Thư viện

Đánh phản nhiễu điện tử, hạ gục B-52 Mỹ

QĐND – Từ một trưởng xe, kiêm sĩ quan điều khiển tên lửa, phát triển thành Trung đoàn trưởng (các trung đoàn: 238, 281, 258), rồi về công tác ở Phòng 22 Bộ Tham mưu quân chủng, Trợ lý tác chiến huấn luyện của Binh chủng tên lửa… trực tiếp “nằm vùng” ở các tiểu đoàn, cùng chiến đấu với các kíp chiến đấu để nghiên cứu cách đánh, nên Đại tá Trần Xuân Khuyến tích lũy nhiều kinh nghiệm đánh phản nhiễu điện tử của không quân Mỹ. Nhân dịp này, ông kể về kinh nghiệm đánh B-52 trên bầu trời Thủ đô Hà Nội.

“Cuộc chiến đánh trả máy bay Mỹ trên bầu trời Hà Nội đã lùi xa 40 năm nhưng dấu ấn của cuộc chiến và những kinh nghiệm xương máu của bộ đội tên lửa phòng không vẫn còn lưu lại mãi trong tâm trí chúng tôi – những người trực tiếp chiến đấu. Với tôi, những trận bộ đội tên lửa phòng không đánh phản nhiễu điện tử của không quân Mỹ là một kỳ tích trong lịch sử chiến tranh. Kết quả là, trong 34 máy bay B-52 Mỹ bị hạ có 18 chiếc rơi tại chỗ; hàng chục máy bay cường kích bị diệt. Đó là cái giá mà bọn giặc trời phải trả.

Thế nào là đánh phản nhiễu điện tử?

Đánh phản nhiễu điện tử là chống lại nhiễu điện tử công nghệ cao của đối phương. Nhiễu điện tử công nghệ cao nhằm vô hiệu hóa ra-đa dẫn đường để cho máy bay cường kích, máy bay chiến lược B-52 dễ dàng xâm nhập bầu trời, không bị phát hiện. Cách đánh phản nhiễu điện tử phát sinh từ khi có chiến tranh điện tử công nghệ cao. Đó là quy luật tất yếu của chiến tranh đất đối không.

Máy bay của địch phát ra tần số (siêu cao tần) cộng hưởng với tần số của máy phát đài điều khiển tên lửa làm cho máy thu bị nhiễu nặng không bắt được tín hiệu mục tiêu. Muốn tiêu diệt được B-52 và máy bay cường kích gây nhiễu điện tử trong và ngoài đội hình, ta phải nghiên cứu tổ chức đánh phản nhiễu điện tử. Đó là đỉnh cao của chiến tranh điện tử, đòi hỏi bộ đội tên lửa phòng không của ta phải mưu trí sáng tạo và dũng cảm.

Các trận đánh mở đầu

Nhờ có trận đánh trượt B-52 của Tiểu đoàn 84, Trung đoàn 238 tại Nông trường Quyết Thắng vào năm 1967, tiểu đoàn đã nghiêm túc kiểm điểm và rút kinh nghiệm. Trận này ta không đánh được B-52 mà đánh nhầm máy bay cường kích F của chúng vì thế coi như không hoàn thành nhiệm vụ. Đài điều khiển phát sóng được khoảng 20 giây thì trúng tên lửa chống ra-đa của địch làm hư hỏng khí tài và gây thương vong cho cán bộ và chiến sĩ của tiểu đoàn.

Được trung đoàn bổ sung khí tài và kíp chiến đấu, Tiểu đoàn 84 khôi phục lại sức chiến đấu và rút ra những kinh nghiệm xương máu. Nên trận đánh ngày 17-9-1967, đơn vị đã bắn rơi chiếc B-52 đầu tiên khi ở Vĩnh Linh. Từ kinh nghiệm này, quân chủng biên soạn tài liệu, phổ biến đến từng đơn vị, ngày đêm tập luyện các phương án đánh B-52.

Trưa ngày 17-12-1972, Ních-xơn (Tổng thống Mỹ) ra lệnh mở cuộc tiến công đường không chiến lược vào miền Bắc nước ta thì đêm 18-12-1972, chúng bắt đầu cuộc tiến công vô nhân đạo này bằng máy bay ném bom chiến lược B-52.

Vào lúc 19 giờ 44 phút đêm 18-12-1972, các tốp tiêm kích hộ tống B-52, các tốp F mang tên lửa sơ-rai đã vượt qua tầm hỏa lực của tên lửa ta. Các tốp B-52 đi đầu đã vào vùng hỏa lực. Cả Hà Nội đang yên tĩnh, nín thở, bỗng như nổ tung. Các tiểu đoàn tên lửa ở hướng tây và tây bắc đồng loạt phóng đạn tên lửa. Tiếng tên lửa xé không khí bay vút lên gầm rít, cùng với tiếng máy bay cường kích, máy bay B-52, tiếng bom đạn nổ ầm ầm như sấm dậy. Trời Hà Nội tưởng chừng như vỡ tung. Loạt đạn đầu không có B-52 rơi, các tốp B-52 đi sau đang bay vào khu vực hỏa lực của Tiểu đoàn 78, Trung đoàn 257. Đơn vị này được giao nhiệm vụ tiêu diệt tốp “B-52 mang ký hiệu 957”. Tiểu đoàn đã phóng đạn tiêu diệt tốp 957 bằng phương pháp điều khiển 3 điểm, 2 quả đạn được điều khiển tốt, nhưng không thành công.

Qua trận đánh trượt này của Tiểu đoàn 78, chúng ta đã kịp thời rút ra những kinh nghiệm rất thiết thực, đó là phương pháp xử lý của kíp chiến đấu trước và sau khi phóng tên lửa vào khu vực tín hiệu B-52 trên nền dải nhiễu, tiểu đoàn trưởng phải lệnh chuyển sang phương pháp điều khiển vượt nửa góc bám sát tự động. Qua trận đánh này lãnh đạo chỉ huy quân chủng điện cho các kíp chiến đấu phải kịp thời rút kinh nghiệm, bình tĩnh mưu trí, không sợ tên lửa sơ-rai của địch, mạnh dạn phát sóng đài điều khiển tên lửa ở cự ly thích hợp, khi xuất hiện tín hiệu B-52 trên màn hiện sóng, chuyển phương pháp điều khiển thích hợp.

Lúc 20 giờ 13 phút, tốp B52 mang “số hiệu 671” từ hướng Tam Đảo bay xuống đánh ga Đông Anh. Chỉ huy trung đoàn ra lệnh cho các tiểu đoàn 57, 59, 94 tiêu diệt. Tiểu đoàn 59 ở trận địa Tó bám sát dải nhiễu xác định là B-52 và phát lệnh tiêu diệt tốp 671 bằng phương pháp điều khiển ba điểm. B-52 trúng đạn bốc cháy rơi xuống cánh đồng xã Phủ Lỗ, huyện Đông Anh, TP Hà Nội. Được tin Tiểu đoàn 59 bắn rơi tại chỗ B-52, Phó tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài điện cho Sư đoàn Phòng không 361 đi xác minh. Vừa lúc đó đồng chí Võ Công Lạng, Trung đoàn phó mang về một mảnh xác máy bay B-52G có gắn phù hiệu nắm đấm và tia chớp của không quân chiến lược Hoa Kỳ.

Lúc 4 giờ 39 phút ngày 19-12-1972, tại trận địa Chèm, Tiểu đoàn 77 phát hiện tốp B-52 từ hướng tây vào đánh Hà Nội. Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn và kíp chiến đấu phát sóng đài điều khiển ở cự ly thích hợp bắt được tín hiệu B-52 trên nền dải nhiễu cực mạnh. Tiểu đoàn trưởng lệnh tiêu diệt bằng phương pháp điều khiển vượt nửa góc bám sát tự động và phóng 2 quả. B-52 bốc cháy, rơi xuống cánh đồng xã Tam Hưng, Quốc Oai, Hà Tây.

Đêm 26-12-1972, bộ đội phòng không – không quân ta thắng lớn. Không quân Mỹ đã ngấm đòn. 22 giờ 36 phút ngày 26-12-1972, Tiểu đoàn 76 ở trận địa Dục Tú dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Lê Văn Hệ, kíp chiến đấu đã bám sát dải nhiễu sáng nhất “tốp B-52 mang số hiệu 599”. Tiểu đoàn trưởng lệnh tiêu diệt bằng phương pháp điều khiển ba điểm phóng 2 quả. B-52 bốc cháy rơi xuống gần cửa hàng ăn uống Tương Mai (nay thuộc quận Hoàng Mai).

Cũng trong đêm 26-12, Tiểu đoàn 79 phát sóng đài điều khiển và phát hiện được tín hiệu B-52 trên nền dải nhiễu cực mạnh “B-52 đang bay lượn vòng lớn”, Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Chiến lệnh dùng phương pháp điều khiển vượt nửa góc bám sát hỗn hợp phóng 1 quả tên lửa, B-52 trúng đạn rơi xuống địa phận tỉnh Sơn La.

Trận chiến đấu đêm 26-12-1972 diễn ra rất ác liệt. Bộ đội tên lửa và pháo cao xạ 100mm ở Hà Nội – Thái Nguyên đánh một trận tiêu diệt lớn, bắn rơi 8 máy bay B-52, có 5 chiếc rơi tại chỗ. Đây được coi là trận then chốt của Quân chủng Phòng không – Không quân ta đánh trả cuộc tập kích đường không chiến lược của không quân Mỹ, nó có tính quyết định, làm thay đổi tình thế chiến dịch, làm suy sụp tinh thần giặc lái B-52. Nhà Trắng, Lầu Năm Góc ngán ngẩm và thất vọng.

Vào lúc hơn 23 giờ đêm 27-12-1972, Tiểu đoàn 72 ở trận địa Đại Chu, dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt phát sóng đài điều khiển bắt tín hiệu B-52 trên nền dải nhiễu rất mạnh, trắc thủ góc tà bắt được B-52 trước cự ly bám theo góc tà, sau đó trắc thủ phương vị cũng bắt được mục tiêu. Tiểu đoàn trưởng quyết định dùng phương pháp điều khiển vượt nửa góc, bám sát tự động bắn 2 quả đạn và đã hạ B-52 tại chỗ (xác B-52 rơi xuống thôn Ngọc Hà, Hà Nội).

Những nhân tố tạo nên thắng lợi

Sau này, càng nghiên cứu tôi càng nhận thấy, nguyên nhân thắng lợi thì có nhiều, nhưng nguyên nhân trực tiếp chính là con người: Từ người chỉ huy lãnh đạo cao nhất đến các chiến sĩ trắc thủ tay quay, họ là những con người hoàn hảo trong chiến đấu. Đó là các kíp chiến đấu tài ba, mưu trí, dũng cảm của các tiểu đoàn tên lửa. Đó là những cán bộ chỉ huy lãnh đạo, các sĩ quan điều khiển và các trắc thủ, dám đánh, biết đánh, tìm ra chỗ yếu để bắn trúng, máy bay địch. Họ là những con người có bản lĩnh chiến đấu vững vàng, được huấn luyện hết sức bài bản, được trải nghiệm gần chục năm trời chiến đấu với không quân chiến lược Mỹ ở các chiến trường, tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu, được giúp đỡ thường xuyên của cán bộ tham mưu, tác chiến, kỹ thuật, hậu cần, các nhà nghiên cứu khoa học để nghiên cứu tìm ra cách đánh B-52 có hiệu quả cao nhất.

Bộ đội tên lửa phòng không đã nắm vững và phát huy cao độ tính năng chiến thuật, kỹ thuật của khí tài CA-75M, kết hợp chặt chẽ giữa chiến thuật – kỹ thuật xạ kích, thao tác của kíp chiến đấu, bố trí đội hình chiến đấu linh hoạt, có trận địa chốt, có trận địa cơ động vòng ngoài, trận địa dự bị, trận địa dã chiến, cơ động lực lượng nghi binh, ngụy trang, trận địa giả làm giảm uy lực của bom đạn địch, giảm thương vong tổn thất cho ta. Bộ đội tên lửa càng đánh càng trưởng thành, càng tinh nhuệ, thiện chiến.

Bộ Tổng tư lệnh, lãnh đạo, chỉ huy Quân chủng Phòng không-Không quân đã chỉ đạo đánh B-52 từng trận, kịp thời rút kinh nghiệm và phổ biến kinh nghiệm những trận đánh hay và những trận đánh chưa tốt. Tôi cho rằng đấy là những yếu tố cơ bản tạo nên thắng lợi “Điện Biên Phủ trên không”.

Đại tá TRẦN XUÂN KHUYẾN
qdnd.vn

Ra-đa “tóm gọn” B-52, báo động sớm cho miền Bắc

QĐND – Để bộ đội tên lửa chủ động bắt, bám sát, tiêu diệt B-52 ngay từ những giờ đầu tiên của Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, phải kể đến thành tích phát hiện, thông báo sớm B-52 của bộ đội ra-đa. Ngay trong những phút đầu tiên của chiến dịch, Đại đội 45, Trung đoàn 291 (Binh chủng Ra-đa) đã “tóm gọn” B-52, thực hiện xuất sắc khẩu hiệu “Không để Tổ quốc bị bất ngờ”.

