Thư viện

Lời Bác Hồ dạy năm xưa

Năm mươi năm có lẻ đã qua đi nhưng những lời Bác dạy mộc mạc ấy đã làm kim chỉ nam dẫn đường cho chúng tôi đi trong suốt cuộc đời. Làm theo lời Bác từ lúc còn trai trẻ, đến nay đã thuộc lớp người xưa nay hiếm. Chúng tôi tự hào là đã cả cuộc đời học hành. Học ở nhân dân để rồi phục vụ nhân dân. Trong số chúng tôi có người đã trở thành Giáo sư, là chuyên gia đầu ngành như Đặng Anh Đào, Nguyễn Đình Chú, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thái Hoà…

Vào một buổi sáng chủ nhật tháng 4 năm 1956 trời mưa. Mưa mỗi lúc một thêm nặng hạt. Đường đi lối lại trong Việt Nam học xá (xưa là Đông Dương học xá – bây giờ là trường Đại học Bách Khoa – phường Bách Khoa – Hà Nội) lầy lội. Sinh viên chúng tôi sau khi tập thể dục lại leo lên giường “tụng niệm”…

Không khí trong các phòng im ắng. Bỗng tiếng loa vang vọng với một tin ngắn gọn: “Tất cả sinh viên tập trung tại tiền sảnh nhà A1 để đón khách Trung ương” (Cả khu Việt Nam học xá lúc ấy có hai nhà cao tầng là nơi ở của sinh viên Việt Nam và hai nhà hai tầng nhỏ là nơi ở của sinh viên Lào – Campuchia thời Pháp thuộc).

– Khách ở Trung ương là ai? Trời lại mưa? Lại vào ngày chủ nhật?

Bọn sinh viên chúng tôi đoán già đoán non. Người thì bảo: Bộ trưởng Bộ đại học Hồ Đắc Di, người thì bảo: Giáo sư – Hiệu trưởng Phạm Huy Thông v v… Cũng có người bảo: Biết đâu khách Trung ương lại là Bác Hồ… Nửa tin nửa ngờ: Cũng có thể… Bọn mình mong gặp Bác nhưng Bác bận trăm ngàn công việc và trong chốc lát chúng tôi đã xếp hàng trước tiền sảnh nhà A1.

Cùng lúc ấy hai ba chiếc xe con màu sơn đã nhạt nhoà từ từ tiến vào Việt Nam học xá rồi dừng lại. Từ xe thứ nhất bước ra là Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên, Giám đốc VNHX Hoàng Vi Nam, từ xe thứ hai một cụ già mảnh khảnh bước ra với mái tóc trắng đầy sương tuyết… Người đó là Bác Hồ.

Chúng tôi, chẳng ai bảo ai, tất cả reo to: Bác Hồ! Hồ Chí Minh muôn năm! Miệng hô và chân chạy thật nhanh, tất cả ùa ra đón Bác. Mấy đồng chí cảnh vệ đi theo Bác chẳng làm thế nào ngăn được. Bác đi rất nhanh, giơ tay vẫy chào rồi thoắt một cái Bác đã rẽ ra lối sau của ngôi nhà A1 và bước nhanh lên cầu thang. Bác cùng hai Bộ trưởng thăm hỏi nơi ở của chúng tôi.

Sau ít phút chờ đón Bác ở tiền sảnh, bỗng lại có tiếng reo to: Bác Hồ! Bác Hồ! Theo hướng tay chỉ, chúng tôi quay lại phía cầu thang sau nhà A1, Bác Hồ bước ra tươi cười vẫy chào chúng tôi. Như có một lực hút, tất cả chúng tôi ùa lại vây quanh Bác, ai cũng muốn được gần Bác nhất. Bác dừng lại ngay bên bậc thềm có hệ thống vòi nước dành cho sinh viên tắm giặt. Câu đầu tiên Bác bảo:

– Tri thức là vốn quý của đất nước. Các cháu phải cố gắng học tập. Việc học giống như cái thang không có nấc cuối cùng.

Bác dừng lại hỏi:

– Học có khó lắm không?

Chúng tôi đồng thanh:

– Thưa Bác khó ạ!

Với thái độ ân cần, Bác nhắc tới câu ngạn ngữ Trung Quốc: “Học như bơi thuyền ngược nước, không tiến sẽ phải lùi”. Nói đến đây Bác dừng lại trong giây lát và hỏi tiếp:

– Các cháu học ở đâu?

Chúng tôi mỗi người trả lời một cách, một ý. Tỏ ý hài lòng Bác nhắc:

– Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Không học ở nhân dân là một thiếu sót lớn, nhưng học phải có phương pháp. Về cách học phải lấy tự học làm cốt, học để hành, hành để học.

Xoay quanh việc học, Bác nhấn mạnh tới việc tự học, bởi theo Bác tự học là con đường để đi tới thành công.

Nhưng điều Bác quan tâm hơn có lẽ là mục đích của sự học. Bác nêu vấn đề:

– Học để làm gì?

Chúng tôi đồng thanh thưa:

– Học để phục vụ nhân dân.

Với đôi mắt sáng, trìu mến Bác nhấn mạnh:

– Học không phải để làm quan. Không có quan cách mạng. Học không phải để làm ông này bà nọ, để một người làm quan cả họ được nhờ, để móc túi dân. Các cháu học để làm thầy, để dạy người nên càng phải trau dồi quan điểm vì dân. Ví như dân thiếu nước thì phải làm gì?

Chúng tôi đồng thanh trả lời: Thưa Bác, phải đào giếng ạ! Tưởng mọi việc đã xong. Nhưng câu trả lời đúng mà chưa đủ nên Bác gặng hỏi:

– Còn phải làm gì nữa?

Bọn chúng ngơ ngác ai nấy nhìn nhau. Trong lúc tất cả còn đang lúng túng thì có tiếng trả lời:

– Thưa Bác phải lọc nước ạ!

Bác lại một lần nữa đưa mắt nhìn khắp lượt chúng tôi rồi nhỏ nhẹ chỉ bảo:

– Có nước sạch rồi phải đưa nước tới tay nhân dân. Nhân dân ta còn nghèo. Nghèo đi với hèn. Nghèo đã khổ, nhưng khổ hơn là bị áp bức. Miền Bắc hạnh phúc hơn là được tự do, độc lập, còn đồng bào Miền Nam…

Nói đến Miền Nam giọng Bác trầm hẳn xuống, Bác nghẹn ngào:

– Miền Bắc phải chuẩn bị cho miền Nam. Các cháu miền Nam tập kết ra Bắc may mắn được học tập dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, đó là một vinh dự. Vinh dự lớn và trách nhiệm thật nặng nề, các cháu có nhiệm vụ tiếp nhận có chọn lọc vốn văn hoá đa chiều trong vùng địch kiểm soát để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam mang bản sắc dân tộc.

Một câu trả lời hoà trộn giọng Bắc và giọng Nam lại đồng thanh:

– Dạ! Vâng!

Đôi mắt Bác cười, Bác hỏi:

– Các cháu có hỏi thêm gì không?

Tất cả lại đồng thanh:

– Thưa Bác không ạ!

Câu trả lời của chúng tôi vừa dứt thì Bác giơ tay vẫy và chân đi thoăn thoắt về phía xe ôtô. Chúng tôi chạy theo tiễn Bác đồng thanh hô to:

– Hồ Chí Minh muôn năm! Bác Hồ muôn năm!

Năm mươi năm có lẻ đã qua đi nhưng những lời Bác dạy mộc mạc ấy đã làm kim chỉ nam dẫn đường cho chúng tôi đi trong suốt cuộc đời.

Làm theo lời Bác từ lúc còn trai trẻ, đến nay đã thuộc lớp người xưa nay hiếm. Chúng tôi tự hào là đã cả cuộc đời học hành. Học ở nhân dân để rồi phục vụ nhân dân. Trong số chúng tôi có người đã trở thành Giáo sư, là chuyên gia đầu ngành như Đặng Anh Đào, Nguyễn Đình Chú, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thái Hoà…

Họ đã đóng góp đáng kể cho nền văn học Việt Nam và sự nghiệp giáo dục của đất nước. Hơn 100 sinh viên khoa Văn chúng tôi ngày ấy đều đã làm thầy, đã tạo nên biết bao nhân tài cho đất nước… Cũng có nhiều học sinh trưởng thành trên con đường chính trị, họ là các Thứ trưởng, Bộ trưởng, nhiều người đã thành nhà giáo ưu tú và nhiều người đã ngã xuống nơi chiến trường để Bắc Nam xum họp một nhà.

Hạnh phúc của những người làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là học để phục vụ nhân dân một cách tự nguyện, tự giác. Thế hệ chúng tôi đã nói là làm, là có trách nhiệm nên được dân tin dân mến. Đó chẳng phải là hạnh phúc lớn nhất của một con người, một đời người đó chăng?

(Theo GD&TĐ)

vnmedia.vn

Bác Hồ dạy thực hành tiết kiệm

 

Bác Hồ là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước thương dân, về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư để chúng ta học tập noi theo. Lối sống giản dị, trong sáng tiết kiệm của Bác Hồ có lẽ không ai sánh bằng. Sau đây là những mẩu chuyện của các đồng chí lãnh đạo lão thành vinh dự được phục vụ và bảo vệ Bác Hồ kể về nếp sống giản dị và tiết kiệm của Bác.

 

Hũ gạo chống đói

Sau khi giành được chính quyền cách mạng về tay nhân dân, đất nước ta đứng trước nạn đói vô cùng nghiêm trọng. Trên một triệu người dân kiệt sức vì đói. Trước tình hình đó, tại phiên họp Hội đồng Chính phủ đầu tiên ngày 3/9/1945, Bác nêu lên 6 vấn đề cấp bách nhất, trong đó Người phát động phong trào tăng gia sản xuất để chống nạn đói.

Trong khi chờ đợi thu hoạch ngô, khoai (khoảng ba, bốn tháng) sẽ mở một cuộc quyên góp. Mười ngày một lần, tất cả đồng bào nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn ba bữa (mỗi bữa một bơ gạo). Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại phát cho người đói. Bác thực hiện đúng như vậy và tới lấy phần gạo của mình, tự tay đổ vào hũ gạo chống đói.

