tế được chứ. Có phải tự nhiên mà có đổi mới kinh tế đâu.

Theo tôi, đổi mới về hệ thống chính trị thì có đổi mới lãnh đạo của Đảng, đổi mới nhà nước mà hay nhất là xây dựng nhà nước pháp quyền. Vấn đề này Bác Hồ đã đề cập đến từ năm 1918 khi tìm đường cứu nước. Đến sau Cách mạng Tháng Tám, nhất là Hiến pháp 1946 thể hiện rõ tinh thần nhà nước pháp quyền…

Tôi nghĩ, thực sự đổi mới thì phải quản lý đất nước bằng pháp luật chứ không phải bằng mệnh lệnh và đạo lý.

LÊ KIÊN thực hiện
Theo Pháp Luật TP.HCM

tuoitre.vn

Hồi ức người thiết kế Lễ đài Độc lập

Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 - Ảnh tư liệu

Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh (1920 – 2003), quê Hưng Yên, là người được giao trọng trách thiết kế và tham gia dựng lễ đài, nơi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vào ngày 2-9-1945 lịch sử.

Chúng tôi đã tìm gặp những người thân của cố kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh và được cung cấp bản viết tay kể về việc thiết kế, lắp đặt Lễ đài Độc lập ở Quảng trường Ba Đình do vị kiến trúc sư nổi tiếng này chắp bút. Đây là bài viết được ông Ngô Huy Quỳnh viết vào trưa ngày 28-8-1992 để trả lời các câu hỏi của một phóng viên Tạp chí Kiến trúc và đời sống. Được sự đồng ý của gia đình ông Ngô Huy Quỳnh, xin giới thiệu nguyên văn bài viết của ông.

“Sáng ngày 1 tháng 9 năm 1945, ông Phạm Văn Khoa đến truyền đạt yêu cầu của Kỳ bộ Việt Minh qua ông Mười Hương là ngày 2 tháng 9, Bác Hồ sẽ đọc Tuyên ngôn độc lập và Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào. Yêu cầu làm lễ đài giản dị nhưng phải trang nghiêm; trên lễ đài có thể đứng được ba chục người. Việc làm lễ đài và viết khẩu hiệu bằng ba thứ tiếng Việt, Nga, Anh được giao cho các ông Nguyễn Huy Tưởng và Phạm Văn Khoa hoạt động trong tổ chức Văn hóa Cứu quốc.

Thế là việc chọn và quyết định nơi đặt lễ đài, kiểu lễ đài vẽ xong để bắt đầu thi công vào 12 giờ trưa ngày 1 tháng 9 và 3 giờ sáng ngày 2 tháng 9 dựng xong lễ đài để còn thời giờ mắc loa và đặt mi-crô.

Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh (ảnh chụp lại)

Nơi dựng lễ đài là bồn cỏ tròn ở giữa Quảng trường Ba Đình, trước các cổng cuốn và cuốn tròn tỳ trên hệ thống cột theo kiểu thức tô-scan Pháp. Công trình này màu vàng nhạt, vòng hai tay ôm lấy phía sau lễ đài màu đỏ cùng với khối cây cổ thụ màu xanh hầu như đóng vai trò “trẩm” theo cách nhìn phong thủy mà bà con không lạ lắm. Màu đỏ, vàng của lễ đài với hai bình hương hai bên, của cờ đỏ sao vàng trên cột cờ lễ đài và trước hàng ngũ đại biểu nhân dân nổi rực rỡ và sống động trước vòm cây nhiệt đới và màu lam vòm trời đất Thăng Long.

Phải đứng từ không gian xa xa của các đoàn thể nhân dân mới thấy được bố cục toàn cảnh này. Tôi đã tranh thủ đo lại kích thước cổng cuốn và hàng cột kiểu thức tô-scan này để xác định khuôn khổ thích hợp của lễ đài trong không gian rộng lớn xung quanh.

Trong khi đó, ông Khoa cũng để cả thời gian buổi sáng để đến bàn bạc với ông Quyến là thợ mộc ở phố Hàng Hành để chuẩn bị thi công theo các bản vẽ, đi mượn gỗ và mượn hai thứ vải màu vàng và đỏ. Đồng bào Hà Nội vui lòng cho mượn gỗ và vải; gỗ cần bao nhiêu cứ lấy, cần xẻ ra cứ làm, vải thì cố giữ cho đừng rách còn cần “pha” ra thì cũng tùy yêu cầu. Vật liệu có gỗ và đinh sắt được chở đến giữa bùng binh Ba Đình. Ông Quyến huy động 10 bạn thợ đến làm việc tấp nập, chỗ này cưa, chỗ kia rọc gỗ. Hội Truyền bá Quốc ngữ huy động bốn chục anh em ở Ban Cổ động, Ban Khánh tiết, Ban Giáo khoa đến giúp.

Riêng tôi đặc biệt quan tâm đến hệ thống chống đỡ bục lễ đài phải chịu nặng trên hai tấn. Cột cờ và các trụ lễ đài đều chôn chân xuống đất, không dùng mộc để tránh thiệt nhiều cho bà con có gỗ và để tranh thủ thời gian. Dùng vải bọc ngoài các khung gỗ và tạo khối kiến trúc, dễ trang trí, có màu sắc cần thiết, với thời gian ít nhất. Các việc không phải mộc, không phải nề này tôi cũng làm với anh em thanh niên. Công nhân nhà máy điện đảm bảo ánh sáng thật đầy đủ. Chúng tôi làm xong các việc trước rạng đông ngày 2 tháng 9 và không chú ý là cả một đêm trắng đã qua nhanh chóng!

Lễ đài Độc lập trên Quảng trường Ba Đình Hà Nội do kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh thiết kế năm 1945 (ảnh chụp lại)

Khi đứng trên lễ đài để xem xét lần cuối cùng, tôi thấy nao nức trước đông đảo đại biểu nhân dân hừng hực khí thế dưới cờ đỏ sao vàng tràn ngập Ba Đình. Các khẩu hiệu chữ trang kim trên nền vải đỏ tươi càng làm rực rỡ thêm buổi lễ lịch sử này. Khói trầm từ các lư hương lớn hai bên lễ đài bay lên cao, gợi những ý tưởng thiêng liêng và thong thả tỏa rộng quyến luyến các đoàn đại biểu.

Khi Bác Hồ và Chính phủ lâm thời bước lên bậc thang lễ đài, tôi và nhiều anh em nghiêm trang đứng chào, nắm tay phải đưa lên ngang vai. Nhiều đồng chí tự vệ và cả ông Phạm Văn Khoa cầm súng bảo vệ quanh lễ đài.

Riêng tôi tự ý một mình đứng bên dưới lễ đài, quan sát những điểm chịu lực của kết cấu khung gỗ, và một mình trong không gian màu đỏ dưới bục lễ đài, tự thấy mình lực lưỡng hơn về trí tuệ và tình cảm khi đứng dưới chân Bác và ghi trong lòng Tuyên ngôn độc lập Bác đọc. Và thật là xúc động khi nghe Bác hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” và tiếng hô: “Rõ ạ. Rõ ạ…” của hàng chục vạn đồng bào vang vọng như những làn sóng biển Đông.

Nơi đồng bào dự lễ ngày 2-9-1945 chính là quảng trường trước Lăng Bác ngày nay và cả con đường Bắc Sơn, ở đây đã dựng tượng đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hy sinh vì độc lập và tự do của Tổ quốc.

Một việc trong nghề và nghiệp kiến trúc cách đây gần nửa thế kỷ đã gieo vào tình cảm thanh niên 25 tuổi của tôi một sức mạnh thầm lặng mà bền bỉ, tin tưởng vào sức vươn lên của cuộc sống và nền văn hóa dân tộc, từ ngày công bố Tuyên ngôn độc lập, cũng như từ ngày thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, mặc dầu xuất hiện những khó khăn mới”.