Hiện nay, đài ra-đa dẫn đường P-35 phát hiện sớm tốp B-52 chuẩn bị vào đánh phá Hà Nội đang được trưng bày tại Bảo tàng Chiến thắng B-52 (số 157 Đội Cấn, Hà Nội). Hơn 19 giờ ngày 18-12-1972, Đài trưởng Nghiêm Đình Tích cùng các trắc thủ Phạm Hoàng Cầu, Nguyễn Văn Xích, thuộc Đại đội 45, Trung đoàn 291 phát hiện ba dải nhiễu B-52. Sau một thoáng suy nghĩ, Đài trưởng Tích báo cáo lên cấp trên: “B-52 địch có khả năng vào miền Bắc”. Từ sở chỉ huy Trung đoàn 291 ở Nghệ An, Trung đoàn trưởng Đỗ Năm báo cáo về tổng trạm ra-đa Quân chủng PK-KQ: “B-52 đang bay vào Hà Nội”. Ngay sau đó, Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu) đã báo cáo lên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đồng thời phát lệnh báo động cho Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và một số tỉnh miền Bắc. Đúng 19 giờ 40 phút, 90 lần chiếc B-52 và 135 lần máy bay chiến thuật đã đánh liên tiếp 3 đợt vào các sân bay: Kép, Nội Bài, Gia Lâm, Hòa Lạc, Yên Bái và một số khu vực của Hà Nội.

Do được thông báo B-52 trước 25 phút, quân, dân miền Bắc, mà nòng cốt là Bộ đội PK-KQ đã giành được thế chủ động, đánh địch quyết liệt ngay từ những phút giây đầu tiên khi máy bay địch xâm phạm bầu trời Hà Nội. Tiểu đoàn 59, Trung đoàn Tên lửa 261 (Sư đoàn 361, Quân chủng PK-KQ) đã lập công xuất sắc, hạ gục “siêu pháo đài bay” B-52 đầu tiên trên bầu trời Hà Nội, đánh sập “niềm kiêu hãnh của không lực Hoa Kỳ”.

PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

Lấy yêu cầu tác chiến làm mục đích tổ chức bảo đảm kỹ thuật

QĐND – Trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, việc tổ chức bảo đảm kỹ thuật nhằm duy trì và phát huy sức chiến đấu liên tục trong điều kiện tác chiến tập trung, ác liệt là vấn đề vô cùng khó khăn nhưng đồng thời có ý nghĩa quan trọng để giành thắng lợi.

Việc bảo đảm kỹ thuật trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 gặp không ít khó khăn vì lúc này lực lượng phòng không của ta đang phải tập trung lực lượng tác chiến trong Chiến dịch Trị Thiên. Nhiều khí tài tốt, vật chất kỹ thuật, đạn tên lửa đã và đang tiếp tục được chuyển vào chiến trường Khu 4 phục vụ chiến dịch. Một số lớn cán bộ, công nhân kỹ thuật có trình độ cao cũng đang có mặt ở chiến trường để bảo đảm kỹ thuật phục vụ tác chiến. Bên cạnh đó, lượng khí tài tên lửa dự trữ không còn nhiều. Các bộ khí tài ở các đơn vị chiến đấu hầu hết đã có giờ tích lũy lớn và cần phải trung tu. Lượng đạn tên lửa dự trữ chiến lược cũng còn hạn chế, thiếu đồng bộ, một số lớn đã quá niên hạn sử dụng…

Một xưởng lắp ráp đạn tên lửa phục vụ Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu.

Song song với việc bảo đảm kỹ thuật cho tác chiến, Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ) chỉ đạo các nhà máy của quân chủng tích cực đầu tư sản xuất vật tư thay thế, dồn lắp sửa chữa và nghiên cứu kéo dài niên hạn sử dụng của đạn tên lửa, bố trí lại hệ thống kho tàng ở miền Bắc, đồng thời tổ chức các đội cơ động sửa chữa phối hợp với cơ quan kỹ thuật của sư đoàn, trung đoàn và đơn vị nhanh chóng kiểm tra định kỳ cho khí tài. Vượt qua muôn vàn khó khăn, kết quả là trước khi bước vào chiến dịch, các đơn vị tên lửa ở phía Bắc đã được kiểm tra định kỳ hằng năm xong. Lượng đạn cung cấp ở các tuyến trung đoàn, tiểu đoàn cơ bản đã đủ theo quy định. Từ ngày 3 đến 5 tháng 12-1972, Cục Kỹ thuật Quân chủng PK-KQ mở hội nghị toàn ngành bàn về bảo đảm kỹ thuật phục vụ yêu cầu tác chiến liên tục trong chiến dịch. Ngày 15-12-1972, Cục Kỹ thuật Quân chủng PK-KQ tiếp tục mở hội nghị khẩn cấp bàn về tổ chức bảo đảm đạn tên lửa cho chiến dịch và quyết định tổ chức hai đội sửa chữa, lắp ráp đạn tên lửa của Nhà máy A31 sẵn sàng phục vụ chiến dịch. Cục Kỹ thuật Quân chủng PK-KQ cũng chủ động tổ chức vận chuyển đạn cho Hà Nội, Hải Phòng, bổ sung nhiên liệu, vật tư đồng bộ để các đơn vị đẩy nhanh tốc độ lắp ráp đạn. Bên cạnh đó, việc tổ chức lắp ráp đạn tập trung ở khu vực cất giấu đạn cũng được triển khai để nhanh chóng bảo đảm đạn cho tác chiến. Sau đợt một chiến dịch, lượng đạn tên lửa tiêu thụ lớn, khả năng cung cấp khó khăn. Để kịp thời bảo đảm, Quân chủng PK-KQ đã chủ động đề nghị cấp trên cho điều đạn từ Khu 4 ra.

Trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, việc bảo đảm khí tài chiến đấu, đặc biệt là khí tài tên lửa cũng là một vấn đề lớn. Trong quá trình chuẩn bị chiến dịch, ngành kỹ thuật Quân chủng PK-KQ đã chủ động tổ chức kiểm tra, hiệu chỉnh khí tài và bảo dưỡng định kỳ ở hầu hết các đơn vị ra-đa, tên lửa, pháo cao xạ; tổ chức cung cấp bổ sung vật tư phụ tùng thay thế; củng cố, bổ sung trang thiết bị cho các trạm sửa chữa ở các trung đoàn… Nhờ đó, khi bước vào chiến dịch, hệ số kỹ thuật của các loại vũ khí, khí tài đã đạt được ở mức cao. Trong 3 ngày đầu chiến dịch, không quân địch chủ yếu tập trung đánh phá và khống chế sân bay, do đó khí tài chưa tổn thất lớn. Nhưng từ ngày 21-12-1972, địch tập trung lực lượng đánh phá các trận địa phòng không nên vũ khí trang bị của nhiều đơn vị có bị tổn thất. Ngành kỹ thuật Quân chủng PK-KQ đã tổ chức tốt việc sửa chữa, khôi phục khí tài chiến đấu trong quá trình tác chiến chiến dịch. Đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật của từng đơn vị đã chủ động hiệu chỉnh, sửa chữa những hư hỏng thông thường để bảo đảm chiến đấu liên tục, kịp thời. Bên cạnh đó, lực lượng sửa chữa cơ động của chiến dịch đã tập trung tổ chức sửa chữa tại các đơn vị có khí tài bị hư hỏng nặng, nên chỉ sau 1 đến 2 ngày, đơn vị lại có thể đưa khí tài vào sử dụng, kịp thời phục vụ chiến đấu. Đối với những bộ khí tài hư hỏng nặng không thể sửa chữa tại chỗ, Cục Kỹ thuật đã tổ chức thay thế khẩn trương cho các đơn vị bảo đảm chiến đấu ngay…

Vấn đề bảo đảm kỹ thuật trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 bao hàm nhiều nội dung, nhiều lĩnh vực khó khăn và phức tạp. Nhưng nhờ sự tích cực, chủ động vượt qua mọi khó khăn với phương châm “lấy yêu cầu tác chiến làm mục đích để tổ chức bảo đảm kỹ thuật”, ta đã làm tốt công tác chuẩn bị như bố trí hệ thống kho tàng, khí tài dự bị, chuẩn bị đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật; kết hợp tốt giữa bảo đảm tập trung và bảo đảm tại chỗ, kết hợp giữa các đội sửa chữa cơ động với lực lượng sửa chữa tại chỗ của các đơn vị… góp phần làm nên chiến thắng lịch sử.

NGUYỄN TRUNG (Theo Trung tướng Lương Hữu Sắt, nguyên Cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân chủng PK-KQ).
qdnd.vn

Đỉnh cao nghệ thuật tác chiến của Không quân nhân dân Việt Nam

QĐND Online – “Đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ cuối tháng 12-1972 là đỉnh cao về nghệ thuật tác chiến của Không quân nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ”, đó là khẳng định của Tư lệnh Quân chủng PK-KQ, Trung tướng Phương Minh Hòa, tại Hội thảo “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không-Tầm cao bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam”, được tổ chức cuối tháng 11 vừa qua…

Tinh thần, lực lượng sẵn sàng

Để có được Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” cuối tháng 12-1972, vấn đề đầu tiên và có tính quyết định là sự chuẩn bị chu đáo về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật của ta.

Đầu năm 1968, Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ đã giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Binh chủng Không quân phải nghiên cứu cách đánh B-52. Trên cơ sở đó, Binh chủng Không quân đã cử các cán bộ tham mưu và phi công vào Quảng Bình, Vĩnh Linh…trực tiếp quan sát, tìm hiểu đội hình, quy luật hoạt động của B-52 cả ngày đêm; xây dựng phương án tác chiến, nghiên cứu cách đánh và huấn luyện một số phi công Mig chuyên đánh B-52. Đồng thời, tổ chức củng cố, nâng cấp, xây dựng mới hệ thống sân bay trên miền Bắc.

Nhờ được chuẩn bị chu đáo về tinh thần, lực lượng nên Không quân nhân dân Việt Nam chủ động tham gia Chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972. Ảnh Internet

Cùng với đó, Không quân tập trung xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao cho các thành phần, tập trung nhất là đội ngũ phi công. Trong 12 ngày đêm đánh B-52, ngoài những khó khăn do bị tiêm kích địch khống chế, uy hiếp nhiều tầng, nhiều lớp, phi công của ta còn chịu không ít căng thẳng về tâm lý do trực chiến dưới tầm bom đạn của địch; cất, hạ cánh trong điều kiện ban đêm, đường băng ngắn, hẹp hoặc đã bị đánh phá, thiếu đèn chiếu sáng, không có chỉ huy. Đặc biệt, sau những đêm đầu của Chiến dịch, Không quân vẫn chưa bắn rơi được máy bay B-52, dẫn đến những luồng tư tưởng khác nhau xuất hiện, nhất là trong đội ngũ phi công. Số ít lo lắng về khả năng bắn rơi B-52 của không quân ta; số khác có thể nôn nóng dễ dẫn đến mất bình tĩnh và mạo hiểm… Từ thực tế đó, nhiệm vụ đánh B-52 đã được quán triệt sâu sắc đến mọi cán bộ, chiến sĩ, chú trọng tới đội ngũ phi công. Nhờ vậy, trong những thời điểm gian khổ và ác liệt nhất, tất cả cán bộ, phi công luôn giữ vững ý chí chiến đấu, với quyết tâm còn một người, một máy bay cũng kiên quyết tiến công.

Cùng với xây dựng bản lĩnh chính trị, tinh thần cho các thành phần, Không quân ta hết sức chú trọng công tác xây dựng lực lượng. Thời điểm đó, phi công chiến đấu ở mỗi trung đoàn không nhiều, được chia thành 2 bộ phận: bộ phận huấn luyện và chiến đấu ban ngày (chiếm đa số) và bộ phận huấn luyện và chiến đấu ban đêm. Năm 1972, các phi công chiến đấu ban ngày hầu hết đều lập công; nhiều đồng chí bắn rơi 5 đến 6 máy bay địch. Trong khi đó, số phi công đánh đêm đã tham gia trực ban chiến đấu, xuất kích ban đêm nhiều lần nhưng chưa bắn rơi được máy bay địch. Bởi vậy, có những phi công bay đêm muốn được chiến đấu cùng đội ngũ đánh ngày. Tuy nhiên, ta đã nắm chắc ý đồ của địch, quyết tâm giữ gìn lực lượng. Vì vậy, trước khi Chiến dịch 12 ngày đêm diễn ra, số phi công đánh đêm vẫn được giữ nguyên.

Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (thứ nhất từ trái qua); Trung tướng Phương Minh Hòa (thứ 2 từ trái qua) và các đại biểu dự Hội thảo “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không-Tầm cao bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam”. Ảnh: Hoàng Hà

Tốp nhỏ, chiếc lẻ, chiến thuật linh hoạt

Trong cuộc tập kích đường không cuối tháng 12-1972, máy bay B-52 chủ yếu đánh đêm. Ta đã sử dụng sân bay dã chiến, ánh sáng hạn chế để xuất kích và hạ cánh sau chiến đấu, do đó thường sử dụng lực lượng nhỏ từ một đến 2 chiếc (thường là một chiếc). Với cách sử dụng lực lượng như vậy, máy bay của ta có điều kiện tiếp cận nhanh, công kích nhanh, thoát ly nhanh; vừa đánh được địch, vừa bảo vệ được mình. Chỉ sử dụng 2 chiếc khi cần tăng cường nghi binh để kéo tiêm kích địch ra hướng khác, còn hướng đánh B-52 phải giữ bí mật bất ngờ, tránh tiêm kích địch, tiếp cận trực tiếp mục tiêu chính.

