Thư viện

Sai lầm lớn của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam

Người Mỹ nhìn về “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Trước nguy cơ chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” sắp hoàn toàn thất bại, Mỹ “dốc túi” vào “canh bạc” cuối cùng, Tổng thống Mỹ Ních-xơn quyết định mở cuộc tập kích đường không (TKĐK) chiến lược mang tên Linebacker-II bằng máy bay B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng trong 12 ngày đêm tháng 12-1972.

Thất bại thảm hại

Ngay trong đêm 18-12, đế quốc Mỹ đã huy động 129 lần/chiếc B-52 và 135 lần/chiếc máy bay chiến thuật đánh liên tiếp vào thủ đô Hà Nội, tập trung đánh vào các sân bay Kép, Nội Bài, Gia Lâm, Hòa Lạc, Yên Bái và các khu vực Đông Anh, Yên Viên, Đức Giang và Đài Tiếng nói Việt Nam. Cùng thời gian này, Mỹ còn vào đánh phá thành phố Hải Phòng.

Xác máy bay Mỹ bị quân ta bắn rơi trong trận chiến 12 ngày đêm. Ảnh tư liệu

Được chuẩn bị sớm từ trước, quân, dân Hà Nội và các địa phương trên miền Bắc không bị bất ngờ, đã bước vào chiến đấu với tinh thần bình tĩnh, chủ động và tự tin. Bộ đội Phòng không – Không quân (PK-KQ) và dân quân tự vệ hiệp đồng chặt chẽ đánh trả quyết liệt máy bay Mỹ. Trong đêm 18-12-1972, ta đã bắn rơi 3 máy bay B-52 (có 2 chiếc rơi tại chỗ); 4 máy bay chiến thuật, bắt sống giặc lái. Liên tiếp trong các đêm từ 19 đến 24-12 Mỹ đã huy động hàng trăm lần chiếc B-52 kết hợp với máy bay F-111 bay thấp đánh xen kẽ, ban ngày chúng dùng các máy bay chiến thuật đánh bồi vào các mục tiêu ở Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh lân cận. Trong đợt một từ ngày 18 đến 24-12-1972, ta bắn rơi 49 máy bay, trong đó có 17 máy bay B-52, 5 máy bay F-111, bắt sống hàng chục giặc lái. Bị tổn thất quá nặng, lấy cớ là nghỉ lễ Giáng sinh, địch phải tạm ngừng ném bom để củng cố lực lượng, rút kinh nghiệm, tìm thủ đoạn đánh phá mới. Đêm 26-12-1972, địch huy động 120 lần chiếc máy bay B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên nhằm bảo đảm mật độ bay lớn hơn mật độ hỏa lực, nhất là hỏa lực tên lửa, hòng gây quá tải, làm rối loạn hệ thống phòng không của ta. Nhưng trong trận này ta đã bắn rơi 18 máy bay các loại, trong đó có 8 máy bay B-52 (4 chiếc rơi tại chỗ), bắt sống nhiều giặc lái. Trong các ngày 27, 28 và 29-12, ta đã bắn rơi thêm 8 máy bay B-52.

Cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B-52 của không quân Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng đã thất bại thảm hại. Ý đồ thương lượng trên thế mạnh chính quyền Ních-xơn đã thất bại. Quân và dân miền Bắc đã lập công xuất sắc: Bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay B-52, 5 máy bay F-111, bắt sống nhiều giặc lái. Dư luận phương Tây đã ví trận thắng này như một trận “Điện Biên Phủ trên không”.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” có ý nghĩa vô cùng to lớn cả về sức mạnh quân sự, chính trị, ngoại giao buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973, “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Thực chất là chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, rút toàn bộ lực lượng quân viễn chinh Mỹ về nước. Đây là đòn cuối cùng, kết thúc thắng lợi giòn giã của cuộc tiến công chiến lược của quân và dân ta năm 1972; là đòn đánh bại một cố gắng quân sự cao nhất, thủ đoạn chính trị, ngoại giao lật lọng xảo quyệt nhất của đế quốc Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Chiến thắng đó còn mang ý nghĩa quốc tế to lớn, có tác dụng cổ vũ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Bài học đắt giá

“Chiến dịch LineBacker II” không chỉ là nỗi ám ảnh đối với các nhà lãnh đạo chính trị, quân sự và các cựu chiến binh Mỹ mà còn là đề tài bình luận của các nhà phân tích, các phương tiện thông tin đại chúng Mỹ và nước ngoài.

Trong hồi ký của mình, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mác-na-ma-ra cho rằng: “Mỹ đã phạm sai lầm lớn trong chiến tranh Việt Nam-những sai lầm cơ bản có tính chiến lược. Mỹ đã không đo lường hết được ý thức dân tộc của con người Việt Nam khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam, ném bom miền Bắc lần này, phiêu lưu đến mức tung một không lực khổng lồ đánh thẳng vào các thành phố miền Bắc, đặc biệt là thủ đô Hà Nội. Mỹ cũng không nghĩ đến, về mặt khí tài và kỹ thuật quân sự, Quân đội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể trừng trị được các “chủ bài” trên không của Mỹ và cuối cùng Mỹ đã không hiểu lịch sử Việt Nam xa và hiện tại…”.

Trong cuốn sách “Lời phán quyết về Việt Nam”, Giô-dép Am-tơ viết: “Trong 12 ngày tiếp theo, Mỹ ném xuống Hà Nội, Hải Phòng hơn 35.000 tấn bom đạn. Lầu Năm Góc cho rằng, các trung tâm dân cư cũng như các mục tiêu quân sự sẽ bị quét sạch chỉ còn là những đống gạch vụn. Toàn bộ các vùng lân cận đã bị xóa sạch, các phương tiện vận tải hoàn toàn bị phá hủy và những bệnh viện quan trọng bị tàn phá. Bệnh viện Bạch mai, cơ sở y tế hiện đại nhất của Hà Nội với hơn 900 giường bệnh đã bị biến thành nơi đổ nát…Tổng thống Ních-xơn đã đánh giá thấp quyết tâm của nhân dân Bắc Việt Nam… Khoảng 33 đến 35 chiếc máy bay B-52 chở gần 100 phi công Mỹ đã bị bắn rơi trong 12 ngày đêm. Con số chính thức được thừa nhận, chỉ 15 máy bay bị mất hầu như chắc chắn.

Đại tá Săm-mơ trong cuốn “An-ma-nach về chiến tranh Việt Nam”, năm 1985 đã viết: “Bắc Việt Nam là một trong các hệ thống phòng không có hiệu quả nhất trong lịch sử. Hệ thống này gồm máy bay tiêm kích MiG-17 và MiG-21, các tên lửa đất đối không SAM-2 cùng hàng nghìn vũ khí khác, từ súng phòng không 12,7mm đến pháo 100mm. Pháo cao xạ buộc máy bay tiến công phải bay cao, dễ bị SAM và MiG đánh. Ngược lại nếu bay thấp để tránh SAM và MiG thì máy bay dễ bị sát thương bởi hỏa lực PPK. Các kíp bay chiến đấu của không lực Mỹ vào miền Bắc Việt Nam có cảm giác như lao vào lưới lửa phòng không”.

Đa-na Đren-cô-xki trong bài “Thảm kịch của cuộc hành quân Linebacker II” đăng trên tạp chí “Không quân” viết “Chiến dịch Linebacker II hầu như hoàn toàn do bộ chỉ huy không quân chiến lược Hoa Kỳ đảm nhiệm, là một thảm họa cho phi công và là một tiền lệ nguy hiểm cho tương lai. Hậu quả của cuộc hành quân này là một số lớn máy bay B-52 bị bắn hạ một cách không thương tiếc và nhiều phi công bị thương tật, chết hoặc bị bắt sống”.

Tuần báo Mỹ “AW&ST”, ngày 12-2-1973 đã viết về chiến dịch Linebacker II như sau: “Đây là một cuộc chiến tranh nhiễu điện tử quy mô lớn đầu tiên giữa hai phe tiến công và phòng thủ đều mạnh. Chiến tranh điện tử đòi hỏi có chiến thuật linh hoạt, khôn khéo và trang bị hiện đại. Những trận đánh ở Hà Nội đã chứng minh điều đó… Hà Nội theo dõi các tín hiệu nhiễu trên màn ra-đa do máy gây nhiễu trên máy bay B-52 phát ra, giao hội các nguồn nhiễu, tính toán đường bay rồi phóng hàng loạt tên lửa dọc theo đường bay phán đoán… thiệt hại máy bay B-52 lên đến đỉnh cao”.

J. Fi-sơ đã viết bài đăng trên tạp chí “Không quân” tháng 2-1973, về thảm họa của không quân Mỹ ở miền Bắc Việt Nam như sau: Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, tổn thất máy bay ném bom bị bắn hạ ước tính trung bình là một chiếc/64 phi đội xuất kích… trên không phận Hà Nội, Hải Phòng, cứ 49 phi đội xuất kích thì lại có một máy bay B-52 bị SAM bắn hạ”.

Đại tá, PGS, TS Trần Nam Chuân – Viện CLQP/BQP
qdnd.vn

————–

(Còn nữa)

Ga Hàng Cỏ, Yên Viên: “40 năm nhìn lại”

Liên tục trong 12 ngày đêm, từ 18/12 đến 30/12/1972, Mỹ thực hiện Chiến dịch quân sự mang tên Linebacker II, sử dụng lực lượng không quân chiến lược với máy bay B-52 làm nòng cốt, ném hơn 4 vạn tấn bom rải thảm xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên và các mục tiêu khác ở miền Bắc Việt Nam.

Riêng tại Hà Nội, cuộc ném bom nhằm “đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá” của Mỹ đã phá hủy nhiều khu dân cư như: Khâm Thiên, An Dương, Uy Nỗ, Yên Viên, Gia Lâm, Đông Anh, Văn Điển, Giáp Bát, bệnh viện Bạch Mai, đài phát thanh Mễ Trì.., làm 2.380 người chết và 1.355 người bị thương.

Nhiều điểm bị đánh đi đánh lại hàng chục lần như: cầu Long Biên, cầu Đuống, khu vực xã Yên Viên, nhà máy điện Yên Phụ, xã Uy Nỗ…

Quân và dân Thủ đô cùng các địa phương miền Bắc đã kiên cường giáng trả, đập tan cuộc tập kích đường không của Mỹ, làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không 1972”, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, rút quân Mỹ và quân đồng minh khỏi miền Nam, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới tại Việt Nam.

40 năm đã trôi qua, nỗi đau thương mất mát cũng dần nguôi ngoai, những địa danh xưa từng hứng chịu bom đạn Mỹ giờ đang từng ngày thay da, đổi thịt; nhưng lịch sử sẽ mãi còn ghi dấu tội ác của chiến tranh; đồng thời lưu danh để muôn đời sau ngợi ca chiến thắng 12 ngày đêm lịch sử lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Ga Hàng Cỏ (nay là Ga Hà Nội) bị máy bay B-52 Mỹ ném bom phá hủy nặng nề trưa 21/12/1972. Ảnh: Minh Trường – TTXVN.

Còn đây là Ga Hà Nội sau 40 năm. Ảnh: Thanh Hà – TTXVN (chụp tháng 12/2012).

Cảnh tan hoang của Ga Yên Viên (Gia Lâm) bị máy bay B-52 Mỹ đánh phá trong 12 ngày đêm năm 1972. Ảnh (chụp lại): Thanh Hà – TTXVN.

Cảnh tan hoang của Ga Yên Viên bị máy bay B-52 Mỹ đánh phá trong 12 ngày đêm năm 1972. Ảnh (chụp lại): Thanh Hà – TTXVN.

Ga Yên Viên sau 40 năm. Trong 12 ngày đêm năm 1972, nơi đây đã bị máy bay Mỹ đánh phá nhiều lần. Ảnh: Thanh Hà – TTXVN (chụp tháng 12/2012).

TTXVN / Tin Tức
baotintuc.vn

Những người tiếp lửa – Bài cuối: Tiếng hát át tiếng bom

Nếu như tranh cổ động là những bản thông tin bằng hình ảnh ngắn gọn nhất, súc tích nhất truyền tải thông tin, thông điệp đến với mọi người thì âm nhạc lại là sợi dây tình cảm kết nối con người để tạo thành sức mạnh rất lớn. “Tiếng hát át tiếng bom”, góp phần động viên khích lệ tinh thần quân dân cả nước trong những ngày chiến đấu gian khổ ấy.

