Thư viện

Đoàn kết mới thành công

Nói về đoàn kết dân tộc, Bác nói: “Vì sao nhân dân ta phải đoàn kết? Vì đoàn kết là sức mạnh để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược”. Bác cầm một chiếc đũa ở trên bàn, đưa cho một đồng chí cán bộ, bảo: “Chú bẻ đi”. Đồng chí đó bẻ một cách dễ dàng. Bác lại cầm tiếp một bó đũa và bảo: “Chú bẻ tiếp đi”. Đồng chí đó thưa: “Thưa Bác, cháu không bẻ được”. Bác liền bảo: “Thế đấy, nếu để riêng một chiếc đũa thì ta bẻ dễ dàng, còn hợp lại thành một bó đũa thì không thể bẻ được. Công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tuy còn lâu dài, gian khổ nhưng nhân dân ta biết đoàn kết một lòng, tạo thành sức mạnh phi thường, chúng ta sẽ chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược”.

Xuyên suốt và nhất quán trong cuộc đời, sự nghiệp của Bác Hồ là tư tưởng đại đoàn kết các dân tộc, nhằm tập hợp, phát huy sức mạnh của các lực lượng cách mạng, phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Người đã tổng kết trong Di chúc: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta”. Tư tưởng lớn đó được Người cô đọng trong khẩu hiệu nổi tiếng: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Tư tưởng đoàn kết gắn bó máu thịt với cả cuộc đời của Người.

Trong Di chúc, Người đã căn dặn “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đoàn kết toàn dân là một nội dung quan trọng, vì nó phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân và sự gắn bó mật thiết giữa nhân dân với Đảng thành một sức mạnh vô địch.

Kế thừa và phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, Đại hội X của Đảng đã khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Hà An
baobinhdinh.com.vn

Advertisements

Đoàn kết mới thành công

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết trong Đảng là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân. Đảng đoàn kết, dân tộc đoàn kết và sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân tạo nên sức mạnh vĩ đại để dân tộc ta vượt qua muôn vàn thách thức, chiến thắng mọi kẻ thù để đi tới thắng lợi.

Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Với Hồ Chí Minh, đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải là một chiến lược, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam, “Cách mạng nhất định thành công. Ta thành công chính vì ta đoàn kết, quyết tâm, tin tưởng”. Người khuyên cán bộ, đảng viên của Đảng phải thương yêu, nuôi dưỡng và phát triển tình đồng chí, nghĩa đồng bào, giữ gìn đạo đức cách mạng, chống các căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rằng đoàn kết trong Đảng phải thể hiện ở tư tưởng và hành động phải thống nhất; trong Đảng không thể có tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược, bằng mặt không bằng lòng… Không chỉ kêu gọi, vận động toàn Đảng, toàn dân phải đoàn kết, Người chính là hiện thân của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, là linh hồn của sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Người đã thu hút, tập hợp, cảm hóa mọi người bằng chính tấm gương tận trung với nước, tận hiếu với dân; bằng chính cuộc đời cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; bằng tình thương yêu vô hạn đối với con người, trước hết là những người lao động. Sự hài hòa giữa tư tưởng và hành động, nói luôn đi đôi với làm và đạo đức, nhân cách của Người đã thật sự quy tụ mọi lực lượng trong xã hội, trở thành động lực, sức mạnh đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, lúc nào, nơi nào tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc và sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, thì khi đó, nơi đó cách mạng đạt được thành tựu và phát triển. Ngược lại thì cách mạng gặp khó khăn, thậm chí còn gây tổn thất nghiêm trọng.

Với bài học kinh nghiệm đó, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ phải không ngừng chăm lo củng cố sự đoàn kết thống nhất và tình đồng chí trong Đảng; thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tự phê bình và phê bình; xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng; đây là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong tình hình quốc tế có nhiều biến động phức tạp hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình”, dùng nhiều âm mưu, thủ đoạn mua chuộc, kích động, nói xấu, chia rẽ đội ngũ cán bộ, đảng viên, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng…, tư tưởng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là động lực, là nguồn sức mạnh to lớn của sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.

  • Thư Văn

baobinhdinh.com.vn

Lời nhắn nhủ đồng bào công giáo đã di cư vào Nam (4-1955)

Hiện nay, ở miền Nam, nhất là ở Sài Gòn – Chợ Lớn, các bè phái đang đánh nhau. Trộm cướp cũng nhân dịp đốt nhà giết người cướp của lung tung. Nhiều người Bắc trước đã bị lừa bịp cưỡng ép di cư vào Nam, nay lại bị tai bay vạ bộc.

Thấy đồng bào lâm vào hoàn cảnh khốn đốn ấy, tôi rất đau lòng.

Những người muốn đi, thì Chính phủ để tự do đi, nhưng nay gặp tai nạn, chắc nhiều người muốn trở về.

Vậy, tôi thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà an ủi và nhắn nhủ những đồng bào ấy, để được yên ổn thờ Chúa và làm ǎn, nhân dân và Chính phủ sẵn sàng hoan nghênh và giúp đỡ.

Tháng 4 nǎm 1955
HỒ CHÍ MINH

Tài liệu lưu tại Viện bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Tư tưởng đại đoàn kết – ngọn đuốc soi đường dân tộc

Bác Hồ ân cần thăm hỏi bà con nông dân
Ảnh: TL

Một trong những di sản vô giá mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta đó chính là tư tưởng đại đoàn kết dân tộc. Quần tụ trong cộng đồng làng, xã để hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, sinh hoạt, và để chống chọi với thiên tai, địch họa trong quá trình dựng nước và giữ nước đã hình thành nên truyền thống yêu nước, đoàn kết, một bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam.

Đúc kết từ lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Sử ta dạy cho ta bài học: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do, trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Và trong suốt cả cuộc đời của Người, Hồ Chí Minh đã không ngừng xây dựng, hoàn thiện nên một hệ thống những quan điểm về đại đoàn kết dân tộc, không ngừng truyền bá tư tưởng đại đoàn kết trong Đảng và các cấp chính quyền, trong các tầng lớp nhân dân, kể cả đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc.

Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết dân tộc không phải là sách lược nhất thời trong một giai đoạn nhất định, mà đoàn kết là vấn đề cơ bản, có tính chiến lược, lâu dài. Đoàn kết có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của cách mạng, tới sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước, của dân tộc. Muốn vậy, đoàn kết phảithật thà, lâu dài, rộng rãi và chặt chẽ. Đoàn kết phải thật sự thật lòng, trên cơ sở mục tiêu chung của cách mạng, kể cả những lúc khổ cực gian nan, cũng như khi đã thành công, đó chính là phương châm đoàn kết của Hồ Chí Minh. Ngay từ những ngày đầu khi nước nhà mới giành được độc lập, trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plây cu ngày 19-4-1946, Hồ Chí Minh đã viết… “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”. Trong bài nói chuyện tại buổi khai mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, dân, chính các cơ quan Trung ương Bác nói:“Đảng có 2 chính sách, công nông trí thức hóa, trí thức hóa công nông tức là anh em trí thức cùng biết trọng lao động, cũng biết lao động, hợp thành một khối với công nông, nâng cao trình độ công nông về văn hóa và lí luận. Đấy mới là thật thà đoàn kết”. Theo Hồ Chí Minh, cần phải đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đối tượng, các lực lượng của dân tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, miễn là yêu nước, đồng lòng chống lại kẻ thù chung, xây dựng và phát triển đất nước. Trả lời Báo Độc lập năm 1947, Bác đã nói: “Chính sách của Chính phủ trước sau vẫn là đoàn kết. Đối với các vị quan lại cũ cũng như đối với tất cả các giới đồng bào, những người có tài, có đức thì Chính phủ đều hoan nghênh ra gánh vác việc nước”. Không chỉ quan tâm tới đoàn kết các dân tộc “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Lai hay Êđê, Xê đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt”, Bác còn quan tâm tới đoàn kết các tôn giáo, chủ động giải quyết những xích mích nhằm không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Trong thư gửi Giám mục Phát Diệm, Kim Sơn, Ninh Bình Lê Hữu Từ (ngày 1-2-1947) Bác viết “chắc cụ không bao giờ tin rằng Việt Minh chống đạo vì cụ thừa biết Việt Nam độc lập đồng minh là cốt đoàn kết tất cả đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập, chứ không phải để chia rẽ tôn giáo… Những xích mích nhỏ giữa một số đồng bào tuy là đáng tiếc vì đạo đức giáo hóa chưa được phổ cập, không thể động chạm đến sự đại đoàn kết của chúng ta”.Đối với kiều bào, Người vẫn luôn dành thời gian và tình cảm động viên tinh thần đoàn kết hướng về quê hương đất nước. Trong thư chúc Tết Việt kiều ở Lào, Xiêm (Thái Lan), Người viết “các đồng bào tuy mình trú ở nơi đất khách quê người, nhưng lòng vẫn yêu mến cố hương Tổ quốc… Ngày nay, tuy nhờ sự đoàn kết của toàn dân mà nước nhà đã tranh lại quyền độc lập, nhưng chúng ta hãy còn nhiều sự khó khăn, hãy còn phải hy sinh phấn đấu mới đi đến sự nghiệp độc lập hoàn tòan. Muốn đạt mục đích đó chúng ta phải kiên quyết nữa, phải đoàn kết nữa”. Đoàn kết những con dân đất Việt mang trong mình dòng máu Lạc Hồng yêu nước, phụng sự Tổ quốc đó là một quan điểm cơ bản của di sản tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đoàn kết dân tộc phải đi liền với xây dựng, củng cố Đảng, giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng. Hiểu sâu sắc lý luận Mác-Lênin về chính đảng kiểu mới, Hồ Chí Minh đã sáng lập và dày công rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam để Đảng thực hiện vai trò lãnh đaọ cách mạng, là hạt nhân đoàn kết, là lực lượng tiên phong, là đạo đức, là văn minh để đoàn kết tập hợp toàn dân làm cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Hồ Chí Minh phải là việc làm thường xuyên, nghiêm túc nhằm phát huy ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, tăng cường vai trò, sức chiến đấu, tăng cường sự đoàn kết trong Đảng và toàn xã hội. Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc  (nay là Bắc Ninh – Bắc Giang) Người nói: “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công. Đảng ta là một Đảng cách mạng theo Chủ nghĩa Mác Lênin, tất cả cán bộ và đảng viên phải đặt quyền lợi của Đảng, của giai cấp và của nhân dân lên trên hết, cao hơn hết” và cho đến trước lúc về cõi vĩnh hằng, trong bản Di chúc thiêng liêng Người vẫn dặn lại cho toàn dân tộc, điều cốt lõi “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Xây dựng, củng cố và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất từ trong Đảng để lãnh đạo tập hợp khởi đầu đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề cốt lõi trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đoàn kết phải gắn liền với dân chủ và thực hành dân chủ, xây dựng chính quyền trong sạch của dân, do dân, vì dân, chăm lo lợi ích thiết thực của các tầng lớp nhân dân. Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Nước ta là nước dân chủ, chế độ ta là chế độ dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Người hiểu rõ sức mạnh to lớn của nhân dân, gắn bó cả cuộc đời, sự nghiệp vì dân, với phương châm đoàn kết thật thà. Người tâm niệm đoàn kết đấu tranh để giành độc lập, tự do cho dân tộc cũng là để chăm lo lợi ích cho nhân dân, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Muốn vậy phải thực hành dân chủ. Mọi quyền lực của bộ máy chính trị các cấp đều do dân bầu ra, dân ủy quyền mà có, do vậy cán bộ phải là người đầy tớ, công bộc của dân. Đảng, Nhà nước đều phải lấy việc đem lại lợi ích cho dân làm mục tiêu tối cao. Thực hành dân chủ theo Hồ Chí Minh không phải chỉ dừng lại ở ý thức, lý luận mà còn phải quan tâm đến lợi ích thiết thân của các tầng lớp nhân dân. Người nói:“Nếu dân đói, Đảng, Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng, Chính phủ có lỗi”. Để có đoàn kết thật sự lâu bền, theo Hồ Chí Minh phải có dân chủ thực sự trong Đảng, trong toàn xã hội.