Một hôm, đúng vào bữa cơ quan nhịn ăn gom gạo thì Tiêu Văn (Tiêu Văn là Trưởng ban Chính trị Quân đội Tưởng Giới Thạch) mời Bác đến dự chiêu đãi. Khi Bác về anh em trong cơ quan báo cáo đã đem phần gạo của Bác đổ vào hũ gạo chống đói rồi. Bác vẫn quyết định nhịn ăn một bữa vào ngày hôm sau.

Cái gì dùng được nên dùng, bỏ đi không nên

Bác sống rất giản dị, thanh bạch, ăn uống chi tiêu bao giờ cũng rất tiết kiệm. Chiến sĩ Cảnh vệ chúng tôi được ở gần Bác không thấy Bác lãng phí một thứ gì.

Ngày ở chiến khu, có đôi tất rách đã vá đi vá lại mấy lần thế mà Bác không bỏ, cũng không dùng tất mới. Bác nói: “Cái gì dùng được nên dùng, bỏ đi không nên…”. Có một cái tất bị rách chưa kịp vá, chúng tôi đưa đôi tất mới để Bác dùng, nhưng Bác vẫn không đồng ý, Bác xoay chỗ rách vào bên trong rồi cười xí xóa: “Đấy! Có trông thấy rách nữa đâu?”.

Lời nói và việc làm của Bác làm chúng tôi thật xúc động. Một vị lãnh tụ tối cao thế mà cuộc sống giản dị như những người dân lao động vậy!

Ai cho các chú may thêm

Bác Hồ mặc rất giản dị, Người chỉ có hai bộ quần áo kaki dùng khi tiếp khách. Ở nhà Bác thường mặc bộ bà ba. Có lần Bác đi thăm nước bạn, nhân dân yêu quý họ tung hoa làm áo Bác bị ố, giặt là không kịp. Các đồng chí phục vụ đã may thêm một bộ giống như bộ Bác đang dùng nhưng không cho Bác biết. Tuy đã giặt nhiều lần cho cũ đi nhưng khi mặc Bác vẫn phát hiện ra đó là quần áo mới may. Bác phê bình ngay: “Ai cho các chú may thêm, Bác chỉ cần hai bộ. Nhân dân ta còn đang thiếu vải mặc, Bác dùng như vậy là đủ rồi”.

Thấy trời nóng mà khi tiếp khách Bác vẫn mặc áo bằng vải kaki, anh em phục vụ đề nghị Bác cho may hai chiếc sơ mi để Bác thay đổi cho đỡ nóng. Bác nói: “Tiếp khách mà mặc áo đại cán là tôn trọng khách rồi, không cần dùng áo sơ mi nữa”. Quả thật Bác không có áo sơ mi. Ngoài hai bộ kaki quen thuộc, Người chỉ còn một bộ áo len dạ do Chính phủ Tiệp Khắc tặng. Bác thường dùng khi đi thăm các nước xứ lạnh.

Một mình Bác ở như vậy là vừa rồi

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi, Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao cùng các cơ quan Trung ương, Chính phủ rời căn cứ Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng.

Những ngày đầu về Thủ đô, Bác ở và làm việc tại một ngôi nhà trong nhà thương Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội). Đến tháng 12/1954 thì Trung ương mời Bác Hồ về khu Ba Đình và ở Phủ Chủ tịch (ngôi nhà Phủ toàn quyền cũ) để tiện chủ trì các cuộc họp của Chính phủ, tiếp khách trong nước và nước ngoài.

Khi nghe Trung ương báo cáo ý định này, Bác đến xem trước. Khi xem ngôi nhà, Người khen to và đẹp nhưng quyết định không ở và cho tu sửa lại căn nhà ba gian gần bờ ao cách Phủ Chủ tịch khoảng 300 mét để ở. Căn nhà này vốn là nơi ở của người thợ điện làm việc cho chế độ cũ. Người nói: “Một mình Bác ở như vậy là vừa rồi, lại gần Phủ Chủ tịch nên khi hội họp, tiếp khách đi bộ sang cũng tiện”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh lưu niệm với cán bộ, chiến sĩ Công an bảo vệ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  III của Đảng (năm 1960).

Hãy mang đến cho các chú thương binh

Thời gian Bác Hồ ở ngôi nhà của người thợ điện phục vụ trong Phủ Toàn quyền cũ, phòng ở hẹp nên mùa hè rất nóng. Bác Hồ thường dùng chiếc quạt làm bằng lá cọ. Anh em ở Bộ Ngoại giao thương Bác ở nóng bức nên đã mua biếu Bác chiếc máy điều hòa nhiệt độ.

Nhân một hôm Bác đi công tác, anh em phục vụ cho lắp máy điều hòa vào phòng của Bác. Vừa về đến nhà, bước chân vào phòng, Bác đứng lại hỏi đồng chí Cảnh vệ: “Này chú! Hôm nay nhà mình có mùi gì “hôi” quá” (chả là khi lắp chiếc máy điều hòa các đồng chí phục vụ còn để lọ nước hoa khô cho thơm phòng). Biết không giấu được Bác, các đồng chí phục vụ phải trình bày lý do về chiếc máy điều hòa.

Không thấy Bác nói gì, mọi người ai nấy đều vui mừng. Nhưng chỉ đến buổi chiều, Bác gọi đồng chí phục vụ đến, Người nói: “Các chú hãy mang chiếc máy điều hòa này cho anh em thương binh ở Hàng Bột. Hôm Bác đến thăm thấy các chú ấy ở nóng lắm. Còn Bác thì chưa cần”.

Thế là ngay chiều hôm ấy anh em phục vụ phải chuyển chiếc máy điều hòa cho anh em thương binh theo yêu cầu của Bác.

Ai thích sang thì đi xe mới

Từ ngày về tiếp quản Thủ đô, Bác vẫn dùng chiếc xe Pô-vê-đa để đi lại. Đây là quà của Chính phủ Liên Xô tặng Bác. Chiếc xe dùng lâu đã cũ. Anh em phục vụ định đổi chiếc khác mới và tốt hơn. Thấy vậy, Bác hỏi: “Xe Bác đang dùng đã hỏng chưa?” Đồng chí lái xe báo cáo thật với Bác, xe chưa hỏng nhưng muốn đổi xe khác tốt hơn để đi nhanh Bác đỡ vất vả. Bác nói luôn: “Thế thì chưa đổi, ai cần đi nhanh thì dùng xe khác, ai thích sang thì đi xe mới, còn Bác vẫn dùng xe này vì nó chưa hỏng”.

Tuy vậy, anh em lái xe vẫn muốn đổi xe mới để Bác dùng. Một hôm các đồng chí phục vụ bàn với đồng chí lái xe, lúc đánh xe đưa Bác đi công tác thì cố gắng làm cho xe trục trặc không nổ máy được. Đồng chí lái xe trình bày với Bác lý do vì xe cũ nên nóng máy là không nổ được. Bác vẫn không đồng ý đổi xe mới. Bác ân cần căn dặn lái xe: “Lần sau chú phải sửa chữa cho cẩn thận kẻo nhỡ việc của Bác”.

Thế là chiếc Pô-vê-đa cũ kỹ ấy, Bác dùng cho đến ngày Bác đi xa.

Theo thanhnienviet.vn

hcmpc.com.vn

“Trung với Đảng, hiếu với dân…”!

Ngày 22.12.1964, nhân dịp kỷ niệm quân đội ta tròn 20 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và khen ngợi “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Người khẳng định: Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, được sự giúp đỡ hết lòng của nhân dân, quân đội ta hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ trao cho, chiến đấu anh dũng, công tác và lao động tích cực, tiết kiệm, cần cù, khiêm tốn giản dị, đoàn kết nội bộ, đồng cam cộng khổ với nhân dân…

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ có lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, mà dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội ta còn làm tròn chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sản xuất, Người nói: “Quân đội ta là quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng. Mới ra đời với gậy tầm vông, súng kíp đã cùng toàn dân đánh Pháp, đánh Nhật, đưa cách mạng tháng Tám đến thành công”. Bác còn chỉ rõ là quân đội cách mạng phải biết vượt qua khó khăn thử thách, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. “Bộ đội ta là bộ đội nhân dân, bộ đội cách mạng có truyền thống anh dũng, khắc khổ, kiên nhẫn, cần cù, chất phác, việc khó khăn nguy hiểm mấy cũng không sợ, nhất định làm cho kỳ được. Đó là truyền thống, đạo đức, tác phong tốt, phải luôn được giữ vững và phát triển”… – Người nhắc nhở.

Thực tiễn đã chứng minh trải qua hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lời khen của Bác đã trở thành lời thề danh dự của quân đội ta đối với Tổ quốc. Điều đó được thể hiện trong bất luận hoàn cảnh nào, Quân đội nhân dân Việt Nam cũng luôn luôn một lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng của Đảng, luôn giương cao ngọn cờ bách chiến, bách thắng, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng cao cả của Đảng, của giai cấp, của dân tộc. Quân đội ta đã cùng với toàn dân hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vươn lên chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, bảo vệ thành quả cách mạng, viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc, xây đắp nên truyền thống vẻ vang của quân đội anh hùng sinh ra từ một dân tộc anh hùng.

Thấm nhuần lời dạy của Bác đối với quân đội, hơn ai hết, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội ta thấy được vinh dự và tự hào, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Từ đó, luôn trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực, phương pháp, tác phong công tác theo tư tưởng và đạo đức của Người, góp phần xây dựng quân đội thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành tin cậy bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, như lời Người dạy.

  • Hoàng Quân

baobinhdinh.com.vn

“Dân là gốc”

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải thực hiện dân chủ với dân để phát huy tinh thần làm chủ của dân là cốt lõi của vấn đề “dân là gốc”. Người thường nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ”.

Biểu hiện trước hết của dân là gốc là phải tin ở dân, gần gũi dân, biết dựa vào dân. Muốn hoàn thành nhiệm vụ, muốn biến đường lối chủ trương của Đảng thành phong trào quần chúng, thành sức mạnh cách mạng thì Đảng phải có đường lối đúng đắn; cán bộ đảng viên “phải liên lạc mật thiết với dân chúng, xa rời dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”. Cán bộ, đảng viên còn phải học hỏi dân, “nếu không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân”, mà “muốn hiểu biết, học hỏi dân thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm”. Người cũng yêu cầu: người làm chủ trước hết phải làm tròn bổn phận công dân, tức là phải tuân theo kỷ luật lao động; giữ gìn trật tự chung; nộp thuế đúng kỳ, bảo vệ tài sản công cộng; bảo vệ Tổ quốc. “Phải chăm lo việc nước như việc nhà”, “phải biết tự mình lo toan gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”; “làm chủ sao cho ra làm chủ, không phải làm chủ là muốn ăn bao nhiêu thì ăn, làm bao nhiêu thì làm”.

