Thư viện

Chương I- Kế hoạch

Binh là việc lớn của nước. Phải xét cho rõ chỗ sống chết, đạo mất còn phải kinh qua 5 việc, cân nhắc kế hoạch của ta, xét rõ tình hình ta với địch, nǎm việc là:

1 – Là đạo, nghĩa là tất cả dân đồng tình với ta, có thể cùng sống chết mà không sợ nguy hiểm.

2 – Là giời, tức là ngày đêm, sáng tối, rét ấm, gió lặng nắng mưa.

3 – Là đất, nghĩa là gần xa, rộng hẹp, hiểm bằng sinh tử.

4 – Là tướng, tướng phải có mưu trí, phải được người ta tin cậy, phải tốt với dân và lính, phải gan góc, phải có thái độ nghiêm trang và kỷ luật tề chỉnh. Tướng phải đủ: trí, tín, nhân, dũng, nghiêm.

5 – Là pháp, nghĩa là cách tổ chức quân đội, quân phí, quân nhu, v.v..

Người làm tướng phải rõ nǎm điều đó, rõ thì thắng, không rõ thì bại.

Ai được lòng dân, được thiên thời địa lợi, có tướng giỏi, theo đúng phép dùng binh, quân đội mạnh hơn, binh lính luyện tập hơn, thưởng phạt công bình hơn – thì bên ấy thắng. Ngày nay cần có 3 điều nữa:

1- Vàng bạc ai đầy đủ hơn.

2- Sinh sản ai nhiều hơn.

3- Ngoại giao ai thuận lợi hơn, thì thắng.

Người tướng theo kế hoạch ta, dùng nó ta chắc thắng, thì dùng nó. Người tướng không theo kế hoạch ta, dùng nó ta chắc bại, thì chớ dùng nó.

Kế hoạch khéo, lúc thực hành lại cần phải biết tuỳ cơ ứng biến.

Dùng binh là cách lừa gạt địch nhân. Cho nên:

1) Ta hay, mà làm cho địch tưởng không hay.

2) Ta toan dùng binh mà làm cho địch tưởng ta không dùng.

3) Ta muốn đánh nơi xa, mà làm cho địch tưởng ta muốn đánh nơi gần.

4) Ta hy sinh chút lợi nhỏ mà mồi địch.

5) Phá phách nó, quấy rối nó, để thừa dịp mà lấy nó.

6) Địch có chuẩn bị, thì ta ra sức đề phòng.

7) Địch mạnh thì ta tránh nó.

8) Ta làm cho nó giận dữ, để làm rối óc nó.

9) Ta ra bộ nhường nhịn, để làm cho nó kiêu ngạo.

10) Nó thong thả, thì ta quấy rối, làm cho nó mệt nhọc.

11) Ta chia rẽ những người thân thiết với nó.

12) Ta đánh nơi nó không phòng bị, xa nơi nó chú ý.

Đó là phép dùng binh thắng lợi, phải biết tuỳ cơ ứng biến không thể bảo hết.

Chưa đánh mà đã có kế hoạch đầy đủ thì thắng. Kế hoạch không đầy đủ, thì không thắng. Huống gì, không có kế hoạch thì sao khỏi thất bại cho nên xem đó thì đủ biết ai thắng ai bại.

(Cán bộ là tướng của đoàn thể. Cán bộ làm đúng kế hoạch của đoàn thể, có mưu trí, được quần chúng tin yêu kiên quyết, gan góc, giữ đúng kỷ luật, biết làm cho dân chúng cùng đoàn thể sống chết mà không sợ nguy hiểm như thế mới là tướng giỏi của đoàn thể. Như thế thì cách mạng nhất định chóng thành công).

cpv.org.vn

Chương II – Phép chiến tranh

(Chương này chủ trương đánh mau, giải quyết mau. Đánh lâu thì hao quân tốn của. Lại chủ trương lấy lương thực và khí giới của địch cho quân ta ǎn và dùng. Và chủ trương ưu đãi cùng lợi dụng những người địch ta bắt được).

Hễ dùng binh, thì nghìn chiếc xe ngựa, nghìn chiếc xe bọc da, 10 vạn binh, lương thực chở rất xa, nào tiêu dùng về việc khách khứa, nào tài liệu, nào xe ngựa, phí tổn này khác, ngày hơn nghìn vàng.

Chiến tranh quý thắng lợi chóng. Đánh lâu thì hao binh mỏi sức. Quân đội ở ngoài lâu thì trong nước bị thiếu thốn. Ta hao binh mòn sức, thì các nước chư hầu sẽ nhân dịp nổi lên chống ta. Nếu vậy, thì dù người khôn ngoan mấy cũng không thể cứu vãn được.

Vậy nên, dùng binh chóng là khôn, chưa bao giờ có dùng binh lâu mà khéo, cũng chưa bao giờ có dùng binh lâu mà nước nhà có lợi.

Cho nên ai không biết hết những sự tổn hại trong việc dùng binh, thì không biết hết những sự ích lợi trong việc dùng binh.

Người khéo dùng thì không phải bổ sung binh lính nhiều lần, không phải chở lương thực nhiều bận. Đầu thì dùng của ta, rồi thì lấy của địch mà dùng. Như thế thì quân ta đủ lương thực.

Nếu phải vận tải xa, thì nước sẽ nghèo và dân sẽ khổ.

Nơi gần quân đội thì vật gì cũng đắt đỏ. Đắt đỏ thì dân hoá nghèo ngặt. Dân nghèo nhưng chính phủ phải đánh thuế thêm.

Hao binh tốn của thì 10 nhà dân nghèo hết 7 nhà. Xe ngựa súng ống thì 10 phần hỏng mất 6.

Vậy nên người tướng giỏi cốt lấy lương thực của địch mà dùng. 1 tạ gạo của địch bằng 20 tạ gạo của ta.