Để dân thật sự là chủ, việc thực hành dân chủ phải gắn liền với việc xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Theo Hồ Chí Minh, chính quyền chính là công cụ để nhân dân thực hiện mục tiêu của cách mạng và phát huy quyền làm chủ. Nhưng trên thực tế ở nhiều nơi, do nhiều nguyên nhân, chính quyền còn xa dân, quan liêu, đặc quyền đặc lợi, cho mình đứng trên dân, do vậy Người đã thường xuyên căn dặn: cán bộ Đảng, đoàn thể và đặc biệt là cán bộ chính quyền phải xem bệnh quan liêu là một nguy cơ hiện thực vô cùng nguy hiểm. Người nhấn mạnh các chủ trương của Đảng muốn đi vào cuộc sống phải được cụ thể hóa bằng chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nếu Nhà nước xây dựng và ban hành được các chính sách, pháp luật đúng đắn, hợp lòng dân thì đó sẽ là một phương thức quan trọng của chính quyền để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đúc kết, nâng cao tư tưởng đại đoàn kết dân tộc thành một hệ thống lý luận, đưa hệ thống đó thành đường lối, chủ trương của Đảng lãnh đạo, chính sách pháp luật của Nhà nước mà Người còn tập hợp lực lượng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thông qua tổ chức Mặt trận với các hình thức khác nhau phù hợp với nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ. Dưới sự lãnh đạo của Người, ngày 18-11-1930 Mặt trận Dân tộc thống nhất (MTDTTN) Việt Nam được thành lập. Đánh giá về vai trò của MTDTTN Việt Nam, Người đã nêu rõ “Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm nên Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến, thắng lợi, lập lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc. Đoàn kết trong MTTQ Việt Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc… Một Mặt trận của nhân dân, đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi là một lực lượng tất thắng”. Và chính Người đã hết lòng chăm lo, xây dựng Mặt trận DTTN Việt Nam, vun đắp cho khối đại đoàn kết dân tộc. Người khẳng định “Chính sách Mặt trận là một chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng”. Đối với Đảng cộng sản Việt Nam, lực lượng giữ vai trò lãnh đạo của cách mạng Việt Nam, lãnh đạo xây dựng MTDTTN Việt Nam đồng thời cũng là thành viên của Mặt trận, Hồ Chí Minh cũng đã có luận điểm chỉ đạo hết sức sâu sắc: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo cuả mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”.

Kế thừa di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng xây dựng và hoàn thiện chủ trương, đường lối lãnh đạo nhằm củng cố và tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cho đến hôm nay, đại đoàn kết toàn dân tộc đã được khẳng định ở một tầng nhận thức mới, là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và sự phát triển bền vững của đất nước và dân tộc.

Đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đảng và Nhà nước ta cơ chế hóa bằng những chủ trương,  những định hướng chính sách phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục nâng cao vai trò của MTTQ Việt Nam. Di sản tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân tộc của Hồ Chí Minh đã và sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho nhân dân ta trong sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Đinh Đức Lập
daidoanket.vn

Tài liệu tham khảo
Hồ Chí Minh toàn tập – NXB Chính trị Quốc gia – 2000
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. – NXB QĐND – 2004
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn công tác Mặt trận  – NXB Chính trị Quốc gia 2009

Bác Hồ với đồng bào các dân tộc thiểu số

Đại đoàn kết

Xuất phát từ lịch sử và thực tiễn đất nước, Hồ Chí Minh khẳng định: dân tộc Việt Nam là một khối thống nhất của các dân tộc anh em, được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước; các dân tộc thiểu số là một bộ phận hợp thành của dân tộc Việt Nam; các dân tộc thiểu số cũng như dân tộc Kinh đều bị thực dân, đế quốc áp bức, bóc lột và đều có nguyện vọng đánh đuổi thực dân, đế quốc; xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc.

Theo Hồ Chí Minh, vấn đề dân tộc thiểu số có mối quan hệ tương tác, biện chứng với vấn đề giải phóng và phát triển của dân tộc Việt Nam. Một mặt, dân tộc Việt Nam được giải phóng là điều kiện tiên quyết để các dân tộc thiểu số được giải phóng; dân tộc Việt Nam được phát triển là định hướng và điều kiện cho sự phát triển các dân tộc thiểu số. Mặt khác, để giải phóng dân tộc Việt Nam không thể thiếu sự đóng góp của các dân tộc thiểu số; sự phát triển của các dân tộc thiểu số là một động lực cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán luận điểm nói trên trong quá trình hoạt động cách mạng của Người và phù hợp với nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong từng thời kỳ.

Trong những năm tháng hoạt động ở nước ngoài, ngoài việc thành lập và tham gia hoạt động trong các tổ chức cách mạng, Hồ Chí Minh (khi đó lấy tên là Nguyễn Ái Quốc) đã viết sách báo tập trung lên án chủ nghĩa thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam, trực tiếp chọn và huấn luyện nhiều cán bộ người dân tộc thiểu số trong các lớp học được mở tại Quảng Tây, Quảng Đông (Trung Quốc).

Ngay sau khi về nước, Hồ Chí Minh đã tiến hành các hoạt động vận động quần chúng. Người trực tiếp biên soạn tài liệu huấn luyện cán bộ, trong đó Người yêu cầu cán bộ phải: “Tìm hiểu phong tục, tập quán, học tiếng địa phương v.v…” Người giao cho một số cán bộ người dân tộc mở lớp huấn luyện quân sự  và tổ chức nhiều hội nghị để củng cố sự đoàn kết giữa các dân tộc…

Trong thời kỳ chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa, Người nhấn mạnh: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thẩy”. Trong “Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa”, Người kêu gọi: “Chỉ có đoàn kết, phấn đấu nước ta mới được độc lập”. Người đã chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, trong đó phần đông là người các dân tộc thiểu số.

Với thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dân tộc Việt Nam nói chung và các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã thành người chủ của nước Việt Nam độc lập. Quốc hội khóa I đã có sự tham gia của đại diện các dân tộc thiểu số. Với cương vị Chủ tịch nước Việt Nam độc lập, Hồ Chí Minh đã mời đại diện các dân tộc thiểu số tham gia Chính phủ hoặc giữ trọng trách ở các cơ quan Trung ương và địa phương. Ngày 19-4-1946, Người có thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu, trong đó Người khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, GiaRai hay ÊĐê, XêĐăng hay BaNa và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt…”

Từ sau ngày Toàn quốc kháng chiến, Người luôn luôn nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu lúc này là “phải kháng chiến cứu nước”, “đoàn kết hơn nữa để chống xâm lăng”. Người giao cho các ngành hữu quan mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, quân sự và cử con em các dân tộc thiểu số sang Trung Quốc, Liên Xô học tập.

Với chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh vì mục tiêu dân tộc, dân chủ và hòa bình. Trong thời kỳ mới, vấn đề dân tộc thiểu số ở nước ta đã được Hồ Chí Minh đặt ra và giải quyết trên một bình diện mới, có nội dung mới, phản ánh những nhu cầu cơ bản của các dân tộc thiểu số, từ chính trị đến kinh tế, từ văn hóa đến xã hội v.v… trong đó đoàn kết vì sự phát triển của các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ trung tâm. Trong các dịp đi thăm đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc, Tây Bắc, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An… Người nhấn mạnh: “Ngày nay chế độ ta là chế độ dân chủ, tất cả nhân dân các dân tộc đều có quyền làm chủ nước nhà” và kêu gọi: “Trước hết, tất cả các dân tộc, bất kỳ to hay là nhỏ, đều phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em một nhà”. Nói về nhiệm vụ trong thời kỳ mới, Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội là mọi người dân được áo ấm, cơm no, nhà ở tử tế, được học hành. Muốn vậy thì mọi người phải thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm”“phải phát triển kinh tế và văn hóa” và nhấn mạnh: Đồng bào dân tộc thiểu số cần có chữ viết của mình; cần đẩy mạnh việc xóa nạn mù chữ, học tập văn hóa, giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc… Người đã chỉ thị cho các cơ quan hữu quan thành lập nhiều trường dành riêng cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số. Người còn căn dặn việc trồng cây; giữ gìn vệ sinh làng bản, nhà ở, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự an ninh… Do đồng bào các dân tộc thiểu số sống phần lớn các tỉnh biên giới, Người nhắc nhở phải đoàn kết, giữ gìn tình hữu nghị với nhân dân các nước có chung biên giới. Người yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền: “Phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân… áp dụng chủ trương, chính sách phải sát hợp với tình hình mỗi nơi”.

Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, cứu nước Người đã chỉ thị cho các cơ quan tiếp tục lựa chọn và đưa nhiều con em đồng bào các dân tộc thiểu số sang các nước xã hội chủ nghĩa học tập, đào tạo và nhiều người trong số đó đã trở thành cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; nhiều nhà khoa học, nhiều nhà văn hóa có tên tuổi… Dù hoàn cảnh đất nước bị chia cắt song Người luôn luôn quan tâm đến đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền Nam.

Hồ Chí Minh gắn bó với đồng bào các dân tộc thiểu số không chỉ về nhận thức mà còn trong tình cảm của Người. Nơi Người đặt chân đầu tiên khi về nước là ở nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Người nói một số tiếng dân tộc thiểu số khi cần thiết. Sau khi nước nhà độc lập, với cương vị  Chủ tịch nước, Người đã có thư gửi đồng bào các tỉnh Việt Bắc, trong đó Người viết:“Tôi không bao giờ quên đồng bào Thổ, đồng bào Nùng, đồng bào Mèo… cho đến anh em Hoa kiều, người thì giúp chúng tôi ăn, kẻ thì cho chúng tôi áo…”. Tên gọi Bác Hồ đã trở  thành thân thiết với đồng bào các dân tộc trên đất nước Việt Nam.

Có thể nói, Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ mà còn là người bạn đồng hành của mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Sự đoàn kết của 54 dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam là một nhân tố cơ bản đảm bảo thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới của chúng ta.

PGS. TS PHẠM HỮU TIẾN
daidoanket.vn

Tấm lòng của Bác Hồ với đồng bào công giáo

Bác Hồ luôn quan tâm đến mọi người và thường xuyên vun đắp cho khối đại đòan kết tòan dân tộc. Đồng bào công giáo là một bộ phận trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đã được Bác Hồ dành cho những tình cảm, sự quan tâm sâu sắc và sự động viên kịp thời, cụ thể.

Bác Hồ nói chuyện với đồng bào Công giáo Thạch Bích

Ngay từ những ngày sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, trong hòan cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn, với bao công việc bộn bề phải giải quyết, nhưng mỗi dịp Nô-en, Bác đều dành thời gian viết thư gửi cho đồng bào công giáo cả nước.

Trong thư gửi các linh mục và đồng bào công giáo ngày Nô-en đầu tiên sau cách mạng thành công (1946) Bác Hồ viết: “Trong lịch sử Việt Nam lần này là lần đầu tiên đồng bào công giáo ta làm lễ Thiên chúa giáng sinh một cách hoàn toàn vui vẻ trong một nước Việt Nam độc lập.

Tôi chắc chắn rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của các vị giáo mục Việt Nam , đồng bào công giáo sẽ cùng tòan thể đồng bào trong nước cương quyết chiến đấu để giữ vững quyền tự do, độc lập cho Tổ quốc”.

