Thư viện

Ngày 29-12-1972: Chiếc máy bay B-52 cuối cùng bị bắn rơi

Ngày này 40 năm trước

QĐND – Ngày 29-12-1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không-Không quân động viên cán bộ, chiến sĩ. Tại đây, Đại tướng phân tích tình hình và chỉ đạo Quân chủng tập trung đạn tên lửa đánh trận quyết định, bắn rơi nhiều máy bay B-52, buộc Mỹ phải ngừng hẳn cuộc tập kích.

Cán bộ, trắc thủ các tiểu đoàn tên lửa bắn rơi máy bay B-52 về thăm Sư đoàn 361. Ảnh: Hương Hồng Thu.

Chấp hành sự chỉ đạo của trên, Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân lệnh cho Sư đoàn 361 chuẩn bị tốt khí tài, tập trung đánh đúng đối tượng B-52. Ban ngày, Không quân Mỹ huy động 60 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá các trận địa tên lửa, sân bay, cầu phà và các đầu mối giao thông ở Hà Nội; 10 lần chiếc máy bay Hải quân Mỹ đánh phá các mục tiêu ở Hải Phòng, Quảng Ninh.

Đêm 29-12-1972, Mỹ sử dụng 57 lần chiếc máy bay B-52 và 50 lần chiếc máy bay chiến thuật hộ tống vào ném bom khu vực Trại Cau, thành phố Thái Nguyên; khu vực Đồng Mỏ (Lạng Sơn) và Kim Anh (Vĩnh Phú); 18 lần chiếc máy bay F-111 đánh phá các sân bay và một số mục tiêu ở Hà Nội. Không quân ta cất cánh bắn rơi một máy bay F-4. Tiểu đoàn tên lửa 79 (Trung đoàn 257) bắn rơi một chiếc máy bay B-52. Đây là chiếc máy bay B-52 cuối cùng bị bắn rơi trong chiến dịch phòng không 12 ngày đêm tháng 12-1972.

XUÂN GIANG (tổng hợp)
qdnd.vn

Chủ tịch nước tiếp các cựu chiến binh tham gia Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

QĐND Online – Chiều 28-12, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tiếp đoàn 40 cựu chiến binh, cựu dân quân tự vệ trực tiếp tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972. Cùng tham gia đoàn có Thiếu tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; Trung tướng Phương Minh Hòa, Tư lệnh và Trung tướng Nguyễn Văn Thanh, Chính ủy Quân chủng PK-KQ.

Trước buổi gặp mặt, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ân cần trò chuyện, hỏi thăm sức khỏe của các cựu chiến binh, cựu dân quân tự vệ và chụp ảnh lưu niệm cùng đoàn đại biểu.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chụp ảnh lưu niệm cùng các đại biểu

Phát biểu tại buổi gặp Chủ tịch nước, Trung tướng Nguyễn Văn Thanh thay mặt Quân chủng PK-KQ và đoàn đại biểu, báo cáo khái quát về những đóng góp của quân, dân miền Bắc nói chung, đóng góp của bộ đội PK-KQ nói riêng trong cuộc chống chiến dịch tập kích đường không chiến lược của Mỹ vào Thủ đô Hà Nội và các vùng phụ cận, cuối tháng 12-1972. Đồng chí Chính ủy Quân chủng cũng báo cáo kết quả huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của Quân chủng PK-KQ trong thời gian qua.

Thay mặt cán bộ, chiến sĩ Quân chủng PK-KQ, Trung tướng Nguyễn Văn Thanh hứa với Chủ tịch nước: Toàn Quân chủng PK-KQ sẽ tiếp tục phát huy truyền thống từ Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”; không ngừng xây dựng mối đoàn kết, thống nhất, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng Quân chủng PK-KQ “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, góp phần bảo vệ vững chắc bầu trời Tổ quốc.

Chủ tịch nước phát biểu trong buổi tiếp các cựu chiến binh, cựu dân quân tự vệ

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Phó tư lệnh Chính trị Quân chủng PK-KQ, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 371); Trung tướng Phạm Tuân-phi công tiêu diệt một máy bay B-52 của Mỹ trong Chiến dịch và một số đại biểu đã phát biểu, nói lên những suy nghĩ của mình trong buổi gặp Chủ tịch nước. Các ý kiến đều tiếp tục khẳng định sự chuẩn bị chu đáo cũng như sự mưu trí, sáng tạo, tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của quân, dân Hà Nội trong 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972. Thượng tá Nguyễn Hữu Toàn, Trưởng Ban Thanh niên Quân chủng PK-KQ hứa với Chủ tịch nước: Tuổi trẻ Quân chủng PK-KQ sẽ kế tục xứng đáng thành tích vẻ vang của các thế hệ cha anh đã làm nên kỳ tích trên bầu trời Hà Nội tháng 12-1972, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Tổ quốc, Quân đội và Quân chủng PK-KQ giao phó.

Thân mật trò chuyện với các cựu chiến binh, cựu dân quân tự vệ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn vô hạn với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch nước tiếp tục khẳng định, từ những nhận định sáng suốt và sự chỉ đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân miền Bắc đã chủ động chuẩn bị đánh B-52 từ rất sớm. Nhờ sự chủ động ấy, chúng ta đã vững vàng bước vào Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Và sau 12 ngày đêm, quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ, làm nên Chiến thắng lừng lẫy “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Chủ tịch nước cũng khẳng định, Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” đã buộc Mỹ phải chấp nhận thất bại, trở lại bàn đàm phán ở Hội nghị Pa-ri. Chiến thắng đó đã tạo ra thế và lực mới, giúp chúng ta thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ kính yêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Chủ tịch nước tặng quà lưu niệm cho các đại biểu

“Để giành được thắng lợi to lớn đó, nhiều đồng bào, đồng chí của chúng ta đã ngã xuống trong 12 ngày đêm ác liệt. Chiến thắng đó còn được làm nên nhờ sự giúp đỡ quý báu từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh.

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao những đóng góp to lớn của các cựu chiến binh, cựu dân quân tự vệ trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972. Chủ tịch nước mong muốn, để tiếp tục phát huy truyền thống từ Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, các cựu chiến binh tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của quê hương, đất nước. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đặc biệt nhấn mạnh, với bản lĩnh, kinh nghiệm có được từ cuộc chống tập kích đường không chiến lược của Mỹ, các cựu chiến binh cần tiếp tục truyền lại cho lớp cán bộ, chiến sĩ hôm nay, để xây dựng Quân chủng PK-KQ và Quân đội ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tin, ảnh: HOÀNG HÀ-DUY ĐÔNG
qdnd.vn

Dấu ấn chiến công thời đại

Di tích Chiến thắng B-52 tại Hà Nội:

QĐND – Chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 là một trong những chiến công hiển hách nhất của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Để dấu ấn chiến công này còn vang vọng mãi với non sông, một trong những giải pháp quan trọng là ngay từ bây giờ phải quan tâm chăm lo giữ gìn, bảo tồn và phát huy tốt các giá trị di tích liên quan đến Chiến thắng B-52 trên địa bàn Hà Nội.

Chứng tích thảm bại của “pháo đài bay B-52” giữa lòng Thủ đô

Một ngày gần cuối tháng 12-2012, chúng tôi trở lại hồ Hữu Tiệp – nơi mà đêm 27-12-1972, một chiếc B-52 của đế quốc Mỹ đã bị quân ta bắn hạ và rơi xuống lòng hồ. Khác hẳn với cảnh nhếch nhác về cảnh quan, môi trường ở địa điểm di tích lịch sử này mà Báo Quân đội nhân dân từng phản ánh cách đây hơn một năm, hiện nay xung quanh di tích hồ Hữu Tiệp đã được tôn tạo khá khang trang và vệ sinh sạch sẽ hơn. Bia ghi lại chứng tích, bảng chỉ dẫn và bảng thuyết minh sự kiện lịch sử đã được làm mới, tường rào bảo vệ hồ đã được tu sửa lại, trên mặt nước lòng hồ không còn lênh láng bèo và rác rưởi như trước.

Hai du khách Ô-xtrây-li-a đến tham quan di tích lịch sử hồ Hữu Tiệp (ảnh chụp ngày 21-12-2012).

Ông Phạm Văn Mành, Bí thư Đảng ủy phường Ngọc Hà, quận Ba Đình cho chúng tôi biết: Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, thời gian qua, cùng với việc đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền, nâng cao ý thức trách nhiệm cho cộng đồng cùng tham gia giữ gìn, bảo vệ cảnh quan, môi trường di tích hồ Hữu Tiệp, UBND phường đã huy động lực lượng thanh niên thường xuyên vớt bèo để góp phần làm sạch lòng hồ, quét dọn đường đi lối lại trong khu vực di tích. Một vài hộ dân và tiểu thương để rác rưởi, đất cát xây dựng vương vãi trước đây gây mất vệ sinh, mỹ quan ở khu vực này đã được các chính quyền chấn chỉnh kịp thời. Đến nay, toàn bộ khu vực di tích lịch sử hồ Hữu Tiệp đã được chỉnh trang, tôn tạo để đón các đoàn đại biểu, du khách trong nước và quốc tế đến tham quan. “Nói đến làng hoa Ngọc Hà là nói đến hồ Hữu Tiệp có xác máy bay B-52 của Mỹ. Đã từ lâu, cán bộ, nhân dân phường Ngọc Hà rất vinh dự, tự hào vì có một di tích lịch sử liên quan đến Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tại địa phương mình. Để di tích hồ Hữu Tiệp luôn là một bằng chứng về thảm bại của “pháo đài bay B-52” của Mỹ giữa lòng Thủ đô, chúng tôi sẽ phối hợp với các cơ quan văn hóa của quận và thành phố, nhất là với Bảo tàng Chiến thắng B-52 để cùng quản lý, bảo vệ và phát huy tốt giá trị di tích lịch sử này” – Ông Phạm Văn Mành nói.

Xây dựng, tu bổ bia tôn vinh chiến thắng của quân dân ta

Cùng với việc tôn tạo di tích hồ Hữu Tiệp, bà Nguyễn Thị Thủy, Trưởng phòng Nghiên cứu và phát huy giá trị di tích (Ban quản lý di tích – danh thắng Hà Nội) cho biết: Trong dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, các quận, huyện của Hà Nội đã hoàn thành việc xây dựng, cải tạo, tu bổ bia chứng tích lịch sử tại 7 địa điểm máy bay B-52 bị bắn rơi trên địa bàn Thủ đô. Hai địa điểm được dựng bia mới gồm: Thôn Đại Định, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai và thôn Mai Trai, xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì. Ngoài ra, tại địa điểm máy bay B-52 bị bắn rơi tại đồng Trầm, thôn Xuân Tảo, xã Xuân Giang, huyện Sóc Sơn, do máy bay rơi hai điểm khác nhau nên địa phương đã xây dựng, cải tạo cả hai bia chứng tích, trong đó một bia trên đê sông Cà Lồ, một bia nằm giữa cánh đồng Trầm.

Các Cựu chiến binh tham quan Bảo tàng Chiến thắng B-52.

Còn 4 địa điểm khác liên quan đến máy bay B-52 bị bắn rơi cũng được tu bổ, tôn tạo bia chứng tích, gồm: Thôn Đường Hai, xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn; thôn Yên Thường, xã Yên Thường, huyện Gia Lâm; Tổ 16A, phố Định Công, phường Định Công; Số nhà 201 phố Trương Định, phường Tương Mai thuộc quận Hoàng Mai. Được biết, các bia ghi nhớ chứng tích này được làm bằng đá granit tự nhiên, màu huyết dụ, chữ khắc phủ nhũ màu vàng. Trên bia khắc khi rõ vị trí, thời gian, đơn vị, trận địa bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 của Mỹ.

