Thư viện

Lời chúc Tết đồng bào cả nước (1-1-1962)

Đồng bào yêu quý,

Trong nǎm qua, nhân dân thế giới và nhân dân ta đã thu được những thắng lợi rực rỡ.

Phe xã hội chủ nghĩa thế giới ngày thêm hùng mạnh.

Đại hội lần thứ XXII của Đảng Cộng sản Liên Xô đã thông qua một Cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa cộng sản vĩ đại, thực hiện mơ ước nghìn nǎm của loài người. Liên Xô đã đi đầu trong công cuộc chinh phục vũ trụ. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước anh em khác cũng tiến thêm những bước rất lớn.

Phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh tiếp tục lên cao. Nhiều nước độc lập mới liên tiếp ra đời. Hệ thống thuộc địa càng thêm tan rã.

Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở các nước tư bản rất sôi nổi.

Nói tóm lại: lực lượng xã hội chủ nghĩa hơn hẳn lực lượng đế quốc, lực lượng hoà bình hơn hẳn lực lượng chiến tranh.

Nhưng bọn đế quốc do Mỹ cầm đầu còn ngoan cố. Chúng đang ráo riết chuẩn bị một cuộc chiến tranh thế giới mới. Vì vậy, nhân dân thế giới phải nâng cao cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì hoà bình, dân chủ, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nǎm mới họ nhất định sẽ giành được những thắng lợi mới.

Trong nước, đồng bào ta ở miền Bắc đã đoàn kết phấn đấu và thu được nhiều thành tích đẹp trong nǎm đầu của kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất. Công nghiệp, nông nghiệp, vǎn hoá xã hội đều có những bước tiến vẻ vang. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao rõ rệt.

Ở miền Nam nước ta, dưới chế độ tàn bạo của Mỹ – Diệm, phong trào đấu tranh yêu nước của đồng bào ta đòi cơm áo, đòi tự do, đòi hoà bình thống nhất Tổ quốc phát triển mạnh mẽ và được sự đồng tình và ủng hộ ngày càng rộng rãi của nhân dân trên thế giới. Mấy tháng qua, đế quốc Mỹ đã bước đầu vũ trang xâm lược miền Nam nước ta, trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơnevơ, uy hiếp nghiêm trọng hoà bình ở Đông Dương và Đông – Nam á. Nhưng kinh nghiệm lịch sử đã chứng tỏ rằng cuối cùng đế quốc nhất định sẽ thất bại, nhân dân nhất định sẽ thắng lợi.

Nhân dịp nǎm mới, tôi thân ái gửi lời hỏi thǎm đồng bào ruột thịt miền Nam đang dũng cảm giương cao ngọn cờ vẻ vang giải phóng dân tộc và bảo vệ hoà bình.

Chúng ta luôn luôn chủ trương rằng: Thống nhất nước Việt Nam là sự nghiệp thiêng liêng của toàn dân Việt Nam. Đại diện của hai miền có thể gặp nhau, cùng nhau bàn bạc, tìm con đường tốt nhất để hoà bình thống nhất Tổ quốc, trên cơ sở độc lập, dân chủ như Hiệp định Giơnevơ đã quy định.

Chúng ta kiên quyết chống đế quốc Mỹ can thiệp vào nội bộ của nước ta.

Tôi nhiệt liệt khen ngợi toàn thể đồng bào ở miền Bắc đã hǎng hái thi đua xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Nǎm mới, nền kinh tế của ta càng phát triển, tiến bộ càng to lớn. Nhưng yêu cầu và khó khǎn còn nhiều. Đó là những khó khǎn của sự trưởng thành. Phải vượt khó khǎn hiện tại để hưởng lợi ích muôn đời. Đồng bào ta: công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, cán bộ… hãy nâng cao tinh thần làm chủ nước nhà, hãy ra sức thi đua tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, hoàn thành tốt kế hoạch Nhà nước nǎm 1962; phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, giữ gìn trật tự an ninh, đoàn kết phấn đấu đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững mạnh cho công cuộc đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà.

Tôi thân ái gửi lời hỏi thǎm kiều bào ta ở nước ngoài và chúc kiều bào đoàn kết, tiến bộ, hết lòng phục vụ Tổ quốc.

Nhân dịp này, tôi xin thay mặt đồng bào chúc Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, chúc các dân tộc đang anh dũng đấu tranh giành tự do, độc lập, chúc nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới:

Nǎm mới nhiều thắng lợi mới!

———————–

Báo Nhân dân, số 2841, ngày 1-1-1962.
cpv.org.vn

Bác Hồ làm gì trong mồng 1 Tết Độc lập đầu tiên?

– Ngày 2/2/1946 ứng vào ngày mồng 1 Tết Bính Tuất, Tết Độc lập đầu tiên. Hồi ức của Vũ Kỳ, thư ký của Bác viết: “Sáng dậy sớm, chưa tới giờ làm việc Bác đã bảo lấy giấy ra khai bút…

Bác đọc cho viết: Hôm nay là mồng Một Tết, ngày Tết đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà… và cuối thư có mấy câu thơ kèm theo cả khẩu hiệu: “Trong năm Bính Tuất mới/Muôn việc đều tiến tới/ Kiến quốc mau thành công/ Kháng chiến mau thắng lợi!/ Việt Nam độc lập muôn năm”.

“Thư chúc mừng năm mới” được đăng toàn văn trên báo Cứu Quốc (ra vào ngày mồng 3 Tết) trong đó còn kêu gọi: “Trong khi đồng bào ở hậu phương đốt hương trầm để thờ phụng Tổ tiên, thì các chiến sĩ ở tiền phương dùng súng đạn để giữ gìn Tổ quốc. Trong khi đồng bào ở hậu phương rót rượu mừng xuân, thì các chiến sĩ ở tiền phương tuốt gươm giết giặc… Chúng ta quyết không để cho bọn thực dân trở lại đè nén chúng ta”.

Cũng dịp này nhân báo “Quốc gia”, cơ quan của một số trí thức Hà Nội ra số Xuân, Bác gửi thơ mừng: “Tết này mới thật Tết dân ta/ Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia/ Độc lập đầy vơi ba chén rượu/ Tự do vàng đỏ một rừng hoa/ Muôn nhà chào đón xuân Dân chủ/ Cả nước vui chung phúc Cộng hoà/ Ta chúc nhau rồi ta nhớ chúc/ Những người chiến sĩ ở phương xa”. Và trong thơ gửi báo “Tiếng gọi phụ nữ” Bác cũng nhấn mạnh: “Năm mới Bính Tuất/ Phụ nữ đồng bào/ Phải gắng làm sao/ Gây “Đời sống mới”…”.

Gặp Chủ tịch Uỷ ban Hà Nội Trần Duy Hưng đến chúc Tết, vị Chủ tịch nước thuật lại câu chuyện đi thăm một số gia đình nghèo đêm 30 Tết và nhắc nhở lãnh đạo thành phố cùng các đoàn thể và các nhà hảo tâm phải lo cái Tết cho người nghèo đều được hưởng Tết đầu tiên nước nhà độc lập.

Sau đó Bác ghé thăm đồn Cảnh sát Hàng Trống và đến Nhà Hát lớn Thành phố để chúc Tết đồng bào và đọc lời “Chúc mừng năm mới”. Buổi trưa bác ăn Tết cùng anh em Vệ Quốc đoàn ở Bắc Bộ Phủ.