Cho nên muốn cho binh lính ta hǎng hái giết địch, thì phải làm cho họ tức giận địch. Muốn cho họ ra sức tranh lấy của địch, thì thưởng họ. Thí dụ: bắt được 10 chiếc xe của địch, thì thưởng người bắt được chiếc xe đầu hết. Đem cờ ta cắm lên xe địch phân phối nó lộn với xe ta. Đối tù binh thì đãi họ tử tế cho họ theo vào quân đội ta. Thế gọi là: đánh thắng địch thì ta càng mạnh thêm.

Cho nên dùng binh quý thắng lợi chóng. Không quý kéo dài. Một người tướng biết dùng binh là kẻ giữ gìn sinh mệnh của dân, là người làm chủ sự an nguy của nước.

(Nǎm lời dặn của ông Tôn Tử:

1- Quản lý đông người cũng phải rành mạch như quản lý ít người.

2- Lúc bình thời cũng phải cẩn thận như lúc có địch.

3- Lúc ra trận thì không nghĩ đến sự sống của mình.

4- Đánh thắng trận rồi cũng phải cẩn thận như khi mới ra trận.

5- Mệnh lệnh thì phải rõ ràng mà lại vắn tắt.

cpv.org.vn

Chương III – Đánh bằng mưu

Chương này chủ trương bằng mưu, không dùng đến binh mà thắng được địch nhân.

Và nói sự biết rõ sức ta, biết rõ sức địch là một điều rất quan trọng.

Phép dùng binh, giữ toàn nước địch mà ta thắng lợi là khéo nhất. Phá tan nước địch chỉ là khéo thứ hai. Giữ toàn quân đội địch mà ta thắng, là khéo nhất. Phá tan quân đội địch mà ta thắng, chỉ là khéo thứ hai.

Cho nên đánh hơn trǎm trận, không phải là giỏi nhất. Giỏi nhất là không phải đánh mà quân địch phải thua.

Cho nên dùng binh giỏi nhất, là đánh bằng mưu. Thứ hai là đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh. Vây thành mà đánh là kém nhất.

Vây thành thì phải chuẩn bị rất lâu, vây đánh nhiều ngày, hao binh tổn sức, mà có khi không lấy được thành. Đó là một sự tai hại to.

(Như quân Đức vây thành Xtalingrát mà không lấy được mà từ đó bị thất bại đến cùng).

Cho nên khéo dùng binh thì thắng được quân địch mà không phải đánh. Lấy được thành địch mà không phải vây. Huỷ được nước địch mà không phải đánh lâu. Vậy nên không hao tốn binh lính mà thắng lợi hoàn toàn.

Đó là phép đánh bằng mưu.

Cho nên phép dùng binh: lúc đánh thành, sức ta gấp 10 địch, thì vây nó, gấp 5 thì đánh nó. Gấp 2 thì chia hai mặt đánh nó. Lúc đánh nơi khác: sức ngang nhau thì đánh. Ta kém địch thì giữ. Ta kém quá, thì tránh nó. Cho nên, nếu sức ta kém địch mà cứ đánh liều thì chắc thất bại.

Tướng là kẻ giúp nước. Tướng giỏi (đủ cả: trí, tín, nhân, dũng, nghiêm) thì nước mạnh. Tướng xoàng thì nước hèn.

Cho nên do 5 điều mà biết sự thắng lợi:

1- Tướng biết có thể đánh và không thể đánh.

2- Tướng biết cách dùng chủ lực và bộ phận của bộ đội.

3- Trên dưới đồng lòng.

4- Ta luôn luôn chuẩn bị để chờ dịp địch không chuẩn bị.

5- Tướng giỏi mà chúa cho tướng rộng quyền.

Cho nên: biết sức ta, biết sức địch thì trǎm trận đều thắng. Biết sức ta, mà không biết sức địch thì 1 thắng 1 bại. Không biết ta, không biết địch thì trận nào cũng thua.

cpv.org.vn

Chương IV – Quân hình

(Hình trong là lý luận. Hình ngoài là thực hành).

Tướng giỏi, thì trước làm cho địch không thể thắng ta, không thể làm ta nhất định thắng được địch. Cho nên nói rằng: thắng lợi có thể biết được mà không thể làm được. (Vì dịp tốt chưa đến, ta không thể kéo nó đến. Điều kiện chưa muồi, ta không thể bảo nó muồi). Địch không thể thắng ta vì ta biết giữ. Ta có thể thắng địch là vì ta biết đánh. Sức chưa đủ, thì giữ. Sức có thừa, thì đánh. Giữ khéo thì như giấu kín dưới 10 lớp đất. Đánh giỏi thì như hành động trên 9 tầng giời. Cho nên giữ thì chắc, mà đánh thì thắng.

Ta trông thấy sự thắng lợi mà ai cũng trông thấy được, thế chưa phải là tuyệt giỏi. Ta thắng mà ai cũng cho là đáng thắng, thế chưa phải là tuyệt khôn. Vì không cần sức mạnh mới nhấc nổi sợi lông. Không cần mắt tỏ mới trông thấy mặt trời. Không cần tai nhanh mới nghe được tiếng sấm.

Người tướng giỏi thì thắng kẻ địch nó đã sẵn dễ thắng rồi, cho nên thắng mà không có tiếng tǎm.

Cho nên thắng là vì không lầm. Kẻ không lầm thì chắc thắng, vì họ thắng kẻ địch nó đã sẵn bại rồi.

Cho nên tướng giỏi thì trước đứng vào địa vị không bại, mà không bỏ qua dịp mà làm cho địch bại.

Cho nên, quân đội thắng lợi là vì họ chắc thắng rồi họ mới ra đánh. Quân đội thất bại thì ra đánh rồi mới cầu thắng.

Người tướng giỏi thì luôn luôn giữ đạo đức, và luôn luôn chuẩn bị. Cho nên họ có thể định sự thắng, bại.

(Đạo đức là: đồng cam đồng khổ, tài chính công khai, huấn luyện khôn khéo, kỷ luật nghiêm minh. Thưởng phạt công bình. Chuẩn bị là: bao giờ binh bị cũng chuẩn bị đầy đủ luôn).