Trong 12 ngày đêm Mỹ ném bom Hà Nội, nhạc sỹ Phạm Tuyên, khi ấy đang công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam đã sáng tác 2 bài hát, một bài hát trữ tình có tên “Hà Nội những đêm không ngủ” với giai điệu mượt mà tha thiết, và “Hà Nội – Điện Biên Phủ” với lời ca đanh thép, giai điệu hào hùng, và bài hát “Hà Nội – Điện Biên Phủ” ấy như lời động viên tiếp thêm sức mạnh, ý chí chiến đấu cho quân và dân Hà Nội, đồng thời làm ấm lòng những người chiến sỹ đang chiến đấu trên những mặt trận khác, đặc biệt là ở vùng đất khói lửa Quảng Trị và tiền tuyến lớn miền Nam.

Sức lay động của từ “Điện Biên Phủ”

Cho đến tận bây giờ, nhạc sỹ Phạm Tuyên vẫn không thể quên được những ngày tháng ác liệt cuối năm 1972 ấy, ông xúc động kể lại: “Ngày không lực Hoa Kỳ bắt đầu đánh phá, tất cả người dân Hà Nội được động viên đi sơ tán. Vợ con tôi, Đài phát thanh cũng như các đoàn nghệ thuật đều đi sơ tán cách Hà Nội vài chục kilômét. Tôi đã xin ở lại cùng một vài anh em nhạc sỹ khác trực về công tác phát thanh văn nghệ trên làn sóng.

Khi đó, chúng tôi ý thức rất rõ về tác dụng to lớn của lời ca tiếng nhạc trên làn sóng đài Trung ương đối với đồng bào cả nước, nhất là đối với chiến sỹ đồng bào ở tiền tuyến lớn miền Nam. Chúng tôi được thông báo về khả năng địch sẽ ném bom các cơ sở của đài nếu chúng đánh phá Hà Nội; và khu vực phố Quán Sứ, nơi có trụ sở chính của đài cũng nằm trong trọng điểm ném bom của địch”.

Và cái ngày đó đã đến: Khởi sự là ngày 18/12/1972, tiếp sau là 4 giờ sáng ngày 19/12/72, Đài phát sóng lớn nhất của ta ở Mễ Trì, ngoại thành Hà Nội bị địch đánh sập. Trưa hôm đó, khoảng 11 giờ 30 phút, địch ném bom Đài phát sóng Bạch Mai (Ngã Tư Vọng) và đó cũng là khu tập thể mà chúng tôi ở. Hình như sau cuộc oanh kích đó địch cảm thấy chưa đạt yêu cầu nên ngày 22/12, từ 4 giờ sáng, địch lại dùng B-52 ném bom rải thảm khu vực này một lần nữa. Và lần này chúng đã biến khu tập thể chúng tôi thành một đống gạch vụn. Trưa hôm đó, từ nơi trực ở phố Quán Sứ, tôi vội đạp xe về xem lại căn nhà của mình ở khu tập thể. Vệt bom đã đi đúng vào căn nhà của tôi. Chiếc đàn dương cầm bị vỡ, phím đàn xộc xệch.

Giường ngủ, tủ sách bị sập gãy, sách nhạc, bản nhạc bị cháy xém trong căn phòng đã bị sập mái… Trên đường trở lại cơ quan, khi đi qua Bạch Mai, ga Hàng Cỏ… tôi chứng kiến bao nhiêu cảnh thương tâm, hoang tàn, đổ nát. Nhưng tôi cũng thấy ấm lòng trước cảnh từng đội dân phòng giúp dân cứu sập hầm, cảnh bà con lối xóm giúp nhau nhặt nhạnh những gì còn sót lại sau trận bom. Ở Bệnh viện Bạch Mai, việc cứu chữa và nhịp sinh hoạt vẫn tất bật, hối hả. Rồi khi đạp xe qua phố Bà Triệu, những lúc không có còi báo động, tiếng hát vẫn ngân vang…”.

Ấn tượng sâu sắc với những việc mình thấy, mình gặp trên đường, đêm hôm ấy, trong một đợt báo động kéo dài, ngồi trong căn hầm ở ngay khu vực trọng điểm, nhạc sỹ Phạm Tuyên đã viết bài hát trữ tình “Hà Nội, những đêm không ngủ”, ghi lại tình cảm của mình trong những ngày đầu của đợt tập kích địch (mà theo ông, thời điểm đó không thể biết được lúc nào trận chiến sẽ kết thúc), thầm gửi tình yêu thương, nỗi nhớ nhung tới vợ con lúc này đang ở nơi sơ tán, đêm đêm vẫn nhìn về vầng lửa đạn đang bao trùm cả thủ đô:

“Ơi các chị em đang giờ đây tạm xa Hà Nội/Trông thấy chăng ráng đỏ rực hào quang trên thành phố của ta?/ Hà Nội đêm nay vẫn hát vang bài tình ca. Hà Nội anh hùng: Thủ đô của chúng ta”…

Đến ngày 25/12, Hà Nội không có tiếng máy bay, vì địch cũng nghỉ để ăn lễ Giáng Sinh. Nhưng sang ngày 26/12, Hà Nội lại rung lên trong tiếng máy bay và tiếng đạn bom. Khu phố Khâm Thiên đông đúc đã bị ném bom rải thảm. Đau thương, tang tóc trùm lên cả một dãy phố lao động vốn vô cùng sầm uất đông vui trước đây. Đêm 26/12, bộ đội ta bắn rơi 8 chiếc B-52. Từ Sở chỉ huy tối cao, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra lời kêu gọi: “Kẻ địch thua đau và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn. Nhưng chúng vẫn ngoan cố kéo dài cuộc tập kích. Các đơn vị hãy bắn rơi nhiều B-52 hơn nữa, hãy giáng cho không quân Mỹ một đòn ‘Điện Biên Phủ’ ngay trên bầu trời Hà Nội”. Và trong cuộc giao ban sáng 27/12, lời kêu gọi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được đồng chí Trần Lâm – Tổng Giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam lúc đó truyền đạt lại cho anh em. Giữa thời khắc ấy, trong không khí căng thẳng ấy, tiếng “Điện Biên Phủ” vang lên bỗng có sức lay động kỳ lạ, làm người nhạc sỹ cảm thấy nghẹn ngào. Ngay đêm 27/12, ông đã ngồi trong căn hầm của Đài Tiếng nói Việt Nam ở phố Quán Sứ, hí hoáy viết bài “Hà Nội – Điện Biên Phủ” với âm điệu quyết liệt, nhằm truyền tải ý chí mạnh mẽ của người Hà Nội chống đế quốc Mỹ bạo tàn xâm lược đến với mọi người. Bài hát như một hành khúc đĩnh đạc, khỏe khoắn, mở đầu với cảnh hào hùng: “Bê năm hai tan xác cháy sáng bầu trời/Hào khí Thăng Long ánh lên ngời ngợi…

Nhưng sang đến đoạn 2, lời bài hát vừa hào hùng, vừa tha thiết:

“Hà Nội đây! /Đế quốc Mỹ có nghe chăng câu trả lời của Hà Nội chúng ta? Đâu chỉ vì non nước riêng này/Phất ngọn cờ sao chính nghĩa./ Hà Nội ơi! Trong bom đạn vẫn ngời ánh sáng tương lai. Ghi chiến công tuyệt vời: Một Điện Biên sáng chói! Hà Nội ơi….”. Bài hát “Hà Nội – Điện Biên Phủ” đã được ông hoàn thành ngay trong đêm, và gần như không phải sửa chút nào.

Tín hiệu của ngày chiến thắng

Nhấp một ngụm nước trà, nhạc sỹ Phạm Tuyên chậm rãi kể tiếp: “Ngay sáng hôm sau, anh Trần Lâm hỏi tôi: Cậu làm gì hí hoáy cả đêm thế? Tôi mới hát cho anh nghe. Nghe tôi hát xong, anh bảo: “Sự quyết liệt này đúng là của Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không đấy. Cậu đem sang báo Nhân Dân đăng ngay!”. Thế là, vừa đứt đợt báo động, đường phố còn vắng tanh, tôi đạp xe đến tòa soạn báo Nhân Dân ở phố Hàng Trống. Tòa soạn báo cũng đi sơ tán gần hết. Anh Thép Mới, lúc đó là Phó Tổng biên tập, và một vài anh trong tòa soạn hơi ngạc nhiên khi thấy một anh chàng nhạc sỹ lại đến thăm tòa soạn lúc này. Tôi đưa bản nháp của bài hát, rồi trên chiếc ghế đá trước gốc cây đa ở sân tòa soạn, tôi hát cho các anh nghe. Các anh cũng rất tâm đắc, bảo tôi nhờ người chép lại cho sạch sẽ để báo lên khuôn, in ngay trong ngày mai, cùng chuyên mục mới “Hà Nội – Điện Biên Phủ”. Tôi quay về nhờ anh Phan Nhân (người trực cùng tôi hôm đó) chép lại nhạc cho bài hát, rồi gửi sang báo Nhân dân. Và sáng 29/12, chúng tôi vô cùng cảm động khi thấy bản nhạc đã được in trang trọng trên báo.

Bản nhạc đã được đăng, nhưng ca khúc phải thực sự có giá trị khi ngân vang thành âm thanh. “Nghĩ là làm, chiều 29/12, mặc dù anh em đoàn văn nghệ đã sơ tán hết, chỉ còn lại bốn người gồm có tôi, anh Trần Thụ, anh Mạnh Hà và Hoàng Mãnh, chúng tôi vẫn quyết thu bài hát để kịp truyền tải ý chí quyết không khuất phục của Hà Nội. Thế là Hoàng Mãnh đệm piano, 3 anh em chúng tôi đồng ca bài “Hà Nội – Điện Biên Phủ” – nhạc sỹ Phạm Tuyên hào hứng kể.

Và ngay tối 29/12, trong chương trình “Tiếng hát về miền Nam”, bên cạnh những bài thơ, bài hát “Hà Nội – Điện Biên Phủ” đã ngân vang trên sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam. Buổi phát thanh đêm đó gây xúc động cho nhiều người. Nhà báo Nguyễn Lưu, thành viên đội tự vệ Hà Nội năm 1972 nhớ lại: “Sau khi ga Hàng Cỏ, rồi An Dương, Khâm Thiên bị ném bom… chúng tôi vẫn chưa thấy sợ, nhưng đến khi Đài phát thanh bị trúng bom thì có lúc cũng thấy “run”. Nhưng khi nghe bài hát “Hà Nội – Điện Biên Phủ” vang lên trên sóng, chúng tôi dường như được củng cố tinh thần tiếp thêm sức mạnh, thấy vững tin ở chiến thắng…”. Nhiều anh em nhạc sỹ ở miền Nam sau này đã kể lại với nhạc sỹ Phạm Tuyên: Khi nghe được chương trình văn nghệ đặc biệt trên sóng phát thanh đêm 29/12, mọi người biết là Hà Nội vẫn đánh giặc, vẫn ca hát và ngâm thơ… đó là tín hiệu của một ngày chiến thắng không xa! Và thật thú vị, vì ngày 30/12/1972, Mỹ đã phải chấm dứt ném bom, xuống thang mời ta trở lại bàn hội nghị tại Pari.

Chào mừng năm mới 1973, băng nhạc Hà Nội – Điện Biên Phủ với hình thức hợp xướng, do nghệ sỹ Trần Khánh lĩnh xướng, nhạc sỹ Cao Việt Bách chỉ huy và thu ở nơi sơ tán được phổ biến. Sau này, nhiều ca sỹ đã mang bài hát đi phục vụ ở các trận địa phòng không, không quân Hà Nội.

Nói về tâm trạng và cảm xúc của mình khi sáng tác bài hát này, nhạc sỹ Phạm Tuyên tâm sự: “Có những bài ca được viết trong lúc phấn khởi, hào hứng, hoặc lúc dạt dào xúc cảm và người viết hồi hộp theo dõi sức sống của nó trong công chúng và thời gian. Nhưng cũng có những bài ca được viết ra như một sự động viên chính mình. Trong bối cảnh thật quyết liệt, mà bản thân người viết ra nó không chắc mình có còn được nghe nó vang lên thành âm thanh hay không, chứ chưa nói tới việc trông đợi nó được phổ biến rộng rãi tới mọi người. Cũng có thể nói đó là trường hợp của bài hát “Hà Nội – Điện Biên Phủ”. Và với tôi, đó là một trong những kỷ niệm khó phai mờ trong cuộc đời sáng tác của mình”.

