Thư viện

Theo dấu chân Bác Hồ ở Ai Cập

Những người Việt Nam xa nhà đang tràn đầy xúc động nhớ về quê hương, đất nước với hàng loạt sự kiện như Ngày giải phóng Miền nam, ngày Sinh nhật của Bác và 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911).

>> Những chặng dừng chân lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua ảnh

Nhớ lại cách đây hơn một năm khi vừa bước chân đến Ai cập, nghe kể về việc Bác Hồ từng đặt chân lên đất nước Bắc Phi nhiều huyền thoại này không phải hai lần mà đến ba lần và ước nguyện đi theo dấu chân Bác đã bùng lên trong chúng tôi.

Theo hải trình, Bác Hồ đã rời Cảng Nhà Rồng ngày 5/6/1911 trên con tàu La Touche Treville, đến Singapore ngày 8/6/1911, đến cảng Columbo, Sri Lanka ngày 14/6/1911 và đã đến cảng Port Said, Ai Cập ngày 30/6/1911 ở phía bắc kênh đào Sue. Và thế là không hẹn mà gặp, hàng năm vào dịp kỷ niệm sinh nhật Người, Đại sứ quán ta lại tổ chức thăm Port Said, Kim Tự tháp Sakara…những nơi Bác đã từng đi qua và ghé thăm tại Ai Cập.

Năm nay, kỷ niệm 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước, đoàn chúng tôi gồm các lưu học sinh, đoàn viên thanh niên và các cán bộ nhân viên Đại sứ quán, Thông tấn xã Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam đang công tác tại Ai cập.

Bức ảnh Bác Hồ đến thăm kim tự tháp Sakar năm 1946.

Bầu trời sa mạc đầu mùa hè thường trong xanh, vì sa mạc không bao giờ có mây. Sau hơn nửa ngày đường rong ruổi, vừa tìm đường vừa đi, có lúc tất cả chúng tôi ngồi nghỉ bên đường và hình dung xem 99 năm về trước Bác Hồ kính yêu với hai bàn tay trắng đã sang tận Ai Cập như thế nào và thấy trong lòng chứa chan một tình cảm kính mến sâu lắng lạ kỳ. Con đường dường như đã ngắn lại để chúng tôi chóng được nhìn thấy những nơi Bác đã từng đi qua. Xuất phát từ sáng sớm và khoảng hai giờ chiều chúng tôi đã đến được thành phố Port Said.Thành phố Port Said là nơi có cảng biển lớn cho tàu bè các nước đi qua Kênh đào Sue đến các đại dương  được thành lập năm 1859. Ngày nay, ngoài cảng cho tàu lớn các nước, ở đây còn có cảng Cá và cảng Du lịch. Từ bên này nhìn sang bên kia bờ Kênh đào Sue là những khách sạn, nhà ở, nơi ăn nghỉ cuả các thuỷ thủ khi dừng chân tại đây trước khi đi qua Kênh.

Thành phố được trang điểm một cách sáng sủa với sắc màu tươi mới, với những đường phố sạch sẽ, quang đãng, trang trí đẹp mắt với những sắc màu hiện đại. Thành phố có rất ít dân (so với Thủ đô Cairo 20 triệu dân và thành phố Alexandria bên cạnh có 6 triệu dân …). Nơi đây có khoảng 540.000 người. Người dân ở đây rất hiền hoà và mến khách. Họ chuyên sản xuất, kinh doanh xăng dầu, gạo, bông, đánh bắt thủy sản, làm du lịch, chế biến thực phẩm, thuốc lá, hóa chất, bảo dưỡng tàu thuỷ… Đây cũng là thành phố nghỉ mát vào muà hè.