Binh pháp có:

1- Là đo: (Xét địa hình hiểm bằng, gần xa để quyết định cách đánh).

2- Là lưỡng: (Xét mặt trận rộng hẹp dài vắn để phân phối các thứ binh).

3- Đếm: (Do địa thế mà định số binh nhiều hay ít).

4- Là cân: (Do sự đếm mà cân nhắc sức ta và sức địch).

5- Là thắng: (Do 4 điều trên mà đặt kế hoạch để tranh lấy thắng lợi).

Cho nên hình của quân thắng lợi, như lấy 1 tạ mà cân với 1 đồng. Hình quân thất bại, thì như lấy 1 đồng mà cân với 1 tạ.

Sự tiến công của một người tướng giỏi, thì như tháo nước xuống 1 cái thác cao mấy nghìn thước.

Đó là quân hình.

cpv.org.vn

Chương V – Thế của binh

(Chương này nói: Chiến đấu chỉ có 2 phía. Kỳ binh là bộ đội phụ thuộc, chính binh là bộ đội chủ lực. Phải khéo dùng 2 phía đó, để phát triển tài nǎng của quân ta).

Chỉ huy đông người, cũng dễ dàng như chỉ huy ít người, đó là do phân số, (phân số là thứ lớp chiến đấu và cách phân phối quân đội. Dễ dàng là vì kế hoạch rõ ràng, chiến thuật giản đơn).

Đánh với đông người cũng như đánh với ít người, là do trống cờ (theo sắc cờ tiếng trống mà tiến thoái).

Có thể khiến 3 quân xông vào trận địch mà không thất bại, là do khéo dùng kỳ binh và chính binh.

Quân ta đến đâu đều như lấy đá chọi vào trứng, là do sức mạnh của ta và sức yếu của địch.

Đem chủ lực mà đánh. Dùng kỳ binh mà thắng.

Cho nên khéo dùng kỳ binh, thì vô cùng như giời đất, không hết như sông ngòi, sau rồi lại trước như mặt giời mặt giǎng, tử rồi lại sinh như xuân hạ thu đông.

Tiếng chỉ có 5 thứ, khéo biến hoá thì nghe không biết mấy mươi thứ. Sắc chỉ có 5 mầu, khéo biến hoá thành không biết mấy mươi mầu. Mùi chỉ có nǎm giống, khéo biến hoá thì nên không biết mấy mươi vị.

Thế binh chỉ có Chính (là trực tiếp) và Kỳ (là gián tiếp). Khéo biến hoá thì vô cùng. Kỳ sinh chính, chính lại sinh kỳ, như tuần hoàn không có chỗ hở, ai mà làm cho nó cùng được.

Nước chảy mạnh thì đá cũng trôi, đó là vì đúng Thế. Chim diều chim cắt cổ mau, mà làm gẫy cổ gà cổ thỏ, là vì mổ đúng Tiết. Cho nên người tướng giỏi thì cái thế hiểm, cái tiết nhanh.

Thế, thì như cung dương. Tiết, thì như nẩy cò.

Đánh lung tung mà không rối loạn. Xoay tròn chong chóng mà không hở han.

Trị mà hững hờ thi sinh loạn. Gan mà hững hờ thì sinh nhát. Mạnh mà hững hờ thì sinh yếu. Trị và loạn là sinh ra bởi phân số. Gan và nhát là sinh ra bởi Thế. Mạnh và yếu là do địa hình và quân hình.

Cho nên kẻ khéo mồi địch, thì họ tỏ hình gì địch cũng theo. Họ cho gì địch cũng lấy. Họ lấy lợi để mồi địch. Họ đem binh để chờ địch.

Cho nên tướng giỏi thì biết chọn người mà giữ Thế. Vì vậy nên họ chọn được Thế tốt.

Được Thế tốt, thì đánh với địch như xoay gỗ với đá. Gỗ với đá khi yên thì nó tĩnh, khi nguy thì nó động. Vuông thì nằm, tròn thì nó lǎn.

Cho nên lúc đánh địch, thì Thế như lǎn đá tròn xuống dốc núi cao mấy nghìn thước. Đó là binh Thế.

cpv.org.vn

Chương VI – Chỗ mạnh và chỗ yếu

Lúc chiến đấu, quý đứng vào địa vị chủ động đánh vào chỗ yếu và tránh chỗ mạnh của địch, thì thắng.

Ta đến trước mà chờ địch thì khoẻ. Đến sau mà ra đánh, thì mệt. Cho nên tướng giỏi thì kéo địch đến chứ không để địch kéo ta đến.

Có thể kéo địch đến, là vì ta lấy lợi mồi nó. Có thể khiến cho địch không đến, là vì ta lấy hại doạ nó. Cho nên, địch khoẻ mà ta có thể làm cho nó mệt. Địch no, mà ta có thể làm cho nó đói. Địch yên mà ta có thể làm cho nó động.

Ta đón nơi địch chắc đi qua. Ta đi qua nơi địch không để ý. Ta đi nghìn dặm mà không mệt, là vì đi nơi không có người. Cho nên đánh mà chắc lấy được, vì ta đánh chỗ địch không giữ. Giữ mà giữ được bền, là vì ta giữ nơi địch không đánh.

Cho nên ta khéo đánh, thì địch không biết đâu mà giữ. Ta khéo giữ thì địch không biết đâu mà đánh.

Ta phải khôn khéo đến nỗi không hơi không tǎm. Cho nên ta có thể cầm mạng địch trong tay ta.

Ta tiến mà địch không chống nổi, vì ta xông vào chỗ yếu của nó. Ta thoái mà địch không theo kịp là vì ta đi nhanh.

Cho nên lúc ta muốn đánh, thì tuy địch giữ trong thành cao hào sâu, nó cũng phải ra đánh, vì ta đánh vào chỗ nó cần phải cứu. Khi ta không muốn đánh, thì dù ta vạch đất mà giữ, địch cũng không có thể đánh, vì nó không biết ta ở đâu.

