Thư viện

Linh hoạt điều chỉnh cách đánh của không quân

QĐND – Trong chiến dịch phòng không tháng 12-1972, Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ đã chuẩn bị trước các phương án và cách đánh cho Mig-21 tiếp cận và bắn rơi máy bay B-52. Tuy nhiên, trong thực tế tác chiến chiến dịch, hệ thống sân bay, trinh sát trên không, chỉ huy dẫn đường đều bị địch tìm cách khống chế và đánh phá ác liệt; hệ thống ra-đa chỉ thị mục tiêu và điều khiển hỏa lực của Mig-21 bị nhiễu nặng; đội hình máy bay F-4 chặn kích, hộ tống dày đặc của B-52… Vì thế, hơn một tuần kể từ khi mở đầu chiến dịch, máy bay Mig-21 liên tục xuất kích, nhưng chưa bám đánh được máy bay B-52.

Máy bay Mig-21 hạ cánh sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Ảnh tư liệu.

Phải tìm cách đánh và bắn rơi bằng được máy bay B-52 dù khó khăn, phức tạp đến đâu, binh chủng không quân cũng phải nghiên cứu, tìm biện pháp khắc phục.

Để bí mật, bất ngờ vượt qua hàng rào máy bay F-4 dày đặc, ta nhanh chóng điều chỉnh, kết hợp chặt chẽ giữa nghệ thuật tổ chức bố trí, sử dụng lực lượng, tạo lập thế trận của không quân với kỹ thuật, chiến thuật trong chiến đấu của phi công. Trên cơ sở phân tích rõ thủ đoạn chiến thuật của địch, ta phát hiện địch chỉ chú trọng phòng bị phía trước đội hình tiến công, bên sườn, nhưng phía sau chúng có rất nhiều sơ hở. Tương kế, tựu kế, ta bí mật, bất ngờ cơ động không quân ra vòng ngoài, tập kết ở các căn cứ bí mật, sử dụng hệ thống trinh sát trên không, sân bay, sở chỉ huy dẫn đường bổ trợ, vận dụng linh hoạt các biện pháp chiến thuật dẫn đường cho Mig-21 xuất kích và tiếp cận từ phía sau đội hình, trong vùng nhiễu nhẹ của địch, tạo thế có lợi nhất cho phi công vào không chiến, chỉ sử dụng ra-đa khi cần thiết, tiếp cận, bất ngờ phóng tên lửa đối không, tiêu diệt B-52 và thoát ly an toàn.

Bằng cách đó, đêm 27-12-1972, không quân ta xuất kích từ Yên Bái bắn rơi máy bay B-52 của địch, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch.

TRẦN VĂN TOẢN
qdnd.vn

Điều chỉnh thế trận, đõn lõng diệt máy bay

QĐND – Bà là Phạm Thị Viễn, nữ pháo thủ của Trung đội tự vệ Nhà máy cơ khí Mai Động, Hà Nội, từng tham gia chiến đấu tại trận địa Vân Đồn (Hà Nội), cùng đồng đội lập công xuất sắc, bắn rơi chiếc máy bay F-111 của không quân Mỹ ngày 22-12-1972.

Trong thời gian là tự vệ Nhà máy cơ khí Mai Động, nữ tự vệ Phạm Thị Viễn tích cực học tập, sử dụng thành thạo loại súng phòng không 14,5mm. Khi không quân Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, bà phải chịu nỗi đau mất mẹ do bom Mỹ sát hại. Bà nhớ lại: “Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, tôi là tự vệ của nhà máy, nên phải trực chiến suốt ngày đêm. Khi máy bay B-52 mang bom rải thảm, khu tập thể nơi gia đình sinh sống bị một quả bom rơi trúng hầm trú ẩn và sát hại cha tôi, đúng lúc tôi đang trực chiến”.

Xác chiếc F-111 bị tự vệ Hà Nội bắn cháy, rơi ở Hòa Bình đêm 22-12-1972. Ảnh tư liệu.

Nén đau thương, nữ tự vệ Phạm Thị Viễn và đồng đội kiên cường chiến đấu, cùng các đơn vị pháo cao xạ kịp thời điều chỉnh thế trận, tạo thành lưới lửa phòng không tầm thấp, không cho địch tự do đánh phá.Trong đơn vị có nhiều tự vệ là nữ, việc thao tác triển khai, thu hồi pháo để cơ động nặng nhọc và vất vả, nhưng ai cũng cố gắng, xung phong ra trận địa, lên mâm pháo, đối mặt với máy bay địch.

Trận đánh bắn rơi máy bay chiến đấu hiện đại F-111 “cánh cụp, cánh xòe” của không quân Mỹ là một điển hình. Máy bay F-111 hoạt động ở độ cao thấp và rất thấp, liên tục đột nhập vùng trời Hà Nội đánh phá các mục tiêu. Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội đã kịp thời điều chỉnh lực lượng, triển khai đội hình, trận địa hợp lý, tổ chức và trực tiếp chỉ huy một Liên đội tự vệ với 5 súng máy cao xạ 14,5mm, gồm 3 trung đội tự vệ của Nhà máy gỗ Hà Nội, Nhà máy cơ khí Mai Động và Nhà máy cơ khí Lương Yên.

Sáng 22-12-1972, các trung đội tự vệ cơ động đến trận địa Vân Đồn, bố trí đội hình liên đội chiến đấu. Lúc 20 giờ ngày 22-12, liên đội nhận lệnh vào cấp 1, trong tư thế “đón lõng” máy bay Mỹ. Khi các khẩu đội bắt mục tiêu, đồng chí liên đội trưởng hô bắn, các khẩu đội pháo đồng loạt nhả đạn. Là pháo thủ số 1, bà Phạm Thị Viễn nhìn thấy rất rõ chiếc máy bay rẹt qua đầu, phần đuôi của nó lóe sáng. Chiếc máy bay F-111 trúng đạn, bốc cháy, rơi xuống Lương Sơn, Hòa Bình. Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí lãnh đạo thành phố, Bộ tư lệnh Thủ đô đã đến tận trận địa động viên, khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Liên đội tự vệ.

HƯƠNG HỒNG THU (lược ghi)
qdnd.vn

Gặp lại người “cưỡi mây giết giặc”

Đại tá Đàm Trọng, người trực tiếp chỉ huy tiểu đội của mình làm nổ tung chiếc AD6 của Mỹ trên bầu trời Ninh Bình.

QĐND Online – Trong rất nhiều cách đánh máy bay địch của quân đội nhân dân Việt Nam, có một cách đánh độc đáo có một không hai của “bộ đội dù”. Đó là bẫy máy bay địch bằng khinh khí cầu có gắn mìn định hướng. Cách đánh tưởng chừng chỉ có trong tưởng tượng đó lại được bộ đội ta vận dụng có hiệu quả và mang về nhiều chiến công.

Khi gặp được Đại tá Đàm Trọng, nguyên Đại đội phó Đại đội 15 công binh dù, người đã trực tiếp chỉ huy tiểu đội của mình làm nổ tung chiếc AD6 của Mỹ trên bầu trời Ninh Bình và được nghe ông tường thuật về trận đánh năm xưa, tôi mới thực sự ngỡ ngàng trước những sáng tạo độc đáo của “bộ đội dù”. Bộ đội ta đã sử dụng khinh khí cầu gắn mìn định hướng để tiêu diệt kẻ thù. Khinh khí cầu được thả lơ lửng tạo thành các chướng ngại vật trên không, giống như bãi chông mìn trên trời nhằm chống lại chiến thuật bay thấp, luồn lách theo các cửa sông vào đánh lén các mục tiêu quân sự, kinh tế, chính trị, cầu giao thông quan trọng ở miền Bắc nước ta. Bằng cách này, chúng ta đã tiêu diệt được 3 máy bay địch, một máy bay AD6 của Mỹ ở Ninh Bình (1967), một ở dọc sông Hồng (1966) và một ở Quảng Trị (1966).

Chấp hành chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc Phòng, một bộ phận của lực lượng Lữ dù 305 đã tham gia nghiên cứu bố trí bãi vật cản trên không để ngăn chặn, tiêu diệt máy bay Mỹ trong chiến tranh phá hoại miền Bắc (1964-1972). Nhằm bắn phá các mục tiêu quan trọng của ta, máy bay địch đã sử dụng những thủ đoạn hết sức nham hiểm như: Thả nhiễu, bay thấp, luồn lách…qua nhiều địa hình và bất ngờ thả bom. Với cách bố trí bãi vật cản trên không (cụ thể là bóng và khinh khí cầu có gắn mìn định hướng), ta đã buộc máy bay Mỹ phải nâng tầm, bay cao cho lực lượng phòng không – không quân ta dễ dàng phát hiện và tiêu diệt. Được sự chỉ đạo của các cơ quan Bộ Quốc Phòng, Viện Kỹ thuật quân sự và Bộ tư lệnh Dù đã tổ chức triển khai có hiệu quả cách đánh độc đáo trên.

Nhắc về chiến công hiển hách năm xưa của tiểu đội mình nói riêng và của Bộ tư lệnh Dù nói chung, Đại tá Đàm Trọng không dấu được sự phấn chấn và niềm xúc động. 45 năm đã trôi qua, nhưng ký ức về trận đánh năm nào vẫn tươi mới và rõ nét trong ông. Đại tá kể lại:

“Để tạo bất ngờ mới và bảo vệ cánh Đông Nam miền Bắc, chúng tôi nhận lệnh chuyển vị trí, hành quân bộ từ Hà Nam về Ninh Bình. Gồng gánh cồng kềnh nhiều phương tiện bố trí như: Guồng máy, dây, mìn… nhưng chúng tôi vẫn tập kết đúng thời gian quy định. Thời điểm này, 12 máy bay địch đang oanh tạc từ thị xã Ninh Bình về đến huyện Yên Khánh (Ninh Bình). Bàn bạc với huyện đội Yên Khánh, chúng tôi hạ quyết tâm đóng chốt ở đây để tiêu diệt máy bay địch. Được sự đồng ý của tỉnh đội Ninh Bình và sự trợ giúp nhiệt tình của dân quân huyện Yên Khánh, chúng tôi đã bắt tay vào triển khai kế hoạch. Tối ngày 5-2-1967, chúng tôi bơm bóng và đưa lên vị trí đã bố trí.

Cán bộ, cựu chiến binh Lữ dù 305 tại Hà Nội tổ chức họp mặt ngày 22-2-1998.

Sáng 6-2-1967, gió mùa đông bắc, mưa phùn, lạnh tê cứng chân tay. Bên dòng sông Đáy, bộ đội và dân quân Yên Khánh ai cũng lạnh tê người vì rét, nhưng tất cả đều thể hiện sự quyết tâm cao độ. Lúc này gió khá mạnh nên bóng nhỏ không thả được, chúng tôi quyết định thả bóng lớn có gắn mìn định hướng.

6 giờ, toàn bộ công tác chuẩn bị đã hoàn tất, bóng được thả đúng vị trí đã bố trí. Tổ trực chiến lúc đó có tôi (Đàm Trọng), đồng chí Nhương, đồng chí Điều, đồng chí Hội và hai nữ dân quân Yên Khánh.

10 giờ, chúng tôi nghe thấy tiếng động cơ phản lực Mỹ gầm rít và tiến dần về phía bãi bóng có gắn mình định hướng đã được ta bố trí. Sương và mưa phùn che khuất tầm nhìn. Tất cả đều thấp thỏm và hồi hộp.

Bùm!

Một tiếng nổ váng trời, phá tan cái lạnh tê tái của mưa phùn và gió bấc mùa đông. Máy bay địch đã vướng vào bóng, chập mạch điện và nổ mìn MTK, làm đứt dây cước loại 2 ly (có lực kéo 204kg) và cả đường dây điện bố trí quả mìn. Thân cánh máy bay kéo suốt một đường dài trên dây bố trí và có rất nhiều khả năng rơi. Tôi về báo cáo ngay tỉnh đội Ninh Bình và Lữ đoàn 305.

10 giờ ngày 8-2, tỉnh đội Ninh Bình thông báo chính thức: C15, Lữ dù 305 đã góp phần cùng dân quân Ninh Bình hạ một máy bay AD6, chiếc thứ 1680 của cả nước và chiếc thứ 57 của tỉnh Ninh Bình. Chiếc AD6 của Mỹ chính thức rơi tại cửa sông Đáy.

Tất cả chúng tôi đều vỡ òa niềm vui sướng. Còn hai ngày nữa là hết năm Bính Ngọ, chuẩn bị đón tết Đinh Mùi. Huyện Yên Khánh đã “thưởng nóng” cho chúng tôi một con lợn để ăn tết và mừng chiến thắng”.

Được gặp và nghe đại tá Đàm Trọng kể về chiến công năm xưa của ông cùng đồng đội, tôi thực sự thấy khâm phục sức sáng tạo độc đáo của “bộ đội dù”. Vượt qua mọi khó khăn, “bộ đội dù” đã đóng góp một phần không nhỏ vào chiến thắng của quân đội ta trong cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại miền Bắc (1964 – 1972).

Bài, ảnh: Nguyễn Hương Bưởi
qdnd.vn

Nhớ Tết Quý Sửu năm ấy

QĐND – Những ngày cuối tháng 1-1973, mặc dù Tết Nguyên đán Quý Sửu đã sát gần nhưng tình hình chiến sự trên mặt trận đường 19 Tây Nguyên vẫn diễn ra vô cùng quyết liệt. Cả ta và địch đều quyết tâm giành thêm đất, thêm dân, mở rộng vùng kiểm soát trước khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực.

Hiệp định Pa-ri về Việt Nam có hiệu lực từ 0 giờ ngày 27-1-1973 nhưng thời điểm ngừng bắn lại vào 8 giờ ngày 28 (tức 29 Tết). Đại đội 1 súng máy cao xạ 12,7mm của chúng tôi tiếp tục được phối thuộc với Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48 có nhiệm vụ chốt chặn đường 19 ở khu vực làng Yít-đồn Tầm. Chúng tôi hiểu rằng, kẻ thù đang cay cú trước thất bại liên tiếp vừa qua, nhất định chúng sẽ bất chấp lệnh ngừng bắn và Tết cổ truyền, tiếp tục tiến công trên hướng này hòng củng cố lại thế trận.

