Thư viện

Thơ chúc Tết với tư tưởng đoàn kết của Bác Hồ

Những năm đất nước còn chiến tranh, những đêm giao thừa, giây phút thiêng liêng giao hòa của trời đất, mọi người mong đợi, lắng nghe Bác Hồ chúc tết qua vần thơ xuân. Thói quen ấy đến hôm nay, nhiều người vẫn muốn được tĩnh lặng để cảm nhận, như còn phảng phất vương quyện trong hương xuân ngày tết của toàn dân tộc.

Tính ra từ xuân 1947, toàn quốc kháng chiến tròn một năm đến xuân 1969 cả thảy là 18 lần nghe Bác đọc thơ chúc tết trên Đài tiếng nói Việt Nam kêu gọi đoàn kết kháng chiến của Bác với lời thơ mộc mạc, dễ hiểu, dễ nhớ:

Mấy lời thành thật nôm na
Vừa kêu gọi, vừa là mừng xuân

(Xuân 1964)

Hay là :

Năm mới quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành
Đẩy mạnh kháng chiến để dành độc lập tự do
Cải cách ruộng đất là công việc rất to
Dần dần làm cho người cày có ruộng, khỏi lo nghèo nàn

(Xuân 1954)

Càng ngẫm càng thấy cái mà Bác gọi là “nôm na”, “kêu gọi” ấy, ý tứ rất sâu xa, vừa là lời chúc, vừa chỉ ra nhiệm vụ cần tập trung thực hiện và bao giờ Bác cũng nhắc đến khối đại đoàn kết bởi đoàn kết là sức mạnh làm nên mọi thắng lợi.

Đoàn kết – đoàn kết – đại đoàn kết
Thành công –thành công -đại thành công ”
Tiến gần đến ngày khởi nghĩa giành chính quyền Bác chúc:
“ Chúc đồng bào ta đoàn kết mau
Chúc Việt Minh ta càng tiến tới

(Xuân 1942)

Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp vô cùng khó khăn gian khổ, Thơ Tết của Bác luôn động viên:

Chí ta đã quyết lòng ta đã đồng
Tiến lên chiến sĩ, tiến lên đồng bào

(Xuân Mậu Tý 1947)

Tết Quý Tỵ 1953, Bác chúc mừng:

Mừng toàn dân đoàn kết
Mừng kháng chiến thắng lợi

Những năm miền Bắc hòa bình xây dựng Chủ nghĩa xã hội làm hậu phương vững chắc cho miền Nam đẩy mạnh đấu tranh thống nhất, thơ chúc tết của Bác luôn động viên hai miền đoàn kết thi đua.

Chúc miền Bắc thi đua phấn khởi
Bốn mùa hoa Duyên hải -Đại Phong
Chúc miền Nam đấu tranh tiến tới
Sức triệu người hơn sóng biển Đông

(Xuân 1962)

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vô cùng khốc liệt, hơn nửa triệu quân Mỹ ồ ạt kéo vào miền Nam, máy bay, tàu chiến Mỹ hùng hổ đánh phá miền Bắc định đưa nhân dân ta trở về thời đồ đá- thơ chúc tết của Bác đều đặn, cổ vũ nhân dân hai miền quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược – ngay cuộc thử sức đầu tiên, chúng ta đã thắng to, Bác khen:

Mừng miền Nam rực rỡ chiến công
Nhiều Dầu Tiếng, Bầu Bàng, Plây me, Đà Nẵng …
Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng
Giặc Mỹ leo thang, ngày càng thua nặng”.

(Xuân 1966)

Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, hai miền Nam -Bắc đã được thể hiện rõ nét ở cuộc tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968 ngay sau lời chúc tết của Bác:

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên toàn thắng ắt về ta

Đặc biệt bài thơ chúc tết cuối cùng của Bác năm 1969 sẽ còn âm vang mãi trong lòng của những người đang sống và các thế hệ mai sau về lời tiên tri, lời dặn dò của Bác trước lúc đi xa:

Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào
Tiến lên chiến sĩ đồng bào
Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn

Đại thắng mùa xuân năm 1975, quân dân ta đã thực hiện trọn vẹn di chúc của Bác, Mỹ phải cút, Ngụy đã sụp đổ, một dải non sông đã thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà.

Học tập tấm gương đạo đức của Người qua những lời thơ chúc Tết, mừng Xuân, lời kêu gọi đại đoàn kết trong các vần thơ xuân, chúng ta càng thấy nhớ thương Bác và xin hứa với Bác:

Tết này vắng Bác đi xa
Chúng con vẫn hát bài ca kết đoàn
Bài ca vang vọng núi sông
Tay Bác bắt nhịp muôn lòng hòa theo./.

Phan Kế Toán

lagi.gov.vn

Những ngày Tết dân tộc của Bác Hồ

Mỗi khi Tết đến, xuân về, không một người Việt Nam nào lại không nhớ đến Bác Hồ – lãnh tụ vĩ đại của Cách mạng Việt Nam, Danh nhân văn hóa thế giới, Anh hùng giải phóng dân tộc đã suốt đời hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Vào những ngày Tết dân tộc, Người vẫn dành trọn các ngày nghỉ của mình để đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sỹ.

Một bài thơ chúc tết của Bác Hồ

Đối với Bác, việc đi thăm và chúc Tết này đã thành nền nếp bởi Người cho rằng, đây là cơ hội tốt để hiểu được đầy đủ đời sống của người lao động, là niềm vui, hạnh phúc lớn của người “đầy tớ của nhân dân” khi được tiếp xúc và nghe họ nói về mơ ước, khát vọng và niềm tin của mình về một năm mới đang gõ cửa từng nhà. Đã không ít lần Bác tâm sự, là người dân của một nước bị thực dân đô hộ, Người phải ra đi tìm đường cứu nước từ những năm còn niên thiếu và bắt đầu từ làm phụ bếp trên tầu Latusơ Trêvin, đến làm vườn ở Xanh Ađretro và cào tuyết ở Luân Đôn… không biết đến ngày nghỉ lễ, tết, nên khi nước nhà đã độc lập càng thấy quý trọng những ngày Tết dân tộc. Tuy vậy, với Bác, hạnh phúc lớn nhất trong những ngày Tết này lại ở chỗ được chứng kiến không khí mọi người, mọi nhà đoàn tụ và tận hưởng niềm vui trước những thành quả lao động sau một năm làm việc vất vả.

Vì quan niệm về hạnh phúc đơn giản, nhưng sâu sắc ấy mà kể từ ngày Bác đọc Tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (trừ những năm ở chiến khu Việt Bắc) đến trước khi đi vào cõi vĩnh hằng, hầu như năm nào, Người cũng đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sỹ. Chương trình này được Bác chỉ thị cho Văn phòng chuẩn bị ngay từ khi kết thúc năm Dương lịch và được Người đôn đốc, kiểm tra rất kỹ trong những ngày giáp Tết. Có những Tết, mặc dù sức khỏe rất yếu, nhưng Bác vẫn muốn được đi thăm nhiều nơi làm cho Văn phòng phải lúng túng khi sắp xếp chương trình và cuối cùng phải nhờ đến Thủ tướng Phạm Văn Đồng thuyết phục, Người mới chấp nhận một chương trình phù hợp với mình. Bác đến với các gia đình công nhân, viên chức: Nguyễn Đình Kỳ, Mai Đình Cường, Nguyễn Phú Lộc, Giáo sư Tôn Thất Tùng, cụ Phạm Văn Hoan (92 tuổi)… ngay trong thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới; đến với công nhân các nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, Dệt kim Đông Xuân, nông dân các HTXNN Lỗ Khê (ngoại thành Hà Nội), Văn Phú (Hà Tây), cán bộ và chiến sỹ bộ đội phòng không và không quân ở sân bay Bạch Mai… ngay trong buổi sáng của ngày mồng một Tết. Bác mang theo mùa xuân của đất trời đến với mọi người, truyền thêm sức mạnh và lòng tin cho từng tập thể, người lao động vững bước vào năm mới với năng suất và hiệu quả mới.

Nhiều cuộc gặp gỡ giữa Bác với những người lao động, nhất là lao động nghèo, đã diễn ra đầy xúc động trong giờ phút đáng nhớ của năm mới. Đó là vào đêm giao thừa của Tết đầu tiên sau ngày Độc lập, Bác và đồng chí Thư ký cùng dò dẫm trong một ngõ tối của phố Sinh Từ đến thăm một người từ tỉnh khác về Hà Nội kéo xe không đủ tiền về quê ăn Tết. Bác đứng nhìn người kéo xe đang lên cơn sốt với tất cả sự thương cảm. Bác lặng lẽ đi ra và dặn Thư ký hôm sau mang thuốc, quà của Người đến thăm hỏi. Xe đi được một đoạn, Bác nói: “30 Tết mà không có Tết” như để nhắc nhở mình về trách nhiệm chăm lo Tết cho những người nghèo. Ngay sáng mồng một, Bác đã mời đồng chí Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội lên phê bình không thực hiện thư của Người về tổ chức Tết, làm cho nhiều gia đình không có Tết và yêu cầu đồng chí Chủ tịch phải sửa chữa ngay khuyết điểm này. Và Tết năm sau, hầu hết các gia đình nghèo đều được hưởng Tết do các đội tuyên truyền phối hợp với nhân dân đường phố vận động tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau.