Theo QUANG DUẨN (giới thiệu) – Thanh Niên

tuoitre.vn

Tuổi 20 cho Ngày độc lập (Kỳ cuối)

Nơi cướp chính quyền đầu tiên ở Nam bộ

Đồng chí Lê Văn Tưởng (bìa phải) - trưởng ban tác chiến trung đoàn 120, cùng các đồng chí trong ban chỉ huy trung đoàn tại Bến Kè năm 1948

TT – Theo các tư liệu lịch sử ghi nhận, thời điểm Cách mạng Tháng Tám thành công ở các vùng trong nước có khác nhau. Ở miền Bắc (Hà Nội) ngày 19-8, miền Trung (Huế) 23-8 và Nam bộ (Sài Gòn) 25-8-1945.

Thế nhưng trước đó có một địa danh ở Nam bộ đã tổ chức cướp chính quyền thành công vào đêm 22 rạng sáng 23-8-1945. Người chỉ huy trận đánh đêm ấy đang ở tuổi 26…

Thí điểm khởi nghĩa ở Nam bộ

Ngay trong đêm 22-8-1945, người dân tỉnh Tân An (ngày nay là tỉnh Long An) hầu như không ngủ được. Tiếng trống khởi nghĩa vang từ xã này sang xã khác, quận này sang quận khác, tin cướp chính quyền thắng lợi tới tấp bay về, càng về khuya càng dồn dập liên hồi.

Tờ mờ sáng 23-8-1945, trên các nẻo đường đổ về thị xã Tân An, lớp lớp người xếp thành hàng tư với rừng tầm vông vạt nhọn, rừng cờ đỏ sao vàng, cờ búa liềm giương cao rầm rập tiến vào sân banh thị xã. Đoàn người vừa đi vừa hô to các khẩu hiệu: VN độc lập muôn năm! Chính phủ VN muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm… Trên lễ đài, đại diện Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Tân An làm lễ ra mắt đồng bào, chủ tịch Nguyễn Văn Trọng tuyên bố: Chính quyền Tân An đã về tay nhân dân!

Trước đó, Xứ ủy Nam bộ đã mở hội nghị tại Chợ Đệm phân tích tình hình của Nam bộ lúc ấy là rất phức tạp. Nhiều ý kiến đề xuất: đêm 22-8 Sài Gòn sẽ tiến hành khởi nghĩa để sáng sớm 23-8 huy động lực lượng chính trị vũ trang khoảng 1 triệu người xuống đường ủng hộ Ủy ban hành chính lâm thời Nam bộ và tuyên bố tổng khởi nghĩa thành công. Sau đó các tỉnh khác ở Nam bộ sẽ theo hình mẫu của Sài Gòn mà tiến hành khởi nghĩa.

Nhưng có ý kiến cho rằng quân Nhật ở Sài Gòn rất đông, ngay cả lực lượng đồng minh Anh – Ấn cũng buộc quân Nhật cùng chống cách mạng, nếu Nhật can thiệp thì khởi nghĩa ở Sài Gòn dễ thất bại… Cuộc tranh cãi khá quyết liệt. Cuối cùng, đồng chí Trần Văn Giàu đưa ra một giải pháp: giao cho Tân An – nằm ngay bên cạnh cửa ngõ vào Sài Gòn – khởi nghĩa thí điểm, từ đó rút kinh nghiệm để “bấm nút” cho Sài Gòn và các tỉnh tiến hành khởi nghĩa. Ý kiến này được đa số tán thành.

Tân An được chọn làm thí điểm khởi nghĩa cho cả Nam bộ và xứ ủy đã quyết định ngày khởi nghĩa là 23-8-1945…

Ngay khi biết Tân An giành được chính quyền, các tỉnh lân cận như Gò Công, Bến Tre, Cần Thơ… đã liên tiếp gọi điện hỏi kinh nghiệm.

Riêng Mỹ Tho còn yêu cầu được Tân An hỗ trợ trực tiếp (Theo Mùa thu rồi, ngày hăm ba, NXB Chính Trị Quốc Gia Hà Nội – 1995).

Giọng trầm ấm, ông Hai Lê (Lê Văn Tưởng) kể lại: “Lúc đó tôi 26 tuổi, đang tham gia sinh hoạt tại chi bộ làng Thạnh Lợi, quận Thủ Thừa, tỉnh Tân An. Ngày 13-8-1945, Tỉnh ủy Tân An tổ chức hội nghị mở rộng tại nhà ông hội đồng Huấn ở xã Hương Thọ Phú. Tại cuộc họp này, các đồng chí trong Tỉnh ủy Tân An thống nhất rút tôi về làm thường vụ phụ trách quân sự quận Thủ Thừa để chuẩn bị lực lượng cướp chính quyền.

Tôi nhanh chóng quay về làng và từ giã các đồng chí trong chi bộ Thạnh Lợi. Các anh ở làng chia tay để tôi đi làm chuyện đại sự mà còn góp mỗi người vài đồng, được tất cả 13 đồng làm lộ phí và dặn dò ghê lắm. Chia tay gia đình, xóm làng, tôi chuyển ra quận công tác…”.

Ban đầu Hai Lê rất lo, mình có quá trẻ, lại ít kinh nghiệm quân sự, được giao đánh trận đầu mà thất bại thì tội lớn lắm!

Sau khi bàn bạc với Huyện ủy Thủ Thừa, Hai Lê cho tổ chức ngay lực lượng chiến đấu là những thanh niên tiền phong trong các thôn xóm tập trung lại tập luyện võ thuật, luyện kiếm, phóng phi tiêu, luyện dao găm, tự tạo vũ khí thô sơ, tập đội hình chiến đấu. Giặc thì súng ống rần rần, còn đội hình chiến đấu của Hai Lê luyện tập như trong phim kiếm hiệp vậy!…

Anh nông dân đối mặt với quận trưởng!

Đưa cho chúng tôi xem quyển hồi ký của mình có tựa đề Con đường tôi đã chọn (NXB Quân Đội Nhân Dân), trung tướng Lê Văn Tưởng (Hai Lê) nói: “Nó có ý nghĩa gắn liền với tuổi 20 của tôi, cái tuổi mà người ta phải quyết định cho mình một con đường. Và không chỉ tôi, cả thế hệ thanh niên vào thời đó đã chọn con đường đi theo cách mạng...”.

Tới chiều 22-8, các xã quanh quận Thủ Thừa đồng loạt đánh mõ, đánh trống báo động vang trời theo kế hoạch của Ủy ban khởi nghĩa. Trong lúc địch đang còn hoang mang chưa biết việc gì xảy ra, tiếng trống tiếng mõ xuất phát từ đâu thì Hai Lê đã ra lệnh cho lực lượng quân sự do anh chỉ huy bắt đầu “hành quân”.

Hai Lê mặc đồ kaki vàng, mang cây súng rulô cùng tốp chiến đấu xông thẳng tới dinh quận. Tới cổng dinh quận, đội hình khựng lại vì lính khố xanh cùng súng ống dàn đầy, nghe tiếng mõ tiếng trống chúng còn hoang mang hơn và tư thế luôn sẵn sàng nổ súng. Chỉ với một khẩu súng ngắn của Hai Lê thì làm sao địch lại được bọn lính trang bị toàn súng dài của dinh quận – mục tiêu số 1 cho cuộc cướp chính quyền?

Nhưng Hai Lê đã có cách riêng của mình: anh bước thẳng vào dinh quận. Bọn lính canh thấy anh mặc đồ kaki nai nịt gọn gàng, bên hông kè kè súng lục, không hiểu anh thuộc “sắc lính” gì nên im re cho vào, nhưng súng vẫn chĩa thẳng vào anh. Anh bước vào gặp quận Thọ.