Chiều, Bác thăm các nhà thương Đồn Thuỷ (nơi bệnh binh của Pháp đang điều trị), Phủ Doãn (vốn là bệnh viện “làm phúc” dành cho bệnh nhân nghèo) và đến ban quà Tết cho các cháu mồ côi trong Trại An Tư Viện và nhà Ấu Trĩ Viên.

X&N
bee.net.vn

“Thư chúc Tết đồng bào Nam Bộ”

– Ngày 24/1/1947, tức là vào ngày 30 Tết âm lịch, Bác viết riêng một bức “Thư chúc Tết đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ” với nội dung:

“Nhân dịp Nguyên đán âm lịch, tôi thay mặt Chính phủ đặc biệt chúc đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ năm mới. Vì quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc, đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh chiến đấu hơn một năm nay, mà từ nay vẫn kiên quyết hy sinh phấn đấu nữa. Sự trung thành dũng cảm đó sẽ đem Tổ quốc đến thắng lợi, và sẽ ghi những trang vẻ vang trong lịch sử nước nhà.

Vì yêu chuộng hoà bình, vì thật tâm muốn cộng tác với  nhân dân Pháp, Chính phủ ta đã tìm hết cách dàn xếp với Pháp. Những bọn thực dân bội tín bất nhân, hòng dùng vũ lực để cướp nước ta một lần nữa. Chúng gây ra cuộc chiến tranh toàn quốc đã hơn một tháng nay. Vì chủ quyền, vì Tổ quốc, toàn dân Việt Nam đã thề kiên quyết kháng chiến đến cùng, kháng chiến đến lúc lấy lại được thống nhất, độc lập mới thôi. Chúng ta đã phải trải qua những bước gay go cực khổ trong cuộc trường kỳ kháng chiến. Nhưng chúng ta chắc rằng thắng lợi cuối cùng sẽ về ta…”

Tháng 1-1961 Bác thăm nhà trẻ của cán bộ công nhân khu tập thể các nhà máy cao su, xà phòng, thuốc lá Tháng 1/1961 Bác thăm nhà trẻ của cán bộ công nhân khu tập thể các nhà máy cao su, xà phòng, thuốc lá

Để đả phá luận điệu tuyên truyền của thực dân rằng nếu thống nhất thì những người theo Pháp sẽ bị khủng bố; người Nam sẽ bị người Bắc cai trị; chính phủ chỉ toàn Việt Minh, bức thư nêu rõ :

“…Một dân tộc đã tự cường, tự lập, dân chủ cộng hoà thì không làm những việc nhỏ nhen, báo thù báo oán … Trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, từ làng xã đến toàn quốc những người chức trách đều do dân cử ra. Dân tin cậy ai thì người ấy trúng cử và bổn phận những người trúng cử là làm đầy tớ công cộng cho dân chứ không phải làm quan phát tài…

Trong chính phủ có đủ những người các đảng phái, như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội, Đảng Quốc dân, Đồng Minh hội, lại có cả những người không thuộc đảng phái nào. 5 vị bộ trưởng và thứ trưởng quê quán ở Nam Bộ…

Sau hết, chương trình nội chính của Chính phủ và quân dân ta chỉ có 3 điều mà thôi : a) Tăng gia sản xuất để làm cho dân ai cũng đủ mặc, đủ ăn , b) Mở mang giáo dục, để cho ai nấy cũng biết đọc, biết viết; c) Thực hành dân chủ để làm cho dân ai cũng được hưởng quyền dân chủ tự do.

Chính sách ngoại giao của chính phủ thì chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để gìn giữ hoà bình. Sự thật chỉ đơn giản có thế, mong đồng bào hiểu rõ, chớ mắc lừa thực dân”.

16 năm sau, ngày 24/1/1963, là ngày 29 Tết (tháng thiếu) của năm Quý Mão, buổi chiều Bác phải tham dự hội đàm với Đoàn đại biểu Chính phủ Tiệp Khắc, nhưng buổi sáng vị nguyên thủ quốc gia đã “vi hành” thăm Chợ Đồng Xuân.

Trong bộ quần áo gụ đã bạc màu, ngoài khoác áo mưa vải bạt, cổ quàng khăn len che kính bộ râu dễ nhận biết và đeo kính trắng, chân đi dép cao su, Bác cùng 2 chiến sĩ cảnh vệ đi thăm cảnh đồng bào sắm Tết. Bác có ý định mua một bó hoa huệ, nhưng để bảo đảm an toàn, chiến sĩ cảnh vệ trả giá rẻ để sớm rút lui. Trên đường về Bác trách vui: “Trả giá như chú, cả ngày đi chợ cũng chẳng mua được gì !”. Tối hôm ấy, Bác lại đi thăm và chúc Tết một số nơi trong đó có gia đình Bác sĩ Hồ Đắc Di.

X&N
bee.net.vn

Thơ chúc mừng nǎm mới (1-1-1966)

Mừng miền Nam rực rỡ chiến công,
Nhiều Dầu Tiếng, Bầu Bàng, Plâyme, Đà Nẵng…

Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng,
Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng.

Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng,
Tiền tuyến hậu phương, toàn dân cố gắng.

Thi đua sản xuất chiến đấu xung phong,
Chống Mỹ, cứu nước, ta nhất định thắng.

Xuân 1966
Hồ Chí Minh

————————

Báo Nhân dân, số 4289, ngày 1-1-1966.
cpv.org.vn

Lời chúc đầu nǎm gửi nhân dân Mỹ (1-1-1966)

Nhân dịp nǎm mới, tôi thân ái chúc nhân dân Mỹ hoà bình, phồn vinh, hạnh phúc.

Nhân dân Việt Nam rất tha thiết với hoà bình, nhưng hoà bình thật sự không thể tách khỏi độc lập thật sự. Vì đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam, cho nên nhân dân Việt Nam phải chống lại để bảo vệ độc lập và gìn giữ hoà bình. Nhà cầm quyền Mỹ nói hoà bình nhưng thật sự là họ đang tǎng cường chiến tranh. Chỉ cần đế quốc Mỹ chấm dứt xâm lược, chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, rút quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, để nhân dân Việt Nam giải quyết lấy công việc của mình như Hiệp định Giơnevơ 1954 đã quy định, thì tức khắc có hoà bình ở Việt Nam.

Nhân dân Việt Nam rất quý trọng tình hữu nghị với nhân dân Mỹ vĩ đại đang tiếp tục những truyền thống của Hoa Thịnh Đốn và Lincôn đấu tranh cho độc lập dân tộc và dân chủ.

Tôi nhiệt liệt hoan nghênh và cảm ơn nhân dân Mỹ đã đấu tranh đòi Chính phủ Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam. Các bạn làm như vậy cũng là để cho tính mạng của nhiều thanh niên Mỹ khỏi phải bị hy sinh vô ích trong cuộc chiến tranh phi nghĩa chống lại nước Việt Nam ở cách xa nước Mỹ hàng vạn dặm. Chúc nhân dân Mỹ đạt nhiều thắng lợi mới trong sự nghiệp đấu tranh cho dân chủ, hoà bình và hạnh phúc.