Bác Hồ chúc tết. Ảnh: Tuấn Anh

Đêm giao thừa Tết Đinh Dậu (1957), Bác cùng đón Tết với gia đình anh Nguyễn Văn Tảo và 5 gia đình công nhân khác của nhà máy điện Yên Phụ tại khu lao động vừa được xây dựng trên bãi rác Nghĩa Dũng cũ. Đêm giao thừa, cả khu lao động như trong ngày hội với hai niềm vui lớn: được đón Tết trong các căn hộ mới ở khu lao động do nhà máy xây, có đủ điện, nước sinh hoạt và được vinh dự đón Bác đến thăm. Bác chỉ vào nồi bánh chưng đang sôi của gia đình anh Tảo và hỏi cụ thể số lượng bánh, thịt mà từng hộ đã lo được trong Tết này và cả những khó khăn về đời sống, việc làm hiện nay. Bác rất vui trước những tiến bộ về đời sống, nhất là nhà ở của công nhân nhà máy và thân mật nhắc nhở mọi người: “Thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Cố gắng thi đua làm việc và thực hành tiết kiệm”. Những điều Người căn dặn đã trở thành những câu chuyện có ý nghĩa cả trong các bữa ăn của từng gia đình.

Cảm động nhất là cuộc gặp giữa Bác với chị Nguyễn Thị Tín, một người gánh nước thuê ở ngõ 16 Lý Thái Tổ trong đêm 30 giá rét và mưa phùn của Tết Nhâm Dần năm 1962. Chồng mất sớm, một mình chị Tín gánh nước thuê lấy tiền nuôi 4 con còn nhỏ (đứa lớn nhất mới trên 10 tuổi) và đêm 30 này chị vẫn chưa được nghỉ. Với đôi thùng trên vai, chị vừa ra đến ngõ thì gặp Bác. Quá bất ngờ trước sự xuất hiện của Bác, đôi thùng trên vai chị rơi xuống đất. Tay chị run run nắm lấy bàn tay Bác và nói trong sự xúc động chen lẫn tiếng nấc nghẹn ngào:

– Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm.

Bác vỗ vai an ủi chị:

– Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai…

Bước vào nhà, Bác nhìn căn phòng trống tuềnh toàng và trên bàn thờ tổ tiên chỉ có nải chuối xanh, trong khi 4 đứa con của chị đang chia nhau một gói kẹo, một nét buồn hiện lên trên khuôn mặt hiền từ của Người. Bác lấy kẹo chia cho các cháu và lấy chiếc bánh chưng được chuẩn bị sẵn đặt lên bàn thờ. Chị Tín đứng nhìn Bác trong khi hai hàng nước mắt vẫn lăn trên hai gò má xanh xao. Đối với chị, đây thật sự là hạnh phúc lớn và không gì có thể so sánh được mà Bác đã dành cho gia đình mình.

Hình ảnh gia đình chị Tín giữa Thủ đô Hà Nội sau những năm kháng chiến thắng lợi nay vẫn nghèo khổ gợi cho Bác nhớ lại người phu kéo xe đã gặp trong đêm giao thừa của Tết độc lập đầu tiên, làm cho nỗi buồn không vơi và theo Người suốt cả đêm giao thừa ấy.

Bác đến với những tập thể lao động không những chỉ mang ý nghĩa thăm hỏi, động viên, mà còn là dịp để Người chỉ ra phương hướng lớn về hành động của một năm mới vì mục tiêu phát triển của ngành và mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước. Những câu chuyện thân tình, cởi mở giữa Bác và công nhân các nhà máy: Cơ khí Hà Nội, Cơ khí Trần Hưng Đạo, Dệt kim Đông Xuân và Rượu Hà Nội vào đúng sáng mồng một Tết Tân Sửu (1961) đã làm cho Người rất vui khi được biết đời sống của công nhân ít nhiều đã được cải thiện. Tết này gia đình nào cũng có bánh chưng, có thịt và những người bám máy sản xuất được lãnh đạo nhà máy lo chu đáo về vật chất. Bác khuyến khích mọi người năm mới cố gắng hơn nữa, thi đua tăng năng suất và nâng cao chất lượng sản phẩm để năm tới công nhân và nhân dân ta ăn Tết vui hơn, phấn khởi hơn.

Đến với công nhân khu gang thép Thái Nguyên – công trình lớn đầu tiên của ngành công nghiệp gang thép non trẻ nước ta vào dịp Tết Giáp Thìn (1964), Bác hài lòng khi được chứng kiến không khí vui tươi, phấn khởi đón năm mới và mừng thành tích một năm lao động hết mình của những người lao động trên công trường. Bác khẳng định: “Cán bộ và công nhân có thể tự hào rằng sau hơn 3 năm lao động cần cù, tự tay mình đã ngăn sông, xẻ núi, xây dựng một khu gang thép to lớn đầu tiên của nước ta. Mọi người đã góp phần mình vào công nghiệp hóa XHCN…”. Bác nhấn mạnh: “Để làm ra gang thép tốt thì mỗi người công nhân và cán bộ phải tôi luyện tinh thần cách mạng, lập trường giai cấp và ý thức làm chủ phải cứng rắn như thép, như gang…”. Sâu sắc và chân lý biết nhường nào về những lời dạy của Bác trong những giờ phút thiêng liêng của năm mới đối với công nhân gang thép trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước hiện nay.

Đến Tết này là hơn 40 cái tết, những người lao động không được đón Bác đến thăm và chúc Tết, nhưng hình ảnh Bác cùng những lời dạy của Người từ những mùa xuân ấy vẫn sống mãi trong lòng những người thợ như những điều kỳ diệu của lòng tin, sự biết ơn làm nên sức mạnh để chúng ta cùng Người bước vào một năm mới tràn đầy sức xuân./.

baotanghochiminh.vn

Bài viết đầu tiên của Bác Hồ về Tết trồng cây

Cuối năm 1959, trong phong trào thi đua toàn dân lập thành tích mừng Đảng ta 30 tuổi vào Mùa xuân 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị tổ chức “Tết trồng cây” cùng với phong trào thi đua đó.

Bac_ho_trong_cay_OK

Ngày 28-11-1959, báo Nhân Dân số 2082 đã đăng bài viết “Tết trồng cây” của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh Trần Lực. Hơn một tháng sau, ngày 19-1-1960 báo Nhân Dân ra số 2133 lại đăng tiếp bài “Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu” với bút danh T.L. Đó là những bài viết đầu tiên của Người nhằm động viên toàn dân tham gia vào phong trào bảo vệ môi trường sống của con người. Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết rất nhiều bài động viên phong trào trồng cây của nhân dân ta. Tuy nhiên, ngay ở hai bài báo đầu tiên chúng ta cũng có thể hiểu tư tưởng của Người về việc con người phải ứng xử có văn hóa với thiên nhiên, để thiên nhiên tiếp tục phục vụ lợi ích cho con người. Một trong những biểu hiện văn hóa ấy là việc trồng cây, bao gồm cả cây hoa, cây ăn quả, cây lấy gỗ.

Ở bài viết đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích lợi ích trước mặt của việc trồng cây. Người viết: “…Mấy lâu nay các xí nghiệp, công trường, cơ quan, trường học, đơn vị bộ đội, hợp tác xã nông nghiệp… đang thi đua sôi nổi để lấy thành tích chúc mừng Đảng 30 tuổi… Bên đợt thi đua ấy, chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày “Tết trồng cây”. Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều. Ý kiến của chúng tôi tóm tắt thế này: tất cả nhân dân miền Bắc mỗi người phụ trách trồng một hoặc vài cây và chăm sóc cho tốt. Miền Bắc ta có độ 14 triệu, trong số đó 3 triệu là trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây. Mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây. Từ năm 1960 đến 1965 (là năm cuối cùng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất) chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, cây có hoa, vừa cây làm cột nhà… Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta…”.

Kêu gọi toàn dân tham gia trồng cây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã là người thực hiện trước. Ngày 11-1-1960, Người đã đến trồng cây doi tại Công viên Bảy Mẫu (nay là Công viên Thống Nhất). Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với nhân dân và cán bộ tham gia lao động, Người căn dặn phải trông nom, chăm sóc, bảo vệ cây trồng. Thủ đô Hà Nội tự hào là địa phương mở đầu phong trào “Tết trồng cây” trong cả nước.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trồng cây là biểu hiện cụ thể, thiết thực nhất của tấm lòng yêu thiên nhiên. Sinh thời, ở những nơi Người sống và làm việc, bất kỳ trong hoàn cảnh nào, thời chiến hay thời bình, ở nơi đó đất không bao giờ bị bỏ hoang mà luôn có rau xanh, hoa trái bốn mùa tươi tốt. Chúng ta có không ít những hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trồng rau, chăm sóc nương ngô ở Chiến khu Việt Bắc, Người cuốc đất trồng rau trong vườn Phủ Chủ tịch ở Hà Nội, Người trồng cây ở nhiều địa phương trên đất nước ta.

Cũng ở trong bài viết đầu tiên về “Tết trồng cây”, chúng ta thấy rõ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã là người đi trước thời đại, trong việc con người phải chủ động tác động để điều hòa khí hậu của thiên nhiên. Người nói rằng, chính việc trồng cây cũng sẽ làm cho nước ta “phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hòa hơn”. Lời nói của Người từ vấn đề bảo vệ môi sinh và môi trường đang là vấn đề không chỉ riêng đối với một quốc gia nào.