Khi đánh vào Hà Nội, không quân Mỹ đã gây nhiễu kết hợp với hộ tống nhiều tầng, nhiều lớp tạo nên lá chắn cho B-52 và đánh đồng loạt các sân bay của ta. Ngay trận đầu xuất kích (đêm 18-12-1972) và một số trận sau, phi công của ta đều phát hiện đèn của F-4 và đèn của B-52, nhưng không tiếp cận được; hoặc khi tiếp cận mở ra-đa vừa bị nhiễu, vừa lộ lực lượng, địch cơ động khiến ta mất mục tiêu.

Ra-đa dẫn đường là mắt thần của không quân. Tuy nhiên, trong thực tế 12 ngày đêm tháng 12-1972, dẫn đường gặp nhiều khó khăn do ra-đa bị nhiễu nặng. Từ việc đúc kết kinh nghiệm “máy gây nhiễu của B-52 chỉ có tác dụng tốt về phía trước theo hướng bay, 2 bên sườn và phía sau cường độ yếu hơn”, chúng ta đã nghiên cứu bố trí các trạm ra-đa dẫn đường trên một đường bay cùng phối hợp dẫn đường, các trạm ra-đa 2 bên sườn của đường bay hoạt động linh hoạt, nên việc dẫn dắt máy bay ta ngày càng chuẩn xác.

Không quân địch thường xuyên thay đổi thủ đoạn, càng ngày càng tinh vi. Nghiên cứu kỹ thủ đoạn của địch, chúng ta đã có nhiều cách đánh sáng tạo, độc đáo như: Đánh quần, đánh gần, kéo địch đến khu vực có lợi để đánh; chủ động đánh chặn từ xa; sử dụng tất cả các số trong đội hình đều có thể tham gia công kích khi xuất hiện thời cơ; sử dụng ra-đa, thiết bị vô tuyến linh hoạt; kết hợp chặt chẽ trên không và mặt đất…

Đặc biệt, Không quân ta đã nghiên cứu, áp dụng và phát triển hình thức chiến thuật từ “bay thấp, kéo cao” đến “bay cao, tiếp cận nhanh”. Với chiến thuật này, các phi công Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều đã bắn rơi liên tiếp 2 chiếc B-52 trong 2 đêm 27 và 28-12-1972.

PHẠM HOÀNG HÀ (ghi)
qdnd.vn

Hiệp đồng chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng

Bản lĩnh – trí tuệ Việt Nam

QĐND – Theo phân tích của nhiều chuyên gia, nhà khoa học và các tướng lĩnh – những người trực tiếp tham gia chiến dịch, một trong nhiều nguyên nhân làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là các lực lượng phòng không quốc gia và phòng không nhân dân đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ. Bằng thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận phòng không quốc gia, phòng không nhân dân, quân và dân ta đã tạo nên hệ thống hỏa lực phòng không rộng khắp, hiểm hóc, nhiều tầng, nhiều lớp; sử dụng cả lối đánh phân tán và tập trung; đánh máy bay địch bằng mọi quy mô; đánh địch từ xa đến gần; đánh bằng cả lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động; đánh địch từ tầm thấp, đến tầm trung và tầm cao; đánh địch đến từ mọi hướng, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến đấu và chiến thắng không quân Mỹ.

Trước hết phải nói đến sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các đơn vị của bộ đội Phòng không – Không quân (PK-KQ) – lực lượng nòng cốt của chiến dịch. Bằng những vũ khí, trang bị, khí tài chưa thật hiện đại so với địch nhưng các đơn vị bộ đội: Ra-đa; Không quân tiêm kích; Tên lửa phòng không; Pháo cao xạ, đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với nhau trong thế trận chiến tranh nhân dân, tạo thành lực lượng PK-KQ chủ lực mạnh đủ sức chiến đấu và chiến thắng.

Bộ đội ta chuẩn bị tên lửa trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu.

Mặc dù địch tìm đủ mọi cách để “bịt mắt” ta. Mỗi chiếc B-52 là một trung tâm tác chiến điện tử và đi theo nó thường có nhiều máy bay chiến thuật hộ tống, gây nhiễu. Nhưng với chức năng là lực lượng trinh sát, quản lý vùng trời, ngay trong trận đánh đầu tiên vào đêm 18-12-1972, Bộ đội Ra-đa, trực tiếp là các kíp trắc thủ của Đại đội 45 thuộc Trung đoàn Ra-đa 291 đã “vạch nhiễu tìm thù” kịp thời phát hiện, khẳng định chính xác B-52 khi chúng cách Hà Nội khoảng 500km, báo động cho các lực lượng PK-KQ sớm 25 phút để chuyển cấp SSCĐ… Với những kinh nghiệm chống nhiễu trước đó và từ trận đầu ra quân, trong suốt 12 ngày đêm của chiến dịch, Bộ đội Ra-đa luôn phát hiện sớm và xác định chính xác B-52, để thông báo, báo động cho các đơn vị, các lực lượng chuyển cấp SSCĐ, hạ quyết tâm sử dụng hỏa lực, bảo đảm bắn rơi B-52. Việc báo động sớm đã giúp nhân dân kịp thời sơ tán, xuống hầm trú ẩn, hạn chế thấp nhất thiệt hại về con người. Mặt khác, Bộ đội Ra-đa đã cung cấp tình báo cho các đơn vị hỏa lực, dẫn đường cho bộ đội Không quân đánh địch trên không…

Khi mà máy bay Mỹ tập trung đánh phá các sân bay hòng vô hiệu hóa khả năng cất cánh của không quân ta, được Bộ đội Ra-đa thông báo sớm, được Bộ đội Phòng không chi viện, bảo vệ, lực lượng Không quân tiêm kích của ta đã chủ động sơ tán, bố trí máy bay ở các sân bay dã chiến, rồi từ đó bất ngờ xuất kích đánh chặn máy bay địch từ xa. Đặc biệt phi công Phạm Tuân đã trở thành người đầu tiên bắn rơi pháo đài bay B-52 của Mỹ trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”… Bị không quân ta đánh chặn tiêu hao, đội hình của không quân Mỹ bị chia cắt, phân tán, rối loạn khiến cho cường độ nhiễu giảm đáng kể… Đây chính là điều kiện thuận lợi để Bộ đội Tên lửa ta “vít cổ” pháo đài bay B-52 Mỹ. Trong 12 ngày đêm của chiến dịch, Không quân tiêm kích Việt Nam đã bắn rơi 7 máy bay các loại, trong đó có 2 chiếc B-52.

Lực lượng chủ yếu đánh B-52 trong suốt chiến dịch là Tên lửa phòng không. Lực lượng tên lửa đã được bố trí tập trung trên các hướng chủ yếu. Đặc biệt, 50% lực lượng Tên lửa phòng không được tập trung cho địa bàn Hà Nội. Do không quân Mỹ chủ yếu dùng B-52 đánh phá vào ban đêm, ban ngày chúng sử dụng máy bay chiến thuật, do đó ban ngày quân và dân ta sử dụng Pháo phòng không, Không quân tiêm kích tập trung đánh máy bay chiến thuật để bảo vệ các trận địa tên lửa và các mục tiêu quan trọng. Lực lượng tên lửa được dành ưu tiên chủ yếu để đánh B-52 vào ban đêm… Sự hiệp đồng chặt chẽ, chi viện kịp thời của Ra-đa, Pháo phòng không, Không quân tiêm kích, đã giúp bộ đội Tên lửa bắt, bám, đánh B-52 hiệu quả ngay trong đêm đầu tiên của chiến dịch (18-12). Đặc biệt ngay sau khi Tiểu đoàn 78, Trung đoàn Tên lửa phòng không 257 phóng quả đạn đầu tiên mở màn cho chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, vào 20 giờ 13 phút Tiểu đoàn 59, Trung đoàn Tên lửa phòng không 261 phóng 2 quả đạn hạ 1 máy bay B-52 rơi xuống cánh đồng Chuôm, xã Phù Lỗ, huyện Kim Anh (nay là Đông Anh, Hà Nội). Đây là chiếc máy bay B-52 đầu tiên bị ta bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội. Những ngày kế tiếp, các đơn vị Tên lửa liên tục bắt, bám, đánh trúng đội hình B-52 của địch, lập công xuất sắc… Trong cả chiến dịch, bộ đội Tên lửa đã bắn rơi 36 máy bay các loại, trong đó có 29 pháo đài bay B-52.

Sát cánh cùng các lực lượng còn có bộ đội Pháo Phòng không. Trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, ban ngày, Pháo Phòng không phát huy cao độ khả năng, tập trung đánh các loại máy bay chiến thuật của địch khi chúng đánh phá các sân bay, trận địa tên lửa và các mục tiêu quan trọng. Ban đêm Pháo Phòng không trực tiếp tham gia đánh các máy bay chiến thuật bay thấp gây nhiễu và hộ tống trong đội hình pháo đài bay B-52. Trong toàn bộ chiến dịch, lực lượng Pháo Phòng không đã bắn rơi 29 máy bay chiến thuật các loại, đặc biệt pháo 100mm đã bắn rơi 3 máy bay B-52.

Cùng với lực lượng phòng không quốc gia, lực lượng phòng không nhân dân đã có những đóng góp quan trọng làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Trong 12 ngày đêm của chiến dịch các đơn vị thuộc lực lượng phòng không của bộ đội địa phương, dân quân tự vệ chủ yếu được bố trí đón lõng bắn máy bay bay ở tầm thấp và tầm trung. Trong cả chiến dịch, lực lượng phòng không nhân dân đã bắn rơi 9 máy bay các loại.

Bằng việc tổ chức, bố trí, sử dụng lực lượng phù hợp, có sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, chúng ta đã phát huy mọi khả năng, sức mạnh tổng hợp của các lực lượng nhằm lập thế, tạo lực có lợi để thực hiện “thắng giặc bằng thế”. Từ chỗ tưởng chừng như không thể bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 chúng ta đã buộc pháo đài bay B-52 của Mỹ rơi tơi tả trên bầu trời miền Bắc. Sau 12 ngày đêm hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, ngoan cường, mưu trí, dũng cảm, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay của giặc Mỹ, trong đó có 34 máy bay B-52, 5 chiếc F-111 và 42 máy bay chiến thuật các loại. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã trở thành biểu trưng cho sức mạnh tinh thần, sức mạnh tổng hợp từ sự hiệp đồng chặt chẽ của các lực lượng và sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam.

Bài học kinh nghiệm quý báu về sự phối hợp, hiệp đồng chiến đấu giữa các lực lượng trong chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vẫn còn có ý nghĩa hết sức quý giá trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN hiện nay.

PHÙNG KIM LÂN
qdnd.vn

Kể chuyện “Đối mặt với B-52”

QĐND Online – Buổi lễ ra mắt cuốn sách “Đối mặt với B-52” và gặp gỡ các nhân chứng lịch sử của 12 ngày đêm năm 1972, diễn ra tại Thư viện Hà Nội vào ngày 4-12, do Nhà xuất bản Trẻ phối hợp với Công ty Tomorrow Media tổ chức đã giúp người đọc hồi tưởng lại ký ức của một thời Hà Nội kiên cường chiến đấu, làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Cuốn sách tập hợp lời kể của 116 nhân chứng đã chứng kiến những năm tháng Hà Nội bị B-52 tàn phá. “Đối mặt với B-52” chia làm 3 phần, cuốn sách đi theo mạch thời gian từ thời điểm miền Bắc chống chiến tranh phá hoại, cuộc sống của người Hà Nội những năm 1966-1972 và quá trình Quân đội nhân dân Việt Nam nghiên cứu làm thế nào để hạ được “pháo đài bay” B52. Tiếp theo là quãng thời gian 12 ngày đêm người Hà Nội kiên cường trong cuộc chiến chống lại đạn bom của Mỹ trút xuống Thủ đô. Phần III là câu chuyện của Hiệp định Paris dưới tác động của “Điện Biên Phủ trên không”.

Đọc cuốn sách “Đối mặt với B-52”, độc giả sẽ thấy “Dẫu phố phường bị giặc tàn phá đau thương, ghi chiến công tuyệt vời, một Điện Biên chói sáng, Hà Nội ơi… trong bom đạn vẫn ngời ánh sáng tương lai, ta đứng trên đầu thù, tự hào thay dáng đứng Việt Nam”.

Ông Phùng Tửu Bôi, sinh năm 1958 (Viện Điều tra quy hoạch rừng, Bộ Lâm nghiệp) kể: “Những năm chiến tranh, bom đạn như cơm bữa, cứ nghe còi báo động thì biết phải chui vào đâu rồi. Cơ quan cũng có hầm, ngoài đường cũng có, nhà nào cũng có hầm. Nhưng cũng nguy hiểm, tôi có anh bạn mất con trong hầm ở nhà. Chuẩn bị đi sơ tán, bố mẹ mải thu dọn quần áo, đồ đạc buộc lên xe đạp, để mấy đứa nhỏ chơi với nhau. Một lúc sau, không thấy con, tưởng nó đi chơi ngoài đường, cả nhà chạy đi tìm thì thấy con đã chết trong hầm trú ẩn ngập nước trong nhà. Hà Nội hồi ấy vắng, có một điều lạ là khi bom đạn thì yên ắng nhưng khi có tiếng còi báo đã hết ném bom thì đường phố lại tấp nập, mọi người đi lại, làm việc ngay. Tôi thấy, hồi ấy tinh thần hay lắm, giúp người ta vượt qua mọi thứ, ai cũng có thể làm được nhiều việc, sẵn sàng xông vào để cứu người này, giúp người khác”.