Cho nên, ta rõ địch mà địch không rõ ta, thì ta chuyên nhất mà địch phân tán. Ta chuyên 1 chỗ, mà địch phân 10 nơi, thế là ta 10 đánh lại địch 1, thế là ta nhiều đánh lại địch ít. Ta nhiều địch ít, thì ta chắc thắng địch chắc thua.

Ta muốn đánh nơi nào, địch không biết: không biết thì phải phòng bị nhiều nơi. Nó phòng bị nhiều nơi, thì ta có thể đánh vào nơi nó yếu nhất.

Cho nên phòng bị phía trước thì phía sau ít. Phòng bị phía sau, thì phía trước ít. Phòng bị phía tả, thì phía hữu ít. Phòng bị phía hữu, thì phía tả ít. Nơi nào cũng phòng bị thì nơi nào cũng ít.

Địch ít là vì nó phải phòng bị ta.

Ta đông là vì ta làm cho địch phải phòng bị.

Cho nên, ta biết rõ chỗ ta đánh và ngày ta đánh, thì dù xa nghìn dặm, ta cũng có thể đánh thắng. Không biết chỗ đánh, không biết ngày đánh, thì tả không cứu được hữu, hữu không cứu được tả, sau không cứu được trước, trước không cứu được sau. Huống gì xa thì mươi dặm, gần thì vài dặm, cứu làm sao được.

Cho nên, nghiên cứu tình hình địch mà biết kế hoạch ta đúng hay không. Thử địch mà biết cái lý động hay tĩnh. Xét rõ địa thế mà biết chỗ tử hay sinh. Xung đột nhỏ mà thử sức địch thừa hay thiếu.

Cho nên binh hình khéo tột bực, đến nỗi không có hình. Không có hình tích, thì mật thám giỏi cũng dò không ra, địch nhân giỏi cũng mưu không được. Do hình mà ta đem quân đến chỗ thắng, mà quân ta không biết. Ai cũng biết cái hình ta thắng, song không ai biết cái hình vì đó mà làm nên thắng. Cho nên: cách chiến thắng không nên dùng đi dùng lại 2, 3 lần. Song nhân địch mà biến hoá thì vô cùng.

Hình của binh cũng như hình của nước. Nước bỏ chỗ cao mà chảy vào chỗ thấp. Binh tránh chỗ mạnh mà đánh vào chỗ hèn. Nước tuỳ hình đất mà chảy. Binh tuỳ thế địch mà thắng.

Cho nên binh không có thế nhất định, cũng như nước không có hình nhất định.

Biết nhân thế địch, biến hoá để tranh lấy thắng lợi, gọi là thần.

Cho nên, kim mộc thuỷ hoả thổ, sinh nhau lại khắc nhau. Xuân hạ thu đông thì luôn luôn thay đổi. Ngày có khi dài khi vắn. Tháng có tháng tử tháng sinh. Cách chiến đấu cũng biến hoá vô cùng như vậy.

cpv.org.vn

Chương VII – Quân tranh

Tướng vâng mệnh chúa, tập hợp quân đội, cùng địch đối diện mà ở, không gì khó bằng quân tranh.

Khó tại nơi biết lấy đường quanh làm đường thẳng, biết đổi sự khó khǎn thành sự ích lợi.

Cho nên, ta đi đường quanh, lấy lợi mồi địch. Ta đi sau, mà đi đến trước. Thế là biết cách quanh và thẳng. Cho nên, quân tranh có lợi, mà cũng có nguy.

Nguy là kéo cả quân mà tranh lợi, thì không kịp. Bỏ quân mà tranh lợi, thì mất của cải. (Trì trọng).

Nếu đi suốt ngày đêm không nghỉ, để đến ngoài trǎm dặm mà tranh lợi, thì nhiều tướng sĩ sẽ bị địch cầm tù; kẻ mạnh đi trước, người yếu đi sau, thì 10 phần chỉ một phần đến. Đi 50 dặm để tranh lợi, thì người thượng tướng sẽ bị và chỉ nửa số binh đi đến. Đi 10 dặm mà tranh lợi, thì 3 phần binh, chỉ 2 phần đi đến.

Vậy nên quân đội không có vận tải thì chết. Không có lương thực thì chết. Không có tích trữ thì chết.

Lợi là: tướng giỏi phải lựa dịp mà làm.

Chưa biết mưu mô của các nước, thì không thể ngoại giao. Không biết rõ hình thế rừng núi sông ngòi thì không thể hành quân. Không có người đưa đường thì không được địa lợi.

Cho nên, việc binh cốt dùng mưu mẹo dối trá làm gốc. Lấy lợi mà động. Lấy phân hợp làm biến hoá.

Cho nên khi mau thì như gió, lúc chậm thì như núi rừng. Khi đánh thì như lửa. Khi đứng thì vững như núi đá. Biến hoá thì như ngày đêm. Khi động thì như sấm sét.

Biết rõ cái kế quanh thẳng, thì thắng. Đó là phép quân tranh.

Nói không nghe khắp nên phải dùng kèn trống. Trông không thấy khắp nên phải dùng cờ hiệu. Kèn trống và cờ hiệu là để thống nhất sự nghe thấy của mọi người.

Cho nên đánh ban đêm thì dùng nhiều lửa và trống, đánh ban ngày thì dùng nhiều cờ hiệu để làm rối loạn tai mắt của địch.

Cho nên có thể làm dụt chí khí của quân đội và làm ngã lòng của tướng lĩnh bên địch.

Cho nên, buổi sáng thì khí sắc sảo, lúc trưa thì khí mệt nhọc, ban chiều thì khí buồn rầu. Người khéo dùng binh thì tránh khí sắc sảo của địch, mà đánh vào khí mệt nhọc và khí buồn rầu của nó. Đó là phép trị khí.

Ta giữ trật tự, để chờ địch rối loạn. Ta trấn tĩnh, để chờ địch xôn xao. Đó là phép trị tâm.