Đúng như vậy, sáng 27-1, địch điều Tiểu đoàn 62 biệt động quân và một chi đoàn xe tăng của Thiết đoàn 21 đến tăng cường cho khu vực đồn Tầm. Đến khoảng 16 giờ, địch bắt đầu tấn công. Mở đầu, chúng cho các trận địa pháo ở Thanh Bình, Thanh An bắn cấp tập vào tuyến chốt chặn của ta. Chúng còn dùng cả súng phun lửa bắn vào khu vực trận địa của chúng tôi làm cháy rụi cây cối và những nhà dân còn sót lại. Sau đợt pháo, địch cho bộ binh có xe tăng dẫn dắt tiến vào. Nhưng chúng đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của bộ đội ta, một xe tăng M41 bị thiêu cháy, hàng chục tên địch bị diệt… Tối đó, bộ phận tuyên truyền đấu tranh chính trị gồm một số cán bộ của Trung đoàn 48 và huyện 5 vừa được thành lập cũng vào triển khai công sự gần trận địa chốt của chúng tôi để chuẩn bị tác chiến sau giờ ngừng bắn.

Sáng 28-1, mặt trời vừa nhô lên, địch đã cho pháo bắn liên tục hàng giờ liền vào trận địa ta. Tiếng pháo vừa dứt, chúng tôi đã thấy 4 xe tăng M41 cùng bộ binh địch triển khai đội hình hai bên đường 19 tiến vào hướng trận địa chốt của Đại đội 1 và Đại đội 3 (Tiểu đoàn 1), vừa đi chúng vừa bắn như đổ đạn sang hai bên. Nhưng vừa lọt vào vùng kiểm soát của ta, một chiếc xe tăng địch đã bị trúng mìn bốc cháy, một chiếc khác bị đạn B41 của chiến sĩ ta nổ tung. Cùng lúc, bộ binh địch cũng bị các cỡ súng của ta bắn mãnh liệt vào đội hình, hàng chục tên trúng đạn ngã vật. Thấy vậy, hai chiếc xe tăng còn lại vội vã quay đầu chạy. Bộ binh địch không còn biết bấu víu vào đâu, vội nằm rạp xuống đất giơ súng bắn loạn xạ lên trời. Một lúc sau, quân địch rút lui. Không gian trở lại yên tĩnh. Chúng tôi tranh thủ củng cố lại trận địa chờ địch đến. Bỗng ở phía trước, tiếng súng tiểu liên AR15 nổ liên hồi xen lẫn tiếng reo hò huyên náo. Thì ra đã đến giờ ngừng bắn, binh lính địch bắn súng ăn mừng và reo vang vì họ nghĩ không phải chiến đấu nữa. Tiếng súng ngớt, binh lính địch trèo hết lên thành công sự cầm súng huơ huơ lên trời tiếp tục kêu lên: “Hòa bình rồi. Sống rồi, anh em ơi!”. Một lúc sau, từ bên phía địch bật lên tiếng cọt kẹt, rồi tiếng loa công suất lớn phát ra những lời lẽ tô vẽ cho cái gọi là “chánh nghĩa quốc gia”. Đáp lại, tổ công tác của ta cũng dùng loa tuyên truyền về các điều khoản thi hành Hiệp định Pa-ri và các bài ca cách mạng; có điều, loa của ta là loa pin, công suất nhỏ, lại ngược chiều gió…

Khoảnh khắc hòa bình đến quá nhanh giữa bãi chiến trường còn vương khói súng làm chúng tôi cũng lâng lâng một niềm vui cảnh giác. Chưa biết việc thực thi hiệp định rồi sẽ ra sao, nhưng lúc này chúng tôi ai cũng thấy phấn chấn. Thế là, sau gần một tháng liên tục cơ động chiến đấu, chịu đựng nhiều gian khổ hy sinh, Sư đoàn 320 chúng tôi đã quét sạch quân địch, làm chủ đường 19 từ Đức Cơ đến làng Yít và đường 14 từ Phú Mỹ đến Mỹ Thạch, mở ra vùng giải phóng rộng lớn ở phía tây nam Gia Lai, nối thông với hành lang vận tải chiến lược ở phía Tây. Lá cờ giải phóng khổ lớn ngạo nghễ tung bay trên cột cờ ở đầu làng Yít trên đường 19 và ở Phú Mỹ trên đường 14, chỉ cách Bộ chỉ huy Quân đoàn 2 ngụy ở Plei-cu chưa đầy 30km là niềm tự hào của mỗi chúng tôi.

Ngày hôm sau, từ sáng đến chiều, địch chỉ mở đài, phát loa mà không có hoạt động gì đáng kể, chúng tôi vẫn cảnh giác và luôn ở tư thế chiến đấu. Còn bộ phận tuyên truyền của ta đã rút được kinh nghiệm, chờ đến buổi chiều có gió tây thổi ngược lại mới phát loa tuyên truyền, nhờ có gió nên mặc dù loa tay công suất nhỏ vẫn đánh bại được tiếng loa công suất lớn của địch. Tối hôm đó, đơn vị tổ chức ăn Tết Quý Sửu. Bữa cơm Tết duy nhất của chúng tôi có thêm món chuối rừng ninh xương và thịt kho. Mỗi chúng tôi còn được Bác Tôn gửi tặng một điếu thuốc lá Điện Biên và hai chiếc kẹo Hải Hà.

Suốt ba ngày Tết, địch chủ yếu phát loa, hết tuyên truyền xuyên tạc đến mở băng ca nhạc với những giọng ca não nề buồn tẻ, rồi kêu gọi “các cán binh cộng sản trở về với chánh nghĩa quốc gia”. Bộ phận tuyên truyền của ta đã được trang bị thêm loa công suất lớn và máy phát điện. Các anh tập trung tuyên truyền những điều khoản thi hành Hiệp định Pa-ri, chính sách nhân đạo và khoan hồng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam.

Sau Tết Nguyên đán Quý Sửu, theo đề nghị của ta, địch đồng ý cùng ta làm Nhà hòa hợp để trao đổi việc thực thi các điều khoản của Hiệp định Pa-ri. Nhà hòa hợp được dựng lên ở khu đất bằng phẳng cách đềutuyến chốt của ta và của địch 200m. Khi Nhà hòa hợp đi vào hoạt động, chúng tôi được lệnh rút về tuyến hai, chỉ để lại một bộ phận nhỏ bảo vệ Đoàn hòa giải hòa hợp dân tộc của ta đấu tranh với địch.

HÙNG TẤN
qdnd.vn

“Giải mật” vụ trừ khử tướng Nguyễn Văn Kiểm

QĐND – Sau ngày đất nước thống nhất, các cán bộ, chiến sĩ Đội trinh sát vũ trang B5 (Ban An ninh T4 khu Sài Gòn-Gia Định) đã có dịp tiếp cận những hồ sơ của Tổng nha Cảnh sát và Cục An ninh Quân đội Sài Gòn, trong số đó có hồ sơ các vụ diệt trừ sĩ quan và chính khách Việt Nam Cộng hòa giữa nội đô Sài Gòn cách đây hơn 40 năm. Chúng tôi đã tìm gặp các chiến sĩ Đặc công Thành thuộc Đội trinh sát vũ trang B5 và được họ “giải mật” những trang hồ sơ trong kho lưu trữ của đối phương.

“Mục tiêu” ngoài kế hoạch

Ông Nguyễn Văn Lệnh (biệt danh Tư Hổ, nguyên Chỉ huy phó Đội trinh sát vũ trang B5, hiện trú tại ngõ 255 đường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội) đã kể lại với chúng tôi quá trình chuẩn bị và những bước tiến hành các vụ diệt ác, trừ gian của lực lượng Đặc công Thành sau Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. “Trước đó, tôi đã có nhiều năm “giấu mình” bằng việc dùng thẻ căn cước giả, giấy miễn quân dịch, rồi mua căn nhà số 116/2 ấp Phú Trung 3, xã Phú Thọ Hòa (quận Tân Bình) để làm hầm cất giấu vũ khí, tự chế chất nổ”.

Ông Lê Việt Bình – một trong bốn chiến sĩ trực tiếp tham gia diệt trừ tướng Nguyễn Văn Kiểm.

Ông Lệnh cho biết, từ nửa cuối tháng 1-1969, một kế hoạch diệt trừ đã được ông và Nguyễn Công Tâm (tức Ba Hiệp, Chỉ huy trưởng B5) bàn bạc kỹ lưỡng, “mục tiêu” khi đó là Trung tướng tình báo Linh Quang Viên – Tổng trưởng Nội vụ, Phụ tá an ninh của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Linh Quang Viên quê Cao Bằng, từng tốt nghiệp Trường Trung học An-be Xa-rô (Albert Sarraut) ở Hà Nội. Năm 1953, Viên được cử đi đào tạo chuyên ngành Tham mưu tại Pháp, sau đó được quan thầy Mỹ đưa sang đào tạo chuyên ngành chỉ huy và tham mưu cao cấp tại Pho Li-ven-uốt (Fort Leavenworth) Hoa Kỳ. Với mục đích gây tiếng nổ giữa nội đô và nhằm vào việc tiêu diệt các nhân vật có nhiều nợ máu với nhân dân, Ban chỉ huy B5 đã quyết định đưa Linh Quang Viên vào “tầm ngắm”.

Ba Hiệp và Tư Hổ đề ra hai phương án đánh Linh Quang Viên. Phương án 1 là tiêu diệt y ngay tại nhà riêng ở 151 đường Nguyễn Thông, quận 3, nhưng qua nghiên cứu thấy phương án này rất khó thực hiện bởi nhà Viên có lính bảo vệ cẩn mật, xung quanh nhà lại có hàng rào thép gai chắc chắn, điện thắp sáng suốt đêm. Phương án 2 là đợi Viên đi ra khỏi nhà, ta cử người bám theo, thời cơ thuận lợi sẽ tiêu diệt. Phương án này không đòi hỏi nhiều người tham gia, không cần sử dụng nhiều vũ khí, lúc đánh xong ta có thể dễ dàng rút lui an toàn. Sau khi phân tích kỹ lưỡng, Chỉ huy B5 đã quyết định sử dụng phương án 2.

Ông Nguyễn Văn Lệnh (bí danh Tư Hổ).

Trước khi thực hiện, ta bố trí người trinh sát, nắm quy luật đi lại hằng ngày của Linh Quang Viên. Chỉ huy phó Tư Hổ đã nhiều lần trực tiếp ngồi trên xe máy cùng Út Cạn (tức Dũng, đang là lính quân dịch trong đơn vị Biệt động quân của địch) tới ngã tư đường Nguyễn Thông-Phan Thanh Giản (nay là ngã tư Nguyễn Thông-Điện Biên Phủ, TP Hồ Chí Minh) để tiếp cận chiếc xe của Viên khi hắn đi từ nhà riêng tới văn phòng làm việc trong dinh Độc Lập. “Một lần, Út Cạn chở tôi bằng xe máy bám theo ô tô của Viên để thử phản ứng của chúng. Khi xe máy lượn sát xe của Viên, bọn lính bảo vệ lập tức giơ súng ra cảnh cáo, Út Cạn liền nhanh chóng lái xe lượn ra”, ông Lệnh kể lại.

Sau mấy ngày chia thành các nhóm trinh sát và cho hai xe máy chở các chiến sĩ Đặc công Thành “thực tập” phương án, chỉ huy B5 chọn thời điểm thực hiện vụ mưu sát là ngày 1-2-1969. Thời gian, địa điểm cụ thể không quy định trước, ta bố trí bám theo xe Viên và khi nào thuận lợi sẽ ra tay, vũ khí chủ yếu là những trái mìn tự tạo với trọng lượng khoảng 1,5kg thuốc nổ C4.

6 giờ 30 phút ngày 1-2, các trinh sát của ta có mặt tại ngã tư Nguyễn Thông-Phan Thanh Giản. Nửa giờ sau, chiếc xe bốn chỗ vẫn thường chở Viên và hai xe jeep hộ tống lao ra khỏi khu gia binh. Khi đoàn xe tới ngã tư Bà Huyện Thanh Quan-Phan Thanh Giản, gặp đèn đỏ, 3 xe dừng lại. Thời cơ thuận lợi, Út Cạn giật nụ xòe và ném trái mìn vào đầu chiếc xe 4 chỗ được xác định là xe chở Linh Quang Viên, sau đó trinh sát Hai Đường ném trái mìn vào hai xe jeep hộ tống. Những tiếng nổ lớn làm cho bọn địch không kịp trở tay, những tên ngồi trong xe bị thương vong nặng, hai trong số ba chiếc xe ô tô bị phá hủy. Bốn trinh sát: Út Cạn, Anh Đồng, Sáu Sinh, Hai Đường rút lui an toàn bằng xe máy…

Ngày hôm sau, diễn biến vụ đánh mìn trên đường phố Sài Gòn đã được báo chí Sài Gòn mô tả chi tiết. Khi ấy, các chiến sĩ Đội trinh sát vũ trang B5 mới hay viên tướng trong chiếc xe bốn chỗ màu đen không phải là Linh Quang Viên mà là Nguyễn Văn Kiểm, viên tướng hai sao đang giữ chức Tham mưu trưởng Biệt bộ Phủ Tổng thống. Kiểm đã… vô tình trở thành mục tiêu của lực lượng Đặc công Thành, bởi đúng ngày đó, y lại sử dụng chiếc xe mà mọi ngày Linh Quang Viên vẫn dùng. Do cả hai viên tướng đều trú trong cùng khu gia binh ở đường Nguyễn Thông nên các chiến sĩ Đặc công Thành đã có sự nhầm lẫn ngẫu nhiên. Theo tin của ta nắm được, Nguyễn Văn Kiểm chuẩn bị được cất nhắc lên thay vị trí của Linh Quang Viên và không may cho hắn, Kiểm đã bị cụt chân trái, phải tháo khớp. Sau khi được đưa ra nước ngoài chữa trị, Kiểm tử vong ít ngày sau đó…

“Khi hay tin ta đánh nhầm, anh em trinh sát B5 rất lo sẽ bị cấp trên phê bình, nhưng rồi mọi người đều thở phào khi được lãnh đạo Ban An ninh T4 biểu dương: B5 đã diệt được một viên tướng không kém phần “máu mặt” ở thời điểm ấy”, ông Lệnh kể.