Trước mặt quan phụ mẫu một thời làm mưa làm gió cả vùng Thủ Thừa, lính canh súng ống còn đầy, vậy mà Hai Lê bình thản tuyên bố xanh rờn: “Ông quận Thọ à, hôm nay cách mạng về cướp chính quyền. Kể từ 8g tối nay, chúng tôi với đầy đủ binh lực, súng ống hùng mạnh đã bao vây toàn khu vực. Nếu muốn an toàn, ông quận phải ra lệnh cho binh lính giao nộp vũ khí, còn ông phải giao ngay cho cách mạng chìa khóa tủ sắt tiền công nho và các tủ giấy tờ khác nữa…”.

Quận Thọ há hốc miệng, người chỉ huy cách mạng này sao khí phách quá, chống lại chắc chỉ có chết! Quận Thọ tự nhiên thấy mình “nhỏ” hơn anh thanh niên tuổi 26 nên “dạ… dạ…” lí nhí và bàn giao dinh quận ngay. Mãi sau này nhiều người hỏi: “Lỡ quan quận làm cương kêu lính vào bắt thì sao?”. Hai Lê cười: “Thì đánh luôn chứ sao, đội tự vệ đã dàn quân cả rồi, giáo mác, kiếm, tầm vông cũng đánh được mà!”.

Chiếm dinh quận thắng lợi, Hai Lê cùng lực lượng dân quân tự vệ, thanh niên địa phương được thế xông thẳng vào các đồn Thạnh Lợi, Bình Hòa, Mỹ Thạnh Đông, Mỹ Quí… để tịch thu súng đạn. Tổng số súng thu được tại các đồn lên đến trên 40 cây súng các loại. Số súng này được đưa về quận để thành lập một đại đội dân quân cách mạng đầu tiên của quận.

Được tin Hai Lê đã tổ chức chiếm dinh quận và giải giới vũ khí lính canh thành công mà không tốn một viên đạn, hàng ngàn nông dân từ các xã Mỹ Lạc, Bình Đức, Mỹ An Phú, Bình Phong Thạnh… rùng rùng kéo về khu vực sân banh để mittinh và nghe cách mạng nói chuyện. Tại buổi mittinh, Hai Lê thay mặt ban khởi nghĩa dõng dạc thông báo với bà con: Việt Minh đã lên nắm chính quyền!… Cả rừng người tung hô như muốn làm vỡ tung cả không gian một làng quê…

VŨ BÌNH – THẾ ANH

—————-

Tin, bài liên quan:

– Kỳ 1: Chung một bóng cờ…
– Kỳ 2: Lên đường!
– Kỳ 3: Những “giải phóng quân” đặc biệt!
– Kỳ 4: Mỗi số phận chứa một phần lịch sử
– Kỳ 5: “Chết tự do hơn sống nô lệ!”

tuoitre.vn

Tuổi 20 cho Ngày độc lập (Kỳ 5)

“Chết tự do hơn sống nô lệ!”

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng bên kệ sách gia đình

TT – Ông vẫn còn tráng kiện lắm, giọng nói sang sảng đặc chất Nam bộ cho dù đã vượt qua cái ngưỡng tuổi 80: “Làm sao quên được những ngày ấy, những người nông dân, công nhân đồn điền cao su, học sinh trường làng… của cái xã An Tịnh nhỏ bé ấy cứ ngất ngây trước hai chữ: tự do!

Ngọn cờ hồng trên chiến lũy!

Đời ông, đời cha mình có bao giờ được nghe hai chữ này đâu! Tôi và một số anh như Nguyễn Thanh Tùng, Huỳnh Duy Ngươn, Nguyễn Văn Sữa, Trương Tùng Quân, Trần Bá Liêm, Trần Bá Bên, Tô Văn Ri… tham gia đoàn thanh niên tiền phong xã và cùng với các đoàn thể trong ủy ban khởi nghĩa xã chuẩn bị cướp chính quyền…”. Trung tướng Nguyễn Thới Bưng, nguyên phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân VN, nhớ lại tuổi 20 của mình.

Ngày 25-8-1945, người dân An Tịnh cũng như huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và cả miền Nam cùng đứng lên cướp chính quyền. Những đoàn người cuồn cuộn như sóng biển. Vị tướng già đã đi qua trọn vẹn hai cuộc kháng chiến bồi hồi nhớ lại:

“Chúng tôi cùng xuống đường và hô vang khẩu hiệu: Việt Minh muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm! Dòng máu trẻ cứ rần rật chảy trong người. Hàng ngàn, hàng vạn con người, những đội hình đội ngũ chỉnh tề, trên tay chỉ với tầm vông vạt nhọn mà tinh thần đánh giặc vô cùng hăng hái, tưởng như quân Pháp, quân Nhật xuất hiện với tàu đồng, xe tăng, đại bác… cũng không thể ngăn nổi cơn sóng trào này. Nhìn bóng cờ đỏ sao vàng bay phần phật trong gió, chúng tôi đã thấy được bình minh của tự do…”.

Quân Pháp quay trở lại miền Nam! Để đối phó, cuối tháng 9 -1945 xã An Tịnh đã tuyển chọn một tiểu đội do đồng chí Nguyễn Ngọc Tươi chỉ huy chi viện cho mặt trận Tham Lương. Vừa chuẩn bị lực lượng, khí giới, công sự sẵn sàng cho cuộc chiến, vừa xây dựng phòng tuyến, chiến lũy địa đầu của tỉnh Tây Ninh tại khu vực Suối Sâu, các lực lượng thanh niên Gia Lộc, Lộc Hưng, Trảng Bàng… được khẩn cấp điều động ra chiến lũy, chiến tranh là không thể tránh khỏi!

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng kể: “Sáng 8-11-1945, hàng trăm xe cơ giới có cả xe tăng và xe bọc thép do liên quân Anh – Ấn chỉ huy, theo sau là lính lê dương Pháp bất ngờ đánh úp Tây Ninh và vùng giáp giới Campuchia. Chúng tôi đều xung phong ra chiến lũy Suối Sâu chỉ vì một lời nguyện thề với lòng mình: Thà hi sinh trên chiến lũy dưới ngọn cờ hồng tự do chứ không thể trở về quê nhà tiếp tục lầm lũi kiếp nô lệ! Lúc đó trên chiến lũy súng thì ít mà giáo mác, mã tấu, tầm vông thì nhiều, nhưng ai cũng hừng hực ý chí xả thân…”.

Lời thề Rừng Rong

Đài tưởng niệm những chiến sĩ Rừng Rong tại Trảng Bàng, Tây Ninh

Phòng tuyến địa đầu vỡ nhanh chóng, tầm vông vạt nhọn sao có thể đối đầu với xe tăng, đại bác! Để bảo toàn lực lượng và cũng là để chuẩn bị cho một cuộc trường kỳ kháng chiến, các chiến sĩ trên chiến lũy Suối Sâu buộc phải rút về Bàu Mây, Rừng Rong (An Tịnh) chỉnh đốn lực lượng và liên lạc với các nơi khác như Trâm Vang (Gia Bình), Cầu Quan (An Hòa)… cũng đã rút lui để hợp lực cho sự ra đời của “Đội tự vệ chiến đấu huyện Trảng Bàng” do Trần Văn Chói chỉ huy, với 27 nam nữ chiến sĩ được chia thành nhiều nhóm do Mười Tùng, Sáu Hung, Út Bưng, Hai Ngươn… làm trưởng nhóm.