Mọi người đều biết thế giới hiện tại đang đứng trước một thảm họa sinh thái do sự phát triển các hệ thống kinh tế theo chiều rộng, do tác động độc hại của các chất thải công nghiệp, do sự khai thác có tính chất hủy diệt các tài nguyên thiên nhiên và do sự thoái hóa về đạo đức của một xã hội tiêu thụ. Chính trong bối cảnh cuộc đấu tranh chống thiên tai, cuộc chiến đối phó với sự biến đổi của khí hậu hiện nay chúng ta càng thấy giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự tác động của con người đối với thiên nhiên. Phong trào trồng cây mà Người phát động từ hơn nửa thế kỷ trước suy cho cùng đó chính là biểu hiện cụ thể tình yêu của con người đối với thiên nhiên, cũng là trách nhiệm của con người đối với nền văn hóa, văn minh của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng, phát động phong trào và là người tích cực tham gia phong trào trồng cây. Người còn luôn quan tâm theo dõi, động viên, duy trì phong trào đạt hiệu quả thiết thực; đồng thời kịp thời uốn nắn để phong trào trồng cây không “đầu voi đuôi chuột”, không chạy theo hình thức, không chạy theo số lượng. Trong bài viết “Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu” đăng trên báo Nhân Dân ngày 19-1-1960, Người đã nêu gương một số địa phương làm tốt việc vận động nhân dân tham gia phong trào, bên cạnh đó Người không quên nhắc nhở phải “xem trọng chất lượng” tức là trồng cây nào ăn chắc cây ấy, không nên tham trồng quá nhiều mà không ra sức bảo vệ và trông nom cây. Trong bài viết này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị phải duy trì phong trào trồng cây cùng với kế hoạch trồng cây rừng của Nhà nước một cách “liên tục, bền bỉ và vững chắc”.

Tết Nguyên Đán Canh Tý 1960 là Tết đầu tiên nhân dân ta hưởng ứng lời kêu gọi “Tết trồng cây” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó cũng là Tết mở đầu một tập quán tốt đẹp của nhân dân ta trong mỗi dịp vui Tết đón xuân. Chúng ta đã có các phong trào “Tết trồng cây”, “Tết trồng cây vì miền Nam ruột thịt”, “Tết trồng cây đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, rồi đến ngày nay chúng ra có “Tết trồng cây làm theo lời Bác”, “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” là những dấu ấn đậm nét về quyết tâm làm theo lời Bác của nhân dân ta.

Lúc sinh thời, năm nào Bác Hồ cũng tham gia “Tết trồng cây”, Người viết nhiều bài động viên phong trào và Người đã thưởng hàng trăm huy hiệu của Người cho những tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào trồng cây nói chung, và “Tết trồng cây” nói riêng. Cây đa Bác Hồ trồng vào mùa xuân cuối cùng của cuộc đời năm 1969 ở đồi Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Nội và hàng chục cây đa Người đã trồng ở nhiều địa phương trên miền Bắc không chỉ là những kỷ niệm thiêng liêng, mà còn là những dấu ấn sâu sắc về tư tưởng của một Nhà Văn hóa kiệt xuất.

Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân

Câu thơ ấy đã đi vào lòng mỗi người dân Việt Nam. Mỗi độ xuân về, nhân dân cả nước lại nô nức cùng nhau đi trồng cây để bảo vệ thiên nhiên, môi trường sống và để tưởng nhớ về một con người vĩ đại – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

TS Nguyễn Thị Tình – Nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

hoidisan.vn

Những bài thơ chúc Tết của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh có lẽ là vị lãnh tụ của một đất nước duy nhất trên thế giới thường xuyên có thơ Xuân, thơ chúc Tết vào mỗi dịp Tết cổ truyền của dân tộc.

Những bài thơ chúc Tết của Bác Hồ Bác Hồ nói chuyện với các cháu thiếu nhi trong dịp Người về thăm, chúc Tết đồng bào Hà Tĩnh (Xuân Đinh Mùi – 1967). (Ảnh: Tư liệu)

Kể từ bài thơ chúc Tết đầu tiên khi Người trở về nước sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước năm 1942 cho đến lúc ra đi, Người đã sáng tác tổng cộng 24 bài thơ chúc Tết. Dễ nhớ, dễ thuộc là điều dễ nhận thấy trong các bài thơ chúc Tết của Bác, nhưng điều khiến cho mỗi bài thơ Tết của Bác trở lên đặc biệt hơn những lời chúc Tết thông thường là bởi đó không chỉ là tấm lòng của Bác với nhân dân, đất nước mà còn là lời hiệu triệu, cổ vũ, động viên và cả sự tiên đoán thần kỳ tiền đồ tươi sáng của cách mạng.

Có một món quà luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh dành tặng đồng bào mình vào mỗi dịp Tết cổ truyền, đó là những bài thơ chúc Tết giản dị nhưng rất đỗi thân thương của Người. Mỗi bài thơ không chỉ là sự tổng kết thành quả của cách mạng trong năm cũ mà còn là chỉ dẫn cho những chặng đường tiếp theo của cách mạng. Bài thơ chúc Tết năm 1969 cũng là bài thơ chúc Tết Người đã tự đọc – món quà cuối cùng cũng lời tiên đoán thần kỳ về con đường giải phóng đất nước trước lúc Người đi xa.

Nghệ sỹ Linh Nhâm, nguyên diễn viên đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị, người từng ngâm thơ Bác xúc động nhớ lại, kỷ niệm lớn nhất trong cuộc đời của bà chính là được ngâm những bài thơ chúc Tết của Bác. Ở vào cái tuổi xưa nay hiếm, người nghệ sỹ gạo cội vẫn không thể giấu được xúc động khi nhớ đến giây phút ngâm bài thơ chúc Tết cuối cùng của Bác trên sóng phát thanh Đài Tiếng nói Việt Nam Tết năm ấy.

“Bài thơ Xuân 1969 của Bác là bài thơ gắn với kỷ niệm rất sâu sắc mà tôi đang biểu diễn ở Hải Phòng được triệu về để ngâm bài thơ cuối cùng của Bác. Tất cả các bài thơ mà tôi đã được ngâm thơ của Bác tôi đều rất trân trọng, từng câu, từng chữ của Bác đều là những hiệu lệnh, những lời kêu gọi của Bác với Tổ quốc”, nghệ sỹ Linh Nhâm nói.

Từ bài thơ chúc Tết đầu tiên viết trên chiếc bàn đá ở Hang Pắc Pó (Cao Bằng) cho đến lúc về cõi vĩnh hằng, Người đã viết tổng cộng 24 bài thơ Xuân, thơ chúc Tết. Những bản thảo còn lưu giữ tại bảo tàng Hồ Chí Minh cho thấy, viết mỗi bài thơ Người cũng dày công và kỹ lưỡng như thế nào. Có thể vì thế, những bài thơ chúc Tết của Người luôn vượt qua khuôn khổ những bài thơ chúc Tết đơn thuần.

Bà Nguyễn Thúy Đức, Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh chia sẻ: “Tôi có nhớ câu nói của một nhà cách mạng Cuba về Bác là: Bác Hồ lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chính bằng thơ. Tiếc thay, kẻ thù của dân tộc Việt Nam lại không đọc những vần thơ đó. Đấy là điều có lẽ rất đặc biệt, đặc biệt chính là lãnh đạo bằng thơ. Nếu như chúng ta phân tích và hiểu thì thấy rằng lãnh đạo bằng thơ không chỉ là chất thép của người chiến sỹ, mà còn là cái gì đó rất đỗi dung dị, nhân văn của một con người, của một dân tộc”.

Những mùa xuân kháng chiến của dân tộc dường như luôn có sự khởi đầu bằng những vần thơ chúc Tết của Bác… Thành quả cuối cùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc đã không nằm ngoài sự tiên đoán trong bài thơ chúc Tết cuối cùng của Người. Đó là khi Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn!

Tác giả : Quang Đông

vtv.vn

Nhớ Tết cuối cùng của Bác Hồ

Năm nay, tròn 40 năm Bác Hồ đi xa. Tết cuối cùng của Bác cũng là cái Tết Bác làm bài thơ Xuân cuối cùng.,. TS giới thiệu bài viết của TS Trần Viết Hoàn, nguyên là cảnh vệ của Người.

Theo truyền thống dân tộc, mỗi khi Xuân về, trong phút giao thừa của năm cũ và năm mới, ta cảm ơn trời đất Việt Nam đã cho ta tiết trời xuân tươi đẹp. Ta đón Xuân, mời Xuân, mừng Xuân, đưa Xuân vào tâm hồn ta để thêm ấm tình yêu thương đồng bào, quê hương, bạn bè, bà con láng giềng…

Từ Xuân năm 1942, ta cảm ơn Bác Hồ đã cho ta những phút giây thiêng liêng nhưng đầy tình thân ái: nhân năm mới, nhân Tết cổ truyền của dân tộc, Bác Hồ gửi tới mỗi người, mỗi gia đình những vần thơ chúc Tết với những tư tưởng, tình cảm sâu sắc. Và, cũng bắt đầu từ đây, vào ngày cuối cùng của năm cũ, ai nấy đều mong phút giao thừa tới để được nghe thơ chúc Tết của Bác – những vần thơ rung động mọi con tim.