Nói về ý nghĩa của việc làm này, bà Nguyễn Thị Thủy nhấn mạnh: “Thông qua việc xây dựng, tu bổ các bia chứng tích tại 7 địa điểm máy bay B-52 bị bắn rơi, thành phố Hà Nội muốn ghi lại một dấu ấn chiến công oanh liệt nhất của dân tộc ta trong thế kỷ XX, đồng thời nhằm tôn vinh những đơn vị quân đội đã lập công đặc biệt xuất sắc, góp phần cùng quân dân thủ đô Hà Nội làm nên chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972”.

Cần bảo tồn di tích lâu dài cho các thế hệ mai sau

Một trong những thiết chế văn hóa hàng đầu lưu giữ những dấu ấn chiến công trong 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” hiện nay là Bảo tàng Chiến thắng B-52. Được xây dựng và khánh thành vào dịp kỷ niệm 25 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (tháng 12-1997), Bảo tàng hiện có gần 9000 hiện vật, trong đó có nhiều mảnh xác máy bay B-52 và hàng trăm hiện vật liên quan đến sự kiện lịch sử quân dân Thủ đô đối đầu với “không lực mạnh nhất của Mỹ lúc bấy giờ”.

Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, Thiếu tá Phạm Anh Tuấn, Phó giám đốc Bảo tàng Chiến thắng B-52 cho biết: Đến nay, toàn bộ hệ thống trưng bày sự kiện lịch sử Chiến thắng B-52 đã được nâng cấp; sa bàn diễn biến trận đánh 12 ngày đêm với diện tích 200m2 được bố trí tại trung tâm nhà trưng bày cùng với các phim video trên 3 màn hình và hệ thống ánh sáng, âm thanh, tạo khói… nhằm tái tạo một cách rõ nét, sống động về thời gian, không gian chiến đấu quyết liệt của trận đánh 12 ngày đêm. Vị trí máy bay, ra-đa, tên lửa, hệ thống pháo tại khu trưng bày ngoài trời cũng được sắp đặt lại một cách quy mô hơn. Trong một tháng trở lại đây, mỗi ngày Bảo tàng đón hàng nghìn lượt khách đến tham quan. Thời gian tới, Bảo tàng sẽ tiếp tục sưu tầm, trưng bày, giới thiệu các hiện vật liên quan đến Chiến thắng B-52 để làm một kênh “tiếp lửa truyền thống” cho thế hệ trẻ.

Một giờ học ngoại khóa của học sinh Thủ đô tại Bảo tàng Chiến thắng B-52

Qua tìm hiểu được biết, trong số gần 200 di tích cách mạng kháng chiến trên địa bàn Hà Nội, số di tích gắn liền với sự kiện 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” chiếm tỷ lệ không nhiều, nhưng rất giàu ý nghĩa giáo dục truyền thống cách mạng. Tuy nhiên, một số di tích nằm ở những vị trí có mật độ dân cư đông đúc như phường Ngọc Hà (Ba Đình), phường Định Công và Tương Mai (Hoàng Mai) nên việc quản lý, bảo vệ di tích không tránh khỏi những khó khăn nhất định. Do quá trình đô thị hóa, giá trị “tấc đất, tấc vàng” ở Thủ đô đã tác động không nhỏ tới công tác bảo tồn và phát huy các di tích liên quan đến Chiến thắng B-52 tại Hà Nội. Trò chuyện với chúng tôi, ông Phạm Văn Mành, Bí thư Đảng ủy phường Ngọc Hà cho biết: “Mong muốn lớn nhất của phường là các cơ quan chức năng của thành phố Hà Nội và quận Ba Đình sớm nghiên cứu, mở rộng ngõ 55, vì đây là con đường vào tham quan hồ Hữu Tiệp nhưng hiện nay quá chật hẹp nên du khách đi lại khó khăn”.

Sự kiện 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tuy diễn ra rất ngắn so với cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc ta trong thế kỷ XX, nhưng là minh chứng sống động về ý chí quật cường, bản lĩnh vô song và trí tuệ sáng tạo tuyệt vời của quân và dân ta trong cuộc đối đầu với cuộc chiến tranh công nghệ cao của đế quốc Mỹ. Vì vậy, để những di tích gắn liền với sự kiện đặc biệt này được lưu giữ lâu dài cho các thế hệ mai sau, chúng tôi cho rằng, cùng với việc tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, giới thiệu để nhân dân hiểu rõ mục đích, tầm quan trọng của việc quản lý, bảo vệ di tích Chiến thắng B-52, các cấp, các ngành, nhất là ngành văn hóa và các địa phương có di tích cần phải có kế hoạch, giải pháp căn cơ để bảo tồn thật tốt các di tích Chiến thắng B-52 hiện có trên địa bàn Hà Nội. Đó là một cách tri ân thiết thực nhất đối với các thế hệ cha anh đã làm nên một chiến công mang tầm thời đại ở thế kỷ XX.

Bài và ảnh: THIỆN VĂN
qdnd.vn

Chủ động về chiến lược bảo đảm hậu cần

Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

QĐND – Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đánh dấu mốc quan trọng kết thúc 8 năm chiến tranh phá hoại chống miền Bắc Việt Nam của đế quốc Mỹ, đập tan cái gọi là “sức mạnh quân sự Mỹ” từ năm 1965 mà chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II là một ví dụ điển hình. Đây “Không chỉ là một trận thắng của một chiến dịch mà là bước ngoặt của lịch sử” – như lời đánh giá của nhà sử học Dương Trung Quốc. Tuy nhiên, có một khía cạnh ít được đề cập, đó còn là kết quả của sự chủ động về chiến lược đối với công tác hậu cần.

Nghị quyết 19 của Đảng ủy Tổng cục Hậu cần (TCHC) cuối năm 1971 đã nhấn mạnh: Phải chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất, hậu cần, kỹ thuật, đảm bảo cho bộ đội SSCĐ đánh thắng địch nếu chúng mở rộng chiến tranh ra miền Bắc; Tăng thêm lực lượng, phương tiện cho Quân chủng Phòng không – Không quân (PK-KQ); Nhanh chóng xây dựng các tuyến đường ống vận chuyển xăng dầu từ hậu phương vào các chiến trường. Từ việc nắm vững đối tượng tác chiến là B-52, đánh phá có tính chất hủy diệt và rút kinh nghiệm công tác sơ tán phòng không trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, Tổng cục Hậu cần đã chỉ đạo hậu cần Quân chủng PK-KQ thực hiện tốt hai yêu cầu cơ bản là: “Sơ tán không để địch đánh phá gây thiệt hại lớn, đồng thời phải bảo đảm các mặt công tác không bị ngừng trệ”. Chỉ đạo sơ tán các cơ sở hậu cần ra khỏi các khu vực tập trung lớn, nhất là nhà ga, đầu mối giao thông quan trọng… Sơ tán, di chuyển là biện pháp quan trọng để đánh địch, bảo đảm an toàn; nhưng đồng thời nảy sinh khó khăn: Cơ sở, đơn vị hậu cần bị phân tán trên địa bàn rộng; kho tàng, trạm, xưởng, bệnh viện… phải triển khai hoạt động trong điều kiện dã ngoại gây trở ngại cho triển khai chế độ, nền nếp bảo đảm, chỉ huy, quản lý hậu cần. TCHC đã chỉ đạo chuyển phương thức bảo đảm từ “tuần tự trên-dưới” sang bảo đảm theo khu vực; phân cấp bảo đảm kết hợp với bảo đảm vượt cấp, phối hợp chặt chẽ các lực lượng bảo đảm cho tác chiến. Tăng cường lực lượng dự trữ cần thiết cho các đơn vị, thực hiện kết hợp giữa hậu cần quân đội với các cơ quan, ban, ngành Nhà nước, dựa vào chính quyền và nhân dân các địa phương để tổ chức bảo đảm tại chỗ cho các đơn vị tác chiến và hoạt động trên từng khu vực; tăng cường khả năng bảo đảm độc lập trên từng hướng chiến lược, địa bàn tác chiến, giảm đến mức thấp nhất yêu cầu vận chuyển bảo đảm trong quá trình diễn biến tác chiến.

Do lường trước được những khó khăn trong công tác vận chuyển, TCHC đã chỉ đạo đi đôi với tranh thủ mọi khả năng vận chuyển của Nhà nước, tập trung xây dựng, mở rộng lực lượng vận tải quân sự; tăng cường lực lượng vận tải cơ giới, nhanh chóng xây dựng, mở các tuyến giao thông vận tải chiến lược. Đồng thời tăng thêm lực lượng, phương tiện vận tải cho quân chủng, kết hợp các loại vận tải cơ giới và thô sơ, thủy và bộ để nâng cao khả năng tự vận chuyển theo phân công, phân cấp ở từng đơn vị. Trong suốt 12 ngày đêm chiến dịch, mặc dù bom đạn địch phong tỏa cả đường bộ, đường không, đường sông, đường biển, tập trung 60% số lần xuất kích, 54% số trận đánh phá của không quân vào các mục tiêu giao thông vận tải, nhưng với khẩu hiệu “mở đường mà tiến, đánh địch mà đi”, giao thông vận tải vẫn được giữ thông suốt. Thành phố Hải Phòng đã đề ra chủ trương “quân sự hóa” ngành giao thông vận tải nhằm nâng cao chất lượng công tác của ngành. Xuất hiện nhiều gương dũng cảm phá thủy lôi, bom nổ chậm để thông đường, thông xe, kịp thời chi viện cho các trận địa thực hiện nhiệm vụ cơ động đánh địch. Nhờ có sự chỉ đạo chiến lược, chúng ta đã làm tốt công tác phòng tránh, sơ tán, tổ chức tham gia đánh địch bảo vệ an toàn cơ sở lực lượng vật chất kỹ thuật ở các cấp; nhanh chóng chuyển hướng về mặt tổ chức, xây dựng, phát triển lực lượng, điều chỉnh bố trí các đơn vị, cơ sở bảo đảm phù hợp điều kiện chiến tranh; coi trọng xây dựng, mở rộng các tuyến hành lang vận tải chi viện chiến lược, không ngừng phát huy sức mạnh bảo đảm cho các chiến trường đánh thắng. Quân chủng PK-KQ là đơn vị tiêu thụ xăng dầu rất lớn, vì vậy, việc chuẩn bị xăng dầu, nhất là nhiên liệu bay cho chiến dịch được TCHC chỉ đạo sát sao. Các sân bay đều có dự trữ đủ theo quy định và theo sức chứa của sân bay, bảo đảm cho từ 30 đến 40 ngày chiến đấu. Trước ngày mở màn chiến dịch, Sư đoàn Không quân 371 đã tiếp nhận 6.261 tấn nhiên liệu bay TC-1, dầu mỡ phụ bảo đảm đủ đến quý I-1973. Các kho chiến lược của TCHC cũng chuẩn bị sẵn sàng chi viện trực tiếp cho các sân bay trên các hướng.