Từ thực tiễn cuộc sống, Hồ Chí Minh lưu ý: “Bất kỳ nơi nào có quần chúng thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa vừa và hạng kém… Người lãnh đạo phải dụng hạng hăng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo, do hạng hăng hái đó mà nâng cao hạng vừa vừa và kéo hạng kém lên”. Phải học hỏi dân chúng, nhưng “không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”; phải “tìm ra mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau, xem cái nào đúng, cái nào sai” để vận dụng.

Do đó, thiết thực nhất của việc bồi dưỡng “cái gốc” là phải thường xuyên chăm lo đời sống cho dân, chăm lo lợi ích chính đáng của dân. Người thường nhắc tới những câu của người xưa “có thực mới vực được đạo”, “dân dĩ thực vi thiên”. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Đối với nhân dân không thể lý luận suông”. Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm lo đời sống của dân. Nếu “dân đói”, “dân rét”, “dân dốt”, “ dân ốm” là “Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm dân là gốc là quan điểm khoa học, toàn diện. Đó là sự kế thừa những tinh hoa dân tộc, là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

  • Hòa Thanh

baobinhdinh.com.vn

5 điều Bác dạy cán bộ

Lâu nay chúng ta hay nhắc đến “5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng” và hầu như đều thuộc từ lúc còn học ở bậc tiểu học. Phải nói rằng đó là những lời dạy thật chân tình, giản dị và vô cùng sâu sắc. Nó như một cẩm nang để các cháu thiếu niên nhi đồng làm theo và trở thành con ngoan, trò giỏi và công dân có ích cho đất nước.

Với đội ngũ cán bộ, Bác cũng có 5 điều căn dặn hết sức quý báu mà mỗi khi soi vào là một lần chúng ta có dịp nhìn nhận lại mình, tự răn mình để sống và làm việc tốt hơn. 5 điều này Bác Hồ nêu ra trong một cuộc nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa vào ngày 20.2.1947. Cụ thể như sau:

1. Mình đối với mình. Bác dặn “Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm”.

2. Đối với đồng chí mình. Bác nêu rõ: “Thân ái với nhau, nhưng không che đậy những điều dở. Học cái hay sửa chữa cái dở. Không nên tranh giành ảnh hưởng của nhau. Không nên ghen ghét đố kỵ và khinh rẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị…”.

3. Đối với công việc. Theo Bác: “Trước hết phải nghĩ cho kỹ, có việc làm trước mắt thành công nhưng thất bại về sau. Có việc địa phương này làm có lợi nhưng hại cho địa phương khác. Những cái như thế phải tránh…”. Bác đặc biệt lưu ý “Mỗi ngày lúc sáng dậy, tự hỏi mình ngày hôm nay làm gì? Tối đi ngủ phải tự hỏi mình ngày hôm nay đã làm gì?”…

4. Đối với nhân dân. Bác nhấn mạnh “Phải nhớ Đoàn thể làm việc cho dân, Đoàn thể mình mạnh hay yếu là ở dân”; do đó, người cán bộ phải hiểu dân cả về nguyện vọng, tâm lý, sự cực khổ… Đặc biệt là “Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân. Muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết”.

5. Đối với Đoàn thể. Bác hết sức lưu ý “Trước lúc mình vào Đoàn thể nào phải hiểu rõ Đoàn thể ấy là gì? Vào làm gì? Đoàn thể phải vì dân vì nước. Khi vào Đoàn thể, tự do cá nhân phải bỏ. Phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của Đoàn thể. Phải tuyệt đối trung thành”. Đặc biệt là phải “Hy sinh tính mạng, lợi quyền, giữ danh giá của Đoàn thể. Muốn giữ danh giá của Đoàn thể phải giữ danh giá mình. Không được báo cáo láo như làm thành một việc thì phóng đại, thất bại thì giấu đi…”.

Đã hơn 60 năm qua kể từ ngày Bác Hồ dạy cán bộ 5 điều kể trên. Tuy lời nói giản dị, mộc mạc nhưng ý nghĩa thì thật vô cùng sâu sắc. Nó vẫn còn nguyên giá trị đối với việc rèn luyện phẩm chất đạo đức và tác phong làm việc của người cán bộ, đảng viên trong hoàn cảnh hiện nay. Học tập và nghiền ngẫm những điều Bác dạy, mỗi cán bộ chúng ta càng hiểu mình phải làm gì để tốt hơn.

  • Hà Nhiên

baobinhdinh.com.vn

Nhớ lời Bác dặn: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua Dạy tốt, Học tốt”

65 năm đã qua đi (1045-2010) kể từ ngày Bác Hồ kêu gọi toàn dân chống nạn thất học, những chỉ dẫn của Người, niềm mong mỏi của Người là phải “làm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái” đã từng bước được thực hiện, và trong những kết quả đó, Dạy tốt, Học tốt vừa là nguồn động lực, vừa là mục tiêu của quốc sách giáo dục.

alt

Từ khi nước Việt Nam thân yêu còn đắm chìm trong đêm trường nô lệ, còn nhiều thuốc phiện, nhà tù hơn là trường học, Bác Hồ kính yêu đã đem theo khát vọng giải phóng dân tộc, đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi vòng tốt tăm dốt nát, vươn tới ánh sáng của văn minh, trở thành một dân tộc thông thái trong hành trang bôn ba tìm đường cứu nước của mình.

Thấu hiểu được rằng một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, và mù chữ thì đứng ngoài chính trị, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, trong phiên họp của Hội đồng Chính phủ, thay mặt Chính phủ lâm thời, Người đã nêu một trong sáu nhiệm vụ cấp bách phải làm ngay, đó là xoá nạn mù chữ. Xoá nạn mù chữ là bước khởi đầu của sự nghiệp nâng cao dân trí, để giúp mỗi người dân không chỉ biết đọc, biết viết, tiến đến “phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”. Động viên toàn dân tích cực hưởng ứng chiến dịch xoá mù, Người nói “các bạn cố gắng diệt cho hết giặc dốt trong một thời gian mau chóng” và càng ngày càng cố gắng thi đua diệt giặc dốt để tiến lên một bước nữa.

Đặt niềm tin vào thế hệ măng non, kỳ vọng rằng chính lớp người này ngày mai sẽ đưa dân tộc Việt Nam chiếm lĩnh dần những đỉnh cao tri thức của nhân loại, Bác Hồ đã nói với các em tâm nguyện của mình nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc 5 châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Không dừng lại ở lòng mong mỏi, Người thường xuyên động viên, thăm hỏi khuyến khích mọi người thi đua học tập, trau dồi kiến thức để có đủ năng lực làm chủ, xoá bỏ mặc cảm tự ti của thân phận nô lệ, mù chữ. Học tập để góp ích thiết thực cho độc lập, tự do, và học tập là yêu nước, nên Người luôn tự mình cố gắng học tập và đề nghị mọi người sẽ còn phải cố gắng nhiều hơn nữa trong học tập. Người cũng nói, công việc của cách mạng đòi hỏi mọi người phải luôn luôn cầu thị, vì trong công việc, những kiến thức mới sẽ giúp cho mỗi người “khi thành công thì phải nghiên cứu vì sao thành công để lấy kinh nghiệm, khi thất bại cũng sẽ xem xét tại sao thất bại để mà tránh đi”.

Phong trào bình dân học vụ phát triển, phương pháp dạy và học của Nhà nước Việt Nam mới cũng có nhiều thay đổi. Khác với phương pháp giáo dục nô dịch thực dân, chỉ đào tạo theo lối nhồi sọ, học lấy chút vinh hoa phú quý, thờ ơ với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân, hệ thống giáo dục quốc dân được xây dựng trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược, trong những năm miền Bắc xây dựng CNXH, đã thực sự tạo ra những cơ hội phát triển cho mỗi cá nhân và toàn xã hội. Đi đôi với việc mở mang các loại hình trường lớp từ nông thôn cho đến thành phố là phong trào thi đua dạy và học. Tại các nhà trường các thầy cô dạy học trò kiến thức mới, tinh thần yêu nước, học tập đời sống mới, tình đoàn kết tương trợ lẫn nhau… , giúp cho các em được tự do học tập và phấn đấu, giúp cho các em vốn tri thức, vốn văn hoá để trở thành những người hữu ích.

Ý thức sâu sắc được tầm quan trọng của dạy và học trong nền giáo dục của nước nhà, Bác Hồ nói rất rõ : “Trách nhiệm vẻ vang của người thầy là chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành những người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sỹ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”. Không thể có những người trò tốt nếu không có những người thầy tốt. Điểm cốt lõi của vấn đề là phải xây dựng cho được một đội ngũ những người thầy cô yêu trường và yêu nghề, tâm huyết với sự nghiệp trồng người. Dạy học đến Dạy tốt là cả một quá trình phấn đấu khổ luyện của người thầy. Và từ Học đến Học tốt cũng là một sự tự cố gắng, tự vươn lên của bản thân học trò. Cùng với việc tự học, có ý thức học tập, không thụ động nghe giảng, thụ động tiếp thu kiến thức của thầy cô của học sinh, thì những người thầy cô luôn tự mình trau dồi chuyên môn, tu dưỡng đạo đức, khi đứng trên bục giảng, ngoài trái tim người thầy, họ nhất định phải là tấm gương sáng cũng sẽ góp phần quan trọng vào thành công của phong trào thi đuaDạy tốt, học tốt. Hơn ai hết, chúng ta đều thấu hiểu rằng: Dạy tốt phụ thuộc rất nhiều vào nhân cách của người thầy, và nếu không có những người thầy miệt mài gắng sức, luôn xứng đáng là thầy giáo, lặng lẽ chăm sóc, uốn nắn những mầm non của đấy nước qua mỗt giai đoạn kế tiếp nhau từ mẫu giáo đến khi là người đã tốt nghiệp những trường dạy nghề, cao đẳng, đại học và trên đại học, thì không thể có những hiền tài, những nguyên khí của mỗi quốc gia theo đứng nghĩa của nó.