Phương Lan
baotintuc.vn

Những người tiếp lửa – Bài 2: Chiến đấu bằng… cây cọ

Cùng với cuộc chiến đấu không ngừng nghỉ bảo vệ tiếng loa, làm vững lòng quân dân thủ đô, trong những ngày chiến đấu gian khổ này, có những họa sỹ đã vẽ không ngừng nghỉ, sử dụng cây cọ để cho ra đời những bức tranh cổ động treo ở Bờ Hồ, dựng ngay nơi bom Mỹ bắn phá, tố cáo tội ác của giặc, khích lệ quần chúng tiếp tục chiến đấu. Và họa sỹ Trường Sinh – họa sỹ sáng tác của Phòng Thông tin, Sở Văn hóa Hà Nội lúc đó có lẽ là người vẽ nhiều nhất, với 28 bức tranh cổ động trong vòng 12 ngày đêm cuối năm 1972. Những bức tranh của họa sỹ Trường Sinh đã kịp thời động viên, khích lệ mọi người tham gia chiến đấu, góp phần không nhỏ vào chiến thắng của quân dân thủ đô trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Họa sĩ Trường Sinh với một trong những bức tranh do ông vẽ trong cuộc chiến đấu 12 ngày đêm năm 1972.

Ở tuổi gần 80, mái tóc đã bạc trắng, nhưng họa sỹ Trường Sinh vẫn giữ được “phong độ” của một con người vốn rất nhiệt tình, năng động. Và dù rất bận, nhưng ông vẫn dành thời gian kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện trong 12 ngày đêm ác liệt của Điện Biên Phủ trên không 40 năm về trước.

Mở đầu câu chuyện, ông Sinh khoe: “Tôi đã từng được nhận giấy khen của Tổng cục Thông tin vì đã nhiệt tình phục vụ chiến đấu trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không đấy nhé. Và tôi cũng tự hào mình là người đã vẽ nhiều tranh cổ động nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Tính từ năm 1962, khi bắt đầu vẽ cho đến hết năm 1975, tôi đã vẽ được khoảng 1.000 bức tranh cổ động. Riêng trong 12 ngày đêm Mỹ đưa máy bay B-52 ra Hà Nội, tôi đã vẽ đến 28 bức tranh cổ động khác nhau…”.

“Thật kinh khủng, không thể nào tưởng tượng được!”, đó là cảm giác mà họa sỹ Trường Sinh không thể nào quên sau gần 40 năm. Thời gian đó, do yêu cầu công việc, nên mỗi khi Mỹ đánh bom khu vực nào, ông thường chạy đến hiện trường để xem, chụp ảnh về làm tư liệu vẽ tranh. Ông Sinh nhớ lại: “Khi chứng kiến những cảnh tan hoang do bom Mỹ tàn phá, nhìn thấy những người dân vô tội bị chết thảm, dân quân tự vệ, cứu thương đổ về tìm kiếm và cứu những người còn mắc kẹt trong những đống đổ nát… tôi thấy căm phẫn trước những tội ác tàn bạo của đế quốc Mỹ. Là một nghệ sỹ sáng tác, tôi thấy mình phải có trách nhiệm lên tiếng, bằng những tác phẩm của mình, cho mọi người dân trong nước và trên thế giới, thấy được tội ác của Mỹ. Chính điều đó đã thôi thúc tôi vẽ thật nhiều, vẽ không ngừng nghỉ trong suốt những ngày bom đạn ấy”.

28 bức tranh họa sỹ Trường Sinh vẽ trong suốt 12 ngày đêm diễn ra trận Điện Biên Phủ trên không, không bức nào giống bức nào. Bức ông vẽ cảnh Mỹ ném bom Khâm Thiên, có bức vẽ cảnh tan hoang ở Bệnh viện Bạch Mai, khu An Dương, một số bức tranh vẽ cảnh máy bay B-52 bị bắn rơi…

Chủ đề các bức tranh của ông thường theo diễn biến của cuộc chiến. Đêm hôm trước Mỹ đánh vào khu vực nào, thì ngay trong buổi sáng hôm sau đã có tranh cổ động dựng tại khu vực đó. Thông thường, khi ông vẽ phác thảo xong, Ban Tuyên huấn duyệt và chuyển ngay cho một nhóm anh em họa sỹ khác phóng lên những tấm panô cỡ lớn. Ông Sinh kể lại: “Cũng có khi mình vẽ phác thảo rồi chuyển đi để anh em mô phỏng lại, cũng có khi mình trực tiếp ra vẽ cùng anh em… Điều kiện khi đó rất khó khăn, màu thiếu, bút thiếu, xưởng vẽ không có, nhiều phác thảo được vẽ tại nhà (số 8 Lò Sũ), nhiều khi vẽ tại cơ quan… Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, anh em chúng tôi vẫn quyết tâm khắc phục khó khăn để trong buổi sáng hôm sau, bức tranh đó có mặt tại nơi xảy ra sự việc để mọi người cùng xem”.

Để có được những bức tranh cổ động kịp thời, đúng chủ đề, ông thường phải đến tận nơi xảy ra sự kiện, chụp ảnh, rồi tự mình vào phòng tối, in tráng ảnh làm tư liệu về vẽ tranh. Đã 2 lần ông “suýt” bị mất mạng chỉ vì mải theo dõi xem máy bay bắn phá chỗ nào để lấy tư liệu để vẽ tranh. Lần thứ nhất vào đúng đêm Mỹ ném bom phố Khâm Thiên. Ông kể : “Hôm đó, trực chiến tại cơ quan, tôi trải chiếu nằm dưới chân cột tòa nhà thông tin triển lãm (45 Tràng Tiền hiện nay). Khi nghe tiếng bom, tôi liền chạy ra ngoài xem chúng đánh khu vực nào, lúc quay về thì thấy một tảng đá cẩm thạch to gần 2 m2 đã rơi đúng chỗ tôi vừa nằm. Lần thứ hai là hôm máy bay B-52 quần thảo khu vực bờ sông, anh em trong cơ quan đều xuống hầm trú ẩn ở sân Sở Văn hóa (47 Hàng Dầu), tôi cứ đứng mãi ở cửa hầm, ngửa mặt lên trời xem máy bay bắn phá khu vực nào. Đang đứng nghển cổ nhìn, thì anh Ngô Minh, khi đó là Trưởng Phòng Sáng tác vừa đi trực tác chiến về. Thấy tôi đứng chắn cửa hầm, anh Minh bảo: “Cậu vào đi”, rồi anh đẩy tôi xuống hầm. Tôi vừa chui xuống, bỗng nghe một tiếng “xoẹt” trên đầu, rồi thấy anh Minh kêu: “Nóng quá, nóng quá!”. Khi anh Minh bỏ chiếc mũ nhựa ra, thấy một viên bi xuyên qua mũ, sạt qua đỉnh đầu cháy xém cả tóc… Tôi giật mình nghĩ: Nếu lúc đó anh Minh không về, tôi sẽ vẫn đứng đó “ngắm” máy bay, thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra…” – ông nhún vai cười và nói.

“Nguy hiểm như thế, nhưng lúc đó tôi không thấy sợ, vẫn đi, vẫn vẽ. Chỉ có điều lúc nào cũng thấy thèm… ngủ”. Thấy tôi cười, ông nói như phân bua: “Cô tính, trong 12 ngày đêm, đêm nào ít thì 1, đêm nhiều vẽ tới 2, 3 bức tranh nên tôi gần như không có lúc nào được ngủ. Nhiều khi đang nói chuyện tào lao với đám bạn, mình ngủ gật lúc nào cũng không biết, anh em trong cơ quan ai cũng phải buồn cười, và bảo: Ông này dễ ngủ quá!”.

Đến ngày cuối cùng của chiến dịch 12 ngày đêm, họa sỹ Trường Sinh vẽ cả một bức tranh to với lời chú dẫn “Khải hoàn môn của học thuyết Níchxơn”. Chỉ tay vào những hình ảnh trong tranh, ông giải thích: “Mục đích của Níchxơn khi đem B-52 bắn phá miền Bắc, và cao điểm là 12 ngày đêm đánh phá thủ đô Hà Nội là muốn dùng sức mạnh quân sự đè bẹp ý chí, tinh thần chiến đấu của quân và dân ta. Nhưng chúng đã không thể làm được việc đó, chúng ta có mất mát, có thiệt hại nặng nề, nhưng tinh thần chiến đấu của chúng ta không hề giảm sút, mà ngược lại còn lên cao. Trước đau thương, mất mát, mọi người càng quyết tâm chiến đấu. Cuối cùng, Mỹ đã phải chịu thua cùng với những tổn thất nặng nề và rút quân khỏi Việt Nam. Rất nhiều binh sỹ Mỹ bị chết, người còn sống thì thương tích đầy mình khi trở về nước…”. Bức tranh này sau đó đã được vẽ và treo trên các đường phố Hà Nội và trưng bày trong nhiều cuộc triển lãm.

Họa sỹ Trường Sinh cho biết: “Tượng đài tưởng niệm trên phố Khâm Thiên bây giờ, được lấy từ hình tượng trong một bức tranh cổ động của tôi hồi đó”. Rồi ông kể lại, ngay sau khi Mỹ ném bom Khâm Thiên, ông đã chạy đến hiện trường, chứng kiến những cảnh tượng tang thương; trở về cơ quan, ông xúc cảm và vẽ ngay bức tranh cổ động có hình ảnh bà mẹ chít khăn tang bồng đứa con thơ. Ngày hôm sau, bức tranh cổ động đó đã được dựng ngay đầu phố Khâm Thiên. Sau đó, một số ý kiến cho rằng, bức tranh đó vẽ thảm quá, sợ sẽ làm nhụt ý chí chiến đấu của anh em, nên đã gỡ xuống.

Sau này, hình ảnh trên bức tranh đó của ông được sử dụng rộng rãi ở nhiều nơi, không chỉ ở Hà Nội mà nhiều tỉnh cũng vẽ hình tượng bà mẹ ôm con thơ trên những bức tranh cổ động hay những bức tường lớn. Trên cơ sở hình ảnh trong bức tranh đó, nhà điêu khắc Nguyễn Tự (làm cùng cơ quan ông) đã tạo hình bức tượng đài trong khu tưởng niệm trên phố Khâm Thiên.
Ông Sinh khoe: “Không chỉ bức tranh, mà toàn bộ phác thảo của khu tưởng niệm Khâm Thiên cũng là tôi vẽ đấy nhé”. Rồi ông kể lại, hồi đó, sau trận ném bom hủy diệt của Mỹ, ông được Giám đốc Sở Văn hóa thông tin giao nhiệm vụ chuẩn bị cho việc xây dựng khu tưởng niệm ở Khâm Thiên, và ông đã vẽ những bản phác thảo đầu tiên để các nhà tạo hình tham khảo và xây dựng. “Tôi đã dành cả tình cảm và tấm lòng của mình để vẽ phác thảo đài tưởng nhớ những người dân đã hy sinh trong trận ném bom thảm sát năm ấy” – ông Sinh xúc động nói.

Họa sỹ Trường Sinh cho biết, do không có điều kiện giữ, nên số lượng tranh cổ động ông vẽ còn lại không nhiều (khoảng 200 bức). Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, ông sẽ tổ chức một cuộc triển lãm trưng bày 40 bức tranh cổ động ông đã vẽ trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong số đó, có 10 bức tranh cổ động ông vẽ từ năm 1965-1968, 10 bức tranh vẽ trong giai đoạn 1969-1970 và 20 bức tranh cổ động được ông vẽ trong giai đoạn 1971-1972, đặc biệt có 5 bức tranh được ông sáng tác ngay trong những ngày B-52 Mỹ ném bom rải thảm Hà Nội cuối năm 1972. Triển lãm dự kiến sẽ khai mạc vào ngày 23/12/2012, tại Trung tâm nghệ thuật Việt Art, số 42 Yết Kiêu, Hà Nội. Đây sẽ là dịp để công chúng thủ đô một lần nữa được nhìn thấy những bức tranh đã góp phần không nhỏ trong việc khích lệ tinh thần chiến đấu của quân dân Hà Nội năm nào.

Phương Lan
baotintuc.vn

Bài cuối: Tiếng hát át tiếng bom

Những người tiếp lửa – Bài 1: “Đồng bào chú ý”

Những ngày mùa đông năm 1972, hàng trăm pháo đài bay của quân đội Mỹ điên cuồng trút hàng vạn tấn bom xuống thủ đô Hà Nội, hòng đưa miền Bắc Việt Nam “trở lại thời kỳ đồ đá”. Nhưng dưới sự chỉ huy, lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước, với tinh thần bất khuất, quân dân Hà Nội đã anh dũng, kiên cường chiến đấu và làm nên một trận “Ðiện Biên Phủ trên không”.