Bản phúc trình 486 của Tổng Nha cảnh sát

Đọc lại những trang hồ sơ mà kẻ địch từng gọi họ là những “can phạm”, các chiến sĩ an ninh và đặc công của ta đã hiểu thêm về những hoạt động nhằm đập tan luận điệu mà đối phương từng rêu rao là “đã quét sạch Việt Cộng ra khỏi Sài Gòn” sau Chiến dịch Mậu Thân 1968.

Phúc trình điều tra vụ diệt trừ tướng Kiểm của Tổng Nha Cảnh sát Sài Gòn. Ảnh: Hùng Khoa.

Trong Hồ sơ 486 có tiêu đề: “Phúc trình điều tra sơ khởi vụ mưu sát Thiếu tướng Nguyễn Văn Kiểm ngày 1-2-1969”, Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn đã đề cập tới những điều tra ban đầu quanh vụ diệt trừ viên tướng đang giữ chức Tham mưu trưởng Biệt bộ Phủ Tổng thống. Bản Phúc trình đề cập tới diễn biến xảy ra vụ mưu sát vào lúc 9 giờ ngày 1-2-1969, khi tướng Kiểm có mặt trên một xe ô tô bốn chỗ màu đen cùng hai xe jeep có quân lính hộ tống trên đường từ nhà riêng tới Phủ Tổng thống. Xe của tướng Kiểm và hai xe jeep bị ném mìn. Vụ nổ làm tướng Kiểm và các binh lính tháp tùng bị thương vong nặng, bốn người đàn ông thực hiện đã trốn thoát bằng xe máy.

Ông Lê Việt Bình (tức Hai Đường) – nguyên chiến sĩ Đặc công Đội vũ trang trinh sát B5, một trong bốn trinh sát từng trực tiếp thực hiện vụ diệt trừ tướng Kiểm đã cho chúng tôi xem bản chụp các trang báo của tờ “Đuốc Nhà Nam” số ra ngày 2-2-1969. Tờ báo đã nêu chi tiết vụ việc cùng tình trạng thương vong của viên tướng này tại Bệnh viện Đồn Đất. Trong thời điểm đó, báo chí Sài Gòn đã coi vụ diệt trừ tướng Kiểm là một sự kiện chấn động kể từ sau Chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968, bởi đó là trận đánh mà “Việt Cộng” đã táo bạo hành động giữa ban ngày và ngay trong nội đô. Theo điều tra ban đầu của Tổng Nha Cảnh sát, “thủ phạm” có cả những người mang sắc phục binh lính Quân đội Sài Gòn…

“Tác giả” của những trái mìn tự tạo dùng trong vụ diệt trừ tướng Kiểm là Đặc công Tư Hổ. Ông tên thật là Nguyễn Văn Lệnh, sinh năm 1930, quê xã Minh Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, nguyên sĩ quan trinh sát Công an vũ trang (nay là Bộ đội biên phòng). Tư Hổ đã dùng căn cước giả lấy tên là Nguyễn Văn Thanh, sau đó mua nhà riêng để chứa vũ khí và chế tạo gần 20 trái mìn phục vụ các trận đánh của Đội trinh sát vũ trang B5, trong đó có trận đánh nhằm vào đoàn xe của Thủ tướng Trần Văn Hương ngày 5-3-1969.

———————–

Kỳ sau: “Mục tiêu” Trần Văn Hương qua lời kể của Đặc công Tư Hôx

BÙI QUANG HUY
qdnd.vn

Cải cách ruộng đất 1953 – Văn bản quy phạm pháp luật

QUỐC HỘI
Số: Không số

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
_________________________
Hà Nội, ngày 04 tháng 12 năm 1953

LUẬT

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

CHƯƠNG I

MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

Điều 1. – Mục đích và ý nghĩa cải cách ruộng đất là:

Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ,

Để thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân,

Để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường cho công thương nghiệp phát triển,

Để cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng của kháng chiến,

Để đẩy mạnh kháng chiến, hoàn thành giải phòng dân tộc, củng cố chế độ dân chủ nhân dân, phát triển công cuộc kiến quốc.

CHƯƠNG II

TỊCH THU, TRƯNG THU, TRƯNG MUA RUỘNG ĐẤT

MỤC I

ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CỦA ĐẾ QUỐC

XÂM LƯỢC KHÁC; CỦA ĐỊA CHỦ VIỆT GIAN, PHẢN ĐỘNG,

CƯỜNG HÀO GIAN ÁC.

Điều 2. – Tịch thu toàn bộ ruộng đất và tài sản của thực dân Pháp và của đề quốc xâm lược khác.

Điều 3. – Đối với địa chủ Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì tuỳ tội nặng nhẹ mà tịch thu toàn bộ hoặc một phần ruộng đất, trâu bò, nông cụ, lương thực thừa, nhà cửa thừa và tài sản khác.

Phần không tịch thu thì trưng thu.

MỤC II

ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN CỦA NHÂN SĨ DÂN CHỦ, ĐỊA CHỦ

KHÁNG CHIẾN, ĐỊA CHỦ THƯỜNG.

Điều 4. – Đối với nhân sĩ dân chủ, địa chủ kháng chiến, địa chủ thường, thì:

Trưng thu toàn bộ ruộng đất hiện có cùng trâu bò và nông cụ.

Không đụng đến tài sản khác.

Giá trưng mua ruộng đất là giá sản lượng trung bình hàng năm của ruộng đất trưng mua.

Giá trưng mua trâu bò, nông cụ là giá thị trường ở địa phương.

Giá trưng mua được trả bằng một loại công phiếu riêng.

Công phiếu ấy được trả lãi 1,5 phần trăm mỗi năm.

Sau thời hạn mười năm sẽ hoàn vốn.

MỤC 3

ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT CỦA ĐỊA CHỦ ĐÃ PHÂN TÁN.

Điều 5. – Từ ngày ban hành sắc lệnh giảm tô (14 tháng 7 năm 1949) đến ngày ban hành sắc lệnh phát động quần chúng triệt để giảm tô (12 tháng 4 năm 1953), việc phân tán ruộng đất của địa chủ với mục đích trốn tránh sắc lệnh giảm tô và sắc lệnh thuế nông nghiệp, là không chính đáng.

Đối với ruộng đất của địa chủ đã phân tán trong trường hợp kể trên, thì xử trí như sau:

1) Ruộng đất đã phân tán vào tay địa chủ thì tịch thu, trưng thu hoặc trưng mua tuỳ trường hợp, như đã quy định ở điều 3 và điều 4.

Giá trưng mua ruộng đất phân tán nói trên là nguyên giá lúc mua.

Giá trưng mua đó được trả cho địa chủ đã mua ruộng đất phân tán bằng công phiếu.

2) Ruộng đất đã phân tán vào tay phú nông thì trưng mua theo nguyên giá lúc mua.

Giá trưng mua sẽ trả dần trong thời hạn không quá năm năm, bằng tiền hay hiện vật.

3) Ruộng đất đã phân tán vào tay trung nông thì coi đó là việc trong nội bộ nông dân lao động, dùng lối thuyết phục mà dàn xếp một cách thoả thuận, để trung nông tự động nhường lại cho nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất.

Khi trung nông nhường lại, thì phải đảm bảo cho họ còn số diện tích không dưới mức bình quân chiến hữu hiện nay của trung nông trong xã.

Trung nông nhường ruộng đất được Chính phủ đền bù bằng tiền hay hiện vật theo nguyên giá lúc mua.

4) Ruộng đất đã phân tán vào tay bần cố nông thì không đụng đến.

5) Ruộng đất đã phân tán vào tay tư sản dân tộc thì trưng mua theo nguyên giá lúc mua.

Giá trưng mua sẽ trả dần trong thời hạn không quá năm năm, bằng tiền hay hiện vật.

6) Ruộng đất đã phân tán vào tay các tầng lớp tiểu tư sản, thì thuyết phục họ tự động nhường lại cho nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất.

Nếu họ không đủ sống với nghề chính, thì phải để lại cho họ một phần ruộng đất để bù cho họ đủ sống.

Người nhường ruộng đất được Chính phủ đến bù bằng tiền hay hiện vật theo nguyên giá lúc mua.

Điều 6. – Từ ngày ban hành sắc lệnh phát động quần chúng thực hiện giảm tô (12 tháng 4 năm 1953), những việc phân tán ruộng đất trái phép của địa chủ đều không được thừa nhận.

Ruộng đất địa chủ phân tán trái phép bị tịch thu.

Địa chủ trái phép phải bồi thường thiệt hại cho người đã nhận ruộng đất phân tán đó.

Điều 7. – Nay xó bỏ nợ mà nông dân lao động và các tầng lớp nghèo ở nông thôn đã vay của địa chủ.

Điều 8. – Nay xoá bỏ độc quyền mặt biển và khúc sông.

MỤC 4

ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT CÔNG VÀ NỬA CÔNG NỬA TƯ

VÀ RUỘNG ĐẤT CỦA TÔN GIÁO.

Điều 9.– Trưng thu:

– Công điền, công thổ;

– Ruộng phe, ruộng giáp, ruộng xóm; ruộng tư văn, tư vũ, lộc điền; ruộng hậu, ruộng họ, ruộng môm sinh, v.v..

– Ruộng đất của các đoàn thể.

Điều 10. – Ruộng đất của tôn giáo (Nhà Chung, nhà chùa, thánh thất, tu viên, v.v…) thì trưng thu và trưng mua.

Trường hợp có mua chính đáng thì trưng mua.

MỤC 5

ĐỐI VỚI CÁC LOẠI RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN KHÁC.

RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN CỦA ĐỊA CHỦ KIÊM NHÀ CÔNG THƯƠNG NGHIỆP

VÀ CỦA NHÀ CÔNG THƯƠNG NGHIỆP KIÊM ĐỊA CHỦ.

Điều 11. – Để khuyến khích sản xuất và phát triển kinh tế quốc dân, công thương nghiệp được bảo hộ.

Không đụng đến công thương nghiệp của địa chủ.

Không đụng đến đất đại trực tiếp dùng vào việc kinh doanh công thương nghiệp.

Những ruộng đất khác của địa chủ kiêm nhà công thương nghiệp và của nhà công thương nghiệp kiêm địa chủ thì trưng mua.

Ruộng đất và tài sản của những người có ít ruộng đất phát canh hoặc thuê người làm.

Điều 12. – Những người có ít ruộng đất, nhưng vì tham gia công tác kháng chiến, vì thiếu sức lao động, vì bận làm nghề khác mà phải phát canh hoặc thuê người làm, thì không coi là địa chủ.

Không đụng đến ruộng đất và tài sản của họ.

Ruộng đất và tài sản của phú nông.

Điều 13. – Kinh tế phú nông được bảo tồn.

Không đụng đến ruộng đất, trâu bò, nông cụ và tài sản khác của phú nông.

Ruộng đất và tài sản của trung nông

Điều 14. – Bảo hộ ruộng đất, trâu bò, nông cụ và tài sản khác của trung nông.

Trung nông thiếu ruộng đất được chia thêm ruộng đất.

MỤC 6

ĐỐI VỚI RUỘNG VẮNG CHỦ VÀ RUỘNG ĐẤT BỎ HOANG

RUỘNG ĐẤT VẮNG CHỦ

Điều 15. – Trưng thu ruộng đất của địa chủ không rõ tông tích.

Điều 16. – Đối với ruộng đất của địa chủ vắng mặt vì tham gia công tác kháng chiến và của địa chủ tản cư ở vùng tự do mà không phải là Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì trưng mua.

Điều 17. – Đối với ruộng đất ở vùng tự do của địa chủ hiện nay ở vùng tạm bị chiếm, thì tuỳ thái độ chính trị của từng người mà tịch thu, trưng thu hoặc trưng mua.

Nếu là Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì xử trí như đã quy định ở điều 3.

Nếu không phải là Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì trưng mua, như đã quy định ở điều 4.

RUỘNG ĐẤT BỎ HOANG

Điều 18. – Trưng thu ruộng đất của địa chủ bỏ hoang bất cứ vì lý do gì.

Ruộng đất không phải của địa chủ mà bỏ hoang quá hai năm không có lý do chính đáng thì trưng thu.

MỤC 7

ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN CỦA NGOẠI KIỀU.

Điều 19. – Về nguyên tắc, ngoại kiều không có quyền chiếm hữu ruộng đất ở Việt Nam.

Ngoại kiều được phép sử dụng ruộng đất ở Việt Nam.

Ngoại kiều nông dân từ trước đến nay sống ở nông thôn về nghề cày cấy, trồng trọt, nếu làm mọi bổn phận như người Việt Nam thì được quyền sở hữu ruộng đất.

Điều 20. – Đối với địa chủ ngoại kiều hợp tác với địch hoặc là phản động, cường hào gian ác, thì tịch thu toàn bộ hoặc một phần ruộng đất và tài sản, tuỳ tội nặng nhẹ.

Phần không tịch thu thì trưng mua.

Đối với địa chủ ngoại kiều không hợp tác với địch, không phải là phản động, cường hào gian ác, thì trưng mua toàn bộ ruộng đất, trâu bò và nông cụ.

CHƯƠNG III

CÁCH CHIA RUỘNG ĐẤT

MỤC 1

RUỘNG ĐẤT, TÀI SẢN CHIA, VÀ RUỘNG ĐẤT, TÀI SẢN KHÔNG CHIA.