Quán triệt quan điểm “Không ngừng nâng cao khả năng bảo đảm chiến đấu cho quân đội”, ngành hậu cần đã ra sức xây dựng, mở rộng tổ chức lực lượng, phát triển mạnh cơ sở, đơn vị bảo đảm, tăng cường tổ chức lực lượng hậu cần chiến lược đi đôi mở rộng phân cấp, kiện toàn lực lượng, nâng cao khả năng bảo đảm của hậu cần các cấp. Hệ thống cơ sở thu dung điều trị được nhanh chóng mở rộng, đã nâng cao rõ rệt khả năng điều trị ở các tuyến. Thực hiện kết hợp quân y và dân y xây dựng mạng lưới cấp cứu, tải thương, điều trị rộng khắp, hình thành các khu vực bảo đảm quân dân y trên các địa bàn tác chiến với một số cơ sở điều trị làm trung tâm kỹ thuật ở từng khu vực bảo đảm; tăng cường khả năng cho các tuyến trước; tăng cường chất lượng cán bộ và phương tiện kỹ thuật, dự trữ thuốc men cho các đơn vị chiến đấu độc lập ở xa. TCHC trực tiếp chỉ đạo Quân y Quân chủng PK-KQ làm tốt tổ chức cứu chữa, điều trị thương binh, bệnh binh; thực hiện tốt chủ trương “tích cực chủ động đánh địch kết hợp phòng tránh để chiến đấu lâu dài”, nên mặc dù Mỹ đã huy động cao độ sức mạnh của không quân để đánh phá, nhưng số thương vong đã được hạn chế. Các phương án cấp cứu hàng loạt đã được dự kiến trước, các tổ đội chống sập, chống cháy nổ được thành lập. Đặc biệt, công tác kiểm tra từ quân chủng đến đơn vị được làm nhiều lần, vật chất được bổ sung kịp thời, nên mặc dù có tới 24 đơn vị, trận địa bị máy bay địch đánh trúng, có đơn vị bị thương số lượng lớn, nhưng đã giải quyết cấp cứu tốt thương binh, 100% được băng bó, hồi sức, chống choáng đưa đến tuyến sau, giảm thời gian điều trị, trả nhanh quân số về chiến đấu…

Như vậy, có thể thấy đường lối lãnh đạo của Đảng đã được vận dụng sáng tạo vào thực hiện nhiệm vụ bảo đảm hậu cần, góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch phòng không năm 1972. Có nhiều bài học được rút ra trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai, đặc biệt là cần nghiên cứu nắm chắc tình hình địch, ta, địa hình, thời tiết, tình hình kinh tế-xã hội địa phương, chuẩn bị về cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật; từng bước nghiên cứu đổi mới, hoàn thiện phương thức bảo đảm phù hợp điều kiện tác chiến mới, tạo nên thế và lực bảo đảm kịp thời, đầy đủ cho chiến đấu và giành chiến thắng của các lực lượng PK-KQ.

Đại tá, TS NGUYỄN ĐÔNG THỨC
qdnd.vn

Giá trị to lớn của nhân tố chính trị, tinh thần

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Thời gian càng lùi xa thì ý nghĩa lịch sử và tầm vóc của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” càng rực sáng. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là biểu tượng cao đẹp về sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố chính trị, tinh thần có ý nghĩa quyết định và được thể hiện trước hết ở đường lối lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng, Bác Hồ và Quân ủy Trung ương. Trên cơ sở nắm bắt quy luật khách quan, với tầm nhìn xa, trông rộng, với tư duy chính trị, quân sự sắc sảo, độc đáo, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra âm mưu, thủ đoạn thâm độc của Đế quốc Mỹ ngay từ đầu năm 1960 và dự báo: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội”… “Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”. Từ dự báo chiến lược đó Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Quân chủng Phòng không – Không quân và các quân khu “Phải sẵn sàng đối phó với khả năng Mỹ cho không quân, kể cả không quân chiến lược đánh phá trở lại miền Bắc”. Tháng 11-1972, trong một cuộc họp quan trọng của Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định: Âm mưu của Mỹ cho B-52 đánh thủ đô Hà Nội – linh hồn của cuộc kháng chiến – sẽ là hành động gây sức ép cuối cùng để buộc chúng ta phải nhân nhượng. Vì vậy chúng ta phải kiên quyết đánh thắng chúng trên bầu trời Thủ đô…

Sát cánh cùng Bộ đội ra-đa, tên lửa, lực lượng pháo cao xạ cũng được củng cố, với quyết tâm tạo nên lưới lửa dày đặc, thiêu cháy giặc trời. Ảnh tư liệu

Những dự báo, chỉ thị, chỉ đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu vang lên như lời hịch kêu gọi toàn dân, toàn quân ta “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Cháy bỏng ý chí quyết tâm dám đánh, biết đánh và quyết thắng B-52, quân và dân miền Bắc, đặc biệt là quân và dân Hà Nội, mà nòng cốt là Bộ đội Phòng không – Không quân đã xây dựng ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Bằng nhiều hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú, công tác giáo dục chính trị tư tưởng đã góp phần khơi dậy lòng tự tôn dân tộc; truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của cha ông, xây dựng lòng trung thành tuyệt đối của cán bộ, chiến sĩ vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng, niềm tin tất thắng vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc, hình thành bản lĩnh vững vàng của người chiến sĩ: Bình tĩnh, tự tin, không phiêu lưu mạo hiểm, không hoảng sợ trước sức mạnh vũ khí, trang bị của Mỹ. Với phương châm “người trước – súng sau”, khi mà kẻ thù tác chiến bằng phương tiện chiến tranh hiện đại, thì Đảng ta chỉ đạo, lấy yếu tố con người với nghị lực chiến đấu phi thường, với sức mạnh sáng tạo, trình độ cao về nghệ thuật tác chiến, làm chủ vũ khí trang bị hiện có, trong thế trận chiến tranh nhân dân để đánh địch.

Biến ý chí quyết tâm thành hành động cách mạng, với tinh thần hết sức khẩn trương, Bộ đội Phòng không – Không quân đã mở những “Hội nghị Diên Hồng” dân chủ bàn bạc, nghiên cứu, tìm ra cách đánh B-52 để huấn luyện, thống nhất các phương án tác chiến; điều chỉnh lực lượng, bổ sung khí tài, xây dựng thế trận phòng không – không quân; chấn chỉnh công tác bảo đảm phục vụ chiến đấu… Các lực lượng phòng không – không quân được bố trí tác chiến theo nhiều hướng, nhiều tầng, nhiều lớp tạo thành “vành đai lửa” trong thế trận “thiên la địa võng” trên bầu trời Hà Nội sẵn sàng tiêu diệt địch. Sau 12 ngày đêm chiến đấu kiên cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược đường không chủ yếu bằng B-52 của đế quốc Mỹ, làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, giáng đòn quyết định vào cố gắng cuối cùng của Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Pa-ri về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tạo ra bước ngoặt lịch sử làm tiền đề để đi đến thắng lợi trọn vẹn của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Bốn mươi năm đã trôi qua, nhìn lại Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” chúng ta càng thấy rõ nhân tố chính trị, tinh thần làm nên chiến thắng là kết tinh của truyền thống yêu nước Việt Nam trường tồn suốt chiều dài lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được nâng lên một tầm cao mới, trở thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh. Đó là sức mạnh của cuộc chiến tranh chính nghĩa – cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đã nhận được sự giúp đỡ to lớn, hiệu quả của các nước XHCN anh em, nhất là Liên Xô, Trung Quốc; sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng, dân chủ, hòa bình và của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ. Đó còn là sự thể hiện sức sống mãnh liệt của học thuyết Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng; đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và Bác Hồ kính yêu, tài mưu lược của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng trong việc kết hợp hài hòa giữa ý chí kiên định, bản lĩnh vững vàng, tài trí tuyệt vời của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta với năng lực lãnh đạo, chỉ huy khai thác hiệu quả tính năng, tác dụng các vũ khí được trang bị.

Tự hào về Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đang tận dụng thời cơ, vượt qua thử thách, vươn lên giành thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, như Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ ra. Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đứng trước cả những thuận lợi và thách thức đan xen. Các thế lực thù địch đang ráo riết tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng nước ta và khi có thời cơ chúng sẽ sẵn sàng phát động cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao. Do vậy, để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới, chúng ta phải xây dựng, chuẩn bị toàn diện, nhằm huy động cao nhất sức mạnh tổng hợp của cả nước, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Trong đó, xây dựng, phát huy nhân tố chính trị, tinh thần của nhân dân và quân đội vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Để xây dựng và phát huy nhân tố chính trị, tinh thần trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trước hết phải giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trang bị vũ khí, kỹ thuật ngày càng hiện đại cho lực lượng vũ trang trước hết cho một số lực lượng, trong đó có Bộ đội Phòng không – Không quân. Chủ động xây dựng, phát triển, huy động tiềm lực chính trị – tinh thần sẵn có thành sức mạnh chính trị – tinh thần khi chiến tranh xảy ra nhằm đánh thắng chiến tranh xâm lược kiểu mới của địch.

Nâng cao cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta; kịp thời phát hiện âm mưu, thủ đoạn xâm lược kiểu mới của địch, chủ động chuyển trạng thái chính trị – tinh thần của quân và dân từ thời bình sang thời chiến.

Phải xây dựng đất nước ổn định về mọi mặt, nhất là giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên phạm vi cả nước; không ngừng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; thực hiện tốt sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng và chế độ bằng việc thiết thực đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đưa các Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

Đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thống, bồi dưỡng tình cảm cách mạng, khơi dậy niềm tự hào, ý thức trách nhiệm của mọi cá nhân và các tổ chức xã hội; quan tâm và thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục quốc phòng – an ninh, gắn xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh. Quan tâm “xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp lý, với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, đồng thời quan tâm xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp”.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhiều bài học quý báu, nhất là bài học về phát huy nhân tố chính trị, tinh thần trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thượng tướng Ngô Xuân Lịch
qdnd.vn

Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam

Văn hóa dân tộc – “vũ khí bí mật” làm nên chiến thắng (*)

QĐND – Tháng 12-2012 chúng ta kỷ niệm trọng thể 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Chiến thắng này là khúc tráng ca bất tử của thời đại, nó kết tinh và tỏa sáng nhiều giá trị truyền thống của tinh hoa văn hóa dân tộc.

Dân tộc ta có cả một truyền thống tiến hành chiến tranh giữ nước. Truyền thống ấy được đúc kết từ hàng nghìn năm lịch sử, mà ở đó nhân tố quyết định chiến thắng không phải ở vũ khí mà là nhân tố con người, là những phẩm chất tinh thần đã được kết tinh thành những giá trị và ở mỗi giai đoạn thử thách khốc liệt nhất, những giá trị ấy đã tỏa sáng, trở thành nguồn lực to lớn giúp chúng ta đánh thắng kẻ thù vốn mạnh hơn ta nhiều lần cả về kinh nghiệm chiến tranh, quân số, trình độ tác chiến và trang bị.

Năm 1999, tôi đến thăm Đại học Texas Tech (Mỹ). Ở đây có Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và chính sách hậu chiến do TS James Reckner, nguyên là một đại úy CIA, chuyên nghiên cứu về vũ khí của Liên Xô và Trung Quốc ở chiến trường Việt Nam, từ 1968 đến 1970 ở chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng, làm Giám đốc. Ông James Reckner kể cho tôi nghe chuyện Trung tướng Nguyễn Đình Ước đã dự một cuộc hội thảo cùng hàng chục tướng tá và các nhà khoa học người Mỹ về chiến tranh ở Việt Nam. Có một vấn đề mà nhiều người Mỹ không lý giải được là vì sao họ thua ở Việt Nam? Họ đã nghe nhiều người Việt Nam nói rằng quân đội ta là những người có lý tưởng cao cả, dũng cảm, quân đội Mỹ và đồng minh không có được điều đó nên thua là tất yếu… Họ nghe, biết vậy nhưng chưa tin. Nhưng khi Trung tướng Nguyễn Đình Ước nói, họ thua vì truyền thống văn hóa dân tộc trong một thời điểm nào đó đã nhân lên sức mạnh cho Quân đội nhân dân Việt Nam và đó là điều bí mật, là “vũ khí bí mật” của người Việt Nam, thì lúc đó họ mới tin là như thế.