Niềm tin đó của Bác Hồ đã được các giáo dân, các vị linh mục, giám mục trên khắp mọi niềm từ Bắc đến Nam đáp lại với những việc làm cụ thể, thiết thực bằng tấm lòng “kính chúa, yêu nước” của mình. Nhiều linh mục đã hăng hái tham gia đóng góp sức mình vào cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi năm 1954. Trong đó, có những người đã được Bác Hồ nêu gương, khen thưởng. Chẳng hạn như anh Vũ Hạnh, một thanh niên công giáo ở Hải Phòng đã mưu trí, dũng cảm lập được thành tích trong kháng chiến và sau đó được cử làm tỉnh đội Hải Kiến (Hải Phòng – Kiến An). Hay như Linh mục Lê Văn Yên ở tỉnh Bắc Ninh đã nêu cao tinh thần gương mẫu, chăm lo xây dựng khối đại đòan kết dân tộc đã được Bác viết thư khen ngợi. Trong thư có đoạn: “Tôi rất vui là được Ủy ban kháng chiến khu III báo cáo rằng ngòai sự làm tròn nhiệm vụ một ủy viên trong Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Bắc Ninh, ngài đã luôn luôn ra sức củng cố tinh thần đại đòan kết giữa đồng bào lương và giáo. Ngài luôn luôn tận tâm săn sóc anh em thương binh. Ngài lại không nhận lương phụ cấp. Như thế là ngài đã nêu cao cái gương cần, kiệm, liêm, chính cho mọi người…

Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ khen ngợi ngài. Tôi chắc rằng với những người đại biểu hy sinh kiên nhẫn như ngài thì trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất độc lập nhất định thành công”.

Sau kháng chiến thắng lợi, miền Bắc hòan toàn giải phóng, Bác Hồ và Trung ương Đảng, Chính phủ về làm việc ở Hà Nội. Mỗi lần có đòan đại biểu các đòan thể, tôn giáo, các địa phương về Hà Nội họp, Bác Hồ đều giành thời gian gặp gỡ, hỏi thăm tình hình mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần, tín ngưỡng của đồng bào các tôn giáo. Bác còn giành thời gian đến thăm hỏi các linh mục, giáo dân ở nhiều nơi như Ninh Bình , Nam Định, Thanh Hóa, Hà Tây…

Bác rất vui khi thấy đồng bào lương giáo đoàn kết cùng nhau lao động, sản xuất chăm lo xây dựng cuộc sống mới, thấy con em giáo dân được cắp sách đến trường, bà con giáo dân được chính quyền tạo điều kiện để cải thiện đời sống và bảo đảm tự do tín ngưỡng. Năm 1964, Bác Hồ trong thư gửi hội nghị đại biểu công giáo yêu nước đã viết: “Tôi rất vui lòng thấy đồng bào công giáo các giới hăng hái tham gia mọi công việc xây dựng Tổ quốc. Các cháu công giáo đi học ngày càng đông và tiến bộ. Con đường yêu nước mà đồng bào đang đi là hòan toàn đúng. Tôi mong các cụ phụ lão, các vị giám mục, các linh mục khuyến khích tín đồ trong mọi công việc ích nước lợi dân”.

Bác Hồ rất đau lòng khi được biết có những kẻ lợi dụng tự do tín ngưỡng của Nhà nước ta để chống phá cách mạng, chia rẽ khối đoàn kết lương giáo, làm ảnh hưởng đến lòng yêu nước, kính chúa của giáo dân nước ta. Bác rất căm giận khi được tin kẻ thù xâm phạm tự do tín ngưỡng của đồng bào công giáo, bắn phá nhà thờ ở các nơi như: Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh , Nam Định… và giết hại bà con giáo dân.

Trong một bức thư gửi đồng bào công giáo dịp Nô-en Bác Hồ viết: “Chúng ta ăn tết Nô-en trong sự đau thương vì giặc Pháp tấn công Phát Diệm đã xâm phạm đến đất thánh ta, vì đồng bào công giáo Phát Diệm, Bùi Chu và nhiều nơi khác đang đau khổ dưới gót sắt của giặc Pháp dã man.

Vậy trong tết Nô-en này, chúng ta phải nhớ đến đồng bào trong những nơi ấy. Chúng ta phải đòan kết hơn nữa, kiên quyết hơn nữa để giải phóng đất Thánh của chúng ta và giải phóng tất cả đất nước của chúng ta”.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam , được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta, đồng bào công giáo đã tích cực tham gia cùng đồng bào cả nước làm nên những thành tựu to lớn và những thắng lợi vẻ vang. Nhiều tấm gương của các cá nhân, tập thể địa phương, thuộc nhiều thành phần, lứa tuổi khác nhau trong đồng bào giáo dân đã xuất hiện và được giới thiệu tên các sách, báo. Bác Hồ luôn theo dõi sát sao những thành tích của mỗi người và Bác đã kịp thời biểu dương, khen thưởng tặng huy hiệu cho bà con. Chẳng hạn như cụ Nguyễn Hữu Tiến, 61 tuổi, giáo dân ở xã Ngọc Liễu, huyện Hiệp Hòa, Hà Bắc, hay như mẹ Hoạch – người công giáo ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, chị Thường, giáo dân ở Hợp tác xã Minh Khai, tỉnh Thanh Hóa, ông Vinh – giáo dân ở xã Quảng Phú, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Kể cả tấm gương của cụ Hộ ở vùng họ đạo sông Cấm (Nghệ An) thay chồng chở bộ đội qua sông giữa lúc máy bay Mỹ đánh phá; chị Vũ Thị Mến, 19 tuổi giáo dân ở Yên Văn, Ninh Bình cõng học sinh đến lớp học trong hòan cảnh chiến tranh ác liệt cũng đã được Bác Hồ quan tâm và gửi tặng huy hiệu của Người.

Những ngày tháng trước lúc “đi xa”, Bác Hồ vẫn dành thời gian đọc báo “Chính nghĩa” – một tờ báo của đồng bào công giáo để biết những việc làm và thành tích cũng như đời sống của giáo dân ở khắp mọi miền. Những bài viết về thành tích như chị Trần Thị Khoa ở Hưng Nhân (Thái Bình), gia đình cụ Vũ Thế Kỷ ở Hải Thịnh, Hà Nam, hay vợ chồng giáo dân Trần Văn Đức làm việc ở bệnh viện Phát Diệm (Ninh Bình)… đều đã được Bác Hồ đánh dấu đề nghị thưởng huy hiệu của Người.

Có thể nói tình cảm và sự quan tâm của Bác Hồ đối với những người có đạo nói chung, đồng bào công giáo nói riêng rất to lớn. Đó cũng là sự thể hiện cụ thể, nhất quán chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta từ trước đến nay./.

Quảng Thành Danh
danang.gov.vn

Bác Hồ và Phật giáo

 Xuất thân trong các cuộc vận động của Phật giáo (1963-1966), thời đi theo kháng chiến (1966-1975), tôi có nhiều dịp chuyển thư từ, hình ảnh của Hoà thượng Thích Đôn Hậu và bà con Phật tử tập kết ngoài miền Bắc vào cho các chùa và đồng bào theo Đạo Phật ở Huế.

Nhờ thế, sau ngày thống nhất đất nước (1975), nhiều lần tôi được các Sư bà Thích nữ Diệu Không, Sư bà Thích nữ Cát Tường, Sư cô Tịnh Giải (thế danh là Trương Thị Bích Vân) tiếp tại chùa Hồng Ân và chùa Kiều Đàm (Huế). Sư bà Cát Tường cho tôi chiếc xe Jeep của trường Mẫu giáo Kiều Đàm trước năm 1975.

Tôi không được dùng xe riêng nên đã chuyển cho anh Võ Đông – Trưởng phòng TTVH TP Huế sử dụng vào việc công. Chiếc xe ấy đã giúp nhiều việc cho phòng, mãi đến thời gian gần đây mới cho “giải nghiệp”.

aẢnh IE

Biết tôi là người rất lịch sử, thích chuyện cũ và thơ văn, Sư bà Thích nữ Diệu Không đã kể cho tôi nghe chuyện các gia đình Hồ Đắc – Cao Xuân của Sư bà quan hệ với gia đình Bác Hồ, chuyện Phật giáo cứu dân và đặc biệt chuyện Sư bà làm thơ Kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, thơ mừng Ngày thống nhất đất nước 30/4/1975.

1. Chuyện ông Tư Sinh

Sau ngày đất nước thống nhất, tôi quan tâm ngay việc nghiên cứu Huế để giải toả những thắc mắc về lịch sử Huế mà suốt thời gian theo kháng chiến, tôi không tự trả lời cho mình được.

Một trong những thắc mắc đó là thời gian gần mười năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và học hành ở Huế. Nhờ có ý thức sớm như vậy, tôi đã may mắn gặp được những người bạn học, những “người cùng thời” với Bác ở Huế.

Một trong những “người cùng thời” đó là Sư bà Thích nữ Diệu Không. Sư bà không những là người cùng thời mà còn từng làm dâu trong gia đình Cao Xuân Nghệ An – gia đình có mối quan hệ sâu sắc với gia đình thân sinh của Bác.

Sư bà Diệu Không nhũ danh Hồ Thị Hạnh, ái nữ của cụ Thượng Hồ Đắc Trung, lúc chưa xuất gia là vợ ông Cao Xuân Xang (con trai thứ của cụ Cao Xuân Dục). Sư bà tiếp tôi trong phòng khách của chùa Kiều Đàm (Huế).
[…]

Sư bà kể:

-“Năm lên 10 tuổi, tôi theo thầy tôi là cụ Hồ Đắc Trung vào ở trong Bộ Học. Lúc ấy tôi mới học chữ Hán nên hễ thấy đâu có chữ Hán là để mắt đọc, đọc không hiểu thì hỏi. Bỗng tôi thấy trên tường vừa quét vôi trắng có chừa một khoảng tường cũ ám khói.

Trong khoảng ấy có ghi một câu cách ngôn bằng chữ Hán nét chữ đã cũ nhưng rất đẹp. Tôi đọc lõm bõm được vài chữ những không hiểu hết ý nghĩa nên hỏi thầy tôi. Thầy tôi đáp:

-“Nghe nói trước đây, gian phòng này dành cho ông Tư Sinh ở. Ông hay đặt cách ngôn và viết lên vách để dạy con. Ông viết nhiều lắm nhưng thợ bên Bộ Công qua sửa nhà bôi hết. Còn câu ấy chữ đẹp và có ý nghĩa răn dạy con cái rất tốt nên thầy truyền cho thợ phải để lại.”

Bà kể tiếp:

– “Sau đó, thầy tôi không làm ở Bộ Học nữa. Tôi lớn lên, lấy chồng là ông Cao Xuân Xang – con trai cụ Cao Xuân Dục – bạn với thầy tôi (1). Nhớ chuyện cũ, có lần tôi hỏi nhà tôi:

– “Anh có biết ông Tư Sinh đã từng ở trong Bộ Học – nơi anh ở trước đây không?”

Ông nhà tôi đáp:

– “Biết rõ. Ông Tư Sinh là người cùng quê Nghệ An với mình, năm Ất mùi (1895) ông có nhận học điền của họ Cao Xuân (Diễn Châu) để vào Kinh thi Hội, đi một lần với anh Cả (2). Nhưng khoa đó ông không đậu. Cho mãi đến khoa Tân Sửu (1901), ông mới đỗ Phó bảng. Sau này, con ông là Nguyễn Sinh Côn, học sinh trường Đông Ba và trường Quốc Học cũng được họ Cao Xuân cấp học điền. Gia đình ông Phó bảng có nhiều ân nghĩa với gia đình mình”.

Tôi (Sư bà Diệu Không) có cái tính hay hỏi nên hôm đó đã hỏi ông nhà tôi: “Ai là người Nghệ có chí học hành thì được họ Cao Xuân cấp học điền, chứ có riêng chi cha con ông Tư Sinh mà anh nói nhiều ơn nghĩa?”. Ông nhà tôi không muốn kể nhưng biết tính tôi cứ đeo hỏi nếu chưa được trả lời đầy đủ.

Để khỏi bị “quấy rầy”, ông đã giải thích tiếp: “Năm ấy, ông mình (3) đang chuẩn bị thành lập Bộ Học cho Triều đình thì một hôm, ông Phó bảng từ Nghệ An vào thăm ông.

Ông hỏi Phó bảng: “Chú Bảng vào Kinh làm chi?”

Ông Phó bảng đáp: “Xin thú thật với cụ, từ ngày mẹ các cháu mất, tôi phải nuôi dạy các cháu một mình. Nuôi dạy và thương yêu các cháu cũng là một cách làm vừa lòng mẹ các cháu dưới suối vàng. Tôi không rõ các cháu nghe ai xúi giục, các cháu muốn học chữ Tây. Ngoài quê mình ngặt một điều không có ai dạy và cũng chẳng ai trọng nể việc học chữ Tây, nên tôi phải vào Kinh”.