Điều 21. – Trừ trường hợp quy định ở điều 22, những thứ tịch thu, trưng thu, trưng mua đều chia cho công dân:

1) Ruộng đất, trâu bò, nông cụ và tài sản khác.

2) Đồi, vườn trồng cây ăn quả, trồng chè, chẩu, cọ, sơn, dó, v.v…

Gặp trường hợp chia mà có hại cho sản xuất thì không chia.

Nếu không chia, thi do chính quyền quản lý, hoặc chính quyền giao cho chủ cũ quản lý.

Điều 22. – Những thứ không chia:

1) Ruộng đất trồng trọt bằng máy móc; đồn điền trồng cà phê, cao su hoặc trồng cây công nghiệp khác; vườn trồng cây ăn quả bằng kỹ thuật tiến bộ; đồn điền thí nghiệm, bãi phi lao ở bờ biển, v.v…

2) Rừng núi lớn, hầm mỏ; hồ lớn, sông ngòi, công trình thuỷ lợi, đê điều; đất ở ven đường xe lửa, đường xá, đất thuộc các đô thị, thị trấn, đất dùng vào các công trình lợi ích chung, v.v…

3) Cảnh vật có tiếng trong lịch sử, hoặc có giá trị về văn hoá, lâu đài, đền, miếu; sách vở tài liệu chính trị và văn hoá, v. v…, nghĩa địa và lăng tẩm, v.v…

Đất đai, nhà cửa và tài sản kể trên là của nhà nước và của chung nhân dân, do chính quyền quản lý.

Điều 23. – Trong khi chia phải để lại ở mỗi xã một số ruộng đất để dùng vào những việc sau đây: đón thương binh về làng; dự phòng sau này chia cho những người ở xa về; làm trụ sở cho cơ quan, làm trường học v.v…

Điều 24. – Ruộng đất do nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác khai phá từ Cách mạng Tháng Tám thuộc quyền sở hữu của những người đã có công khai phá.

Không được đụng đến ruộng đất đó.

MỤC 2

NGƯỜI ĐƯỢC CHIA.

Điều 25. – Những người sau đây được chia:

1) Nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất: bần cố nông và trung nông thiếu ruộng đất.

Phú nông làm tá điền thiếu ruộng đất cũng được chia.

2) Đối với những tầng lớp nghèo ở nông thôn (người làm nghề thủ công, người làm hàng xay hàng xáo, người buôn thúng, bán mẹt, người làm nghề đánh cá, người làm nghề tự do, v.v…), nếu không đủ sống và có sức cày cấy, thì được chia một phần để bù thêm cho đủ sống.

3) Những người sau đây, nếu gia đình họ ở nông thôn và thuộc hạng được chia, thì được chia một phần ngang với phần chia cho nông dân:

a) Liệt sĩ, quân nhân cách mạng, thương binh, bệnh binh.

b) Cán bộ chính quyền và đoàn thể; nhân viên phục vụ kháng chiến, công nhân các xí nghiệp quốc doanh.

4) Công nhân thất nghiệp, và gia đình họ ở nông thôn, nếu không có nghề khác để sống và có sức cày cấy, thì được chia.

5) Những người tản cư về nông thôn, nếu không đủ sống, có sức cày cấy, yêu cầu được chia, và nông dân nơi họ tản cư đồng ý, thì cũng được chia.

Họ chỉ được phép sử dụng mà không có quyền sở hữu ruộng đất được chia.

6) Nhà Chung, nhà chùa, từ đường họ, và các cơ quan tôn giáo khác, được để lại một phần ruộng đất để dùng vào việc thờ cúng.

Phần ruộng đất ấy do nhân dân địa phương bình nghị và Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh xét định.

Trường hợp đặc biệt quan trọng do cấp trên quyết định.

Những người làm nghề tôn giáo, nếu không đủ sống, có sức cày cấy và yêu cầu, thì được chia một phần ruộng đất ở nơi họ hoạt động, hoặc ở quê quán họ.

7) Nhân sĩ dân chủ, địa chủ kháng chiến, địa chủ thường, và gia đình của họ, được chia một phần xấp xỉ với phần chia cho nông dân.

Nhân sĩ dân chủ, địa chủ kháng chiến được chiếu cố một cách thích đáng.

8) Việt gian, phản động, cường hào gian ác bị xử phạt trên năm năm tù thì không được chia; từ năm năm tù trờ xuống thì được chia.

Gia đình họ vẫn được chia.

9) Gia đình ngụy binh ở nông thôn thuộc hạng được chia, thì cũng được chia.

Ngụy binh cũng được chia một phần ruộng đất. Nhưng khi họ chưa bỏ hàng ngũ ngụy quân trở về với Tổ quốc, thì ruộng đất ấy do Uỷ ban Kháng chiến Hành chính hay Nông Hội xã tạm giữ.

10) Ngoại kiều và gia đình họ, nếu không có nghề đủ sống, có sức cày cấy, và yêu cầu, thì được chia một phần ruộng đất.

MỤC 3

NGUYÊN TẮC CHIA.

Điều 26. – Nguyên tắc chia là:

– Thiếu nhiều chia nhiều, thiếu ít chia ít, không thiếu không chia;

– Chia trên cơ sở nguyên canh, rút nhiều bù ít, rút tốt bù xấu,

rút gần bù xa;

– Chia theo nhân khẩu chứ không theo sức lao động;

– Lấy số diện tích bình quân và số sản lượng bình quân ở địa phương làm tiêu chuẩn để chia;

– Chia theo đơn vị xã; song nếu xã ít người nhiều ruộng, thì có thể san sẻ một phần cho xã khác ít ruộng nhiều người, sau khi đã chia đủ cho nông dân trong xã.

Điều 27. – Trong khi chia ruộng đất, phải chiếu cố đến quyền lợi của tá điền trung nông.

Khi rút phần ruộng đất mà tá điền trung nông đang cày cấy, thì phải để lại cho họ một phần; phần ruộng đất để lại cộng với số ruộng đất tư của họ phải nhiều hơn số bình quân được chia một ít và không quá số bình quân chiếm hữu của mỗi nhân khẩu trong xã.

Điều 28. – Liệt sĩ, quân nhân cách mạng, thương binh, bệnh binh được ưu đãi trong khi chia.

Gia đình của họ được chiếu cố.

Điều 29. – Đối với những nhà nông dân nghèo chỉ có một hai người mà có sức lao động, nếu xã có đủ ruộng đất thì có thể chia cho họ nhiều hơn phần của những người khác.

Điều 30. – Để khuyến khích tăng gia sản xuất, ruộng đất vỡ hoang chưa quá ba năm của nông dân không tính vào số ruộng đất của họ trong khi chia.

MỤC 4

QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC CHIA.

Điều 31. – Người được chia ruộng đất có quyền sở hữu ruộng đất đó, và không phải trả cho địa chủ hay chính quyền bất cứ một khoản nào.

Chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu ấy cho người được chia. Mọi khế ước cũ đều huỷ bỏ.

Người được chia có quyền chia gia tài, cầm, bán, cho, v.v… ruộng đất được chia.

CHƯƠNG IV

CƠ QUAN CHẤP HÀNH VÀ PHƯƠNG PHÁP

THỰC HIỆN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT.

Điều 32. – Trong thời gian cải cách ruộng đất, sẽ lập Uỷ ban cải cách ruộng đất ở Trung ương, khu và tỉnh.

Dưới sự lãnh đạo của chính quyền, Uỷ ban cải cách ruộng đất có nhiệm vụ thi hành luật cải cách ruộng đất, và lãnh đạo cụ thể cuộc phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất.

Điều 33. – ở cấp xã, hội nghị đại biểu nông dân toàn xã, ban chấp hành Nông Hội xã là những cơ quan hợp pháp chấp hành luật cải cách ruộng đất.

Điều 34. – Khi phân định thành phần giai cấp, phải theo đúng điều lệ phân định thành phần giai cấp ở nông thôn do Chính phủ quy định.

Thành phần giai cấp do hội nghị đại biểu nông dân bình nghị và quyết định. Người đương sự phải được dự hội nghị để tham gia bàn định.

Quyết định của xã về thành phần giai cấp phải do Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh duyệt y, hoặc do cơ quan được Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh uỷ quyền, duyệt y.

Gặp trường hợp tranh chấp, thì phải đưa ra Toà án Nhân dân Đặc biệt xét định.

Điều 35. – Nghiêm cấm mọi hành động chống lại hoặc phá hoại phong trào phát động quần chúng cải cách ruộng đất.

Từ lúc ban hành luật cải cách ruộng đất đến lúc tuyên bố kết thúc cuộc cải cách ruộng đất, tuyệt đối cấm địa chủ chuyển dịch ruộng đất, trâu bò, nông cụ bằng bất cứ hình thức nào.

Kẻ phạm pháp do Toà án Nhân dân Đặc biệt xét xử.

Điều 36. – ở những nơi phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất, sẽ lập Toà án Nhân dân Đặc biệt.

Toà án Nhân dân Đặc biệt có nhiệm vụ:

1) Xét xử Việt gian, phản động, cường hào gian ác và những kẻ chống lại hoặc phá hoại cải cách ruộng đất;

2) Xét xử những vụ tranh chấp về ruộng đất và tài sản có liên quan đến cải cách ruộng đất;

3) Xét xử những vụ tranh chấp về phân định thành phần giai cấp.

Đối với kẻ phạm pháp thì xét xử theo pháp luật.

Nghiêm cấm bắt bớ và giết chóc trái phép, đánh đập, tra tấn hoặc dùng mọi thứ nhục hình khác.

Điều lệ tổ chức Toà án Nhân dân Đặc biệt do Chính phủ, quy định.

CHƯƠNG V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 37. – Luật cải cách ruộng đất này định cho toàn quốc.

Vùng tự do có đủ điều kiện thì thi hành trước. Các vùng khác chưa đủ điều kiện, thì thi hành sau.

Chính phủ sẽ định trong vùng tự do, nơi nào thi hành trước, nơi nào thi hành sau.

Đối với những vùng dân tộc thiểu số, tuỳ theo tình hình, Chính phủ sẽ quy định riêng.

Điều 38. – Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban bố luật cải cách ruộng đất.

Chính phủ quy định chi tiết và chịu trách nhiệm thi hành luật cải cách ruộng đất này.

—————————-

Luật này do Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua trong khoá họp lần thứ III ngày 4 tháng 12 năm 1953

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
(Đã ký)
Hồ Chí Minh

moj.gov.vn

Những mùa xuân lịch sử

Người Việt Nam có một truyền thống rất đẹp: Hằng năm, cứ mỗi dịp chào đón xuân về, cả dân tộc ôn lại lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước với biết bao chiến công chói lọi giành được vào mùa xuân. Những chiến công đó đã làm nên những mùa xuân lịch sử.

Những mùa xuân lịch sử trước khi Đảng ra đời

Mùa xuân năm 1077 diễn ra trận quyết chiến chiến lược Như Nguyệt (18/1 đến 2/1077) của quân dân Đại Việt do Lý Thường Kiệt chỉ huy nhằm tiêu diệt quân Tống xâm lược trên phòng tuyến sông Cầu (Bắc Ninh). Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ II (1075-1077).

Mùa xuân năm 1258 diễn ra cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ I, trong đó quân và dân ta dưới thời nhà Trần tổ chức phản công bằng trận Đông Bộ Đầu (ngày 29/1/1258), đập tan âm mưu xâm lược Đại Việt của quân Nguyên-Mông.

Mùa xuân năm 1285 diễn ra trận phòng ngự ở Vạn Kiếp (2/1285) do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy, đánh thắng quân Nguyên-Mông trong cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ II.

Mùa xuân năm 1288 ghi lại trận phục kích đường sông của quân dân nhà Trần (Đại Việt) trên sông Bạch Đằng (9/4/1288) do Trần Quốc Tuấn chỉ huy nhằm tiêu diệt quân Nguyên-Mông trên đường rút chạy, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần III (1287-1288).

Mùa xuân năm 1785 chứng kiến trận Rạch Gầm-Xoài Mút (20/1/1785) do Nguyễn Huệ chỉ huy, đập tan âm mưu can thiệp của phong kiến Xiêm, đánh đổ các tập đoàn phong kiến của chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Mùa xuân năm 1789, chỉ trong vòng 5 ngày đêm (từ ngày 30/12 đến 5/1 năm Kỷ Dậu – 1789), dân tộc ta dưới sự lãnh đạo tài tình của Quang Trung – Nguyễn Huệ đã quét sạch 20 vạn quân xâm lược Mãn Thanh ra khỏi bờ cõi, giải phóng kinh thành Thăng Long, giải phóng Tổ quốc.

Đây là một trong những chiến công vĩ đại và hiển hách vào bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Những mùa xuân lịch sử gắn với sự ra đời và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Mùa xuân năm 1930 ghi lại dấu mốc lịch sử ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930. Từ đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam giành được nhiều thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa dân tộc và thời đại.

Mùa xuân năm 1931: Chứng kiến sự ra đời của Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương vào ngày 26/3/1931, tiền thân của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, là tổ chức chính trị – xã hội lớn nhất của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

moi do xuan ve
Ảnh Tư liệu

Mùa xuân năm 1949: Chiến dịch Cao – Bắc – Lạng (mở màn ngày 15/3/1949, kết thúc ngày 30/4/1949), là chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đánh vào tuyến phòng thủ đường 4 và lực lượng chiếm đóng của Pháp ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn.

Mùa xuân năm 1950:

Từ ngày 25 đến ngày 27/1/1950 diễn ra Chiến dịch Bến Cát I của lực lượng vũ trang khu Sài Gòn – Chợ Lớn tiêu diệt một bộ phận quân Pháp, mở rộng khu căn cứ Long Nguyên – Thanh Tuyền;

Ngày 18/1/1950, diễn ra trận sân bay Bạch Mai của Tiểu đoàn 108 (Mặt trận Hà Nội) tập kích sân bay Bạch Mai – một căn cứ không quân quan trọng của Pháp ở Hà Nội;

Từ ngày 26/1 đến ngày 1/2/1950, diễn ra chiến dịch Cao Lãnh của lực lượng vũ trang Khu 8 trên địa bàn tổng An Tịnh (huyện Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp) nhằm tiêu hao sinh lực, phá vỡ hệ thống lô cốt, tháp canh của quân Pháp, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch tạm chiếm.