Ngày 16/2/1969 (mồng 1 Tết), Bác Hồ trồng cây ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) nhân Tết Kỷ Dậu.

Thơ chúc Tết của Bác Hồ được viết rất giản dị nhưng hàm súc, thể hiện rõ ràng đường lối cách mạng, bộc lộ sâu sắc lòng yêu nước, yêu dân, tin dân, tin cách mạng, tin vào thắng lợi, mang tính thời sự nóng hổi, bức thiết, rất giàu tình cảm và đậm đà bản sắc dân tộc. Những vần thơ chúc Tết năm 1969 của Bác cho chúng ta được hưởng lại những tình cảm ấy của Người.

Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào.
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,
Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn“.

Ngày 28/2/1969, tiếp đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc, Người nói:

“Thưa các cụ, các cô, các chú, trong thơ chúc Tết năm nay, tôi có nói là:

Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào
Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!

Trong lúc viết thì như thế, tôi cũng không chắc là câu thơ đó được thực hiện sớm trong năm nay. Hôm nay, bác sĩ Phùng Văn Cung cùng phái đoàn ra đây, đồng bào miền Bắc rất sung sướng. Để hoan nghênh phái đoàn miền Nam ruột thịt, thì nói mấy trăm câu, mấy nghìn câu, mấy vạn câu cũng không thể hết được. Tôi xin phép chỉ nói một câu thôi:

Bao giờ Nam Bắc một nhà,
Việt Nam đại thắng chúng ta vui mừng”.

Mỗi độ Xuân về, Tết đến, Bác Hồ chẳng những gửi thơ chúc Tết đến toàn dân, mà Người còn đi thăm, chúc Tết đồng bào, chiến sĩ ta. Từ Tết Đinh Mùi (1967), do sức khỏe có phần giảm, Bác Hồ đề nghị Bác Tôn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng thay Bác đi thăm, chúc Tết nhân dân.

9h45 ngày 6/2/1969, trong phòng khách nhỏ ở Phủ Chủ tịch, Bác Hồ đọc lời chúc mừng năm mới. Đài Tiếng nói Việt Nam đến thu thanh

Đến Tết Kỷ Dậu (1969), có lẽ linh cảm đây là cái Tết cuối cùng của mình nên dù sức khỏe giảm sút nhiều, Bác Hồ vẫn đặt chương trình đi thăm, chúc Tết nhiều nơi và đi trồng cây.

Để không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của Bác, các đồng chí ở văn phòng phục vụ Bác đã khéo sắp xếp theo mong muốn của Bác là đi thăm, chúc Tết và trồng cây. Sáng ngày 16/2/1969 (tức ngày mồng 1 Tết Kỷ Dậu), Bác đi thăm bộ đội Quân chủng Phòng không – Không quân ở Bạch Mai và đến đồi trồng cây “Đón Bác Hồ” và trồng cây đa ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì.

Nói chuyện và chúc Tết nhân dân địa phương, Bác nói: “Các cụ thì biết chuyện cũ, chuyện mới nhưng các cháu ngày nay chỉ biết chế độ dân chủ cộng hòa. Đất nước bây giờ là của ta, cho nên cần phải thi đua sản xuất giỏi, trồng cây giỏi“.

Những người trực tiếp phục vụ Bác Hồ có kể lại rằng, hôm ấy, trồng cây xong đã gần trưa, đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã đã xin mời bác ăn bữa cơm Tết cùng địa phương. Bác bảo, Bác cảm ơn, vì những người giúp việc đã chuẩn bị cơm cho Bác rồi. Và Bác mời đồng chí Bí thư, Chủ tịch, chị Phó Chủ tịch xã sang ăn cơm cùng Bác.

Việc Bác không ăn cơm với xã có nguyên do. Chả là lần Bác về thăm tỉnh Hưng Yên, lãnh đạo tỉnh mời Bác ăn cơm, Bác nhận lời. Nhưng rồi sau đó tỉnh có làm bản thanh toán tài chính ghi rõ: “Thịt một con bò”.

Từ đó mỗi khi về địa phương làm việc, Bác thường ăn cơm từ nhà mang theo để tránh tiếng, như Bác đã nói: Hôm đó về thăm, Bác ăn có vài miếng thịt bò mà họ quyết toán chiêu đãi Bác cả con bò; Hay, Bác Hồ về thăm cũng làm một bữa cơm sang, cũng điều người này người khác từ giao tế sang, chuẩn bị cả buổi, như thế Bác Hồ bao che cho cái chuyện xôi thịt. Và sáng mồng 1 tết Kỷ Dậu năm 1969, Bác cũng không để có ngoại lệ.

Đây là lần cuối cùng và là cây cuối cùng Bác trồng để gieo mầm cho sự sống đời sau, và cũng là bữa cơm ngày tết cuối cùng của Bác khi về địa phương.

Cũng trong dịp Tết trồng cây năm Kỷ Dậu ấy, Bác Hồ đã thưởng huy hiệu của Người cho những cụ già có thành tích xuất sắc trong phong trào trồng cây gây rừng. Đây là những người cuối cùng được nhận huy hiệu của Bác về phong trào Tết trồng cây: cụ Trần Văn Cựu, xã Đức Lập, Đức Thọ, Hà Tĩnh; cụ Kiều xã Tứ Mỹ, Quảng Bình; cụ Trương Đình Gióng, xã Yên Tiến, Ý Yên, Nam Định; cụ Dương Thị Na, hợp tác xã Ức Sơn, xã Hương Sơn, Phú Bình, Thái Nguyên.

Xuân mới, lịch mới năm Kỷ Sửu 2009 tới, ôn lại những vần thơ chúc Tết năm Kỷ Dậu 1969 của Bác, những việc làm, tình cảm ở những ngày xuân cuối cùng của Người dành cho mỗi chúng ta, để mỗi chúng ta “sắp đặt kế hoạch hoạt động sống còn cho cả năm” với khẩu hiệu “Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đó là kế hoạch vừa là thực hiện cuộc vận động lớn của Đảng “Học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, vừa là hành động thiết thực kỷ niệm 40 năm thực hiện di chúc của Bác Hồ (1969-2009).

Thế là “năm mới thì người ta có những cuộc vui vẻ sung sướng cho xứng đáng với Xuân và để mừng Xuân” đúng như điều “Chào Xuân” của Bác.

TS. Trần Viết Hoàn (nguyên Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch)
Việt Báo (Theo_VietNamNet)

Những đêm giao thừa Bác đến với người nghèo

Xuân Tân Tỵ, năm 1941, Bác mới được đặt chân trở về giữa lòng Tổ quốc thân yêu sau đúng 30 năm trời ra đi tìm đường cứu nước (1911-1941). Hành trang theo Bác trở về vẻn vẹn chỉ có một chiếc va ly xách tay bằng mây, trong đựng hai bộ quần áo đã cũ và tập tài liệu Con đường giải phóng tập hợp những bài giảng trong lớp huấn luyện ở Nậm Quang (Quảng Tây, Trung Quốc) do Bác phụ trách vừa mới kết thúc trước Tết mấy hôm.

Tấm thiệp chúc tết cuối cùng của Bác Hồ

Mùa Xuân năm ấy, từ hang Pác Bó đã ra đời một bài thơ xuân tuyệt đẹp của Bác Hồ:

“Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lênin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”

Chỉ hơn bốn năm sau, ngày 2-9-1945, sơn hà của Tổ quốc đã được thu về một mối, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau. Hồ Chí Minh trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Và mùa Xuân độc lập đầu tiên, Xuân Bính Tuất năm 1946 đã trở về trên toàn cõi đất nước với một sắc màu khác lạ làm gợi nhớ đến một thời Nghiêu Thuấn xa xưa. Vào thời khắc mọi gia đình quây quần bên nhau chuẩn bị đón giao thừa thì vị Chủ tịch nước xắn quần, bước thấp bước cao đến các ngõ hẻm ở phố Sinh Từ, phố Hàng Lọng… để được chính mắt nhìn thấy cảnh Tết vừa, Tết nghèo của bà con lao động Hà Nội mới vừa thoát khỏi ách thực dân phong kiến.

Chính trong cuộc “vi hành” đêm Ba mươi Tết của mùa Xuân độc lập đầu tiên đó, Bác Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình một người đạp xích lô “Tết mà không có Tết” ngoài một nén hương đang cháy dở trên bàn, còn chủ nhà thì đang đắp chiếu nằm mê mệt vì ốm. Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, lặng lẽ bước ra khỏi nhà, bảo đồng chí thư ký ghi lại địa chỉ để hôm sau báo cáo cho đồng chí Chủ tịch Hà Nội biết.

Cũng đêm Ba mươi Tết Bính Tuất đó, đúng giờ giao thừa, khi Đài Tiếng nói Việt Nam truyền khi khắp đất nước lời chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì chính Người lại đang vui Xuân cùng nhân dân ở đền Ngọc Sơn, trong vai một cụ già cùng cháu đi hái lộc.

Lần đầu tiên nhân dân Hà Nội, nhân dân cả nước, được hưởng một mùa Xuân mới mẻ, giao thừa nghe đọc thư chúc Tết của Bác Hồ:

“Hỡi đồng bào cả nước!

Hôm nay là mùng một Tết năm Bính Tuất, ngày Tết đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tôi thay mặt Chính phủ chúc đồng bào năm mới muôn sự tốt lành” .