Chiến thắng của quân dân Hà Nội trong trận chiến cuối năm 1972, bên cạnh các chiến sỹ, những người hết mình chiến đấu bảo vệ bầu trời thủ đô năm ấy, còn có nhiều người tuy không trực tiếp cầm súng chiến đấu, nhưng họ đã có những đóng góp không nhỏ như những người tiếp lửa khích lệ tinh thần chiến đấu của quân dân Hà Nội. Đó là những cán bộ công nhân của Xí nghiệp truyền thanh Hà Nội có nhiệm vụ bảo đảm thông suốt cho hệ thống loa phòng không báo động báo an; là người họa sỹ vẽ tranh cổ động, là người nhạc sỹ sáng tác bài hát khích lệ tinh thần quần chúng vững vàng chiến đấu…

Bài 1: “Đồng bào chú ý”

“Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý
Tây Nam Hà Nội 50 km có máy bay địch
Tây Nam Hà Nội 50 km có máy bay địch,
Các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu…”

Tiếng loa bình tĩnh, chắc gọn nhưng không kém phần hào hùng ấy đã vang lên mạnh mẽ liên tục, trong suốt những năm chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Và trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, tiếng loa ấy càng trở nên thân thiết, không thể rời xa với quân dân thủ đô. Tiếng loa báo động, đôn đốc thúc giục những người lính vào vị trí chiến đấu, tiếng loa báo động, báo an giúp người dân Hà Nội kịp thời xuống hầm trú ẩn tránh bom, hoặc trở lại với công việc thường ngày… Và 40 năm sau, tiếng loa ấy dường như vẫn in sâu trong ký ức của nhiều người, nhất là những người trực tiếp có mặt làm nhiệm vụ trong những ngày tháng đó. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm trận Điện Biên Phủ trên không, chúng tôi tìm đến gặp ông Vũ Văn Viễn, nguyên Giám đốc Xí nghiệp truyền thanh Hà Nội, đơn vị phụ trách toàn bộ hệ thống loa phòng không báo động, báo an ở Hà Nội, nghe ông kể về những ngày tháng chiến đấu bảo vệ hệ thống loa phòng không năm ấy.

Ông Vũ Văn Viễn, nguyên Giám đốc Xí nghiệp truyền thanh Hà Nội.

Đón tôi là một ông lão tuổi ngoài 80, nhưng vóc dáng vẫn rất nhanh nhẹn, hoạt bát. Khi nghe tôi nhắc đến những ngày tháng chiến đấu cuối năm 1972, ông Viễn hào hứng hẳn lên, và ký ức về những ngày tháng mà ông cùng anh chị em trong Xí nghiệp truyền thanh Hà Nội bảo vệ tiếng loa phát thanh dưới mưa bom lại ùa về. Ông ôm một tập tài liệu quý – mà ông vẫn gọi đó là “bảo bối” của mình – ra khoe: Đó là những bài ông viết về cuộc chiến đấu bảo vệ tiếng loa, về những khó khăn, gian khổ, về sự dũng cảm, mưu trí của anh chị em trong xí nghiệp để đối phó với kẻ thù khi ấy. Trong số đó có một cuốn sổ vô cùng quý giá, đó là cuốn nhật ký chiến đấu của ông ghi cẩn thận từng giờ, từng phút Mỹ ném bom Hà Nội 40 năm về trước.

“Ngày 18/12/1972, 19h40’ – 20h45’, địch đánh phá khu Đông Anh, Uy Nỗ, Yên Viên, Giáp Nhất, cảng sông…;

Ngày 19/12, từ 1h25’ – 1h45’, địch đánh phá khu vực cảng… 4h40’ – 5h50’ địch lại đánh phá ác liệt đài phát thanh Đại Mỗ, đài phát thanh Mễ Trì, Hưng và Tỵ đi xem xét tình hình…”.

Đó là những dòng nhật ký loằng ngoằng chữ và số, được ông Viễn viết vội trong tiếng bom thù.

Lần giở cuốn “Nhật ký chiến đấu” đã ngả vàng, ông Viễn xúc động ngỡ như mọi việc mới xảy ra cách đây chưa lâu. Ông kể: – Chiều ngày 18/12/1972, Bộ Tư lệnh Thủ đô đã cho nhóm phóng viên thường trú ở hầm chỉ huy Hội đồng phòng không nhân dân thành phố biết, khả năng địch sẽ đánh lớn vào Hà Nội đêm đó. Vào thời điểm đó, hệ thống truyền thanh của xí nghiệp được xem như một binh chủng thông tin, chỉ đạo chiến tranh, chỉ huy chiến đấu của Bộ Tư lệnh Thủ đô, có nhiệm vụ rất quan trọng là cấp báo, báo động, báo an trực tiếp cho quân và dân Thủ đô thông qua hệ thống loa được truyền trực tiếp bằng đường dây. Một đường dây trực tuyến đã được chúng tôi đặt từ Bộ Tư lệnh Thủ đô đến phòng máy của xí nghiệp nên việc truyền tải các thông tin rất nhanh chóng, kịp thời và chính xác. Đúng 19 giờ 40 phút ngày 18/12, được lệnh của Hội đồng phòng không nhân dân thành phố, đài chúng tôi truyền từ hầm chỉ huy của Hội đồng lên mạng lưới truyền thanh toàn thành phố băng ghi âm tiếng còi báo động và hướng dẫn phòng không nhân dân: “Đồng bào chú ý! Giặc Mỹ đang thua to, chúng âm mưu đánh phá điên cuồng vào Hà Nội. Hội đồng phòng không nhân dân thành phố ra lệnh, khi có báo động, mọi người phải xuống hầm trú ẩn, không ai được đi lại, đứng ngồi trên mặt đất”. Đây là một mệnh lệnh báo tin có máy bay B – 52 vào đánh phá Hà Nội. Và sau những hồi còi cấp báo và mệnh lệnh chiến đấu dõng dạc, là những tiếng nhắc nhở bình tĩnh và đàng hoàng với những khoảng cách thời gian đều đặn.

Chỉ sau 2 ngày đế quốc Mỹ ném bom rải thảm, những khu vực trọng điểm như ga Yên Viên, ga Dục Nội, Cổ Loa, các bến phà… là những điểm mà cơ sở hạ tầng kĩ thuật đường dây bị đánh phá nặng nề. 22 giờ ngày 20/12, Chủ tịch Hội đồng phòng không thành phố Trần Vĩ gọi điện đến Xí nghiệp truyền thanh yêu cầu: Phải đảm bảo bằng được tiếng loa ở những khu vực trọng điểm, đặc biệt khu ga Yên Viên, ga Dục Nội, Đông Anh… để cho lực lượng dân quân vận chuyển hết hàng hóa tập kết ở đây đi. Số hàng hóa, thuốc men lên đến hàng nghìn tấn do Liên Xô ủng hộ và viện trợ, từ đây sẽ chuyển đi cả nước, nhất là cho chiến trường miền Nam. Giặc Mỹ biết thế nên liên tục cho máy bay quần đảo và trút bom không ngừng xuống khu vực này. Vì bị đánh phá ác liệt, nên hệ thống truyền thanh của huyện Đông Anh bị phá hủy nghiêm trọng. Đích thân ông Viễn đã lên đường sang khu vực này chỉ huy trực tiếp.

Sau khi thực địa tình hình, để ý theo dõi đường bay của máy bay B – 52 trong mấy lần đánh phá, ông nhận thấy hướng máy bay rải bom là dọc tuyến đường sắt từ ga Yên Viên đến ga Cổ Loa, Đông Anh, và đường dây loa truyền thanh cũng cùng hướng này nên hư hỏng rất nhiều. Biết được nguyên nhân, 3 giờ sáng, ông đánh thức đồng nghiệp dậy, cùng họp bàn tìm phương án để tránh bom hiệu quả nhất.

“Thay vì mắc từng loa một, chúng tôi quyết định kéo dây đến một nơi xa vùng trọng điểm khoảng 2 – 3 km, mắc loa ở đầu gió và sử dụng loa to hướng vào vị trí trọng điểm. Nếu một loa không đủ thì mắc cả chùm 2 – 3 loa. Nhờ vậy, các vùng trọng điểm vẫn duy trì được tiếng loa ngay cả khi có máy bay địch bắn phá. Sau khi mắc loa theo phương án mới, thử loa tốt xong, tốp công nhân truyền thanh đi vào tận khu ga để kiểm tra.

Nhóm công nhân bốc vác hàng hóa chạy ùa ra hoan hô. Họ bắt tay nhau hân hoan. Một anh công nhân bốc vác hồ hởi nói: Có tiếng loa rồi, chúng tôi rất yên tâm, cảm ơn các anh… Thế là họ mang hộp lương khô, thực phẩm bị bom làm móp méo ra mời các anh công nhân truyền thanh liên hoan vui vẻ” – ông Viễn tự hào kể lại.
Trong 12 ngày đêm Mỹ bắn phá, hàng trăm kilômét đường dây bị đứt, hỏng, hàng nghìn chiếc loa ở nội, ngoại thành bị mất tiếng. Tại tất cả những điểm này, đều có mặt kịp thời những công nhân truyền thanh. Họ làm việc như các chiến sỹ. Nai nịt, thắt lưng, quần áo gọn gàng, kìm dây sẵn sàng lao đi sửa đường dây. Nhiều khi sửa xong, vừa về đến trụ sở xí nghiệp thì địch lại đến đánh, đường dây bị phá, họ lại xông ra sửa chữa. Đang ngày nghỉ ở nhà, có báo động là họ lại đạp xe thẳng đến xí nghiệp nhận nhiệm vụ, không một ai bỏ vị trí chiến đấu… Cả những người bị bom đánh sập hầm như Nguyễn Trọng Nhị, đứng dậy được là xông ngay ra trận tuyến, cả những công nhân nhà cửa bị bom địch phá tan như Vũ Duy Lễ, Nguyễn Công Niết, Lê Quang Nhánh, Ngô Sĩ Bắc… cũng xếp khó khăn riêng lại để xông lên bảo vệ tiếng loa.

Trong 12 ngày đêm tháng 12/1972, Xí nghiệp truyền thanh Hà Nội đã phát trọn vẹn trên hệ thống loa phòng không thành phố toàn bộ mệnh lệnh của Hội đồng phòng không thành phố, gồm 64 lần cấp báo báo động, báo an và hàng trăm lần thông báo có máy bay địch. Trong đó, ngày và đêm 21/12 có số lần cấp báo, báo động và báo an nhiều nhất (10 lần); ngày và đêm 20/12 có 9 lần; ngày và đêm 19/12 là 8 lần. Lần cấp báo dài nhất kéo dài từ 23 giờ 10 phút ngày 19/12 đến 2 giờ ngày 20/12. Sự vận hành của những chiếc loa phòng không đã khiến một hãng thông tấn phương Tây thời ấy từng phải viết: “Người Hà Nội có một hệ thống dự báo phòng không rất hoàn chỉnh”.

Không chỉ ở ngoài đường dây, mà ở đầu các trạm máy, nơi đầu não phát ra mệnh lệnh của Hội đồng phòng không, cũng là trận địa rất căng thẳng. Suốt 12 ngày đêm, những công nhân nữ như Vũ Thanh Vân, Ngô Thị Lai, Doãn Thị Chắt, Đỗ Thị Ngọc, Trần Thị Sửu, Bùi Thị Tuyết, Phạm Thị Ngân… đã gắn liền cuộc sống của mình với máy phát. Họ ăn cạnh máy, nằm cạnh máy, làm việc cùng với máy, thức thâu đêm với máy… Khi những người khác có thể xuống hầm trú ẩn, thì họ vẫn phải trực tại máy, dưới tầm B – 52. Có lúc hơi bom dội mạnh làm rung chuyển phòng máy, họ vẫn bình tĩnh những thao tác điều khiển máy nhẹ nhàng, chính xác và kịp thời phát ra những mệnh lệnh chiến đấu, những tin chiến thắng làm nức lòng người dân thủ đô.

Nhờ vậy mà phố Khâm Thiên có tiếng loa ngay sau 2 giờ bom dứt, bệnh viện Bạch Mai, xã Mễ Trì, khu An Dương, khu Mai Hương, khu Gia Lâm, khu Văn Điển… chỉ sau 3 – 4 giờ bom dứt, tiếng “Đồng bào chú ý” lại vang lên. Đối với những người Hà Nội, tiếng loa đã trở thành một cái gì đó vô cùng thân thiết. Tiếng loa không chỉ xua tan sự lạnh lẽo, chết chóc mà quân thù gây ra, nó còn làm ấm lòng người dân ở những nơi bom đạn hủy diệt, vững lòng những đơn vị làm nhiệm vụ khắc phục hậu quả, cứu sập, chữa cháy, cứu thương… Vì thế, mọi người khi vào cuộc đều rất bình tĩnh, không hề nao núng hay run sợ trước bom đạn.