Trong một bài viết ngắn gọn, sâu sắc về lòng yêu nước của người Việt Nam, Bác Hồ viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Sẵn sàng để Tổ quốc không bị bất ngờ. Ảnh: Vũ Quang Thái

Lần giở lại lịch sử dân tộc ở những thời khắc quyết định của những trận đánh lớn, mang ý nghĩa quyết định một cuộc chiến tranh như ba lần nhà Trần chiến thắng quân xâm lược Nguyên-Mông, trận đánh của Quang Trung đại phá 20 vạn quân Mãn Thanh, giải phóng kinh thành Thăng Long, thống nhất đất nước, trận Điện Biên Phủ năm 1954 có ý nghĩa kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, mở đầu một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc trên phạm vi toàn thế giới và trận “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 chúng ta thấy truyền thống văn hóa dân tộc như một nhân tố tạo nên chiến thắng của những trận đánh lịch sử này.

Trong một lần đến thăm Giáo sư Trần Văn Giàu, ông có trò chuyện với chúng tôi về truyền thống văn hóa và cách khai thác truyền thống ấy trong đời sống hiện đại. Là giáo sư lịch sử, đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về cách chống xâm lăng của ông cha ta, nhưng giáo sư nói rằng, cho đến tận lúc đó (2001) ông vẫn chưa lý giải được vì sao trong Cách mạng tháng 8 năm 1945 chúng ta chỉ có khoảng 5000 đảng viên mà lại lãnh đạo được nhân dân cả nước làm cuộc cách mạng dân tộc có một không hai trong lịch sử. Theo giáo sư, cái độc đáo của cuộc cách mạng ấy không phải chỉ ở chỗ chúng ta giành được độc lập mà là cách giành độc lập hết sức độc đáo, sáng tạo. Căn nguyên của sự sáng tạo này, theo giáo sư, là Việt Minh, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, biết dựa vào dân, biết khơi dậy ở nhân dân sức mạnh của lòng yêu nước, khát vọng được sống trong độc lập, tự do. Từ đó sẽ tạo ra rất nhiều cách đánh, nhiều cách phát động nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền mang tính sáng tạo đặc biệt. Ở một khía cạnh khác, ông cũng cho biết là bản thân ông không thể cắt nghĩa nổi vì sao khi chiếm Ninh Bình, đội quân xâm lược Pháp chỉ có 18 tên, trong đó có một tên ốm, mà chúng vẫn đạt được mục đích. Phải chăng đó là do vận nước ở vào lúc bĩ, hay nói đúng hơn, là lòng dân đã không còn gắn bó với chế độ nhà Nguyễn, khi mà lòng dân ly tán và xã hội bị chia rẽ đến tận tế bào thì không gì có thể cứu vãn được.

Trở lại với Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 lịch sử, chúng ta nên nhìn nhận lại quá trình chuẩn bị cho trận đánh mang tầm chiến lược này ở những thời gian và những chuẩn bị liên quan đến nó. Từ tháng 4-1972 chính quyền Mỹ đã thực hiện nhiều hành động chiến tranh và đối ngoại hòng làm suy yếu thế và lực của chúng ta. Chúng phong tỏa cảng Hải Phòng để ngăn cản con đường tiếp tế của Liên Xô và các nước XHCN khác, ném bom hủy diệt thành phố cảng, thực hiện chính sách ngoại giao hòng cô lập chúng ta. Tất cả những hành động ấy, thực tế, đã đặt chúng ta trước thử thách khốc liệt. Trước khi đánh Hà Nội và vùng phụ cận bằng máy bay ném bom chiến lược B-52, chúng cũng cho nhiều loại tiêm kích và cường kích khác đồng thời tấn công các kho tàng, bến bãi, các cơ sở dự trữ cho kháng chiến của chúng ta. Về vũ khí, ưu thế gần như tuyệt đối thuộc về phía kẻ thù. Về đội ngũ phi công, Mỹ cũng có nhiều người có nhiều giờ bay và kinh nghiệm hơn các chiến sĩ mới được “ra lò” từ trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại. Nhưng cách đánh của chúng ta, cách đánh hợp đồng binh chủng, phối hợp của các loại vũ khí thuộc đủ tầm cao, tầm thấp, cách đón lõng, phục kích, cách “giải mã” nhiễu, cách tìm đúng B-52 mà đánh của lưới lửa phòng không của chúng ta “khiến quân thù phải sợ”. Hồi ký của nhiều tướng lĩnh, nhiều nhà khoa học quân sự đã phân tích nhiều bài học lớn về chiến lược chuẩn bị đánh “pháo đài bay” ngay từ khi kẻ thù chưa hề bay vào vùng trời Hà Nội, từ chiến thuật nghi binh, táo bạo, bất ngờ, quả cảm, tìm đúng yếu huyệt kẻ thù để đánh đòn chí mạng, từ sự sáng suốt chọn thời điểm, chọn thế, chọn cách đánh cho từng binh chủng, chọn người cho từng trận v.v.. đều thấm đẫm truyền thống đánh giặc giữ nước của cha ông ta. Có thể nói, các quân binh chủng của chúng ta đã đánh địch theo cách và thế trận của mình, theo khả năng và sự sáng tạo của mình. Những yếu tố đó đã trở thành một bản đại hợp xướng bảo đảm cho thắng lợi cuối cùng.

Liều lĩnh, tàn bạo và tham vọng như thế nhưng cuối cùng Mỹ đã phải thú nhận thất bại và đặt bút ký vào bản Hiệp định đình chiến, chấm dứt sự có mặt của quân đội Mỹ ở Việt Nam. Chúng đã thua trận. “Vũ khí bí mật” của Việt Nam không phải nằm ở khí tài, trang bị mà ở cách đánh giàu tính sáng tạo, đầy tinh thần quả cảm, in đậm ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, được khơi dậy từ tinh thần yêu nước, căm thù giặc, từ tinh thần “chúng muốn biến ta thành tro bụi, ta hóa vàng nhân phẩm lương tâm/ Chúng muốn ta cúi mình ô nhục, ta làm sen thơm ngát giữa đời” (Tố Hữu).

Không sức mạnh nào có thể bẻ gãy ý chí của cả một dân tộc, không gì có thể chiến thắng được khát vọng của cả dân tộc. Đó là truyền thống văn hóa từ hàng ngàn năm đã kết tinh thành sức mạnh, thành điểm tựa cho một đất nước. Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của chúng ta đã khơi đúng nguồn mạch ấy và trận thắng B-52 năm 1972 chỉ là minh chứng cho sự đúng đắn này. Chúng ta đã chiến thắng là vì thế.

GS, TS PHẠM QUANG LONG (Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội)
qdnd.vn

(*) Trích tham luận gửi về Hội thảo Khoa học “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam” – Đầu đề của Báo Quân đội nhân dân

Tổ chức lực lượng chặt chẽ, bố trí trận địa linh hoạt

QĐND – Năm 1972, sau những thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam, chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đứng trước nguy cơ phá sản hoàn toàn, để cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ liều lĩnh thực hiện Chiến dịch Lai-nơ Bếch-cơ II, huy động lực lượng lớn không quân, hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam, trọng tâm là Hà Nội, Hải Phòng.

Trước mưu đồ thâm độc của kẻ thù, ngay từ tháng 6-1972, Bộ tư lệnh Thủ đô thành lập 8 đại đội tự vệ tập trung, thoát ly sản xuất. Trong nội thành, mỗi khu phố tổ chức 1 đại đội pháo phòng không 100mm gồm 5 khẩu đội để tăng cường hỏa lực bắn máy bay địch. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị phần lớn là công nhân của các xí nghiệp được tập trung lại. Riêng Xí nghiệp đóng xe ca Hà Nội đảm nhiệm tổ chức đại đội của khu Ba Đình. Ở ngoại thành, mỗi huyện tổ chức 1 đại đội bộ binh tập trung, trang bị đủ súng đạn, làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu trên địa bàn huyện. Hệ thống trận địa bắn máy bay bay thấp của DQTV được tổ chức thành 62 trận địa trực chiến, bố trí sát mục tiêu bảo vệ. Trong nội thành, những cơ quan, xí nghiệp có từ 70 tự vệ trở lên tổ chức các đơn vị chiến đấu trang bị súng máy cao xạ cơ động đánh địch nhưng không hoàn toàn thoát ly sản xuất. Các cơ quan xí nghiệp có dưới 70 tự vệ được trang bị súng bộ binh làm nhiệm vụ chiến đấu tại chỗ và là lực lượng xung kích trong khắc phục hậu quả bom, đạn địch. Ở ngoại thành, dân quân, du kích mỗi thôn xã đều chia thành ba lực lượng gồm: Lực lượng chiến đấu cơ động được trang bị súng máy cao xạ; lực lượng chiến đấu tại chỗ được trang bị súng bộ binh và lực lượng phục vụ chiến đấu… Sau khi ổn định tổ chức, tập trung huấn luyện cấp tốc, từ ngày 25-8-1972, bốn đại đội pháo 100mm của 4 khu phố nội thành lần lượt ra trực chiến, trận địa bố trí ở khu vực tiếp giáp giữa nội thành và ngoại thành.

Đại đội 4 pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô nổ súng mãnh liệt, trừng trị máy bay Mỹ đến gây tội ác trong 12 ngày đêm tháng 12/1972. Ảnh: Văn Bảo – TTXVN.

19 giờ 25 phút ngày 18-12-1972, chiến dịch phòng không của ta chống lại cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ bắt đầu. DQTV Thủ đô tham gia chiến dịch có 4 đại đội pháo 100mm (20 khẩu), 192 trận địa với 721 khẩu súng máy phòng không 14,5mm, 12,7mm và hơn 40.000 DQTV trang bị súng trường, tiểu liên, súng cối sẵn sàng cơ động đánh địch đổ bộ đường không, truy bắt giặc lái. Để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do bom, đạn địch, Hà Nội tổ chức cho 55 vạn người sơ tán, đào hàng vạn hố cá nhân, hàng trăm hầm tập thể, hơn 10.000km giao thông hào… Tuy VKTB thô sơ, lực lượng không nhiều nhưng do tổ chức chặt chẽ, bố trí hợp lý, làm tốt công tác PKND nên ta đã tạo được thế trận phòng không rộng khắp nhiều tầng, nhiều lớp, lưới lửa dày đặc, có thể đánh địch từ nhiều hướng, nhiều tầm, làm hạn chế ưu thế của các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ…

Bước vào chiến đấu, thế trận PKND của thủ đô Hà Nội tiếp tục được củng cố, hoàn thiện và đã phát huy ưu thế. Dưới sự chỉ huy thống nhất từ Bộ Tổng tham mưu, trực tiếp từ Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ, các đơn vị PK-KQ, các đơn vị trực chiến của DQTV đã chiến đấu mưu trí, kiên cường tiêu diệt các loại máy bay chiến lược, chiến thuật của Mỹ… Quá trình chiến đấu, LLVT Thủ đô luôn thể hiện rõ sự mưu trí, dũng cảm, kiên cường, kịp thời điều chỉnh thế trận tạo thành lưới lửa phòng không tầm thấp không cho địch tự do đánh phá các mục tiêu, buộc chúng phải nâng độ cao, tạo điều kiện cho bộ đội tên lửa và không quân phát huy ưu thế tiêu diệt máy bay B-52…

Để gây căng thẳng thường xuyên cho nhân dân ta, địch dùng thủ đoạn cho máy bay F-111 hoạt động ở độ cao thấp và rất thấp, liên tục đột nhập vùng trời Hà Nội đánh phá các mục tiêu… LLVT Thủ đô kịp thời điều chỉnh lực lượng, tổ chức đội hình, bố trí trận địa hợp lý: Tổ chức và trực tiếp chỉ huy một đại đội tự vệ với 5 súng máy cao xạ 14,5mm gồm 3 trung đội tự vệ: Nhà máy Gỗ Hà Nội, Nhà máy Cơ khí Mai Động và Nhà máy Cơ khí Lương Yên. Đại đội có nhiệm vụ bắn máy bay bay thấp, chủ yếu là F-111, bảo vệ nhà máy và các mục tiêu cảng sông Hồng, Bệnh viện Việt-Xô, Viện Quân y 108. Sáng 22-12, đại đội cơ động đến trận địa Vân Đồn, bố trí chiến đấu nhằm phục kích, đón lõng đường bay đột nhập của địch. Công tác chuẩn bị chiến đấu của đại đội xong trước 16 giờ. Vào 20 giờ, đại đội nhận lệnh vào cấp 1, toàn đại đội vào vị trí. 20 giờ 18 phút, các khẩu đội bắt mục tiêu đồng loạt nổ súng, máy bay địch trúng đạn bốc cháy rơi xuống Lương Sơn (Hòa Bình). Chiến công này đã tăng thêm niềm tin chiến thắng, động viên mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của quân dân Hà Nội.