Các nhóm hoạt động dựa vào dân để đưa tin, tiếp tế, nuôi dưỡng, cung cấp vũ khí. Đội tự vệ chiến đấu chọn Rừng Rong làm căn cứ để tiến hành chiến tranh du kích. “Gian khổ lắm, những ngày cuối năm 1945 theo chân quân Pháp chiếm đóng là bọn tề gian tràn về cướp bóc, hãm hiếp bà con mình ngay giữa ban ngày. Diệt tề là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của đội, chúng tôi một mặt dựa vào dân, một mặt tìm mọi cách tiếp cận xóm làng để tổ chức trừ gian, giải tán hội tề, kết hợp tuyên truyền vận động bà con tham gia cách mạng… Sự tàn ác của giặc ban đầu làm bà con nao núng lắm, nhưng dần dần bà con đã lấy lại niềm tin với lực lượng kháng chiến chúng tôi…” – vị tướng già nhớ lại những ngày ấy.

Hồi ức của 60 năm trước sống dậy trong ông: “Hình ảnh về bóng cờ đỏ sao vàng bay trong gió của cái ngày cướp chính quyền, bóng cờ ám khói trên chiến lũy với chúng tôi không thể nào quên. Cuộc kháng chiến sẽ con rất gian khổ và lâu dài, làm sao để dân tin là chúng tôi – những người cách mạng – sẽ chiến thắng.

Để biểu thị lòng quyết tâm của đội tự vệ chiến đấu với lý tưởng cho nền độc lập và để người dân cũng có được niềm tin ấy, đêm 30 Tết Ất Dậu (ngày 1-2-1946), tại Rừng Rong, chúng tôi tổ chức ăn thề. 27 nam nữ chiến sĩ của đội tự vệ chiến đấu Trảng Bàng đều ở độ tuổi 20 và có thành tích xuất sắc nhất trong chiến đấu từ các mặt trận trong huyện trở về, quần áo chỉnh tề, chỉ với một vài khẩu súng trên vai, đội ngũ đứng nghiêm trang dưới ánh đuốc bập bùng trong đêm.

Sau khi đồng chí chỉ huy đội Trần Văn Chói đọc lời thề chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ nền độc lập của đất nước, cả 27 nam nữ chiến sĩ chúng tôi đều hô vang: “Độc lập hay là chết!… Chết tự do hơn sống nô lệ! Ai phản bội sẽ chịu xử tử…”.

Tất cả họ – những người con trai, con gái tuổi đôi mươi – đã giữ vững lời thề chết cho độc lập, chết cho tự do… Trong một lần tập kích, anh Nguyễn Văn Hung đã bị trúng đạn và bị bắt, quân Pháp tra tấn rất dã man nhưng anh vẫn không hé răng khai một lời về nơi đóng quân của đội tự vệ chiến đấu.

Còn chị Trần Thị Đường bị giặc bắt, bị chúng dùng dây điện quấn quanh hai bàn tay rồi ghim điện tra tấn suốt ngày đêm nhưng người con gái tuổi mới đôi mươi này có một dũng khí mạnh hơn đòn tra tấn, đó là lời thề trong đêm Rừng Rong. Nhiều chiến sĩ đã chọn cái chết trước mũi súng quân thù để bảo vệ khí tiết như chị Trần Thị Đẹp. Chỉ riêng trong năm 1946 ác liệt đó, đã có hơn phân nửa những người tham gia hội thề Rừng Rong vĩnh viễn nằm xuống!

Ông Nguyễn Thới Bưng cho đến bây giờ vẫn còn nhớ những cái tên, những gương mặt đã in đậm trong ký ức: “Người ta hay nói thanh niên bồng bột, nhưng với chúng tôi thời ấy cũng mới chỉ 19, 20 nhưng chín chắn lắm. Trước vận nước lâm nguy không thể có chuyện bộc phát sôi nổi. Không ai bội ước với lời thề. Đa số họ hy sinh rất sớm, nằm lại chiến trường ở tuổi 20, chưa thấy được độc lập, tự do. Nhưng những người còn lại vẫn tiếp tục đi trên con đường đó đến cùng.

Sau ngày miền Nam giải phóng, chúng tôi mừng rơi nước mắt, trong số 27 người ngày ấy có đến bốn người được phong quân hàm cấp tướng, hai sư đoàn trưởng, hai ủy viên trung ương, hai tư lệnh quân khu… Mà không chỉ vậy, xã An Tịnh chúng tôi đã hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang và có đến 1.200 liệt sĩ, 54 bà mẹ VN anh hùng, năm cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang…

Có một địa danh ở Nam bộ cướp chính quyền thành công vào đêm 22-8-1945, trước cả Sài Gòn và tạo tiền đề cho nhiều tỉnh khu vực miền Tây Nam bộ đứng lên khởi nghĩa. Người chỉ huy sự kiện này là chàng trai 26 tuổi…

VŨ BÌNH – THẾ ANH

———

* Kỳ cuối: Nơi cướp chính quyền đầu tiên ở Nam bộ

—————-

Tin, bài liên quan:

– Kỳ 1: Chung một bóng cờ…
– Kỳ 2: Lên đường!
– Kỳ 3: Những “giải phóng quân” đặc biệt!
– Kỳ 4: Mỗi số phận chứa một phần lịch sử

tuoitre.vn

Tuổi 20 cho ngày độc lập (Kỳ 4)

Mỗi số phận chứa một phần lịch sử

Ông Lê Đình Bân (bìa phải) trong ngày chiến thắng Điện Biên Phủ

TT – Qua những tư liệu, nhiều người vẫn nghĩ lá cờ quẻ ly của chính quyền Nam triều trên kỳ đài trước Ngọ Môn được hạ xuống và thay bằng lá cờ đỏ sao vàng cách mạng diễn ra vào ngày Huế tổng khởi nghĩa thắng lợi 23-8-1945.

Thực tế lá cờ đỏ sao vàng đã được treo lên kỳ đài Huế trước đó hai ngày: 21-8-1945 và một trong hai người dũng cảm ấy là con quan tổng đốc…

Con quan tổng đốc treo cờ đỏ sao vàng lên kỳ đài!

Sở dĩ có chuyện treo cờ sớm trước ngày Huế khởi nghĩa như thế vì ngay sau khi nghe tin Hà Nội tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công vào ngày 19-8, nhân dân các huyện Phong Điền, Phú Lộc… của tỉnh Thừa Thiên cũng đã nổi dậy giành được chính quyền và hai chàng trai của Trường Thanh niên tiền tuyến (TNTT) được lệnh hạ cờ quẻ ly, treo cờ đỏ sao vàng lên kỳ đài Huế.

Lá cờ đỏ sao vàng ấy rộng bằng hai gian nhà, trải ra như tấm thảm lớn được cuộn tròn lại và gác lên hai chiếc xe đạp của hai chàng thanh niên đẹp trai trong quân phục chỉnh tề. “Calô hai sừng đội đầu, quần kaki kiểu kỵ mã vàng óng, đôi ghệt cao cổ của ngự lâm quân. Tất cả binh lực là khẩu barillet to bằng bàn tay và sáu viên đạn…” – ông Đặng Văn Việt, con quan tổng đốc Nghệ An (sau này là trung đoàn trưởng trung đoàn 174, mệnh danh là “Đệ tứ quốc lộ đại vương” vì chuyên đánh quân Pháp trên trục đường số 4 Cao – Bắc – Lạng), học viên Trường TNTT, nhớ lại.

Cả hai thanh niên đẩy hai chiếc xe đạp chở lá cờ tiến về phía kỳ đài. Tiểu đội lính dõng gác kỳ đài và làm nhiệm vụ đốt pháo lệnh báo giờ răm rắp làm theo lệnh: hạ cờ Nam triều xuống, buộc cờ vào dây, qua ròng rọc đưa cờ đỏ sao vàng lên cao. Lúc ấy là 2g chiều 21-8, ông Việt còn nhớ có một chiếc máy bay hai thân cánh bạc sơn quốc kỳ Mỹ lượn ba vòng quanh cột cờ nghiêng cánh như vẫy chào rồi bay hút ra phía biển…

Lá cờ đỏ sao vàng trên đỉnh kỳ đài mang một ý nghĩa trọng đại báo hiệu sự chấm dứt của một vương triều trị vì 143 năm và hàng ngàn năm của chế độ phong kiến. đất nước sang trang sử mới của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Mấy hôm sau, vua Bảo Đại làm lễ thoái vị, trao ấn kiếm cho đại diện chính phủ trung ương từ Hà Nội vào, nhà vua tuyên bố “thà làm dân một nước tự do hơn làm vua một nước nô lệ”, lại có nghi thức hạ cờ vàng và treo cờ đỏ sao vàng chính thức lên đỉnh cột.