Hồ Chí Minh

——————–

Báo Nhân dân, số 4289, ngày 1-1-1966.
cpv.org.vn

Nhớ mãi bài thơ chúc Tết của Bác Hồ năm Nhâm Thìn 1952

QĐND – Cách đây đúng 60 năm, ngày Mồng Một Tết năm Nhâm Thìn (1952), chúng tôi làm việc tại Đài Tiếng nói Miền Nam, Liên khu V. Qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam, chúng tôi thu được bài thơ chúc Tết của Bác Hồ. Bài thơ viết:

“Xuân này, Xuân năm Thìn
Kháng chiến vừa 6 năm
Trường kỳ và gian khổ
Chắc thắng trăm phần trăm.
Chiến sĩ thi giết giặc
Đồng bào thi tăng gia
Năm mới thi đua mới
Thắng lợi ắt về ta.
Mấy câu thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân”.

Chúng tôi vô cùng phấn khởi vội báo cáo lên Liên khu ủy, họp toàn đài phát động đợt thi đua mới làm theo lời Bác và bàn cách phổ biến rộng lời Bác kêu gọi và mừng Xuân qua làn sóng Đài Tiếng nói Miền Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thơ chúc Tết (1967). Ảnh tư liệu

Đài chúng tôi thời gian ấy đóng tại một vùng quê nghèo, hẻo lánh, bên bờ sông Lại Giang, thuộc xóm Vạn Tín, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, được đồng bào thương yêu, đùm bọc và bảo vệ tuyệt đối.

Anh Võ Bài, nhạc sĩ của đài nhanh chóng phổ nhạc bài thơ của Bác theo làn điệu dân ca Liên khu V và họp anh chị em chúng tôi lại học hát. Ngay tối hôm ấy, Mồng Một Tết, trong chương trình phát thanh đầu Xuân, sau lời giới thiệu của phát thanh viên Minh Lý, “toàn ban nam nữ” của đài đã chen nhau trong “lều phát thanh” (làm bằng tranh tre) hát bài ca chúc Tết của Bác, trong bầu không khí trang nghiêm và niềm xúc động không sao tả xiết. Giọng nữ chính là chị Bích Hường. “Dàn nhạc đệm” có Võ Bài đàn băng-giô, anh Liêng đàn măng-đô-lin và anh Phú đàn ác-coóc-đê-ông – chiếc đàn này là chiến lợi phẩm bộ đội ta thu được trong trận diệt đồn Túy Loan và Ban chỉ huy Mặt trận Quảng-Đà gửi tặng đài. Liên tiếp hai ngày, Mồng Hai và Mồng Ba Tết, Đài Tiếng nói Miền Nam lại phát chương trình đặc biệt này, mỗi lần lại huy động “toàn ban nam nữ”, vì chúng tôi ngày ấy không có máy ghi âm. Cũng xin được nói rằng, Tiếng nói Miền Nam ngày ấy chỉ là “một đài nhỏ xíu ở miền Trung, mà phát sóng lên phủ khắp vùng”, tận Việt Bắc, các đô thị và cả một số nước Đông Nam Á cũng nghe được. Tiền thân của đài là Tiếng nói Nam Bộ, “Tiếng nói căm hờn, tiếng nói chiến đấu”.

Sau Tết, chúng tôi được Liên khu ủy khen ngợi; anh Trần Lâm, Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, từ Chiến khu Việt Bắc gửi điện khen các chương trình Tết của đài và khen bản nhạc lời chúc Tết của Bác là kịp thời và hay. Trong xóm nhỏ đã có vài em bé, nhà gần “lều phát sóng”, nghêu ngao hát bài này.

Sáu mươi năm đã qua, nhưng chúng tôi, những người trong cuộc còn sống đến hôm nay, mãi không quên mùa Xuân Nhâm Thìn năm ấy với lời chúc Tết “vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân” của vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu.

Lý Văn Sáu
Nguyên Phó giám đốc Đài Tiếng nói Miền Nam
qdnd.vn

Xuân về nhớ Bác

(Chinhphu.vn) – Mỗi mùa Xuân về lòng ta lại nhớ Bác Hồ. Nhớ Bác, học và làm theo lời Bác một cách thiết thực nhất chính là soi mình vào tấm gương sống giản dị, trung thực nhưng hết sức kiên cường của Bác và nhắc nhở nhau làm theo những lời căn dặn của Người.

“Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn” (Tố Hữu)

Từ mùa Xuân 1970, chúng ta không còn được nghe Bác Hồ đọc thơ chúc Tết vào thời điểm trang trọng Giao thừa, chào đón năm mới.

Tuy nhiên, đứng trước bàn thờ gia tiên vào lúc tiễn đưa năm cũ, trong lòng mỗi chúng ta không chỉ nghĩ đến tổ tiên, ông bà và những người thân đã khuất mà còn thành kính tưởng nhớ đến Bác Hồ.

Khi nhân dân đặt trọn niềm tin vào Đảng

Ông Jean Sainteney, người thay mặt cho nước Pháp ký Hiệp định Sơ bộ với nước ta đầu năm 1946, về sau trong hồi ký của mình đã viết: “Từ khi gặp ông Hồ Chí Minh lần đầu tiên, tôi đã có cảm tưởng là con người khổ hạnh đó mà nét mặt biểu lộ cả trí thông minh và nghị lực, lẫn mưu trí và tế nhị, là một người siêu đẳng chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành một nhân vật chính trị nổi bật trên diễn đàn châu Á… Kiến thức rộng rãi, trí thông minh cùng với sức hoạt động lạ lùng, khả năng chịu đựng mọi kham khổ và lòng vị tha không bờ bến của ông đã đem đến cho ông uy tín và sức thuyết phục không ai có thể so sánh nổi”.

Chúng ta may mắn có một vị lãnh tụ mà người bên kia chiến tuyến cũng phải ca tụng.

Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, theo tôi thiết thực nhất là soi mình vào tấm gương sống giản dị, trung thực nhưng hết sức kiên cường của Bác và nhắc nhở nhau làm theo những lời căn dặn vừa hết sức chân tình, vừa hết sức chí lý của Bác Hồ.

Phát biểu tại Phân hiệu II Trường Nguyễn Ái Quốc, tháng 7/1955, Bác đã nói: “Đảng phải rất mạnh, rất trong sạch. Lấy đồng hồ làm thí dụ: bộ máy đồng hồ phải chạy đều, muốn chạy đều phải sạch sẽ. Đảng muốn trong sạch, mạnh mẽ thì mỗi bộ phận, mỗi đảng viên phải trong sạch, mạnh mẽ”.

Nhân dân ta vốn rất tin yêu Đảng và công nhận tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng. Nhưng nhân dân yêu cầu Đảng phải luôn có những quyết sách đúng đắn và hợp lòng dân, từng đảng viên phải gương mẫu đúng như tinh thần hồi Kháng chiến (Đảng viên đi trước, làng nước theo sau).

Năm nay Đảng ta tổ chức Đại hội lần thứ XI, Đại hội tổng kết kinh nghiệm những năm Đổi mới và chuẩn bị hành trang cho một thời kỳ mới – thời kỳ phát triển nhanh trong xu thế hội nhập quốc tế.