Buổi lễ ra mắt cuốn sách “Đối mặt với B-52” và gặp gỡ các nhân chứng lịch sử của 12 ngày đêm năm 1972

“Hồi ấy, chúng tôi luôn tâm niệm “ăn cũng B-52, ngủ cũng B-52”, lúc nào cũng nghĩ cách làm thế nào để đánh được B-52”, ông Đỗ Mạnh Hiến (Binh chủng Rađa) khẳng định.

Bác sĩ Nguyễn Văn Luân, nguyên phó trưởng khoa Ngoại bệnh viện Bạch Mai nhớ lại: “Trời hôm ấy lạnh lắm. Khi máy bay cường kích ném bom xong bỏ đi thì nghe B-52 bay trên bầu trời. Tôi cùng một số nhân viên còn lại chui xuống hầm trú ẩn. Còi báo yên, ra khỏi hầm thì trước mắt tôi là quang cảnh nhà cửa bị tàn phá. Khối nhà dưới thuộc khoa Da liễu và khoa Tai mũi họng bị sập”.

Diễn viên nổi tiếng người Mỹ Jane Fonda đã viết trong hồi ký khi kể về những ngày cô đến Hà Nội năm 1972 như sau: “Tôi lái xe đến Bệnh viện Hữu nghị Việt –Xô để khám chân. Phiên dịch của tôi tên là Chi. Tôi nói với các bác sĩ, tôi là người Mỹ và câu giới thiệu này gây xôn xao xung quanh. Tôi tìm một biểu hiện hằn thù trong mắt những người tôi thấy. Nhưng tuyệt nhiên không có gì. Những ánh mắt không hận thù ấy ám ảnh tôi suốt nhiều năm sau khi cuộc chiến chấm dứt”.

Nguyên phóng viên ảnh Báo Phòng không – Không quân Nguyễn Xuân Ất cho biết: “Nhà tôi ở phố Khâm Thiên. Đêm 26-12, khi địch đánh vào khu phố, tôi có mặt ở nhà nên chụp được cảnh B-52 cháy ngay trong nội thành. Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 26-12 thì có tiếng còi báo động, vẫn như những ngày trước, còi rú lên, loa báo máy bay địch đến gần, cách Hà Nội bao nhiêu cây số. Lúc nghe loa báo, tôi đang ở giữa phố, tôi chạy về nhà, lấy máy ảnh ra sân “trực chiến”. Khi thấy bầu trời bừng sáng, tôi chụp được 2 kiểu ảnh B-52 cháy. Xong việc, tôi mới xuống hầm trú ẩn”.

Hình thức tái hiện lịch sử qua lời kể trong cuốn sách “Đối mặt với B-52” đem đến cho độc giả một tác phẩm có giá trị và sự cảm nhận lịch sử gần gũi, chân thực.

Tin, ảnh: Khánh Huyền
qdnd.vn

Bản lĩnh, trí tuệViệt Nam: Biểu tượng rực rỡ của nghệ thuật quân sự Việt Nam

QĐND – Thắng lợi của Chiến dịch Phòng không (CDPK) Hà Nội, Hải Phòng tháng 12-1972 tạo bước ngoặt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau 12 ngày đêm chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh, thành phố miền Bắc đã đánh bại sức mạnh của không lực Hoa Kỳ. 40 năm trôi qua, đã có nhiều tác phẩm, tổng kết của các nhà lãnh đạo, tướng lĩnh, nhà nghiên cứu lý luận quân sự trong và ngoài nước viết về CDPK Hà Nội, Hải Phòng tháng 12-1972. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng đều khẳng định CDPK Hà Nội, Hải Phòng tháng 12-1972 là chiến thắng của sức mạnh chính trị tinh thần, của trí tuệ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, tiến hành chiến tranh nhân dân toàn diện, với nghệ thuật quân sự tài giỏi của một quân đội anh hùng.

Cho đến tháng 10-1972, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đã diễn ra hơn nửa năm và giành thắng lợi to lớn, làm thay đổi cục diện chiến trường. Trên miền Bắc, quân và dân ta đã đánh bại một bước quan trọng cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ; không ngừng tăng cường sức người, sức của vào tiền tuyến lớn, cùng quân và dân miền Nam phát triển cuộc tiến công chiến lược. Tại Pa-ri, cuộc đàm phán giữa ta và Mỹ kéo dài đã 4 năm. Ngày 8-10-1972, Chính phủ ta đưa ra bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, ta và Mỹ đã thỏa thuận hầu hết các nội dung của bản dự thảo, ấn định ngày 22-10-1972 ký tắt tại Hà Nội và ngày 31-10-1972 ký chính thức tại Pa-ri. Nhưng phía Mỹ cố tình dây dưa, muốn sử dụng thỏa thuận này để làm một cuộc nghi binh chiến lược tạo bất ngờ cho cuộc tiến công bằng không quân chiến lược vào Hà Nội và Hải Phòng, nhằm giành thế mạnh cả về quân sự và ngoại giao, ép ta phải nhân nhượng theo những điều kiện có lợi cho Mỹ.

Từ lâu, Chủ tịch Hồ chí Minh với thiên tài của mình đã nhận định: “Mỹ chỉ chịu thua ta khi chúng thua trên bầu trời Hà Nội”. Bộ Chính trị, Trung ương Đảng cũng nhận định: Địch sẽ đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, có nhiều khả năng chúng sẽ dùng máy bay chiến lược B-52 đánh ồ ạt vào Hà Nội… Đúng như dự đoán của ta, ngày 17-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn ra lệnh mở cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 mang tên “Lai-nơ-bếch-cơ II” vào Hà Nội, Hải Phòng và các vùng phụ cận…

Để chuẩn bị và đánh thắng B-52 của Mỹ trên bầu trời Hà Nội, Quân ủy Trung ương giao cho Quân chủng PK-KQ xây dựng kế hoạch tác chiến; đồng thời đã sớm điều Trung đoàn Tên lửa 238 vào chiến trường Nam Khu 4 nghiên cứu cách đánh B-52. Nhiều đoàn cán bộ PK-KQ cùng một số trung đoàn tên lửa và biên đội không quân tiêm kích cũng được cử vào Nam Khu 4 nghiên cứu cách đánh B-52.

Bộ Tổng tham mưu (BTTM) tổ chức Hội nghị chuyên đề tìm cách đánh B-52. Hội nghị đã phân tích tình hình, đặc tính kỹ thuật, chiến thuật của máy bay B-52, các phương án tác chiến và kinh nghiệm đánh B-52 từ thực tế trên chiến trường, trên cơ sở đó thống nhất cao về cách đánh, chuẩn bị chu đáo về con người và VKTBKT. Ngay sau hội nghị, BTTM chỉ thị cho các cơ quan, đơn vị thực hiện gấp việc nghiên cứu và triển khai kế hoạch đánh B-52. Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ chủ trì biên soạn lý luận chiến thuật đánh B-52; bổ sung kế hoạch, phương án tác chiến, điều chỉnh bố trí lực lượng đánh B-52, biên soạn tài liệu “Cách đánh B-52″, tổ chức huấn luyện và tiến hành tập huấn đánh B-52 trong các tình huống phức tạp. Phương án đánh B-52 được nhanh chóng hoàn thành theo đúng kế hoạch gọi là “Phương án tháng bảy”. Các đơn vị tên lửa, ra-đa, pháo 100mm mở đợt huấn luyện đột kích với nội dung, mục tiêu chủ yếu là đánh B-52. Bộ đội Không quân tích cực luyện tập theo phương án đánh B-52 trên năm hướng xung quanh Hà Nội, gọi là “Phương án năm cánh sao”. Phương án này được kết hợp chặt chẽ với hỏa lực của các binh chủng bạn, cả vòng trong và vòng ngoài, kết hợp cơ động và yếu địa, tuyến trước và tuyến sau, trên không và mặt đất…

Việc nghiên cứu chuẩn bị kế hoạch đánh máy bay B-52 được triển khai gấp rút và đã căn bản hoàn thành vào đầu tháng 9-1972. Dựa vào kinh nghiệm đã rút ra từ thực tiễn chiến đấu và những hiểu biết ngày càng nhiều về vũ khí, khí tài và thủ đoạn hoạt động của địch, tài liệu “Cách đánh B-52” sau nhiều lần bổ sung hoàn chỉnh đã góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, chiến đấu của bộ đội. Tháng 9-1972, BTTM chỉ đạo Quân chủng PK-KQ bổ sung và hoàn thiện phương án mới đánh B-52, được gọi là “Phương án tháng chín”; xác định những vấn đề cơ bản của nghệ thuật chiến dịch phòng không như phán đoán âm mưu, thủ đoạn, hướng và mục tiêu tiến công của địch, quyết định sử dụng lực lượng, cách đánh của ta. Nhờ nắm vững thực tế chiến trường, nghiên cứu đề ra phương án tác chiến đúng, điều chỉnh kịp thời, ta đã chủ động trong Chiến dịch Phòng không Hà Nội – Hải Phòng tháng 12-1972 và giành thắng lợi quyết định.

Để đánh thắng các đòn tập kích đường không bằng máy bay chiến lược B-52, Quân chủng PK-KQ tạo lập thế trận phòng không khu vực Hà Nội, Hải Phòng theo nguyên tắc tập trung có trọng điểm, hình thành ba cụm phòng không ôm sát ba khu vực mục tiêu bảo vệ: Cụm Hà Nội, cụm Hải Phòng và cụm phía Bắc đường 1, Thái Nguyên. Ba cụm phòng không này tạo ra thế “chân kiềng” liên kết hỗ trợ lẫn nhau, trong đó cụm phòng không Hà Nội là trọng điểm. Do ta tạo lập được thế trận phòng không liên hoàn đã bảo đảm cho cách đánh tập trung của các lực lượng phòng không rất có hiệu quả, giành quyền chủ động ngay từ đầu.

Trong quá trình tác chiến, ta chủ động chuyển hóa thế trận. Khi sang đợt 2 ta điều hai Tiểu đoàn tên lửa phòng không 71, 72 của Hải Phòng cho Hà Nội và đưa cả 3 tiểu đoàn của Trung đoàn Tên lửa 274 vào chiến đấu. Đồng thời, thay đổi sân bay cất cánh cho không quân ta đánh từ xa, gây bất ngờ lớn đối với địch. Giành thế chủ động đánh thắng trận then chốt quyết định vào đêm 26-12-1972.

Thắng lợi của CDPK Hà Nội, Hải Phòng, thể hiện nghệ thuật tác chiến phòng không tài tình, sáng tạo, phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng phòng không ba thứ quân, lấy phòng không chủ lực làm nòng cốt, giải quyết đúng đắn và phát triển sáng tạo việc phát động toàn dân đánh máy bay địch. Đồng thời, đã xác định đúng nhiệm vụ cho lực lượng phòng không ba thứ quân. Để phát huy sức mạnh đánh địch, BTTM đã chỉ đạo chặt chẽ, phối hợp hoạt động tác chiến giữa phòng không chủ lực với phòng không địa phương, phòng không DQTV và đông đảo các tay súng bắn máy bay bằng súng bộ binh của các lực lượng khác, trong đó lực lượng phòng không chủ lực luôn giữ vai trò nòng cốt. Thực hiện kết hợp đánh rộng khắp với đánh tập trung, đánh nhỏ với đánh vừa và đánh lớn làm cho địch vô cùng hoảng sợ khi bay vào vùng trời Hà Nội, đồng thời cổ vũ tinh thần giữ vững ý chí quyết chiến quyết thắng của các lực lượng.

Trong CDPK này, lực lượng phòng không đã đánh và thắng kẻ địch mạnh và hiện đại gấp nhiều lần, một trong những nguyên nhân đó là ta biết kết hợp chặt chẽ các yếu tố lực, thế, thời, mưu. Sức mạnh tổng hợp của lực lượng phòng không tham gia chiến dịch được phát huy cao độ. Phong trào thi đua bắn rơi máy bay địch nói chung và B-52 đối với lực lượng chủ chốt chiến dịch đã lan tỏa trong từng thành phần lực lượng, từng đơn vị. Kết quả từ các lực lượng phòng không của DQTV đến các đơn vị phòng không, không quân chủ lực đều bắn rơi máy bay địch.