Cuối thư là một bài thơ ngắn:

Trong năm Bính Tuất mới
Muôn việc đều tiến tới
Kiến quốc chóng thành công
Kháng chiến mau thắng lợi

Kể từ mùa Xuân đầu tiên đó, suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, mỗi lần Tết đến, Xuân về, Bác lại nghĩ đến dân, lo sao cho dân có một mùa xuân ấm no, hạnh phúc. Thường thì trước Tết ba tháng, Bác đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc. Tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới, nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp “Chúc Mừng Năm Mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo xa xôi và cán bộ công tác ở nước ngoài.

Và cuối cùng là một chương trình đi thăm dân không thể thiếu đối với Bác, một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

Tối Ba mươi Tết năm 1960, Bác đến thăm gia đình mẹ con chị Tín, một lao động nghèo ở phố Hàng Chĩnh, Hà Nội. Chiều mùng hai Tết năm 1961, Bác đến Văn Miếu dự buổi bình thơ Xuân của các cụ. Mùng hai Tết năm 1962, Bác đến thăm các cháu học sinh miền Nam ở Hải Phòng. Chiều 29 Tết năm 1963, Bác cải trang thành một cụ già theo cháu đi chợ hoa và chợ Đồng Xuân… Tất cả đều bí mật bất ngờ và do đó bao giờ cũng tạo hiệu quả lớn.

Như Tết năm 1960, nếu Bác chỉ đến thăm các gia đình theo chương trình của các cơ quan đã bố trí thì làm sao Chủ tịch nước biết được gần đến giao thừa rồi mà chị Tín vẫn còn phải đi gánh nước thuê đổi gạo để sáng mai mùng một Tết có cơm ăn cho bốn đưa con của mình. Gặp Bác, chị Tín xúc động để rơi cả đôi thùng gánh nước xuống đất, run run cầm lấy bàn tay của Bác:

– Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm…

Chỉ nói được vậy, chị đã oà lên khóc nức nở.

Vị Chủ tịch nước đã an ủi chị:

– Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai…

Và Bác đã vào nhà thăm hỏi khá lâu năm mẹ con chị Tín. Gọi là nhà nhưng đâu có phải là nhà mà là một cái chái như một túp lều. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến Phà Đen đã mất cách đó bốn năm, còn chị thì cho đến lúc này vẫn chưa có việc làm ổn định. Cảnh nghèo của gia đình đã phũ phàng hiện ra trước mắt Bác. Trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một gói kẹo. Đúng là “Ba mươi Tết mà không có Tết”. Cách đây 15 năm, Tết độc lập đầu tiên, Bác đã đau lòng chứng kiến cảnh một gia đình “Tết mà không có Tết” ở ngõ hẻm Sinh Từ. Đó là khi đất nước mới thoát khỏi vòng nô lệ. Còn bây giờ, kháng chiến đã thắng lợi, hoà bình đã sáu năm, mà lại còn cái cảnh này sao? Không phải ở đâu xa mà ở ngay Thủ đô Hà Nội… Vậy còn bao nhiêu gia đình như thế này ở khắp mọi miền đất nước? Cứ ngồi nghe báo cáo thì đâu cũng là no ấm, tươi vui…

Đêm ấy, trên đường về, ngồi trên xe, Bác Hồ trầm ngâm suy nghĩ. Vẻ đăm chiêu thoáng hiện trên gương mặt của Người. Bác đã từng tâm sự với các đồng chí phục vụ: “Một ngày dân chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, các cháu chưa được học hành, mọi người còn khổ thì Bác ăn không ngon, ngủ không yên”.

Về đến nhà, các đồng chí Bộ Chính trị đang chờ Bác để chúc mừng năm mới. Mọi người băn khoăn khi thấy Bác không vui. Bác kể lại hoàn cảnh gia đình chị Tín cho mọi người nghe. Cuối câu chuyện Bác nói “Ta có chính quyền trong tay, nhưng chính quyền đó chưa thực sự là do dân, vì dân. Một số lãnh đạo các địa phương còn quan liêu và nặng về hình thức. Họ không chịu đi sâu, đi sát quần chúng, nên phục vụ quần chúng chưa tốt. Nếu chúng ta chỉ nghe báo cáo của họ thì sẽ không bao giờ nắm được chính xác tình hình để có chủ trương, nghị quyết đúng đắn. Đảng quan liêu, chính quyền quan liêu, thực sự là một nguy cơ đối với đất nước chúng ta.

Vũ Kỳ – Thư ký Bác Hồ kể chuyện.

VIỆT NAM – HỒ CHÍ MINH

Kỷ niệm bảo vệ Bác Hồ thăm chợ Tết

Hôm ấy là ngày 24/1/1963, tức 30 Tết, các đồng chí bảo vệ hóa trang cho Bác thành một công nhân già đi sắm Tết. Bác đeo kính trắng mắt tròn, gọng kính nhỏ như kính lão các cụ đồ thường dùng.

Khoảng một tuần trước Tết Quý Mão (1963), Bác Hồ nhắc Văn phòng Chủ tịch nước báo cho Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn, Tết này Bác muốn thăm chợ Đồng Xuân – khu thương mại sầm uất, nhộn nhịp nhất ở Hà Nội.

Người được phân công trực tiếp đi theo bảo vệ Bác là ông Phan Văn Xoàn, sau này là Thiếu tướng Tư lệnh – Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Ông hồi tưởng lại vào dịp giáp Tết năm ấy, người mua kẻ bán khắp nơi đổ về Hà Nội rất đông nên công tác bảo vệ có phần khó khăn. Nếu để Bác đi công khai thì nhân dân ai cũng biết, và sẽ ùa tới chào đón Người. Như vậy việc bảo vệ lại càng phức tạp, khó khăn hơn.

Sau khi nghiên cứu cụ thể, lãnh đạo Cục Cảnh vệ đã báo cáo lãnh đạo Bộ Công an phương án bảo vệ, trong đó có biện pháp Bác hóa trang thành một công nhân già đi sắm Tết.

Hôm ấy là ngày 24/1/1963, tức 30 Tết. Sáng hôm đó, Bác rất vui, các đồng chí bảo vệ hóa trang cho Bác. Bác đeo kính trắng mắt tròn, gọng kính nhỏ như kính lão các cụ đồ thường dùng. Bác mặc quần áo cũ vải gụ đã bạc và khoác chiếc áo mưa vải bạt có vài chỗ đã sờn, cổ quàng chiếc khăn len màu tối, quấn nhiều vòng để vừa ấm cổ, vừa che bớt chòm râu, đầu đội mũ cát trắng, chân mang tất màu cỏ úa, đi đôi dép cao su đen.

Theo phương án, ba người cùng đi chợ Tết với mối quan hệ gia đình. Bác là bố, đồng chí Xoàn là con, đồng chí Phan Đĩnh, vệ sỹ trực tiếp là cháu của Bác. Khoảng 9h sáng, ôtô đưa Bác theo đường Phan Đình Phùng đến phố Hàng Đậu dừng lại một lúc, Bác xuống xe rồi đi bộ theo phố Nguyễn Tiệp, rẽ qua phố Hàng Khoai, lẽo đẽo theo sau là “nguời cháu” xách chiếc làn mây đi chợ. Bác cháu hòa lẫn trong dòng người đông vui giữa phiên chợ sáng 30 Tết.

Thiếu tướng Phan Văn Xoàn nhớ lại, lúc ấy khi ba Bác cháu đi đến cửa sau chợ Đồng Xuân, trước khi vào chợ như hành trình đã định, bỗng nhiên Bác dừng lại, với dáng vẻ thư thái, Người đứng ngắm quanh cảnh nhộn nhịp, tấp nập người mua kẻ bán chen chúc nhau ở đầu chợ Bắc Qua, rồi Bác ngoặt vào chợ. Thấy vậy, cả tổ bảo vệ rất lo. Đồng chí Xoàn làm như vẻ thấy bố mình đi nhầm chỗ, bèn gọi: “Bố ơi, đường này cơ mà, đường đó chật lắm không đi được đâu bố ạ”.

Nghe vậy, Bác quay lại mỉm cười khẽ nói: “Bố con ta đi vào đây đã”. Chợ Bắc Qua lúc này đông nghẹt. Sau một lúc quan sát cảnh hàng hóa chợ Tết bày la liệt, đồng bào vui vẻ mua bán sắm sửa, Bác tỏ ý rất vui, sau đó mới qua chợ Đồng Xuân.

Vào trong chợ, Bác dừng lại hồi lâu trước một số quầy tạp hóa, đồ dùng gia đình, quần áo may sẵn… để biết giá cả và sức mua của dân.

Sau một hồi quan sát trong chợ, đồng chí Xoàn mời Bác sang thăm quầy bán hoa tươi cạnh đó. Cạnh các quầy hoa là mấy cụ đồ áo dài the, khăn xếp đen, đeo mục kỉnh, ngồi chấm phá những câu đối bằng mực tàu trên những khổ giấy đỏ dài. Bác rảo bước tới một quầy bán hoa huệ gần đấy, chọn một bó huệ rất đẹp, đưa lên ngắm nhìn tỏ vẻ rất vừa ý, rồi hỏi chị hàng hoa: “Chị ơi, bó huệ này bao nhiêu? “Dạ thưa cụ 5 hào”.