Ông cười rồi vặn hỏi ông Bảng: “Thế chú có biết dưới mắt người Tây, những người đỗ đại khoa như chú mà không làm quan thì làm chi không?” – Ông Phó bảng ngẫm nghĩ mãi mà vẫn không tìm được câu trả lời.

Ông mới nói tiếp: “Không làm quan thì làm giặc đó. Đời nào người Tây để cho chú yên để dạy con ở giữa chốn Kinh kỳ này”.

Ông Bảng lo lắng: “Thế cụ bảo cháu phải làm gì?” Ông dạy: “Chú phải làm quan”. Ông Phó bảng phân trần: “Cái đời làm quan vào lòn ra cúi, cháu không muốn!”. Ông bảo: “Thế thì chú không ở đây được”. Ông Bảng van nài: “Thế thì cụ cho cháu một chức quan mà chẳng ai thèm làm để cháu được ở đây!”.

Thế là ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy được bổ làm Tư vụ Học chánh (tùng bát phẩm 7-2) và được đến ở ngay trong nhà của Bộ. Ông Bảng làm Tư vụ nhưng chẳng mấy khi ông chịu làm việc. Suốt ngày ông uống rượu, ngâm thơ và đặt cách ngôn viết lên vách dạy con cái thôi. Quan lại và nhân viên chung quanh ông rất khó chịu trước thái độ của ông. Sở dĩ không ai dám nói ra điều gì vì họ nể ông.

Về sau ông Phan Châu Trinh đi hoạt động cách mạng, bỏ trống chức Thừa biện ở Bộ Lễ lâu ngày, ông Bảng bị chuyển sang điền khuyết. Từ đó ông được Triều đình cấp cho một gian nhà ở dãy trại đường Đông Ba”.

Chuyện kể của Sư bà đã giúp tôi thông tin để viết về chuyện cụ Nguyễn Sinh Huy vào Huế làm quan. Thông tin này chưa từng được phát hiện nên tôi đã phải ghi chép xong rồi đem đọc lại cho Sư bà nghe. Sư bà sửa chữa nhiều lần rồi tôi mới dám đưa vào cuốn sách Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế (Nxb Văn Học tái bản năm 2003).

2. Phật giáo cứu dân

Và Sư bà cũng kể những hoạt động của Phật tử Sài Gòn trước và sau ngày 30/4/1975 để tôi viết báo.

Sư bà dạy tôi:“Kháng chiến lo cứu nước, mình là Phật giáo còn phải hoạt động cứu dân. Không những cứu bớt đổ máu, cứu những đổ nát mà còn phải cứu thoát ra khỏi sự sợ hãi để hưởng thống nhất hoà bình an lạc!

Tôi rất thấm thía lời dạy của Sư bà. Đây không phải là một lời nói, một khẩu hiệu suông mà cả một thực tế rất quý báu. Suốt những năm chiến tranh, sau các cuộc giao tranh diễn ra ở vùng nông thôn, nhiều xác cán bộ, bộ đội du kích cách mạng…không may nằm lại giữa ruộng đồng, dân chúng, và người thân của liệt sĩ ít người dám ra mặt nhận xác về chôn.

Gặp những tình huống như thế, các Khuôn hội Phật giáo chắp tay trước mọi hiểm nguy đứng ra đảm nhận việc chôn cất. Một số nơi còn dựng cả am miếu để thờ người chết trận. Sau chiến dịch Huế xuân 1968, nhiều người Huế bị chính quyền VNCH bắt giam vào lao Thừa Phủ vì bị tình nghi đã cộng tác với Mặt trận Giải phóng.

Đến ngày Rằm tháng bảy năm Mậu Thân (1968), Sư bà Diệu Không tổ chức ngày “Xá tội vong nhân”, đứng ra xin Chính quyền VNCH trả tự do cho hàng trăm tù chính trị chưa xác định được “tội danh” – một trong những người được trả tự do năm ấy là anh Hoàng Phủ Ngọc Phan.

Nếu không được Sư bà “cứu” thì địch đã phát hiện ra Hoàng Phủ Ngọc Phan  một người Cộng sản thứ thiệt ở Huế, và chắc chắn không làm gì còn có nhà báo viết chuyện cười Hoàng Thiếu Phủ sau này. Và, anh của Phan là Hoàng Phủ Ngọc Tường và tôi – ba anh em cùng thoát ly và cùng hoạt động ở chiến khu Huế – khó lòng được yên ổn để đi cho đến tận cùng cuộc kháng chiến cứu nước.

Thời gian cuối tháng 4/1975, Sư bà Diệu Không đang ở Sài Gòn. Ngày nào Phật tử cũng đem đến cho Sư bà những tin tức chiến sự nghe được qua các đài phát thanh Sài Gòn, Hà Nội, BBC, VOA…

Sau khi nghe tin vùng cao nguyên và các tỉnh dọc bờ biển miền Trung phần từ Huế vô đến Xuân Lộc đã được giải phóng, đêm 29/4, sân bay Tân Sơn Nhất lại bị pháo kích dữ dội, Sư bà nghĩ thế nào ngày mai Quân giải phóng cũng vào đến Sài Gòn.

Trưa ngày 30/4/1975, Sư bà cho tổ chức các xe phóng thanh chạy khắp thành phố kêu gọi binh lính Sài Gòn bỏ súng. Tại Đại học Vạn Hạnh gần cầu Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ), thanh niên sinh viên Phật tử đeo băng xanh đỏ thiết lập trạm tiếp nhận súng ống bên cạnh các xe tải cắm cờ Ngũ sắc của Phật giáo.

Những binh lính ở xa nhà, lỡ đường có thể vào tá túc trong các chùa Phật. Bà vận động các chùa nấu cơm tiếp tế cho dân chúng đang tham gia công tác trên các đường phố và binh lính Sài Gòn vừa giải giáp. Những việc này chưa hề được ghi lại trong trang sử Giải phóng Sài Gòn 30/4/1975.

Tôi hỏi cảm tưởng của Sư bà trước sự kiện 30/4/1975, Sư bà trả lời bằng một bài thơ ngắn nói về công ơn Hồ Chủ tịch :

Tặng Việt Nam Độc lập

Trăm tám năm rồi mới thấy đây,
Tên Người vang dội cả thời nay.
Non sông là vợ bao tình nghĩa,
Cha của con dân nước Việt nầy.

3. Thơ kỷ niệm Hồ Chủ tịch

Cuối những năm tám mươi của thế kỷ trước, tôi được Thành ủy Huế mời đóng góp bài cho cuốn sách Bác Hồ trong lòng dân Huế. Trong tay tôi đã có sẵn bài Ba lần được gặp Cụ Hồ của Hòa thượng Thích Đôn Hậu đã ghi được ngay sau ngày Việt Nam thống nhất, tôi xin bà Tâm Hải Đào Thị Xuân Yến (tức bà Nguyễn Đình Chi), đệ tử của Hòa thượng Thích Đôn Hậu bổ sung thêm bài Vinh dự lớn lao.

Bà Tâm Hải bảo tôi: “Sư bà Thích nữ Diệu Không” rất quý trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên xin gặp bà và đề nghị bà viết cho một bài”.

Tôi thực hiện ý kiến của bà Tâm Hải ngay. Nhưng lúc Sư bà Diệu Không lại đi Thành phố Hồ Chí Minh nên chuyện “xin bài” của Sư bà chưa thành. Sau này có dịp lên thăm Sư bà ở chùa Hồng Ân, tôi kể lại chuyện cũ, Sư bà rất tiếc.

Để chứng tỏ gợi ý của bà Tâm Hải là đúng, Sư bà Diệu Không đứng dậy mở tủ lục trong cặp tư liệu lấy đưa cho tôi bài thơ Kỷ niệm Hồ Chủ tịch 3 khổ, đánh máy trên nửa trang giấy Ronéo vàng rộm và một chùm thơ đánh máy trên giấy pơ-luya mỏng. Chùm thơ 16 bài vừa sáng tác vừa dịch, mang tựa đề Thăng Long ký sự. 

Kỷ niệm Hồ Chủ tịch

Giải phóng quê hương khỏi đọa đày
Chí Người như núi vững không lay.
Tình người như nước lan tràn cả,
Kỷ niệm người như một bậc Thầy.
Bậc Thầy cao cả của non sông
Cùng với Thuyền Sư đôi điểm đồng
Cách mạng tình người về nẻo chánh,
Phá vòng nô lệ thoát lao lung.
Lao lung vì chẳng rõ đường ra,
Dẹp hết ma tâm, sạch giống tà.
Cần kiệm thanh cao nuôi chí lớn,
Lòng thành trong sạch nước Nam ta.

Tác giả không ghi thời điểm sáng tác bài thơ này. Theo văn cảnh và ý tứ trong thơ, có lẽ Sư bà đã sáng tác bài Kỷ niệm Hồ Chủ tịch ngay trong những ngày vui đất nước được giải phóng và thống nhất vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1975.

Đối với chùm thơ Thăng Long ký sự, Sư bà ghi rõ thời gian sáng tác “Mùa thu Bính Thìn 1976”, trong dịp Sư bà đi thăm miền Bắc. Trong 16 bài trong Thăng Long ký sự có hai bài thơ dịch: Bài Cảm thời  của Nguyễn Trãi do cụ Cao Xuân Huy (Giáo sư Bác Cổ Hà Nội) sao lục và bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch do cán bộ Phật giáo Vũ Ngọc Hồng sao lục tặng Bà. Xin trích bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch

Sơn trung tiều phu xướng
Thủy thượng khách thuyền quy.
Như thi trung họa họa
Trung thi kỳ họa thi             

Thích nữ Diệu Không dịch,

Chú tiều trong núi hát
Khách Thuyền trên sông về.
Như thơ trong bức vẽ
Bức vẽ trong lời thi

(Mùa thu Bính Thìn 1976).

Trong chuyến đi thăm Thăng Long Hà Nội cuối năm 1976 ấy, bà đã đến viếng nhiều cảnh, nhiều người như Thăm chùa xưa, Thăm tháp Quảng Đức (chùa Hòa Giai Hà Nội), Thăm tháp Bổn Sư Hồ Chủ tịch, Thăm trường Quảng Bá, Đêm thu trên Hồ Tây, Đi thăm mộ.v.v. và đặc biệt, xin trích bài Sư bà đi:

Thăm lăng Hồ Chủ tịch
Dù người còn mất chẳng hề chi,
Thống nhất non sông mới lạ kỳ.
Bất diệt muôn đời đều nhớ rõ,
Những lời di chúc lúc ra đi.

Tâm và ý của Sư bà đối với Hồ Chủ tịch thể hiện đầy đủ trong thơ của Sư bà. Qua đó ta thấy tâm và ý của một Ni trưởng Phật giáo khác với tâm và ý của các nhà yêu nước khác, khác với các vị lãnh đạo cách mạng đối với Hồ Chủ tịch.

Sư bà là một trong những người biết gia đình Bác từ thuở ấu thơ. Sư bà không những viết về sự nghiệp cứu nước của Bác mà Sư bà cùng đồng hành hoạt động yêu nước, yêu dân với Bác. Tuy nhiên, Bác là người đứng đầu Cách mạng Việt Nam, Sư bà là một Ni trưởng của Phật giáo Việt Nam. Sư bà không phải là người của Bác.

Theo Sư bà, Bác Hồ có “đôi điểm đồng” với Phật giáo. Đôi điểm đồng đó là khát vọng “Giải phóng quê hương khỏi đọa đày”, là “Cách mạng tình người về nẻo chánh/ Phá vòng nô lệ thoát lao lung”. Cách mạng Việt Nam đã thỏa mãn được khát vọng của dân tộc. Bác Hồ trở thành “Bậc Thầy cao cả của non sông“. Dân tộc Việt Nam, trong đó đa số là Phật tử “muôn đời đều nhớ rõ” ơn Bác, ơn Cách mạng Việt Nam.