Mùa xuân năm 1951: Chiến dịch Trần Hưng Đạo kết thúc thắng lợi vào ngày 18/1/1951, do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp tổ chức, chỉ huy đánh vào phòng tuyến của quân Pháp ở vùng trung du Bắc Bộ, nhằm phát huy quyền chủ động chiến lược sau thắng lợi chiến dịch Biên Giới (năm 1950).

Mùa xuân năm 1954:

Chứng kiến trận sân bay Cát Bi (7/3/1954) do 32 chiến sĩ bộ đội địa phương Kiến An tập kích vào sân bay Cát Bi, góp phần phát triển chiến tranh du kích trong chiến cục Đông Xuân 1953-1954;

Chiến dịch Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia từ 30/1 đến 4/1954, là chiến dịch tiến công của quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Lào và Campuchia đánh quân Pháp ở Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia;

Chiến dịch Thượng Lào (29/1 đến 13/2/1954) là chiến dịch tiến công của Đại đoàn 308 và một bộ phận lực lượng vũ trang Phathét Lào trong chiến cục Đông Xuân 1953-1954;

Chiến dịch Điện Biên Phủ (từ 13/3 đến 7/5/1954), chiến dịch quyết chiến chiến lược của quân đội nhân dân Việt Nam, là đòn tiến công tiêu diệt lớn nhất, điển hình nhất của quân và dân Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp, giáng đòn quyết định đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp.

Mùa xuân năm 1963: Trận Ấp Bắc (2/1/1963) là trận chống càn điển hình của quân và dân miền Nam Việt Nam đánh bại lực lượng càn quét của ngụy quân Sài Gòn được cố vấn Mỹ chỉ huy. Báo hiệu sự phá sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ.

Mùa xuân năm 1964: Trận chiến đấu đầu tiên của không quân Việt Nam (16/2/1964), trong đó máy bay T-28 (số hiệu 963 do Nguyễn Văn Ba và Lê Tiến Phước điều khiển) thuộc Trung đoàn không quân vận tải 919 Quân chủng Phòng không-Không quân, bằng 2 loạt đạn bắn rơi máy bay địch, diệt toàn bộ toán biệt kích và tổ lái. Không quân Việt Nam lập chiến công đầu ở mặt trận trên không.

Mùa xuân năm 1965: Trận chiến đấu không quân (3/4/1965) của biên đội máy bay MIG-17 thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 921, là trận đầu đánh thắng của Không quân nhân dân Việt Nam, mở ra mặt trận trên không chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam. Mỹ phát động cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ I (7/2/1965 đến 1/11968). Quân và dân miền Bắc bắn rơi 3.243 máy bay (có 6 B 52 và 3 F 111), bắn chìm, bắn cháy 143 tàu chiến, tàu biệt kích của Mỹ.

Mùa xuân năm 1967: Chiến dịch phản công của quân giải phóng miền Nam Việt Nam đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xiti (Junction City) của Mỹ (từ 22/2 đến 15/4/1967), loại khỏi chiến đấu hơn 14.000 quân địch, phá huỷ 992 xe quân sự, 112 khẩu pháo, bắn rơi và phá huỷ 160 máy bay; bảo vệ vững chắc căn cứ, cơ quan đầu não kháng chiến; đánh bại cố gắng lớn nhất của Mỹ trong cuộc phản công chiến lược lần II và cả cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam.

Mùa xuân năm 1968: Đêm 30 rạng ngày 31/1/1968, quân dân miền Nam nhất tề tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở 64 thành phố, thị xã và nhiều vùng nông thôn rộng lớn, tiến công hàng loạt căn cứ quân sự, đánh trúng các sào huyệt, cơ quan đầu não quan trọng của quân Mỹ và quân Ngụy, là đòn quyết định giáng vào chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ.

Mùa xuân năm 1971: Diễn ra Chiến dịch phản công của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam nhằm đánh bại chiến dịch Quang Trung của ngụy quân Sài Gòn ở vùng giáp giới 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia từ 27/2 đến 16/4/1971, tiêu diệt 3 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 9 tiểu đoàn, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân Quang Trung của địch. Chiến dịch đường 9 Nam Lào (từ 30/1 đến 3/3/1971), trong đó Quân giải phóng miền Nam Việt Nam phối hợp với lực lượng cách mạng Lào đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 (30/1 đến 23/3/1971) của ngụy quân Sài Gòn được Mỹ yểm trợ hoả lực.

Mùa xuân năm 1973: Ngày 15/1/1973, sau nhiều thất bại thảm hại, Chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt mọi hành động ném bom, bắn phá miền Bắc Việt Nam. Ngày 27/1/1973, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pari lập lại hoà bình tại Việt Nam.

Mùa xuân năm 1975: Chiến dịch Tây Nguyên (4/3 đến 24/3/1975) là chiến dịch chiến lược tiến công của Quân giải phóng Mặt trận Tây Nguyên mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch, tạo bước ngoặt quyết định, đưa cuộc tiến công chiến lược của ta phát triển thành Tổng tiến công trên toàn miền Nam Việt Nam.

Đặc biệt, Chiến dịch Hồ Chí Minh (26/4 đến 30/4/1975), chiến dịch quyết chiến chiến lược của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, là điển hình về hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, các binh chủng, quân chủng, sự kết hợp trên quy mô lớn giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng; đòn quyết chiến chiến lược táo bạo, kịp thời, chính xác, kết thúc chiến tranh.

Thái Công Trường Giang
Theo http://www.gdtd.vn
Thu Hiền
(st)

bqllang.gov.vn

Khoảng trời riêng của phi đội ngày ấy

QĐND-Tôi hơi ngạc nhiên khi được Đại tá Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Nghĩa mời lên căn phòng riêng của vợ chồng ông. Thông thường, ở không gian riêng tư như vậy, người ta hay trưng bày các hình ảnh lãng mạn của vợ chồng, con cái… Nhưng ở đây, nó giống như một “bảo tàng” nhỏ về truyền thống của bộ đội không quân, trong đó có nhiều hình ảnh, hiện vật quý giá về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mà ông là một người anh hùng, có đóng góp xứng đáng vào chiến công chung. Ký ức của 12 ngày đêm oanh liệt trên bầu trời Hà Nội 40 năm trước đã trở thành một phần máu thịt của cuộc đời ông. Ngày ấy, Nguyễn Văn Nghĩa là một Phi đội trưởng thuộc Trung đoàn 927 Không quân, trực tiếp bắn rơi tại chỗ một máy bay F4 của Mỹ. Với ông, đó không chỉ là những chiến công hiển hách, ghi tên ông vào danh sách những người anh hùng của lực lượng không quân Việt Nam ngay sau chiến dịch kết thúc, mà còn là khoảng ký ức thấm đẫm nghĩa tình đồng đội, là nhịp cầu duyên cho những mối tình cảm động. “Mình được trở về, được hưởng trọn vẹn niềm hạnh phúc, trong lúc nhiều đồng đội mãi mãi nằm lại tuổi hai mươi. Mỗi năm cứ đến dịp này, vợ chồng tôi lại nhớ về những kỷ niệm ngày xưa, lòng chợt ngậm ngùi!” – Ông Nghĩa tâm sự.

Từ trong hạnh phúc…

Ngày đó, những phi công thuộc Trung đoàn 927 sau những khoảng thời gian lăn lộn trên đường băng, lướt cánh cùng những “con chim sắt” trên bầu trời để huấn luyện, chiến đấu, định kỳ các anh lại được đưa về chăm sóc sức khỏe tại Bệnh viện 108. Không gian bệnh viện trong những khoảng thời gian hiếm hoi ấy đã trở thành “ông tơ, bà nguyệt” kết nối trái tim của những chàng phi công với các nữ y sĩ, y tá, điều dưỡng viên. Bà Phan Thị Quỳnh, vợ Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa nhớ lại:

– Thời kỳ ấy ở Bệnh viện 108 có một khoa chuyên chăm sóc sức khỏe cho các anh phi công. Tôi là y sĩ của Khoa Xét nghiệm. Trong một lần lấy máu cho anh để làm xét nghiệm, tôi bắt gặp ánh mắt trìu mến của chàng phi công lịch lãm, điển trai. Các anh phi công ngày ấy ai cũng rắn rỏi, cường tráng, đẹp trai nên được các nữ y sĩ, y tá, điều dưỡng viên “chăm sóc” chu đáo lắm.

Ông Nghĩa cũng hồi tưởng:

– Nữ thầy thuốc trẻ ở bệnh viện ai cũng xinh đẹp, duyên dáng, dịu dàng, hết lòng vì bệnh nhân. Cánh phi công chúng tôi mỗi lần vào viện lại “ra về mà chẳng muốn về”…

Vợ chồng Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa trong một chuyến du lịch.

Nhiều mối tình giữa các phi công và nữ thầy thuốc trẻ đã chớm nở, nhưng trong phi đội ngày ấy, chỉ có Nguyễn Văn Nghĩa và Phan Thị Quỳnh đến được bến bờ hạnh phúc. Những đồng đội còn lại, nhiều người đã hy sinh, để lại sau lưng mình một khoảng trời riêng dang dở mà cho đến nay, dẫu đã 4 thập kỷ đi qua, vẫn còn nặng trĩu nỗi niềm…

Nguyễn Văn Nghĩa – Phan Thị Quỳnh bén duyên nhau từ năm 1969. Với phong cách lịch lãm, vốn hiểu biết sâu rộng, anh dũng trong chiến đấu… chàng phi công quê ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi đã khiến trái tim cô gái trẻ vừa tốt nghiệp trường y thầm nhớ, trộm thương. Nhưng rồi nhiệm vụ liên miên, họ rất ít có cơ hội gặp nhau. Ròng rã 4 năm kể từ lần gặp đầu tiên đến ngày cưới, hai người chỉ ở bên nhau được 3 lần. Còn lại, lời thương lời nhớ chỉ trao gửi qua những cánh thư. Mỗi lần có đồng đội của anh Nghĩa đến bệnh viện, cô y sĩ trẻ lại được nghe kể về những câu chuyện trong chiến đấu của người yêu. Tham gia chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam bằng không quân của đế quốc Mỹ, phi công Nguyễn Văn Nghĩa đã cất cánh làm nhiệm vụ 100 lần, trong đó xuất kích trực tiếp chiến đấu 68 lần, có 9 lần gặp địch, 8 lần nổ súng, phóng 8 quả đạn tên lửa, bắn rơi 6 máy bay Mỹ, có 5 chiếc rơi tại chỗ, bắt sống 2 giặc lái và tạo điều kiện cho số 2 bắn rơi 1 chiếc máy bay F4 khác của Mỹ. Cô gái luôn tự hào về người yêu. Ngược lại, cô y sĩ trẻ chính là động lực, niềm tin tiếp sức cho chàng phi công hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Họ hẹn nhau khi chiến tranh kết thúc, hai người sẽ xây tổ ấm. Và lễ cưới của đôi uyên ương đã được tổ chức đúng vào ngày ký Hiệp định Pa-ri năm 1973. Sau này, khi Đại tá Nghĩa được phân công vào TP Hồ Chí Minh công tác, cô Quỳnh cũng chuyển vào làm cán bộ quân y của một đơn vị. Từ năm 1992 đến khi nghỉ hưu năm 2007, ông Nguyễn Văn Nghĩa chuyển ngành đảm nhiệm cương vị Hiệu trưởng Trường Hàng không Việt Nam, Giám đốc Học viện Hàng không Việt Nam. Ông bà có 2 con, một trai, một gái, hiện nay đều công tác trong ngành hàng không, trong đó cậu con trai là phi công lái máy bay dân dụng.

Đau đáu khoảng trời riêng

Nhớ lại những ngày khói lửa trên bầu trời Hà Nội, ông Nghĩa bùi ngùi:

– Các phi công trong phi đội của chúng tôi ngày ấy phần lớn là trai chưa vợ. Trong nhiều trận chiến đấu ác liệt, máy bay bị thương, nhiều đồng chí đã hành động dũng cảm, chấp nhận hy sinh để cứu máy bay, để lại những mối tình dang dở. Tôi là người may mắn được hưởng niềm hạnh phúc trọn vẹn nên vợ chồng thường bảo nhau, mình sống không chỉ cho riêng mình mà còn sống phần của đồng đội đã mất…

Dòng hồi ức của vợ chồng Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa giúp tôi hiểu thêm, tại sao trong không gian riêng tư của mình, ông bà lại trưng bày nhiều hình ảnh, hiện vật của ngày xưa như vậy. Trong niềm hạnh phúc riêng tư, ông bà vẫn luôn gìn giữ, trân trọng những kỷ vật, ký ức về đồng đội. Các hình ảnh, hiện vật được ông bà sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp trong một chiếc tủ kính trang trọng.

Có nhiều câu chuyện tình yêu dang dở, cảm động của những người cùng phi đội với Nguyễn Văn Nghĩa ngày ấy mà mỗi câu chuyện đều là một biểu tượng của phẩm chất anh hùng…

Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa đã khóc khi kể lại cho tôi câu chuyện tình của phi công Nguyễn Sĩ Giáp với cô y sĩ tên Thắm ở Bệnh viện 108. Họ cũng bén duyên nhau từ những lần anh Giáp đến bệnh viện kiểm tra sức khỏe. Tình yêu đang độ chín muồi thì trong một trận chiến đấu, máy bay của Nguyễn Sĩ Giáp điều khiển bị trúng đạn kẻ thù và cạn nhiên liệu. Chỉ huy mặt đất phát tín hiệu cho phi công nhảy dù để bảo toàn tính mạng nhưng Nguyễn Sĩ Giáp đã quyết định cho hạ cánh để cứu máy bay. Khi tiếp đất, với tốc độ cực lớn của máy bay tiêm kích, phi công Nguyễn Sĩ Giáp bị va đập gây chấn thương nặng toàn thân. Anh được chuyển ngay đến Bệnh viện 108 cấp cứu nhưng mọi nỗ lực của các y, bác sĩ đều bất thành. Anh trút hơi thở cuối cùng ngay trong vòng tay cô Thắm ở bệnh viện…

Những đồng đội trong phi đội ngày ấy (người ngoài cùng, bên phải là Phi đội trưởng Nguyễn Văn Nghĩa). Ảnh do nhân vật cung cấp.