Lúc này đồng chí Đĩnh đứng sát sau lưng Bác. Thấy Bác ngồi lâu sợ bị lộ vì Bác trực tiếp trao đổi mua bán, e rằng những người tinh ý sẽ phát hiện ra Bác nên đồng chí Xoàn vội bước tới nói với Bác: “Bố để con mua cho” rồi mặc cả bó hoa với giá hai hào. Thiếu tướng Xoàn kể lại: “Sở dĩ lúc ấy tôi trả với giá thấp cốt để chị hàng hoa không bán, lấy cớ mời Bác đi về cho an toàn”.

Khi nghe chị hàng hoa trả lời không bán, Bác liền đứng dậy, một thoáng nhìn theo bó huệ rồi đi ngay. Ra chỗ vắng Bác quay lại nói: “Chú trả như vậy thì đi chợ cả ngày cũng chẳng mua được gì” và trên mặt phúc hậu của Người lộ nét trầm lặng không vui.

Xuân này qua xuân khác, mỗi lần chuẩn bị đón năm mới, khi kể với anh em bảo vệ và các nhà báo chuyện này, Thiếu tướng Xoàn vẫn bùi ngùi với cả nỗi niềm thương nhớ vời vợi. Câu chuyện Bác hồi đi chợ Tết hơn 40 năm trước vẫn luôn đọng sâu trong lòng ông.

(Ghi theo lời kể của Thiếu tướng Phan Văn Xoàn)
(Theo An Ninh Thủ Đô)

vnexpress.net

Đón xuân mới đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ CHí Minh (Ảnh trên Internet)

Mỗi độ Xuân về, trong khí thiêng của đất trời, sông núi, trong mỗi chúng ta lại nhớ tới những vần thơ Xuân chúc Tết của Bác Hồ. Kể từ năm 1941, trên con đường bôn ba tìm đường cứu nước, Người từ Trung Quốc trở về Tổ quốc và cho đến trước lúc đi xa, Bác đã để lại cho chúng ta hàng chục bài thơ Xuân.

Tết Xuân năm 1942, bài thơ đầu tiên của Bác được đăng trên Báo Việt Nam độc lập số 114, ngày 01 tháng 01 năm 1942. Bác viết:

Tháng ngày thấm thoắt chóng như thoi,
Năm cũ qua rồi, chúc năm mới.
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong,
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi;
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!
Chúc Việt Minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong năm này,
Cờ đỏ ngôi sao bay phấp phới!
Năm nay là năm rất vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới”.

Những lời thơ Xuân tuy ngắn gọn nhưng hàm chứa nhiều điều xúc tích, với những tiên đoán của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.

Năm 1948, trong lúc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang dốc lòng dốc sức cho cuộc kháng chiến chống Pháp, đón Xuân mới, Bác có thơ chúc Tết đồng bào:

Năm Hợi đã đi qua,
Năm Tý vừa bước tới.
Gửi lời chúc đồng bào,
Kháng chiến được thắng lợi;
Toàn dân đại đoàn kết,
Cả nước dốc một lòng,
Thống nhất chắc chắn được,
Độc lập quyết thành công”.

Chủ tịch nước tự cuốc đất, trồng cây, tưới nước xung quanh nhà sàn

Năm 1951, trải qua 5 năm, chúng ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và là năm tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Báo Cứu quốc, số 1748, ngày 5 tháng 2 năm 1951, đăng thơ chúc Tết Tân Mão của Bác Hồ:

Xuân này kháng chiến đã năm xuân,
Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công.
Toàn dân hăng hái một lòng,
Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời”.

Bài thơ Xuân hừng hực khí thế tiến công của Bác đã động viên toàn dân hăng hái thi đua quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ để giành thắng lợi.

Năm 1960, mừng Đảng ta tròn 30 tuổi; mừng Nhà nước tròn 15 Xuân và chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, thơ chúc Tết năm 1960 của Bác Hồ như sau:

Mừng Nhà nước ta 15 Xuân xanh!
Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ!
Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua,
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh,
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.
Cả nước một lòng hăng hái tiến lên,
Thống nhất nước nhà Bắc Nam vui vẻ”.

Năm 1968, mùa xuân Mậu Thân, lời thơ Xuân của Bác đã trở thành mệnh lệnh Tổng tấn công và nổi dậy của khắp miền Nam thành đồng:

Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta”.

Và năm 1969, trước lúc đi xa, Bác đã dành muôn vàn tình thương yêu cho đồng bào, đồng chí, cho các cháu thiếu nhi và nhi đồng. Bác đã để lại bài thơ chúc Tết cuối cùng, với những lời hịch vang vọng núi sông ngàn năm:

Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào.
Tiến lên! Chiến sỹ, đồng bào,
Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!

Đọc thơ của Bác và suy ngẫm về những điều Bác nói, ta thấy như Bác đã chỉ rõ con đường của cách mạng Việt Nam. Bốn năm sau, vào mùa xuân năm 1973, với thắng lợi của Hiệp định Pari, chúng ta đã buộc đế quốc Mỹ phải cuốn cờ ra khỏi Tổ quốc Việt Nam. Và hai năm sau, khi Mỹ đã cút, Nguỵ đã nhào, Bắc – Nam sum họp, đất nước thống nhất, “Xuân nào vui hơn”?

Chúng ta cảm ơn đất trời đã cho tiết Xuân, Xuân nồng nàn tình cảm của mỗi con người. Đón Xuân mới, đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ, lòng ta lại nhớ tới công lao to lớn của Người, cảm ơn Người đã để lại cho ta những vần thơ Xuân bất hủ…

Đặng Nam Điền

bqllang.gov.vn

Xuân Quê hương

Đồng bào và khách quốc tế hướng về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày 22 tháng Chạp năm Tân Mão. Tiết trời lạnh, mưa xuân lất phất bay ngoài không gian, qua ánh đèn cao áp tại Quảng trường Ba Đình trông như những bông tuyết trắng, rất đẹp. Lạnh, nhưng tại nơi đây, bên Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, không khí thật ấm áp, mọi người thấy thật gần gũi, háo hức chuẩn bị chào đón một sự kiện quan trọng, cảm động và vô cùng ý nghĩa. Đó là Chương trình: “XUÂN QUÊ HƯƠNG – RỒNG THIÊNG HỘI TỤ” do Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thành phố Hà Nội và các cơ quan có liên quan tổ chức thực hiện để gặp gỡ với Kiều bào ta ở nước ngoài về quê hương ăn Tết.

Trong trái tim rộng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người luôn dành cho Kiều bào sự quan tâm hết sức đặc biệt, bởi chính Người cũng đã trải qua những tháng năm bôn ba khắp năm châu bốn bể để tìm con đường cứu nước. Những năm tháng xa quê hương, Người thấu hiểu những tình cảm, trăn trở, nỗi nhớ thương da diết của hết thảy Kiều bào ta đã và đang sinh sống, làm việc tại xứ người, nhất là tình cảm vào những ngày chuẩn bị đón Tết nguyên đán.

Ngay sau khi nước nhà vừa giành được độc lập (ngày 2/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi nhiều thư, điện cho Kiều bào báo tin nước nhà độc lập, cảm ơn Kiều bào đã đóng góp sức người, sức của để góp phần vào việc giành độc lập và kiến thiết nước nhà. Người không chỉ kêu gọi tinh thần yêu nước, đoàn kết hướng về Tổ quốc của Việt kiều để làm cho “lực lượng to” mà “lực lượng to thì quyết thắng lợi” mà còn hơn một lần khuyên họ cần phải đoàn kết với đồng bào các nước; kêu gọi Kiều bào hãy tiếp tục phát huy truyền thống con Hồng cháu Lạc yêu nước, thương nòi, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống và công tác, làm cho các nước trên thế giới thấy được đất nước, con người Việt Nam luôn anh dũng, kiên cường dù trong thời chiến cũng như thời bình. Trong thư chúc Tết Kiều bào ta ở nước ngoài năm 1946, Người đã đánh giá cao tấm lòng của Kiều bào tuy ở nơi đất khách quê người, nhưng tấm lòng vẫn nhớ về Tổ quốc, đồng thời Người khẳng định: “Tổ quốc và Chính phủ cũng luôn luôn nhớ thương các đồng bào như bố mẹ thương nhớ những người con đi vắng. Đó là nhân tâm thiên lý, đó là tình nghĩa một nhà”. Để giúp đỡ Kiều bào, Người thường xuyên nhắc nhở các cán bộ làm công tác ngoại giao ở nước ngoài, từ lời nói đến việc làm, bất kỳ việc to hay nhỏ đều phải “đem tình thân ái của Tổ quốc cho Kiều bào, để giúp đỡ họ, để tuyên truyền cho thanh niên và cho cả dân tộc Việt Nam”.