Gác Thọ Lộc (Huế), tháng 12/2007    

Chú thích:

1.Sư bà Diệu Không thế danh là Hồ Thị Hạnh,  sinh năm 1905 (có nơi ghi 1906) em gái út trong gia đình 9 anh chị em con của cụ Hồ Đắc Trung.

Năm 1930, cô Hạnh lập gia đình với Cử nhân Cao Xuân Xang, sinh được một người con trai (Cao Xuân Chuân), hương lửa chưa quá một năm thì phu quân của bà mất vì bệnh lao.

Từ đó, bà lao vào việc từ thiện xã hội, rồi gởi con cho chị nuôi, bà xuất gia đầu Phật với pháp hiệu Thích nữ Diệu Không. Sư bà đã thành lập nhiều chùa Sư nữ ở miền Nam VN, ba ngôi nổi tiếng nhất  Diệu Đức, Hồng Ân, Kiều Đàm ở Huế.

2.Tức Cao Xuân Tiếu (1865-1939)

3.Tức Cụ Cao Xuân Dục thân sinh của Cao Xuân Tiếu và Cao Xuân Xang.

Tâm Hằng N.Đ.X.
bee.net.vn

“Việt Nam – Lào đoàn kết chặt chẽ”

– “Việt Nam đoàn kết chặt chẽ. Lào đoàn kết chặt chẽ, Miên (Campuchia) đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết ở đây là đoàn kết trong tinh thần, đoàn kết trong hành động, đoàn kết trong đấu tranh, chứ không phải đoàn kết ngoài miệng”.

Khi nhờ chuyển tặng món quà cho Chủ tịch Souphanuvon một tấm lụa, một thanh kiếm và một bộ quần áo với ý nghĩa được Bác giải thích: “Tấm lụa tượng trưng cho sự mềm mỏng và đại đoàn kết. Đoàn kết chặt chẽ như những sợi tơ trong tấm lụa. Mềm mỏng là để đối với nhân dân. Thanh kiếm là tượng trưng cho sự sắc sảo và kiên quyết. Còn bộ quần áo để tặng cho cán bộ Lào thi đua giỏi nhất”.

Đó là quan điểm về tình đoàn kết liên minh chiến đấu Việt Lào trong kháng chiến chống thực dân Pháp được Bác phát biểu ngày 14/9/1945 tại Hội nghị Cán bộ liên minh Việt Lào.

dNăm 1954, tại Việt bắc, Bác tiếp Hoàng thân Chủ tịch Souphanuvon, Chủ tịch Neo Lào Hắec xạt

14 năm sau, đến thăm Hội nghị Thuỷ lợi toàn miền Bắc họp tại tỉnh Bắc Ninh, Bác phân tích: “Làm thuỷ lợi phải là phong trào của toàn dân, xã này với xã khác, huyện này với huyện khác, tỉnh này với tỉnh khác, đều có liên quan với nhau, phải cùng làm, phải thảo luận với nhau, phải đoàn kết  giúp đỡ lẫn nhau, không nên chỉ nhìn thấy lợi ích của nơi mình mà để thiệt nơi khác”.

Đánh Pháp đã khó, đánh Mỹ còn khó hơn. Đảng và Chính phủ giao cho các chú vào trong đó cùng với đồng bào miền Nam đánh Mỹ cho kỳ được thắng lợi. Gặp đồng bào thì nói“Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến đồng bào miền Nam”. Lời dặn dò của Bác với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và Thiếu tướng Lê Trọng Tấn trong bữa cơm chia tay các vị tướng lên đường vào mặt trận miền Nam vào trung tuần tháng 9/1964.

X&N
bee.net.vn

“Đoàn kết không phải ngoài miệng”

– Có 2 sự kiện đáng nhớ diễn ra trong ngày này, ngày 31/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm và kiểm tra cảng Hải quân Bãi Cháy và lên tàu T554. Bác đi thăm trận địa pháo của Đại đội 34 trên đảo Hòn Rồng trong vịnh Hạ Long.

Nói chuyện với các chiến sĩ, Bác động viên phải cố gắng khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, an tâm với nhiệm vụ, tích cực học tập quân sự, chính trị, văn hoá, tăng gia sản xuất để cải thiện sinh hoạt, đời sống, sẵn sàng chiến đấu.

 31-3-1959, Bác Hồ nói chuyện với đồng bào ngoài đảo Cát Bà, Cát Hải, Hải Phóng.jpg (89KB)Ngày 31/3/1959, Bác Hồ nói chuyện với đồng bào ngoài đảo Cát Bà, Cát Hải, Hải Phòng

Cũng trong chuyến đi này, Bác giao trách nhiệm cho lãnh đạo Tổng cục Hậu cần phải nghiên cứu, bảo đảm cung cấp sách báo và nước ngọt cho các chiến sĩ… Đây chính là địa bàn mà 6 năm sau đó, không lực của Mỹ đã ném bom ngay trong ngày đầu tiên khi phát động chiến tranh phá hoại ra miền Bắc và cũng là nơi lập chiến công đầu bắn rơi và bắt sống phi công Mỹ (5/8/1964).

Cũng trong chuyến đi này, Bác đến thăm các đảo Cát Hải và Cát Bà, thăm hỏi một số cư dân trên đảo, thăm Trường huấn luyện Hải quân và buổi tối nói chuyện với cán bộ các ngành quân, dân, chính, đảng thành phố Hải Phòng.

Bác nhấn mạnh đến những bất cập của một thành phố cảng quan trọng nhất miền Bắc nhưng chưa phát triển đúng với yêu cầu mà mấu chốt là công tác quản lý. Do vậy “phải chống tư tưởng bảo thủ, chống chủ quan tếu, đồng thời chống bi quan…

Nội bộ Đảng phải đoàn kết nhất trí. Đoàn kết không phải ngoài miệng mà đoàn kết trong công tác, trong tự phê bình và phê bình giúp nhau tiến bộ… Kết quả công tác của địa phương là thước đo sự lãnh đạo của Đảng”.

Ngày 31/3/1960, Bác Hồ gửi thư tới Hội nghị Thể dục Thể thao trong đó viết: “Muốn lao động sản xuất tốt, công tác và học tập tốt thì cần có sức khoẻ. Muốn giữ sức khoẻ thì nên thường xuyên tập thể dục, thể thao. Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào thể dục thể thao cho rộng khắp.

Câu nói “Yêu xe như con, quý xăng như máu” đã từng trở thành phương châm hành động của các chiến sĩ lái xe trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ mà đến nay vẫn chưa phải đã cũ. Bác đã nói câu đó vào tháng 3/1951, khi đến thăm đoàn xe đầu tiên của quân đội được thành lập trên cơ sở những chiến lợi phẩm trong Chiến dịch Biên giới và biên chế thành những đơn vị cơ giới vận tải .

Nói chuyện với các bộ và chiến sĩ đơn vị, Bác căn dặn: “Các chú đã thu được một số xe của địch, thế là tốt, vì các chú lấy xe của địch diệt địch, “Gậy ông lại đập lưng ông”. Đấy là cái vốn, các chú phải giữ gìn lấy. Vốn này sẽ phát triển nhiều thêm… Các chú phải giữ gìn xe, tiết kiệm xăng để phục vụ bộ đội. Xe xăng là mồ hôi, nước mắt, xương máu của nhân dân. Các chú phải chăm sóc xe, phải yêu xe như con, quý xăng như máu…”.

X&N
bee.net.vn

Đoàn kết: Chúng ta là sức mạnh!

Khi Bác Hồ nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”, chúng ta đều hiểu rằng: Đoàn kết là cái gốc của thành công.

Cũng nói về vấn đề này, từ xa xưa dân gian có câu: “thuận vợ thuận chồng, biển Đông tát cạn – Thuận bè thuận bạn, tát cạn biển Đông”. Vậy là câu ca dao cổ này đã dậy cho ta thêm một tác dụng nữa: Đoàn kết là động lực của thành công!

Nhưng, Đoàn kết chỉ thực sự là cái gốc, là động lực của thành công, khi đó là thứ Đoàn kết thực lòng; Đoàn kết mang tính chiến lược, chứ không mang tính chiến thuật (tiếc thay, người ta lại hay lạm dụng cái chiến thuật này trong ứng xử với đồng bào, đồng chí!).

Trong thực tế lịch sử Dân tộc ta, “Đoàn kết” không chỉ là cái gốc, là động lực; mà Đoàn kết còn là mục tiêu của cuộc sống nữa: thương yêu, đùm bọc trong tình đồng loại, trong “tình làng nghĩa xóm”,… vốn là truyền thống nhiều đời của Con Người Việt Nam. Đó chính là tầm cao hơn của Đoàn kết; là tính xã hội rộng nhất, tính nhân văn sâu sắc nhất, tính không vụ lợi rõ rệt nhất và cũng là tình Người cao cả nhất!

Và mục tiêu Đoàn kết chỉ và chỉ thực hiện được trong môi trường Dân chủ, Bình đẳng; đương nhiên là Dân chủ thật sự, Bình đẳng thật sự. Dân chủ, Bình đẳng là điều kiện tiên quyết để có Đoàn kết. Không có Dân chủ thì không thể có Bình đẳng; không có Dân chủ, Bình đẳng thì không thể có Đoàn kết. Đó là chân lý vĩnh cửu! Không ai khác, chính Bác Hồ đã từng nhấn mạnh trong “Di Chúc”: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng”.

Tư tưởng Dân chủ của Đảng và Bác Hồ trước hết cần được thể hiện trong tất cả các hoạt động của Quốc Hội – cơ quan quyền lực cao nhất của Nhân Dân. Tiếc rằng cho đến nay, điều đó chưa thực hiện được là bao! Chúng ta hãy nghe tâm sự của giáo sư Nguyễn Lân Dũng, vị đại biểu quốc hội nổi tiếng “dám nói”, khi phóng viên báo Dân trí phỏng vấn ông (ngày 8 tháng 1 năm 2008):

PV: Ông có thể cho những ví dụ cụ thể về sự chưa dân chủ trong hoạt động Quốc hội ?

Đại biểu Nguyễn Lân Dũng: Không ít đâu. Ví như việc bầu các chức danh chẳng hạn. Khi không có số dư thì không có sự lựa chọn nào khác mà không có sự lựa chọn khác thì sao gọi là dân chủ được? Tôi biết rằng khi có người được đề cử xin rút khỏi danh sách đề cử thì nhẽ ra phải được Quốc hội thảo luận có đồng ý cho rút hay không? Rồi việc dự thảo các văn bản luật lại giao cho các Bộ, Ngành chủ trì thì làm sao tránh khỏi sự chủ quan và phiến diện? Cũng cần nói thêm là cho đến giờ, chưa có một luật nào được soạn thảo từ ý kiến của Đại biểu Quốc hội, chưa có đại biểu nào phát hiện được một vụ tiêu cực cụ thể nào và cũng chưa lần nào Quốc hội thực hiện được việc bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với những chức danh do Quốc hội phê chuẩn. Điều này rõ ràng là luật chưa đi vào cuộc sống và cũng không thể nói những hiện tượng nêu trên đã là thực sự dân chủ.

Nhưng, công bằng mà nói, chính ngay một số vị đại biểu Quốc hội, nhiều khi cũng không thực thi quyền dân chủ của mình trong vai trò đại diện cho Dân, nói lên tiếng nói dân chủ của Cử tri. Tại phiên họp Thường vụ Quốc hội (khoá XI) ngày 3 tháng 5 năm 2006, Chủ tịch Nguyễn Văn An đã phải nói: “… chúng ta chưa làm cho các đại biểu QH có dũng khí, sự mạnh dạn để dám nói…” (Báo Thanh Niên số 124 ngày 4/5/2006). Làm sao mà người “đại diện cho quyền lực của Dân” lại yếu đuối đến thế? Khi Cử tri tín nhiệm bầu một người vào Quốc hội, thì nhất định người đó phải có đủ trình độ kiến thức và sự dũng cảm cần thiết, để nói được tiếng nói của Dân, thực thi quyền lực của Dân trong việc giám sát các hoạt động của Chính phủ. Không làm được như thế thì tham gia Quốc hội để làm gì? Đại biểu Quốc hội là phải biết “giơ tay” biểu quyết, tức là biết thể hiện chính-kiến-của-cử-tri. Nhưng trước khi “giơ tay”, cần phải biết thảo luận, tranh luận để tìm ra chân lý của vấn đề. Nếu không, sẽ chỉ là một dạng khác của… “nghị gật”!