Cùng với những thành tựu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, nền giáo dục XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, đã làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các em, đã thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế, nhà trường, gia đình và xã hội đồng tâm, đồng hướng đào tạo của em thành những con người như mong muốn của Bác Hồ, để “thật thà phụng sự nhân dân”. Có thể nói, cùng với thời gian, lời căn dặn đầy tâm huyết của Bác Hồ nhân dịp bước vào năm học 1968 – 1969: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt học tốt” vẫn luôn là nguồn sức mạnh động viên người thầy và học trò trong sự nghiệp giáo dục. Và hơn bao giờ hết, chúng ta càng nhận thấy rõ rằng: muốn nâng cao chất lượng nền giáo dục nước nhà, muốn những kết quả đào tạo toàn diện của ngành giáo dục về văn hoá, chuyên môn, về lý tưởng, về nhân cách, kỹ năng sống, có trách nhiệm với chính bản thân mình và cộng đồng xã hội,v.v..”ngày càng đạt chuẩn” thì không thể không chú trọng, quan tâm đến phong trào thi đua Dạy tốt, học tốt tại các nhà trường, các giảng đường đại học, cao đẳng, …

65 năm đã qua đi (1945-2010) kể từ ngày Bác Hồ kêu gọi toàn dân chống nạn thất học, những chỉ dẫn của Người, niềm mong mỏi của Người là phải “làm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái” đã từng bước được thực hiện, và trong những kết quả đó, Dạy tốt, Học tốt vừa là nguồn động lực, vừa là mục tiêu của quốc sách giáo dục. Sự phát triển toàn diện, nhanh chóng cả về quy mô, loại hình, chất lượng đào tạo của ngành giáo dục đã góp phần nâng cao dân trí. Chiến lược con người cũng luôn là mối quan tâm bức xúc của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội. Đầu tư cho giáo dục, xã hội hoá công tác giáo dục đào tạo đã thực sự tạo ra những kết quả nhất định, bước đầu trong giáo dục nhà trường. Song chúng ta đều biết, mục tiêu đào tạo những con người có tài và có đức, để kế tiếp cha anh phục vụ Tổ quốc và nhân dân, sẽ luôn gắn liền với phong trào thi đua Dạy tốt, Học tốt tại các nhà trường.

Chế độ đãi ngộ đối với các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô giáo ở vùng xâu, vùng xa, những đổi mới về công tác đào tạo như đào tạo theo yêu cầu của địa phương, ưu tiên đầu vào và cả đầu ra cho con em đồng bào dân tộc thiểu số…. là rất thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tiễn. Cải cách giáo dục bao gồm cải cách về phương pháp dạy, phương pháp học, cải cách sách giáo khoa cho các bậc học, đặc biệt là giảm tải đối với học sinh tiểu học, xây dựng hệ thống trường, lớp chuẩn quốc gia, xã hội hoá công tác giáo dục nhà trường, tránh dạy thêm, học thêm, tránh chạy theo số lượng, chạy theo bệnh thành tích, v.v..sẽ là những điều kiện cần và đủ để thực hiện phong trào thi đua Dạy tốt, Học tốt tại các nhà trường.

Nói Dạy tốt, Học tốt là nền tảng của quốc sách giáo dục trong đường lối chiến lược của Đảng ta, vì Dạy tốt, Học tốt sẽ làm cho các em thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt hôm nay, để mai sau là những người công dân trung thành, những người cán bộ gương mẫu và người chủ của đất  nước, những người sẽ quyết định vị trí của dân tộc ta, đất nước ta trên trường quốc tế. Hiền tài là vốn quý của nước nhà, đào tạo hiền tài là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong chiến lược con người của toàn Đảng, toàn dân ta. Song hiền tài chỉ có được khi phong trào thi đua Dạy tốt, Học tốt tại các nhà trường phát triển cả về qui mô và chất lượng, khi mà mọi nguồn lực đầu tư cho giáo dục đều hướng đến mục đích: vì một dân tộc Việt Nam thông thái như mong muốn của Bác Hồ./.

Ths. Hà Uyên Hương
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia

nhoNguoicha

Tôi là người cộng sản như thế này này!

Bác Hồ của chúng ta, từ sau khi bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba tại Đại hội Tua Đảng Xã hội Pháp đêm 30-12-1920, thì cũng từ giờ phút ấy, Người trở thành người cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đồng thời cũng là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Từ người yêu nước trở thành người cộng sản, như Người đã nói rõ, là do trải qua thực tế đấu tranh và nghiên cứu lý luận, Người đã hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.

Trong gần 50 năm mang danh hiệu người cộng sản, khi thuận lợi, lúc khó khăn dù khi chỉ là một người thợ ảnh bình thường hay đã trở thành vị Chủ tịch nước đầy uy tín và danh vọng, ở buổi cách mạng thắng lợi giòn giã hay khi bị kẻ thù dồn dập phản kích, lúc nào Bác Hồ của chúng ta cũng tỏ ra là một người cộng sản kiên định, thuỷ chung, nghĩa khí, thắng không kiêu, bại không nản, vô cùng khiêm tốn nhưng cũng rất mực tự hào về danh hiệu người cộng sản của mình.

Đã có thời, có người quá nhấn mạnh phẩm chất siêu việt của người cộng sản, cho rằng đó là những người có một tính cách đặc biệt riêng. Không biết đó có phải là một trong những nguyên nhân đẻ ra cái gọi là “thói kiêu ngạo cộng sản” hay không?

Có điều chắc chắn rằng Bác Hồ của chúng ta không tán thành cách nói thậm xưng đó, nhất là khi Đảng cầm quyền, vào lúc cách mạng đang thuận lợi. Người nói: ”Đảng viên chúng ta là những người rất tầm thường, vì chúng ta đều là con của giai cấp công nhân của nhân dân lao động…Thế thôi. Chính vì chúng ta rất tầm thường cho nên Đảng ta rất vĩ đại”.

Người đã từng nói nhiều lần: Người cộng sản cũng là con người, nên có ưu, có khuyết, có tốt, có xấu.

”Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra”. ”Cũng như những người hàng ngày lội bùn mà trên mình họ có hơi bùn, vết bùn… Cần phải tắm rửa lâu mới sạch”. Vì vậy, Người dạy: Không phải cứ khắc lên trán hai chữ ”cộng sản” là được nhân dân tín nhiệm đâu; phải khiêm tốn, không hiếu danh, không kiêu ngạo, phải nhớ mình vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân.

Bác Hồ của chúng ta, trong cuộc đời hoạt động cách mạng đi Âu về Á, đã từng đối mặt với bao gian khổ, khó khăn (hai lần ngồi tù: 1931-1933 và 1942-1943), đã từng lãnh án tử hình vắng mặt (năm 1929); nhưng vì tin vào lý tưởng, tin vào nhân dân, tin ở chính mình nên lúc nào Người cũng ung dung, tự tại, luôn thể hiện nhân cách cao đẹp của người cộng sản.
Năm 1931, khi Người bị nam trong nhà ngục Vichtoria của đế quốc Anh tại Hồng Kông hoặc khi bị bệnh phải đưa vào nhà thương, nhiều “ông bà” người Anh có quyền thế và cả một số nhân viên người Trung Quốc đã rủ nhau đến xem, ý chừng họ muốn thấy mặt mũi “lạ lùng” của một người cộng sản! Cuối cùng, họ đã bắt gặp một nhân cách lớn mà họ rất khâm phục và sẵn lòng giúp đỡ từ đó.

Năm 1944, tại Liễu Châu, tuy Người được ra khỏi ngục Quốc dân đảng, nhưng vẫn bị quản thúc vì họ biết Người là lãnh tụ cộng sản, hông muốn thả cho về nước. Bác Hồ nói thẳng với Trương Phát Khuê: Tôi là người cộng sản, nhưng điều mà tôi quan tâm hiện nay là độc lập và tự do của nước Việt Nam. Chính lòng yêu nước, đức độ và tài trí của Bác Hồ đã làm cho Trương cảm phục, trả 1ại tự do và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Người trở về Việt Nam.

Năm 1946, ở Pari, trong một cuộc họp báo, một nhà báo Pháp muốn làm giảm thiện cảm của những người Pháp không ưa cộng sản đối với Bác, bằng cách đưa ra một câu hỏi:

– Thưa Chủ tịch, Ngài có phải là cộng sản không?

Bác Hồ của chúng ta liền đi đến lẵng hoa bày trên bàn, vừa rút ra từng bông tặng mỗi người, vừa vui vẻ nói:

– Tôi là người cộng sản như thế này này !

Đó cũng là điều giúp ta có thể hiểu được vì sao mấy chục năm qua, thế giới có bao sự đổi thay, Bác Hồ vẫn luôn được cả thế giới tôn kính và ngưỡng vọng, coi như một biểu tượng cao cả của nhân đạo, chính nghĩa của hoà bình, một kiểu người cộng sản hài hoà giữa yêu nước và quốc tế, anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá, phương Đông và phương Tây.
Có thể dẫn ra đây một ý kiến, trong rất nhiều ý kiến của nhà báo Mỹ Saphơlen, viết từ năm 1969:

“Trong rừng Việt Bắc, Cụ Hồ như một ông tiên. Nếu có ai bảo đấy là một người cộng sản thì tôi có thể nói Cụ là một người cộng sản khác với quan niệm chúng ta vẫn thường nghĩ; và theo tôi, có thể dùng một từ mới: Một người cộng sản phương Đông, một người cộng sản việt Nam”./.

dongthap.gov.vn

Nhớ lời Bác dạy

Hành trang cuộc đời

Tháng 4-1946, phong trào Nam tiến mở rộng, mặc dù đang làm thư ký của Tổng hội viên chức cứu quốc nhưng tôi vẫn viết đơn tình nguyện xin gia nhập Vệ quốc quân để có điều kiện trực tiếp cầm súng đánh giặc. Và duyên nghiệp nhà binh với tôi thực sự bắt đầu khi được cấp trên lựa chọn và cử đi học Khóa 1, Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn tại Sơn Tây.

Bác Hồ trao lá cờ “Trung với nước, hiếu với dân” cho Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1) ngày 26-5-1946.Ảnh tư liệu.