Từ ngày 25-12, địch thực hiện thủ đoạn mới: Ban ngày dùng máy bay chiến thuật đánh phá ác liệt các trận địa phòng không, sân bay; Ban đêm huy động máy bay B-52 và máy bay chiến thuật, đánh phá các mục tiêu ở cả Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên… Đối phó với sự thay đổi chiến thuật của địch và rút kinh nghiệm chiến đấu, Bộ tư lệnh Thủ đô tổ chức lại thành 23 trận địa tập trung, bố trí thành từng cụm phục kích đón lõng các đường bay của địch, 4 đại đội pháo 100mm được bổ sung đạn. Nhờ đó, hiệu quả chiến đấu của quân dân ta ngày càng cao.

Với vị trí cửa ngõ, áo giáp chở che, quân dân Hà Tây luôn sát cánh, chia lửa, hiệp đồng chặt chẽ với quân dân Thủ đô tạo thế trận liên hoàn hiểm hóc vùi thây những “pháo đài bay”, “con ma”, thần sấm”, “cánh cụp, cánh xòe”, không cho chúng tiếp cận các mục tiêu đánh phá trên địa bàn Thủ đô. Trận địa phòng không tầm thấp của DQTV được tổ chức triển khai phục kích, đón lõng trên các hướng máy bay địch vào đánh phá Hà Nội. Ở khu vực thị xã Hà Đông và thị xã Sơn Tây, trận địa 12,7mm của tự vệ được triển khai bố trí ngay trên nóc các tòa nhà cao tầng. Tại các huyện: Ba Vì, Phúc Thọ, Đan Phượng, Thường Tín, Phú Xuyên… các trận địa pháo 37mm của DQTV được bố trí chốt giữ các đoạn đê xung yếu. Cùng với hệ thống trận địa phòng không tầm thấp, hàng nghìn quả khinh khí cầu có gài thêm thuốc nổ thả trên bầu trời không cho máy bay địch luồn lách tiếp cận mục tiêu và lẩn tránh đòn đánh chính xác của bộ đội tên lửa… Trong 12 ngày đêm, dân quân tập trung huyện Mỹ Đức bắn cháy 1 máy bay F-4; tự vệ Nông trường Xuân Mai bắn cháy 1 máy bay F-111, du kích tập trung huyện Chương Mỹ, các phân đội cơ động của Trung đoàn Ngô Quyền, Nguyễn Trãi phối hợp với quân dân huyện Lương Sơn vừa truy bắt giặc lái vừa tham gia tiêu diệt 1 máy bay trực thăng Mỹ đến cứu đồng bọn. Các trận địa phòng không tầm thấp của DQTV liên tục chiến đấu buộc máy bay Mỹ phải nâng độ cao, tạo điều kiện cho các đơn vị tên lửa tiêu diệt 5 máy bay các loại…

Qua 12 ngày đêm với sự phối hợp hiệp đồng chặt chẽ và tinh thần chiến đấu quả cảm, LLVT bảo vệ thủ đô Hà Nội gồm các đơn vị chủ lực đứng chân trên địa bàn và DQTV Thủ đô đã bắn rơi hàng chục máy bay B-52 và hàng chục máy bay chiến thuật của địch. Thất bại nặng nề, 7 giờ ngày 30-12-1972, Tổng thống Ních-xơn phải tuyên bố chấm dứt cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng, ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra…

Chiến dịch phòng không 12 ngày đêm cuối năm 1972 của quân dân ta toàn thắng có ý nghĩa hết sức quan trọng, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Thắng lợi của quân dân Thủ đô là thắng lợi mang tính truyền thống, là chiến công của hào khí Thăng Long-Đông Đô-Hà Nội, khởi nguồn từ đạo lý dân tộc “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo” và từ sự thấm nhuần chân lý thời đại “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Thắng lợi đã ghi thêm vào trang sử vàng của dân tộc một chiến công hiển hách, huy hoàng làm tỏa sáng và nâng giá trị văn hóa 1000 năm Thăng Long – Hà Nội lên tầm cao mới để Hà Nội thực sự trở thành “Thủ đô của phẩm giá con người”.

Thiếu tướng PHÍ QUỐC TUẤNTư lệnh Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội
qdnd.vn

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: Thăm Bảo tàng Chiến thắng B-52 (xem Clip)

QĐND Online – “…Chúc Bảo tàng Chiến thắng B-52 tiếp tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình để góp phần làm cho ý chí quật cường, sáng tạo và sự bình tĩnh của nhân dân Thủ đô trước những thách thức khốc liệt nhất, trở thành tài sản văn hóa của mỗi người Việt Nam”. Đó là lời chúc của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân dành tặng Bảo tàng Chiến thắng B-52 trong chuyến thăm chiều 27-12.

Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tham quan phần trưng bày ngoài trời

Bảo tàng Chiến thắng B-52 và Khu di tích Hồ Hữu Tiệp đã được nâng cấp, cải tạo và hoàn thành trước khi đón khách tham quan vào đúng dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”- cuộc chiến đấu 12 ngày đêm thể hiện tầm cao trí tuệ, bản lĩnh Việt Nam.

Nội dung trưng bày sau khi được nâng cấp, cải tạo đã đảm bảo tính kế thừa, tính lịch sử và phát triển. Bảo tàng trưng bày hơn 7.115 hiện vật, 300 ảnh tư liệu. Phần trưng bày gồm các vũ khí, khí tài lập công trong 12 ngày đêm tháng 12-1972; xác máy bay B-52 của Mỹ bị quân và dân Thủ đô Hà Nội bắn rơi trên đường Hoàng Hoa Thám ngày 27-12-1972 bằng nhiều mảnh ghép lại, mô phỏng để người xem dễ hình dung ra chiếc máy bay B-52; trưng bày khái quát quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của LLVT Thủ đô Hà Nội qua các thời kỳ, đặc biệt trưng bày về 12 ngày đêm chiến đấu, chiến thắng B-52…

Nghe giới thiệu về khí tài tên lửa đã từng được sử dụng trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

Phó Thủ tướng trao đổi với nhân viên bảo tàng bên xác chiếc máy bay B-52.

Phó Thủ tướng bên bức tranh ghi lại tội ác của đế quốc Mỹ trong trận ném bom Bệnh viện Bạch Mai.

Sau khi chính thức mở cửa trở lại (ngày 5-12-2012), bảo tàng đã đón 63 đoàn đến tham quan, với 11.673 lượt người, trong đó có 617 khách nước ngoài.

Tham quan bảo tàng, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân biểu dương nỗ lực của cán bộ, công nhân viên bảo tàng trong việc hoàn thiện, nâng cấp bảo tàng để đón tiếp nhân dân và khách nước ngoài; mang đến giá trị tinh thần to lớn và góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ sau. Phó Thủ tướng đề nghị bảo tàng cần có thêm nhiều cải tiến, giúp du khách và đặc biệt là khách nước ngoài cảm nhận rõ ý nghĩa lịch sử của chiến dịch.

Phó Thủ tướng ghi lưu bút tại Bảo tàng Chiến thắng B-52.

Phó Thủ tướng đã để lại những dòng lưu bút, trong đó nhấn mạnh: “Những người đã sinh ra và trưởng thành trong thời kỳ này, những thanh niên Việt Nam ngày nay mãi mãi không bao giờ quên chiến thắng lịch sử Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không tháng 12 năm 1972, sẽ sống, chiến đấu và làm việc xứng đáng với truyền thống hào hùng của Thủ đô Hà Nội và của dân tộc…”.

Hoạt động của Phó Thủ tướng trong chuyến thăm Bảo tàng Chiến thắng B-52:

Thực hiện: THU HÀ – VIỆT CƯỜNG
qdnd.vn

Ngày 27-12-1972: Bộ đội Tên lửa và Không quân đều lập công

Ngày này 40 năm trước

QĐND – Sáng 27-12-1972, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến phố Khâm Thiên thăm hỏi, chia sẻ mất mát với đồng bào; đôn đốc các lực lượng khắc phục nhanh hậu quả tại Khâm Thiên. Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh đến thăm Bệnh viện Bạch Mai, khu lao động An Dương (Hà Nội). Thủ tướng Phạm Văn Đồng họp với các bộ, ngành, chủ tịch một số tỉnh, thành phố chỉ đạo các biện pháp cấp bách bảo đảm chiến đấu liên tục; tổ chức phòng tránh hiệu quả và khẩn trương khắc phục hậu quả do bom đạn Mỹ đánh phá.

Sáng 27-12, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội gửi điện khen Bộ đội Phòng không-Không quân, quân và dân Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Thái, các địa phương đã phối hợp hiệp đồng, chiến đấu hiệu quả trong đêm 26-12. Bộ Ngoại giao nước ta ra Tuyên bố lên án Chính quyền Mỹ dùng không quân đánh phá hủy diệt nhiều vùng đông dân ở Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương khác trên miền Bắc.

Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 72 Nguyễn Văn Chắt (đứng giữa) cùng kíp trắc thủ bắn rơi tại chỗ chiếc B-52G chưa kịp cắt bom. Ảnh Đình Xuân.

Ban ngày, Không quân Mỹ đã huy động hơn 100 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá dữ dội các trận địa tên lửa phòng không, các khu vực cầu Đuống, Gia Lâm, Đông Anh, Tổng kho Văn Điển và Đài phát thanh ở Mễ Trì (Hà Nội). Chiều 27-12, Không quân ta xuất kích, bắn rơi tại chỗ 2 máy bay F-4, bắt sống giặc lái. Với chiến công này, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội đã điện khen Bộ đội Không quân.

Đêm 27-12, Không quân ta bí mật cơ động máy bay MIG-21 lên sân bay Yên Bái phục kích máy bay B-52. Đến khoảng 23 giờ 30 phút, phi công Phạm Tuân bắn rơi một chiếc máy bay B-52, đây là chiếc máy bay B-52 đầu tiên bị Không quân ta bắn rơi kể từ đầu chiến dịch.