Trước khi chia tay, ông Viễn hào hứng khoe: “Chiếc máy nói tự động do chúng tôi sáng tạo và mấy chiếc máy phát thanh gắn bó với chúng tôi trong những ngày chiến đấu ác liệt đó đã được đưa vào Bảo tàng Quân đội và Bảo tàng Chiến thắng B – 52 như một “nhân chứng” nhỏ bé để nhớ về những chiến công hào hùng của cha ông đấy nhé”.

Phương Lan
baotintuc.vn

Bài 2: Chiến đấu bằng… cây cọ

Tiến công chiến lược ở miền Nam và đánh bại B-52 ở miền Bắc năm 1972-Những đòn quyết định buộc Mỹ ký Hiệp định Pa-ri

QĐND – Thắng lợi của quân và dân ta trên chiến trường chính miền Nam, mà đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) và đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất trên miền Bắc thực sự là những đòn đánh quyết định làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ phải tuyên bố chấm dứt đánh phá miền Bắc, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Pa-ri.

Tiếp đó, bằng nỗ lực vượt bậc của cả hậu phương và tiền tuyến, đồng thời được sự ủng hộ, giúp đỡ hiệu quả bạn bè quốc tế, quân và dân ta ở miền Nam khẩn trương củng cố thế và lực, mở tiếp chiến dịch Đường 9 -Nam Lào (1971), làm thay đổi cán cân so sánh lực lượng trên chiến trường theo hướng có lợi cho ta.

Theo dõi sự chuyển biến trên chiến trường, cân nhắc thế và lực của ta, tháng 5-1971, Trung ương Đảng quyết định: “Kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và trên cả chiến trường Đông Dương, đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua”[1]. Theo đó, Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu khẩn trương xây dựng kế hoạch tiến công chiến lược ở miền Nam năm 1972 (Quân uỷ Trung ương thông qua tháng 6-1971).

Đúng như kế hoạch, sau khi dồn sức làm công tác chuẩn bị, ngày 30-3-1972, cuộc tiến công chiến lược đã nổ ra đồng loạt trên chiến trường miền Nam. Tại hướng chủ yếu Trị – Thiên và các hướng quan trọng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, ta mở ba chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, đập tan một số tuyến, khu vực phòng thủ mạnh, tiêu diệt và đánh thiệt hại nhiều đơn vị cấp trung, sư đoàn chủ lực cơ động của quân đội Sài Gòn. Đặc biệt, trên hướng Trị – Thiên, ta giải phóng tỉnh Quảng Trị. Ở đồng bằng Nam Bộ và Khu 5, ta cũng đẩy mạnh tiến công và nổi dậy, mở rộng vùng làm chủ, giải phóng hàng triệu dân.

Thắng lợi 1972 ở miền Nam cộng hưởng với chiến công vang dội của quân và dân miền Bắc: bắn rơi 561 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 80 tàu chiến, phá hủy hàng nghìn quả thủy lôi, mìn từ trường của Mỹ (6.4 – 22.10.1972), đã buộc Mỹ phải chấp thuận bản dự thảo “Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” do ta soạn thảo (8-10-1972) và dự định ngày ký kết chính thức[2]. Tuy việc chấp thuận này có phần liên quan đến cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ diễn ra vào ngày 7-11-1972 (Ních-xơn tái tranh cử), nhưng đây thực sự là một thắng lợi lớn của ta. Bởi, nếu không có thắng lợi quyết định 1972 thì làm sao có sự chấp thuận này của Mỹ.

Với bản chất ngoan cố và xảo trá, sau chính thức bước vào Nhà Trắng lần hai, chính quyền Ních-xơn tìm mọi lý do để ép ta sửa đổi nhiều nội dung căn bản của Hiệp định. Tất nhiên, ta không thể chấp thuận. Hội nghị Pa-ri bế tắc. Ngay tức khắc, Ních-xơn quyết định sử dụng không lực để “tạo ra một cú sốc” (Sock dologer) – mở cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng điểm khác trên miền Bắc. Với lực lượng tập trung cho cuộc tập kích gồm 193 máy bay B-52 (chiếm 50% số B-52 của Mỹ), gần 50 máy bay F-111 và hơn 1.000 máy bay tiêm kích, 6 liên đội tàu sân bay, hàng chục máy bay KC.135 tiếp dầu trên không… Ních-xơn tin rằng sẽ làm “mềm xương sống” của Hà Nội, buộc Chính phủ ta phải ký Hiệp định Pa-ri theo hướng có lợi cho Mỹ.

Với bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, từng được tôi luyện trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, được chuẩn bị chu đáo mọi mặt từ nhiều năm trước đó, quân và dân Thủ đô Hà Nội thề quyết tâm “… thà hy sinh tất cả, chứ không chịu khuất phục… Không có gì quý hơn độc lập tự do”[3]. Và, chúng ta cũng không bị bất ngờ trước thủ đoạn xảo trá của giới cầm quyền Mỹ; bởi ngay từ tháng 9-1967, khi bộ đội tên lửa của Quân chủng PK-KQ đã bắn rơi B-52 Mỹ ở Vĩnh Linh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội”, vì “trước khi thua ở Triều Tiên, Mỹ đã hủy diệt ở Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội”[4]. Đây chính sự cảnh báo sớm cho quân và dân Thủ đô yêu dấu chủ động đón nhận thách thức “nảy lửa” này.

Đúng như lời Bác, từ đêm 18 đến 29-12-1972, Mỹ đã tổ chức mỗi đêm từ 2 đến 3 đợt đánh phá, với số lượng trung bình 54 – 60 lần/chiếc B.52. Lực lượng yểm trợ cho mỗi đợt thường là 1 tốp 4 máy bay tiêm kích F.4 đánh chặn máy bay và 1 tốp máy bay cường kích F.105 làm nhiệm vụ chế áp tên lửa của ta. Mỗi tốp B-52 có 1 tốp F-4 hộ tống trực tiếp từ khu vực tiếp cận mục tiêu. Ngoài ra, mỗi đêm chúng còn sử dụng từ 10 đến 25 lần/chiếc F.111 oanh tạc ở tầm thấp xen kẽ các các đợt đánh của B-52, nhằm nghi binh tạo bất ngờ cho B-52 vào tiếp cận mục tiêu đánh phá[5].

Tuy chúng có gây cho nhân dân ta những thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, nhưng với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương lân cận, với tất cả những vũ khí và phương tiện có trong tay, đã ngoan cường, thông minh, sáng tạo đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích của không quân Mỹ, bắn rơi 81 máy bay, gồm 34 máy bay B-52, 5 F-111 và 42 máy bay chiến thuật khác. Riêng quân và dân Thủ đô bắn rơi 25 chiếc B-52, làm nên một “Điện Biên Phủ trên bầu trời Hà Nội” vang động khắp năm châu, chấn động địa cầu. Cũng từ đây, làn sóng phản đối chiến tranh Việt Nam của nhân dân Mỹ bùng phát mạnh mẽ hơn bao giờ hết; làm cho “uy tín của Mỹ trên thế giới tụt xuống mức thấp nhất chưa từng có. Phản ứng trên khắp thế giới sẽ càng thêm gay gắt”[6]. Biết không thể đảo ngược được tình thế, sáng 30-12-1972, Ních-xơn tuyên bố ngừng ném bom hoàn toàn, vô điều kiện đối với miền Bắc, quay trở lại bàn đàm phán Pa-ri và ký kết Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973).

Đến đây chúng ta đã hoàn toàn thực hiện được quyền tự quyết dân tộc của mình trên mọi phương diện – điểm “vượt trội” của Hiệp định Pa-ri so với Hiệp định Giơ-ne-vơ cách đó 21 năm tròn. Mặt khác, theo Hiệp định, toàn bộ quân chiến đấu Mỹ phải rút khỏi miền Nam, nhưng phải chấp nhận việc ở lại hợp pháp của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đến đây, quân và dân ta đã thực hiện được một bước lời huấn thị của Bác Hồ: “Đánh cho Mỹ cút”, mở ra điều kiện thuận lợi cho việc chuẩn bị tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 – “Đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

——————

[1] BQP-VLSQSViệt Nam, Cuộc kháng chiến chóng Mỹ cứu nước 1954 – 1975, Những sự kiện quân sự, H.1988, tr.246.

[2] Theo kế hoạch, Hiệp định sẽ được chính thức ký ở Hà Nội ngày 22-10-1972 và ký ở Pa-ri ngày 30-10-1972.

[3] Trích Tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 26-10-1972.

[4] “Kính dâng Bác chiến công lịch sử này”, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 24 (12-1987).

[5] Riêng với Thủ đô Hà Nội, trong cuộc tập kích 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972, Mỹ đã huy động tới 444 lần/chiếc B-52, 1.004 máy bay chiến thuật và sử dụng gần 10.000 tấn bom đạn các loại…

[6] Báo Nhân dân, ngày 28-12-1972.

Đại tá, TS NGUYỄN HUY THỤC
qdnd.vn

Những trận địa lửa giữ bầu trời Hà Nội: Kỳ 2

Trận địa của những chiến sỹ sao vuông

Cùng với trận địa của lực lượng chính quy tham gia chiến dịch Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, trận địa dân quân tự vệ cũng có vai trò quan trọng góp phần làm nên chiến thắng trên bầu trời Hà Nội. Trong đó, trận địa pháo cao xạ 14,5 ly của những chiến sỹ sao vuông Nhà máy cơ khí Lương Yên, Nhà máy cơ khí Mai Động, Nhà máy gỗ Hà Nội tại Vân Đồn, ngoài bãi sông Hồng đã làm nên kỳ tích: bắn rơi máy bay F111 cánh cụp cánh xòe trong trận chiến 12 ngày đêm cuối năm 1972.

* Vẹn nguyên giây phút hạ máy bay

Đến giờ, nguyên xạ thủ số 1 Nguyễn Văn Hùng, tự vệ Nhà máy cơ khí Lương Yên vẫn còn vẹn nguyên cảm xúc giây phút hạ máy bay F111 đêm 22/12 năm 1972. Ông nhớ rất rõ, gần tới thời điểm 12 ngày đêm, Trung đội tự vệ Nhà máy cơ khí Lương Yên được lệnh không bắn đêm mà chỉ bắn ban ngày. Thấy máy bay vọt qua đầu mình cũng chỉ tiếc nuối đứng nhìn, nóng ruột hỏi lại cấp trên thì được trả lời: “Rồi các đồng chí cũng được bắn nhưng bây giờ chưa phải lúc”. Khi đó, trận địa Vân Đồn mới chỉ có một khẩu đội của Cơ khí Lương Yên. 5 giờ chiều ngày 22/12, hai khẩu đội của Cơ khí Mai Động và hai khẩu đội của Gỗ Hà Nội mới được điều về chuẩn bị cho chiến đấu. Trận địa này do Trung úy Hoàng Minh Giám, Bộ Chỉ huy quân sự thành phố Hà Nội trực tiếp chỉ huy.

Khẩu đội Cơ khí Lương Yên có hai người, ngoài xạ thủ số 1 Nguyễn Văn Hùng trực tiếp bắn còn có xạ thủ số 2 Bùi Ngọc Mai thực hiện nhiệm vụ kéo đạn, nhắc lại lời chỉ huy. Đúng 21giờ 45 phút, khi máy bay F111 bay vào Hà Nội từ khoảng cách 100 km ta phát hiện mục tiêu nhưng lúc tới gần, nó hạ rất thấp nên mục tiêu bị mất. Bất ngờ, chỉ huy trưởng Hoàng Minh Giám hô to “Hướng 14, điểm xạ dài. Bắn”. Đồng loạt ba khẩu đội của ba đơn vị cùng rung lên, hai khẩu đội còn lại bị hóc đạn. Xạ thủ Nguyễn Văn Hùng đạp chân vào bàn cò, bắn hết 10 viên đạn; hai khẩu đội bạn bắn hết 9 viên đạn. Lúc đó, máy bay F111 vẫn tiếp tục rẹt qua đầu. Ngay sau đó, chỉ huy trưởng yêu cầu các khẩu đội báo cáo thao tác chiến đấu và được đánh giá thực hiện đúng lệnh chỉ huy. Rồi tất cả cùng xuống hầm trú ẩn vì B52 chuẩn bị thả bom đánh phá Hà Nội.