Ngày 26-5-1946, mặc dù bận trăm công ngàn việc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự lễ khai giảng. Trước 300 học viên, cán bộ huấn luyện của trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao tặng nhà trường lá cờ thêu 6 chữ vàng “Trung với nước, hiếu với dân”. Bác nói: “Trung với nước, hiếu với dân” là bổn phận thiêng liêng, là trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia của nước ta. “Trung với nước, hiếu với dân” là đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết. Lợi ích cơ bản nhất, cấp thiết nhất của nhân dân lúc này là: “Độc lập dân tộc – Thống nhất Tổ quốc”, phải hết lòng hết sức đấu tranh cho lợi ích đó. Cán bộ là cái gốc của công việc. Phải có đức, trí, nhân, dũng, cần, kiệm, liêm, chính. Phải nhìn rộng, suy kỹ, biết nuôi khí dân, định khí quân. Học phải đi đôi với hành, học để mà hành, hành để mà học. Có học, có hành mới tiến bộ”.

Với giọng ấm áp, quen thuộc, Bác căn dặn: “Làm người cán bộ phải siêng năng. Trời sinh ra con người ai cũng có ngũ quan. Với người cán bộ phải biết tận dụng ngũ quan để làm việc cho cách mạng, cho nước, cho dân. Mắt phải sát thực tế, quan sát kỹ tình hình. Mũi phải siêng ngửi thấy những điều mới mẻ. Tai phải siêng nghe ý kiến của anh em bè bạn, đồng cấp, cấp trên, cấp dưới. Còn phải nghe cả địch để dễ bề đối phó. Tay phải siêng lao động. Chân phải đi sát quần chúng, đi sát bộ đội. Người ta có 2 mắt, 2 tai, 2 tay, 2 chân nhưng chỉ có 1 cái mồm. Nên cần ít nói, chỉ nói những điều cần thiết. Mà đã là cần thiết thì nói đi nói lại trăm ngàn lần vẫn phải siêng càng có lợi cho cách mạng. Cán bộ phải miệng nói tay làm, không ngại cực khổ, không sợ hy sinh; phải biết vì nước quên thân, vì dân phục vụ”.

Đây là lần đầu tiên tôi gặp Bác Hồ và bài học đầu tiên của tôi ở Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn cũng chính từ những câu nói hết sức giản dị của Bác nhưng đó thực sự là hành trang trong suốt cuộc đời binh nghiệp của tôi.

Theo lời Bác dạy

Sáng ngày 15-4-1964, là Trưởng phòng Huấn luyện Pháo binh mặt đất, tôi đang hướng dẫn cho một số giáo viên ôn thi thì nhận được lệnh: “14 giờ có mặt ở hội trường Trường Sĩ quan Lục quân nghe cấp trên nói chuyện”. Có mặt từ sớm, chúng tôi rất mừng khi biết cấp trên đến nói chuyện đó chính là Bác Hồ. Đúng giờ, Chính ủy Lê Quang Hòa dẫn đường đưa Bác tới hội trường nói chuyện. Khi Bác vừa đến chiếc bàn kê giữa hội trường, trực ban chưa kịp hô nghiêm báo cáo, cả hội trường đã đứng dậy vỗ tay không ngớt đón Bác. Đến trước bàn để micro, Bác vẫy tay cho mọi người ngồi xuống và vào chuyện ngay.

Bác nói: “Do không có điều kiện đến thăm từng trường ở khu vực Sơn Tây, Bác nhờ trường Sĩ quan Lục quân mời mỗi trường cử một số đại biểu đến nghe rồi về truyền đạt lại cho anh em ở nhà biết”. Với phong cách giản dị, gần gũi, Bác tóm tắt ngắn gọn một số thắng lợi của hai miền Nam – Bắc từ năm 1960 đến năm 1964. Sau đó, Bác dặn dò tỉ mỉ về nhiệm vụ quân đội và các trường đào tạo sĩ quan.

Bác nhấn mạnh: “Toàn quân hiện đang có phong trào thi đua “Ba nhất”, “Vì miền Nam ruột thịt”, các trường đang có phong trào “Dạy hay, học giỏi” như thế là rất tốt. Nhà trường là nơi đào tạo cán bộ, sĩ quan, các giáo viên nhà trường đang làm một công việc nặng nề nhưng vinh quang. Huấn luyện, giáo dục, đào tạo, rèn luyện người học viên thành người chỉ huy đánh giặc cứu nước, biết chiến thắng kẻ thù. Vậy là học tốt, dạy tốt để đánh thắng. Người giáo viên phải là người mẫu mực về nhân cách, đạo đức, gương mẫu về lối sống, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, luôn nghĩ về lợi ích tập thể, có tình thương và trách nhiệm với học viên.

Người giáo viên phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ có năng lực chuyên môn giỏi, có lý luận vững vàng, đạo đức tốt, phải thường xuyên rút kinh nghiệm về phương pháp sư phạm để có cách giảng dạy đạt hiệu quả cao. Người giáo viên không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức chuyên môn mà còn phải bồi dưỡng lý tưởng đạo đức cho học viên. Tóm lại, giáo viên phải là người cán bộ vừa hồng vừa chuyên, nhà tâm lý giáo dục, là tấm gương sáng để học viên noi theo học tập. Phải làm cho các nhà trường mẫu mực đi trước đơn vị. Dân tộc Việt Nam có truyền thống tôn sư trọng đạo, quý trọng người thầy. Thầy giáo là một nghề cao quý”.

Vâng theo lời Bác dạy, trong suốt hơn 44 năm đi theo con đường binh nghiệp, trải qua nhiều vị trí khác nhau nhưng với tôi luôn nhớ lời Bác nhắc nhở. Đặc biệt, trong suốt 31 năm công tác tại Trường Sĩ quan Pháo binh, bản thân tôi cùng với Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường đã ra sức thi đua thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo, giảng dạy của nhà trường. Trong cuộc thi đua “Nâng cao chất lượng giảng dạy” và “Rèn luyện phẩm chất quân đội nhân dân” (1982-1985), Trường Sĩ quan Pháo binh đã có nhiều đổi mới toàn diện, đạt danh hiệu: “Quyết thắng” – trở thành lá cờ đầu, được Bộ Quốc phòng tặng thưởng nhiều huân huy chương các loại. Riêng cá nhân tôi là Hiệu trưởng và giáo viên Đỗ Viết Huy cùng hai học viên giỏi vinh dự được đi gặp và báo cáo thành tích với Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Nguyễn Văn Khiếu

qdnd.vn

Nhớ lời Bác Hồ dạy: “Nói thì phải làm”

Bác Hồ nói chuyện với đại biểu dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II năm 1956, tại Nhà hát Lớn Hà Nội - Ảnh tư liệu do Bảo tàng Tuổi trẻ cung cấp

Trong cuộc sống hàng ngày, có nhiều việc nói thì dễ nhưng làm thì khó. Vì vậy nếu nói được, phải làm được. Sinh thời, Bác Hồ đã từng dạy “nói thì phải làm”. Ban Biên tập xin giới thiệu bài viết của tác giả Nguyễn Xuyến đăng trên Bản tin Y tế Thừa Thiên Huế đề cập đến vấn đề này.

Tác phẩm “Đường kách mệnh”, di sản lý luận Bác Hồ để lại cho cách mạng Việt Nam. Đây là tập tài liệu gồm những bài viết của Người dùng để giảng dạy cho thanh niên yêu nước Việt Nam tham gia lớp huấn luyện chính trị từ những năm 1925 đến 1927 ở Quảng Châu (Trung Quốc) và được xuất bản lần đầu tiên năm 1927.

Trên trang 2 cuốn “Đường kách mệnh” có mục: Tư cách một người cách mệnh. Trong 23 điều của tư cách người cách mạng thì điều thứ 10 ghi rõ” “Nói thì phải làm”.

“Nói đi đôi với làm” là một nội dung đạo đức truyền thống của dân tộc. Kế thừa truyền thống đạo đức của dân tộc, Bác Hồ đã nêu thành một nội dung của tư cách người cách mạng.

“Nói đi đôi với làm” đối lập với nói mà không làm của những ngưới hứa suông, hoặc “nói một đàng làm một nẻo” của những kẻ cơ hội.

Trong bài Dân vận, ngày 15-10-1949, Bác viết: “Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”.

“Nói đi đôi với làm” là một trong những nội dung của phong trào Hồ Chí Minh, là sự thể hiện của đạo đức cách mạng.

Nhân dân ta thường nói: đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đi trước ở đây được hiểu là sự tiên phong, gương mẫu trong cả lời nói và việc làm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên bằng lới nói mà còn bằng chính tấm gương sống của bản thân mình. Người suốt đời tự rèn luyện, tu dưỡng và lúc nào cũng nghiêm cẩn khép mình vào đạo đức. Tấm gương đạo dức của Người là tuyệt vời trong sáng và toàn vẹn.

Ở Bác, lời nói đi đôi với việc làm.

Năm 1945, sau Cách mạng Tháng Tám thành công, nạn đói đang đe dọa đồng bào miền Bắc nước ta. Cùng với các biện pháp khuyến khích tăng gia sản xuất lương thực, thực phẩm, Bác Hồ kêu gọi nhân dân cả nước” “Mười ngày, nhịn ăn một bữa, một bữa một bơ” và dùng số gạo tiết kiệm đó cứu giúp những người thiếu đói. Chính Bác cũng thực hiện như vậy. Một hôm, Bác phải đi dự tiệc của tướng Tiêu Văn (Trung Quốc), thế là suất gạo bữa đó đã được bỏ vào quỹ cứu đói. Tuy vậy, Bác vẫn đề nghị “nhịn bù” vào bữa tới. Bác nói: “Mình khuyên dân mười ngày, nhịn ăn một bữa, mà chính đến ngày nhịn, mình lại cứ chén thì nghe sao được?”.

Bác kêu gọi đồng bào tham gia đóng góp quỹ “Mùa đông binh sĩ” và chính Bác cũng góp quỹ một chiếc áo ấm của mình.

Bác khuyên mọi người sống giản dị và khiêm tốn. Đôi dép cao su, chiếc áo ka-ki sờn vai cùng những đồ dùng sinh hoạt hàng ngày đơn sơ, ít ỏi đã trở thành huyền thoại về đức tính giản dị của Người.

Tại chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp, Bác kêu gọi các cơ quan tận dụng đất hoang quanh nơi làm việc và thời gian nhàn rỗi để tăng gia sản xuất. Cứ sáng sớm và cuối giờ chiều, Bác cuốc đất trồng rau, nuôi gà để góp phần cùng cơ quan tự cải thiện đời sống.

Bác kêu gọi nhân dân thực hiện “Tết trồng cây” để lấy gỗ làm nhà và cải thiện môi trường. Hàng năm, cho đến Tết cuối cùng trước khi vĩnh biệt chúng ta, Người đã tham gia đều đặn 10 Tết trồng cây.