Đêm 27-12, Không quân Mỹ huy động 36 lần chiếc máy bay B-52 và 66 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh vào Hà Nội; 18 lần chiếc máy bay B-52 đánh vào Lạng Sơn; sử dụng 17 lần chiếc máy bay chiến thuật F-111 đánh phá sân bay, trận địa phòng không, nhà ga, các cơ sở công nghiệp của ta. Tại Hải Phòng, máy bay hải quân Mỹ đánh phá các sân bay, nhà máy, bến cảng. Các lực lượng phòng không của ta đã bắn rơi 13 máy bay Mỹ, trong đó có 5 chiếc B-52 (2 chiếc rơi tại chỗ). Đặc biệt, Tiểu đoàn 72 (tăng cường cho Sư đoàn 361) bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay B-52G còn nguyên bom đạn, rơi tại Ngọc Hà, Hà Nội.

XUÂN GIANG (tổng hợp)
qdnd.vn

Đại tá Phan Mạc Lâm – Người “lập hồ sơ B-52” giữa lòng Hà Nội (Kỳ 2)

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12-1972 / 12-2012)

Kỳ 2: Lời thú tội đầu năm

QĐND – Hội nghị ngày 6-7-1972 do Phó tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài và Vương Thừa Vũ chủ trì, đã nhấn mạnh các nội dung then chốt và phác thảo kế hoạch ban đầu trong triển khai để đánh thắng cuộc tập kích B-52 của đế quốc Mỹ. Mạc Lâm là người đầu tiên trong hội nghị, đại diện Cục Quân báo trình bày những nội dung làm cơ sở cho việc thảo luận. Tại hội nghị, ông đã trình bày các nội dung cơ bản về lực lượng không quân chiến lược B-52 và bố trí lực lượng B-52 của Mỹ; đặc điểm, tính năng của B-52, đội hình cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và các loại máy bay yểm trợ khác, cách ném bom bay bằng của B-52 (tốc độ, độ cao, khả năng mang bom, đạn…); về các loại máy bay yểm trợ trên không như F105, F4; thủ đoạn gây nhiễu của các loại máy bay, liên lạc trên không… Bản báo cáo của ông cũng đề xuất, kiến nghị cách đánh của ta (tên lửa, cao xạ, MiG và các loại súng phòng không khác); hoạt động của ra-đa, cách chống nhiễu…

Cùng với việc báo cáo, Mạc Lâm đã giải đáp những câu hỏi đặt ra của các đại biểu trong hội nghị. Đó là cơ sở quan trọng để hội nghị đánh giá tình hình địch, về lực lượng và khả năng của ta, đề xuất nhiều kế hoạch và biện pháp triển khai trên tinh thần khẩn trương đối phó kịp thời trong mọi tình huống.

Đại tướng Văn Tiến Dũng (bên trái) và Đại tá Phan Mạc Lâm.

Sau này, trong hồi ký, nhớ lại những ngày chuẩn bị cho việc đánh trả cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng; Mạc Lâm ghi lại cuộc gặp ngắn ngủi mà xúc động với Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Buổi sáng hôm đó, như thường lệ, tôi dậy sớm để đến nơi làm việc. Hồi đó, chúng tôi ở tập trung tại cơ quan trong thành nhưng đi làm việc ở nơi sơ tán. Đang loay hoay xỏ giày thì có người báo: “Mạc Lâm lên gặp Bộ trưởng gấp”. Anh bạn còn nói thêm: “Bộ trưởng đang chờ anh ở phòng Thủ trưởng Cục”. Tôi thoáng chút ngạc nhiên. Thực ra thì tôi cũng đã nhiều lần gặp Bộ trưởng. Bận trăm công ngàn việc nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn quan tâm đến công tác tình báo, trong kháng chiến chống Pháp cũng như trong kháng chiến chống Mỹ. Nhiều tin tức chúng tôi khai thác từ tù binh sau khi nghe Thủ trưởng Cục báo cáo, Đại tướng còn trực tiếp gặp chúng tôi để xác minh lại. Tôi đoán chắc là tin về B-52 đánh Hà Nội mà tôi vừa báo cáo làm cho Bộ trưởng quan tâm. Bước vào phòng, tôi nhận ra Bộ trưởng ngồi ở đấy rồi. Gương mặt Bộ trưởng tươi cười nhưng đượm vẻ lo âu, vẫy tay gọi tôi lại ngồi bên cạnh. Đúng như điều tôi suy nghĩ. Ông hỏi thăm về sức khỏe, về tình hình mới nhất chúng tôi vừa thu thập được về “B-52 sẽ đánh Hà Nội vào thời gian tới”. Bộ trưởng hỏi rất kỹ về thực lực không quân chiến lược, về điểm mạnh và điểm yếu của B-52. Kể cả những suy nghĩ băn khoăn của tôi không thể hiện qua báo cáo. Tôi bình tĩnh báo cáo. Bộ trưởng nói rất nhẹ nhàng, hỏi rất chi tiết, hình như cần sự khẳng định của tôi về những điều đã báo cáo. Hỏi xong, Bộ trưởng bắt tay chúng tôi, ra về trên gương mặt bình thản”.

Để có được thông tin “tương đối” về B-52 khi báo cáo Đại tướng-Tổng tư lệnh, Mạc Lâm thầm “cảm ơn” một tên phi công Mỹ đã thành khẩn khai nhận những thông tin quý giá đầu năm 1972. Người phi công này, cho đến nay ông vẫn giữ bí mật tên họ, vào cuối buổi hỏi cung đã nói nhỏ với ông:

– Các ông chú ý, người ta đang chuẩn bị B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng.

Bằng nghiệp vụ của mình, Mạc Lâm bình tĩnh giấu tâm lý hồi hộp, hỏi bâng quơ:

– Anh nói thật sao, Mỹ sẽ dùng B-52 đánh Hà Nội?

Người phi công tù binh thoát khỏi vẻ sợ sệt, anh ta thành khẩn:

– Tôi không mong rằng, tội ác này sẽ xảy ra. Nhưng khi đã tổ chức diễn tập thì việc Mỹ dùng B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng chắc chắn đã có trù liệu của Lầu Năm Góc.

Mạc Lâm nhìn chăm chú vào người phi công tù binh, hạ giọng:

– Anh có thể nói rõ hơn?

– Thưa ông, cách đây mười ngày, tôi tham gia trong đội hình diễn tập dùng B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Đó là một cuộc tập trận quy mô lớn phối hợp tác chiến mà lực lượng chủ yếu là B-52. Trong đội hình chiến đấu, ngoài B-52 còn có máy bay trinh sát RF 4C, QF 4C, các loại máy bay F105, F4D, máy bay gây nhiễu điện tử EC 121, đội cấp cứu và chỉ huy trên không…

Tù binh phi công Mỹ tại “khách sạn Hin-tơn” – nhiều người trong số họ đã hối lỗi, thành khẩn cung cấp cho ta nhiều tin tức có giá trị.

Lời thú tội của viên phi công, nếu xét về dự báo chiến lược thì không có gì bất ngờ, nhưng xét về thời điểm, lại vô cùng quý giá. Bấy lâu nay, câu hỏi “Khi nào Mỹ dùng đến B-52 làm nước cờ tàn cho cuộc chiến?” đặt ra, đã đến lúc có tín hiệu trả lời. Mạc Lâm đã hỏi kỹ, đưa ra nhiều tình huống để kiểm tra tính xác thực của những thông tin từ người phi công tù binh vừa khai báo. Ông đối chiếu với những tin tức đã khai thác ở các phi công tù binh khác rồi đi đến khẳng định: Tin về Mỹ dùng B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng là đúng. Mạc Lâm mừng lo lẫn lộn. Mừng vì có thông tin mới mà cấp trên đang cần sẽ giúp ta chuẩn bị để không bị bất ngờ trước âm mưu thâm độc của kẻ thù. Nhưng khi nghĩ đến hàng trăm chiếc B-52 ném bom rải thảm xuống Thủ đô thân yêu, nơi đầu não lãnh đạo cách mạng và cũng là nơi tập trung đông dân, lòng ông thắt lại. Sau những giây phút bàng hoàng, Mạc Lâm ngồi vào bàn, giở lại cuốn sổ ghi chép, nhớ lại những gì vừa xảy ra, ông làm báo cáo gửi ngay lãnh đạo Cục Quân báo.

Cuối tháng 11-1972, toàn miền Bắc đã chuẩn bị sẵn sàng đối đầu với cuộc leo thang quân sự tàn bạo nhất của Ních-xơn. Một kế hoạch của phòng không và không quân ta đánh trả cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng được triển khai trong toàn quân. Đầu tháng 12, địch tiếp tục leo thang mạnh. Có thêm nhiều tin tức tình báo mới liên quan đến việc Mỹ chuẩn bị khẩn trương cho chiến dịch dùng B-52 đánh Hà Nội, Hải Phòng. Từ tháng 10-1972, chúng tăng thêm lực lượng không quân chiến thuật, không quân, hải quân đến chiến trường Đông Nam Á. Bộ chỉ huy liên quân Mỹ điều chỉnh lực lượng B-52 ở căn cứ quân sự Gu-am và Thái Lan. Chúng ra lệnh kéo dài thời gian phục vụ tác chiến của phi công Mỹ ở chiến trường Thái Bình Dương, Đông Nam Á. Phi công Mỹ đều được phổ biến kế hoạch đánh lớn sắp tới và dự đoán được mục tiêu cụ thể!

Ngày 13-12-1972, Hội nghị Pa-ri bế tắc do thái độ ngoan cố lật lọng của phía Mỹ. Cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ là Kít-xinh-giơ tuyên bố đình chỉ vô thời hạn Hội nghị Pa-ri về Việt Nam. Ngày hôm sau, Tổng thống Mỹ Ních-xơn chính thức thông qua kế hoạch tập kích đường không chiến lược, chủ yếu bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng mang tên “Lai-nơ-bếch-cơ II” từ 17-12-1972 giờ Hoa Kỳ tức là ngày 18-12-1972 theo giờ Hà Nội. Lập tức, Mỹ triển khai thành lập Bộ chỉ huy Sư đoàn không quân chiến lược lâm thời số 57 để chỉ huy 3 liên đội máy bay B-52 gồm 193 chiếc với 250 tổ lái ở hai sân bay U-ta-pao (Thái Lan) và En-đơ-xơn (Gu-am). Chúng huy động thêm 50 máy bay KC 135 để tiếp dầu cho B-52 từ Mỹ sang Phi-líp-pin; đồng thời điều tiếp hai tàu sân bay In-téc-prai-đơ và Sa-ra-to-ga từ Hồng Công và Su-bích sang vịnh Bắc Bộ. Tham gia tập kích chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II còn có hơn 1000 máy bay chiến thuật được huy động từ khu vực Đông Nam Á. Tổng thống Ních-xơn “hy vọng” có thể dùng B-52 tập kích chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng hòng lật lại thế cờ trên bàn Hội nghị Pa-ri.

Phía ta đã chủ động xây dựng lực lượng phòng không nhân dân sẵn sàng giáng trả đích đáng máy bay của Mỹ. Một thế trận phòng không “thiên la địa võng” đủ cả tầm cao, tầm trung và tầm thấp đã được ta chuẩn bị.

Chiều 18-12-1972, Cục Quân báo đã báo cáo lên Bộ Tổng tham mưu dự kiến thời gian Mỹ tập kích B-52 vào Hà Nội. Đến khoảng 18 giờ thì hầu như khẳng định điều đó. Tức thì, Bộ Tổng tham mưu, Cục Tác chiến phổ biến đầy đủ đến từng đơn vị phòng không.