Phi công Nguyễn Ngọc Thiên cũng vậy. Trong một trận chiến đấu vào ban đêm, máy bay của anh bị thương. Nhận được lệnh nhảy dù nhưng anh đã quyết định hạ cánh để cứu máy bay. Ngày anh hy sinh, người yêu anh khóc cạn nước mắt và quyết định để tang anh, thờ di ảnh của anh suốt đời. Ngày đi lấy chồng, cô đã kể cho chồng nghe tâm nguyện của mình. Người bạn đời của cô hết sức cảm động, trân trọng tình cảm thiêng liêng cao đẹp của cô. 40 năm qua kể từ ngày anh hy sinh, cô vẫn nhang khói thờ anh…

Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa cho tôi xem tấm ảnh chụp cảnh gia đình một đồng đội ở Vĩnh Long trong ngày đón nhận hài cốt liệt sĩ hy sinh trong trận chiến đấu 12 ngày đêm cuối năm 1972. Người phi công ấy là Nguyễn Văn Lung. Thi hài của anh được đồng đội an táng tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Năm 2002, Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa cùng đồng đội đã cất bốc, đưa hài cốt liệt sĩ Nguyễn Văn Lung về an táng tại quê nhà, thực hiện trọn vẹn lời ước nguyện cuối cùng của người mẹ già trước khi cụ nhắm mắt. Trước lúc hy sinh, phi công Nguyễn Văn Lung đã có mối tình tuyệt đẹp với một thiếu nữ xinh đẹp. Lời ước hẹn không thành, người con gái ấy đã để tang người yêu và thủ tiết để giữ trọn mối tình sắt son với anh. Về sau, cô gái ấy là một phụ nữ thành đạt, làm lãnh đạo một công ty lớn. Rất nhiều người yêu thương, theo đuổi nhưng cô không nhận lời cầu hôn của bất cứ ai. Hiện nay người con gái ấy đã ngoài sáu mươi, đang sinh sống tại TP Hồ Chí Minh, nhưng với bà, mối tình với người sĩ quan phi công ngày ấy vẫn thắm tươi như bông hoa hồng vừa hé nụ trước hiên nhà…

Còn nhiều câu chuyện tình cảm động của phi công trong các phi đội chiến đấu trên bầu trời Hà Nội năm ấy, nhưng vì khuôn khổ bài báo có hạn, xin hẹn bạn đọc vào một dịp khác. Trước lúc rời căn nhà riêng của vợ chồng Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa ở quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh, tôi xin phép được chụp ảnh hai ông bà để đăng kèm bài báo, nhưng bà Quỳnh vội lấy khăn thấm khóe mắt, khẽ lắc đầu. “Tâm trạng cô thế này, cháu đừng chụp ảnh” – Bà nói nhỏ với tôi thế. Bà đã không kìm được sự xúc động khi nhắc đến những ký ức một thời khói lửa. Ở đó, phía sau những chiến công vang dội của những cánh bay, góp phần làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” lừng lẫy là một khoảng trời riêng mà nếu không kể, không viết ra, rất ít người biết tới.

Đó là khoảng trời riêng của những trái tim bất tử!

LỮ NGÀN
qdnd.vn

Từ trận quyết chiến chiến lược đầu tiên

QĐND– Ở thế kỷ thứ Mười, giặc Nam Hán đã hai lần ra quân xâm lược nước ta.

Mùa đông năm 938, chúng đã bị quân dân nước Việt, dưới sự lãnh đạo của Anh hùng dân tộc Ngô Quyền, đánh cho đại bại ở cửa sông Bạch Đằng. Đó là “một vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu, há đâu phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi” – sử gia nổi tiếng ở thế kỷ 18 – Ngô Thì Sĩ đã đánh giá trận Bạch Đằng như vậy.

Tuy nhiên, đây là trận đánh thắng giặc Nam Hán lần thứ hai. Trước đấy, còn có một trận thắng giặc Nam Hán nữa không kém phần vẻ vang oanh liệt, nhưng vì rợp bóng trận Bạch Đằng, nên chưa mấy được nói đến. Đó là trận thắng giặc Nam Hán lần thứ nhất ở chiến trường Đại La năm 931.

Đại La là tòa thành mà vua Lý Thái Tổ vào năm 1010 đã sử dụng lại sau khi sửa sang, tôn tạo làm Kinh thành Thăng Long.

Năm 905, trong phong trào “Họ Khúc dấy nghiệp chống đại họa “Bắc thuộc” để người Việt làm chủ nước Việt”, Khúc Tiên chúa Thừa Dụ đã từ miền Hồng Châu (Hải Dương) tiến lên, chiếm được tòa thành Đại La này, kết thúc việc quan quân nhà Đường ở phương Bắc đến xây dựng và sử dụng công trình kiến trúc quân sự này làm đầu não cai trị nước Việt, đồng thời kết thúc luôn cả thời đại “chống Bắc thuộc” hơn nghìn năm của lịch sử dân tộc.

Khúc Trung chúa (Khúc Hạo) nối quyền Khúc Thừa Dụ từ năm 907, làm chủ thành Đại La và truyền quyền ấy cho Khúc Hậu chúa (Khúc Thừa Mỹ) vào năm 917.

Nhưng đến năm 930 thì vua nhà Nam Hán là Lưu Nghiễm đã cử đại binh do các tướng Lý Thủ Dung và Lương Khắc Trinh chỉ huy, đi tái chiếm nước Việt. Giặc đã đánh hạ được thành Đại La, đánh bại luôn cả cuộc kháng chiến của Khúc Thừa Mỹ.

Thứ sử Lý Tiến của nhà Nam Hán sau đấy được cử sang làm “toàn quyền”, tái đô hộ nước Việt, cùng với tướng Lương Khắc Trinh, đóng quân ở trong thành Đại La.

Đánh đuổi bọn xâm lược và đô hộ này, lấy lại thành Đại La, để tiếp nối truyền thống “Người Việt làm chủ nước Việt” đã thiết lập được từ năm 905 ở nơi này – đấy là nhiệm vụ của trận thắng giặc Nam Hán lần thứ nhất ở Đại La năm 931 do Anh hùng dân tộc Dương Đình Nghệ lãnh đạo.

Có lẽ dù là ở vào thời gian quá sớm trong lịch sử quân sự của dân tộc, cũng như là của cả nhân loại, nhưng vẫn phải hình dung cho đúng với thực tế lịch sử – rằng trận đánh thành Đại La của Anh hùng Dương Đình Nghệ mùa xuân năm 931 đã diễn ra giống như là một “chiến dịch” đích thực và gồm hai giai đoạn:

Ở giai đoạn thứ nhất, quân dân ta – từ căn cứ Ái Châu kéo ra – đã tấn công trực diện vào tòa thành Đại La, thắng lợi nhanh chóng và tuyệt đối: Đuổi thứ sử Lý Tiến chạy dài về nước, giết tướng Lương Khắc Trinh tại trận, làm chủ tòa thành.

Giai đoạn thứ hai, diễn ra ngay sau đấy: Đánh viện binh.

Do được tin cấp báo ngay từ khi lực lượng của Dương Đình Nghệ mới bắt đầu từ Ái Châu kéo ra Đại La, chúa Lưu Nghiễm nhà Nam Hán đã phái ngay chức Thừa chỉ là Trần Bảo, dẫn một đạo viện binh đi tăng cường, chi viện cho thứ sử Lý Tiến và tướng Lương Khắc Trinh giữ thành.

Đền thờ Dương Đình Nghệ tại làng Giàng (thôn Dương Xá, Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Ảnh: TUẤN TÚ.

Nhưng diễn biến nhanh chóng và triệt để của giai đoạn thứ nhất chiến dịch đã đặt đạo quân đi tăng cường, chi viện cho Đại La của tướng Trần Bảo của nhà Nam Hán này vào thế “sự đã rồi”. Chúng đành phải đóng quân ở mé ngoài thành, chuẩn bị đánh phục thù. Nhưng Anh hùng Dương Đình Nghệ – không để cho giặc kịp hành động – đã chủ động mở cửa thành, ra đánh trước. Vậy là – cũng như ở giai đoạn đầu – bước thứ hai của chiến dịch đã diễn ra với thắng lợi cũng nhanh chóng và triệt để như thế: Phá tan đạo viện binh Nam Hán, giết chết tướng Trần Bảo tại trận.

Trận Đại La năm 931 đánh bại cuộc xâm lược lần thứ nhất của nhà Nam Hán đã thắng lợi giòn giã. Đôi câu đối ở đền thờ Anh hùng Dương Đình Nghệ trước đây tại làng Giàng (Dương Xá) đã chính xác ca ngợi vị chủ tướng và mô tả đầy hào sảng trận thắng này:

Dưỡng tam thiên nghĩa tử dĩ phục thù, hằng hằng kinh khí

Chưởng bát vạn hùng sư nhi xuất chiến, lẫm lẫm oai thanh

(Nuôi ba nghìn nghĩa tử để phục thù, khí phách kinh hồn

Cầm tám vạn hùng binh mà ra trận, uy danh lừng lẫy)

Giải quyết toàn bộ nhiệm vụ của cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân xâm lược Nam Hán chỉ trong một trận (chiến dịch), đây rõ ràng là một trận quyết chiến chiến lược, ở và từ thời gian rất sớm của lịch sử dân tộc.

Trận quyết chiến chiến lược đầu tiên này liên quan hữu cơ và trực tiếp dẫn đến đại võ công của trận quyết chiến chiến lược ở vùng cửa sông Bạch Đằng mùa đông năm 938.

Điều vô cùng ý nghĩa và đặc sắc là: Diễn ra ở Đại La vào năm 931, trận đại thắng này cũng còn nối dài truyền thống tổ chức – tiến hành quyết chiến chiến lược thắng lợi vẻ vang, oanh liệt của dân tộc tới nghìn năm sau và ở trên cùng địa bàn chiến lược, là trung tâm đầu não của đất nước. Đó là lúc dân tộc ta, vào tháng Chạp năm 1972, làm trận “Điện Biên Phủ trên không”!

GS LÊ VĂN LAN
qdnd.vn

Chiến công ‘diệt ma đầu’ của không quân VN

Trang bị loại tiêm kích thua kém đối phương về mọi mặt, những người chiến sĩ Không quân Nhân dân Việt Nam vẫn mưu trí, sáng tạo giành chiến thắng.

(ĐVO) Giai đoạn đầu cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại miền Bắc, Không quân Nhân dân Việt Nam chủ yếu trang bị tiêm kích MiG-17 lạc hậu nhưng phải đối chọi với dàn máy bay tiên tiến của Đế quốc Mỹ.

MiG-17 luôn đối đầu với tiêm kích hiện đại nhất của Mỹ F-4 được mệnh danh “con ma” thường xuyên bay hộ tống phi đội ném bom oanh tạc miền Bắc.

“Một trời, một vực”

Tiêm kích đánh chặn hạng nhẹ MiG-17 được Liên Xô sản xuất và đưa vào sử dụng đầu năm 1950. Đây là kiểu tiêm kích nhỏ, nhanh nhẹn được trang bị một động cơ tuốc bin phản lực Klimov VK-1F cho phép đạt tốc độ cận âm 1.145km/h, bán kính tác chiến ngắn.

MiG-17 lắp 2 pháo 23mm (160 viên đạn) và 1 pháo 37mm (40 viên đạn), tầm bắn hiệu quả chỉ 400m, nghĩa là phi công phải chấp nhận nguy hiểm tiếp cận rất gần mục tiên mới đảm bảo tiêu diệt địch. Thậm chí, MiG-17 không có radar đối không, chỉ có kính ngắm. Trong điều kiện trời quang, phi công chỉ nhìn xa 15km.

Trong phim tài liệu của Mỹ, MiG-17 không được coi là đối thủ của F-4.

Ra đời sau MiG-17 10 năm, tiêm kích F-4 ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến thời điểm đó nên nó vượt trội so với MiG-17 về nhiều mặt (tốc độ, vũ khí, điện tử).

F-4 trang bị hai động cơ tuốc bin phản lực GE J79-GE-17A cho phép đạt tốc độ gấp hai lần vận tốc âm thanh (2.370km/h), trần bay hơn 18.000m.

Máy bay có lượng tải vũ khí hơn 8 tấn mang được các tên lửa không đối không tầm ngắn AIM-9, tầm trung AIM-7 có thể tiêu diệt mục tiêu cách đó 50km. Ngoài ra, F-4 còn một pháo siêu tốc 6 nòng cỡ 20mm (640 viên đạn) để đánh cận chiến.

Không những dùng cho nhiệm vụ đối không, F-4 còn có khả năng mang bom, tên lửa không đối đất oanh tác mục tiêu mặt đất. F-4 cũng được trang bị hệ thống radar kiểm soát hỏa lực có thể phát hiện, theo dõi nhiều mục tiêu ở khoảng cách xa.

Nếu như so sánh về thông số, MiG-17 gần như không có “cửa” để đấu lại F-4. Thậm chí, trong loạt phim tài liệu Dog Fight, có nội dung nói về các cuộc cận chiến trên không, xếp ngang hàng với F-4 phải là MiG-21, còn đối thủ của MiG-17 là F-8 Cruisader, chiến đấu cơ thuộc hàng tiêm kích cuối cùng còn sử dụng pháo như vũ khí chính trong các cuộc không chiến.