CDPK Hà Nội, Hải Phòng tháng 12-1972, quán triệt sâu sắc nghệ thuật chiến tranh nhân dân của Đảng, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, lấy phương tiện vũ khí kém hiện đại thắng phương tiện vũ khí hiện đại. Chúng ta đã đánh giá đúng tình hình, đúng sự tương quan lực lượng và dự kiến được sự chuyển hóa tình hình, sự phát triển của địch. Trên cơ sở đó đã đề ra các biện pháp và động viên sự nỗ lực cao độ của toàn dân tham gia đánh địch, nhằm hạn chế những điểm mạnh của địch, đồng thời khoét sâu vào những điểm yếu của chúng, tạo nên thế trận có lợi, giành và giữ quyền chủ động trong tác chiến. Chiến dịch đã lựa chọn hình thức chiến thuật phù hợp; tổ chức sử dụng lực lượng hợp lý trong từng trận đánh; sáng tạo nhiều cách đánh hay, hiểm, tập trung tiêu diệt đối tượng chủ yếu của chiến dịch. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã vượt ra khỏi phạm vi của một chiến dịch thông thường, góp phần quyết định “đánh cho Mỹ cút”, tạo tiền đề “đánh cho ngụy nhào” vào mùa xuân 1975.

Trung tướng, TS VÕ TIẾN TRUNG, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng
qdnd.vn

Chiến thắng của sự kết hợp thiên thời, địa lợi, nhân hòa

Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

QĐND – Bốn mươi năm đã trôi qua, nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu về “Điện Biên Phủ trên không” đã tổng kết, đúc rút thành các bài học được công bố trong nước và trên thế giới. Tôi hoàn toàn đồng tình với những gì mà các công trình nêu ra. Với cương vị là người trong cuộc, tôi xin góp một lời bàn để lý giải câu hỏi mà đến nay vẫn có nhiều người đặt ra: “Vì sao bộ đội Tên lửa Phòng không (TLPK) Hà Nội bắn rơi máy bay chiến lược B -52 của Mỹ trong cuối tháng Chạp năm 1972”.

Tôi cho rằng, chiến thắng của Bộ đội TLPK Hà Nội tháng 12-1972 là bởi “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Thiên thời là bởi, thời cơ mà người Mỹ chọn để đánh Hà Nội lúc này là muốn ép chúng ta phải ký một hiệp định có lợi nhất cho phía Mỹ. Phía ta, sau 4 năm nghiên cứu đánh máy bay B -52 ở chiến trường Quân khu 4 và cả ở Hải Phòng, Bộ đội TLPK đã rút được nhiều kinh nghiệm và biên tập thành tài liệu “Cách đánh B -52” để tập huấn cho toàn quân chủng vào cuối tháng 10-1972. Bộ đội TLPK Hà Nội trải qua gần một năm chiến đấu với lực lượng không quân Mỹ với thủ đoạn gây nhiễu tạp, nhờ đó đã sáng tạo và thành thạo cách đánh “ba điểm”. Đây là một lợi thế của bộ đội TLPK Hà Nội so với bộ đội tên lửa Hải Phòng và Khu 4 khi bước vào đánh B -52. Trong quá trình xây dựng cách đánh máy bay B -52, bộ đội TLPK Hà Nội đã được Quân chủng PK -KQ xác định là lực lượng chủ yếu. Do vậy ngay từ tháng 11-1972, các kíp chiến đấu của các tiểu đoàn TLPK Hà Nội đã miệt mài luyện tập thành thạo cách đánh máy bay B -52 theo tài liệu tập huấn của quân chủng và chỉ chờ thời cơ để sử dụng nó. Khoảng thời gian ngừng bắn từ cuối tháng 10-1972 là cơ hội rất thuận lợi để bộ đội tên lửa Hà Nội huấn luyện, nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật trước khi bước vào chiến dịch.

Kíp chiến đấu Tiểu đoàn Tên lửa 57 (Trung đoàn 261) bắn rơi 4 máy bay B -52 trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972.

Về phía đối phương, do 4 năm sử dụng B -52 đánh phá miền Bắc nước ta, kể cả đánh vào Hải Phòng, nhưng chúng chưa bị ta bắn rơi tại chỗ B -52 nên không quân Mỹ chủ quan, coi thường lực lượng TLPK Việt Nam. Họ cho rằng: “Bay vào Hà Nội chỉ như cuộc dạo chơi trong đêm phương Đông, ở độ cao 10.000m, đối phương không thể với tới, các bạn chỉ cần ấn nút rồi trở về căn cứ an toàn, sạch sẽ”. Sự chủ quan của không quân Mỹ cũng chính là thời cơ vàng của chúng ta để hạ “nốc ao” con ngáo ộp B -52 trên bầu trời Thủ đô. Ta nói việc đánh giá sai khả năng chiến đấu của TLPK là thời cơ “vàng” vì nếu không quân Mỹ coi lực lượng TLPK Hà Nội là mối đe dọa trực tiếp thì họ sẽ tổ chức lực lượng không quân đánh phá các trận địa tên lửa ngay từ đầu chiến dịch như hệ thống sân bay của ta khi đó. Nếu như vậy thì chúng ta sẽ không biết điều gì xảy ra trong chiến dịch này.

Một yếu tố khác là cuối tháng 11 đầu tháng 12-1972 cấp trên đang có kế hoạch đưa Trung đoàn Tên lửa 261 vào tăng cường cho chiến trường miền Nam. Nhưng quyết định đó chưa thực hiện thì chiến dịch 12 ngày đêm tháng Chạp 1972 đã xảy ra và lực lượng tên lửa Hà Nội đủ khả năng đánh trả và đánh thắng không quân chiến lược Mỹ.

Khi đánh Hà Nội là một mục tiêu cố định. Máy bay B -52 muốn bay bằng cắt bom chính xác vào mục tiêu thì ở cự ly cách mục tiêu từ 70km đến 100km bắt buộc phi công phải giữ máy bay bay ổn định cho tới lúc bay qua mục tiêu. Đây lại là thời cơ tốt nhất để bộ đội TLPK Hà Nội thực hành xạ kích và bắn rơi máy bay B -52 của Mỹ. Đó chính là: Địa lợi. Mặt khác thế trận phòng không Hà Nội đã được xây dựng từ nhiều năm, trải qua thử thách trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ được bổ sung, điều chỉnh thích hợp khá ổn định. Hỏa lực tên lửa ở đây có thể bố trí đánh được nhiều tầng, nhiều hướng. Do vậy khi đánh Hà Nội, máy bay B -52 của Mỹ thường cùng một lúc bị nhiều đơn vị đánh tập trung và “đánh bồi, đánh nhồi” nên xác suất tiêu diệt chúng tăng lên rất cao, khả năng bị bắn rơi nhiều là điều tất yếu.

Do đội hình bố trí nhiều tầng, nhiều lớp, nên khi B -52 gây nhiễu trong đội hình thì sẽ có đơn vị bị nhiễu nặng khi tham số đường bay nhỏ phải đánh bằng phương pháp 3 điểm. Và có những đơn vị bị nhiễu nhẹ có khả năng phát hiện được mục tiêu trên nền nhiễu khi tham số đường bay tương đối lớn. Đây là thời cơ thuận lợi để các đơn vị TLPK sử dụng phương pháp bắn đón nửa góc – một phương pháp bắn hiệu quả nhất của khí tài tên lửa phòng không SAM -2 để bắn rơi B -52.

Yếu tố quyết định cho việc đánh thắng B -52 trong tháng Chạp năm 1972 chính là con người trong chiến tranh, nói cách khác là được: Nhân hòa. Ngày đó những người chiến sĩ TLPK Hà Nội cũng như những người chiến sĩ khác trên khắp các chiến trường chống Mỹ trong cả nước, họ đều có một quyết tâm chiến đấu vì sự nghiệp bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng, Bác Hồ được mọi người dân tin tưởng và quyết tâm thực hiện bằng được. Từ niềm tin họ biến thành hành động cụ thể trong công tác, lao động sản xuất và đặc biệt là trong chiến đấu. Nhân hòa ở đây còn là lòng tin. Những ngày đó lòng tin vào vũ khí khí tài có khả năng đánh rơi B -52 là rất quan trọng. Sự tin tưởng đó là xuất phát từ tính năng của bộ khí tài cho phép và đã được kiểm nghiệm từ thực tế chiến đấu trên các chiến trường. Từ lòng tin người chiến sĩ TLPK biến thành hành động thực tế huấn luyện, trong công tác bảo quản, khai thác triệt để những tính năng của bộ khí tài để đánh địch. Chính từ lòng tin mà nhiều đơn vị đã mạnh dạn sử dụng phương pháp “ba điểm” – một phương pháp có xác suất tiêu diệt thấp để đánh địch nhưng vẫn hiệu quả. Có lòng tin nên từng cán bộ, chiến sĩ đã ngày đêm lăn lộn sửa chữa khí tài khi xảy ra hỏng hóc, điều chỉnh tỉ mỉ từng tham số về giá trị danh định để bảo đảm hệ số sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Nhân hòa ở đây còn là lòng tin, là sự tin tưởng lẫn nhau trong kíp chiến đấu của tiểu đoàn TLPK. Chúng ta biết trong tiểu đoàn TLPK SAM -2 hàng trăm con người phục vụ cho công tác sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Nhưng để đưa quả đạn tới diệt máy bay thì cuối cùng phụ thuộc vào vai trò của tiểu đoàn trưởng, sĩ quan điều khiển và 3 trắc thủ tay quay. Sự hiệp đồng giữa những con người này là rất quan trọng, chỉ cần một sơ suất nhỏ của một trong năm con người này là trận đánh sẽ thất bại. Vì vậy sự đoàn kết và tin cậy lẫn nhau của kíp trắc thủ có vai trò quyết định trong chiến đấu. Ngoài sự tin cậy trong kíp trắc thủ, họ còn rất tin cậy đối với công tác kiểm tra, điều chỉnh tham số máy móc của các xe, hệ, bệ, đạn trong toàn tiểu đoàn cũng là yếu tố tạo nên sức mạnh trong chiến đấu. Suy cho cùng trong mọi trường hợp nếu chúng ta mất lòng tin thì sẽ chẳng làm được một việc gì thành công.

Một yếu tố quan trọng khác góp phần để tạo nên sức mạnh trong cả hai cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đối với miền Bắc nói chung và trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972 đó là Đảng ta đã khéo léo tận dụng được sự giúp đỡ của các nước XHCN, đặc biệt là của Liên Xô và Trung Quốc; sự ủng hộ của các nước bạn bè quốc tế và nhân loại tiến bộ trên thế giới đã góp phần giúp chúng ta đánh Mỹ và thắng Mỹ.

ĐẠI TÁ NGUYỄN ĐÌNH KIÊN (*)
qdnd.vn

(*)Anh hùng LLVT nhân dân; nguyên Phó cục trưởng Cục Tác chiến – Bộ Tổng tham mưu; nguyên sĩ quan điều khiển Tiểu đoàn 57 (Trung đoàn 261).

Ta thắng vì có “ý chí thép”, có óc sáng tạo và”bàn tay vàng”

Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

QĐND – Ngay sau Hội thảo khoa học do Học viện Chính trị tổ chức ngày 21-11 vừa qua, Trung tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Phiệt (*) đã dành cho phóng viên Báo Quân đội nhân dân cuộc trao đổi về những chiến công huyền thoại của Bộ đội Phòng không-Không quân. Dưới đây là nội dung.

Phóng viên (PV): Thưa ông, ông đánh giá như thế nào tên lửa SAM 2 do Liên Xô viện trợ cho quân đội ta?

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt: Tên lửa SAM 2, về khí tài hoàn toàn bắn được – thậm chí bắn tốt B-52. SAM 2 bắt được mục tiêu ở cự ly 120km; cự ly sát thương là từ 7 đến 34km. Trong khi đó máy bay B-52 tuy bay được ở độ cao hơn 20km, nhưng chỉ ném bom được ở độ cao tối đa là 17km, hiệu quả nhất là khoảng từ 9 đến 10km.

PV: Theo ông, Mỹ có biết tính năng, tác dụng của SAM 2 không?

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt: Mỹ chẳng những biết mà còn biết tường tận. Chắc chắn là họ “mổ xẻ” nghiên cứu SAM 2 công phu hơn quân đội ta. Vì ta đã dùng SAM 2 bắn được các loại máy bay Mỹ ngay từ những năm đầu chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam lần thứ nhất của Mỹ năm 1965.

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt.

PV: Thế vì sao chiến công bắn rơi B-52 của Bộ đội phòng không Việt Nam lại trở thành kỳ tích?

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt: Hơn cả kỳ tích. Vì, do biết tên lửa SAM 2 của ta do Liên Xô viện trợ bắn được B-52, nên Mỹ đã dùng hệ thống gây nhiễu điện tử cực mạnh để bảo vệ B-52. Và chính hệ thống gây nhiễu này là phương tiện phá hủy, làm tê liệt dải tần số của các loại máy thông tin và vô hiệu hóa đài ra-đa của ta, như ra-đa cảnh giới, ra-đa điều khiển tên lửa; ra-đa ngắm bắn của pháo cao xạ. Tên lửa không đối đất của Mỹ (Sơ-rai) khi bắt được sóng của ra-đa tên lửa ta phát lên còn lập tức phóng trở lại trận địa theo cánh sóng… Ngoài ra chúng còn dùng tới 18 đến 33 chiếc máy bay tiêm kích (F.4) hộ tống trước, hộ tống sau, hộ tống hai bên sườn tạo thành hàng rào khép kín; chúng lại bay toàn bộ vào ban đêm làm cho ta càng khó phát hiện mục tiêu. Theo tính toán của chuyên gia quân sự Mỹ thì đây là một kế hoạch tác chiến hoàn thiện, chặt chẽ, hạn chế tối đa khả năng chiến đấu của lực lượng PK-KQ Việt Nam. Tóm lại, khó nhất khi bắn B-52 là phải phân biệt được các loại nhiễu, để tìm đúng nhiễu B-52 và “vạch” trong nhiễu B-52 ra mục tiêu. Kíp chiến đấu gồm 8 người, nhưng chủ yếu là 5 người, gồm tiểu đoàn trưởng, sĩ quan điều khiển và 3 trắc thủ trong thời gian chừng 60 giây phải phát hiện được thì mới điều khiển tên lửa bắn trúng mục tiêu. Cũng phải nói thêm một khó khăn không nhỏ nữa là trước mỗi lần chuẩn bị cho B-52 vào Hà Nội, chúng còn dùng lực lượng không quân tiêm kích đánh phủ đầu các sân bay, chế áp quyết liệt các trận địa hỏa lực tên lửa, loại trừ hoàn toàn sự uy hiếp của lực lượng đánh B-52 của ta là Tên lửa phòng không và Không quân tiêm kích.