Báo cáo Chính trị Đại hội XI của Đảng đã thẳng thắn vạch ra những tồn tại trong công tác xây dựng Đảng: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhân dân và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; sự yếu kém làm chưa hết trách nhiệm trong quản lý của nhiều cấp, nhiều ngành, làm tăng thêm bức xúc trong nhân dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước… Không ít cơ sở đảng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu thấp; công tác quản lý đảng viên chưa chặt chẽ, sinh hoạt đảng chưa nền nếp, tự phê bình và phê bình yếu… Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng chưa làm tốt công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng… Một số tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể chưa quan tâm đúng mức công tác dân vận. Nội dung, phương thức vận động, tập hợp quần chúng vẫn nặng tính hành chính”…

Tôi cho rằng như vậy là Đảng ta đã thực sự soi mình làm theo những lời căn dặn của Bác Hồ: “Ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”; “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Về ý thức tôn trọng quyền dân chủ của nhân dân, Bác Hồ khẳng định: “Nước ta là một nước dân chủ. Mọi việc đều vì lợi ích của dân mà làm”“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”.

Dân chủ phải được biểu hiện trong toàn bộ cuộc sống. Mỗi đảng viên đều có trách nhiệm với Đảng, với nhân dân.

Học Bác cách trọng dụng nhân tài để xây dựng đất nước

Bác là tấm gương sáng trong việc trọng dụng nhân tài để xây dựng đất nước. Ông Tạ Quang Bửu là một nhà toán học nổi tiếng (lưu học tại Đại học Paris, Bordeaux -Pháp và ĐH Oxford-Anh) về nước năm 1934 và dạy học ở Huế. Năm 1945 ông cùng Luật sư Phan Anh ra Hà Nội để tham gia cách mạng. Tháng 3/1946 tuy chưa vào Đảng, ông đã được Bác Hồ giao cho làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Tháng 8/1947, tuy chỉ mới được kết nạp vào Đảng tròn 1 tháng ông đã được giao trọng trách làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Về khoa học thì có lẽ trường hợp tiêu biểu nhất là GS Trần Đại Nghĩa. Ông là Kỹ sư Phạm Quang Lễ, được Bác trực tiếp thuyết phục và tìm cách bí mật đưa từ Pháp về nước để giao trọng trách làm Cục trưởng Cục Quân giới. Bác còn tự tìm tên để đổi cho ông. Bác nói: “Việc của chú là việc đại nghĩa, vì thế kể từ nay Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa. Dùng bí danh này để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ gia đình , bà con chú  còn ở trong Nam”.

Bác tin ai là không có nhầm. Là một Việt kiều sống lâu năm xa Tổ quốc, mặc dầu bắt đầu từ hai bàn tay trắng nhưng GS Trần Đại Nghĩa đã ra sức góp phần tích cực xây dựng ngành quân giới non trẻ để phục vụ trực tiếp cho chiến đấu. Có lần Bác gửi cho GS Nghĩa một chiếc áo  với mẩu giấy ghi hàng chữ: “Chiếc áo sơ mi của đồng bào Thái Lan tặng Bác. Bác tặng lại chú, mặc cho ấm để làm việc tốt”.

Những chuyện ấm lòng như vậy đối với những người trí thức cống hiến cho đất nước kể sao cho xiết.

Bác phân tích: “So với số nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức thì Đảng không làm được việc gì hết…Ta cần hợp tác với người ngoài Đảng. Ta không được khinh rẻ họ, chê bai họ… Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên không làm nổi”.

Chúng ta càng tự hào về Đảng ta, về dân tộc ta thì càng thấy rõ yêu cầu bức thiết phải bứt phá về kinh tế, để Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong mỏi.

Muốn đất nước ngày càng giàu có lên Đảng phải vạch ra được những kế hoạch phát triển kinh tế rất xác đáng và động viên được toàn thể nhân dân hào hứng và nỗ lực tham gia vào việc thực hiện kế hoạch đó. Muốn nhân dân hào hứng và nỗ lực trước hết phải thực thi dân chủ.

Bác dặn chúng ta: “Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa”. Bác còn nhắc nhở: “Kế hoạch một phần, biện pháp phải hai phần và quyết tâm phải ba phần, có như thế mới có thể hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà nước”.

Năm 2011 này cả nước phấn đấu để GDP tăng thêm 7-7,5% so với năm 2010, nhập siêu không vượt quá 18% kim ngạch xuất khẩu, chỉ số giá tiêu dùng tăng không quá 7%, tổng thu ngân sách trung ương là 591. 279 tỷ đồng, tạo thêm việc làm cho 1,6 triệu lao động, đưa được 87.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài; tuyển mới đại học- cao đẳng tăng 6,5%, trung cấp chuyên nghiệp tăng 10%, cao đẳng nghề và trung cấp nghề tăng 16,5%; giảm tỷ lệ hộ nghèo 2% theo tiêu chuẩn mới; có 4% số xã đạt các chỉ tiêu nông thôn mới; tỷ lệ che phủ rừng đạt 40%…

Hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 là hành động thiết thực nhất để chào mừng thành công Đại hội Đảng lần thứ XI và cũng là để đáp lại lòng mong muốn của Bác Hồ: “Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

* Những lời nói của Bác được dẫn từ cuốn: “Về xây dựng và chỉnh đốn Đảng”, NXB Chính trị Quốc gia năm 2000.

GS.NGND Nguyễn Lân Dũng

baodientu.chinhphu.vn

Mùa xuân năm ấy, Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng

Cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất, khi chủ nghĩa Mác – Lênin được truyền bá vào nước ta bằng các trước tác của C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.I.Lênin và Nguyễn Ái Quốc. Các lớp huấn luyện chủ nghĩa Mác – Lênin cho cán bộ Việt Nam, do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và trực tiếp giảng dạy ở Quảng Châu (Trung Quốc), vào những năm giữa thập niên 20 thế kỷ trước, có tác dụng to lớn cho sự ra đời của Đảng.

Khi mới tới Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc gặp những người trong tổ chức Tâm Tâm xã gồm 7 thanh niên yêu nước Việt Nam, lập ra từ năm 1923. Đến năm 1925, trên cơ sở của Tâm Tâm xã, Nguyễn Ái Quốc tổ chức lại thành Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội với mục đích là làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, sau đó, thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Từ khi ra đời cho đến khi kết thúc, “Thanh niên” đã làm được 3 việc quan trọng: tổ chức phong trào cách mạng ở trong nước, đào tạo cán bộ và xuất bản báo Thanh niên, trong đó việc đào tạo cán bộ chiếm vị trí hàng đầu. Số lượng cán bộ được Nguyễn Ái Quốc huấn luyện tại Quảng Châu, theo mật thám Pháp phỏng đoán khoảng 250 người, sách báo của ta ước tính khoảng từ 200 – 300 người.

Khi đã có một đội ngũ cán bộ được huấn luyện về chủ nghĩa cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đưa họ trở về nước hoạt động. Người còn đưa khá nhiều tài liệu, sách báo cách mạng vào Việt Nam theo nhiều đường khác nhau.

Trong lúc công việc của Nguyễn Ái Quốc đang được tiến hành thuận lợi thì ở Trung Quốc xảy ra sự biến: Cánh hữu của Quốc dân Đảng mở cuộc tiến công vào những người cộng sản. Nhiều người Việt Nam đang hoạt động tại Trung Quốc bị bắt. Nguyễn Ái Quốc đành phải rời Quảng Châu để đi Liên Xô. Từ Liên Xô, Người đã có những chỉ thị quan trọng nhằm thúc đẩy việc thành lập Đảng. Và Nguyễn Ái Quốc còn đặc biệt chăm lo giáo dục cán bộ Việt Nam học tại trường Đại học Phương Đông, để sau khi học xong, trở về Tổ quốc, sẽ trở thành những cán bộ nòng cốt của Đảng trong tương lai. Trong số đó, Nguyễn Ái Quốc có chủ trương đào tạo Trần Phú từ lâu.