Trong buổi chiều ấy, một viên lãnh binh khố vàng (biết ông Đặng Văn Việt và Nguyễn Thế Lương là người hạ cờ hôm trước) đến cạnh ông Việt và bảo: “Hôm các anh đến hạ cờ nhà vua, cả đại đội khố vàng chúng tôi nằm phục kích dọc cổng thành Ngọ Môn với hơn 100 tay súng chĩa về các anh. Tôi vào xin ý kiến nhà vua, ngài bảo: “Chớ, chớ! Việt Minh đấy, chúng mi nổ súng thì tao chết trước đấy”. May quá, lính chỉ nằm im cho đến khi các anh đi khuất”.

Trước ngày diễn ra lễ thoái vị của nhà vua, ngày 29-8 một toán lính Pháp đã nhảy dù xuống Hiền Sĩ (cách Huế chừng 20km về phía tây bắc) dưới danh nghĩa phái bộ quân đồng minh nhưng thật ra để móc nối liên lạc thực hiện âm mưu trở lại tái chiếm VN. Ông Phan Tử Lăng, giám đốc Trường TNTT, được phái đi gặp toán nhảy dù này và trở về báo cáo tình hình với Ủy ban hành chính kháng chiến.

Trong lúc ấy, anh em của Trường TNTT đã nhận định: đây là bọn thực dân đội lốt đồng minh để quay lại xâm lược. Không đợi lệnh của ông Lăng, anh em chủ động đi… bắt sống toán nhảy dù này. Ông Nguyễn Thế Lương, người đã cùng ông Việt treo cờ hôm trước nay được cử làm “chỉ huy” đi bắt lính dù Pháp. Thành viên của nhóm “đi bắt Tây” này còn có Nguyễn Trung Lập, Đặng Văn Việt, Hoàng Xuân Bình, Lê Thiệu Huy, Đặng Văn Châu, Hà Đổng, Phan Văn Diên…

Cả toán đi bắt Tây ra phố mượn một chiếc ôtô chạy than, đến gần Hiền Sĩ xe không qua cầu được, anh em nhảy xuống đi bộ, “đi hàng hai bước đều, vừa đi vừa hát hành khúc, súng mang chéo sau lưng. Anh Huy cầm cờ đỏ sao vàng đi trước…”. Cả toán Tây nhảy dù bị bắt gọn bởi mưu mẹo của nhóm anh em TNTT, khi ông Phan Tử Lăng quay lại truyền lệnh của ủy ban bắt giữ toán Tây này thì mọi việc đã được anh em giải quyết xong!

Nhân dân Thừa Thiên - Huế tham gia giành chính quyền và kéo vào cửa Thượng Tứ trong ngày 23-8-1945, ngày cách mạng thắng lợi tại Huế - Ảnh tư liệu

Lên đường Nam tiến: một cây súng trường và 16 viên đạn!

Cách mạng thành công, Trường TNTT được đổi tên thành Trường Võ bị Thuận Hóa, dời địa điểm sang Trường Quốc học (và sau đó dời thêm vài địa điểm khác) nhưng mọi người vẫn quen tên gọi cũ là TNTT.

Tháng 9-1945 là một mùa khai trường kỳ lạ ở Huế. Các lớp học vắng lặng, học sinh chuẩn bị thi thành chung và tú tài đều bỏ thi, học sinh chuyên khoa bỏ lớp, tất cả nô nức ghi tên gia nhập giải phóng quân (GPQ) Huế. Trường Võ bị Thuận Hóa lại là nơi tiếp nhận, tập hợp các GPQ. Những học viên của trường nay được công nhận là sĩ quan cách mạng, làm bộ khung huấn luyện, tổ chức lực lượng quân đội chính qui của nhà nước non trẻ chuẩn bị cho cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc.

Chính nhiệt tình cách mạng và kiến thức quân sự được học hành tại trường đã khiến những chàng trai TNTT hôm qua đảm đương được nhiệm vụ mới: làm nòng cốt cho lực lượng GPQ. Những thanh niên Huế gia nhập GPQ được phiên chế thành những trung đội, chỉ một thời gian ngắn đã có 25 trung đội được thành lập, trung đội trưởng của các trung đội này đều là sĩ quan TNTT, trung đội phó là những cựu binh sĩ (hạ sĩ quan) đã đi theo cách mạng.

Đại tá Phan Hạo hồi ấy là trung đội trưởng trung đội 1 nhớ lại ngày ông nhận lệnh lên đường Nam tiến để hỗ trợ mặt trận Sài Gòn: trước khi lên đường, ông và trung đội trưởng trung đội 3 Đoàn Huyên (sau này là giáo sư, thiếu tướng QĐNDVN) được gọi lên gặp ủy viên quốc phòng Trung bộ (phụ trách quân sự – quốc phòng cả khu vực miền Trung) Nguyễn Chánh.

Ông Chánh người Quảng Ngãi, đã từng lãnh đạo thắng lợi cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, ngay từ những ngày tháng ấy đã thấy trước cuộc kháng chiến sẽ lâu dài và rất cam go. Sau khi hỏi han tình hình chuẩn bị Nam tiến, anh Hạo báo cáo mỗi người lính chỉ được trang bị một khẩu súng trường và 16 viên đạn, chỉ huy trung đội thì trang bị súng carbine và hai băng đạn nhưng tinh thần thì rất lạc quan vì ai cũng nghĩ vào Nam đánh Pháp xong sẽ “duyệt binh giữa Sài Gòn”. Hùng khí của cuộc khởi nghĩa thắng lợi trọn vẹn đã nhân lên niềm lạc quan hừng hực trong những người GPQ chuẩn bị Nam tiến.

Hai trung đội GPQ 1 và 3 lên đường vào Sài Gòn, một tháng sau đại đội Nam tiến thứ hai lại lên đường do Nguyễn Thế Lâm chỉ huy lên tàu vào Sài Gòn, nhưng đến ga Tháp Chàm (Phan Rang) thì được lệnh quay lại bởi ngày 23-10-1945 quân Pháp tấn công Nha Trang. Quân và dân Thừa Thiên – Huế một lần nữa gửi con em vào chi viện cho chiến trường Nam Trung bộ.

Ông Lê Đình Bân tham gia chiến đấu ở mặt trận Nha Trang và bị thương, sau đó ra mặt trận Qui Nhơn, về liên khu 5, về huấn luyện ở Trường Lục quân Quảng Ngãi, ra Việt Bắc rồi vào Nam đánh Mỹ, mãi đến đại thắng mùa xuân 1975 ông mới về lại Huế, người mẹ của ông, cụ bà Nguyễn Thị Hựu, khi ấy đã 85 tuổi.

Cũng cần nhắc thêm một chút về người sĩ quan của Trường TNTT này bởi đến ngày độc lập, gia đình ông đã có bốn liệt sĩ hi sinh cho cách mạng. Vợ và con ông Bân sống ở Hà Nội, hoàn cảnh bấy giờ không thể đưa cả gia đình về Huế nên một mình ông mang balô về lại quê hương với người mẹ già 30 năm ngóng chờ con.

Người con trai làng Triều Sơn Tây khi tham gia cách mạng vừa ngoài 20 tuổi, ngày về tóc đã bạc quá nửa mái đầu, trong căn nhà nhỏ, ngày ngày ông Bân nấu cơm nuôi mẹ già để báo hiếu.