PV: Bộ đội Phòng không làm thế nào để “vạch” được nhiễu B-52?

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt: Chính đây là câu hỏi cần phải lý giải nhất. Khó khăn cũng ở đây, đòi hỏi bản lĩnh, ý chí, trí tuệ cũng ở đây. Thậm chí cái gọi là “bí mật” bắn rơi B-52 cũng ở đây. Tuy nhiên, nếu hiểu văn hóa, truyền thống Việt Nam; hiểu Đảng ta, hiểu Bác Hồ; hiểu Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng; hiểu sức mạnh của cuộc chiến tranh chính nghĩa, cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc thì lại rất dễ lý giải. Bốn mươi năm qua chúng ta cũng đã nói đến rất nhiều, tôi chỉ trao đổi thêm một số ý. Để có được sự bình tĩnh, để có được mưu trí, sáng tạo, sự tinh tường của đôi mắt, sự khéo léo của đôi tay để điều khiển quả đạn vào trúng mục tiêu B-52 là một quá trình rèn luyện cực kỳ gian khổ của Bộ đội Phòng không. Chúng tôi đã phải luyện tập, quan sát ngày đêm để thuộc địa hình, địa vật, thuộc bầu trời Hà Nội 24/24 giờ như “thuộc lòng bàn tay”, để bất cứ sự xuất hiện lạ nào trên bầu trời Thủ đô đều không qua được mắt của Bộ đội Phòng không. Đồng thời chúng tôi cũng phải nghiên cứu kỹ các thủ đoạn của địch; nghiên cứu về chiến thuật, về cách đánh B-52… Còn nói về quá trình rèn luyện của Bộ đội Phòng không như thế nào thì quả là một câu chuyện dài, sách báo của ta cũng đã đề cập đến nhiều.

PV: Quá trình rèn luyện, học tập, nghiên cứu không chỉ gian khổ mà còn cả hy sinh nữa?

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt: Đúng thế, để “làm chủ được 60 giây” ta tổn thất và hy sinh xương máu không nhỏ. Gần nhất là đêm 16-4-1972, B-52 vào Hải Phòng Bộ đội Phòng không đã bắn hơn 90 quả tên lửa mà không tiêu diệt được chiếc B-52 nào. Còn tháng 12-1972 chúng đánh vào Hà Nội ta cũng phải mất đến 4 trận đầu không thắng…

PV: “Pháo đài bay B-52” cũng có những điểm yếu chứ?

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt: Thậm chí có những yếu điểm chí tử, ví dụ do mang nặng tới hơn 30 tấn nên B-52 luôn luôn bay ổn định ở một độ cao nhất định, trước khi thả bom phải bay trên đường bay thẳng chừng 40km và khi thả bom thì phải nghiêng cánh, đây là thời điểm ra-đa của ta phát hiện ra B-52 thuận lợi nhất. Nhiễu B-52 cũng nặng và dày hơn nhiễu các loại máy bay khác. Đó là chưa nói đến những yếu điểm của yếu điểm về “trạng thái tinh thần trong cuộc chiến tranh phi nghĩa”. Chính vì thế, sau vài trận bắn B-52 bộ đội ta lạc quan nói: Đi “đơm đó B-52”. Mỹ nhận ra thất bại, kết thúc chiến dịch, chứ nếu đưa tiếp B-52 vào đánh Hà Nội thì tôi bảo đảm ta sẽ tiêu diệt hết B-52.

PV: Có lẽ đến nay đối phương vẫn nghĩ ta còn “bí mật” trong đánh B-52?

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt: Không chỉ đối phương mà nhiều nhà nghiên cứu quân sự trên thế giới cũng nghĩ thế. Nghĩ thế là sai lầm, ta có nghiên cứu, phân tích các loại nhiễu của địch; có cải tiến nhỏ một số khí tài khác cho phù hợp với địa hình, địa vật của ta, nhưng tuyệt nhiên không có cải tiến gì tên lửa SAM 2. Sau này ta cũng không giấu gì cách đánh B-52 – mà thực tế có gì mà giấu. Nhưng đối phương lại cố tình không hiểu sức mạnh của chiến tranh chính nghĩa – chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; sức mạnh của trạng thái chính trị tốt; sức mạnh của tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đúng như đồng chí Thiếu tướng Khư-pe-nen, Trưởng đoàn Chuyên gia Liên Xô đã từng phát biểu với Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân: “Trao vũ khí tên lửa cho các bạn Việt Nam là chúng tôi trao nó cho những bộ óc sáng tạo và những bàn tay vàng”.

PV: Ông có thể dẫn chứng về sức mạnh của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt: Ta bảo vệ Tổ quốc ta. Ta bảo vệ bầu trời của ta. Ta lại biết trước âm mưu của địch, nên Bộ đội Phòng không đã xây dựng thế trận, bố trí trận địa và luyện tập từ trước nhiều năm, chỉ có đợi B-52 vào là đánh. Tôi nghĩ nếu bị động, lại không quen địa hình, địa vật thì có tài giỏi mấy cũng không thể chiến thắng được. Đó chính là ưu thế của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Ưu thế đó “không mua, không bán” được.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

HUY THIÊM (thực hiện)
(*) Nguyên Phó tư lệnh về chính trị, nguyên Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không – Không quân.
qdnd.vn

Đã là người Việt Nam đều phải chiến đấu giữ nước

QĐND Online – Ký ức về trận chiến 12 ngày đêm oanh liệt trên bầu trời Hà Nội cuối năm 1972 lại dần hiện về qua từng câu chuyện, từng lời kể của các thân nhân gia đình liệt sĩ trong buổi gặp mặt các gia đình liệt sĩ nhân kỷ niệm 40 Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Đây là hoạt động do Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam tổ chức sáng 15-12, tại Hà Nội, nhằm tri ân những đóng góp to lớn của các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống, hy sinh vì Thủ đô, vì độc lập dân tộc.

Buổi gặp mặt các gia đình liệt sĩ diễn ra trong không khí ấm áp và xúc động

Bác Nguyễn Thị Dần (78 tuổi), tuy sức khỏe đã yếu nhưng vẫn nhờ người con trai đưa từ thôn Thượng, xã Mễ Trì (Hà Nội) để có mặt từ rất sớm. Bác là chị dâu của liệt sĩ Tạ Đắc Thông, hy sinh khi đang làm nhiệm vụ trực chiến ở bờ giếng làng thôn Thượng. Bác kể: “Chú Thông năm đó mới 21 tuổi, đêm trước hôm hy sinh, gia đình đã chuẩn bị để hỏi vợ cho chú nhưng chú nói để sau vì còn đang làm nhiệm vụ. Gia đình có 6 người con, cả nhà đều làm ruộng, chỉ có chú ấy tham gia chiến đấu. Cái đêm 19-12-1972, gia đình nhận được tin chú chết tan xương vì bom Mỹ mà không có cách nào quay lại tìm vì đang đưa các cháu nhỏ đi tản cư”.

“Cứ đến ngày 19-12, cả làng hơn 200 gia đình đều có chung một cái giỗ”, ông Nguyễn Hữu Nhớn (62 tuổi)- cùng làng với bà Dần – anh trai liệt sĩ Nguyễn Thị Ngọc chia sẻ. Ông Nhớn kể: Em gái tôi tham gia trực chiến trong đội dân quân xã Mễ Trì để bảo vệ Đài phát thanh Mễ Trì. Tham gia đội dân quân hơn một năm thì cô ấy hy sinh khi mới 19 tuổi.

“Mất người thân, gia đình nào chả đau xót, đó là điều không ai muốn. Thanh niên nam giới lúc đó đều đi bộ đội hết, không còn ai ở làng. Đã là người dân Việt Nam, đều phải chiến đấu để giữ nước nên chúng tôi đã vượt qua đau thương, quyết đánh đuổi giặc Mỹ”, ông Nhớn xúc động cho biết.

Kể về người em trai của mình, ông Vũ Xuân Thăng (76 tuổi) tự hào cho biết: Liệt sĩ, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, phi công Vũ Xuân Thiều hy sinh chính vào lúc anh vừa lập chiến công bắn rơi trực tiếp máy bay B-52. Chiến công và tên tuổi liệt sĩ Vũ Xuân Thiều đã gắn với câu chuyện nổi tiếng “quả tên lửa thứ ba” được nhiều người biết đến, nhất là trong những ngày kỷ niệm tháng 12 lịch sử này.

“Mất mát, đau thương là điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh. Sự hy sinh của người con thứ 7 trong gia đình khi mới anh 27 tuổi khiến gia đình rất đau xót nhưng bố mẹ tôi đã can đảm khi đón nhận tin này, bởi gia đình đã xác định từ trước những nguy hiểm khi em tôi nhận nhiệm vụ trong đội bay đêm, chuyên luyện tập để sẵn sàng tiêu diệt B-52. Tinh thần chiến đấu cảm tử của em tôi đã góp phần cùng quân dân Hà Nội hạ gục giặc Mỹ trên bầu trời Hà Nội, khiến gia đình rất tự hào”, ông Vũ Xuân Thăng chia sẻ.

Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt trao những món quà tặng các gia đình liệt sĩ

Buổi gặp mặt các gia đình thân nhân liệt sĩ trở nên gần gũi và ấm áp hơn khi mọi người có cùng chung những câu chuyện về người thân, về những tháng ngày đấu tranh gian khổ của dân tộc. Xen giữa những mái đầu bạc trắng của những người anh, người chị của liệt sĩ, còn là những mái đầu xanh, họ là những người cháu, người con trong gia đình, chỉ biết đến người thân qua câu chuyện kể lại.

Không khí hội trường như lắng đọng, con tim của gần 50 đại biểu như thổn thức theo lời kể và dòng nước mắt đầy xúc động của chị Phạm Kim Giang (42 tuổi) ở phường Gia Thụy, Long Biên kể về người cha mà chị chưa một lần được cất tiếng gọi. Liệt sĩ Phạm Văn Thành (sinh năm 1935), Trung đội trưởng Đội tự vệ Công ty Phụ tùng thuộc Công ty Thiết bị phụ tùng Đức Giang, Long Biên, hy sinh để lại người vợ trẻ và đứa con thơ dại.

“Khi nghe tin bố tôi hy sinh vào 5 giờ sáng ngày 21-12, mẹ tôi đã ngất xỉu và ốm liệt giường mấy tháng. Tôi lớn lên chỉ biết về cha qua lời kể của mẹ, những mất mát đó của tôi và các gia đình có người thân hy sinh trong chiến tranh khiến tôi luôn mong ước thế giới được sống trong hòa bình, Việt Nam mãi mãi không có chiến tranh”, chị Kim Giang chia sẻ.

Bên cạnh những sẻ chia kỷ niệm về người thân, các đại biểu còn thể hiện lòng cảm kích trước sự quan tâm của toàn Đảng và toàn dân tới những anh hùng liệt sĩ, cũng như đã có nhiều chính sách hỗ trợ tới các gia đình liệt sĩ.

Trong bầu không khí đầy ấm áp và xúc động, Trung tướng Lê Văn Hân, Chủ tịch Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam và các đại biểu đã ôn lại những ngày tháng hào hùng có “một không hai” của dân tộc và tưởng nhớ bao thế hệ thanh niên đã hiến dâng tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, cho Hà Nội.

Cũng trong buổi gặp mặt, Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam đã trao tặng mỗi gia đình liệt sĩ một phần quà cùng số tiền 1 triệu đồng.

Bài, ảnh: THU HÀ
qdnd.vn

Huyền thoại về nghệ thuật quân sự của Việt Nam

Xác máy bay B52 bị quân dân Thủ đô bắn hạ, rơi trên đường Hoàng Hoa Thám. (Ảnh tư liệu)

Bốn thập kỷ đã trôi qua, chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” cuối tháng 12 năm 1972 của quân và dân ta đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn của không quân đế quốc Mỹ đã đi vào huyền thoại lịch sử quân sự thế giới.

Kỳ tích lẫy lừng ấy cũng đã trở thành biểu tượng của ý chí, của trí tuệ, tầm vóc Việt Nam; viết nên trang sử hào hùng của dân tộc trong thế kỷ XX.

Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” là niềm kiêu hãnh, là bài học quý giá về sức sáng tạo, lòng dũng cảm và chiến thuật quân sự chống tiến công hỏa lực đường không của quân và dân ta.