Vì vậy, khi đưa MiG-17 đối đầu trực diện với F-4, khả năng dành chiến thắng không cao. Thế nhưng, với tinh thần táo bạo, sáng tạo trong cách đánh, khai thác sử dụng tối đa trang bị hiện có, kết hợp có hiệu quả giữa bộ phận dẫn đường và phi công, MiG-17 vẫn hạ gục F-4.

Điển hình là trận đánh ngày 20/9/1965, đã làm nức lòng quân dân khi biên đội MiG-17 đã giành chiến thắng vang dội bắn hạ, bắn bị thương “con ma” F-4 mà không chịu tổn thất (*).

Chiến thắng của biên đội 3 anh hùng

Mùa thu năm 1965, Không quân Nhân dân Việt nam vừa xây dựng xong sân bay Kép (Bắc Giang). Trinh sát địch phát hiện hoạt động này, ngày 19/9/1965, phi đội Mỹ đánh phá dữ dội sân bay.

Tối 19/9, Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân Phùng Thế Tài và Tham mưu trưởng Hoàng Ngọc Diêu nhận định ngày mai Mỹ sẽ tiếp tục đánh phá Kép và khu vực cầu Sông Hóa. Vì vậy, bộ tư lệnh đã chỉ thị cho không quân tiêm kích tổ chức, 8 chiếc MiG-17 trực ban tại Nội Bài để phối hợp với đơn vị cao xạ đón đánh địch.

“7h50 phút sáng 20/9/1965, radar của ta phát hiện một tốp máy bay địch từ Hòn Gai bay thấp phía bắc dãy núi Yên Tử đi vào hướng sân bay Kép (Bắc Giang),” Đại tá Nguyễn Văn Chuyên – sĩ quan tham gia dẫn đường trận đánh nhớ lại.

Lúc đó, ông đang trực ban dẫn đường hiện sóng radar tại Đại đội 29 (sân bay Bạch Mai) thì được gọi vào trực sở chỉ huy thay đồng chí Trần Quang Kính đi Kép rút kinh nghiệm.

Tới 7h55 phút sở chỉ huy lệnh cho biên đội 4 MiG-17 do các phi công Phạm Ngọc Lan (số 1 >> chi tiết) – Nguyễn Nhật Chiêu (số 2) – Trì (số 3, nhân chứng không rõ họ tên) – Nguyễn Ngọc Độ (số 4) vào lệnh chiến đấu cấp I.

Khi đó, “Trực ban trưởng Nguyễn Hào Hiệp đề nghị sau khi cất cánh cho biên đội bay thẳng lên hướng Hiệp Hòa, Bố Rạ và xuống Kép đánh địch vì ta lên hơi muộn.”

“Tuy mới lần làm nhiệm vụ dẫn đường ở sở chỉ huy, nhưng tôi mạnh dạn đề nghị, nếu ta bay thẳng ra Hiệp Hòa – Bố Rạ thì địch sẽ phát hiện điều tiêm kích đánh chặn ngay. Vì vậy, tôi nghĩ sau khi cất cánh vòng trái bay dọc đường số 3 lên Thái Nguyên, độ cao thấp 500m để radar địch không phát hiện được.

Khi lên đến Thái Nguyên mới cho lên độ cao 3.000m, hướng 60 độ tiếp tục bay lên phía Bắc Kạn, từ hướng Bắc dẫn xuống Kép thì địch sẽ bất ngờ,” Đại tá Nguyễn Văn Chuyên kể lại.

“Én bạc” MiG-17 của Không quân Nhân dân Việt Nam.

Sau khi trực ban trưởng và thủ trưởng đồng ý phương án đề ra, “khi biên đội cất cánh xong liên lạc về sở chỉ huy, tôi cho vòng trái, hướng 350 độ, độ cao 500m rồi 700m,” ông nói.

Biên đội MiG-17 do phi công Phạm Ngọc Lan chỉ huy theo lệnh đi về hướng bay đã định. Tới gần Thái Nguyên, sĩ quan dẫn đường tiếp tục cho hướng bay 360, độ cao 3.000 rồi 4.000m nhằm giúp radar dẫn dễ phát hiện được máy bay.

“Khoảng 3 phút sau, radar dẫn bắt được một tốp máy bay địch ở Đông Nam Hòn Gai, độ cao 4.000m, tốc độ 800 – 850km/h. Tôi đề nghị thủ trưởng cho biên đội ta đánh tốp này vì radar dẫn phát hiện mục tiêu tốt, tốc độ máy bay địch không tăng chứng tỏ chúng chưa phát hiện đựợc ta,” ông nhớ lại.

Sau khi chỉ huy đồng ý, ông liền cho biên đội vòng phải, hướng bay 130 độ, đồng thời máy bay được lệnh vứt thùng dầu phụ. “Đồng chí Bình trực ở radar dẫn đường tiếp tục cho hướng 150 độ, khi còn cách địch 50km cho tăng tốc lên 900km/h. Lúc này, radar dẫn đường tạm thời mất mục tiêu, tôi tính toán và cho hướng bay 180 độ, độ cao 4.500m (cao hơn địch 500m) và thông báo địch ở phía bên phải phía trước 30 độ, 15km,” ông kể.

Ở trên không, chỉ sau 10 giây cả biên đội MiG-17 phát hiện được 4 chiếc tiêm kích F-4 cách 12km, số 2 Nguyễn Nhật Chiêu với ưu thế độ cao và tốc độ nhanh lao vào tiếp cận, ở cự ly hiệu quả ông đã bóp cò bắn trúng một chiếc F-4 ngay loạt đạn đầu.

Ba chiếc F-4 còn lại do bị bất ngờ nên chỉ còn cách cơ động gấp, tăng tốc tháo chạy ra hướng biển. Ngay lập tức, biên đội trưởng Phạm Ngọc Lan và số 3-4 bám theo bắn bị thương 2 chiếc khác.

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh chặn tiêu diệt địch, biên đội MiG-17 được lệnh thoát ly khỏi khu vực chiến đấu về hạ cánh ở Nội Bài. Để bảo vệ biên đội, quân chủng còn lệnh 2 biên đội MiG-17 do các phi công Bùi Đình Kình – Đào Công Xưởng và Hồ Văn Quỳ – Nguyễn Biên yểm hộ.

Cũng trong ngày hôm đó, lực lượng pháo cao xạ bảo vệ sân bay Kép và cầu Sông Hóa cũng bắn rơi 2 chiếc F-4, tạo nên thắng lợi giòn giã của lực lượng Phòng không – Không quân.

Tuy trận đánh ngày 20/9/1965 của không quân tiêm kích MiG-17 không phải là trận đầu tiêu diệt F-4 nhưng là trận đầu thắng lợi không chịu tổn thất đầu của ta trước F-4.

Điều đặc biệt, 3 trong số 4 phi công biên đội MiG-17 bắn hạ F-4 ngày 20/9/1965 sau này đều được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân: Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Độ, Đại tá Nguyễn Nhật Chiêu.

Không bao lâu sau, Liên Xô bắt đầu viện trợ cho Việt Nam tiêm kích MiG-21 mạnh hơn, ngang ngửa F-4 trong khả năng không đối không (trang bị tên lửa tầm nhiệt, có radar, tốc độ siêu âm) tiếp tục giúp không quân ta bắn hạ thêm hàng trăm máy bay khác của địch, trong đó có cả siêu pháo đài bay B-52.

(*) Ngày 17/6/1965, lần đầu tiên tiêm kích MiG-17 của ta giáp mặt với tiêm kích hiện đại nhất của Mỹ F4 “Con Ma”. Trong trận đánh, biên đội ta đã bắn hạ 2 chiếc F-4, tuy nhiên ta cũng mất 2 MiG-17 (một phi công hy sinh, một người nhảy dù).

>> Phi công đầu tiên nhìn thấy B-52
>> Nói về trận đánh B-52 khiến BBC ‘im bặt’

>> Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 1)
>> Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 2)
>> Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 3)

Lê Nam
baodatviet.vn

Thu “tín hiệu lạ” từ không quân địch

QĐND-Đầu năm 1972, trước tình hình địch có thể liều lĩnh leo lên những nấc thang cao nhất của chiến tranh, trong đó có việc tập kích chiến lược bằng đường không vào các mục tiêu đầu não của ta ở miền Bắc, Thủ trưởng Cục Tình báo – Bộ Tổng tham mưu đã chỉ thị các phương thức, lực lượng của tình báo quân sự khẩn trương thu thập những tin tức, tài liệu có liên quan.

Tạo lập cơ sở, vạch ra những nét tổng quát là trách nhiệm của Phòng nghiên cứu tổng hợp (Phòng 70) thuộc Cục Tình báo. Sau khi rà soát, đánh giá lại toàn bộ lực lượng không quân và hải quân Mỹ, thấy rõ Mỹ coi máy bay ném bom chiến lược B-52 là “bảo bối” lớn nhất, là “con bài tẩy” uy lực nhất, nhiều khả năng chúng sẽ tung ra để “hạ gục” ta, Thủ trưởng Phòng 70 đã giao Thiếu tá Mạc Thành Lâm, cán bộ phụ trách bộ phận hỏi cung tù binh của Phòng nghiên cứu, biên soạn một chuyên đề riêng về B-52.

Lúc ấy, đối với bộ phận hỏi cung tù binh thuộc Phòng 70, B-52 đã là một đối tượng khá quen thuộc bởi ngay từ năm 1968 và đặc biệt là từ cuối năm 1971, khi địch đánh phá trở lại miền Bắc, trong quá trình hỏi cung tù binh là giặc lái Mỹ, Thiếu tá Mạc Thành Lâm và các cộng sự rất chú trọng tìm hiểu khả năng địch dùng B-52 để đánh lên quá vĩ tuyến 20 và Hà Nội. Ngay sau khi nhận nhiệm vụ, bộ phận hỏi cung tù binh liền tổng hợp các biên bản hỏi cung tù binh đã có, đồng thời tiến hành gặp gỡ một số tên giặc lái Mỹ đang nằm trong trại giam của ta, có hiểu biết tương đối tốt về B-52 để hỏi lại, hỏi thêm, xoáy sâu vào các nội dung: Số lượng B-52 và khả năng bố trí chúng trên các căn cứ không quân của Mỹ ở gần Việt Nam; tính năng chiến thuật, kỹ thuật của B-52; tổ chức đội hình B-52 và các loại máy bay hộ tống trong tác chiến; sự phân chia khu vực mục tiêu giữa không quân chiến thuật và không quân chiến lược Mỹ ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là Hà Nội; đường bay của B-52 từ ngoài biển vào, từ Thái Lan sang miền Bắc Việt Nam; độ cao hành trình, các khu vực tiếp dầu trên không, thành phần yểm trợ không chiến, yểm trợ chế áp pháo cao xạ, tên lửa phòng không, ra-đa của đối phương… Tháng 6-1972, qua hỏi cung tù binh, ta nắm được một thông tin hết sức quan trọng là tại một vài căn cứ, không quân Mỹ đang tổ chức tập luyện trên sa bàn theo phương án sử dụng B-52 đánh vào Hà Nội. Nhờ vậy, tháng 10-1972, chuyên đề “Dự kiến tập kích đường không chiến lược B-52 vào Hà Nội và các biện pháp đối phó của ta” do Thiếu tá Mạc Thành Lâm trình bày tại một hội nghị quân sự (do Bộ Tổng tham mưu tổ chức, Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp trực tiếp chủ trì) đã được đánh giá cao và ngay sau đó được phổ biến cho các đơn vị để nghiên cứu, vận dụng.

Trong việc nắm địch một cách cụ thể, công đầu thuộc về Trung đoàn trinh sát kỹ thuật 75 thuộc Cục Tình báo, mà trực tiếp là Tiểu đoàn thu tin 1, có sự góp sức của Tiểu đoàn định hướng 13 và Tiểu đoàn thu tin 35 (đứng chân, làm nhiệm vụ ở tuyến 1 và chiến trường Trị – Thiên – Huế).

Tù binh phi công Mỹ tại nhà tù Hỏa Lò trước khi được trao trả về nước (năm 1973). Ảnh tư liệu.

Ngay sau khi được Đại tá Phan Bình, Cục trưởng Cục Tình báo – chỉ thị tổ chức theo dõi, bám nắm thật chắc không quân địch trong trường hợp chúng quay trở lại đánh phá vĩ tuyến 20, trọng tâm là Hà Nội, Hải Phòng và đặc biệt là phải phát hiện sớm nếu B-52 vào trận, Ban chỉ huy Trung đoàn 75 đã bố trí lại đội hình Tiểu đoàn 1 theo hướng vừa sẵn sàng chiến đấu cao, vừa thu thập thông tin nhanh và tập trung tìm hiểu kỹ về B-52. Nhờ lên phương án tổng tìm và nghiên cứu hợp lý mà Tiểu đoàn 1 đã sớm phát hiện, theo dõi được 10 mạng sóng có dấu hiệu nghi vấn. Cuối tháng 7-1972, Thiếu úy, thu tin viên Nguyễn Đăng Phúc phát hiện được một tín hiệu xin trở về căn cứ, từ đó lần ra mạng sóng thông tin liên lạc kiểm soát đường bay của không quân chiến lược Mỹ. Tháng 11-1972, Tiểu đoàn 1 khai thác tối đa những sơ hở của địch trên mạng sóng này khi B-52 bay vào đánh phá ở địa bàn nam Khu 4, đã dự kiến dấu hiệu tình báo xuất hiện từ các nguồn chặn thu, tập trung lập phương án nắm địch khi chúng dùng B-52 đánh lớn ra miền Bắc, trong đó có sự kết hợp trinh sát kỹ thuật sóng ngắn và trinh sát kỹ thuật sóng cực ngắn, kết hợp trinh sát kỹ thuật đặt ở trên cao và trinh sát kỹ thuật đặt dưới hầm, kết hợp Tiểu đoàn thu tin 1 và Tiểu đoàn định hướng 13… Nửa đầu tháng 12-1972, Tiểu đoàn 1 nắm được thông tin Mỹ đưa thêm B-52 và một số loại máy bay chiến thuật đến các căn cứ không quân của chúng ở xung quanh Việt Nam, số lượng máy bay chiến thuật tại căn cứ U-ta-pao (Thái Lan) là 50, tại căn cứ An-đéc-xơn (Gu-am) là 100 và tại căn cứ Đà Nẵng là hơn 100 chiếc…

Ngày 17-12-1972, Tiểu đoàn 1 thu được điện tin Bộ tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ (đóng tại Ha-oai) gửi Bộ tư lệnh Không quân Mỹ tại Việt Nam (đóng tại căn cứ không quân Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn) ra lệnh đình chỉ việc đi phép, yêu cầu mọi phi công ở lại căn cứ để sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Tin này lập tức được báo cáo lên cấp trên. Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và Phó tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn cùng đánh giá đây là tin rất quan trọng và chỉ thị cho Quân chủng Phòng không-Không quân sẵn sàng chiến đấu. Trinh sát kỹ thuật còn nhận thấy trong hai ngày 16 và 17-12, B-52 ngưng hoạt động, không quân chiến thuật Mỹ không tiến hành trận đánh phá nào, chỉ không quân của hải quân Mỹ là thực hiện vài trận nhỏ lẻ. Rõ ràng, B-52 và không quân chiến thuật Mỹ đang dồn lực lượng để chuẩn bị cho một trận đánh lớn.