Nếu bạn đến đây và nói bạn là người Việt Nam, thì người dân điạ phương sẽ mời bạn dùng thử một loại cá mòi Điạ Trung Hải rất thơm ngon và tâm sự với bạn về tình cảm sâu lắng của họ đối với Việt Nam. Phải chăng những trái tim của hai dân tộc từng sống dưới ách thực dân đã từ lâu cùng nhịp đập, nhất là từ ngày 30/6/1911 khi Bác từ Cảng Nhà Rồng qua đây.

Đoàn Việt Nam trên cảng Port Said.

Thật vậy, đứng trên cảng, cạnh người bạn Ai Cập, chúng ta có cảm giác như Bác đang ở đâu đó trên bến cảng xanh biếc và nhộn nhịp này, giúp chúng tôi và những người Ai Cập gần gũi nhau hơn. Tất cả chúng tôi đều bồi hồi xúc động nghĩ về Bác, nhìn ra xa nơi những con tàu đang neo đậu và tưởng nhớ đến Bác, lòng bâng khuâng không nói nên lời. Như có duyên, Bác Hồ đã đi qua Port Said (Ai Cập), đến hai lần trong lịch sử. Lần thứ hai Bác qua đây là năm 1946, khi nhận lời mời thăm chính thức nước Pháp. Bác rời Việt Nam bằng máy bay và ghé thăm các nước: Myanmar, Ấn Độ, Ai Cập và  Angeria, trước khi đến Pháp. Trong chuyến đi này Bác đã có ba ngày ở thăm Ai Cập.Cairo, thành phố nổi tiếng trên bờ Sông Nin, một trong hai con sông dài nhất thế giới. Thành phố được người dân Ai cập gọi là En Ca-hê-ra có nghĩa là Người Chiến thắng, với hai nhánh sông Nin chảy qua, tạo nên không khí mát dịu của mùa hè châu Phi và cảnh lãnh mạn của dòng sông hiền hoà, trong xanh, thoáng đãng. Không một ngôi nhà nào được xây dựng ven sông Nin để giữ lấy môi trường nước sạch – mãi mãi là nguồn gốc của sự sống của con người trên Trái đất. Ngay giữa thủ đô hơn 20 triệu dân này vào ban ngày ta có thể ngồi ngắm những đàn sâm cầm bơi lội, những đàn cò trắng…bay lượn, càng thấy đẹp lạ thường.

Nhưng chúng tôi đều chắc rằng những ngày ấy, đi công tác qua đây, Bác đã không có chút thời gian nào để ngắm cảnh dòng sông, vì biết rằng Bác đã dành thời gian gặp ngỡ người dân Ai Cập, thăm Thành phố cổ, thăm Kim Tự Tháp, Viện Khảo cổ Ai Cập, Thư viện, Thành cổ, Thành phố ma,… và chuẩn bị cho những ngày hội đàm đấu tranh căng thẳng sắp diễn ra ở Paris sau đó, trong cương vị Chủ tịch Nước Việt Nam vừa tuyên bố độc lập.

Đứng trên cầu Tháng Mười, nhìn xuống dòng sông Nin trong xanh, hiền hoà, chúng tôi xúc động nghĩ đến Bác, vị Lãnh tụ thiên tài, người đã lao động không mệt mỏi vì một nước Việt Nam mới, độc lập, thống nhất và thịnh vượng, có quan hệ đối tác tin cậy và chặt chẽ với các cường quốc và các nước bạn bè khắp năm Châu. Phải chăng cũng vì vậy mà ngay từ năm 1958, Bác đã cho đặt cơ quan đại diện Kinh tế của Việt Nam tại Ai Cập.

Nghĩ đến Bác, chúng tôi càng thầy rõ hơn trách nhiệm của mỗi người phải ra sức học tập, lao động tốt để đóng góp phần nhỏ bé của mình xây dựng một nước Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, có quan hệ thực sự hữu nghị với bạn bè quốc tế.