Tiên lượng sớm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bằng sự mẫn cảm của một nhà chiến lược quân sự thiên tài, với tầm nhìn xa, nắm vững tình hình địch, ta, lường trước thủ đoạn của kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những tiên lượng từ rất sớm, khoa học và chính xác về âm mưu sử dụng máy bay chiến lược B52 đánh phá miền Bắc của kẻ thù.

Người cùng Trung ương Đảng đã trực tiếp chỉ đạo, định hướng cho quân và dân ta chuẩn bị về tư tưởng, lực lượng, xây dựng thế trận phòng không nhân dân, sẵn sàng đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng các loại vũ khí tối tân của địch, bảo vệ vững chắc hậu phương lớn miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa.

Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu – nguyên Phó Chính ủy Quân chủng Phòng không-Không quân nhớ lại Bác Hồ đã có những dự kiến rất sớm để hình thành chiến thuật đánh thắng B52. Năm 1965, Người nhấn mạnh dù Mỹ có B57, B52 hay B gì đi nữa, ta cũng đánh mà đánh là nhất định thắng. “Các chú muốn bắt cọp phải vào tận hang,” Người nói.

Cuối năm 1967, Bác đã nhận định: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh phá Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình hình này càng sớm càng tốt để có thời gian mà suy nghĩ chuẩn bị… Mỹ nhất định sẽ thua nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội.”

Tinh thần đó đã được quán triệt đến cán bộ chiến sỹ toàn Quân chủng Phòng không-Không quân, trở thành ý chí sắt đá, sáng tạo trong chiến dịch 12 ngày đêm. Không những trong quân đội mà nhân dân cũng quyết tâm tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ Hà Nội.

Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu kể thấu hiểu lời dạy của Bác, năm 1966 Quân chủng Phòng không-Không quân đã đưa Trung đoàn 238 bí mật cơ động vào chiến trường Vĩnh Linh nghiên cứu, tìm hiểu quy luật hoạt động, cách đánh phá của B52 để từ đó tìm ra cách đánh thích hợp. Đêm 7/9/1967, Trung đoàn 238 đã tiêu diệt được 2 máy bay B52. Đây là cơ hội để rút kinh nghiệm, biên soạn cẩm nang đánh B52.

Theo Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, phương án tác chiến đánh B52 đã có từ năm 1968 và đến tháng 9/1972, phương án hoàn chỉnh được phổ biến cho cán bộ, chiến sỹ, quyết tâm dám đánh và quyết thắng.

Cuối tháng 11/1972, phương án cuối cùng đánh B52 đã được Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng và tập thể lãnh đạo Bộ Tổng tham mưu trực tiếp thông qua, sau đó được Đại tướng Võ Nguyên Giáp phê chuẩn.

“Từ đó, chúng tôi lập kế hoạch đánh B52 và hoàn toàn chủ động. Đêm 18/12, lúc 19 giờ 15 phút, được tin B52 cất cánh từ đảo Guam, toàn thể quân chủng và nhân dân sẵn sàng.”

20 giờ 13 phút, Tiểu đoàn 59 tên lửa thuộc Trung đoàn 261 đã bắn rơi chiếc B52 đầu tiên, rơi ở cánh đồng Chuôm, Phù Lỗ, Kim Anh (nay là Sóc Sơn, Hà Nội). Tiểu đoàn 77 thuộc trung đoàn 257 bắn rơi B52 tại chỗ. Đêm 18/12, toàn quân chủng và nhân dân đánh thắng B52 trận đầu, lập nên “Điện Biên Phủ trên không.”

Rất nhiều máy bay Mỹ đã bị bắn hạ trong giai đoạn 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không.” (Ảnh tư liệu)

Chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không là thắng lợi về chính trị, quân sự, ngoại giao, khẳng định đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại cũng như tinh thần, ý chí quyết chiến, quyết thắng, sức sáng tạo của cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chiến thắng này cũng thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó của nhân dân Thủ đô Hà Nội và đồng bào cả nước, cùng với sự ủng hộ, động viên của bạn bè quốc tế, nhất là Liên Xô đã giúp đỡ ta về tên lửa, radar, không quân, cán bộ kỹ thuật.

“Không sợ bị bắn rơi, chỉ lo B52 chạy mất”

Trung tướng Phạm Tuân – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên phi công đoàn Không quân Sao Đỏ vẫn nhớ như in về “Pháo đài bay B52” – loại máy bay ném bom chiến lược tầm xa, cự ly bay hàng chục ngàn km, mang tới 30 tấn bom, xen kẽ bom tấn, bom tạ, bom bi. Một tốp 3 chiếc B52 có thể san bằng diện tích 2km2. Vì vậy, máy bay ném bom hạng nặng này được dùng để ném bom chiến lược các mục tiêu diện rộng sân bay, thành phố, trung tâm chính trị, bến cảng và khi bị đánh thì hầu như các mục tiêu bị phá hủy. Bom tấn phá hầm ngầm, bom tạ phá hầm trú ẩn, bom bi sát thương người khi không còn chỗ trú ẩn.

Ngoài ra, B52 còn sử dụng cả tên lửa, đồng thời, B52 lại được bảo vệ bởi các máy bay tiêm kích đánh vào trận địa tên lửa, ném bom các sân bay không cho tiêm kích của ta cất cánh.

Máy bay B52 được yểm trợ rất mạnh, lại bay ban đêm, gây nhiễu ra đa, nhiễu mục tiêu… Ngoài ra, bản thân B52 được trang bị tên lửa mồi, nếu MIG 21 của chúng ta bắn tên lửa thì B52 thả tên lửa mồi, chưa kể B52 cũng được trang bị súng phía đuôi có khả năng tiêu diệt máy bay tiêm kích. B52 còn được bảo vệ bằng các máy bay chiến đấu, tiêm kích đánh chặn, đánh ngay vào mục tiêu như sân bay, trận địa tên lửa.

Vị tướng không quân nhớ lại một trong những khó khăn lớn nhất đối với Bộ đội Không quân là khi đó, các sân bay chiến đấu của ta bị phá hủy rất nặng nề. Vì vậy, không quân phải tập bay ở những sân bay ngắn, mới làm ở các nông, lâm trường (sân bay vòng ngoài, sân bay dã chiến), tập bay thấp, bay cao, cất cánh trong những điều kiện khó khăn để có thể tiếp cận nhanh được B52. Những thời điểm như vậy đòi hỏi không chỉ ý chí mà cả trí tuệ, sự sáng tạo của Không quân nhân dân Việt Nam.

Trong 12 ngày đêm, Mỹ sử dụng 193 B52 và hơn 1.000 máy bay chiến thuật, trung bình mỗi đêm đánh vào Hà Nội 50-70 lượt B52, cao điểm lên đến 100 lượt B52. Ngoài ra, mỗi đêm trung bình 300 lượt, cao điểm 450 máy bay chiến thuật đánh phá để yểm trợ. Như vậy, bầu trời Hà Nội, mỗi đêm có 200 -300 máy bay, có thể thấy mức độ đánh phá dày đặc như thế nào. “Lúc đó, chúng tôi không sợ bị bắn rơi nhưng mỗi nơi bị chậm đi một chút, mình không đuổi được B52.

Việc xác định được chính xác vị trí của B52 là rất khó, đòi hỏi sự chủ động của phi công. Để vượt qua, chúng ta cất cánh ở sân bay mà địch không ngờ tới để không bị chặn ở đầu đường băng.

“Tôi cất cánh đêm 17/12, anh Thiều đêm 18/12, mang máy bay về sân bay Cẩm Thủy, không cất cánh ở Hà Nội. Đấy là cách để chúng ta tránh địch chặn đánh ở ngay sân bay.”

Khi lên trời rồi, phi công phải nhanh chóng đi vào điều kiện thuận lợi, phán đoán được F4 thường chặn ở đâu, tầm cao nào để tránh. Từ tất cả những kinh nghiệm đó, xây dựng thành phương án bay để tránh F4.

“Tôi bắn B52 xong rồi mà F4 vẫn ở đằng sau nhưng không làm gì được!.”

Trung tướng Phạm Tuân hồi tưởng: “Khi nhìn thấy B52, không chỉ hồi hộp mà còn lo bởi nếu sơ hở một chút, bật ra đa sớm thì F4 sẽ đuổi theo và bắn, B52 chạy mất. Lúc đó tôi chỉ sợ B52 chạy mất, còn F4 xung quanh rất nhiều, tôi báo về sở chỉ huy còn mình chỉ hướng vào chiếc B52 phía trước, cố gắng làm sao để đạt tốc độ nhanh nhất, dù bay với tốc độ 1.600km/h mà vẫn thấy chậm vô cùng. Đến khi phóng được quả tên lửa đi mới thở phào nhẹ nhõm và lúc ấy thì mặc kệ F4 xung quanh, không còn lo lắng gì nữa”.

Trung tướng Phạm Tuân nhấn mạnh: Trong chiến dịch này, nhiệm vụ chính, quan trọng nhất của lực lượng Phòng không-Không quân là bảo vệ mục tiêu, chặn máy bay ném bom phá hoại. “Địch định san phẳng Hà Nội nhưng trong suốt 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không thì Hà Nội chỉ chịu 2 vệt bom B52. Chính là bởi vì lực lượng Phòng không-Không quân đã đánh B52 khi chúng mới bay vào, còn cách xa Hà Nội. Tất nhiên nếu chúng ta không bắn rơi B52 thì nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu cũng không thể hoàn thành.”

Chuyện cuốn “Cẩm nang đánh B52”

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt – Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tên lửa 57 – Sư đoàn Phòng không Hà Nội hồi tưởng cuối tháng 10/1972 diễn ra Hội nghị rút kinh nghiệm cách đánh của bộ đội tên lửa do Tư lệnh Quân chủng chủ trì; các thành phần được mở rộng từ kíp trắc thủ, sỹ quan điều khiển tiểu đoàn trưởng đến Trung đoàn trưởng Trung đoàn tên lửa.

Hội nghị bàn cách đánh máy bay B52 thực sự như “Hội nghị Diên Hồng.” Trong hội nghị, các kíp chiến đấu thảo luận, tranh luận bàn cách đánh rất sôi nổi, rất tâm huyết, mang cả những tâm tư, vướng mắc từ lâu để cùng nhau giải quyết.

Kết luận hội nghị của Tư lệnh Quân chủng đã làm thỏa mãn những mong chờ của kíp chiến đấu, khích lệ, động viên mỗi pháo thủ hãy nhằm thẳng quân thủ mà bắn, chọn bám sát đúng giải nhiễu B52 mà đánh, nhất định ta sẽ bắn rơi, bắn rơi tại chỗ B52. Cuốn cẩm nang 30 trang bìa đỏ cũng được ra đời từ đây.

Sau hội nghị về phong trào học tập rèn luyện cách đánh B52 của bộ đội tên lửa, ở hầu khắp các trận địa đâu đâu cũng hào hứng, sôi nổi tỏ rõ quyết tâm mới, khí thế mới. Công tác bảo đảm kỹ thuật từ cơ quan đến đơn vị cũng có phong trào thi đua bảo đảm tham số tốt nhất, không dừng ở tham số cho phép. Các phân đội kỹ thuật, các dây chuyền lắp ráp đạn nhất là lắp ráp ban đêm, công tác hậu cần bảo đảm đời sống, hay các nhà máy trung đại tu tên lửa đều hưởng ứng thi đua với đơn vị hỏa lực cùng lập công.

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt nhấn mạnh: ”12 ngày đêm năm ấy, chúng ta đã chiến đấu với một đối tượng hơn hẳn ta về trang bị vũ khí, khí tài; có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến, là đội quân thiện chiến nhà nghề, có tiềm lực kinh tế lớn. Nhưng với sự đồng lòng, quyết tâm, quyết đánh thắng, chúng ta đã đánh rơi nhiều B52 bắt sống giặc lái ngay từ những đêm đầu của chiến dịch.”

Việc bắn rơi tại chỗ B52 đã khích lệ, củng cố quyết tâm của nhân dân và lực lượng chiến đấu. Những trận sau, đêm sau càng đánh càng thắng, thắng liên tục nhất là những trận then chốt, quyết định.

“Có đêm đánh rơi 7 đến 8 máy bay B52 làm cho bọn giặc lái hoang mang hoảng sợ, Nhà Trắng rung chuyển, Không lực Hoa Kỳ thất bại thảm hại” – Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt tự hào.

Đối phó với tác chiến điện tử của địch

Theo Đại tá Nghiêm Đình Tích – Nguyên Đài trưởng đài radar P.35, Trung đoàn 291, Binh chủng Radar, chiến thắng vĩ đại trong chiến dịch phòng không đánh thắng chiến dịch tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng cuối năm 1972 thực chất là thắng lợi của ta trong lĩnh vực tác chiến điện tử vô cùng khó khăn, ác liệt và gian khổ trước cuộc chiến tranh điện tử hiện đại và vũ khí công nghệ cao của không quân Mỹ.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm, Không quân Mỹ gây nhiễu ghê gớm hơn nhiều so với chiến tranh phá hoại lần thứ nhất. Tất cả máy bay đều có máy nhiễu công suất lớn. Đặc biệt, mỗi B52 có 15 máy gây nhiễu, hai máy phóng nhiễu giấy bạc. Một tốp B52 có 45 máy, tạo thành nhiễu chồng chéo, dày đặc, đan xen, công suất rất lớn, phạm vi rất rộng.