Cho đến bây giờ khi về gặp ông ở làng Triều Sơn Tây, con cái ông đều thành đạt, vợ ông vẫn sống ở Hà Nội, riêng ông một mình lặng lẽ với làng xưa, viết sử của làng và gia phả dòng tộc, sớm hôm chăm lo hương khói bàn thờ gia tiên. Trên bàn thờ ấy tôi nhìn thấy những tấm hình của người thân ông đã nằm lại dọc đường kháng chiến, tất cả đều rất trẻ…

Cuộc khởi nghĩa tháng tám ở Nam bộ diễn ra muộn hơn miền Bắc và miền Trung. Ngọn cờ hồng trên chiến lũy ám khói súng, trong ánh đuốc bập bùng, những cô gái, chàng trai Nam bộ đã cất cao lời thề…

LÊ ĐỨC DỤC

———————-

Bài 1: Chung một bóng cờ…
Bài 2:Lên đường!
Bài 3: Những “giải phóng quân” đặc biệt!

——————————-

Kỳ sau: “Chết tự do hơn sống nô lệ!”

tuoitre.vn

Tuổi 20 cho ngày độc lập (Kỳ 3)

Những “giải phóng quân” đặc biệt!

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (người đội mũ) trong những ngày đi vận động tổng khởi nghĩa ở Huế 1945 (ảnh tư liệu trong cuốn Địa chí Thừa Thiên - Huế)

TT – Năm 1945, tại Huế có một trường võ bị – gọi là Trường Quân sự thanh niên tiền tuyến (TNTT), tuy do chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim lập nên nhưng điều hành ngôi trường lại là những trí thức yêu nước nổi tiếng như giáo sư Tạ Quang Bửu, luật sư Phan Anh – những người sau này đều giữ cương vị quan trọng trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập…

Từ ngôi trường “xanh vỏ, đỏ lòng”…

Học viên ngôi trường ấy đa phần đều là quí tử của những gia đình “danh gia vọng tộc” như ông Tôn Thất Hoàng là con của thượng thư Tôn Thất Quảng; ông Đặng Văn Việt, thân phụ làm tổng đốc Nghệ An, từng ba lần giữ chức thượng thư; ông Võ Sum là con quan án sát Võ Chuẩn; Lê Thiệu Huy (người sau này sang chiến đấu cùng Mặt trận Lào, làm tham mưu trưởng liên quân Lào – Việt, ông đã lấy thân mình che đạn cho hoàng thân Xuphanuvông khi mặt trận Thà Khẹt bị vỡ và hi sinh trên dòng Mekong) con trai cụ Lê Thước, giải nguyên Hán học; Hoàng Xuân Bình, em ruột giáo sư Hoàng Xuân Hãn; Nguyễn Thế Lương (tức Cao Pha) là con của một nhà thầu khoán lớn…

Vậy mà sau ngày cách mạng mùa thu năm 1945, nhiều học viên Trường TNTT đã giác ngộ cách mạng, đi theo tiếng gọi của núi sông và trở thành những sĩ quan, tướng lĩnh tài ba của quân đội nhân dân VN (QĐNDVN) như trung tướng Cao Văn Khánh, phó tổng tham mưu trưởng QĐNDVN; thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm (Nguyễn Kèn), tư lệnh bộ đội tăng – thiết giáp; thiếu tướng Cao Pha, phó tư lệnh bộ đội đặc công; các thiếu tướng Mai Xuân Tần, Võ Quang Hồ, Đoàn Huyên, Phan Hàm, Đào Hữu Liêu… cùng nhiều sĩ quan cao cấp khác của quân đội.

Nhiều người nổi danh về tài đánh giặc như Đặng Văn Việt – trung đoàn trưởng trung đoàn 174 – mệnh danh là “đệ tứ quốc lộ đại vương” bởi những trận đánh do ông chỉ huy trên đường số 4 vùng Cao – Bắc – Lạng thời kháng Pháp. Nhiều người sau này chuyển sang dân sự là những giáo sư, tiến sĩ dạy tại các trường đại học danh tiếng.

Khung huấn luyện của trường bấy giờ có bốn người do ông Phan Tử Lăng làm giám đốc. Ông Lăng cũng là chỉ huy trưởng lực lượng bảo an Trung kỳ – cùng các ông Võ Lương, Lê Khánh Khang và Lê Đình Bân. Ông Phan Tử Lăng là thủ khoa khóa sĩ quan chính qui Pháp đầu tiên, cùng khóa với tổng thống Dương Văn Minh của chính quyền Sài Gòn.

Ông Vĩnh Mẫn (người ngồi giữa, hàng thứ hai) trong những ngày đầu tham gia cách mạng, người đầu tiên bên trái cạnh ông Vĩnh Mẫn là ông Trần Chí Hiền, tỉnh đội trưởng đầu tiên của Thừa Thiên - Huế sau Cách mạng Tháng Tám - Ảnh tư liệu gia đình của ông Vĩnh Mẫn

Sau này tham gia cách mạng, ông Phan Tử Lăng là đại tá, cục trưởng Cục Quân chính QĐNDVN, nổi tiếng liêm khiết được Bác Hồ khen ngợi. Trong số bốn thành viên “khung” của Trường TNTT ngày ấy có một người nay vẫn còn sống ở Huế, đấy là ông Lê Đình Bân.

Gia đình ông Lê Đình Bân vốn là một gia đình cách mạng lớn ở làng Triều Sơn Tây. Ngôi nhà của gia đình ông ở xã Hương Sơ, ngoại vi thành phố Huế, vốn là cơ sở của đồng chí Phan Đăng Lưu trước cách mạng. Ba ngày trước khi nổ ra tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 ở Huế, các đồng chí trong Ủy ban chỉ đạo khởi nghĩa do trung ương cử vào gồm Tố Hữu, Nguyễn Duy Trinh, Hồ Tùng Mậu cũng đã chọn ngôi nhà này làm trạm dừng chân.

Ông Lê Đình Bân năm nay đã 86 tuổi nhưng ký ức của thời trai trẻ vẫn chưa hề phai. Ông Bân kể: khi giáo sư Tạ Quang Bửu lập Trường TNTT, ngoài uy tín như một “thương hiệu” để chiêu sinh, giáo sư còn là thủ lĩnh của phong trào hướng đạo nên những thanh niên trí thức yêu nước rất ủng hộ.

Trong các buổi trang bị kiến thức về quân sự do ông giảng dạy, hay các buổi nói chuyện của luật sư Phan Anh với các học viên, giáo sư Tạ Quang Bửu đã tạo điều kiện đưa các tài liệu tuyên truyền về Việt Minh cho học viên đọc. Một nhóm học viên làm tổ chức Việt Minh nòng cốt trong Trường TNTT gồm năm người: Nguyễn Kèn (tức Nguyễn Thế Lâm), Lê Khánh Khang,Võ Quang Hồ, Đặng Văn Việt, Phan Hàm được lập ra và lấy tên là “’Việt Minh Thuận Hóa”.

Đến “người của hoàng gia”

Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Huế là đầu não của tập đoàn phong kiến ở VN, gia đình quan lại, hoàng gia… đều sinh sống và làm việc tại đây. Huế cũng là nơi đồn trú của quân đội Nhật lên đến 5.000 sĩ quan và binh lính do cố vấn tối cao Yokohama chỉ huy, đó là chưa kể hàng vạn lính khố xanh, khố vàng, khố đỏ… của hoàng gia triều Nguyễn, không ít người ngày đó cho rằng cuộc tổng khởi nghĩa ở Huế sẽ rất khó khăn. Thế nhưng…

Ông Lê Đình Bân sống lại với những hồi ức - Ảnh: L.Đ.D

Từ ngày 18-8, lực lượng khởi nghĩa đã giành được chính quyền ở Phú Lộc, rồi Phong Điền, Hương Thủy, Phú Vang… cũng thắng lợi như chẻ tre, vì có ai ngờ tỉnh có sáu huyện thì đã có bốn trưởng huyện là nội ứng của cách mạng!