Thời điểm lịch sử đó, Mạc Lâm đã ghi vào nhật ký: “Hôm ấy tôi, Nguyễn Anh Lân, Lê Đạt, Lâm Hoài trực ban ở sở chỉ huy. Căn hầm trực chỉ huy của Cục không lớn, cạnh lầu Hoàng Diệu nằm sâu dưới khu vườn tăng gia có giàn mướp che phủ. Hầm đặt 3 bàn làm việc với đủ các hệ thống thông tin, liên lạc, bản đồ các loại và tài liệu cần thiết… Tuy vẫn nói chuyện bình thường, nhưng trong thâm tâm mọi người đều lo lắng. B-52 đánh bom, Hà Nội sẽ ra sao?”.

Trong hồi ký của mình, Mạc Lâm viết: “Sau hội nghị ngày 6-7-1972, dù đã báo cáo xong phần tin tức mình cung cấp nhưng tôi vẫn không thôi suy nghĩ về những thông tin của mình. Cảm giác hồi hộp, lo lắng, cứ ong ong trong đầu. Liệu những gì mình cung cấp cho cấp trên có chính xác không? Cái gì sẽ xảy ra, có điểm nào phi công tù binh khai man không? Có điểm gì mà mình chưa dự kiến hết không? Mỗi lần, nghĩ đến cuộc gặp Bộ trưởng tôi quên ăn, quên ngủ. Các tháng sau đó, chúng tôi thu thập thêm nhiều tư liệu, những dấu hiệu, động thái về sự chuẩn bị cho cuộc tập kích chiến lược ngày càng rõ dần. Không quân Mỹ đang chuẩn bị về công tác hiệp đồng của không quân chiến lược với một số đơn vị ở Thái Lan đã được tiết lộ”.

Tự đánh giá lại lo lắng, băn khoăn trên, sau ngày chiến thắng vẻ vang, Mạc Lâm viết thêm: “Trong 12 ngày đêm (năm 1972 – PV), Bộ phận hỏi cung theo chỉ đạo của Bộ, Cục Tác chiến và Cục đã hỏi và giải đáp được 3 yêu cầu chính: Kiểm tra lại và bổ sung các số liệu liên quan đến trận tập kích; khó khăn của địch và thiệt hại; mục tiêu đánh phá và thời gian của đợt tập kích…”.

Những thông tin quý giá trên đã góp phần để quân dân miền Bắc bình tĩnh, tự tin, sẵn sàng giáng trả B-52 những đòn đích đáng.

—————–

Kỳ 1: Lật tẩy “siêu pháo đài”

Kỳ 3: Cùng “cất vó B-52”

Bài và ảnh: HỒNG HẢI
qdnd.vn

Đại tá Phan Mạc Lâm – Người “lập hồ sơ B-52” giữa lòng Hà Nội

QĐND – Bà Nguyễn Thị Nghĩa, vợ nhà tình báo Phan Mạc Lâm, năm nay vào tuổi 74, cẩn thận đẩy chiếc thùng sắt to được khóa kỹ về phía tôi và nhẹ nhàng nói: “Cả cuộc đời ông ấy nằm ở đây. Lúc còn sống, ông ấy chẳng cho ai đụng vào. Nay tôi tin tưởng nhà báo quân đội, cho phép anh đọc, thấy cái gì có thể thông tin được đến bạn đọc thì khai thác”.

Trước mắt tôi là hàng nghìn trang tài liệu, nhật ký, hồi ký của Đại tá Phan Mạc Lâm, cán bộ tình báo chuyên hỏi cung tù binh trong suốt các cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Đặc biệt, trong 8 năm (1964-1972), ông đã khai thác thông tin từ tù binh là các phi công Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc.

Kỳ 1: Lật tẩy “siêu pháo đài”

Năm 2007, kỷ niệm 35 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, một số cựu chiến binh khi trò chuyện với phóng viên Báo Quân đội nhân dân cho rằng: “Để đánh thắng B-52, có sự đóng góp công sức, trí tuệ của rất nhiều lực lượng, trong đó có lực lượng tình báo quân sự, nhưng từ trước đến nay, ít người đề cập đến. Thời gian ngày càng lùi xa, có những điều trước đây là bí mật quân sự, không thể đề cập thì nay có thể đã được giải mật rồi nhưng thế hệ những nhà tình báo từng thầm lặng đóng góp vào chiến công kỳ diệu của năm 1972 thì ngày càng già đi, phải nhanh thì may ra mới khai thác được”.

Bà Nguyễn Thị Nghĩa xem lại hồ sơ, tư liệu của Đại tá Phan Mạc Lâm.

Chúng tôi đã vào cuộc ngay sau đó. Tìm đọc rất nhiều tài liệu, trao đổi với các cơ quan chức năng, kiên trì gặp gỡ các cựu chiến binh tình báo… nhưng những thông tin về hoạt động của tình báo quân sự trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 vẫn chỉ biết dưới những dòng tin khái quát, chung chung. Thật may, cũng tháng 12-1972, trên Báo Quân đội nhân dân đăng vệt bài của Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, nguyên Trợ lý tên lửa, Cục Tác chiến, Bộ Tổng tham mưu (năm 1972) với tựa đề “Những ngày tháng Chạp ở Tổng hành dinh”. Vệt bài này, đã giúp bạn đọc thấy rõ hơn sự chủ động trong chỉ đạo chiến lược của Bác Hồ, của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trong việc hoạch định kế sách đối phó với máy bay ném bom chiến lược B-52. Đáng chú ý, trong bài viết, tác giả nhắc đến tên một nhà tình báo mà chúng tôi đang cất công tìm hiểu về ông: “Ngày 6-7 (năm 1972-PV), tại ngôi nhà khép kín trong góc Thành cổ Hà Nội, các Phó tổng Tham mưu trưởng Vương Thừa Vũ, Phùng Thế Tài đã chủ trì hội nghị về đánh thắng B-52. Sau khi nghe 8 đồng chí có trọng trách lớn phát biểu ý kiến (Mạc Lâm, cán bộ Cục Quân báo; Lê Văn Tri, Tư lệnh Phòng không-Không quân; Đào Đình Luyện, Tư lệnh Không quân; Dương Hán, Phó tham mưu trưởng Phòng không-Không quân); Hoàng Đình Phu, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Quân sự; Trần Đại Nghĩa, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước; Nguyễn Văn Ninh”; đồng chí Phùng Thế Tài kết luận: Mỹ sẽ đem B-52 đến ném bom Hà Nội, Hải Phòng và các vùng lân cận vào lúc ta đang thắng lớn ở miền Nam mà Mỹ lại ngoan cố muốn ép ta ở Hội nghị Pa-ri. Chúng sẽ đánh tất cả các mục tiêu, kể cả khu đông dân. B-52 sẽ ném bom đêm, gây nhiễu rất nặng, bay cao 10-11km. Chiến thuật địch rất máy móc, lệ thuộc vào điều kiện sẵn có. Không quân chiến thuật bảo vệ đội hình B-52, dùng nhiều tên lửa sơ-rai để chế áp trận địa tên lửa, ra-đa của ta. B-52 bay bằng cắt bom…”.

Trong số “8 đồng chí có trọng trách” mà Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh nhắc đến, đều là những cán bộ cấp cao của quân đội mà tiểu sử, sự nghiệp đã được đông đảo nhân dân biết đến, duy cái tên Mạc Lâm vẫn rất “bí ẩn”. Trong suốt 40 năm qua, hàng nghìn bài báo, cuốn sách trong nước đã được xuất bản xung quanh chiến thắng B-52, nhưng tìm kiếm trên mạng, cái tên Mạc Lâm vẫn hoàn toàn không xuất hiện.

Cuộc đời và sự nghiệp của nhà tình báo Phan Mạc Lâm, thông qua “kho” tư liệu mà bà Nguyễn Thị Nghĩa cung cấp, thật vô cùng phong phú, thú vị với nhiều tình tiết hấp dẫn của nghề tình báo. Ông được cử tham gia Ban hỏi cung của Cục Quân báo ngay từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, từng được tin tưởng giao nhiệm vụ hỏi cung tướng Đờ Cát ngay sau Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954. Nhưng, trong khuôn khổ của bài báo này, chúng tôi xin phép chỉ kể xung quanh chủ đề chính.

Sơ đồ đội hình B-52 bay vào đánh phá Hà Nội do cơ quan tình báo quân sự của ta vẽ lại từ lời khai của tù binh Mỹ.

Như chúng ta đã biết, theo chỉ đạo của Bác Hồ, ngay từ khi giặc Mỹ gây hấn, mang bom đạn ra đánh phá miền Bắc, Bộ đội Phòng không-Không quân và ngành quân báo đã để mắt nghiên cứu về B-52. Còn Mạc Lâm, ông thực sự thu thập tài liệu về B-52 từ khi nào? Đọc trong nhật ký, hồi ký, có thể khẳng định: Ông bắt đầu “lập hồ sơ B-52” từ cuối năm 1968. Đó là thời điểm sau khi đế quốc Mỹ ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Quân chủng Phòng không-Không quân: “Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương vừa nhận định: Mỹ tạm ngừng ném bom là vừa để tỏ vẻ thiện chí, vừa để tập trung không quân đánh phá quyết liệt ngăn chặn giao thông của ta từ Nghệ An trở vào. Tuy xuống thang, địch có khả năng đánh phá trở lại phía Bắc. Vì vậy, đi đôi với việc đẩy mạnh cuộc chiến đấu bảo vệ giao thông ở Quân khu 4, bộ đội phòng không-không quân cần tăng cường cảnh giác, tích cực chuẩn bị, sẵn sàng đánh bại âm mưu địch đánh phá trở lại các tỉnh phía Bắc nhất là Hà Nội. Tuyệt đối không để bị bất ngờ”.

Với trách nhiệm của nhà tình báo, Mạc Lâm tập trung khai thác hàng trăm phi công Mỹ, lúc đó bị bắt tập trung về nhà giam Hỏa Lò, nơi phi công Mỹ tự ví von là “khách sạn Hin-tơn”. Lúc đó, “khách hàng” của Mạc Lâm không có ai là phi công B-52, nhưng bằng mẫn cảm nghề nghiệp, ông hiểu rằng, khai thác từ phi công lái các loại máy bay chiến thuật F4, F105 thì cũng sẽ “vỡ” ra nhiều điều về B-52, với mệnh danh “siêu pháo đài bay”, lúc đó đang được Mỹ huênh hoang tuyên truyền về sức mạnh vô song của nó. Đúng như dự đoán của Mạc Lâm, nhiều viên phi công đã khai rằng, thời kỳ huấn luyện trước khi tham chiến tại Việt Nam, họ đều được tham gia diễn tập với B-52 về tập kích đường không chiến lược.

Thông tin từ tù binh Mỹ cũng hé lộ rằng: Đội hình B-52 đánh vào Hà Nội, tất sẽ có nhiều thành phần máy bay khác trong hoạt động yểm trợ như hộ tống, chế áp tên lửa, cao xạ đối phương kể cả việc chiếm lĩnh ưu thế trên cao của các máy bay F4, F105 được bố trí ở các căn cứ không quân được đặt xung quanh miền Bắc Việt Nam.