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước ta hiện nay, kế thừa và phát huy tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, gắn với tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta luôn coi Kiều bào là một bộ phận không thể tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị, ngày 27/10/2006 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 243/2006/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài. Ngày 18/7/2008 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 102/2008/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao (thay thế Quyết định số 243/2006/QĐ-TTg). Tháng Giêng này, kỷ niệm 43 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lá thư cuối cùng cho Kiều bào ở nước ngoài (27/1/1969 – 27/1/2012), việc tổ chức gặp mặt Kiều bào về quê hương ăn Tết tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh với Chương trình “Rồng thiêng hội tụ”, năm Nhâm Thìn 2012 thật ý nghĩa và xúc động biết bao. Tiếng trống khai xuân do Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã vang vọng khắp không gian tại Quảng trường Ba Đình lịch sử báo hiệu mùa Xuân đã về và Tết nguyên đán sắp tới trên đất nước Việt Nam thân yêu. Chủ tịch nước thay mặt Đảng và Nhà nước chúc sức khỏe, bình an, hạnh phúc và thành đạt đối với Kiều bào có mặt tại buổi gặp mặt hôm nay đại diện cho hơn 4 triệu Kiều bào hiện đang sinh sống và làm việc tại hơn 123 quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới, tất cả Kiều bào không có điều kiện về quê hương ăn Tết hiện đang ở nước ngoài.

Chủ tịch nước đánh giá cao sự đóng góp của Kiều bào ta ở nước ngoài đối với công cuộc xây dựng đất nước, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Năm 2011, số tiền Kiều bào gửi về Việt Nam được hơn 9 tỷ USD, một con số đẹp và đầy ý nghĩa trong bối cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn.

…Trên khán đài của Chương trình văn nghệ vang lên chất giọng trầm ấm, sâu lắng của ca sĩ Trọng Tấn với những ca từ xúc động, đi vào lòng người của bài hát “Chúng con canh giấc ngủ cho Người”…“ Vinh quang con đứng bên Người, canh cho Bác ngủ ngon giấc, trên môi như Bác vẫn cười, Bác vui vì khắp non sông, cháu con trở về sum vầy…”. Dường như, trong tâm thức của mỗi người tham dự đều sáng lên một niềm tin vững chắc và hạnh phúc: Bác kính yêu đang mỉm cười và thật vui khi Kiều bào ở khắp các nước trên thế giới về quê hương ăn Tết đang ở rất gần Bác, Bác vui vì thấy được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với Kiều bào, Bác vui vì tất cả mọi người đang thực hiện lời căn dặn và tâm nguyện của Bác đối với Kiều bào trước lúc Người đi xa…

Mưa đã tạnh, không gian bừng sáng khi Chương trình văn nghệ Xuân Quê hương – Rồng thiêng hội tụ kết thúc. Xung quang Lăng Bác thật rực rỡ bởi những cây hoa đào đã thắm sắc đỏ của miền Bắc, những cây Mai vàng của miền Nam và rất nhiều, rất nhiều cây hoa cây cảnh đang đua nhau khoe sắc báo hiệu Xuân đã về. Quảng trường Ba Đình vang vọng tiếng hát rộn ràng, tưng bừng của các ca sĩ, nghệ sĩ, Kiều bào và tất cả đại biểu có mặt tại Chương trình chào đón một mùa Xuân mới, một năm mới nhiều thắng lợi, thành công: “Tết, Tết, Tết, Tết đến rồi, Tết Tết, Tết, Tết, Tết đến rồi; Tết, Tết, Tết, Tết, Tết đến rồi, Tết đến trong tim mọi người…..”.

Với cá nhân tôi, chúc cho Chương trình Xuân Quê hương, gặp gỡ Kiều bào ở nước ngoài hàng năm nhân dịp Xuân về Tết đến bên Lăng Bác ngày càng phát triển, sinh động và thật nhiều ý nghĩa. Chúc Kiều bào ta ở nước ngoài luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành đạt và hàng năm về Quê hương ăn Tết ngày càng nhiều cũng như sự đóng góp ngày càng lớn về sức người, sức của (Năm 2012, Nhâm Thìn – Rồng bay, phấn đấu đạt 2 con số là 18 tỷ USD – 1+8 = 9 là con số đẹp) với mục tiêu tất cả vì một đất nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./.

Nguyễn Hồng Vân

bqllang.gov.vn

Bác Hồ và cái Tết ấn tượng

Ngày 10-1-1949, theo lệnh của Bác, cơ quan Phủ Chủ tịch di chuyển từ xã Trung Trực, huyện Yên Sơn đến Lũng Tẩu, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Khi cơ quan đã ổn định xong nơi ăn chỗ ở, thì Tết đã đến gần. Năm ấy, ông Hồ Tùng Mậu, Tổng thanh tra Chính phủ được cơ quan bầu làm Trưởng Ban Tổ chức Tết Kỷ Sửu. Ông Hồ Tùng Mậu tổ chức một buổi họp chuyên bàn về việc đón Tết cho cơ quan. Khi cuộc họp đang diễn ra sôi nổi với những quyết định về trang trí, hái hoa, văn nghệ, thể thao… thì Bác Hồ đến. Bác hỏi:

– Tết năm nay, ta tổ chức vui như thế nào?

– Thưa Bác, chúng cháu đang bàn đấy ạ! Ông Hồ Tùng Mậu trả lời.

Bác hỏi tiếp:

– Thế đã bàn mục pháo chưa?

– Dạ chưa ạ!

Một số anh em bàn tán xôn xao về chuyện lấy pháo ở đâu. Thấy vậy, ông Hồ Tùng Mậu liền hỏi ý kiến của Bác:

– Thưa Bác, rừng núi như thế này thì kiếm đâu ra pháo…?

Bác cười, chỉ tay ra rừng nứa:

– Pháo ở rừng đấy, tha hồ!

Anh em có mặt trong buổi họp cùng à lên và hiểu rằng, đốt lửa thì nứa nổ, đấy là pháo, thứ pháo thực vật rất thiên nhiên, gần gũi với con người.

Sau đó, Bác còn “đạo diễn” nhiều hình thức vui Tết nữa rồi mới về.

Ông Hồ Tùng Mậu đề nghị anh em đi chặt nứa, bó lại thành những bó ngắn, vừa dễ vác, dễ xếp đống, khi đốt lại gọn. Đống nứa ở sân cứ cao dần, khô dần và ngày của cuối năm Tý cũng hết. Anh em trong cơ quan tuy rất mong Bác đến sớm nhưng lại đoán phải mồng hai, mồng ba gì đó Bác mới có thời gian “sang” thăm cơ quan được. Nhưng, đúng đêm 30, giao thừa thì Bác tới. Mọi người chạy ùa ra đón Bác, tranh nhau nói một câu chúc Tết Bác. Bác vui vẻ chúc lại mọi người rồi chỉ một chỗ thuận tiện bảo anh em xếp nứa đốt. Bác nói:

– Tết này, Bác ăn Tết lửa trại với các chú.

Lửa bốc lên, nứa nổ lép bép như tràng pháo tiếp nhau, nghe rất vui tai. Việc đầu tiên là Bác mở chiếc túi vải đeo bên mình ra rồi nói:

– Đây là quà Tết đồng bào tặng Bác. Bác biếu các chú…

Bác đưa tận tay từng cán bộ, chiến sĩ mỗi người một quả cam. Sau đó, mọi người trong cơ quan ca hát, cầm tay nhau nhảy quanh ngọn lửa trại ấm cúng đầy tình cảm gia đình cách mạng.

Đêm ấy, Bác nghỉ lại cơ quan. Sáng Mồng một Tết, Văn phòng tổ chức chúc Tết năm mới Bác. Bác cảm ơn rồi bảo mọi người ngồi lại nghe Bác kể chuyện về tình hình thế giới, tình hình trong nước. Bác cho biết, quân ta vừa thắng địch ở Ba Thá, Tế Tiêu (Hà Đông), Ý Yên (Nam Định) và đặc biệt ở Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng ta đánh đoàn tàu gần 20 toa xe, phục kích ở đèo Hải Vân phá hủy mấy chục xe, diệt hàng trăm tên địch. Bác khuyên mọi người thi đua làm tròn nhiệm vụ ở hậu phương để xứng đáng với tiền tuyến.

Khi mọi người trong cơ quan chuẩn bị thi đấu bóng chuyền, Bác nói:

– Để Bác làm trọng tài cho. Các chú chia thành đội ra chơi đi.

Trước khi hai đội chào nhau vào trận đấu, Bác giơ tay thổi một tiếng còi tuyên bố:

– Đội nào thắng, sẽ được trọng tài chính thưởng mỗi người một điếu thuốc lá thơm.

4.jpg

Cuộc đấu bóng chuyền diễn ra thật sôi nổi, hấp dẫn và gay go, vì đội nào cũng muốn giành phần thắng. Nhưng cuối cùng cũng có bên được, bên thua. Bên thắng xếp hàng ngay ngắn, chỉnh tề, hân hoan. Đội trưởng hô nghiêm rồi báo cáo:

– Thưa Bác, chúng cháu thắng ạ!

Bên thua, thấy vậy cũng làm liều nhảy ra xếp vội hàng báo cáo:

– Thưa Bác, chúng cháu cũng thắng đấy ạ. Thắng một séc ạ.

Các cổ động viên thấy thế cũng chạy tới xếp hàng:

– Thưa Bác, thưa Bác, chúng cháu cũng thắng đấy ạ. Bác cười rất vui rồi nói:

– Đúng, năm nay sẽ là năm đại thắng lợi, không ai được phép thua cả…

Nói xong, Bác thưởng cho mỗi người một điếu thuốc lá. Ai nấy đều hớn hở, phấn khởi, chỉ duy có một chiến sĩ cảnh vệ là buồn ra mặt, lẩm bẩm nói một mình:

– Thế là hết tiêu chuẩn cả ngày của Ông Cụ rồi…

Như biết ý người cảnh vệ, trên đường về, Bác cứ khen mãi là anh em mình “thông minh”.

phuly.edu.vn

Ngày 8/1: Tết kháng chiến đầu tiên

– “Chúng ta phải làm sao cho Tết này thật là một Tết kháng chiến. Bao giờ kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, chúng ta sẽ cùng nhau ăn Tết linh đình” – Trong Lời kêu gọi chuẩn bị Tết kháng chiến đầu tiên cho chiến sĩ ngày 8/1/1947, Bác Hồ đã nói như vậy.