Người dân Thủ đô chăm chú theo dõi tin chiến thắng qua báo chí hàng ngày và các bảng thông tin, trong những ngày Mỹ đánh phá ác liệt cuối tháng 12/1972. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Tin vui bay về cả trận địa vào sáng 23/12. Chiếc máy bay F111 bị rơi tại Hòa Bình, du kích địa phương bắt được hai phi công và cả khoang lái. Cũng trong ngày hôm đó, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Trân và Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Trần Duy Hưng đã tới thăm dân quân tự vệ trận địa Vân Đồn đồng thời khen ngợi: “Các đồng chí chiến đấu rất dũng cảm. Đó là niềm tự hào đối với dân quân Hà Nội”. Ngày 1/1/1973, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng tới thăm anh chị em và tặng lẵng hoa cho các tự vệ ngay tại trận địa.

* Lúc thì cầm búa, khi thì cầm súng

Nhớ lại thời gian chiến đấu trong 12 ngày đêm bảo vệ Hà Nội, ông Nguyễn Văn Hùng bồi hồi: “Lúc đó tinh thần chiến đấu cao lắm. Tôi là trung đội phó nên thường xuyên ra vào trận địa, theo dõi, đôn đốc anh chị em thực hiện tốt nhiệm vụ. Vì vậy, việc ăn ngủ, thức trắng đêm tại trận địa là thường xuyên”.

Cả Nhà máy cơ khí Lương Yên có 500 người thì tới trên 100 người biên chế ở trung đội tự vệ, lập thành 4 khẩu đội. Mỗi tháng có một tuần trực chiến, thời gian còn lại tham gia sản xuất bình thường.

Thời gian đó, Nhà máy cơ khí Lương Yên có nhiệm vụ sản xuất các mặt hàng phục vụ chiến tranh như: đường ống dẫn dầu ZK dùng để dẫn dầu từ miền Bắc vào miền Nam , sản xuất cầu phao, xà lan, xaquay (dùng để thả bóng cản máy bay địch). Ngoài ra, Nhà máy còn sản xuất các loại máy mài hai đá, máy dệt, máy cán, máy ép nhựa PVC, bể xăng… Thời gian Mỹ đánh phá ác liệt, các chiến sĩ sao vuông thực hiện chiến thuật đêm làm ngày nghỉ. Để chủ động đối phó với máy bay địch, Nhà máy lắp cụm đèn xanh đỏ báo hiệu cho công nhân: Khi an toàn bật đèn xanh, lúc máy bay đến bật đèn đỏ báo động xuống hầm. Nhưng rồi, mọi người không quản ngại hiểm nguy, vẫn hăng say lao động và trực chiến bên trận địa.

Ngày nay, do đáp ứng yêu cầu mới, Nhà máy cơ khí Lương Yên đã sáp nhập với Công ty Kim Khí Thăng Long. Tuy vậy, dấu ấn về một thời oanh liệt vẫn được người ta ghi nhớ như một lời tri ân với quá khứ hào hùng đã qua. Khẩu súng do xạ thủ Nguyễn Văn Hùng tham gia hạ chiếc máy bay F111 hiện đang đặt ở Bảo tàng Chiến thắng B52 cùng với 19 vỏ đạn.

Đinh Thị Thuận
baotintuc.vn

Những trận địa lửa giữ bầu trời Hà Nội: Kỳ 1

Nỗi khiếp đảm của siêu pháo đài bay

12 ngày đêm khói lửa trong trận chiến Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không với chiến thắng vang dội bắn rơi 81 máy bay các loại trong đó có 34 máy bay B.52, đập tan âm mưu của đế quốc Mỹ đưa Hà Nội về thời kỳ “đồ đá”; đã viết nên bản tráng ca bất tử gây chấn động thế giới. Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không đã buộc Mỹ phải xuống thang, ngồi vào bàn đàm phán để ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, đồng thời cũng tạo tiền đề cho cuộc tổng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975. Để làm nên chiến thắng đó, ngoài sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, còn là sức mạnh ý chí quyết chiến, quyết thắng, sự xả thân chiến đấu cho hòa bình, độc lập của quân và dân ta. Trong đó, góp phần không nhỏ để giữ bầu trời Hà Nội trong những ngày đêm khốc liệt ấy là những trận địa lửa: Trận địa của quân và dân Hà Nội với ý chí và lý tưởng chiến đấu quật cường.

Trấn gác ở phía Tây Hà Nội, đón đầu đường bay của các siêu pháo đài bay Mỹ vào Hà Nội; trận địa Chèm (xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm) với đơn vị đảm trách là Tiểu đoàn 77, Trung đoàn tên lửa 257, Sư đoàn phòng không 361 (Đoàn Cờ Đỏ), Quân chủng Phòng không – Không quân có nhiệm vụ đặc biệt: Bảo vệ Trung ương Đảng, bảo vệ khu Ba Đình. Trong trận chiến 12 ngày đêm khói lửa bảo vệ Hà Nội, Tiểu đoàn 77 lập nên một kỳ tích vang dội: bắn rơi 4 máy bay B52 trong đó 3 máy bay rơi tại chỗ, trở thành đơn vị bắn rơi nhiều máy bay B52 nhất. Chiến thắng đó không đơn thuần nhờ vị trí chốt giữ mà còn phụ thuộc vào sự nhạy bén trong chiến thuật tấn công, sự dũng cảm của những chiến sỹ bảo vệ bầu trời Hà Nội. Thời kỳ đó, trận địa Chèm trở thành nỗi khiếp đảm của không lực Hoa Kỳ khi các siêu pháo đài bay vào ném bom Hà Nội.

* Thành công nhờ cách đánh táo bạo

40 năm sau sự kiện Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257, Sư đoàn 36, đại tá Đinh Thế Văn vẫn nhớ tới từng chi tiết dù là nhỏ nhất trong các trận chiến đấu với B52. Với ông, đó là những tháng ngày vô cùng khốc liệt, gian khổ nhưng rất đỗi vẻ vang và dư âm chiến thắng vẫn hừng hực tới ngày nay. Cùng với khí thế sôi sục đánh trả máy bay B52 và các máy bay chiến thuật khác của cả Hà Nội, Tiểu đoàn 77 gan dạ bám trận địa dưới mưa bom lửa đạn, vận dụng phương pháp tấn công táo bạo.

Đại đội 4 pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô nổ súng mãnh liệt, trừng trị máy bay Mỹ đến gây tội ác trong 12 ngày đêm tháng 12/1972. Ảnh: Văn Bảo – TTXVN

Phương pháp tấn công máy bay B52 lúc bấy giờ thường sử dụng hai cách: Đón nửa góc và bắn ba điểm. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, phương pháp đón nửa góc sẽ bám sát được mục tiêu, đặc biệt bám sát mục tiêu tự động khả năng đánh trúng rất cao. Tuy vậy, phương pháp này không phải đơn vị nào cũng áp dụng thường xuyên vì phải sử dụng rada bắt dải nhiễu máy bay, không cẩn thận dễ bị lộ trận địa và trở thành mục tiêu để địch tấn công lại. Nhưng Tiểu đoàn 77 lại sử dụng phương pháp đón nửa góc để đánh máy bay B52 và đã thành công với cách đánh của mình.

“Điều quan trọng là phải biết tính toán để vừa phát hiện ra máy bay B52, vừa tránh lộ trận địa của mình” – Nguyên Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn quyết đoán. Ông cho rằng: Lúc bình thường chưa hẳn đã nghĩ ra cách đánh hay nhưng trong lúc gay cấn nhất, người ta thường có suy nghĩ táo bạo và sáng tạo. Đó là việc vận dụng những nhược điểm của máy bay B52: to, phản xạ chậm nên dễ nhìn thấy mục tiêu; dải nhiễu nặng nên rada của ta có thể bám sát dải nhiễu từ xa, khi tới gần mục tiêu chúng nghiêng cánh chuẩn bị ném bom gây hở sườn, hở cánh nhiễu chắc chắn ta sẽ bắt được mục tiêu. Cùng lúc đó, các máy bay hộ tống mang tên lửa không đối đất giãn ra để B52 ném bom, sẽ không phát hiện được rada của ta; lúc đó các chiến sỹ trên trận địa Chèm phát sóng nhanh để bắt mục tiêu máy bay B52. Và điều đó cũng lý giải lý do tại sao trận địa Chèm là nơi bắn rơi nhiều máy bay B52 nhất toàn quân lúc bấy giờ.

Dấu ấn đó là thời điểm 4 giờ 39 phút ngày 19/12, Tiểu đoàn bắn trúng một máy bay B52, chiếc này đã rơi xuống Tam Hưng, huyện Thanh Oai. Đêm 20 rạng ngày 21/12, Tiểu đoàn bắn hai chiếc B52, một rơi tại Ba Vì, một rơi tại Phúc Yên (Vĩnh Phúc). Ngày 27/12, Tiểu đoàn tiếp tục bắn trúng một máy bay nhưng không rơi tại chỗ.

Và cũng chính nhờ chiến thuật tấn công tốt, trận địa Chèm đã gạt tới 6 quả tên lửa do máy bay Mỹ phóng xuống, tránh được thương vong và thiệt hại khí tài.

* Hạ mục tiêu, nhưng giữ được mình

Phải biết cách mới dám đánh, đánh làm sao vừa hạ được mục tiêu, vừa bảo vệ được mình và đánh với ý chí quyết chiến quyết thắng – đó là nguyên tắc được Tiểu đoàn 77 quán triệt đến tất cả mọi người trong chiến đấu.

Bốn lần hạ được máy bay B52 là bốn lần đấu trí, đi đến quyết định nhanh chóng, sáng suốt trong xử lý tình huống. Bởi mỗi tốp B52 có hàng chục máy bay hộ tống và vô số máy gây nhiễu, rất khó khăn trong việc phát hiện mục tiêu. Ông Đinh Thế Văn nhớ rất rõ lần hạ rơi máy bay B52 đầu tiên trên bầu trời Hà Nội. Đó là rạng sáng ngày 19/12. Khi phát hiện máy bay B52 từ Thái Lan sang, ông ra lệnh cho kíp chiến đấu theo dõi và phát hiện mục tiêu. Rút kinh nghiệm từ trận đánh đầu tiên, đơn vị thực hiện phương pháp đánh 3 điểm không trúng mục tiêu, lần này Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn quyết định phương pháp đón nửa góc, bám sát bằng chế độ tự động. 4 giờ 39 phút, ông ra lệnh phóng hai quả tên lửa, trong đó quả 1 cự ly 26 km, quả 2 cự ly 25 km, phương vị 200, giãn cách 6 giây. Hai quả đạn bắt trúng mục tiêu và hạ gục ngay siêu pháo đài bay. Chiếc B52 này đã rơi xuống thôn Đại Định, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai và mới đây, thành phố Hà Nội cũng gắn biển chứng tích tại địa điểm này.

Đại tá Đinh Thế Văn nhớ lại: “Trước khi lựa chọn phương pháp hạ chiếc máy bay này, tôi nhớ như in lời của Bác: Trung với nước/ Hiếu với dân/ Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành/ Khó khăn nào cũng vượt qua/ Kẻ thù nào cũng đánh thắng. Bởi trước đó, khi lựa chọn phương pháp bắn ba điểm không trúng mục tiêu, tôi quyết định chuyển phương pháp khác để đạt hiệu quả, mặc dù phương pháp này phải đối mặt với không ít khó khăn”.

Với thành tích đặc biệt của Tiểu đoàn 77, 9 giờ sáng ngày 22/12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến thăm trận địa Chèm chúc mừng và động viên đơn vị. Đồng chí nói: “Các đồng chí đánh rất giỏi. Cảm ơn các đồng chí. Chính các đồng chí đã cứu nguy cho đất nước lúc này”. Lời nói ấy càng kích lệ tinh thần anh em đồng chí trên trận địa và sau 12 ngày đêm chiến đấu, đơn vị đã lập nên chiến công bắn rơi 4 siêu pháo đài bay của Mỹ.

Ngày nay, mặt trận Chèm là địa điểm đóng quân của Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257, Sư đoàn 361 và dấu ấn về thời kỳ oanh liệt là một tượng đài với hình quả tên lửa vút lên bầu trời trong một khuôn viên đẹp.

Đinh Thị Thuận
baotintuc.vn

Đêm 28-12-1972: Địch nao núng, không quân và tên lửa tiếp tục lập công

Nhật ký Chiến thắng B-52

QĐND Online – Ngày 28-12-1972, địch huy động lực lượng lớn máy bay chiến thuật gồm 131 lần chiếc đánh vào các trận địa tên lửa của các tiểu đoàn: 57, 77, 78. Pháo phòng không và không quân đánh trả địch quyết liệt để bảo vệ tên lửa. Không quân ta đã bắn rơi 1 chiếc RA5-C.