Mặt khác, công việc điều khiển các cuộc thảo luận, tranh luận ở Quốc hội, phải mang tính định hướng tư duy, chứ không áp đặt tư duy. Càng không thể là thầy giáo hướng dẫn học trò thảo luận bài học! Đấy chính là Dân chủ trong hoạt động Quốc hội!

Đến đây, cũng cần nhắc lại một chút Lịch sử: ở nước ta, người đề cập và hô hào sớm nhất vấn đề Dân quyền, chính là cụ Phan Tây Hồ. Theo cụ, “Dân chủ vừa là phương pháp để tự cường, vừa là cứu cánh, là mục đích tự nó nữa”. Cái lý để cụ Phan coi trọng Dân chủ là: “Quốc tương hưng tắc thỉnh chư Dân!”. Điều đó chứng minh cuộc đấu tranh cho Dân chủ ở nước ta đã được các bậc Cách mạng tiền bối chú trọng từ rất sớm. “Dân chủ” chính là mục tiêu đầu tiên, trước hết của cuộc đấu tranh giải phóng Dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc.

Không phải ngẫu nhiên khi cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, Bác Hồ lại đặt tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… Trong đó, yếu tố Dân chủ được đặt lên trước tiên!

Một chế độ Dân chủ trong một nền Cộng hòa, là sự đảm bảo chắc chắn cho một Nhà nước Độc lập và một cuộc sống Tự do Hạnh phúc cho Nhân dân, ít nhất cũng là điều đúng đắn ở thời điểm ấy.

Dân chủ để Đoàn kết, Đoàn kết trong Dân chủ – đó là kỳ vọng hàng đầu mang tính thời đại; là sức mạnh vô địch của tư tưởng Hồ Chí Minh!

Trần Huy Thuận

LTS Dân trí – Nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân thì bao giờ cũng chủ trương “thực hành dân chủ rộng rãi” đúng như tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy được thể hiện rõ từ những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, như tác giả bài viết trên đây đã phân tích và khẳng định..

Xã hội càng tiến lên thì nội hàm dân chủ càng phong phú và đa dạng hơn; cách thức thực hiện rộng rãi dân chủ cũng phải đổi mới kịp với xu thế phát triển. Chỉ có như vậy mới bảo đảm được sự đoàn kết rộng rãi và thật lòng của mọi người trong xã hội để cùng phấn đấu cho mục tiêu chung là “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Đối chiếu với tình hình thực tế, còn nhiều điều bất cập trong việc “thực hành dân chủ rộng rãi”; một mặt vì quyền dân chủ của người dân trong các lĩnh vực hoạt động chưa được thể chế hóa một cách đúng đắn và đầy đủ; mặt khác, nhiều nơi nhiều lúc cách thức tổ chức “thực hành dân chủ rộng rãi” còn nặng về “hình thức” mà chưa đi vào thực chất.

dantri.com.vn.vn

Tư tưởng độc lập tự do với chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh

Việt Nam là một quốc gia dân tộc có một nền văn hóa đặc sắc đ­ược hình thành và phát triển trên một nghìn năm lịch sử. Dân Việt Nam có tinh thần cố kết, đùm bọc lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ thành một khối thống nhất ngày càng bền vững, có ý chí độc lập và khát vọng tự do, có ý thức về chủ quyền, thống nhất đất nư­ớc.

Độc lập tự do là quyền vô cùng thiêng liêng của dân tộc Việt Nam. Chủ nghĩa dân tộc, ý chí độc lập, tự do là dòng chủ l­ưu xuyên suốt của lịch sử, là nền tảng tinh thần của sự trư­ờng tồn và phát triển, là động lực vô địch của Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là sức mạnh để chiến đấu đánh bại quân xâm l­ược ngoại bang.  Nghiên cứu tiến trình lịch sử Việt Nam, Hồ Chí Minh đã viết: nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do hơn là nhờ quân đông sức mạnh, n­ước Nam đã thắng” quân phong kiến Trung Quốc đến xâm l­ược nước ta. Từ lịch sử Việt Nam và thế giới, Ng­ười đã nêu một luận điểm về quyền thiêng liêng nhất của các n­ước trên thế giới rằng: “Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc…Hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết tranh đấu cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực l­ượng gì chiến thắng đư­ợc họ”.

Từ giữa thế kỷ XIX, nư­ớc ta bị thực dân Pháp xâm lược và thống trị. Việt Nam từ một n­ước độc lập đã biến thành một n­ước thuộc địa. Mâu thuẫn giai cấp của xã hội Việt Nam có sự chuyển biến lớn. Sự xung đột về quyền lợi giai cấp trong nội bộ dân tộc vốn không diễn ra giống như­ các n­ước phương Tây. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp trở thành mâu thuẫn chủ yếu và diễn ra ngày càng gay gắt. Dựa trên động lực của chủ nghĩa dân tộc truyền thống, nhân dân Việt Nam đã liên tiếp nổi dậy đấu tranh, song vì thiếu một định hư­ớng chiến l­ược cách mạng khoa học phù hợp với yêu cầu phát triển mới của dân tộc nên ch­a thể thành công. Trong bối cảnh lịch sử đó, ng­ười thanh niên yêu nư­ớc và cấp tiến Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đã dấn thân trên các nẻo đường của thế giới để khảo sát, học hỏi, suy ngẫm về con đư­ờng cứu n­ước, giải phóng dân tộc phù hợp với điều kiện đất nư­ớc lịch sử và con ng­ời Việt Nam.

Bằng thiên tài trí tuệ, với phẩm chất, nhân cách và bằng hoạt động thực tiễn của mình, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, kế thừa và nâng lên tầm cao mới của thời đại nguồn giá trị văn hóa tư­ tư­ởng truyền thống, trong đó chủ nghĩa dân tộc chân chính, sự cố kết dân tộc, ý chí độc lập tự do là dòng chủ lư­u xuyên suốt lịch sử Việt Nam để kết hợp, tiếp biến và tổng hòa, phát triển biện chứng tinh hoa văn hóa ph­ơng Đông và tư­ tư­ởng các cuộc cách mạng ở châu âu, ở Mỹ thế kỷ XVII, XVIII, đặc biệt là học thuyết cách mạng của C.Mác, V.I.Lênin, để đề ra một hệ tư­ tư­ởng cách mạng toàn diện sáng tạo mang tầm vóc một học thuyết cách mạng khoa học về giải phóng và phát triển dân tộc vì độc lập, tự do.

Cùng với việc xây dựng lý luận cách mạng, Hồ Chí Minh đã tổ chức đào tạo những chiến sĩ tiên phong cách mạng, truyền bá lý luận giải phóng dân tộc vào Việt Nam và tổ chức nhân dân.

Học thuyết cách mạng giải phóng và phát triển dân tộc của Hồ Chí Minh đ­ược truyền vào Việt Nam đã đáp ứng khát vọng thiêng liêng và nóng bỏng của nhân dân Việt Nam, trư­ớc hết là tầng lớp học sinh, sinh viên, trí thức yêu nư­ớc và cấp tiến. Họ đã dấn thân đi vào quần chúng để tuyên truyền, vận động, tổ chức họ đấu tranh, làm dấy lên trong cả n­ước một phong trào dân tộc dân chủ ngày càng mạnh mẽ. Điều đó phản ánh khá rõ sự tr­ưởng thành về chính trị, ý thức giác ngộ của phong trào quần chúng. Nhu cầu lập “Đảng cách mệnh” đã chín muồi, đ­a đến sự ra đời của các Đảng Cộng sản ở Việt Nam vào mùa Thu năm 1929.

Thực hiện trọng trách lịch sử của mình đối với dân tộc và là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền trực tiếp quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông D­ương, Hồ Chí Minh đã triệu tập đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng và Đông D­ương Cộng sản Đảng họp từ ngày 6-1-1930 tại Cửu Long, Hồng Kông để hợp nhất thành một đảng thống nhất.

Không chỉ bằng uy tín của một ng­ười mở đ­ường xây dựng học thuyết cách mạng và với tư­ cách phái viên của Quốc tế Cộng sản, mà còn bằng thái độ chân thành và sức thuyết phục lớn, Hồ Chí Minh đã chỉ cho đại diện của hai đảng rõ về những sai lầm của họ và những việc họ phải thực hiện đã đ­a đến sự đồng thuận, thống nhất cả hai đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã nhất trí thông qua Chính cư­ơng vắn tắt, Sách lư­ợc vắn tắt – đó là C­ương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng và các văn kiện quan trọng khác. Hồ Chí Minh cũng đã quyết định phải tổ chức một Ban Chấp hành Trung ­ương lâm thời.

Do chư­a có thông tin về sự ra đời của Đông D­ương Cộng sản Liên đoàn nên Hồ Chí Minh không mời đại diện của Đảng này đến dự hội nghị hợp nhất. Vì vậy, theo yêu cầu của Đông D­ương Cộng sản Liên đoàn, ngày 24-2-1930 Đảng này đã đư­ợc hợp nhất vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự hợp nhất cả ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã hoàn tất.

Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp học thuyết cách mạng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu n­ước Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX. Đây là một đặc trư­ng của sự hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời thông qua thử thách sàng lọc, chọn lựa lịch sử, là sự hiện thực hóa trong cuộc đấu tranh của dân tộc theo “con đư­ờng cách mệnh” của Hồ Chí Minh.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã tạo ra một b­ước ngoặt trên con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Cư­ơng lĩnh cách mạng của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo đư­ợc Hội nghị hợp nhất Đảng nhất trí thông qua đã đề ra chủ trương chiến lư­ợc t­ư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản; phải huy động sức mạnh của các giai cấp, tầng lớp xã hội gồm công nhân, nông dân, liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, trung tiểu địa chủ và t­ư sản bản xứ nhằm thực hiện nhiệm vụ đánh đuổi chủ nghĩa đế quốc Pháp và phong kiến làm cho nư­ớc Việt Nam đ­ược độc lập, tự do.

Cư­ơng lĩnh đầu tiên của Đảng đã kết hợp biện chứng yếu tố dân tộc và giai cấp trong đó nổi bật lên như­ một điểm son sáng chói là yếu tố dân tộc, tư­ tưởng độc lập, tự do. Đó là yếu tố chủ yếu quyết định tính độc đáo về t­ư tư­ởng và chủ trư­ơng chiến lư­ợc của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam chứ không phải là điều “sai lầm chánh trị rất lớn và rất nguy hiểm cho cách mạng”!(3) . Giương cao ngọn cờ độc lập tự do là cơ sở t­ư tư­ởng chính trị, động lực lớn để thực hiện chiến lư­ợc đại đoàn kết dân tộc, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất một trong những nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Ngay tại Hội nghị thống nhất Đảng, Hồ Chí Minh đã quyết định, sau khi thành lập Ban Chấp hành Trung ư­ơng lâm thời, ngoài công tác hàng ngày, phải tổ chức ngay Hội phản đế– tức là mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc.

Ban Chấp hành Trung ương ch­ưa kịp thành lập Hội phản đế để tập hợp và tổ chức quần chúng đấu tranh, song với ngọn cờ độc lập tự do của Hồ Chí Minh, ngay từ năm 1930 phong trào cách mạng có tính quần chúng rộng rãi đã nổ ra ở nhiều địa phư­ơng, tiêu biểu là các địa ph­ương có phong trào lên đến đỉnh cao nh­ư ở Nghệ An, Hà Tĩnh. Ở hai tỉnh này đã phát huy được sức mạnh đoàn kết dân tộc, không chỉ có công nông, mà còn có các tầng lớp trí thức, một số sĩ phu, phú nông, trung tiểu địa chủ và một số quan lại nhỏ ở nông thôn cũng tham gia hoặc ủng hộ phong trào. Ngay cả khi phong trào cách mạng bị thực dân Pháp và tay sai khủng bố, đàn áp dã man, các tầng lớp từ trí thức, trung tiểu địa chủ có xu hướng cách mạng cũng vẫn kính phục Đảng Cộng sản, phong trào công nông và âm thầm ủng hộ cách mạng (4).