Ngày 8/1/1947 mới là ngày 17 tháng Chạp năm Bính Tuất tức là gần tròn một tháng kể từ ngày Toàn quốc kháng chiến và Tết Đinh Hợi đang đến gần, Bác Hồ viết một bài thơ tặng báo “Độc lập” là cơ quan của Đảng Dân chủ để động viên lực lượng trí thức và các nhà công thương yêu nước nhân Tết kháng chiến đầu tiên và chuẩn bị tinh thần cho một cuộc chiến đấu lâu dài và gian khổ nhưng lạc quan tin vào thắng lợi cuối cùng.

Bác Hồ đến thăm Xưởng may 10  và góp ý kiến về cách may sao cho nhanh chóng và hiệu quảBác Hồ đến thăm Xưởng may 10 và góp ý kiến về cách may sao cho nhanh chóng và hiệu quả

Bài thơ viết : “Năm mới thế cho năm đã cũ/ Báo Độc lập của Đảng Dân chủ/ Kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam/ Đoàn kết và thắt chặt hàng ngũ/ Kiên quyết kháng chiến đến kỳ cùng/ Để giữ chủ quyền và lãnh thổ/ Chờ ngày độc lập đã thành công/ Tết ấy tha hồ bàn với cỗ.”

Tinh thần ấy còn được thể hiện trong một văn kiện được người đứng đầu cuộc kháng chiến công bố cùng ngày “Lời kêu gọi nhân ngày Tết Nguyên đán năm 1947”. Lời kêu gọi viết: “Tết đã đến gần. Theo tục lệ thường thì đồng bào từ Nam chí Bắc, từ thành thị đến thôn quê, ai cũng sắm sửa ăn Tết.

Song Tết năm nay, phải là một Tết kháng chiến. Chiến sĩ ở tiền phương đang chịu đói chịu rét, xông pha bom đạn, đem xương máu để giữ gìn Tổ quốc, để bảo vệ đồng bào hậu phương được an toàn. Đồng bào các chiến khu thì nhà tan cửa mất, lưu lạc, tản cư ăn đói mặc rét, cực khổ điêu linh. Trước tình trạng đó, đồng bào các nơi khác có nỡ lòng ăn Tết linh đình không? Chắc là không!”.

Lời kêu gọi đã đề ra những việc làm cụ thể: “Phải hết sức tiết kiệm để dành tiền bạc, cơm gạo cho cuộc kháng chiến lâu dài”, “đề phòng trước bọn địch tấn công”, “ra sức thi đua tăng gia sản xuất”, “rủ nhau gửi đồ, uý lạo đến chiến sĩ ở tiền phương”.

Cuối lời kêu gọi, Bác viết: “Chúng ta phải làm sao cho Tết này thật là một Tết kháng chiến. Bao giờ kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, chúng ta sẽ cùng nhau ăn Tết linh đình”.

Cũng nhân dịp chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời kêu gọi hô hào đồng bào phải hết sức tiết kiệm, để dành tiền bạc, cơm gạo cho cuộc kháng chiến lâu dài…, ra sức thi đua tăng gia sản xuất, “Rủ nhau gửi đồ, uý lạo cho chiến sĩ ở tiền phương”.

Cùng ngày, Bác Hồ còn viết thư khen ngợi các chiến sĩ bị thương “xứng đáng với Tổ quốc và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên những người con yêu quý như thế”. Đồng thời khen ngợi các thầy thuốc và cán bộ đã hết lòng chăm sóc thương binh: “Thế là các bạn cũng trực tiếp tham gia kháng chiến cứu quốc”.

Cuộc kháng chiến thành công đã được 4 năm, ngày 8/1/1958 sau khi tiếp Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp trong vườn của Phủ Chủ tịch, Bác Hồ tiếp tục chủ trì cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, Bác đã đưa ra những yêu cầu lãnh đạo các bộ phải học tập kinh nghiệm làm kế hoạch của các nước bạn, kế hoạch khi đã được thông quan phải trở thành pháp lệnh của nhà nước buộc mọi người phải chấp hành nghiêm chỉnh, phải quan tâm giáo dục tư tưởng và xây dựng tác phong cần kiệm, sâu sát thực tế và phải “kiên quyết chống quan liêu, chống lãng phí. Các bộ, các ngành mắc khuyết điểm nghiêm trọng về lãng phí phải kiểm điểm trước nhân dân”.

Ngày này năm sau, ngày 8/1/1959, Xưởng may 10 của Tổng cục Hậu cần có vinh dự được Bác Hồ đến thăm. Nửa thế kỷ qua, nhà máy này đã không ngừng trưởng thành đến nay đã trở thành một nhà máy có một thương hiệu nổi tiếng trong ngành may mặc nước ta.

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ với Tết tiết kiệm

Sinh thời Bác Hồ viết tác phẩm “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?”. Người căn dặn: “Suốt năm chúng ta thi đua lao động sản xuất, những ngày Nguyên đán, chúng ta vui chơi một ngày để chào Xuân. Việc đó cũng đúng thôi. Nên chúng ta mừng xuân một cách vui vẻ lành mạnh. Nếu có bao nhiêu tiền bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là mừng xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không xuân”.

Với lòng nhân ái, vào những dịp Tết, Bác thường đi chúc Tết không những ở cơ quan xí nghiệp mà còn đến thăm các gia đình lao động. Chúng ta còn nhớ, Bác đến thăm một gia đình mà trong nhà ngày Tết chẳng có gì, đêm giao thừa còn phải đi gánh nước thuê kiếm tiền. Bác đã nói trong xúc động: “Bác không đến thăm cô chú thì thăm ai?”.

Ngày mồng Một Tết năm 1965, sau khi thăm các cơ quan, đoàn thể ở Hà Nội, Bác đến thăm công trường Việt Trì và phát biểu trước cán bộ, công nhân, chuyên gia các nước bạn đang giúp ta với những lời đầy tình cảm: “Cán bộ phải chú ý chăm lo sinh hoạt của anh em trong ngày Tết. Đối với các đồng chí công nhân, cán bộ, bạn bè giúp ta mà phải xây nhà trong dịp Tết Nguyên đán này, ta càng chú ý săn sóc. Các anh em người Âu, Phi lâu này đã quen với phong vị Tết Việt Nam nên làm sao cái Tết của xây dựng phải vui vẻ hơn Tết kháng chiến, song phải tránh những lãng phí không cần thiết”.

Chúng ta không khỏi xúc động về những tình cảm mà Người không chỉ dành riêng cho nhân dân mà còn cho bạn bè năm châu. Đâu chỉ dừng ở đó, Người còn lo xa, căn dặn chúng ta phải tiết kiệm, chống lãng phí. Việc cần kiệm để xây dựng nước nhà là nhiệm vụ không ai được phép quên lãng. Cũng trong tác phẩm “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?”, Bác còn viết: “Vừa rồi vì được mùa to, hai mươi xã Yên Thành (Nghệ An) đã liên hoan hết 123 con lợn, 8 con bò, 3 con bê, đó là chưa kể số tiền chi tiêu vào muối, gạo, rượu, chè, cũng chưa kể những ngày lao động của bà con đã mất toi. Lãng phí tiền của công sức như vậy lỗi tại ai? Lỗi tại cán bộ huyện, cán bộ xã, lỗi tại đảng viên, chi bộ”.

Từ câu chuyện trên liên hệ với cuộc sống hôm nay, chúng ta thấy hiện tượng lãng phí vẫn còn xảy ra phổ biến. Qua các phương tiện thông tin đại chúng được biết, cứ mỗi lần Tết đến, vẫn có cơ quan, đơn vị với mọi hình thức tổ chức liên hoan, quà biếu, phong bì, nhiều nơi khi quyết toán lên đến hàng chục, hàng trăm triệu đồng, trong lúc người lao động ở đó còn bao vất vả lo toan. Có gia đình còn khoe khoang, sắm sửa, trang hoàng nhà, phòng ốc toàn những thứ đắt tiền, có loại cây cảnh lên đến hàng chục triệu đồng. Trong khi nhà công nhân bên cạnh chưa có gì gọi là Tết, cuộc sống còn rất tạm bợ, lo từng bữa ăn…

Đành rằng nền kinh tế nước ta phát triển, đời sống cộng đồng được nâng lên một bước, nhưng không vì thế mà chúng ta xa hoa, lãng phí. Với việc mừng Tết Nguyên đán, đã có lần Bác Hồ căn dặn:

Mừng Xuân mừng cả thế gian
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân

Xuân về, Tết đến chúng ta lại nhớ đến Bác Hồ với những lời căn dặn chí tình của Người. Chúng ta nguyện quyết tâm thực hiện nghiêm Luật phòng, chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, để Tết đến với mọi nhà, mọi người với không khí vui tươi, phấn khởi, an toàn, lành mạnh và tiết kiệm.

Thanh Hoàng

bqllang.gov.vn