Bác vận động nhân dân chống hạn, úng, thì chính Bác trực tiếp tham gia cùng nhân dân tát nước chống hạn.

Bác khuyên cán bộ Đảng và Nhà nước phải gần gũi với nhân dân. Là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, tuy Bác bộn bề công việc, nhưng Bác luôn tìm cách đến với nhân dân, hỏi dân những chuyện Bác muốn biết và lắng nghe những chuyện dân muốn nói.

Đã có lần Bác dạy: Hô hào người ta tiết kiệm thì trước hết mình phải tiết kiệm trước đã. Một chiếc phong bì, Bác sử dụng được hai lần. Việc đáng tiêu thì hàng nghìn, hàng vạn cũng tiêu, việc không đáng tiêu thì một xu, một cắc cũng không tiêu, bởi vì, đồng tiền ấy ở đâu ra, đều do nhân dân đóng góp mà có. Cho nên, tiết kiệm trong chi tiêu, trong sử dụng công quỹ chính là sự góp phần làm cho mọi người đều có cơm no, áo ấm và được học hành.

Bác luôn căn dặn cán bộ các cấp: Làm cán bộ để phục vụ cho dân cho nước, chứ không phải để làm quan. Phải gương mẫu chấp hành luật lệ của Nhà nước, quy định của tổ chức để làm gương cho mọi người. Không được thu vén cá nhân, tự tạo ra những đặc quyền, đặc lợi cho riêng mình.

Lời nói đi đôi với việc làm, tư tưởng gắn liền với hành động, đường lối, chủ trương, chính sách gắn liền với thực hiện là điều rất quan trọng đối với nhà chính trị để tạo lập được niềm tin trong nhân dân.

Một trong những phẩm chất lớn về nhân cách của Bác Hồ là Bác nói như thế nào thì Bác làm đúng như vậy.

Tấm gương nói đi đôi với làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm cho lời khuyên bảo, dặn dò của Người có sức mạnh to lớn trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên. Đó cũng là một đặc điểm nổi bậc trong đạo đức Hồ Chí Minh.

“Nói đi đôi với làm”, nhưng là làm có hiệu quả, vì lợi ích của nhân dân. Đó là một nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chính vì lẽ đó, Bác khuyên cán bộ, đảng viên ra sức học tập chính trị, văn hóa, kỹ thuật, nghề nghiệp và học ở mọi nơi, mọi lúc, học ở mọi người, học suốt đời, “học để làm việc, làm người, làm cán bộ…”,

Có lần, Bác Hồ nói: “Trước mặt quần chúng không phải ta viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước” (Hồ Chí Minh Toàn tập-NXBCTQG-HN-1995-T 5-Tr 552).

Hiện nay, vẫn có những người nói nhiều làm ít. Có người nói một đàng, làm một nẻo, làm ngược lại điều mình nói. Có người nói cho người khác làm, còn bản thân mình thì “đánh trống, bỏ dùi”, hứa hươu, hứa vượn, vô cảm trước những bức xúc của người khác.

Trong Lễ kỷ niệm 113 năm ngày sinh Bác Hồ và phát động đợt nghiên cứu, học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhắc nhở: “Là những người tiên phong, những người giữ vai trò lãnh đạo, cho nên lời nói, đặc biệt là việc làm của cán bộ, đảng viên và gia đình phải thật sự là tấm gương mọi mặt cho quần chúng noi theo. Nếu cán bộ, đảng viên, công chức kêu gọi nhân dân cần, kiệm mà mình lười biếng, sống xa xỉ, lãng phí thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích”.

Ngày 29/09/2010
Nguyễn Võ Hinh (st)

impe-qn.org.vn

Chỉ dạy của Bác Hồ đối với người đứng đầu

Những năm gần đây, trong các văn bản của Đảng và Nhà nước xuất hiện khái niệm “người đứng đầu”. Sinh thời, Bác Hồ thường dùng khái niệm: “người phụ trách”, “thủ trưởng”.

Theo định nghĩa của một số từ điển Hán Việt thì “phụ trách” là nhận gánh vác, chịu trách nhiệm về một nhiệm vụ, công tác nào đó. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức là người lãnh đạo, quản lý, chịu trách nhiệm chính, trách nhiệm cao nhất của cơ quan, tổ chức đó.

1. Do đâu mà có người đứng đầu?

Có người cho rằng mình có tài, có đức, cơ quan, tổ chức có nhu cầu thì mình được đề bạt làm người đứng đầu. Điều đó là lẽ đương nhiên nhưng chưa phải tất cả. Không ít người khi được đề bạt đã không biết ngoái nhìn quá khứ để hiểu thấu cái nôi sinh ra mình, chỉ biết có hôm nay và chặng đường phía trước mà quên cuộc cách mạng của nhân dân do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, quên sự hy sinh công sức, tiền của, xương máu của biết bao thế hệ mới có cơ đồ, sự nghiệp hôm nay. Ngày 28-5-1948, khi chủ trì lễ phong hàm đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp và cấp tướng cho một số đồng chí khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Hôm nay việc phong tướng cho chú Giáp và các chú khác cũng là kết quả của bao hy sinh, cố gắng của đồng bào, đồng chí. Chúng ta phải cố gắng, phải quyết giành được độc lập, tự do cho thỏa lòng những người đã mất”(1). Trong một lần khác, khi nói chuyện với các tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Người còn nói: Các chú có công trạng, có thành tích, được phong cấp tướng, cấp tá nhưng các chú có biết câu “Nhất nhật công thành vạn cốt khô” không? Câu ấy có nghĩa là mỗi một thành công trên con đường công danh của các chú là nhờ có sự hy sinh của hàng vạn đồng bào, chiến sĩ.

Do yêu cầu mới của cách mạng và do quy luật của thời gian mà thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước, trong đó có những người được giao trọng trách là người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Khi đã có quyền lực trong tay, một số người đã quên rằng quyền lực mà họ đang nắm giữ vốn không phải là của cá nhân họ (quyền lực nhà nước vốn không phải của riêng bất cứ người nào). Tất cả quyền bính trong nước là của nhân dân. Nhân dân ủy thác cho họ đại diện để sử dụng quyền lực thực hiện nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao phó. Quên điều đó, người ta dễ sinh tự kiêu, tự mãn, “khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông “vua con” ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp. Đối với quần chúng ra vẻ quan cách làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc “ông tướng, bà tướng” ấy đã gây ra bao ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, Đoàn thể xa nhân dân”(2). Được trao quyền quản lý, chi tiêu một khối lượng tiền của, tài sản nào đó, một số người đã cậy quyền thủ trưởng quyết định tất cả, bất chấp kỷ cương, phép nước, chỉ “lo chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị và công tác của mình mà buôn bán phát tài, lo việc riêng hơn việc công. Đạo đức cách mạng thế nào, dư luận chê bai thế nào cũng mặc”(3). Trong công tác nhân sự thì đối với bản thân “cố tranh cho được ủy viên này chủ tịch kia”, đối với xã hội thì giữ thói “một người làm quan, cả họ được nhờ”, đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này, việc kia, làm được hay không mặc kệ. Hỏng việc, Đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được”(4). Nhiều lần Bác Hồ đã dạy, việc nước là việc chung, tài sản của Nhà nước là của chung nhân dân chứ không phải của riêng ai, của dòng họ nào. Vì vậy, người đứng đầu phải phục tùng tổ chức, nêu gương sáng giữ gìn và bảo vệ tài sản của công, phải toàn tâm, toàn ý phục vụ Tổ quốc và nhân dân, phải chí công vô tư.

2. Sinh ra người đứng đầu để làm gì?

Đã là xã hội thì ắt phải có tổ chức, có tổ chức thì phải có lãnh đạo và quản lý, cơ chế làm việc và người đứng đầu. Lãnh đạo là dẫn dắt, phát triển cơ quan, tổ chức đúng hướng, bày tỏ quyết tâm, duy trì các chuẩn mực, là làm việc với con người (tổ chức, dẫn dắt, giáo dục, thuyết phục, cảm hóa, đoàn kết, tạo sự đồng thuận…). Vì vậy, lãnh đạo phải tập thể, người đứng đầu cơ quan, tổ chức là một thành viên của tập thể lãnh đạo. Bác Hồ đã dạy “vì một người dù khôn ngoan, tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người…

ý nghĩa của tập thể lãnh đạo rất giản đơn, chân lý của nó rất rõ rệt. Tục ngữ có câu: “Khôn bầy hơn khôn độc” là nghĩa đó”(5).

Nhưng khi đã có hội nghị, đã bàn thảo, có nghị quyết của tập thể rồi thì phải thi hành, phải có người chỉ huy, điều khiển. “Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy…

Vì lẽ đó, cho nên lãnh đạo cần phải tập thể, mà phụ trách cần phải cá nhân”(6).

Nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng và Nhà nước ta là lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách. Nhưng không ít tổ chức đảng đã không duy trì nghiêm túc chế độ lãnh đạo tập thể, một số người đứng đầu cơ quan, tổ chức đã phớt lờ (thậm chí vô hiệu hóa) sự lãnh đạo của tập thể, cấp ủy, độc đoán, chuyên quyền dẫn tới tình trạng lãng phí, thất thoát, hư hao tài sản của Nhà nước, tham nhũng, gian lận… và bản thân họ cũng không được tập thể kiểm tra, giám sát, uốn nắn, giúp đỡ nên dần dần trở thành kẻ hư hỏng, sa đọa, biến chất.

Tóm lại “lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc.

Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc”(7).