Ta ở gần chờ địch ở xa tới. Ta khoẻ để chờ địch mệt nhọc. Ta ǎn no, chờ địch đói khát. Đó là phép trị lực.

Chớ xem khinh ngọn cờ chỉnh tề của địch. Chớ xông mặt trận đường hoàng của địch. Đó là phép trị biến.

Cho nên phép dùng binh, địch đóng trên đồi cao, thì ta chớ gượng trèo. Địch trở lưng cho cồn gò, thì ta chớ gượng chắn. Địch giả đò thoái, ta chớ đuổi theo. Địch đương sức hǎng, ta chớ vội đánh. Địch kéo quân về nước nó, ta chớ đón lại. Khi vây quân địch, ta nên để hở 1 phía. Khi địch cùng đường ta chớ đuổi riết nó. Đó là phép quân tranh.

cpv.org.vn

Chương VIII – Chín sự biến

1. Chớ đóng dinh ở nơi dơ bẩn và nơi khó đi lại.

2. Chớ đánh trận trong nước trung lập.

3. Chớ dừng lại nơi tuyệt địa (là nơi khó nước, khó lương thực, khó giao thông).

4. Chỗ bị vây thì phải dùng mưu tránh thoát.

5. Chỗ tử địa thì phải liều đánh.

6. Đường không nên đi thì chớ đi đường đó.

7. Quân đội địch có khi không nên đánh, thì chớ đánh.

8. Thành có khi không nên vây. Đất có khi không nên tranh.

9. Mệnh lệnh của chúa có khi không nên theo. Tướng mà biết 9 điều biến hoá đó, tức là biết dùng binh. Nếu không biết sự ích lợi của 9 điều biến hoá đó, thì tuy biết địa hình cũng không dùng được địa lợi, tuy biết địa lợi cũng không biết khéo dùng binh.

Cho nên người tướng khôn khéo phải xét phía lợi và phía hại trong một việc. Biết nắm chặt phía lợi trong sự hại, thì hoàn thành được nhiệm vụ. Biết tránh khỏi phần hại trong sự lợi, thì khỏi gặp sự khó khǎn.

Cho nên lấy sự hại mà buộc người phải phục ta. Lấy sự lợi mà buộc người phải theo ta.

Cho nên phép dùng binh: chớ chắc rằng địch không đến, nhưng chắc nơi ta có cách đề phòng nó. Chớ chắc nơi địch không đánh ta, nhưng chắc nơi ta làm cho nó không thể đánh.

Cho nên có 5 điều nguy hiểm cho người làm tướng:

1- Liều, thì hay chết.

2- Nhát, thì hay bị địch bắt.

3- Tính nóng, thì hay bị địch lừa.

4- Quá liêm, thì có khi bị địch làm nhục.

5- Quá yêu dân, có khi bị phiền.

Nếu không cẩn thận, thì 5 điều đó có thể làm hư người tướng và làm hỏng việc dùng binh.

cpv.org.vn

Chương IX – Phép hành quân

Đi đường núi thì nên đi theo khe nước.

Chỗ núi mà giao thông dễ, thì chiếm nơi cao mà dàn trận.

Địch ở nơi cao thì chớ trèo mà đánh nó.

Đó là phép hành quân miền núi.

Qua sông thì qua cho mau.

Địch qua sông, ta chờ nó qua nửa sông rồi sẽ đánh nó.

Chớ dàn trận trên bờ sông.

Gần sông thì phải tìm chỗ cao và giao thông dễ mà dàn trận.

Qua sông chớ đi ngược dòng sông.

Đó là phép hành quân miền nước.

Qua đầm phải đi qua mau.

Nếu cần phải đánh với địch ở vùng đầm, thì dựa chỗ có nước có cỏ, mà trở lưng cho cây cối.

Đó là phép hành quân ở vùng đầm.

ở đất bằng, thì phía hữu nên dựa vào đồi, phía trước thì khống chế các tử địa (chỗ hiểm, có sông nước, núi dốc, địch khó tiến lên), phía sau có sinh địa là chỗ dễ vận động, dễ thoái.

Đó là phép hành quân vùng đất bằng.

Khéo dùng 4 địa lợi đó thì thắng.

Quân đội ưa chỗ cao, mà ghét chỗ thấp. Quý chỗ sáng mà ghét chỗ tối. Ǎn no ở tốt, binh lính mạnh khoẻ, thế thì chắc thắng.

Nơi cồn gò đê đồi, thì đóng dinh về phía đông nam (mùa đông thì ấm, mùa hạ thì mát).

Thế là địa thế giúp ích cho quân đội.

Trên nguồn có mưa, nước chảy xoáy xuống, phải chờ nước đứng, ta sẽ lội qua suối.

Đất có mấy thứ:

1- Dốc đứng.

2- Lòng chảo (thung lũng).

3- Ngục giời (rừng núi bao bọc, dễ vào khó ra như cái nhà ngục).

4- Lưới giời (gai gốc mịt mù, khó đi lại, như một cái lưới).

5- Bẫy giời (bùn lầy, ướt át, khó đi lại, như giời đặt bẫy).

6- Hang giời (đường lối chật hẹp, hố sâu hang nhiều).

Những chỗ như thế, thì ta nên tránh. Gần xung quanh quân đội ta, nếu có chỗ hiểm trở, ao giếng, lau lách, rừng núi, thì ta phải lùng xét rất cẩn thận. Đó là những nơi bọn gian hay nấp.

32 cách xét sự động tĩnh của địch:

1- Gần ta mà địch lặng lẽ, là nó cậy có chỗ hiểm.

2- Xa ta mà địch đến khiêu chiến, là nó muốn mồi ta tiến lên.

3- Địch cố ý ở chỗ dễ bị ta đánh, là nó muốn lừa ta.

4- Nhiều cây cối lay động, là địch đi đến.

5- Nhiều cỏ lá phất phơ, là địch làm nghi binh.

6- Chim bay lên, là địch đặt phục binh.

7- Nhiều con thú sợ chạy, là địch mò vào.