Trang giai đoạn Đảng chuẩn bị ra đời, mặc dù Nguyễn Ái Quốc không có ở trong nước, nhưng những học trò của Người vẫn tiếp tục xúc tiến công việc mà người thầy đã vạch ra.

Sự ra đời của Chi bộ cộng sản đầu tiên ở trong nước, Chi bộ 5Đ Hàm Long, vào hạ tuần tháng 3-1929, là dấu hiệu về mặt tổ chức cho thấy một đảng cộng sản sắp ra đời. 3 tháng sau đó, Đông Dương Cộng sản Đảng thành lập ngày 17-6-1929, tại nhà số 312, phố Khâm Thiên, Hà Nội. Di sản quan trọng về mặt lý luận mà Đông Dương Cộng sản Đảng để lại là bản Tuyên ngôn. Tuyên ngôn phân tích sâu sắc chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản, đồng thời vạch ra những bước đi của cách mạng Việt Nam, được Quốc tế Cộng sản biết đến và đánh giá cao.

Sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời, tại Việt Nam còn xuất hiện 2 tổ chức cộng sản nữa: An Nam Cộng sản Đảng (7-1929) và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (9-1929). Mục đích hướng tới của 3 tổ chức cộng sản này là giống nhau, nhưng lại khác nhau về phương pháp, cho nên đã dẫn đến chỗ mâu thuẫn và bài xích nhau.

Thời gian này, Nguyễn Ái Quốc đang ở Thái Lan. Từ Thái Lan, Người đến Hương Cảng (Trung Quốc) vào ngày 23-12-1929. Người triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng để bàn việc thống nhất Đảng. Lúc bấy giờ, Nguyễn Ái Quốc chưa nhận được nghị quyết của Quốc tế Cộng sản về việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương đã được soạn thảo từ tháng 10-1929 và đến tháng 11-1929 mới được thông qua. Vì thế, văn bản nghị quyết ấy không thể chuyển kịp tới Nguyễn Ái Quốc trong thời gian Hội nghị thành lập Đảng diễn ra trong căn phòng nhỏ hẹp của xóm thợ thuyền tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) từ ngày 3-2-1930, do Nguyễn Ái Quốc, bí danh Vương, đại diện Quốc tế Cộng sản, chủ trì. Hội nghị tán thành ý kiến chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, thông qua kế hoạch thành lập một đảng lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam và các văn kiện: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo.

Nhân Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc ra Lời kêu gọi nhân dân Việt Nam tham gia cách mạng.

Những văn kiện này là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, các nghị quyết của Quốc tế Cộng sản về phong trào giải phóng dân tộc, đề ra đường lối đúng đắn cho cách mạng Việt Nam phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước.

Đánh giá ý nghĩa của sự kiện thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân năm 1930. Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”.

Ngày 24-2-1930, theo yêu cầu của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng ra quyết định chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam…

Thành công của Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm sáng tỏ thêm tầm cao tư tưởng và phương pháp lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc, Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta.

Nguồn: baobinhduong.org.vn

tuoitrebinhduong.vn

Bác Hồ với tuổi trẻ và mùa Xuân

Bác Hồ chăm sóc cây vú sữa. Ảnh tư liệu

Trong cuộc sống hoạt động cách mạng, Bác Hồ luôn dành những tình cảm tốt đẹp cũng như thời gian, công sức, trí tuệ của mình để giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ thanh niên Việt Nam. Qua từng thời kỳ cách mạng khác nhau, Bác luôn đề ra phương hướng, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng và phát huy sức mạnh của tuổi trẻ cũng như củng cố xây dựng các tổ chức Đoàn, Hội.

Ngay sau khi đất nước độc lập, trong thư gửi học sinh cả nước ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác Hồ đã khẳng định: “… Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu…” và trong cái Tết độc lập đầu tiên, trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc, Bác viết: “Một năm mới khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội…”, ngày 17 tháng 8 năm 1947 trong thư gửi thanh niên, một lần nữa Bác Hồ lại khẳng định: “… Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cái tương lai đó…”

Là người sáng lập, theo dõi, tổ chức và rèn luyện thanh niên ngay từ những ngày đầu thành lập, cho đến khi tổ chức Đoàn TNCS trở thành đội hậu bị và cánh tay đắc lực của Đảng, là lực lượng nòng cốt trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại hòa bình độc lập cho Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Bác Hồ vô cùng xúc động nói trong lễ kỷ niệm lần thứ 35 ngày thành lập Đoàn thanh niên lao động Việt Nam năm 1960: “Với một thế hệ thanh niên hăng hái và kiên cường chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Vì vậy, Bác rất tự hào, sung sướng và thấy như mình trẻ lại, thấy tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc và vẻ vang”. Ngày 18-1-1963 trong bài nói chuyện với cán bộ nhân dân Kiến An – Hải Phòng, Bác nhấn mạnh: “Đảng cần phải giúp đỡ Đoàn thanh niên phát triển tốt, đồng thời phải chọn những đồng chí Đoàn viên kinh qua thử thách va đã đủ điều kiện đưa họ vào Đảng”.

Rõ ràng, trong tư tưởng của Bác Hồ, tư tưởng vận động thanh niên là một kho tàng về tư duy chính trị, mà quan điểm lý luận luôn được phát triển phù hợp với thực tế khách quan mà cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị, có tác dụng định hướng cho thế hệ trẻ.

Trước khi đi vào cõi vĩnh hằng, Bác đã để lại lời căn dặn trong bản di chúc: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ, Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng Chủ nghĩa xã hội vừa “Hồng” vừa “Chuyên”. Bồi dưỡng cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết…”.

Đảng và Bác Hồ kính yêu đã đặt trọn niềm tin vào thế hệ trẻ. Những đóng góp của thanh niên vào thành quả của những năm đổi mới đã khẳng định quyết tâm của thế hệ trẻ Việt Nam là ra sức lao động, học tập, rèn luyện và tuyệt đối trung thành với sự nghiệp đổi mới của Đảng, quyết tâm đưa nước ta trở thành nước giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh như mong muốn của Bác lúc sinh thời.

Bùi Huy – Theo website Tuổi trẻ Đà Nẵng
tinhdoanbg (Theo: tieuhocdanghai.com)

tinhdoanbg.gov.vn

Phong trào Tết trồng cây

Bác Hồ tham gia tết trồng cây năm 1961

Là phong trào rộng rãi trong nhân dân cả nước, được Hồ Chí Minh phát động dịp Tết năm 1960 nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng. Để chuẩn bị phát động phong trào, ngày 28/11/1959, với bút danh Trần Lực, Hồ Chí Minh viết bài “Tết trồng cây” để phân tích ý nghĩa và lợi ích thiết thực của phong trào này và “đề nghị tổ chức một ngày “Tết trồng cây”, việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”. Nếu tất cả nhân dân miền Bắc, từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng, mỗi người trồng một hoặc vài ba cây vào dịp Tết hằng năm và chăm sóc cho tốt, làm được như thế thì trong năm (từ 1960 – 1965) của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, cả miền Bắc sẽ có được 90 triệu cây. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân. Hồ Chí Minh kêu gọi Bộ Nông Lâm và các địa phương chuẩn bị tốt cho ngày “Tết trồng cây”.