Cùng ngày 28-12, Bộ Tổng tham mưu thông báo, trước những tổn thất nặng nề, địch có thể kết thúc cuộc tập kích. Tổng thống Mỹ Ních-xơn đã gửi công hàm cho Chính phủ ta đề nghị được nối lại Hội nghị Pa-ri để bàn việc ký kết. Với thái độ thiện chí, Chính phủ ta chấp nhận yêu cầu của Mỹ và hẹn gặp tại Hội nghị Pa-ri vào ngày 8-1-1973 với điều kiện là phải lập tức trở lại nguyên trạng trước ngày 18-12-1972.

Nắm được ý định của trên và phát hiện triệu chứng nao núng của Mỹ, Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ chỉ thị cho các đơn vị phát huy hỏa lực, tổ chức đánh quyết liệt, không hạn chế số lượng đạn, nhằm giáng thêm cho địch những đòn tiêu diệt đau hơn nữa, giành thắng lợi to lớn hơn nữa.

Sau chiến công của phi công Phạm Tuân đêm 27-12-1972, đêm sau đó, phi công Vũ Xuân Thiều tiếp tục tiêu diệt thêm 1 chiếc B-51. Ảnh tư liệu

Trung đoàn tên lửa 274 từ hướng Nam được lệnh di chuyển tăng cường lên hướng Bắc Hà Nội. Tối 28, những quả đạn tên lửa ở Quân khu 4 được chuyển ra chi viện cho Hà Nội.

Đêm 28-12, địch sử dụng khoảng 30 lần chiếc B-52 đánh phá khu vực Đông Anh, Đa Phúc, Cầu Đuống, Yên Viên, Gia Lâm.

Vào lúc 21 giờ 41 phút, phi công Vũ Xuân Thiều được lệnh xuất kích từ sân bay Cẩm Thủy (Thanh Hóa). Được sở chỉ huy Thọ Xuân (Thanh Hóa) dẫn dắt, anh điều khiển Mig-21 vòng ra phía sau đội hình B-52. Đến vùng trời Sơn La, anh phát hiện B-52 và xin vào công kích. Sau khi anh phóng tên lửa, máy bay B-52 của địch bốc cháy, song Vũ Xuân Thiều cũng anh dũng hy sinh.

22 giờ 7 phút, từ trận địa Thượng Thụy (Gia Lâm, Hà Nội), Tiểu đoàn 78 (Trung đoàn 257) được lệnh tiêu diệt tốp B-52 mang số hiệu 608. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Chấn lệnh cho đài 2 mở máy, xác định dải nhiễu, phân biệt thật giả tín hiệu B-52 trên nền dải nhiễu và nhanh chóng xác định phần tử ban đầu. 22 giờ 13 phút, theo lệnh của Tiểu đoàn trưởng, sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Luyến nhấn nút phóng liên tiếp 2 quả đạn. Đạn có điều khiển, nổ tốt. Trắc thủ quang học báo mục tiêu cháy, bay về hướng Tây và rơi xa.

HOÀNG HÀ (tổng hợp)
qdnd.vn

—————————–

Đêm 27-12-1972: “Én bạc” hạ gục “ngáo ộp” B-52
Ngày 26-12-1972: Trận then chốt quyết định, 8 chiếc B-52 bị tiêu diệt
Ngày 25-12-1972: Ta rút kinh nghiệm, điều chỉnh đội hình chiến đấu
Đêm 24-12-1972: “Rụng” thêm một B-52, địch tạm dừng tập kích
Đêm 23-12-1972: Thua đau, B-52 giãn xa Hà Nội, Hải Phòng
Đêm 22-12-1972: Bộ đội Tên lửa Hải Phòng diệt 2 siêu pháo đài bay
Đêm 21-12-1972: 3 phút, bắn rơi tại chỗ 3 máy bay B-52
Đêm 20-12-1972: Thắng lợi giòn giã, 7 máy bay B-52 bị quật cổ
Đêm 19-12-1972: 2 siêu pháo đài bay B-52 đền nợ máu
Đêm 18-12-1972: B-52 tan xác khi vừa mò vào Hà Nội

Đêm 27-12-1972: “Én bạc” hạ gục “ngáo ộp” B-52

Nhật ký Chiến thắng B-52

QĐND Online – Đêm 27-12-1972, địch sử dụng 36 lần chiếc B-52, có 66 lần chiếc máy bay chiến thuật yểm hộ, tập trung đánh khu vực Đông Anh, Yên Viên, Bạch Mai, Văn Điển, Khuyến Lương, Đa Phúc, Dục Nội, Cổ Loa (Hà Nội); 18 lần chiếc B-52 đánh vào Đồng Mỏ (Thái Nguyên). Xen kẽ giữa các đợt hoạt động của B-52, địch sử dụng 17 lần chiếc F-111 liên tục thay nhau vào đánh phá.

Tại Hải Phòng, máy bay của hải quân Mỹ cũng thay nhau vào đánh phá khu vực cảng, Sở Dầu, nhà máy xi măng, sân bay Kiến An, cầu Quay.

Đêm 27-12-1972, phi công Phạm Tuân đã tiêu diệt 1 siêu pháo đài bay B-52. Ảnh tư liệu

22 giờ 20 phút đêm 27-12, phi công Phạm Tuân được lệnh lái Mig-21, xuất kích bất ngờ từ sân bay Yên Bái. Được sở chỉ huy của Binh chủng Không quân và 4 sở chỉ huy khác liên tục dẫn dắt, đến bầu trời Sơn La, Phạm Tuân phát hiện mục tiêu B-52 và xin vào công kích. Sở chỉ huy Binh chủng ra lệnh bắn 2 quả tên lửa, thoát ly ngay bên trái, Phạm Tuân lập tức tiến hành công kích bằng 2 tên lửa. Sau khi làm động tác thoát ly, Phạm Tuân phát hiện một quầng lửa lớn dưới Mig-21. Anh cơ động về sân bay Yên Bái hạ cánh an toàn. Phạm Tuân đã trở thành phi công đầu tiên bắn rơi B-52 trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Trong đêm 27, Bộ đội Tên lửa bảo vệ Hà Nội với 32 quả đạn đã bắn rơi 4 máy bay B-52, trong đó có 2 chiếc rơi tại chỗ. Diễn biến cụ thể như sau:

Lúc 22 giờ 50 phút, từ trận địa Tam Sơn (Từ Sơn, Bắc Ninh), Tiểu đoàn 94 (Trung đoàn 261) do Tiểu đoàn trưởng Trần Minh Thắng chỉ huy đã bắn rơi 1 chiếc B-52 xuống khu vực Quế Võ, Bắc Ninh.

Đến 23 giờ 2 phút, Tiểu đoàn 72 (Trung đoàn 261) được lệnh tiêu diệt tốp B-52 từ hướng tây đang lao vào đánh Hà Nội. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt lệnh cho sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dưng và kíp trắc thủ sục sạo phát hiện mục tiêu, nhưng không thấy. Tiểu đoàn trưởng quyết định đánh bằng 2 quả đạn theo phương pháp bám sát vào chính giữa dải nhiễu đậm, mịn. Đạn gặp mục tiêu, chiếc B-52 chưa kịp cắt bom đã bốc cháy rơi xuống Ngọc Hà (Ba Đình, Hà Nội) và đường Hoàng Hoa Thám. Đây là chiếc máy bay B-52 duy nhất bị bắn rơi khi chưa kịp cắt bom trong cả 12 ngày đêm của Chiến dịch.

2 chiếc B-52 còn lại bị bắn rơi trong đêm 27-12 là chiến công của các Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn 257) và Tiểu đoàn 59 (Trung đoàn 261) vào lúc 23 giờ 4 phút và 23 giờ 6 phút.

Trong ngày và đêm 27-12, quân và dân miền Bắc còn tiêu diệt 5 chiếc F-4, 2 chiếc A-7, 1 chiếc A-6 và 1 máy bay lên thẳng HH-53 đến cứu giặc lái.

HOÀNG HÀ (tổng hợp)
qdnd.vn

“Cánh chửa kịp xòe, đuôi đã cụp”

Cuộc sống-Trang viết

QĐND – Máy bay ném bom F111A (mang được 10 tấn bom) được Mỹ đưa vào hoạt động trên chiến trường Việt Nam từ tháng 3-1968. Tháng 9-1972, Mỹ đưa thêm hai đội F111A gồm 48 chiếc tăng cường đánh phá miền Bắc. Loại máy bay này có thể thay đổi cánh để tăng giảm tốc độ nên được mệnh danh là “cánh cụp, cánh xòe”. F111A có thể bay men theo địa hình ven sông, ven biển, triền núi cực thấp nên dễ thoát khỏi sự bủa vây của lưới lửa phòng không. Giá của mỗi chiếc F111A theo thời giá năm 1972 là 15 triệu đô-la, không hề rẻ hơn B-52.

Xác máy bay Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội trong 12 ngày đêm “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” được trưng bày tại Bảo tàng Chiến thắng B-52.

Hiện đại, khôn ngoan như vậy nhưng ngày 17-10-1972, một chiếc F111A bị dân quân xã Tiền Châu (Vĩnh Lạc, Vĩnh Phúc) dùng súng máy phòng không bắn rơi tại chỗ, bắt sống hai phi công là Giêm A-lơn và Alen Ốp-tơn. Sung sướng trước thành tích trên, nhân dân ta đã làm bài vè, được truyền tụng rộng rãi: “Nhãn hiệu tối tân, cánh cụp xòe/ Nghe mồm giặc Mỹ, tưởng rằng ghê/ Cụp! Cụp! Đạn ta tuôn đỏ rực/ Xòe! Xòe! Xác nó cháy xanh lè/ Khoe bịp hết thời: Xòe mặt Ních/ Ăn đòn nhục nhã, cụp râu Le/ Cánh chửa kịp xòe, đuôi đã cụp/ Vừa xòe sang đã… cụp tai de!”.

Trong cuộc tập kích chiến lược cuối tháng 12-1972 trên bầu trời Hà Nội, F111A cũng được quân đội Mỹ sử dụng trong đội hình cùng máy bay B-52 đánh phá miền Bắc. Và giống như B-52, “cánh cụp, cánh xòe” cũng không thoát khỏi sự trừng phạt của quân và dân ta. 19 giờ 8 phút ngày 18-12-1972, mở đầu cuộc tập kích, đài quan sát của ta ở Tam Đảo phát hiện nhiều tốp F111 bay vào Hà Nội để hủy diệt các sân bay hòng làm tê liệt hoạt động của không quân ta và đánh phá các trận địa tên lửa, pháo phòng không khu vực nội thành. Có đợt, địch huy động tới 25 lần chiếc F111A hoạt động xen kẽ giữa các đợt rải thảm của B-52.

Trong 12 ngày đêm “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, 5 chiếc F111A phải đền tội. Đặc biệt, Liên đội tự vệ Hoàn Kiếm-Hai Bà Trưng với chỉ 19 viên đạn đã diệt một máy bay F111 vào đúng đêm 22-12-1972. Chiếc này rơi xuống huyện Lương Sơn (Hòa Bình) và hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Bài và ảnh: VÂN NGỌC
qdnd.vn

Bảo đảm kỹ thuật cho đánh liên tục dài ngày và những trận then chốt

QĐND – Trong Chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972, lực lượng Phòng không – Không quân (PK-KQ) mà nòng cốt là bộ đội Tên lửa phòng không đã đập tan cuộc tập kích bằng không quân chiến lược B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và các vùng phụ cận. Trong trận quyết chiến chiến lược ấy, công tác bảo đảm kỹ thuật cho các lực lượng tham gia chiến đấu đóng vai trò hết sức quan trọng, bảo đảm cho các đơn vị hỏa lực đánh liên tục dài ngày; đánh những trận then chốt, quyết định…

Quá trình thực hiện nhiệm vụ, sự hiệp đồng tác chiến giữa các quân binh chủng là yếu tố vô cùng quan trọng đóng góp vào chiến thắng cuối cùng. Tuy nhiên, mỗi quân binh chủng lại có yêu cầu nhiệm vụ riêng nên công tác bảo đảm kỹ thuật cũng có những nội dung khác nhau.

Đối với bộ đội ra-đa, đây là lực lượng đầu tiên phát hiện B-52 vào đánh Hà Nội. Trong suốt chiến dịch, bộ đội ra-đa luôn chủ động, kịp thời thông báo, chỉ thị mục tiêu cho các lực lượng tên lửa, pháo phòng không, dẫn đường cho không quân ta. Để thực hiện nhiệm vụ đó, công tác kỹ thuật được bảo đảm tốt từ trước khi chiến dịch diễn ra. Chỉ riêng trong hai tháng 10 và 11-1972, ngành kỹ thuật đã thực hiện bảo quản định kỳ năm được 17 trạm ra-đa, trong đó, Xưởng A38 thực hiện kiểm tra, hiệu chỉnh các máy đo cho 25 trạm ra-đa, sửa chữa khôi phục được 40% Vi-kô, 30% máy hỏi bị hỏng. Các trạm kỹ thuật, trung đoàn ra-đa được trang bị mới hoặc bổ sung các bộ đồ sửa chữa vô tuyến, cơ khí. Hệ số kỹ thuật ra-đa cảnh giới, dẫn đường đến thời điểm trước ngày 18-12, khu vực Hà Nội đạt 96,5%; khu vực Tây Bắc đạt 95,4%; khu vực Bắc bộ đạt 95%.