Cho đến chiều 21-8, lực lượng tự vệ đã làm chủ tình hình vòng ngoài đồn Mang Cá và sáng 22-8 đã chiếm giữ bờ trái cầu Trường Tiền. Ngay chính vua Bảo Đại cũng rất hoang mang nhưng không thể làm được gì, vì chính trong hoàng tộc, hoàng gia đã có không ít người chọn đi theo con đường của dân tộc…

Ông Vĩnh Mẫn, năm nay đã 75 tuổi, sống ở Vĩ Dạ, những ngày tháng 8-1945 sôi sục ấy ông mới chỉ là một chú bé liên lạc 15 tuổi cho ủy ban khởi nghĩa. Vĩnh Mẫn là con trai thứ ba của cụ Bửu Trác (cụ Bửu Trác là cháu nội vua Hiệp Hòa) – thời vua Khải Định, cụ Bửu Trác là quan ngự tiền hộ giá, sau được thăng đến thống chế nhất phẩm (nhân vật thứ hai trong triều đình sau nhà vua). Nếu cơ cuộc bấy giờ xoay khác đi, rất có thể cụ Bửu Trác đã nối ngôi vua sau khi vua Khải Định qua đời và ông Vĩnh Mẫn đã là hoàng tử!

Theo ông Vĩnh Mẫn, không chỉ riêng ông mà cả người anh trai là Vĩnh Tập cũng tham gia cách mạng rất sớm, gia nhập đơn vị tiếp phòng quân Huế và hi sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ Huế khi Pháp tái chiếm (1947) lúc vừa tròn 20 tuổi. Sau này những người cùng thời kể lại rằng đại tướng Nguyễn Chí Thanh hồi ấy rất yêu mến và quan tâm đến Vĩnh Tập, bởi phẩm chất thông minh và sự nhiệt tình trong hoạt động của chàng trai hoàng tộc đi theo cách mạng…

Lịch sử luôn có những điều thật thú vị. Ông Tôn Thất Hoàng, con trai quan thượng thư Tôn Thất Quảng, nhớ lại: là đại diện của hoàng tộc triều Nguyễn nhưng những ngày tổng khởi nghĩa chính ông lại được cách mạng tin tưởng cử đi bảo vệ đoàn đại diện chính phủ từ Hà Nội vào tiếp nhận kim ấn nặng 10kg vàng ròng và chiếc trường kiếm với bao kiếm bằng vàng nạm ngọc – biểu tượng quyền lực tối cao của hoàng gia. Ông Trần Huy Liệu, đại diện chính quyền nhân dân, trực tiếp nhận báu vật này từ tay hoàng đế cuối cùng của nhà Nguyễn trong sự bảo vệ cẩn mật của hoàng tộc!…

Rất nhiều câu chuyện như thế của 60 năm về trước bây giờ nghe kể lại cứ như thấy trước mắt mình hình ảnh của những con người trẻ tuổi, bất kể hoàn cảnh xuất thân. Họ từ bỏ cuộc sống nhung lụa của hoàng gia, hoàng tộc, quan quyền đi theo ngọn cờ độc lập. Và cách mạng chính là mối tình đầu của cuộc đời họ!

Đối với thần dân đất kinh thành Huế, những câu chuyện kỳ lạ về những ngày cướp chính quyền thật không thể nào quên vì mỗi số phận con người đều ẩn chứa một phần lịch sử…

LÊ ĐỨC DỤC

——————————-

Bài 1: Chung một bóng cờ…
Bài 2:Lên đường!

——————————

Kỳ sau: “Mỗi số phận chứa một phần lịch sử…”

tuoitre.vn

Tuổi 20 cho Ngày độc lập (Kỳ 2)

Lên đường!

Lực lượng Việt Minh và nhân dân Hà Nội chiếm phủ khâm sai ngày 19-8-1945

TT – Cuộc tổng khởi nghĩa 19-8-1945 – Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới, đưa lịch sử dân tộc đi tới con đường độc lập – con đường tự do. Mùa thu năm ấy, cuộc lên đường của những người trong độ tuổi 20…

Phút “giao thừa” độc lập

Trong cuốn Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám – Đoàn thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu, NXB Lao Động – 1999, ông Nguyễn Khang, nguyên chủ tịch Ủy ban Mặt trận khởi nghĩa Hà Nội, viết: “Phong trào cứu quốc những ngày tháng tám đã lên cao tới mức không thể tưởng tượng được và người Hà Nội ai cũng xem mình là Việt Minh. Các hoạt động gần như công khai.

Lúc này trung ương đang mở đại hội quốc dân ở Tân Trào nên nếu có chỉ thị thì cũng phải đợi một thời gian nữa mới tới. Nhưng thời cơ đã tới và không đợi chúng ta. Hơn nữa chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã là cẩm nang mở cho Hà Nội hành động. Đúng ngày 15-8 xứ ủy mở cuộc họp tại làng Vạn Phúc, Hà Đông (lúc này phần lớn lãnh đạo xứ ủy đã đi họp ở Tân Trào). Cuộc họp nhận định tình hình và kết luận đây là thời cơ có một không hai để khởi nghĩa cướp chính quyền.

Xứ ủy quyết định: thành lập Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội để chỉ đạo công việc chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa ở Hà Nội. Lúc này quân Nhật ở Hà Nội khoảng hơn 1 vạn. Lực lượng của ta chỉ có ba chi đội tự vệ hơn 700 người, vũ khí thô sơ và mới qua vài lớp huấn luyện quân sự cấp tốc. Tuy nhiên phong trào quần chúng, các tổ chức Việt Minh đoàn thể thì rất mạnh và đã tập dượt qua nhiều lần…”.

Ngày 17-8-1945 chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mittinh ra mắt quốc dân hòng “sơn phết” lại chính quyền bù nhìn. Chúng ta đã lường trước và âm thầm tổ chức lực lượng nòng cốt cướp diễn đàn mittinh này và biến thành ngày hội của quần chúng với cờ đỏ sao vàng. Tại đây đội danh dự đưa ra sáng kiến biến mittinh thành cuộc tuần hành ủng hộ Việt Minh.

Thế là theo hướng dẫn của các đội tự vệ, quần chúng xếp thành hàng ngũ đi từ Nhà hát lớn qua phố Tràng Tiền, rẽ sang Đinh Tiên Hoàng với những tiếng hô vang dậy “Ủng hộ Việt Minh!”, “Đả đảo chính phủ bù nhìn!”. Đi đến đâu bà con tham gia đến đó. Ngay cả lính bảo an của chính phủ bù nhìn cũng ôm súng nhập vào đoàn biểu tình. Trước không khí đó, cuộc họp “hội đồng tư vấn Bắc kỳ” của chính phủ Trần Trọng Kim đang tổ chức ở nhà Khai Trí – Tiến Đức tan tác như ong vỡ tổ.

Đoàn biểu tình chia thành nhiều mũi đi vào khắp các phố lớn, đến tận 9-10g đêm mới giải tán. Cuộc tuần hành này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cho ngày tổng khởi nghĩa 19-8. Nó bộc lộ và khẳng định sức mạnh vũ bão của quần chúng cách mạng. Ngay đêm đó Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội họp khẩn cấp và kết luận: thời cơ khởi nghĩa đã chín muồi!