Tư­ tư­ởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh ngày càng thấm đ­ợm trong đường lối, chủ tr­ương, chính sách và tổ chức của Đảng – nhất là từ sau khi Ngư­ời về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

Từ thực tiễn phong trào cách mạng những năm 1930- 1935 và sau sự chuyển hư­ớng chính trị của Đại hội lần thứ bảy của Quốc tế Cộng sản, Ban Chấp hành Trung ­ương Đảng đã có nhận thức ngày càng đúng hơn quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và giai cấp, giữa vấn đề chống đế quốc và chống phong kiến, trong đó vấn đề dân tộc là vấn đề chủ yếu xuyên suốt lịch sử của Việt Nam. Văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới của Đảng công bố tháng 10-1936 đã nêu rõ: “Đông D­ương là xứ thuộc địa…, nhiệm vụ của Đảng Cộng sản ở đó không những phải thâu phục đa số thợ thuyền, mà còn cần phải thâu phục quảng lại quần chúng nông dân và tiểu tư­ sản ở thành thi. Đồng thời trong lúc lập mặt trận rộng rãi chúng ta lại phải thâu phục hết các lớp trong nhân dân” (5). Đảng Cộng sản Đông D­ương, những chiến sĩ cộng sản của Đảng chính là con cháu của các dân tộc ở Đông Dương phải bênh vực anh em đồng bào bị áp bức, chiến đấu với khẩu hiệu tất cả vì Tổ quốc, Đảng phải là “Đảng của dân chúng bị áp bức, đội tiên phong cho cuộc dân tộc giải phóng” (6).

Từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Pháp – Nhật cấu kết với nhau, nhân dân các dân tộc Đông D­ương sống trong nỗi nhục một cổ hai tròng áp bức, càng làm cho mâu thuẫn giữa các dân tộc ở Đông Dư­ơng với Pháp – Nhật trở nên sâu sắc và gay gắt hơn bao giờ hết. Lúc này, Nhân dân Việt Nam “… ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng muốn độc lập, tự do, và đang trong t­ư thế một ng­ười lên tiếng vạn ng­ời ủng hộ” (7).

Giữa lúc đó, tháng 5- 1941 , Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp do Hồ Chí Minh chủ trì đã quyết định thay đổi chiến lư­ợc cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện nhiệm vụ cần kíp là đánh đuổi Pháp và Nhật, giành lại quyền độc lập, tự do. Để làm tròn nhiệm vụ thiên liêng đó đối với đất nước phải thực hiện đại đoàn kết dân tộc trong một mặt trận có tính chất dân tộc rộng rãi hơn với tên gọi là Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Sau khi đánh đuổi đư­ợc Pháp – Nhật sẽ thành lập một nhá nư­ớc dân chủ mới theo thể chế dân chủ cộng hòa, là một nhà nư­ớc chung của toàn dân tộc chứ không phải của riêng một đảng phái, của một giai cấp nào cả. Chính phủ nư­ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm cờ của toàn quốc. Chính phủ ấy do Quốc dân đại hội cử ra.

Ngày 2 5- 1 0- 194 1 , Việt Nam độc lập đồng minh – Việt Minh tuyên bố ra đời. “Việt Minh chủ trư­ơng liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau m­ưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn” (8).

Bản Ch­ương trình cứu n­ước của Việt Minh gồm 44 chính sách lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và những chính sách cụ thể đối với các tầng lớp nhân dân cốt để thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào trong cả nư­ớc mong ước là:

1 – Làm cho n­ước Việt Nam đ­ược hoàn toàn độc lập;

2 – Làm cho dân Việt Nam được sung sư­ớng, tự do.

Sự thay đổi chiến lư­ợc cách mạng t­ư sản dân quyền thành chiến lư­ợc cách mạng giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do là một chủ trư­ơng đúng đắn, sáng tạo của Hồ Chí Minh. Đó là cơ sở chính trì để thành lập Việt Minh, một mặt trận đại đoàn kết dân tộc tiêu biểu, hoàn chỉnh về chính trị và tổ chức, trên đ­ờng hình thành và phát triển Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam. Hồ Chí Minh là Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Mặt trận, là hiện thân của khối đại đoàn kết dân tộc.

Sự ra đời và hoạt động của Việt Minh đã động viên và tập hợp đ­ược sức mạnh của dân tộc trong toàn quốc đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, xóa bỏ bộ máy của Nhật bằng cuộc khởi nghĩa dân tộc tháng 8- 1945, thành lập Chính phủ lâm thời nư­ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Đây là một điển hình thành công về chiến lư­ợc, ph­ương thức và nghệ thuật khởi nghĩa dân tộc, đ­ưa t­ư t­ưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh thành hiện thực của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Ở Việt Nam.

Vào giữa tháng 8-1945, thời cơ khởi nghĩa đã chín muồi. Cơ hội ngàn năm có một của dân tộc đã đến. Theo quyết định của Đảng và Tổng bộ Việt Minh, và Quốc dân đại hội mang tính chất và tầm vóc lịch sử một tổ chức tiền thân của Quốc hội nư­ớc Việt Nam dân chủ mới – Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhất trí quyết tâm đem sức mạnh của toàn dân tộc để chuyển xoay vận n­ước bằng cuộc khởi nghĩa dân tộc, xóa bỏ bộ máy thống trị của Nhật, thành lập chính quyền cách mạng của toàn dân Việt Nam.

Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là sự vùng dậy mãnh liệt với một tinh thần dũng cảm của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam trong cả nư­ớc. Lực l­ượng quần chúng đư­ợc tổ chức từ trư­ớc hoặc mới đ­ược tham gia vào tổ chức Cứu quốc ngay trong đêm tr­ớc cuộc khởi nghĩa và cả đông đảo quần chúng chư­a tham gia vào tổ chức Việt Minh, theo mệnh lệnh của trái tim yêu nước, lòng khát khao độc lập tự do đã xuống đư­ờng đồng hành với khối quần chúng đấu tranh giành chính quyền. Ngay cả Bảo Đại cũng đã ra tuyên cáo thoái vị, để Chính phủ Dân chủ Cộng hòa thực hiện quyền điều khiển quốc dân Việt Nam và từ nay đ­ược làm dân tự do của một n­ước độc lập. Việc Bảo Đại thoái vị và 8 ngày sau lễ tuyên bố độc lập, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 23/SL (10-9- 1945 ) cử làm Cố vấn Chính phủ lâm thời là một sự kiện có ý nghĩa về cả tinh thần và tính “hợp pháp hóa” truyền thống đã đư­ợc thừa nhận trên thế giới.

Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời nư­ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – đại biểu cho toàn dân Việt Nam, long trọng công bố Bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào và thế giới rằng: “N­ước Việt Nam có quyền h­ưởng tự do và độc lập, và thực sự đã thành một n­ước tự do độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” (9)

Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam phát triển đến đỉnh cao thắng lợi bằng cuộc khởi nghĩa dân tộc tháng 8-1945. Chính phủ n­ước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Chính phủ đại diện cho toàn dân Việt Nam chứ không phải của riêng thuộc về một đảng phái hoặc một giai cấp nào khác. Nghị quyết của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hanh Trung ­ương Đảng do Hồ Chí Minh đã chỉ rõ như­ vậy để chỉ đạo cho toàn dân đấu tranh giải phóng dân tộc.

Khởi nghĩa dân tộc hay chiến tranh giải phóng dân tộc là phư­ơng thức đấu tranh cơ bản của nhân dân các n­ước thuộc địa để giành lại quyền độc lập của dân tộc. V.I.Lênin đã từng đề cập đến những lò lửa khởi nghĩa dân tộc xuất hiện gắn liền với cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đế quốc, đã bùng cháy ở các thuộc địa, ở cả châu Âu và “đã có những mư­u đồ khởi nghĩa ở An-nam thuộc Pháp” (10). Cũng theo V.I.Lênin, khởi nghĩa dân tộc là: “một cuộc khởi nghĩa nhằm thiết lập quyền độc lập chinh trị của dân tộc bị áp bức, nghĩa là nhằm tạo ra một quốc gia dân tộc riêng biệt” (11). Và cần thấy rằng: “cuộc khởi nghĩa dân tộc cũnglà “bảo vệ Tổ quốc!”. Như­ng ai chịu khó suy nghĩ một chút thì cũng đều nhận thấy đúng nh­ư thế, vì bất cứ “một dân tộc nào nổi dậy” cũng tự “bảo vệ” chống lại dân tộc đi áp bức, bảo vệ ngôn ngữ của mình, đất đai của mình, Tổ quốc của mình. Bất cứ một sự áp bức dân tộc nào cũng gây ra sự phản kháng trong quảng đại quần chúng, và xu h­ướng của bất cứ một sự phản kháng nào của dân c­ư bị áp bức về mặt dân tộc cũng là khởi nghĩa dân tộc” (12) .

Cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là một điển hình thành công về nghệ thuật khởi nghĩa dân tộc, phản ánh rõ tiềm năng sáng tạo của Đảng, của dân tộc mà trư­ớc hết là của Hồ Chí Minh, Ng­ười đã vạch ra một hệ t­ư tưởng cách mạng Việt Nam mang tầm vóc một học thuyết giải phóng và phát triển dân tộc vì độc lập tự do. Trên cơ sở học thuyết đó, Ngư­ời đã lãnh đạo Đảng vạch ra đ­ường lối chính trị, tổ chức lực l­ượng của dân tộc theo chiến l­ược đại đoàn kết dân tộc, thực hiện ph­ương thức khởi nghĩa sáng tạo, đã dẫn đến thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng, đánh đuổi đ­ược Pháp – Nhật, giành lại quyền làm chủ đất n­ước, và nguồn giá trị văn hóa hơn ngàn năm lịch sử.

Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một điển hình thành công về sự thức tỉnh ý thức dân tộc vì độc lập, tự do, về sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Ngày 6-10- 1945 , khi nói chuyện với đại biểu các báo chí về nội trị, ngoại giao nhà n­ước, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Có một điều chúng ta đáng mừng là cách mạng Việt Nam đã có một ưu điểm so với cách mạng các n­ước Nga, Tàu, Pháp. Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu nhiều. Có nư­ớc phải chặt đầu vua. Có nước đồng bào chia đảng phái, chém giết nhau liên tiếp trong bao nhiêu năm. Nư­ớc ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để m­ưu hạnh phúc chung là n­ước được hoàn toàn độc lập và chống được giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra ngoài bờ cõi” (13). Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên n­ước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đư­a Đảng ta từ một đảng hoạt động bí mật bất hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền trong cả nư­ớc là một minh chứng về giá trị sáng tạo của học thuyết giải phóng và phát triển vì độc lập tự do và chiến l­ược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh.

Gi­ương cao ngọn cờ độc lập tự do, phát huy mạnh mẽ động lực dân tộc, thực hiện chiến l­ược: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”, lấy khối liên minh công nông và trí thức làm cơ sở, đoàn kết chân thành với mọi lực l­ượng yêu nư­ớc và tiến bộ của dân tộc trong cuộc Cách mạng Tháng Tám đư­ợc Hồ Chí Minh và Đảng tiếp tục phát triển trong điều kiện mới đã đ­ưa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (l945 – 1954) và kháng chiến chồng Mỹ ( 1954- 1975), hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất n­ước.

PGS Lê Mậu Hãn (*)

(*) Bài tham luận tại Hội thảo “Đảng Cộng sản Việt Nam- 80 năm xây dựng và phát triển” do Học viện Chính trị- Hành chính quốc ra tổ chức ngày 26/1/2010, nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930- 3/2/2010).