Công tác bảo đảm trang bị ra-đa được thực hiện song song với bảo đảm kỹ thuật. Quân chủng PK-KQ cấp mới 6 bộ ra-đa P-12 cho Binh chủng Ra-đa, cấp đổi 3 bộ ra-đa P-12 cũ cho các Tiểu đoàn: 93, 73, 52 và cấp mới 12 máy nổ cho các đơn vị ra-đa. Nhờ sự chuẩn bị chu đáo đó, đêm 18-12, Trạm Ra-đa 45 đã kịp thời phát hiện sớm và xác định chính xác 7 tốp với 21 chiếc B-52 tiến đánh Hà Nội khi chúng còn cách xa 500km. Do được báo động kịp thời nên lực lượng PK Hà Nội đã chuyển cấp sớm, góp phần tạo điều kiện cho các đơn vị hỏa lực bắn rơi máy bay B-52 ngay trận đầu.

Kiểm tra việc lắp ráp đạn tên lửa phục vụ chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972. Ảnh tư liệu

Trong toàn bộ chiến dịch, các đài ra-đa, nhất là các đài ra-đa tầng cao mở máy trung bình 10-13 giờ (ngày, đêm), nhiều trạm phải mở máy 15-17 giờ (ngày, đêm). Các lực lượng bảo đảm kỹ thuật thường xuyên bám máy, túc trực kịp thời, khắc phục các hỏng hóc xảy ra. Trong chiến dịch, lực lượng ra-đa đã phát hiện 165 tốp B-52, trong 17 đợt tập kích, Trung đoàn Ra-đa 291 đã phát hiện xa, báo động cho các lực lượng PK Hà Nội và Hải Phòng sớm từ 30 đến 60 phút. Trong số các tốp B-52, có 10 tốp được phát hiện cách xa Hà Nội 900km, 56 tốp cách Hà Nội 500-700km, góp phần bảo đảm tình báo ra-đa cho các đơn vị hỏa lực tiêu diệt mục tiêu. Cùng với nhiệm vụ bảo đảm tốt việc chỉ thị mục tiêu cho các đơn vị hỏa lực, lực lượng ra-đa còn dẫn đường cho không quân ta tiêu diệt địch. Đặc biệt, đêm 27-12, các đại đội ra-đa 22 và 50 đã phát hiện, dẫn đường cho biên đội của phi công Phạm Tuân; đêm 28-12 dẫn đường cho phi công Vũ Xuân Thiều bắn rơi máy bay B-52.

Đối với Bộ đội Tên lửa, đây là lực lượng chủ công của chiến dịch nên công tác bảo đảm kỹ thuật cũng đòi hỏi yêu cầu cao hơn. Trước chiến dịch, ngành kỹ thuật đã chủ động khảo sát, đánh giá thực trạng các bộ khí tài tên lửa PK, hầu hết qua 6 đến 7 năm chiến đấu liên tục, có giờ tích lũy cao từ 6000 đến 10.000 giờ, cần phải trung tu, đại tu, khí tài cấp 1 chỉ còn 14%, trong đó cấp 3 và 4 tới hơn 50%. Số bệ phóng của các tiểu đoàn hỏa lực trung bình chỉ còn 4/6 bệ tốt, có tiểu đoàn chỉ còn 2 bệ. Trong khi đó yêu cầu của Quân chủng đối với các tiểu đoàn hỏa lực tên lửa ở Hà Nội, Hải Phòng để chuẩn bị đánh B-52 phải bảo đảm 100% khí tài tốt, đồng bộ đủ 6 bệ phóng, đạn tên lửa đủ cơ số ở 4 tuyến…

Ngày 25-8-1972, sau khi thực hiện sơ tán các kho xưởng về vị trí mới, quân chủng tổ chức Hội nghị Kỹ thuật để bàn chuyển hướng sản xuất, sửa chữa trang bị, vật tư, phụ tùng cho phù hợp với yêu cầu tác chiến mới. Các xưởng không triển khai dây chuyền trung tu đồng bộ toàn đài điều khiển mà thực hiện sửa chữa xe lẻ, khối lẻ, phụ tùng vật tư lẻ, các dây cáp và động cơ. Tổ chức các đội cơ động cùng đơn vị trực tiếp sửa chữa hỏng hóc của khí tài tại trận địa. Các nhà máy A31, A34, A35, A38, mặc dù trong điều kiện sơ tán, nhưng chỉ trong thời gian ngắn (từ tháng 8 đến 10-1972), đã phục hồi được số lượng lớn các xe lẻ, đài điều khiển tên lửa, bệ phóng, ăng-ten, khối lẻ của tên lửa, đài ra-đa cảnh giới, dẫn đường, ra-đa ngắm bắn của pháo PK, dây cáp biến thế, động cơ các loại… kịp thời cung cấp cho các đơn vị chiến đấu và dự trữ.

Để chủ động bảo đảm vật tư cho công tác sửa chữa, khắc phục khó khăn trong điều kiện chiến đấu ác liệt, Cục Kỹ thuật đã có nhiều phương án bảo đảm, hiệp đồng với các cơ sở công nghiệp địa phương như Nhà máy Điện cơ Hà Nội cuốn hàng trăm động cơ các loại; liên hệ với Cục Vật tư (TCHC) xin dây cáp các loại đưa về Xưởng A31 sản xuất các loại cáp theo tiêu chuẩn kỹ thuật của khí tài tên lửa, ra-đa… giúp cho việc sửa chữa, thay thế ở đơn vị được nhanh chóng… Với sự chỉ đạo thường xuyên, kịp thời của Bộ tư lệnh và sự nỗ lực cố gắng của toàn ngành nhất là các nhà máy, xưởng nên trước khi bước vào chiến dịch, VKTBKT được chuẩn bị tốt, nguồn dự trữ tương đối dồi dào đủ sức hoạt động trên khắp chiến trường, nhất là lực lượng tên lửa phòng không.

Trong chiến dịch, công tác bảo đảm kỹ thuật đáp ứng tốt yêu cầu chiến đấu. Ngày 22-10-1972, địch ngừng ném bom từ Vĩ tuyến 20 trở ra, ta tiếp tục hoàn thành công tác chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng đánh trả những bước leo thang mới. Ngày 31-11, quân chủng tổ chức Hội nghị Kỹ thuật nhằm kiểm tra lần cuối công tác bảo đảm cho bộ đội chuẩn bị đánh B-52; khẩn trương bảo dưỡng định kỳ năm luân phiên tại các đơn vị, sao cho công tác định kỳ phải xong trước tháng 12-1972 mà không ảnh hưởng đến SSCĐ. Trong định kỳ, kết hợp sửa chữa các hỏng hóc, phục hồi các tham số kỹ thuật của khí tài ở mức tốt nhất. Sau định kỳ, ổn định chất lượng đồng bộ, Cục Kỹ thuật cấp trực tiếp, bổ sung các vật tư linh kiện dự trữ đến các trung đoàn không qua sư đoàn để bảo đảm thời gian nhanh nhất. Như vậy, công tác bảo đảm kỹ thuật đã chủ động đi trước một bước. Đến ngày 17-12, ở Hà Nội có 8/12 tiểu đoàn; Hải Phòng có 7/8 tiểu đoàn; Bắc đường số 1 có 3/3 tiểu đoàn hỏa lực SSCĐ. Trong chiến dịch, khí tài hoạt động liên tục nhiều giờ ít hư hỏng; một số đơn vị bị địch đánh vào trận địa, hỏng khí tài như các Tiểu đoàn 76, 77 (ngày 20 và 22-12), nhưng đội ngũ cán bộ kỹ thuật cùng các chuyên gia Liên Xô và đơn vị sửa chữa, bảo đảm phục hồi ngay trong ngày.

Sang giai đoạn 2 của chiến dịch, địch tăng cường đánh phá các trận địa tên lửa, các Tiểu đoàn: 57, 94, 87 bị đánh hỏng nặng phải khắc phục mất nhiều thời gian, mặc dù máy bay địch đánh phá ác liệt nhưng đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật vẫn kiên trì, dũng cảm bảo đảm tốt khí tài chiến đấu.

Bảo đảm đạn cho chiến dịch là nhiệm vụ hết sức nặng nề và quan trọng, nếu khí tài tốt mà đạn dược không tốt cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ. Đến hết tháng 11-1972, bốn dây chuyền đã sửa chữa 220 quả đạn tốt trên tổng 300 quả đạn hỏng từ các đơn vị đưa về. Một số dây chuyền sửa chữa khối lẻ của A31 triển khai ở vị trí của A34 cũng sửa chữa tốt 600/1000 khối lẻ hỏng kịp thời cung cấp cho các tiểu đoàn kỹ thuật sản xuất và lắp ráp đạn. Trước chiến dịch, quân chủng còn liên tục tổ chức các Hội nghị Kỹ thuật rà soát lại phương án lần cuối… Thực tế đợt 1 của chiến dịch, trong các ngày 18, 19 và 20-12, máy bay B-52 đánh phá ác liệt các mục tiêu ở Hà Nội. Các tiểu đoàn hỏa lực bảo vệ Hà Nội đã đánh trả quyết liệt, bắn rơi nhiều B-52, tiêu thụ lượng lớn đạn tên lửa. Cán bộ, chiến sĩ các tiểu đoàn kỹ thuật cũng thấm mệt, năng suất sản xuất đạn giảm dần. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật vẫn quyết tâm cao, với kế hoạch sản xuất hợp lý nên các đơn vị vẫn đủ đạn chiến đấu…

Cùng với bảo đảm cho các lực lượng, ngành kỹ thuật đã chủ động quan tâm bảo đảm kỹ thuật cho máy bay của không quân huấn luyện, chiến đấu. Trong suốt chiến dịch, các sân bay luôn là mục tiêu B-52 đánh phá ác liệt nhằm ngăn chặn không quân ta cất, hạ cánh. Mặc dù bị đánh phá, song lực lượng kỹ thuật vẫn phải thường xuyên bám sát các sân bay, tranh thủ sửa chữa máy bay cho phi công luyện tập thành thạo động tác chuẩn bị tái xuất kích. Lực lượng của cả 4 chuyên ngành máy bay động cơ, vô tuyến điện tử, vũ khí hàng không và thiết bị hàng không đều phải sẵn sàng làm nhiệm vụ. Đặc biệt, luyện tập lắp ráp tên lửa K.9 – loại tên lửa phục vụ cất cánh bằng đường băng ngắn phải thành thạo, nhanh; bảo đảm sau khi máy bay hạ cánh kiểm tra bổ sung dầu, lắp tên lửa đối không, tên lửa cất cánh đường băng ngắn trong phạm vi 15 phút máy bay có thể cất cánh tiếp. Sau các đợt địch đánh phá hỏng sân bay, ta chưa kịp sửa chữa đường băng, máy bay vẫn phải hạ cánh xuống đường băng xấu, với hàng chục lần chuyến bị gẫy càng hoặc móp méo các chi tiết nhưng đội ngũ kỹ thuật đã kịp thời khắc phục đưa máy bay vào chiến đấu được ngay. Công tác kỹ thuật đã bảo đảm cho máy bay ta xuất kích đánh hàng chục trận, bắn rơi 5 máy bay Mỹ gồm 3 máy bay F-4, 1 máy bay A3.J và 2 chiếc B-52.

Thực tiễn công tác bảo đảm kỹ thuật trong chiến dịch 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972 đã để lại nhiều kinh nghiệm quý. Đáng chú ý là ở thời điểm năm 1972, VKTBKT của Quân chủng PK-KQ thuộc loại hiện đại nên công tác đảm bảo kỹ thuật phải được chủ động từ sớm và có nhiều phương án vừa bảo đảm chiến đấu thường xuyên, vừa bảo đảm cho tác chiến liên tục, dài ngày, nhưng phải biết tập trung cho đánh những trận then chốt, quyết định và bảo đảm cho đánh B-52…

Đại tá BÙI DUY HÙNG, Chính ủy Cục Kỹ thuật Quân chủng PK-KQ
qdnd.vn