8- Đất bụi bay cao và nhọn là xe địch đến.

9- Bay thấp mà rộng là binh địch.

10- Bay rời rạc từng lối là địch đi lấy củi.

11- Bay ít mà khi qua khi lại, là địch đóng dinh.

12- Địch đối với ta ngọt ngào, mà đồng thời nó thêm chuẩn bị, là nó muốn tiến.

13- Nó đối với ta hung hǎng và làm bộ tiến tới, là nó sắp lui.

14- Khi không mà nó xin hoà, là nó dùng mưu.

15- Xe hạng nhẹ của địch chạy trước ra 2 bên là nó sắp dàn trận.

16- Xe vừa chạy, vừa thúc quân, là địch chực xông đánh ta.

17- Địch nửa tiến, nửa thoái là nó mồi ta.

18- Quân địch chống gậy mà đứng, là nó đói.

19- Đi lấy nước mà thò đầu uống trước, là nó khát.

20- Thấy lợi mà không biết tiến đến, là nó mệt.

21- Chỗ nhiều chim đậu, là không có địch.

22- Đi đêm mà hò hét, là chúng nó sợ.

23- Binh lính xôn xao, là tướng không nghiêm.

24- Cờ xí lộn xộn, là trật tự loạn.

25- Tướng lĩnh giận dữ, là nó mệt nhọc.

26- Giết ngựa mà ǎn, là địch hết lương.

27- Nồi chảo không đem vào nhà, là địch cùng túng.

28- Tướng nói ngon ngọt với binh, là binh không phục tướng.

29- Hay thưởng quá, là tướng đã lận quận.

30- Hay phạt quá, là tướng đã khốn đốn.

31- Trước hung tợn mà sau lại sợ quân lính mình, là tướng khờ dại.

32- Địch uý lạo hoặc cảm ơn ta, là nó muốn nghỉ đánh.

Địch khiêu chiến, song mãi không đánh tới, mà cũng không kéo lui, gặp lúc như thế, ta phải xét cẩn thận.

Cho nên binh không cần nhiều lắm nếu biết hợp sức đồng lòng và xét rõ tình hình của địch, thì cũng thắng được. Nếu không xem xét kỹ và khinh địch thì binh nhiều cũng thất bại.

Binh chưa thân thiết theo mình, mà phạt họ thì họ không phục. Họ không phục thì khó dùng.

Binh đã thân thiết theo mình, mà phạt họ không sợ, thì không thể dùng.

Cho nên, lấy lòng thân ái làm cho họ mến, lấy kỷ luật nghiêm làm cho họ phục, thì chắc dùng được.

Mệnh lệnh thi hành hẳn hoi để dạy chúng, thì chúng phục. Mệnh lệnh thi hành không hẳn hoi, thì chúng không phục. Mệnh lệnh thi hành hẳn hoi là vì được lòng chúng.

cpv.org.vn

Chương X – Địa hình

Địa hình có 6 thứ: 1 là thông, 2 là quải, 3 là chi, 4 là ải, 5 là hiểm, 6 là xa.

1- Ta có thể qua, địch có thể lại, gọi là thông. Gặp chỗ như thế, ta trước chiếm chỗ cao, mở đường lương thực, để mà đánh, thì thắng.

2- Đi qua dễ, trở lại khó, gọi là quải. Gặp chỗ như thế, nếu địch không chuẩn bị, thì ta đánh, nếu địch có chuẩn bị thì ta chớ đánh. (Vì tiến đánh thì dễ, mà thoái lui thì khó).

3- Ta ra không lợi. Địch ra cũng không lợi, gọi là chi, gặp chỗ như thế, dù địch mồi ta, ta cũng chớ đánh. Ta phải mồi địch ra nửa chừng mà đánh thì mới lợi cho ta.

4- Nếu ta tới trước chỗ ải, thì giữ các nẻo đường mà chờ địch. Nếu địch tới trước ải mà giữ các nẻo đường, thì ta chớ đánh. Nếu địch không giữ các nẻo đường, thì ta đánh.

5- ở đất hiểm, ta tới trước, thì giữ chỗ cao mà chờ địch. Nếu địch đến trước, thì ta kéo đi, chớ đánh.

6- Đất xa, là địch với ta cách nhau xa, đánh thì không lợi.

Người làm tướng phải xét rõ 6 địa hình đó.

Cho nên có 6 sự bại hoại có thể xảy ra ở trong quân đội: 1 là chạy, 2 là không phục tùng, 3 là rã rời, 4 là tan nát, 5 là rối loạn, 6 là thất bại.

1- Lực lượng ngang nhau, binh khí 1 phần đánh lại 10 phần địch, (chắc là thua chạy) gọi là chạy.

2- Binh mạnh quan yếu, binh không phục tùng mệnh lệnh quan.

3- Quan mạnh binh yếu, không có sức đánh gọi là rã rời.

4- Quan binh hờn giận vì tướng không biết tài nǎng mình, gặp địch họ cứ đánh liều mà thua. Thế gọi là tan nát.

5- Tướng nhút nhát, không nghiêm trang, dạy dỗ không khéo, thay quan đổi lính luôn luôn, dàn binh lộn xộn, gọi là loạn.

6- Đem binh ít, đánh địch nhiều, đem sức yếu đánh địch mạnh, không biết lựa chọn bộ đội đến nỗi thất bại.

Bị một trong sáu điều đó, nhất định thất bại.

Người làm tướng phải hết sức chú ý.

(Ông Ngô Tử nói: trong nước không hoà thuận, thì không thể phái quân đội. Trong quân đội không hoà thuận, thì không thể ra trận. Trong trận không hòa thuận, thì không thể thắng lợi).

Địa hình là để giúp cho binh, cho nên trách nhiệm của tướng là:

1- Xem xét địa hình hiểm hay bằng, gần hay xa, để cân nhắc sức địch, mà làm cho ta thắng.

Biết rõ điều đó mà đánh, thì thắng. Không biết rõ mà đánh, thì thua.