Sau những chuyến đi này, chúng tôi chẳng những không thấy mệt vì đường sá xa xôi mà thấy mình như khoẻ ra hơn nhiều như được tiếp sức sống mới… Chúng tôi tự nguyện với lòng mình luôn cố gắng học tập, rèn luyện và phấn đấu theo tấm gương Bác.

Đại sứ Phạm Sỹ Tam (Đại sứ quán Việt Nam tại Ai Cập)

baodatviet.vn

Những chặng dừng chân lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua ảnh

(ĐVO) Cách đây đúng 100 năm, vào ngày 5/6/1911, từ Bến Nhà Rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp trên chiếc tàu buôn mang tên Đô đốc Latouche-Tréville với mong muốn học hỏi tinh hoa và tiến bộ từ các nước phươnèg Tây.

>> Tiết lộ ‘chiêu ngụy trang’ làm ‘bẽ mặt’ tình báo Pháp của Bác Hồ
>> Theo dấu chân Người 100 năm trước (kỳ 1)
>> Theo dấu chân Người 100 năm trước (kỳ 2)

Ngày 5/6/1911 đã đánh dấu sự mở màn của một hành trình lịch sử: hành trình tìm đường giải phóng dân tộc của Người. Sau ngày lịch sử ấy, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc  bắt đầu những năm tháng bôn ba tại nhiều quốc gia như Anh, Pháp, Mỹ, làm nhiều công việc khác nhau như cào tuyết, đốt lò rồi phụ bếp cho khách sạn…

Giai đoạn đầu tiên của hành trình tìm đường giải phóng dân tộc kéo dài cho đến năm 1923, khi Người đến Liên Xô và mở đầu một chặng đường cách mạng mới tại tại ĐH Phương Đông của Quốc tế Cộng sản.

Dưới đây là hình ảnh những chặng dừng chân lịch sử của Người trong những năm tháng đầu tiên trên con đường cứu nước (tư liệu ghi lại lại tại Bảo tàng Hồ Chí Minh):

Quang cảnh bến cảng Nhà Rồng ở Sài Gòn đầu thế kỷ 20, nơi người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước ngày 5/6/1911.

Tàu Đô đốc Latouche Trèville, nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp trong những thàng ngày đầu tiên của cuộc hành trình tìm đường cứu nước.

Thị trấn Sainte Adresse ở nước Pháp, nơi Nguyễn Tất Thành lao động trong khoảng thời gian từ cuối năm 1911, đầu năm 1912.

Khách sạn Parker ở thành phố Boston, nước Mỹ, nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp trong những năm 1912 – 1913.

Một góc thành phố New York, nước Mỹ đầu thế kỷ 20, nơi Nguyễn Tất Thành đã sinh sống một thời gian vào khoảng cuối năm 1912 đến đầu năm 1913.

Khách sạn Carlton ở thủ đô London,nước Anh, nơi Nguyễn Tất Thành làm việc trong thời gian sống ở nước Anh năm 1914.

Nhà số 6 phố Villa Des Gobelins, quận 13, Paris, Pháp, trụ sở của Hội những người Việt Nam yêu nước, nơi Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động từ tháng 7/1919 đến thàng 7/1921.

Ngôi nhà số 9 ngõ Compoint, Paris, nơi Nguyễn Ái Quốc đã sống từ năm 1921 – 1923.

Quốc Lê

baodatviet.vn

Nuôi chí ở xứ sở sương mù

Theo dấu chân Người 100 năm trước (kỳ 2)

Ở London (Anh) không quản khó nhọc, từ cào tuyết cho đến rửa bát, phụ bếp, Người đều sẵn sàng, chỉ để có cơ hội hiểu về bản chất chủ nghĩa tư bản, từ đó tìm đường cứu nước cứu dân.