Trong đêm 17-12-1972, Tiểu đoàn 1 tiếp tục thu được tin địch ra thông báo tình hình thời tiết khu vực miền Bắc Việt Nam và thông báo mở rộng phạm vi hoạt động của máy bay trực thăng làm nhiệm vụ cấp cứu phi công gặp nạn. Ngoài ra, Tiểu đoàn còn phát hiện máy bay trinh sát các loại của địch (trong đó có cả máy bay do thám tầng cao EB66) bay nhiều hơn ở khu vực từ Bắc Thanh Hóa trở ra, nhất là vùng Hà Nội, Hải Phòng, tàu sân bay địch cũng dâng cao hơn hẳn ở ngoài Biển Đông…

Sáng 18-12-1972, trinh sát kỹ thuật thu được những tin tức rất quan trọng khác: 4 giờ 00 – “Number One” sẽ di chuyển đến căn cứ An-đéc-xơn; 9 giờ 00- 13 máy bay tiếp dầu KC135 ở một căn cứ gần Việt Nam điểm danh trên mạng; 9 giờ 20 – các tàu sân bay Mỹ ngoài Biển Đông di chuyển lên quá vĩ tuyến 19 (cao một cách bất thường), các tàu khu trục dẫn bay thì còn dâng lên cao hơn nữa…

Thủ trưởng Cục Tình báo đã báo cáo ngay với trên là nhiều khả năng B-52 sắp đánh lớn vào miền Bắc. Đến 13 giờ 30 phút ngày 18-12, qua thu thập bổ sung một số tin tức khác, trinh sát kỹ thuật không chỉ khẳng định B-52 sẽ đánh phá Hà Nội mà còn cung cấp thông tin khá cụ thể về số lượng, thời gian, khu vực, hướng mục tiêu đến.

Chiều tối 18-12-1972, trinh sát kỹ thuật dồn dập báo cáo: 15 giờ 30 – các tốp B-52 lần lượt xuất hiện trên mạng dẫn bay toàn cầu của địch trong hành trình từ Gu-am về phía Việt Nam; 17 giờ 00 – nhiều máy bay tiếp dầu đã bay tới, tập trung tại một khu vực ở cách Phi-líp-pin 180km về phía Bắc, máy bay chỉ huy trên không EC121 và máy bay chỉ huy cấp cứu HC130 điểm danh trên mạng để thực hiện nhiệm vụ vào buổi tối và ban đêm; 19 giờ 00 – các tốp B-52 và máy bay chiến thuật lần lượt điểm danh trên mạng sóng cực ngắn với Đài kiểm soát bay khu vực…

Tới 19 giờ 48 phút thì tiếng bom nổ rền, mở màn chiến dịch “Lai-nơ-bếch-cơ” của địch…

Để tăng cường khả năng nắm địch, Tiểu đoàn 1 tăng số bàn máy thu sóng cực ngắn đang hoạt động từ 5 lên 12, các thu tin viên cũng tăng số giờ làm việc mỗi ngày từ 6 lên 12, có người còn làm việc suốt cả ngày lẫn đêm, chỉ trừ những lúc ăn cơm. Trong bản báo cáo công tác năm 1972 của Trung đoàn 75, có ghi: “100% trận đánh, địch tổ chức lúc nào ta biết lúc ấy và biết sớm từ khi chúng bắt đầu cất cánh. Sau đó là quá trình bay vào mục tiêu, số bị bắn rơi, vị trí phi công rơi, xin cấp cứu”.

Cùng thời gian này, bộ phận hỏi cung tù binh thuộc Phòng 70 đã tích cực khai thác số giặc lái vừa bị ta bắt sống (nhất là số giặc lái B-52) nhằm nắm thêm các yếu tố kỹ thuật, chiến thuật, chiến dịch của địch, kịp thời báo cáo để Bộ Tổng tham mưu phổ biến cho các đơn vị, phục vụ đắc lực các trận đánh trả tiếp theo.

Ngày 25-12-1972, địch ngừng đánh phá. Câu hỏi cấp trên đặt ra là chúng ngừng hẳn hay chỉ tạm ngừng nhân ngày lễ Nô-en? Ngay trong ngày, Tiểu đoàn 35 đã có câu trả lời qua việc thu được điện tin trao đổi giữa 2 sĩ quan cao cấp của quân đội Sài Gòn: “Tổng thống Thiệu phản đối việc ký kết Hiệp định Pa-ri vào thời điểm này”. Cùng ngày, cơ cán đi sâu Đặng Trần Đức của điệp báo chiến lược (làm việc trong Đặc ủy Trung ương tình báo của chính quyền Sài Gòn) có tin khẳng định Mỹ ném bom trở lại miền Bắc không phải để kéo dài chiến tranh mà là để gia tăng sức ép đối với ta và chúng dự kiến tới giữa tháng 1-1973 sẽ ký Hiệp định Pa-ri…

Với thành tích góp phần đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược của địch, Tiểu đoàn thu tin 1 (Trung đoàn trinh sát kỹ thuật 75) đã được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba.

VŨ SÁNG
qdnd.vn

Mã dịch “tin sớm” ở Mặt trận Quảng – Đà

QĐND – “Công việc “bếp núc” ấy mà” – đó là câu trả lời khiêm tốn mà các CCB nguyên là chiến sĩ báo vụ và cơ yếu ở Trạm Tình báo B54 vẫn quen gọi về công việc của mình. Tuy đã nghỉ hưu tại Hà Nội, nhưng cứ hai năm một lần, CCB Nguyễn Tấn Hoàng và CCB Đỗ Đức Lấp cùng các CCB từng công tác ở Trạm B54 lại tổ chức chuyến đi thăm lại chiến trường Quảng Nam-Đà Nẵng, nơi họ từng có nhiều năm công tác ở Cụm tình báo chiến lược B54 thuộc Cục Nghiên cứu-Bộ Tổng Tham mưu (nay là Tổng cục II).

Tháng 3-1965, chàng trai đất Quảng Nguyễn Tấn Hoàng trở về mảnh đất quê hương làm nhiệm vụ sau hơn 10 năm tập kết ra Bắc. Ngày ấy, Trạm Tình báo B54 đứng chân ở một khu rừng thuộc địa bàn huyện Quế Sơn, cách quê ông (xã Tam An, huyện Tam Kỳ) khoảng 30 cây số. Hồi đó, người dân địa phương vẫn nghĩ Trạm B54 là một cơ sở cách mạng thuộc Huyện ủy Quế Sơn hay là một đơn vị đặc công nào đó, trong khi hằng ngày, chiến sĩ báo vụ Nguyễn Tấn Hoàng và các chiến sĩ cơ yếu như ông Đỗ Đức Lấp phải tuân thủ triệt để việc “đi không dấu, nấu không khói, nói đủ nghe, che ánh sáng” để thực hiện nhiệm vụ mã dịch các tin tức do giao thông viên hoặc các cơ sở tình báo chuyển về Trạm, rồi chuyển tiếp những “tin sớm” ấy về Cục theo chỉ đạo của cấp trên. “Để chuyển các bức điện ấy, tôi và anh em báo vụ phải cơ động ra một khu rừng khá xa, bí mật kéo ăng-ten lên để “tác nghiệp”.

CCB Đỗ Đức Lấp và Nguyễn Tấn Hoàng (thứ 2 và 3 từ trái sang) trong ngày gặp lại đồng đội Trạm tình báo B54 tại Quảng Nam (tháng 5-2010). Ảnh do nhân vật cung cấp

Thông thường những tín hiệu “tạch tè” ấy được chúng tôi thực hiện vào các buổi tối để bảo đảm bí mật”, CCB Nguyễn Tấn Hoàng nhớ lại. Còn với ông Đỗ Đức Lấp, do đặc thù công việc nên những chiến sĩ cơ yếu như ông thường biết rõ nội dung của những “tin sớm” ấy trước khi chúng được chuyển đi. Ông bảo: “Trong gần 10 năm công tác ở Trạm, khó có thể liệt kê cụ thể bao nhiêu nội dung được chúng tôi mã dịch, chuyển đi để cấp trên xử lý, cũng khó có thể nhớ nổi những chiến công lặng thầm của đội ngũ điệp báo, giao thông viên hoặc các cơ sở tình báo của B54 trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy”.

Trong số những cơ sở tình báo ngày ấy, các CCB Trạm B54 vẫn còn ấn tượng với những tấm gương kiên trung của người dân địa phương khi họ đã thầm lặng đóng góp công sức với Trạm B54. Giờ đây, họ vẫn thường kể nhiều về hai cơ sở tình báo là cụ Phạm Phú Hoàng-một cụ già thuộc dòng dõi khoa bảng của triều đình Huế và nhà tư sản Phan Kỳ-một chủ hiệu vàng ở Chợ Hàn (Đà Nẵng). Cụ Phạm Phú Hoàng quê ở huyện Điện Bàn, Quảng Nam, gia thế của cụ được chính quyền ngụy rất nể trọng, nhưng chúng đâu biết cụ đã nhiều lần ra Đà Nẵng đưa đón cán bộ tình báo cho Trạm B54. Mỗi lần đi, cụ lại chỉnh tề khăn đóng, áo dài. Khi qua các bốt gác, bị địch chặn hỏi, cụ lại bảo: “Tau đi nhận lương của thằng con là lính Cộng hòa ở Sài Gòn gửi về…”. Với trường hợp nhà tư sản Phan Kỳ, năm 1966, Trạm B54 đã cử người vào Đà Nẵng móc nối, đưa ông lên căn cứ ở Quế Sơn, Quảng Nam và mời ông làm cơ sở cho ta. Sau khi được học tập chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng và nhận lời làm cơ sở cách mạng, trở về Đà Nẵng, ông đã nuôi giấu một Tổ trưởng tình báo ngay tại tiệm vàng Tâm Thành của gia đình. Từ đó, ta đã xây dựng được nhiều cơ sở trong Bộ tư lệnh Quân đoàn 1 của địch. Khi cơ sở nội tuyến chuyển vào Sài Gòn, Tổ trưởng tình báo của ta phải chuyển theo để chỉ đạo, nhà tư sản Phan Kỳ lại tiếp tục vào Sài Gòn mua nhà và nuôi giấu đồng chí Tổ trưởng cho tới ngày đường dây liên lạc bị lộ, ông bị địch bắt và đày ra Côn Đảo…

Tấm căn cước giả mang tên “Lê Văn An” của chiến sĩ tình báo Nguyễn Tấn Hoàng. Ảnh: Trung Nguyên

CCB Đỗ Đức Lấp chia sẻ với chúng tôi một chuyện riêng, ấy là trong gần 10 năm ở Trạm B54, với nhiệm vụ của một nhân viên cơ yếu, ông đã trực tiếp mã dịch, xử lý hàng trăm “tin sớm” ở chiến trường, vậy mà ở quê ông (xã Hòa Bình, Vĩnh Bảo, Hải Phòng), gia đình ông lại sớm nhận phải một tin buồn, ấy là tấm giấy báo tử… ghi tên ông. “Sau này nghe kể lại, tôi mới biết mình bị nhầm tên với người anh họ tên là Đỗ Đức Lập. Lúc về quê, mọi người vui mừng khôn xiết khi biết tôi còn sống, nhưng niềm vui của gia đình tôi cũng không được trọn vẹn, bởi thay vào đó là một nỗi buồn không gì bù đắp nổi của gia đình ông bác ruột”, CCB Đỗ Đức Lấp tâm sự. Ngồi ôn lại chuyện cũ, CCB Nguyễn Tấn Hoàng cũng nhớ trong gần 10 năm làm báo vụ ở Trạm B54, rất gần nhà, nhưng do công việc đặc thù nên ông không thể liên lạc với gia đình.

Sau những tháng năm phục vụ trong quân ngũ, năm 1976, CCB Đỗ Đức Lấp chuyển ngành về công tác ở Công ty xuất nhập khẩu Thủ công mỹ nghệ thuộc Bộ Ngoại thương, còn CCB Nguyễn Tấn Hoàng tiếp tục công tác ở Tổng cục II cho tới khi nghỉ hưu. Giữa đời thường, trong những ngõ phố nhỏ hẹp hay tại các khu tập thể quân đội, họ cũng bình dị như bao cựu chiến binh hoặc công chức nghỉ hưu khác, chỉ tới khi được nghe những người lính trận ấy hàn huyên với đồng đội những kỷ niệm khó quên ở Trạm tình báo ngoài mặt trận, mọi người mới phần nào hiểu thêm về những công việc lặng thầm của họ.

Quang Huy – Trung Nguyên
qdnd.vn