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2002, t1, tr 80
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2002, t5, tr 7
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia. H. 1998, t2, tr 236
(4) Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia. H. 1998, t2, tr229
(5), (6) Đảng Cộng sản Việt Nam: văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia. H. 2005, t5, tr155, 150
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2002, t3, tr 174
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam: văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia. H. 2000, t7, tr 461
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2002, t4, tr 4
(10), (11), (12) V.I.Lênin: toàn tập, Nxb,. Tiến bộ, M. 1981, t30, tr67, 150, 147
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2002, t4, tr 43-44

tuyengiao.vn

Tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo

Những nǎm gần đây tín ngưỡng tôn giáo đang phục hồi và phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia, châu lục, trong đó có Việt Nam. Rõ ràng tôn giáo không mất đi như nhiều người dự đoán, mà ngược lại có chiều hướng phát triển. Tình hình diễn biến theo nhiều khuynh hướng, góc độ khác nhau, đang đặt ra những vấn đề cần được lý giải trên cơ sở khoa học. Vì vậy, việc làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình hiện nay là việc làm cần thiết, nhằm nâng cao nhận thức, quan điểm, thái độ cách nhìn nhận cho quần chúng và tìm cách giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo một cách đúng đắn. Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau đang tồn tại. Lịch sử hình thành, du nhập, số lượng tín đồ, vai trò xã hội cũng như tác động chính trị của các tôn giáo ở nước ta cũng khác nhau. Có tôn giáo đã góp phần nâng cao ý thức dân tộc. Nhưng cũng có tôn giáo quá trình du nhập, hình thành và tồn tại đã bị các thế lực chính trị lợi dụng vì mục đích ngoài tôn giáo. Chính vì vậy, ngay từ đầu Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, trên cơ sở đó Người đã đưa ra phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo phù hợp với từng giai đoạn cách mạng.

  • Quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi các giá trị nhân bản của các tôn giáo là những di sản vǎn hoá tinh thần quý báu của nhân loại, bằng tri thức cách mạng, vốn hiểu biết về vǎn hoá sâu sắc và cái nhìn duy vật biện chứng, Người đã phát hiện và tiếp nhận cái thiện, cái mỹ, cái cốt lõi nhân vǎn trong các tôn giáo. Người đã viết:

“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân .

Tôn giáo Giê su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả.

Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng.

Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta.

Khổng Tử, Giê su, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, cho xã hội. Nếu nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy “.

Vì vậy, không ngạc nhiên khi Hồ Chí Minh – Người cộng sản, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam không dưới một lần ca ngợi những người sáng lập ra các tôn giáo một cách thành kính: Chúa Giê su dạy đạo đức và bác ái. Phật thích ca dạy đạo đức và từ bi. Khổng Tử dạy đạo đức và nhân nghĩa.

Người đã nhấn mạnh điểm chung giữa lý tưởng của chủ nghĩa Mác với tôn giáo và các học thuyết có tính tiến bộ, đó là mưu cầu hạnh phúc cho loài người. Đây là một đặc điểm lớn được Hồ Chí Minh khai thác một cách triệt để và tài tình trong giải quyết các vấn đề có liên quan đến tôn giáo.

Tình cảm trân trọng và sự ngưỡng mộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với giá trị nhân vǎn của tôn giáo, khác với đức tin của các tín đồ của các tôn giáo ấy, nó xuất phát từ chủ nghĩa nhân đạo có sẵn trong con người Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người vô thần đầy tư tưởng bao dung, không giáo điều, cục bộ, hẹp hòi; Người đã khéo léo vận dụng chủ nghĩa duy vật của Mác để “gạn đục khơi trong”, kế thừa những giá trị vǎn hoá mang tính nhân vǎn cao đẹp của các tôn giáo. Điều đó làm cho các tôn giáo không hoàn toàn đối lập với chế độ xã hội chủ nghĩa, trái lại một số vǎn hoá, đạo đức tôn giáo có thể hoà nhập cùng dân tộc trên con đường xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và vǎn minh; xây dựng một nền vǎn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đấy chính là sự vận dụng những quan điểm mác-xít hết sức xuất sắc và phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh thực tế nước ta.

Có thể nói, ở Hồ Chí Minh tư tưởng và hành động của Người là sự dung hợp những giá trị tư tưởng nhân vǎn cao cả trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cộng sản vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Trong sự dung hoà đó các giá trị nhân bản của tôn giáo được Hồ Chí Minh kế thừa, nâng cao trên cơ sở bổ sung những nội dung mới phù hợp với từng giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, phù hợp với thời đại.

Bản chất của tôn giáo là khẳng định, nhấn mạnh vai trò của siêu nhiên như một giá trị xã hội cao nhất và đề ra một hệ thống chuẩn mực bình đẳng cho sự củng cố, giữ vững niềm tin ở sức mạnh của các thế lực siêu nhiên. Dù tôn giáo có lý tưởng cứu khổ, giải phóng con người nhưng tôn giáo đã phủ định sức mạnh ở chính con người. Với tôn giáo, con người chỉ là “con cừu bé nhỏ”, là “chúng sinh đau khổ”, cần được “chǎn dắt”, “cứu vớt”, “giải thoát”. Với Hồ Chí Minh, xuất phát từ sự tôn trọng, tin tưởng vào sức mạnh to lớn của bản thân con người, Người cho rằng sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc phải dựa vào chính tiềm nǎng, sức mạnh to lớn của con người, của dân tộc.

2. Tự do tín ngưỡng và đại đoàn kết toàn dân là những nguyên tắc cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh khi giải quyết vấn đề tôn giáo. Điều này được thể hiện rất rõ:

a) Tư tưởng tự do tín ngưỡng, tôn giáo: trong các vǎn bản quan trọng cũng như sắc lệnh mà Người trực tiếp tuyên bố và soạn thảo, Hồ Chí Minh luôn khẳng định tư tưởng nhất quán, lâu dài trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân. Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra những quan điểm của mình mà còn giáo dục cán bộ, Đảng viên cũng như đồng bào lương giáo phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng đó. Sự tôn trọng ấy không chỉ thể hiện trên vǎn bản, lời nói mà cả trên hành động thực tiễn của Người. Ngay từ khi mới giành được độc lập, tại phiên họp đầu tiên của chính phủ Người đã khẳng định: “Thực dân phong kiến tìm cách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương để dễ thống trị. Tôi đề nghị chính phủ ra tuyên bố “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”. Trong buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam (nǎm 1957), Người khẳng định lại: “Chúng tôi xin nói thêm hai điều, nói rõ để tránh sự hiểu lầm: Một là vấn đề tôn giáo thì Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người…”. Khẳng định quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, Người luôn phê phán nghiêm khắc những thái độ, hành vi xâm phạm, hoặc làm phương hại đến quyền tự do chính đáng đó.

Sự tôn trọng đức tin của đồng bào có đạo và lòng thương yêu bà con có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau ở Hồ Chí Minh làm cho những người không cùng quan điểm với Người cũng phải kín phục. Chính ông J. Sainteny đã viết trong cuốn sách “Đối diện với Hồ Chí Minh”: “Về phần tôi phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ nơi các chương trình của cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào dù rất nhỏ của sự công kích, đa nghi hoặc chế diễu đối với bất kỳ một tôn giáo nào”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tranh thủ sự ủng hộ của các chức sắc tôn giáo đối với cách mạng, thông qua họ để động viên tín đồ gắn bó với dân tộc, tham gia bảo vệ và xây dựng đất nước. Ngay cả với những người có tư tưởng bán nước (như giám mục Lê Hữu Từ), khi còn tranh thủ được, Người vẫn tranh thủ đến cùng trên tình huynh đệ con người, nhằm hạn chế thấp nhất những ảnh hưởng xấu và tổn thất do họ gây ra. Ngày 23/1/1947, trong thư gửi giám mục Lê Hữu Từ, Người đã viết: “Tôi tin rằng Đức cha đã lấy tư cách công dân, cố vấn tối cao của chính phủ và là bạn thân của tôi mà giải thích cho nhân dân hiểu rõ chính sách của chúng ta là khuyên giải bà con can đảm tham gia cuộc toàn quốc kháng chiến”.

Có thể nói, cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với tôn giáo thể hiện trong đó tính khoa học và nghệ thuật, nhưng đồng thời còn chứa đựng tính nhân bản, nhân vǎn đối với con người, đối với quần chúng có đạo. Có lẽ vì thế mà Người đã được đông đảo quần chúng tín đồ coi như mộ tấm gương mẫu mực phấn đấu cho đạo và cho đời của dân tộc Việt Nam.

Đối với bọn lợi dụng, mượn danh tôn giáo để chống phá cách mạng, chống phá sự nghiệp của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tìm mọi cách để đồng bào ta, nhất là đồng bào có đạo nhận rõ bộ mặt của chúng. Sắc lệnh 234/SL ngày 14/6/1955 do Người ký đã chỉ rõ: “Pháp luật sẽ trừng trị kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hoà bình, thống nhất độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngǎn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác hoặc những việc làm trái pháp luật ” (Điều 7 – Chương 1).

b) Tư tưởng đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc: vấn đề xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh; đồng thời tư tưởng đoàn kết lương giáo là một bộ phận có vị trí quan trọng trong tư tưởng của Người về chiến lược đại đoàn kết dân tộc. Có thể nói quan điểm đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, bao trùm trong tư tưởng của Người đối với vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng XHCN ở Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Người nói riêng đã được hình thành, phát triển trên cơ sở kế thừa phát huy những giá trị vǎn hoá truyền thống của dân tộc qua hàng ngàn nǎm lịch sử dựng nước và giữ nước, cũng như tiếp thu những tinh hoa vǎn hoá của nhân loại (trước hết là những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin), đồng thời vận dụng nó một cách sáng tạo vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử nước ta. Vì vậy, tư tưởng đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc của Hồ Chí Minh đã đạt đến đỉnh cao truyền thống đoàn kết của nhân dân ta.

Nội dung đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc của Hồ Chí Minh đã được chứng minh qua thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã viết: “Đồng bào đều biết rằng: ngày bắt đầu kháng chiến, lực lượng quân sự của Pháp mạnh hơn ta, thế mà ta càng ngày càng thắng lợi. Đó là nhờ sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân và sự hǎng hái tham gia kháng chiến của mọi người giáo cũng như lương”.

Trong thời kỳ miền Bắc đã được giải phóng và đi lên CNXH, Hồ Chí Minh lại viết: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống ấm no, xây dựng tổ quốc, chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của tất cả các tôn giáo”.

Thông qua thực tiễn cách mạng Việt Nam ở từng giai đoạn cụ thể, Hồ Chí Minh đã tìm ra những động lực chủ yếu, trực tiếp cho chiến lược đoàn kết lương giáo; Người đã làm thất bại âm mưu và hành động nhằm chia rẽ khối đoàn kết lương giáo; xoá bỏ những thành kiến, mặc cảm giữa dân tộc và đồng bào theo đạo.

Trên cơ sở lập trường duy vật triệt để, Hồ Chí Minh đã có một tầm nhìn khá bao quát và rộng rãi. Điều đó đã đưa Người vượt qua thành kiến hẹp hòi đối với tôn giáo, thực hiện thắng lợi chiến lược đoàn kết toàn dân, góp phần đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng. Có thể nói tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo mặc dù ra đời đã lâu, trong một hoàn cảnh khá đặc biệt của đất nước, nhưng mãi cho đến nay tư tưởng của Người vẫn còn giá trị, là di sản tư tưởng vô cùng quý giá giúp Đản và Nhà nước ta có cơ sở lý luận hoạch định chính sách tôn giáo trong bối cảnh tín ngưỡng tôn giáo đang diễn biến không ít phức tạp như hiện nay. Do đó, tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh và tuyên truyền giáo dục cho mọi người cùng hiểu, đặc biệt là quần chúng có đạo là việc làm cần thiết nhằm đoàn kết tốt các tôn giáo, vận động toàn dân thực hiện tốt những nhiệm vụ kinh tế – xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước về tôn giáo, đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta.

Các từ khóa theo tin:Võ Thị Bích Thuỷ
Trường Chính trị Lâm Đồng (Tạp chí Khoa học chính trị, số 5/2001)

cpv.org.vn