Người làm tướng cốt làm trọn trách nhiệm của mình. Cho nên khi tiến cũng không cầu danh, khi thoái cũng không tránh tội. Chỉ cốt lợi dân lợi nước. Thế là một người tướng tốt của nước nhà.

2- Mến binh ta như con trẻ, cho nên có thể cùng họ xông pha nguy hiểm. Thương binh lính ta như con yêu, cho nên khiến họ cùng tử sinh.

ở tốt với binh, mà không biết sai khiến họ, yêu họ mà không biết mệnh lệnh họ, họ lôi thôi mà không biết ngǎn cản họ, thì hoá ra như con mất dạy. Vậy thì không thể dùng họ.

3- Biết binh ta có thể đánh, nhưng không biết địch có thể đánh hay không. Thế thì chỉ biết thắng có một nửa, biết địch có thể đánh nhưng không biết binh ta có thể đánh hay không, thế thì chỉ biết thắng một nửa. Biết có thể đánh được địch nhưng không rõ địa hình có thể đánh hay không, thế cũng chỉ biết thắng một nửa.

4- Cho nên biết dùng binh, thì động mà không rối, tĩnh mà không cùng.

Cho nên nói rằng: biết ta biết người, thắng chắc phần mười. Biết giời biết đất, thắng lợi nắm chắc.

(Biết sức ta, biết sức địch, là phải biết dùng thiên thời địa lợi, thì mới thắng.

Ông Khổng Minh nói: trước nhất cốt lấy lòng dân, thứ hai mới cốt lấy thành trì của địch).

cpv.org.vn

Chương XI – Chín thứ đất

Trong phép dùng binh có 9 thứ đất: tán địa, khinh địa, tranh địa, giao địa, cù địa, trọng địa, kỷ địa, vi địa, tử địa.

1- Các chư hầu tự đánh nhau trong nước mình gọi là tán địa. (Vì lòng binh lính tản mạn, không chuyên nhất).

Tán địa thì chớ đánh. (Trước phải làm cho quân ta chí khí chuyên nhất).

2- Quân ta vào đất người, nhưng chưa vào sâu gọi là khinh địa. (Vì quân ta giác ngộ chưa sâu).

Khinh địa thì chớ dừng lại. (Phải làm cho quân ta giác ngộ sâu hơn).

3- Ta lấy được chỗ đó thì ta lợi. Địch lấy được chỗ đó thì địch lợi, gọi là tranh địa. (Như những nơi trọng yếu, bên nào cũng muốn tranh lấy).

Tranh địa thì chớ đánh. Ta phải bao vây phía sau.

4- Ta có thể qua, địch có thể lại, gọi là giao địa. (Vì giao thông dễ dàng).

Giao địa thì chớ tuyệt. Ta phải giữ cẩn thận.

5- Đất trung lập, giáp giới nhiều nước. Ai đến trước thì được dân thiên hạ, gọi là cù địa.

Cù địa thì ta ngoại giao cho khéo.

6- Vào sâu đất người, xung quanh nhiều thành thị làng mạc, gọi là trọng địa.

Trọng địa thì mau tranh lấy lương thực.

7- Chỗ nhiều rừng núi đầm ao hiểm trở, gọi là kỷ địa. Gặp kỷ địa thì kéo đi mau.

8- Đường vào thì hẹp, đi quanh co mới đến. Địch ít người cũng có thể đánh ta người đông, gọi là vi địa. (Rừng núi bao vây, tiến thoái đều khó).

Vi địa thì phải dùng mưu. Chắn giữ những nẻo đường ra vào.

9- Chỗ đó nếu đánh mau thì sống, không đánh mau thì chết, gọi là tử địa.

Gặp tử địa thì phải kiên quyết đánh.

Cho nên người tướng giỏi phải khiến cho địch phía trước, phía sau không giúp được nhau, chỗ đông chỗ ít, không cứu được nhau, kẻ trên kẻ dưới không ưa nhau, quan lính không ưa nhau, lính tráng không cùng nhau đồng tâm hiệp lực.

Lợi cho ta thì ta động. Không lợi cho ta thì ta tĩnh.

Nếu quân địch một cách chỉnh tề kéo đến, thì ta nên tạm tránh chủ lực của nó. Ta nên trước – cướp lấy những chỗ rất cần cho nó, (như những nơi nó để kho tàng, những đường giao thông của nó…) thì nó phải thoái.

Việc binh quý mau chóng. Ta đi theo con đường địch không ngờ, đánh vào chỗ địch không phòng bị.

Quân ta vào sâu đất người, thì lòng họ chuyên nhất. Ta lấy lương thực ở nước địch, quân đội ta ǎn no.

Ta cẩn thận nuôi dưỡng họ chớ bắt họ lao khổ quá để nâng cao khí lực của họ. Ta đặt kế hoạch khôn khéo, thình lình đánh vào quân địch. Thế thì quân đội ta ai cũng không sợ chết, ai cũng hết sức đánh.

Hễ quân lính đã đến chỗ xung quanh đều địch nhân, thì lòng họ kiên cố. Vào sâu đất địch, tinh thần họ bị ràng buộc, thì họ nhất trí ra sức đánh.

Cho nên quân ta không chờ khuyên rǎn, mà họ tự giữ. Không chờ dặn dò mà họ tự nghe. Không chờ dạy bảo mà họ tự thân thiết với nhau. Không chờ mệnh lệnh mà họ tự tin.

Ta phải cấm sự mê tín, và đề phòng sự tuyên truyền của địch. Thế thì dù chết quân ta cũng không muốn thoái.

Quân ta không ham thừa tiền, không phải vì họ ghét của. Họ không sợ chết, không phải vì họ ghét sống lâu. (Nhưng vì không bị sự ham muốn vật chất bó buộc, thì chí khí càng kiên quyết). Khi có lệnh ra đánh thì những người đương bị bệnh, cũng hǎng hái khóc lóc muốn theo ra trận.