Ông Trần Quang Huy, nguyên chủ tịch Ủy ban Nhân dân cách mạng Hà Nội, nói về kế hoạch khởi nghĩa như sau: “Chúng tôi huy động hàng chục vạn quần chúng có lực lượng vũ trang làm xung kích, tiến hành mittinh ở quảng trường Nhà hát lớn, sau đó tuần hành thị uy xông lên chiếm những cơ quan trọng yếu là phủ khâm sai, tòa thị chính, trại bảo an binh, ty liêm phóng, sở cảnh sát Hàng Trống, kho bạc và bưu điện. Đối với Nhật, ta không đánh chiếm những nơi chúng đóng quân nhưng đề phòng trường hợp chúng gây hấn, ta cướp vũ khí, vừa đánh vừa rút ra ngoại thành chiến tranh du kích đợi quân giải phóng về”.

Ông Trần Quang Huy nhớ lại: ngày 18-8, không khí khởi nghĩa rạo rực và bùng phát ở khắp các vùng ngoại thành, tại các nhà máy công xưởng. Nhiều chủ cai, thầy ký còn phối hợp với ta tiếp quản cho nhanh. Anh em công nhân rầm rộ giương cờ đỏ sao vàng chạy qua mũi quân Nhật, bọn chúng cũng chỉ biết thúc thủ đứng nhìn.

Còn ông Thái Mỹ (tổ trưởng một tổ Việt Minh tiền cách mạng), nay đã 81 tuổi nhưng ông chẳng thể nào quên cái đêm hôm ấy: “Đêm giao thừa của kỷ nguyên độc lập hình như cả Hà Nội không ngủ. Những tiếng nói cười, tiếng máy khâu may cờ xè xè hối hả khắp nơi, tiếng thử súng, tiếng mài gươm suốt đêm. Chúng tôi có cảm giác như cả Hà Nội đã chờ đợi ngày này từ trăm năm rồi. Nhiều tốp thanh niên nam nữ tập hát Tiến quân ca, những kế hoạch cuối cùng cho ngày mai – ngày rạng đông độc lập cứ sôi sục mãi suốt đêm thâu…”.

Ngày cách mạng!

Sáng sớm 19-8-1945 các đường phố Hà Nội đã tràn ngập cờ đỏ sao vàng! Tất cả nhà máy, công sở, chợ búa, cửa hiệu, trường học đều đóng cửa. Thậm chí cả ôtô, xe điện, xe kéo, xe đạp cũng không có chiếc nào, trên đường là từng dòng thác người với cờ, biểu ngữ, vũ khí thô sơ hay công cụ lao động rầm rập tiến về quảng trường Nhà hát lớn. Dòng người vừa đi vừa hô khẩu hiệu ủng hộ Việt Minh hoặc hát Tiến quân ca.

Ông Thái Mỹ nhớ lại: “Tổ Việt Minh chúng tôi chịu trách nhiệm dẫn một đoàn đi từ khu Năm Diệm (Giảng Võ) ra Nhà hát lớn. Dẫn đầu là hai thanh niên Lê Văn Cử và Thái Vĩnh cùng giương cao biểu ngữ. Ông Thái Mỹ thì cầm khẩu súng ngắn chỉ huy bên cạnh. Khoảng hơn 100 thanh niên tự vệ Việt Minh đi theo cùng hàng vạn quần chúng với cờ, biểu ngữ và những tiếng hô dậy đất “Ủng hộ Việt Minh!”, “Việt Nam độc lập!”…

Bà con hai bên đường gia nhập đoàn ngày một đông. Tinh thần anh em thanh niên hưng phấn tột độ. Mũi của ông Thái Mỹ phụ trách đi qua Hàng Gai – phố nhà ông ở. Và ông được hưởng niềm hạnh phúc tột cùng: cha mẹ, bà con, hàng xóm nhà mình đứng đầy hai bên đường đã thấy ông cầm súng dẫn đầu đoàn quân cách mạng…

Ra đến Nhà hát lớn ông Nguyễn Huy Khôi bước ra đọc lời hiệu triệu toàn thể quốc dân đứng lên giành độc lập. Tiếng hô vang dậy một góc trời. Cuộc mittinh chuyển sang tuần hành thị uy, chia làm hai khối lớn. Một: chiếm phủ khâm sai, tòa thị chính, bưu điện, kho bạc và sở cảnh sát Hàng Trống; hai: chiếm trại bảo an binh, sở liêm phóng và nhà pha Hỏa Lò.

Tại phủ khâm sai, hai đại đội bảo an binh được lệnh chốt giữ, chĩa nòng súng vào lực lượng cách mạng. Nhưng cũng tại đây ta đã có nhiều cảm tình cài sẵn. Ta vừa biểu tình thị uy, vừa kêu gọi binh lính quay súng trở về với nhân dân. Viên chỉ huy đang lúng túng lo sợ thì một số thanh niên tự vệ đã trèo hàng rào nhảy vào.

Tất cả binh lính đều bó tay qui hàng giao nộp vũ khí. Tự vệ ùa vào sân hạ cờ giặc, kéo cờ đỏ sao vàng, bắt giam một số tên cầm đầu và thu vũ khí trang bị cho tự vệ. Còn tại trại bảo an binh thì gặp rắc rối: ta cướp súng lính canh, phá cửa tiến vào, thu vũ khí thì lính Nhật ào đến với bốn xe tăng gắn đại liên. Chúng đòi trả lại trại và tước vũ khí của ta.

Bà Minh Tâm kể: lực lượng nữ được tung ra, chị em nữ sinh kéo đến vây lấy xe tăng Nhật. Một mặt ta bao vây thị uy, một mặt ủy ban cử người đến nói chuyện với chỉ huy quân Nhật. Sự kiện này được ghi lại theo hồi ức của ông Lê Trọng Nghĩa, ủy viên ủy ban khởi nghĩa, trong cuốn 19-8 cách mạng là sáng tạo như sau: “Tôi lấy chiếc xe Limousine đen của phủ khâm sai cắm cờ đỏ sao vàng rồi tiến thẳng xuống đường Hàng Bài, thuộc khu vực Nhật kiểm soát.

Dừng trước cổng rạp Majestic (nay là rạp Tháng Tám) và đòi gặp viên chỉ huy, tôi nói với viên sĩ quan: “Trại bảo an binh thuộc quyền phủ khâm sai người Việt, mà người Nhật sắp về nước rồi nên đừng can thiệp vào nội bộ chúng tôi”. Viên sĩ quan không có vẻ hung hăng như trước mà chỉ nói: “Các ông phải nói chuyện với cấp trên của chúng tôi” rồi quay vào. Thế là khoảng 3-4 giờ chiều xe tăng Nhật rút lui…”.

Ông Lê Tuấn không thể nào quên ngày trọng đại đó: “Thấy bọn Nhật lê ủng quay về, quần chúng hò reo vang dậy. Họ ùa sát hàng rào sắt nắm lấy tay anh em tham gia chiếm giữ trại lính. Một cụ già khăn xếp áo sa dài tay chống ba toong cố len đến hàng rào thò bàn tay gầy run rẩy nắm tay anh em và móm mém nói: “Hậu sinh khả úy! Việt Minh vạn tuế! Việt Minh vạn tuế!”. Các chị, các mẹ chở cơm bằng xe tay vào cho lực lượng cách mạng. Mọi người chia nhau những nắm cơm chấm muối. Những nắm cơm ngày ấy có mùi vị khác hơn bao ngày, bởi đó là những miếng cơm đầu tiên mọi người được thụ hưởng trong không khí tự do…

Năm ngày sau khi Hà Nội khởi nghĩa thành công, người dân đất kinh thành Huế cũng đã đứng lên cướp chính quyền. Trong số họ có cả những hoàng thân quốc thích, con quan đại thần, tổng trấn… Và ngôi trường võ bị do chính phủ bù nhìn thân Nhật lập nên cũng chính là “lò” cung cấp thủ lĩnh quân sự cho cách mạng…

QUANG THIỆN

—————————-

Bài 1: Chung một bóng cờ…

—————————-

Kỳ sau: Những “giải phóng quân” đặc biệt!

tuoitre.vn