Cuối năm 1959, Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân hưởng ứng một tháng “Tết trồng cây” từ ngày 6/1 – ngày 6/2/1960 và khuyên nhân dân cần duy trì phong trào trong những năm sau. Ngày 11/1/1961, Hồ Chí Minh trồng cây đa ở công viên Bảy Mẫu (nay là công viên Lênin) mở đầu phong trào “Tết trồng cây”. Nói chuyện với một số cán bộ và nhân viên tham gia buổi trồng cây này, Hồ Chí Minh cho rằng: chúng ta làm đây là làm cho bản thân, cho con cháu mình. Hồ Chí Minh theo dõi chặt chẽ việc thực hiện “Tết trồng cây”. Trong bài “Thêm vài ý kiến về “Tết trồng cây” (Báo Nhân dân ngày 25/3/1960), Hồ Chí Minh khen ngợi một số địa phương, đơn vị và cá nhân làm tốt và phê bình một số nơi thiếu chăm sóc cây con, không kiên trì tiếp tục từ phong trào. Hồ Chí Minh kêu gọi mọi người làm đúng khẩu hiệu: “Trồng cây nào, tốt cây ấy”. Đầu năm 1961, Hồ Chí Minh đến thăm nhiều địa phương có phong trào trồng cây tốt như thôn Lạc Trung (Vĩnh Phúc) nay là Vĩnh Phúc (ngày 25/1/1961), Hồ Chí Minh cùng thanh niên Hà Nội tham gia trồng cây ở vườn cây Thanh Niên (5/2/1961). Người viết bài “Tết trồng cây” (đăng trên báo Nhân dân ngày 5/2/1969) để góp phần thúc đẩy toàn dân tham gia thực hiện tốt phong trào Hồ Chí Minh dặn “năm nay, chúng ta thi đua trồng cây cho thật tốt, phải đảm bảo trồng cây nào tốt cây ấy, tổ chức “một Tết trồng cây quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, từ đó đến nay, mỗi khi xuân đến, nhân dân Việt Nam lại tổ chức “Tết trồng cây”, “Tết trồng cây” đã trở thành một tập quán tốt đẹp của nhân dân Việt Nam, mang lại nhiều lợi ích thiết thực về kinh tế và quốc phòng, góp phần làm giàu đẹp cho Tổ quốc.

quangbinh.gov.vn

Bác Hồ viết lịch sử và chúc Tết bằng thơ

“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

Đó là yêu cầu trên hết mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định ngay từ dòng đầu tiên của cuốn Lịch sử nước ta. Tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho nền khoa học xã hội và nhân văn nước nhà, đặc biệt là nền sử học và địa lý Việt Nam ngay cả khi đất nước còn chìm trong đêm đen nô lệ.

Năm 1941, sau 30 năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển tìm đường cứu nước, Bác trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Sống và làm việc tại hang Pắc Bó (Cao Bằng), công việc đầu tiên Người bắt tay thực hiện là dịch từ tiếng Nga sang tiếng Việt cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Bôn-sê-vích (Nga), viết Địa dư nước ta – cuốn địa lý Việt Nam đầu tiên bằng thơ lục bát, khẳng định cương vực lãnh thổ đất nước. Sao cho “Dân ta phải biết nước ta, một là yêu nước, hai là trí tri” (trí tri nghĩa là hiểu biết). Sau Địa dư nước ta, Bác Hồ viết tiếp cuốn Lịch sử nước ta. Đó là tập diễn ca lịch sử gồm 208 câu lục bát, phần kết có 30 mốc lịch sử quan trọng, trong đó Người tiên đoán “năm 1945, nước nhà độc lập”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Lịch sử nước ta, trước hết, nhằm làm tài liệu học tập cho cán bộ trong các lớp huấn luyện ở chiến khu và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, để giáo dục, động viên mọi người phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, góp phần chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại năm 1945. Cuốn Lịch sử nước ta được Bộ Tuyên truyền của Việt Minh xuất bản tháng 2-1942.

Với thực trạng Việt Nam lúc đó có trên 90 phần trăm dân số mù chữ, Hồ Chí Minh đã sáng suốt chọn thơ ca làm phương tiện thể hiện và chuyển tải những kiến thức lịch sử cơ bản cho người dân. Bởi Người hiểu sâu sắc rằng, thơ ca rất gần gũi, quen thuộc với người dân nước Việt, nhờ đặc tính có vần, có điệu nên dễ thuộc, dễ nhớ, dễ đi sâu vào lòng người.

Từ năm 1942 đến năm 1969, sau Lịch sử nước ta, hằng năm vào dịp đầu Xuân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều viết tiếp Lịch sử nước ta dưới dạng độc đáo là thư và thơ chúc tết, Người đã để lại cho kho tàng lịch sử và văn học Việt Nam một gia tài quý báu gồm hai mươi sáu bài thơ và năm mươi tám bức thư, điện chúc Tết, ba tập diễn ca lịch sử và địa lý.

Viết lịch sử đất nước, dân tộc bằng thơ và thư chúc Tết, Chủ tịch Hồ Chí Minh ý thức rằng từ thuở xa xưa, chúc Tết là một trong muôn vàn nét đẹp truyền thống trong ứng xử của người dân Việt Nam.

Hằng năm vào những ngày đầu Xuân, dù giàu, nghèo, sang, hèn, nhà nhà, người người đều chúc nhau với những lời tốt đẹp nhất để vượt qua mọi khốn khó, trở ngại trên đường đời và mơ ước về một cuộc sống thanh bình, ấm no, hạnh phúc. Đó cũng là dịp để mỗi thành viên trong gia đình nhớ tới những người thân đi xa và tưởng niệm ông bà, tổ tiên cùng những người thân yêu đã khuất.

Hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất trân trọng, nâng niu, gìn giữ và ra sức phát huy những nét đẹp trong truyền thống văn hóa đó của dân tộc.

Thư và thơ chúc Xuân là hai thể loại được

Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng để viết sử, do ưu thế về khả năng chuyển tải tư tưởng, tình cảm một cách ngắn gọn, sinh động và súc tích, trở thành cuốn Biên niên lịch sử đất nước sống động, vô giá.

Tư tưởng chung nhất trong thư và thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên hết là lời chúc tốt lành, vừa là lời kêu gọi hết thảy cán bộ, chiến sĩ, đồng bào hăng hái thi đua hoàn thành nhiệm vụ cách mạng của từng năm, từng thời kỳ để cùng nhau mau chóng đưa nước nhà đến độc lập, thống nhất, xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc.

Khởi đầu từ tập diễn ca Địa dư nước ta, viết năm 1941 ở Pác Bó, đến Xuân Nhâm Ngọ (năm 1942), giữa núi rừng Việt Bắc ngút ngàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài thơ Mừng Xuân, chúc đồng bào đoàn kết, nước nhà mau được độc lập. Đó không chỉ là khát vọng của cả dân tộc, mà Người đã chủ động dự báo lịch sử, đón đầu thời cơ một cách tài tình:

“Chúc đồng bào ta đoàn kết mau,
Chúc Việt Minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong năm nay,
Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới!”