Cho nên dùng binh khéo thì như con rắn: “thốt nhiên”. Thốt nhiên là một thứ rắn ở Thường Sơn. Đánh đầu nó thì đuôi nó cứu, đánh đuôi nó thì đầu nó cứu. Đánh lưng nó thì đầu đuôi nó đều cứu.

Thử hỏi, có thể khiến cho quân đội như con rắn thốt nhiên không? Có thể lắm. Người nước Ngô và người nước Việt xưa nay vẫn không ưa nhau. Nhưng họ đi chung một chiếc thuyền gặp cơn sóng gió thì họ cũng hết lòng cứu nhau, như tay phải cứu tay trái.

Bởi vậy cần phải làm cho người yếu cũng nhất trí với người mạnh. Phải lợi dụng địa thế đất cứng cũng như địa thế đất mềm. (Cứng mềm là gần xa, rộng hẹp, hiểm bằng, sinh tử).

Người làm tướng phải yên tĩnh không để ai dò được mình. Phải nghiêm chính, lo xa và làm việc có hệ thống.

Phải bưng bít tai mắt binh lính, không cho họ biết kế hoạch của mình. (Phải rất bí mật).

Phải thường thay đổi cách làm việc, thay đổi cách dùng mưu, làm cho người ta không dò đoán.

Phải thường đổi chỗ ở, đổi đường đi, làm cho người ta không biết được.

Đem quân ra trận, như trèo lên tường cao rồi cất cầu thang. Đem quân vào đất địch, thì như nẩy cò súng, (nghĩa là kiên quyết tiến tới, không nghĩ đến giở về). Như lùa bầy dê, đem đi thì đi, đem lại thì lại, họ không biết là đi đâu.

Đem quân đến chỗ nguy hiểm là việc của tướng. Vậy nên tướng cần phải hiểu rõ chín sự biến đổi của địa thế, phải hiểu rõ lúc nào nên tiến, lúc nào nên thoái. Phải hiểu rõ tâm lý của người. Quân đội ta vào đất người vào cạn thì lòng họ rời rạc, vào sâu thì lòng họ nhất trí. Cho nên lúc bị vây thì họ ra sức chống cự, bất đắc dĩ thì họ ra sức đánh, bị bức thì họ liều.

Quân đội giỏi, đánh nước lớn thì quân địch không tập trung được; ra oai với địch, thì bầu bạn nó không nhóm họp được. Cho nên ta lấy được thành và huỷ được nước địch.

Thǎng thưởng rất rộng rãi, mệnh lệnh rất nghiêm ngặt, chỉ huy ba quân cũng như sai khiến 1 người.

Bảo họ làm việc, chớ nói nhiều lời.

Cho họ biết lợi, chớ nói đến hại.

Ném vào chỗ mất, thì họ mới còn.

Hãm vào chỗ chết, thì họ mới sống.

Đẩy vào chỗ hại, họ mới làm nên thắng lợi.

Cho nên trong việc dùng binh, ta giả đò theo ý của địch, nhưng ta ra sức theo một phương hướng, thì ta có thể nghìn dặm phá địch.

Thế thì gọi là khéo làm thì thành công.

Vậy nên khi đã định dùng binh, thì phong toả các lối giao thông, huỷ các giấy thông hành, không qua lại với địch nữa, ta tự sửa soạn công việc.

Địch mở hé cửa ải, thì ta lập tức xông vào. Trước ta tranh lấy những nơi quan trọng của địch, (như cửa bể, thành trì, …), một mặt thì ta luôn luôn dự bị cùng địch quyết chiến.

Cho nên ban đầu thì lặng lẽ như người con gái tơ. Khi địch mở cửa thì ta nhanh chóng như thỏ rừng, địch không trở tay kịp.

cpv.org.vn

Chương XII – Phép đánh bằng lửa

Đánh bằng lửa có 5 cách:

1- Đốt người.

2- Đốt nơi địch để đồ đạc.

3- Đốt vận tải của địch.

4- Đốt kho tàng của địch.

5- Đốt dinh trại của địch.

Dùng lửa phải theo thiên thời và địa lý.

Đốt lửa phải có máy móc và tài liệu.

Nhen lửa phải xem thì giờ và ngày tháng.

Thì giờ là lúc khô ráo. Ngày, tháng là theo ngôi sao Kỵ ở phía đông nam, sao Bích ở phía đông bắc, sao Dực, sao Chẩn ở tây nam. (Bốn ngôi sao ấy chỉ rõ ngày nào gió thổi phương hướng nào).

Phải theo 5 thứ hoả công biến hoá mà tiếp ứng:

1- Lửa cháy phía trong, thì ngoài phải tiếp ứng mau.

2- Lửa cháy mà quân địch vẫn lặng lẽ, thì ta phải chờ, chớ đánh vội.

3- Lửa cháy rất mạnh, ta xét có thể đánh thì đánh, không thể đánh thì chớ đánh.

4- Nếu có thể đốt dinh trại phía ngoài của địch thì đốt, không cần chờ có nội ứng.

5- Lửa cháy trên gió, ta chớ tiến đánh dưới gió.

Ban ngày gió lâu. Ban đêm gió chóng.

Quân đội phải biết cách biến hoá của 5 thứ lửa mà giữ gìn. Cho nên lấy lửa mà đánh thì sáng, lấy nước mà đánh thì mạnh.

Nếu đánh được trận mà không mau mau thu lấy kết quả, thì không tốt. Vì hao phí sức người, sức của hư không. Cho nên người làm tướng phải tính trước.

Không có lợi thì ta chớ động. Không chắc thắng, thì chớ dùng binh, không đến nguy cơ, thì chớ chiến tranh.

Chúa không nên vì giận mà động viên. Tướng không nên vì cǎm khai chiến. Lợi cho nước thì ta hành động. Không lợi cho nước thì thôi. Giận có khi lại vui. Cǎm có khi lại hoà, nhưng nước mất thì không lại còn, người chết thì không lại sống. Cho nên chúa và tướng phải hết sức cẩn thận.

Đó là cách yên nước nhà và toàn quân đội.

cpv.org.vn