Chính vì cần tổ chức thực hiện mà phải đặt ra chế độ thủ trưởng, một người đứng đầu để họ phụ trách công việc, chịu trách nhiệm trước cấp trên, cấp dưới, nhân dân và pháp luật. “Bất kỳ công tác gì, chiến tranh, sản xuất, giáo dục, kiểm soát v.v, cơ quan lãnh đạo cấp trên cần phải kinh qua những người phụ trách chung của cơ quan lãnh đạo cấp dưới, mỗi khi có việc gì liên quan đến một ngành hoạt động nào đó thuộc cấp dưới. Có như thế, mới đạt được mục đích phân công mà thống nhất”(8). Sinh ra người đứng đầu là để họ phụ trách, chịu trách nhiệm. Họ được giao cho một số quyền hành nhưng quyền đó bao giờ cũng có giới hạn và phải thực hiện một nghĩa vụ – nghĩa vụ của người thừa hành, chấp hành sự lãnh đạo của tập thể, của cấp trên. Quyền bao giờ cũng gắn liền với nghĩa vụ và trách nhiệm. Người thủ trưởng (đứng đầu) không thể khi công việc thành công thì “nhô cao đầu lên” nhận vinh quang, thành tích thuộc về mình; khi khuyết điểm, thất bại thì “hạ thấp đầu xuống”, ẩn nấp sau bức bình phong tập thể, đổ trách nhiệm cho tập thể, cho cấp phó. Chính V.I.Lênin từng phê phán tình trạng này, Người đã coi đó là thói láu cá, khôn vặt của mấy ông cấp trưởng, còn tổ chức thì bất lực.

Cần trao quyền và trách nhiệm rõ ràng cho người đứng đầu, kiểm tra, giám sát họ và có chế tài thích đáng đối với những khuyết điểm, sai lầm của đơn vị do họ đứng đầu; người đứng đầu vui mừng phấn khởi nhận chức vụ, có gan sử dụng quyền lực thì cũng phải có dũng khí, can đảm nhận trách nhiệm kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước và sự phán xét của công luận. Đó là lẽ tự nhiên, biểu hiện của sự công bằng, dân chủ và văn minh trong chế độ chúng ta.

3. Những người đứng đầu cần phải có phẩm chất gì?

Trước hết, họ phải có những phẩm chất của người cán bộ cách mạng như Bác Hồ đã dạy, Đảng và Nhà nước đã có các quy định rõ ràng, pháp lệnh cán bộ công chức đã xác định cụ thể. Nhưng đối với những người đứng đầu thì đòi hỏi của tổ chức và nhân dân đối với họ ở mức độ cao hơn, nghiêm ngặt hơn, ở sự nêu gương và dẫn dắt. Bác Hồ đã nhắc nhở “các đồng chí đều là cán bộ cao cấp, đều giữ những trách nhiệm quan trọng. Công việc thành hay là bại một phần lớn là do nơi tư tưởng đạo đức, thái độ và lề lối làm việc của các đồng chí”(9).

Trong tình hình hiện nay, vấn đề tư tưởng, thái độ của người đứng đầu cần phải được đặt ra một cách bức thiết. Người đứng đầu là người có trách nhiệm giáo dục tư tưởng cho cán bộ, công chức, nhân viên cấp dưới nhưng lại đứng ngoài sự giáo dục, rất ít lắng nghe và tìm cách để biết lắng nghe những ý kiến mang tính khuyên răn, nhắc nhở của tổ chức đảng, của những người xung quanh, của cấp dưới và quần chúng. Cần phải nhắc lại lời dạy của C.Mác: Đã đến lúc các nhà giáo dục cũng cần được giáo dục, và của Hồ Chí Minh: “Muốn hướng dẫn nhân dân mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước…

Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính.

Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”(10).

4. Làm thế nào để có người đứng đầu xứng đáng?

Trước hết là phải thực hành dân chủ, đồng thời xử lý, chấm dứt ngay các hiện tượng “các ông chủ tịch, các ông ủy viên vì cái tật ngông nghênh cậy thế cậy quyền… khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng”(11). Đảng và Nhà nước không chỉ bằng sự giáo dục, thuyết phục, kêu gọi lòng tự giác, hướng thiện mà còn phải cưỡng chế, răn đe bằng pháp luật đối với những ai “làm quan cách mạng, chợ đỏ chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân phì gia”(12).

Cần đặt mọi người, không ngoại trừ ai trong bộ máy quyền lực của Nhà nước, dưới sự kiểm soát chặt chẽ và nghiêm túc theo nguyên tắc công khai, minh bạch (Bác Hồ gọi là “quang minh chính đại”). Kiểm soát cấp trên trước, cấp dưới sau, trong sạch cấp trên để chấn chỉnh cấp dưới, làm gương cho cấp dưới như Bác Hồ từng dạy và nêu gương. Cha ông ta từng tổng kết “thượng bất chính, hạ tắc loạn” và chắc chắn là: Thượng chính thì hạ yên.

Có nhiều việc phải làm, phải kiên trì không thể nôn nóng nhưng cũng có những việc có thể làm ngay. Ví dụ, trong công tác phê bình, tự phê bình không nên nói chung chung mà cần rõ địa chỉ. Theo Bác Hồ thì phê bình việc chứ không phê bình người. Cần chỉ rõ việc ấy giao cho ai, ai làm, làm đúng hay sai, kết quả tốt hay xấu? Ai chịu trách nhiệm? Việc xóa bỏ chế độ bao cấp, đối với số đông cán bộ, công chức chúng ta đã làm xong nhưng với thủ trưởng, với cấp trên thì còn nhiều việc chưa làm đến nơi, đến chốn. ở đây không chỉ là vấn đề tài sản, công quỹ, tiền bạc mà quan trọng hơn là còn bao cấp, còn mập mờ thì uy tín của người được bao cấp còn bị xói mòn. Công khai chế độ, chính sách thực hiện nghiêm, không xuê xoa, nể nang bất cứ ai, càng thủ trưởng cấp trên càng phải gương mẫu, làm được như vậy thì kỷ cương, phép nước mới được duy trì. Quần chúng nhân dân rất sáng suốt, không có việc gì khuất tất có thể che mắt được dân chúng.

Chống thói hư, tật xấu của người đứng đầu trong bộ máy công quyền không phải là việc dễ, bởi vì những thói hư, tật xấu ấy là “giặc ở trong lòng” đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ “ngoại công, nội kích”. Nhưng Đảng và Nhà nước ta tin dân, dựa vào dân, “khó vạn lần dân liệu cũng xong”, vậy thì tại sao chúng ta không sớm bổ sung cơ chế để nhân dân, cán bộ và quần chúng cấp dưới bày tỏ sự tín nhiệm với người đứng đầu cơ quan, đơn vị mà không sợ bất cứ một sự trù úm nào?

Suy cho cùng, đó cũng là cách xây dựng, bảo vệ, giữ gìn uy tín cho người giữ trọng trách đứng đầu cơ quan, tổ chức của chúng ta.

——

(1) Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, NXBCTQG, H.1994, tập 4, tr.203. (2) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.72. (3,4) Sđd, tr.74. (5,6,7) Sđd, tập 5, tr.504-505. (8) Sđd, tr.291. (9) Sđd, tập 6, tr.480. (10) Sđd, tập 5, tr.552. (11) Sđd, tập 4, tr.47. (12) Sđd, tập 5, tr.61.

TRẦN ĐÌNH HUỲNH
TRỊNH QUANG CẢNH

xaydungdang.org.vn

“Các Vua Hùng dựng nước, bác cháu ta giữ nước”

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ luôn luôn tâm niệm cội nguồn dân tộc. Người thường nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân ta phải phát huy truyền thống con cháu Lạc Hồng, giữ gìn giang sơn gấm vóc, phấn đấu đưa nước ta sánh ngang với các cường quốc năm châu!

images47070_BH_noi-chuyen-voi-cs.jpgBác Hồ nói chuyện với các chiến sĩ tại đền Hùng – Phú Thọ (ảnh: tư liệu)

Ngày 18/2/1946, hơn 5 tháng sau ngày đọc “Tuyên ngôn độc lập”, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh số 22 CNV/CC cho công chức cả nước được nghỉ ngày Giỗ tổ Hùng Vương mồng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm để tưởng nhớ tổ tiên. Ngày 18/9/1954, trước Đền Hạ thuộc Đền Hùng, Phú Thọ, Bác Hồ đã nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên Phong chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô. Bác căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”! Lời Bác dạy không chỉ đối với quân đội, mà còn đối với toàn Đảng, toàn dân. Ngày nay, càng suy ngẫm lời Bác, chúng ta càng thấm thía tâm huyết của Người đối với đất nước và dân tộc, càng thấy tầm nhìn xa trông rộng của vị lãnh tụ thiên tài.

Bác Hồ khẳng định và tôn vinh “Các Vua Hùng đã có công dựng nước”. “Công dựng nước” của các Vua Hùng thật to lớn! Lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc ta luôn luôn phải đấu tranh chống những tên giặc ngoại xâm vô cùng hung hãn. Trong quá trình dựng nước và giữ nước đầy gian khổ, hy sinh, dân tộc ta đã tạo nên một truyền thống đoàn kết, anh dũng, kiên cường, thông minh, sáng tạo, và có tinh thần độc lập, tự chủ. Vì thế, dân ta đã làm nên biết bao chiến công oai hùng, dựng nên đất nước, khẳng định chủ quyền và bồi đắp bản sắc dân tộc.

Các Vua Hùng là những người đầu tiên viết nên những trang sử vẻ vang ấy, và truyền nối cho muôn đời con cháu đến hôm nay và cả mai sau. Vậy nên, tưởng nhớ và biết ơn các Vua Hùng là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của mỗi người dân Việt Nam ta, thể hiện niềm tự hào và tự tôn dân tộc một cách chính đáng, đồng thời để tăng thêm sức mạnh cho chúng ta, phấn đấu đưa đất nước tiến tới văn minh và giàu mạnh.

Mỗi tấc đất này đều phải đổi bằng núi xương, sông máu và mồ hôi của các thế hệ người Việt Nam ta. Bởi vậy, “Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”! Đấy là bổn phận, là tình cảm, là trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của tất cả những ai mang dòng máu Lạc Hồng. Đấy là lẽ đương nhiên, là điều tất yếu. Với Bác Hồ, “giữ nước” trước hết là quyết tâm chiến đấu, hy sinh để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ nền độc lập, thống nhất và chủ quyền của đất nước. Trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, Bác từng nói: “… Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập!”.

Trong “Tuyên ngôn độc lập”, Bác khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Với Bác, “giữ nước” là toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Bởi nhân dân là gốc của đất nước. Đấy chính là kế “sâu dễ bền gốc” mà ông cha ta truyền lại.

Ngày nay, thực hiện lời dạy giữ nước của Bác cùng với việc cảnh giác, đề phòng giặc ngoại xâm, kiên quyết đánh trả và chiến thắng mọi kẻ địch đồng thời còn phải ra sức đấu tranh với “giặc nội xâm” là những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất đang gây ra quốc nạn tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng. Đâu phải chỉ trong chiến tranh mới đặt ra yêu cầu “giữ nước” mà đấy còn là nhiệm vụ cấp thiết và cực kỳ hệ trọng ngay trong xây dựng hòa bình!