>> Theo dấu chân Người 100 năm trước (Kỳ 1)

Giới nghiên cứu lịch sử cả trong nước và quốc tế có lẽ đồng quan điểm rằng: Bác ở London là từ 1913 – 1917. Nơi được nhắc đến nhiều nhất trong thời gian này là khách sạn Carlton mà giờ đây tọa lạc Tòa nhà New Zealand. Chúng tôi đã bắt đầu hành trình tìm lại dấu chân Người từ tòa nhà 19 tầng này vào một buổi sáng tháng 5 đẹp trời…

Tư tưởng lớn trong căn phòng nhỏ

Tòa nhà – nơi làm việc của phái đoàn ngoại giao New Zealand, nằm trên phố Haysmarket tấp nập, gần với quảng trường Tralfagar, cung điện của Nữ hoàng Anh, được xây năm 1959 trên nền của khách sạn Carlton. Nơi đây hiện có tấm biển màu xanh do Hội Hữu nghị Anh – Việt và các bạn bè Anh yêu quý Việt Nam đặt những năm 1990 ghi “Hồ Chí Minh (1890 – 1969) – Người khai sinh ra nước Việt Nam mới, đã làm việc tại Khách sạn Carlton năm 1913”.

Tòa nhà New Zealand (ảnh to) và tấm biển lưu niệm về Bác Hồ.

Ông Len Aldis, Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh – Việt kể rằng việc đặt tấm biển trên tường của tòa nhà này không phải dễ dàng. Dự án đặt tấm biển này cũng kéo dài 2 – 3 năm và cũng phải nhờ tới các chính trị gia có tiếng mới có thể thành hiện thực. “Khi mới tới Carlton, Bác Hồ chỉ được giao việc dọn dẹp và rửa bát đĩa. Câu chuyện về việc Bác Hồ cất những món ăn thừa để chuyển cho người nghèo, người ăn xin ngoài đường bắt nguồn chính từ đây. Cảm kích trước hành động nhân ái này, vị đầu bếp huyền thoại người Pháp Escosffier của khách sạn đã chuyển Bác Hồ lên khu vực làm bánh và “truyền nghề” cho ông. Nhưng điều đó cũng không thể giữ ông ở lại xứ sương mù, bởi chất chứa trong ông là hoài bão giải phóng dân tộc…”, ông Len Aldis nói.

Tầng hầm của ngôi nhà gần như vẫn giữ nguyên từ thuở nó còn là khách sạn Carlton. Qua hai lượt cầu thang, chúng tôi xuống khu phòng được cho là nơi nghỉ của các nhân viên khách sạn. Khu phòng này có độ cao chỉ trên 2m với lối đi khá hẹp, chỉ đủ cho 2 người với các các phòng nhỏ, diện tích khoảng 10m2/phòng. Hầu hết các phòng này giờ đã chuyển thành nhà kho chứa đồ cũ.

Đại sứ New Zealand nói rằng theo những gì ông được biết thì đây là các phòng ngủ của nhân viên khách sạn ngày xưa, và “Bác Hồ của các bạn có thể đã nghỉ tại một trong những căn phòng này”. Thấy nhiều người Việt đến đặt hoa tại tấm biển, ông thực sự không ngờ rằng “căn phòng bé nhỏ này lại từng là nơi ở của một người có tư tưởng lớn” như Hồ Chí Minh.

Đại sứ New Zealand Dereck Leask (phải) hướng dẫn Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân thăm nơi ở của Bác Hồ tại khách sạn Carlton.

Chỉ lòng dũng cảm thôi không đủ…

Theo ông Callow, do có mối liên hệ với phong trào công nhân Anh và công nhân VN, nên Bác Hồ đã bị cảnh sát Anh chú ý. Căn nhà tại số 8 phố Stephen thường xuyên bị cảnh sát theo dõi. Tuy nhiên, khi cảnh sát Anh đột nhập theo đề nghị của cảnh sát Pháp, thì Người đã trốn khỏi đó. Tháng 12.1917, Người sang Pháp.