Đại tá Nghiêm Đình Tích kể lại khi đó, các phong trào thi đua “vạch nhiễu phát hiện B52,” “luyện quân, lập công,” “phiên ban đoàn viên” với quyết tâm chống nhiễu phát hiện B52, phục vụ vô điều kiện cho các binh chủng hoả lực phòng không đánh thắng trong toàn binh chủng trở thành phong trào thi đua sôi nổi, rộng khắp chưa từng có.

Đại tá Nghiêm Đình Tích tự hào: “Chúng tôi kết hợp nhiều biện pháp để nhiễu B52 nhẹ nhất và tín hiệu B52 rõ nhất. Nói một cách hình ảnh là nổi lên ba đầu tăm thể hiện tín hiệu của từng tốp B52.”

Bộ đội Radar phòng không đã không để Tổ quốc bị bất ngờ, tạo điều kiện cho chỉ huy và các binh chủng bắn rơi 34 B52 và giành thắng lợi to lớn./.

Thanh Hòa (TTXVN)
vietnamplus.vn

“Điện Biên Phủ trên không” giống như trận Stalingrat

(VOV) – Các nhà nghiên cứu Nga nhận định: “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” giống như trận Stalingrat thời chiến tranh Vệ quốc.

Phân tích về ý nghĩa của chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, các nhà nghiên cứu lịch sử, các nhà Việt Nam học người Nga đều có chung nhận định: chiến thắng này đã góp phần quyết định vào việc buộc Mỹ phải ký Hiệp định Hòa bình Paris với những điều kiện của Việt Nam. Và xa hơn, đây chính là bước ngoặt lịch sử để đi đến thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Nhà Việt Nam học Kobelev (phải) và  nhà nghiên cứu Việt Nam Varonhin

Nói đến chiến thắng lịch sử của trận chiến “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử quân sự và  Việt Nam học của Nga phân tích rằng, thật đúng khi gọi trận chiến trên bầu trời Hà Nội là “Điện Biên phủ trên không” và họ còn khẳng định rằng: “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của Việt Nam giống như trận Stalingrat của Liên Xô, Nga thời chiến tranh Vệ quốc.

Nhà Việt Nam học Evghenhi Kobelev, người có khá nhiều công trình nghiên cứu về Việt Nam và đã xuất bản nhiều cuốn sách về Việt Nam, về quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga nhận định: “Tôi phải nói rằng, ai đó đã gọi rất đúng trận đánh trên bầu trời Hà Nội tháng 12 năm ấy là “Điện Biên phủ trên không”. Qua nghiên cứu, tôi thấy năm 1954 cũng diễn ra cuộc đàm phán Hòa bình Geneva và Hiệp định Hòa bình đó cũng chỉ được ký kết khi quân Pháp đã thua trong trận Điện Biên Phủ”.

Cũng rút ra kết luận đó, nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu Việt Nam Annatoli Varonhin bổ sung: “Lịch sử đã lặp lại khi vào năm 1972, trên bầu trời Hà Nội Mỹ đã phải ký kết một Hiệp định Hòa bình cho Việt Nam. Bởi vậy, ý nghĩa của chiến thắng năm 1972 trên bầu trời Hà Nội không chỉ là việc ký kết một Hiệp định chấm dứt bắn phá, rút quân khỏi Việt Nam mà còn lớn hơn, để đến năm 1975 là hoàn toàn kết thúc chiến tranh. Bởi vậy có thể nói, chiến thắng năm 1972 không chỉ có ý nghĩa kết thúc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc, mà nó còn góp phần đưa đến thắng lợi cuối cùng của cuộc chiến tranh ở Việt Nam”.

Nhà nghiên cứu Việt Nam Varonhin còn kể thêm câu chuyện mà ông từng chứng kiến khi đang công tác tại Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô để khẳng định một ý nghĩa lịch sử quan trọng mà nhiều nhà nghiên cứu đã ví “Điện Biên phủ trên không” của Việt Nam là Stalingrat của Liên Xô. Đó là vào cuối năm 1972, khi Liên Xô tổ chức lễ kỷ niệm trọng thể tròn 50 năm ngày thành lập Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết (gọi tắt là Liên Xô), đã có khoảng 70 đoàn đại biểu đến từ các nước, trong đó có đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh dẫn đầu.

Trong thời gian ở thăm Liên Xô dự lễ kỷ niệm, Chủ tịch Trường Chinh đã đề nghị được đi thăm Stalingrat và Đảng Cộng sản Liên Xô cũng đã tổ chức cho đoàn đi thăm. Với sự việc này, ông Varonhin nhận xét: “Điều này rất dễ hiểu, là bởi vì lúc đó cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang rất ác liệt và dường như đồng chí muốn có dịp học hỏi các chiến sỹ Liên Xô về kinh nghiệm chiến đấu đánh tan Phát-xít Đức vào năm 1945, trong đó trận Stalingrat đóng một vai trò quyết định”.

Phóng viên VOV đang trao đổi với nhà Việt Nam học Kobelev (phải) và  nhà nghiên cứu Việt Nam Varonhin

Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo và cả các cựu chuyên gia quân sự Liên Xô từng sang Việt Nam thời kỳ những năm 1965 – 1975 khi nói về chiến thắng “Điện Biên phủ trên không” cũng phân tích rất nhiều về ý nghĩa này. Họ đánh giá tình hình chiến cuộc lúc bấy giờ trong bối cảnh của nước Mỹ trước và sau cuộc bầu cử Tổng thống; rồi diễn biến của cuộc đàm phán về Hiệp định Hòa bình cho Việt Nam ở Paris… Tất cả đều khẳng định chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không” của Việt Nam đã buộc Mỹ phải ngồi lại vào bàn đàm phán và chấp nhận ký Hiệp định hòa bình. Đây là một bước ngoặt quyết định.

Nhận định về ý nghĩa của chiến thắng, các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra những đánh giá khá toàn diện về nguyên nhân dẫn tới thắng lợi ở nhiều khía cạnh khác nhau. Với nhà Việt Nam học Varonhin, đó là kết quả của cả ba mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao. Ông phân tích: “Theo đánh giá của chúng tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một nhận định rất tuyệt vời trước đó là “nhất định Mỹ sẽ ném bom Hà Nội…”.

Chính bởi thế mà hành động của Mỹ leo thang đánh phá Hà Nội trong một cuộc tập kích chiến lược đã không khiến người Hà Nội bất ngờ. Lãnh đạo Việt Nam đã có những kế hoạch rất toàn diện cả về chính trị, ngoại giao và kế hoạch quân sự để thiết lập một tình huống cho cuộc chiến đấu đánh trả. Tuyến hoạt động này đã được triển khai rất tốt và đã giành chiến thắng cuối cùng bằng chính các mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao.

Mặc dù trong những năm chiến tranh chống Đế quốc Mỹ, Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng đã được trang bị những loại vũ khí mới tốt hơn nhiều, nhưng quan trọng là tinh thần đấu tranh chính trị cũng đã được trang bị rất tốt để họ hiểu họ chiến đấu vì cái gì, tình hình lúc đó ra sao, họ biết rằng, cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam đang được cả thế giới ủng hộ, nhất là cuộc chiến đấu chống quân Mỹ xâm lược… Chúng tôi cũng đã dõi theo rất chăm chú bước ngoặt này cũng như suốt tiến trình của cuộc chiến tranh Việt Nam”.

chiến thắng của nhân dân Việt Nam chống Đế quốc Mỹ trên bầu trời Hà Nội, theo phân tích của các nhà Việt Nam học Nga đã giáng một đòn chí mạng và “niềm tự hào” của không lực Hoa Kỳ. Bởi trước đó, người Mỹ chưa từng và không bao giờ nghĩ những “siêu pháo đài bay” của họ lại bị bắn hạ bởi lực lượng phòng không – không quân của một quân đội còn chưa thể sánh được với họ về các trang bị tối tân nhất. Quân và dân thủ đô Hà Nội, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã làm cho Đế Quốc Mỹ không thể mãi tự cho mình là kẻ “bất khả chiến bại”.

Nhà Việt Nam học Kobelev phân tích: “Có một bình luận đã nói thế này: “Việt Nam, với sự giúp đỡ của Liên Xô đã xây dựng được một hệ thống phòng thủ tên lửa mạnh và đã làm nên những điều chưa từng có trong một cuộc chiến tranh nào trước đó”.

Tôi muốn chứng minh điều này bằng một vài con số sau: Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, khi Mỹ thực hiện 1.000 chuyến bay thì bị mất 9 chiếc máy bay, tại Triều Tiên Mỹ mất 4 chiếc. Ngược lại ở Việt Nam, Mỹ đã mất tới 18 máy bay cho 1.000 chuyến bay. Đặc biệt riêng trong 12 ngày đêm của tháng 12/1972, với trận “Điện Biên Phủ trên không” thì khi thực hiện 1.000 chuyến bay Mỹ mất tới 34 chiếc máy bay. Đó là những điều chưa từng xảy ra trong các cuộc chiến tranh khác”.

Bằng những tinh thần quả cảm của mình, nhân dân Việt Nam đã khiến cả thế giới ngưỡng mộ, đứng về cùng một phía với cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam. Ông Varonhin nhận định: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã trở thành tâm điểm chính trị mà cả thế giới dành sự quan tâm. Thời đó có nhiều tiếng nói đã ủng hộ Việt Nam và chống Mỹ rất mạnh mẽ. Người đồng nghiệp của tôi đây là ông Kobelev đã viết cuốn sách “Việt Nam, tình yêu và nỗi đau của tôi”, trong đó thể hiện rất chân thực tâm trạng và tình cảm của nhân dân trên toàn thế giới cũng như nhân dân Mỹ hướng về và ủng hộ nhân dân Việt Nam. Và cũng từ đó mà ở Mỹ đã dấy lên phong trào chính trị đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh. Họ lên án rằng, việc Mỹ đem bom hủy diệt Hà nội, Việt Nam là một hành động phi nghĩa”.

Nhà Việt Nam học Kobelev cũng bổ sung: “Tôi đã từng tham dự nhiều hội nghị quốc tế được tổ chức ở khắp nơi như: Paris, Rome, Praha, Moscow, Hà Nội…Tham gia các hội nghị này là rất nhiều đại biểu với những tư tưởng khác nhau nhưng khi bàn đến việc ủng hộ Việt Nam thì tất cả đều giơ tay đồng thanh “Việt Nam, chúng tôi ủng hộ các bạn”. Tôi cảm thấy rất vui khi có mặt ở các hội nghị ấy và được nghe những tiếng hô “Việt Nam – Hồ Chí Minh”.

Cuối cùng, nói về bài học rút ra từ thắng lợi của trận “Điện Biên phủ trên không”, các nhà Việt Nam học đã rất thống nhất khi khẳng định rằng, phải biết kết hợp nhiều yếu tố mà trong đó ngoại giao giữ một vị trí rất quan trọng, rất cần phát huy trong thời đại hôm nay.

Nhà Việt Nam học Varonhin phân tích: “Chúng ta đã có mối quan hệ rất chặt chẽ trên nhiều lĩnh vực, nhưng tôi có thể nói rất nhiều về quan hệ trên mặt trận ngoại giao. Đây chính là một đóng góp to lớn vào thắng lợi chung. Chúng ta rất cần gìn giữ truyền thống này và thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa. Để làm được điều đó, chúng ta rất cần phải thường xuyên nhắc lại những truyền thống đó. Đây, hôm nay chúng ta đang nói về chiến thắng “Điện Biên phủ trên không” và sắp tới thì chúng ta lại nói về “40 năm ký Hiệp định HB Paris”… là những yếu tố quan trọng trong ngoại giao.

Nhưng nếu bảo chỉ là thành công ngoại giao của Việt Nam thì chưa đủ, đó còn là tổng hợp nhiều yếu tố khác nữa, trong đó có sự đoàn kết của toàn thế giới dành cho Việt Nam. Trong ngoại giao cũng phải nói đến ngoại giao nhân dân. Ngoại giao nhân dân tạo nên dư luận xã hội, mà trong đó có cả công việc của báo chí, có cả vai trò của các nghị sỹ… Việt Nam đã giành được chiến thắng cũng chính là bởi đã tập hợp được những sức mạnh này. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói một câu rất nổi tiếng là phải biết “kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại”. Tất nhiên thời đại ngày nay cũng có những cái không giống thời đại của 40 năm về trước, nhưng bài học về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại mà Hồ Chí Minh đã đưa ra là phương châm bất hủ mà chúng ta rất đáng học tập”.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của quân đội và nhân dân Việt Nam với sự ủng hộ và hỗ trợ nhiệt tình của những người yêu chuộng hòa bình trên khắp năm châu, những người bạn Nga, người bạn Xô-viết … mãi mãi là một biểu tượng đẹp của lương tri, của ý chí và khát vọng hòa bình, của tình đoàn kết vô biên. Bài học của quá khứ, bài học từ cuộc chiến sẽ mãi còn được các thế hệ tiếp theo, không chỉ là thế hệ trẻ Việt Nam mà là các thế hệ trẻ trên toàn thế giới rút ra và chiêm nghiệm./.

Điệp Anh – Đoan Hải/VOV – Moscow
vov.vn