Bài “Chào Xuân” năm Giáp Thân (năm 1944) đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một bức thư chúc Tết, trở thành câu đối sắc sảo, dự báo chiến thắng của phe Đồng minh trước trục phát-xít:

“Rót cốc rượu Xuân, mừng cách mạng.
Viết bài chào Tết, chúc thành công!”

Xuân Bính Tuất (năm 1946) – Tết Độc lập cũng là Tết Kháng chiến đầu tiên sau gần một thế kỷ bị thực dân Pháp đô hộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ và toàn thể đồng bào chúc Tết các chiến sĩ Quyết tử yêu quý ngoài mặt trận, trên chiến lũy Sài Gòn, Hà Nội, với lời ước hẹn sắt son:

“Bao giờ kháng chiến thành công,
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.
Tết này ta tạm xa nhau,
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy”;

Với đồng bào cả nước, Người chúc mừng và khẳng định:

“Trong năm Bính Tuất mới,
Muôn việc đều tiến tới.
Kiến quốc mau thành công!
Kháng chiến mau thắng lợi
Việt Nam độc lập muôn năm!”

Với Nam Bộ trên tuyến đầu chống Pháp xâm lược, món quà Xuân mà Người thay mặt Chính phủ trao tặng là danh hiệu vẻ vang “Thành đồng Tổ quốc”.

Xuân Đinh Hợi (năm 1947), lời chúc Xuân của Người mang âm hưởng của khẩu hiệu hành động:

“Trường kỳ kháng chiến nhất định
thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định
thành công!”

Trong những bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1948 đến năm 1954, Người luôn khẳng định lòng tin son sắt vào thắng lợi cuối cùng, đồng thời động viên hết thảy đồng bào, chiến sĩ cả nước hăng hái thi đua cứu quốc, đưa kháng chiến đến thắng lợi. Những vần thơ chúc Xuân ngắn gọn của Người diệu kỳ thay đã trở thành phương thức, những khẩu hiệu nổi tiếng, đi vào lịch sử kháng chiến, gây xúc động và cuốn hút lòng người như vần thơ chúc Xuân Kỷ Sửu (năm 1949):

“Người người thi đua,
Ngành ngành thi đua,
Ta nhất định thắng!
Địch nhất định thua!”

Trong những mùa Xuân: Canh Dần (năm 1950), Tân Mão (năm 1951), Nhâm Thìn (năm 1952), bên cạnh những bài thơ mừng Xuân mới, Bác Hồ còn viết thư chúc Tết nhằm động viên được cao nhất sức người, sức của cho tiền tuyến, đặc biệt ở những thời điểm bước ngoặt của cuộc kháng chiến như mùa Xuân năm 1951:

“Xuân này kháng chiến đã năm Xuân.
Nhiều Xuân thắng lợi càng gần thành công.
Toàn dân hăng hái một lòng.
Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời”.

Suốt mười năm cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Bảo vệ miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, ủng hộ đồng bào miền Nam đấu tranh cho thống nhất nước nhà, những bài thơ Xuân và thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều hướng vào mục tiêu động viên hết thảy đồng bào, chiến sĩ cả nước thi đua xây dựng cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam và sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Trong thư chúc mừng năm mới Bính Thân (năm 1956), thêm một lần Bác khẳng định:

“Miền Bắc thi đua xây dựng,
Miền Nam giữ vững thành đồng
Quyết chí bền gan phấn đấu
Hòa bình, thống nhất thành công”.

Với niềm tin son sắt vào thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, Xuân Tân Sửu (năm 1961), Người hướng tầm nhìn của muôn người tới tương lai xán lạn:

“Mừng Việt Nam, mừng thế giới!
Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh”.

Xuân Giáp Thìn (năm 1964) là năm thứ tư của kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất ở miền Bắc (1960 – 1965). Những năm tháng đồng bào miền Nam anh dũng chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn ra sức động viên đồng bào, chiến sĩ cả nước thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

“Bắc Nam như cội với cành,
Anh em ruột thịt đấu tranh một lòng.
Rồi đây thống nhất thành công,
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà.
Mấy lời thân ái nôm na,
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”.

Năm 1965, khi đế quốc Mỹ ồ ạt đem quân vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, những vần thơ chúc Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng về đồng bào, chiến sĩ ở cả hai miền Nam – Bắc, hết lòng động viên phong trào chống Mỹ, cứu nước của cả dân tộc. Vào đúng năm này, Người bắt tay viết Di Chúc, sau những vần thơ chúc Xuân:

“Chào mừng ất Tỵ Xuân năm mới,
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi,
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi,
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới,
Đồng bào hai miền thi đua sôi nổi,
Đấu tranh anh dũng, cả nước một lòng,
Chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi!
Hòa bình thống nhất ắt hẳn thành công”.

Theo những cánh sóng báo tin thắng trận dồn dập, vần thơ chúc Xuân Đinh Mùi (năm 1967) của Bác Hồ vút lên, ngân dài, vang xa, rộn rã như khúc ca chiến thắng:

“Xuân về xin có một bài ca,
Gửi chúc đồng bào cả nước ta,
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi
Tin mừng thắng trận nở như hoa”.

Đặc biệt, Xuân Mậu Thân (năm 1968), đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người không chỉ gửi thư chúc mừng năm mới tới đồng bào, chiến sĩ cả nước, mà gửi cả bạn bè năm châu, bốn biển để nói lời cảm ơn và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ đế quốc Mỹ đưa quân trực tiếp vào xâm lược miền Nam và gây chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhưng nhân dân Việt Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết đánh Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua.
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên toàn thắng ắt về ta!”.

Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của Bác, ngay sau khi phát đi đã được phổ nhạc thành bài ca mang âm hưởng lạc quan, hào hùng, sang sảng như lời hịch, hàm chứa một nội dung lớn, mới mẻ, nâng tầm những định hướng và mục tiêu cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến đỉnh cao.

Năm 1969, cuộc chiến tranh giải phóng (1945 – 1975) của nhân dân ta bước sang năm thứ 24, cuộc kháng chiến chống Mỹ bước sang năm thứ 15, Bác Hồ ở độ tuổi 79. Với dự cảm hết sức chuẩn xác, tinh tế, Người chuẩn bị kỹ lưỡng, chu toàn mọi việc riêng, chung, trước lúc đi xa về cõi vĩnh hằng. Người đã hoàn chỉnh bản Di chúc.

Lúc này bệnh tình của Bác đã trở nên trầm trọng. Người đã phải khổ luyện hàng tháng trời và ra sức thuyết phục các bác sĩ đang chăm sóc sức khỏe cho Người, để có thể chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước như thông lệ hằng năm, để không ai biết được Người đang lâm bệnh nặng. Trong chúng ta chắc chẳng ai cầm lòng được, mỗi khi nhớ về phút giao thừa năm Kỷ Dậu (năm 1969). Dù lâm bệnh nặng là thế, Người vẫn làm thơ, viết hai thư, gửi ba bức điện chúc Tết tới nhà nhà, người người. Phút giao thừa như lặng đi khi Đài Tiếng nói Việt Nam vang lên lời chúc Xuân của Bác. Vẫn giọng trầm ấm, truyền cảm da diết của quê hương Xứ Nghệ, chứa đựng hết thảy tình thương bao la của Bác dành cho đồng bào, chiến sĩ cả nước, cho kiều bào ta ở nước ngoài và cho cả bạn bè khắp năm châu. Gói trọn tấm lòng nhân hậu của người cha, người bạn, trước lúc đi xa:

“Đồng bào và chiến sĩ yêu quý!