Đào Ngọc Đệ
Nhà báo & Công luận

tuoitre.vn

Tự chỉ trích, những lời dạy không bao giờ cũ

Bác Hồ, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Lê Duẩn cùng các cháu thiếu nhi.

Bác căn dặn: “Bao giờ sự chỉ trích cũng là tự chỉ trích bônsêvích, nghĩa là để huấn luyện quần chúng và giúp đảng viên tự huấn luyện, để làm tăng uy tín và ảnh hưởng của Đảng”.

Lịch sử như một con sông, dòng chảy không phải lúc nào cũng yên ả. Làm cách mạng lại càng không thể hy vọng vào mọi sự nhất nhất như ý. Nhưng trong những tình huống gian khó, cần phải có cái nhìn nghiêm túc và nghiêm khắc vào bản thân mình và vào hoàn cảnh xung quanh để rút ra những kết luận hữu ích cho tương lai.

Nhìn thẳng sự thật

Cần phải thấy rằng phê bình và tự phê bình đã là vũ khí thiết yếu của những người cộng sản Việt Nam ngay từ những ngày đầu nhen nhóm phong trào cách mạng. Biết được sở đoản của mình và tìm mọi cách tránh hay sửa chữa thì mới có cơ hội thành công. Trong cuốn sách “Đường Cách mệnh” xuất bản lần đầu tiên năm 1927, trong mục “Tư cách người cách mệnh”, Bác Hồ đã nhấn mạnh tới một trong những yêu cầu cao nhất đối với người cộng sản là phải biết “cả quyết sửa lỗi mình”.

Trong báo cáo của Phân hội Việt Nam thuộc Hội Quốc tế chống xâm lược đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Quốc) tháng 3/1944, khi đề cập tới cách lãnh đạo, Bác Hồ cũng nhấn mạnh đến yêu cầu: “Mọi công tác phải có kế hoạch trước khi đưa ra làm, làm xong phải tổ chức kiểm điểm. Tất cả những kinh nghiệm thành công cũng như thất bại đều đăng trên báo bí mật để mọi người nghiên cứu”…

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, khi đánh giá hoạt động của cơ quan công quyền các cấp, bao giờ Bác Hồ cũng luôn thẳng thắn gọi đúng tên những khuyết điểm, những căn bệnh, những tệ nạn và yêu cầu “sửa chữa các khuyết điểm khắp các phương diện”. Thí dụ, trong thư gửi các đồng chí tỉnh nhà ngày 17/9/1945, Bác Hồ đã nhấn mạnh:

“Ở các địa phương, những khuyết điểm to nhất là:

a) Khuynh hướng chật hẹp và bao biện. Việc gì cũng do người Việt Minh làm, không biết đem những người có danh vọng hoặc tài cán ở địa phương vào giúp việc.

b) Lạm dụng hình phạt. Những đứa phản quốc có chứng cớ rõ ràng phải trừng trị đã đành. Nhưng chúng ta không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới. Đối với những người không nguy hiểm lắm, thì nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung, không nên bắt bớ lung tung, không nên tịch thu vô lý, làm cho dân kinh khủng.

c) Kỷ luật không đủ nghiêm. Để cho bọn giả mạo tiếng Chính phủ hoặc tên Việt Minh ức hiếp dân, xoáy tiền dân, lấy đồ đạc của dân, làm cho dân oán.

d) Đề phòng hủ hóa. Cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với Quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”.

Và Bác kết luận:

“Những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động.

Chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay,

Chúng ta không sợ có khuyết điểm,

Chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi,

Chúng ta phải lấy lòng “chí công vô tư”.

Chúng ta phải hiểu rõ và theo đúng chính sách của Chính phủ thì những khuyết điểm nói trên sẽ dễ sửa đổi và sự toàn dân đoàn kết sẽ càng vững vàng…”.

Nếu đọc lại các tuyển tập các bài viết của Bác Hồ, dễ thấy là những lời căn dặn như thế của Bác xuất hiện rất nhiều lần, trong những thời điểm khác nhau của cách mạng Việt Nam. Trong thư gửi các đồng chí Bắc Bộ ngày 1/3/1947, Bác viết:

“Nếu một người sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc to.

Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết tẩy rửa những khuyết điểm sau đây:

a) Địa phương chủ nghĩa;

b) Óc bè phái;

c) Óc quân phiệt quan liêu;

d) Óc hẹp hòi;

e) Ham chuộng hình thức;

f) Làm việc lối bàn giấy;

g) Vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm;

h) Ích kỷ, hủ hóa…”.

Tháng 10/1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” xuất bản tại chiến khu Việt Bắc, Bác cũng nhấn mạnh tới phương thức phê bình trong đoàn thể:

“Mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ.

Vì vậy phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm chớ không phê bình người.

Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí hoặc oán ghét…”.

Ngay trong Di chúc, Bác cũng viết: “Thường xuyên và nghiêm chỉnh phê bình và tự phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”.

Tự chỉ trích

Không chỉ riêng Bác Hồ mà tất cả lãnh đạo cao nhất của Đảng ta đều luôn luôn quán triệt phương châm “Tự chỉ trích”, như nhan đề một tác phẩm nổi tiếng của đồng chí Nguyễn Văn Cừ (1912-1941), nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam, nguyên Tổng Bí thư Đảng từ tháng 3/1938 tới khi bị quân thù xử bắn ngày 28/8/1941 tại trường bắn Hóc Môn, Gia Định.

Tác phẩm “Tự chỉ trích” là một tài liệu giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, “chẳng những uốn nắn những lệch lạc trong phong trào dân chủ, tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động trong Đảng, mà còn là một văn kiện tổng kết những kinh nghiệm của Đảng trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, là một đóng góp có giá trị vào kho tàng lý luận và chính sách về mặt trận thống nhất của Đảng ta”, đúng như bộ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (sơ thảo) in năm 1981 đã nhận định.

Đó là sự phê bình và tự phê bình không phải ở phương diện cá nhân nhân cách cán bộ mà cao hơn thế, ở tầm tư tưởng chiến lược của cách mạng. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã nêu ra nguyên tắc phê bình và tự phê bình mang tính cộng sản chủ nghĩa chân chính như sau:

“Bao giờ sự chỉ trích cũng là tự chỉ trích bônsêvích, nghĩa là để huấn luyện quần chúng và giúp đảng viên tự huấn luyện, để làm tăng uy tín và ảnh hưởng của Đảng, để cho Đảng được càng thống nhất và củng cố, để đưa phong trào phát triển lên, đưa cách mạng tới thắng lợi; chứ không phải đặt cá nhân mình lên trên Đảng, đem ý kiến riêng – dù là đúng – đối chọi với Đảng, vin vào một vài khuyết điểm mà mạt sát Đảng, phá hoại ảnh hưởng của Đảng, gieo mối hoài nghi lộn xộn trong quần chúng, gây mầm bè phái chia rẽ trong đội ngũ Đảng…”.

Cũng theo đồng chí Nguyễn Văn Cừ: “Đối với uy tín của Đảng thì danh dự của cá nhân mình không có nghĩa lý gì, hay nói đúng hơn, không có nữa, vì một người đảng viên cộng sản chỉ biết lấy uy tín, lấy danh dự chung của toàn Đảng làm danh dự của mình thôi”. Và vì thế, “phải cần làm cho các đảng viên giác ngộ, rõ ràng và đầy đủ trách nhiệm của mình, biết xoay phương hướng trong những hoàn cảnh khó khăn, nghiêm trọng, biết tự chỉ trích đúng và kịp thời những khuyết điểm, sai lầm; đồng thời Đảng phải tìm cách củ soát một cách thiệt sự hơn hành động của mỗi đảng viên…”.

Và: “Chúng ta không bao giờ có thể đổ hết những nguyên nhân thất bại cho việc quân thù đàn áp… Chúng ta phải biết nhìn nhận những khuyết điểm về chủ quan mà chính ta gây ra, chính ta phải chịu hoàn toàn trách nhiệm…”.

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ cũng nêu lên trách nhiệm của các đảng viên: “Ta còn phải làm nhiều việc nữa, làm việc không ngớt để lan rộng ảnh hưởng Đảng trong những tầng lớp dân chúng rất đông đúc chưa giác ngộ, để lôi kéo những đám quần chúng lớn lao xưa nay vẫn nằm yên hay lãnh đạm, rụt rè, tham gia vào sinh hoạt chính trị, để lôi kéo họ ra trường tranh đấu, để cho lực lượng tổ chức của ta theo kịp ảnh hưởng lan rộng ấy, để gây cơ sở vững chãi trong quảng đại quần chúng, làm cho Đảng thành một Đảng chân chính của quần chúng…”.

“Lao xao sóng vỗ ngọn tùng, gian nan là nợ anh hùng phải vay” – với tinh thần ấy, đồng chí Nguyễn Văn Cừ nhận định: “Mỗi cuộc thất bại là một dịp cho ta kinh nghiệm, coi những khẩu hiệu ta đề ra có được quảng đại quần chúng hiểu, công nhận và thực hành không. Nói chung, sự tuyên truyền vận động của ta từ trước tới giờ vẫn còn nhiều tính chất trừu tượng, nhiều di tích cô độc…”.

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua nhưng tinh thần chủ đạo trong “Tự chỉ trích” vẫn còn nguyên tính thời sự trong cuộc sống hôm nay với Đảng Cộng sản Việt Nam. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đánh giá “Tự chỉ trích” là “một tác phẩm lý luận mẫu mực về tinh thần tự phê bình và phê bình của Đảng ta, tinh thần kiên quyết đấu tranh chống lại mọi biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, cả tả khuynh và hữu khuynh, bảo đảm tính đúng đắn trong sáng và tất thắng của đường lối chính trị. Tinh thần ấy tiếp tục chiếu rọi cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng hiện nay”.

Không bao giờ nên quên lời dạy này của đồng chí Nguyễn Văn Cừ: “Công khai, mạnh dạn, thành thực vạch những nhầm lỗi của mình và tìm phương châm sửa đổi, chống xu hướng hoạt đầu thỏa hiệp, như thế không làm yếu Đảng, mà làm cho Đảng được thống nhất, mạnh mẽ. Làm như thế không sợ địch nhân lợi dụng…”

Trần Thanh Tịnh

cand.com.vn