Tiến sĩ John Callow, Giám đốc Thư viện Marx ở London, người nghiên cứu nhiều về Bác, cho biết: ở Carlton, Bác làm việc từ 5 giờ đến trưa và từ 17h đến 22h. Nhờ đó, Bác có thời gian tìm hiểu về London và học tiếng Anh. “Bác Hồ tới đây làm việc không phải chỉ đơn giản là để kiếm tiền, mà để tìm hiểu bản chất của những dây xích ràng buộc dân tộc mình và các nước thuộc địa với các nước thực dân. Qua nghiên cứu, Bác Hồ hiểu rằng chỉ có lòng dũng cảm thì chưa đủ để giải phóng dân tộc, mà cần phải hiểu đầy đủ về sự phát triển của CN thực dân và CN đế quốc mới có thể phản kháng một cách hiệu quả…”, TS Callow nói.Trong thời gian ở London, Bác từng làm các công việc nặng nhọc như cào tuyết ở trường học, điều khiển hệ thống nước nóng. Còn về lĩnh vực “bếp núc”, Bác còn từng làm việc ở khách sạn Drayton Court ở West Ealing, trước khi chuyển đến Carlton. Theo ông Callow, Bác từng ở tại số 8 phố Stephen Street, cắt phố Tottenham Court, cách khách sạn Carlton khoảng 20 phút đi bộ.

Rời tòa nhà New Zealand, chúng tôi đi bộ khoảng 30 phút ngoằn ngoèo theo những con phố nhỏ tấp nập của khu Soho – giờ đây nổi tiếng là nơi tụ tập về đêm của giới trẻ. Phố Stephen chỉ dài khoảng 500m, vòng đi vòng lại cũng chỉ thấy có hai tòa nhà số 1 là khách sạn cao ngất và đối diện là số 2 thuộc sở hữu của Viện phim Anh (BFI). Có lẽ ngôi nhà số 8 ngày xưa cũng không còn khi London bị tàn phá bởi trận bom The Blitz của Đức những năm 1940 – 1941.

Rời phố Stephen, 40 phút sau, chúng tôi đã có mặt ở ga West Ealing. Thêm 20 phút đi bộ, chúng tôi tới Khách sạn Drayton Court, tại số 2 phố The Avenue, nơi Bác làm việc một thời gian ngắn trước khi tới Carlton. Tư liệu lịch sử của quận Ealing cho biết: Bác Hồ từng làm việc ở đây năm 1914. Trong một tấm bưu thiếp gửi từ địa chỉ khách sạn này cho cụ Phan Chu Trinh ở Paris, Bác viết: “Bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây suốt”.

Kỳ cuối: Che mắt mật thám

Mai Phương (từ Vương quốc Anh)

baodatviet.vn

Phiên tòa đầy kịch tính và cuộc thoát án tử hình

Theo dấu chân Người 100 năm trước (kỳ 1)

(ĐV) Không gian cuộc hành trình 30 năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn bao gồm cả một phòng xử án đầy kịch tính, nơi Người đã may mắn thoát án tử hình.

Kỳ 1: Phiên tòa đầy kịch tính và cuộc thoát án tử hình

Ngày 6/6 tới đây sẽ vừa tròn 80 năm ngày Hồ Chí Minh bị nhà cầm quyền Anh ở Hồng Kông bắt giam, do sự xúi giục của thực dân Pháp. Người Anh dự định trục xuất Hồ Chí Minh lên một con tàu Pháp, một con đường chắc chắn dẫn Người tới cái chết.

Sung Man Cho là ai?

Luật sư người Anh Francis Loseby, người đảm nhận vụ án trục xuất Sung Man Cho, đã tra xét thẩm quyền của thống đốc Hong Kong trong vụ này, dựa trên luật habeas corpus (bảo thân), thuộc thông luật cổ truyền nước Anh. Lệnh habeas corpus là một trát toà đặc biệt, cho phép thẩm tra tính hợp pháp của vụ việc giam hãm hoặc bỏ tù một đương sự bất kỳ.