Năm 1968 là một năm quân dân cả nước ta chiến thắng rất oanh liệt…

Nhân dịp năm mới 1969, thay mặt nhân dân cả nước ta, tôi nhiệt liệt chúc mừng và cảm ơn các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước bầu bạn và nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã hết lòng ủng hộ và giúp đỡ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Tôi thân ái chúc đồng bào, chiến sĩ, cán bộ và bà con Hoa kiều cả hai miền Nam Bắc và kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới đoàn kết, chiến đấu, thắng lợi. Và có mấy lời mừng Xuân như sau:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào,
Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào!
Bắc Nam xum họp, xuân nào vui hơn!”

Sáu khổ thơ chúc Xuân cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay lập tức được phổ nhạc, theo cánh sóng Đài Tiếng nói Việt Nam đã bay cao, vang xa khắp mọi miền đất nước, đến cùng bạn bè xa gần khắp năm châu, bốn biển, trở thành Bản anh hùng ca sống mãi cùng năm tháng.

Từ Xuân Nhâm Ngọ (năm 1942) đến Xuân Kỷ Dậu (năm 1969), người Việt Nam may mắn có được trên một phần tư thế kỷ được Bác gửi thư chúc Tết và thơ mừng Xuân. Mỗi lá thư, vần thơ của Người là một bản tổng kết, một trang sử thi, địa lý, một bức tranh lịch sử về những sự kiện nổi bật, hay những chiến công vang dội của dân tộc, đất nước trong năm qua, đồng thời vạch ra phương hướng, sách lược và từng bước đi cụ thể cho năm mới.

Trong thư và thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại và tương lai luôn đan xen, quyện chặt vào nhau, dệt thành bức tranh lịch sử sống động về cuộc kháng chiến oanh liệt của nhân dân ta chống thực dân Pháp, chống phát-xít Nhật và đế quốc Mỹ xâm lược.

Hơn một phần tư thế kỷ, với hai mươi sáu khoảnh khắc mùa Xuân, cả Việt Nam luôn hướng về Việt Bắc – thủ đô kháng chiến, hướng về Thủ đô Hà Nội – trái tim của đất nước, được đón chờ phút giao thừa thiêng liêng, với lời chúc Xuân nồng ấm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thông lệ đó đã trở thành nhu cầu tình cảm và nỗi khát khao trong sâu thẳm tâm hồn của người dân Việt Nam. Qua rồi hơn bốn thập niên, dẫu không còn hạnh phúc được nghe Bác Hồ chúc Tết, nhưng cuốn Địa dư nước ta, Lịch sử nước ta, Thư và thơ chúc Tết cùng với Di chúc của Bác Hồ mãi mãi là những pho sử vàng cả về hình thức lẫn nội dung thể hiện.

Đinh Thu Xuân

tapchicongsan.org.vn

Bác Hồ với Tết Mậu Thân 1968

Giữa năm 1967, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta xuất hiện tình thế mới, có lợi cho ta. Tháng 12-1967, Bác Hồ chủ tọa cuộc họp Bộ Chính trị, phân tích tình hình, quyết định mở đợt tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968 để giành thắng lợi quyết định. Sau đó, tháng 1-1968, hội nghị Trung ương lần thứ 14 (khóa III) thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967, khẳng định quyết tâm, mục tiêu và hướng chiến công chiến lược.

Từ sau cuộc họp Bộ Chính trị, Bác chỉ thị cho các cán bộ chỉ huy các chiến trường:

Kế hoạch phải thật tỉ mỉ
Hợp đồng phải thật ăn khớp
Bí mật phải thật tuyệt đối
Hành động phải thật kiên quyết
Cán bộ phải thật gương mẫu”.

Đồng chí Vũ Kỳ – thư ký riêng của Bác – kể lại rằng, Bác đã chuẩn bị thư chúc Tết Mậu Thân 1968 từ độ ba tháng trước. Sáng chủ nhật 31-12-1967, Bác ra Phủ Chủ tịch để đọc ghi âm thư chúc Tết. Chị Trần Thị Tuyết ngâm bài thơ chúc Tết, vừa để Bác nghe, vừa để ghi âm phát lúc giao thừa. Sáng ngày 1-1-1968, Bác gửi Thư chúc mừng năm mới tới toàn thể cán bộ và đảng viên cả nước. Trong thư, Bác “gửi lời chúc mừng đến các nước XHCN anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta”; “chúc kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới cố gắng mới, tiến bộ mới!”. Đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước, Bác chúc:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”

Chiều ngày 1-1-1968, Bộ Chính trị đến, Bác căn dặn thêm công việc. Bốn giờ chiều, Người lên máy bay trở lại Bắc Kinh để chữa bệnh theo quyết định của Bộ Chính trị và Hội đồng bác sĩ. Ở Bắc Kinh, Bác nghỉ ở Ngọc Tuyền Sơn, khu tịnh dưỡng của lãnh đạo nước bạn. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta thường xuyên đến Bắc Kinh để báo cáo và xin ý kiến Bác. Ngày 20-1-1968, đồng chí Lê Đức Thọ đến. Ngày 25-1-1968, trên đường từ Hungari về, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ghé qua Bắc Kinh xin chỉ thị cuối cùng của Bác về chiến dịch Mậu Thân.

Cũng theo đồng chí Vũ Kỳ, chiều 29 Tết, Bác Hồ nhận điện của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng chúc Tết Bác. Tối đêm giao thừa nơi Bắc Kinh xa xôi, hai Bác cháu ngồi im lặng trong phòng, vặn Đài Tiếng nói Việt Nam nghe tin tức, ca nhạc và ngâm thơ Tết, chờ đón giao thừa. Từ khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng (1941) đến lúc đó 26 năm, đây là lần đầu tiên Bác đón giao thừa ở nước ngoài. Thời gian trôi đi chầm chậm. Rồi, bên ngoài, tiếng pháo nổ ran, tiễn Đinh Mùi và đón Mậu Thân. Từ chiếc đài bán dẫn, tiếng nói của Bác Hồ vang lên:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”

Lời thơ chúc Tết của Bác đồng thời cũng là hiệu lệnh mở đầu cuộc tiến công và nổi dậy được truyền đi khắp mọi miền đất nước. Khi đài phát xong câu cuối “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta”, Bác nói khẽ: “Giờ này, miền Nam đang nổ súng!”.

Trưa Mồng Một Tết, Bác Hồ rất vui khi nhận được tin chiến thắng từ Hà Nội báo sang: “Đánh khắp miền Nam!”. Mồng 6 Tết, nhằm ngày 3-2-1968, kỷ niệm 38 năm Ngày thành lập Đảng. Mới 6 giờ sáng, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ chuẩn bị giấy bút. Bác ngồi cạnh cửa sổ, nhìn ra ngoài trời đầy tuyết trắng, đọc cho đồng chí Vũ Kỳ ghi bài thơ “khai bút” đầu năm:

Đã lâu chưa làm bài thơ nào
Nay lại thử làm xem ra sao
Lục khắp giấy tờ vần chẳng thấy
Bỗng nghe vần “THẮNG” vút lên cao!”

“Vần THẮNG” của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom và đánh phá miền Bắc, thừa nhận chính thức Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán Paris để giải quyết chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

PHẠM MINH KHẢI

baohaugiang.com.vn