Kiên nhẫn khai thác, cẩn trọng kiểm tra đối chứng lời khai của từng phi công, trong đó có cả những phi công kỳ cựu có từ 5000 đến 6000 giờ bay; có tên từng là chỉ huy cấp cao của đối phương, Mạc Lâm đã có trong tay hàng nghìn trang tài liệu cần thiết về tính năng, đặc điểm của máy bay B-52 với những ưu điểm, nhược điểm vốn có của nó; trang thiết bị, kỹ thuật điện tử cũng như khả năng mang bom và các loại bom của B-52. Đội hình cơ bản của một biên đội B-52; cơ cấu thành phần một trận tập kích bằng B-52 vào một mục tiêu nào đó và khu vực dự kiến mục tiêu đánh phá sắp tới; đường bay các hướng từ các căn cứ không quân ở Nhật Bản, Thái Lan, đảo Gu-am… đến Việt Nam-Hà Nội; khu vực tiếp dầu trên không, sở chỉ huy trên không; đường rút lui của B-52… Tất cả đều được “lập hồ sơ” kỹ càng. Vào thời điểm đầu năm 1972, những hiểu biết này về B-52 có tác dụng rất cần thiết đối với bộ đội ta, nhất là với lãnh đạo Quân chủng Phòng không-Không quân để bổ sung hoàn chỉnh các phương án tác chiến mà những đơn vị đã dày công nghiên cứu xây dựng trong quá trình chuẩn bị. Con đường “vào hang bắt cọp” của bộ đội ta, không chỉ được thực hiện bằng sự hy sinh xương máu trên chiến trường Khu 4, mà bằng cả cuộc đấu trí của các nhà tình báo hỏi cung giữa lòng Hà Nội.

Vào đầu tháng 6-1972, Mạc Lâm và một số cán bộ tình báo khác được giao nhiệm vụ đặc biệt: Tìm hiểu khả năng leo thang cao nhất về cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ trên miền Bắc, trong đó chủ yếu là đánh giá lực lượng không quân chiến lược của Mỹ và dự kiến cuộc tập kích bằng B-52 vào Hà Nội. Cục trưởng Cục Tình báo Phan Bình chỉ định: “Mạc Lâm tổng hợp tình hình, chuẩn bị tài liệu tham gia hội nghị của Bộ Tổng tham mưu ngày 6-7-1972 để trình bày nội dung chuyên đề đặc biệt vừa nghiên cứu”.

Trước khi hội nghị diễn ra, bằng sự chuẩn bị công phu, có kết hợp kiểm chứng thông qua các nguồn tin khác, Mạc Lâm đã nắm chắc thông tin về các loại máy bay, về kỹ thuật, chiến thuật của từng loại mà Mỹ đã, đang và sẽ sử dụng khi đánh vào Hà Nội… Hơn thế nữa, tin tức tình báo chiến lược còn giúp ông đánh giá được cả tiềm lực quốc phòng của Mỹ vào thời điểm đó, từ lực lượng thường trực, lực lượng dự bị chiến lược của không quân, hải quân Mỹ cũng như các quân chủng, binh chủng. Đây là những thông tin rất quan trọng để chúng ta có thể hình dung toàn thể khả năng leo thang chiến tranh của Mỹ. Riêng về không quân, Mạc Lâm đã có thêm nguồn tin về khả năng sản xuất máy bay hằng năm, về các loại máy bay, các loại bom đạn, các loại máy móc, thiết bị điện tử mới sản xuất của đế quốc Mỹ. Thông qua hỏi cung, ta cũng nắm được sự bố trí của lực lượng quân sự Mỹ ở Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và ngay tại nước Mỹ; tình hình luân phiên, điều chỉnh lực lượng, đặc biệt là bố trí lực lượng không quân chiến thuật, không quân của hải quân ở vịnh Bắc Bộ, ở miền Nam và ở các căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Lan, Nhật Bản, Gu-am… Tất cả những thông tin đó, đều vô cùng cần thiết cho sự chuẩn bị đáp trả, giáng những đòn đích đáng nhất lên đầu bè lũ Ních-xơn đang lồng lộn “đưa Hà Nội về thời kỳ đồ đá”.

—————-

Kỳ 2: Lời thú tội đầu năm

Bài và ảnh: HỒNG HẢI-NGUYỄN NGỌC
qdnd.vn

Người chỉ huy kíp chiến đấu hạ gục “pháo đài bay” giữa lòng Hà Nội

QĐND – Trong chúng ta, chắc chắn không ít người đã có dịp được thấy phần thân máy bay hiện đang nằm ở hồ Hữu Tiệp (làng hoa Ngọc Hà, thành phố Hà Nội) và một bộ phận động cơ của nó được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Đó là chứng tích của chiếc “siêu pháo đài bay B-52” bị bộ đội Tiểu đoàn Tên lửa 72, Trung đoàn 285 (Đoàn Nam Triệu) bắn rơi tại chỗ đêm 27-12-1972. Người Tiểu đoàn trưởng chỉ huy kíp chiến đấu bắn rơi chiếc B-52 ấy giờ là một ông già 75 tuổi, khỏe mạnh, tinh anh. Ông là Trung tá Phạm Văn Chắt nhà ở Khu 3, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Trò chuyện với chúng tôi, hào khí về 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” sống lại trong tâm trí ông vẹn nguyên như chỉ mới xảy ra hôm qua. Tháng 3-1959, anh thanh niên Phạm Văn Chắt nhập ngũ vào Sư đoàn 335 thuộc Quân khu Tây Bắc. Huấn luyện xong, đơn vị hành quân sang giúp nước bạn Lào. Chiến trường Cánh Đồng Chum là nơi ông và đồng đội của mình đã tham gia những trận đánh ác liệt và cũng tại đây ông Chắt được vinh dự kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau đó, năm 1962, ông được cấp trên cử đi học sĩ quan chỉ huy kỹ thuật tên lửa phòng không. Tốt nghiệp ra trường, ông được điều về Trung đoàn 285 (Đoàn Nam Triệu) mới được thành lập (12-9-1965) tại núi rừng Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Ông Phạm Văn Chắt bên phần động cơ B-52 tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Trở lại chuyện hạ gục B-52 giữa lòng thủ đô Hà Nội, nhấp ngụm trà, ông Chắt giọng sôi nổi: “Ngày 23-12-1972, chúng tôi được lệnh hành quân gấp từ thành phố Hải Phòng về xây dựng trận địa tại thôn Đại Chu, xã Long Châu, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Khi ấy, tiểu đoàn chúng tôi nằm trong đội hình phối thuộc của Sư đoàn Phòng không 361 có nhiệm vụ bảo vệ thủ đô Hà Nội. Đến sáng ngày 26-12, tiểu đoàn đã hoàn tất mọi công tác chuẩn bị, khí tài đồng bộ tốt, trận địa giả cũng đã triển khai xong, chúng tôi chỉ đạo anh em luyện tập cách đánh B-52 theo tài liệu phổ biến của cấp trên”.

Ông Chắt kể tiếp: “Ngay chiều 26-12-1972, địch huy động khoảng 60 máy bay phản lực các loại đánh vào vòng trong, phía trước để dọn đường cho B-52 vào rải thảm Hà Nội. Cấp trên chỉ thị Tiểu đoàn 72 đánh tốp F-4 khi chúng đang lượn vòng tìm trận địa của ta để cắt bom. Đánh tốp nhỏ, chiếc lẻ cơ động thế này là sở trường của tiểu đoàn nên chúng tôi rất tự tin. Tuy nhiên, phương châm chủ động tìm diệt mục tiêu, tiết kiệm đạn để “săn” B-52 đã được đơn vị quán triệt kỹ, cán bộ, chiến sĩ tư tưởng thông suốt. Tôi ra lệnh phát sóng. Ngay khi mở máy, chiếc “con ma” đã được kíp chiến đấu bám sát. Kiểm tra các tham số đều ổn định tốt. Tôi lệnh cho sĩ quan điều khiển nhấn nút phóng ở cự ly 28km, đồng thời trận địa giả cũng nổ mìn tạo màn khói để đánh lừa địch. Tên lửa vút lên, trong giây lát bung khoảng sáng chói lòa trùm mục tiêu. Sau ít phút, cấp trên thông báo chiếc F-4 đã rơi tại Hòa Bình, có phi công nhảy dù… Cùng lúc đó, các đơn vị bạn phối hợp đánh quyết liệt tạo lưới lửa nhiều tầng khiến đám giặc trời bỏ chạy, Hà Nội trở lại bình yên”.

Bước sang ngày 27-12, là ngày thứ 10 của chiến dịch 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”. Đêm ấy, bầu trời Hà Nội xuất hiện 36 chiếc B-52, dưới sự hộ tống của 85 máy bay phản lực vào đánh phá. “Cấp trên chỉ thị chúng tôi đón lõng kiên quyết tiêu diệt B-52. Tôi cho mở đài 1 và đài 2 đều thu được tín hiệu là một dải nhiễu sáng mịn, ổn định. Với kinh nghiệm 7 năm ở tiểu đoàn chiến đấu trên các địa hình ven biển, rừng núi như Hải Phòng, Thái Nguyên, Nghệ An và mạng tình báo của trên, chúng tôi xác định chính xác đã “bắt” được B-52. Để chắc ăn, chúng tôi thống nhất đợi nó vào gần. Đánh gần sẽ loại trừ được khả năng gây nhiễu và bắn tên lửa không đối đất của đám máy bay hộ tống, vì lúc này chúng phải dành ưu tiên cho đánh B-52 vào trút bom. Khi trắc thủ cự ly và trắc thủ phương vị chuyển hoàn toàn sang chế độ bám sát tự động, trắc thủ tà bám sát bằng tay. Các tham số ổn định, dải nhiễu vẫn tiếp tục rút ngắn cự ly. Tôi hạ lệnh phóng ở cự ly 30km. Sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dựng nhấn nút phóng, “rồng lửa” xé màn đêm vút đi trùm lên mục tiêu, lúc ấy là 23 giờ 3 phút ngày 27-12… Xác nó rơi rải rác từ đường Hoàng Hoa Thám đến hồ Hữu Tiệp” – ông Chắt tự hào kể lại.

Được tin B-52 bị bắn rơi tại chỗ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau khi kiểm tra đã biểu dương: “Đây là chiến công xuất sắc, đặc biệt…”. Bởi lẽ chúng ta đã đánh đúng B-52, trước khi nó cắt bom gây tội ác, rơi ngay trong lòng Hà Nội, bắt giặc lái trên hè phố… Ông Chắt nói thêm với chúng tôi về một sự ngẫu nhiên thú vị đó là, Tiểu đoàn 72 ra đời ở núi rừng Yên Thế, bắn B-52 rơi một phần xuống đường phố mang tên Hoàng Hoa Thám – người anh hùng dân tộc, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Yên Thế.

– Thế kíp chiến đấu 40 năm trước giờ ra sao? – Tôi hỏi tiếp. Nhớ về những người đồng đội của mình, giọng ông Chắt bỗng chùng xuống: “Sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dựng đã mất vì bạo bệnh. Trắc thủ cự ly Nguyễn Văn Tuyền, trắc thủ phương vị Trương Đăng Khoa và trắc thủ góc tà Nguyễn Đức Chiêu sau chiến tranh đều chuyển ngành cũng đã nghỉ hưu. Thi thoảng chúng tôi vẫn gọi điện thăm hỏi, động viên nhau…”.

Chia tay rồi ông vẫn đứng bên cổng nhìn chúng tôi hòa vào dòng người hối hả nơi phố phường. Theo thời gian, cuộc chiến ấy sẽ dần lùi xa. Thế nhưng, những người lính phòng không trong kíp chiến đấu rút gọn của Tiểu đoàn 72 do Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt chỉ huy quật ngã siêu pháo đài bay B-52 giữa lòng thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến đã góp phần làm nên bản hùng ca “Điện Biên Phủ trên không” sẽ vang vọng mãi…

LÊ THÀNH VINH
qdnd.vn