Vụ án Sung Man Cho Vs. The Superintendent of Prisons (Sung Man Cho kiện quản giáo nhà tù Hong Kong) đã trở thành một sự kiện quan trọng, được đưa trên báo chí tiếng Anh tại nhượng địa này nhiều hơn cả tin về bản vị vàng sụt giá, lẫn sự kiện chính phủ MacDonald đổ. Tự kháng biện trước toà, Hồ Chí Minh nhận mình là Sung Man Cho, người Hoa. Các học giả Việt Nam từng gặp khó khăn trong nghiên cứu sử liệu nước ngoài về quãng đời này của Hồ Chí Minh, khi dựa vào phiên âm tiếng Việt của danh tính này.

Các luật sư Anh tham gia vụ án Sung Man Cho (nguồn: Bảo tàng HCM; ANOM, Aix-en-Provence, Pháp)

Sau 9 phiên toà, Toà án Tối cao Hong Kong xử Hồ Chí Minh thua kiện. Các luật sư người Anh của Hồ Chí Minh đã thay mặt cho thân chủ của mình kháng án lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia, toà án tối cao của đế quốc Anh. Hai luật gia Anh là Denis Noel Pritt – biện hộ cho Hồ Chí Minh, và Stafford Cripps – cãi cho Hoàng gia Anh, đã dàn xếp vụ này bên ngoài phòng xử án.Hiện chưa thấy trong lưu trữ tư liệu về các trao đổi của hai luật gia có chức trách phản biện lẫn nhau này trong vụ án Sung Man Cho. Song ddiefu chắc chắn là họ đã nhất trí giúp “ông Sung Man Cho người Hoa” rời Hong Kong theo sở nguyện của mình.

Thoát hiểm

Hồ Chí Minh bí mật rời Hong Kong sang Singapore tháng 1/1933. Nhưng người Anh ở Singapore đã trục xuất Hồ Chí Minh trở lại Hồng Kông và người Anh ở Hồng Kông lại bắt giữ Hồ Chí Minh lần nữa, vẫn do Pháp “xi-nhan.” Hồ Chí Minh bị buộc phải rời nhượng địa này trong ba ngày. Một lần nữa, luật sư Loseby lại giúp Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh cải trang thành một thương gia người Hoa giàu có, vận áo thụng gấm thêu kim tuyến. Luật gia người Hoa giúp việc cho Loseby thủ vai thư ký cho “nhà buôn phát đạt” này.

Tấm bản đồ Malaysia do chính tay Hồ Chí Minh vẽ (nguồn: Lưu trữ Quốc gia Anh)

Ngày 22/1/1933, sau khi con tàu dành cho Hồ Chí Minh vừa rời bến, viên phó cảnh sát trưởng Hồng Kông dùng ca-nô riêng đưa hai “khách hạng nhất tới trễ” lên boong. Hai “nhà buôn Trung Hoa” này cập bến Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến đúng dịp Tết Quý Dậu, 1933. Từ đây, Hồ Chí Minh đi tiếp tới Vladivostok và Moscow…

Hệ thống luật pháp Anh kết hợp hoạt động của hai dạng luật sư: một luật gia tư vấn pháp lý (quan hệ trực tiếp với thân chủ) và một trạng sư bào chữa (được thuê bởi luật gia tư vấn pháp lý để bênh vực thân chủ tại tòa). Không mấy người Việt biết rõ về trạng sư bào chữa Francis Jenkin, người đã cãi cho Sung Man Cho tại phiên tòa của Tòa án tối cao Hồng Kông, mặc dù tin tức về vụ án này trên các trang báo đương thời chỉ nêu tên Jenkin mà không nhắc tới luật sư làm tư vấn pháp lý, là Loseby.

Cộng sự của Loseby, họ là ai?

Lady Borton, nhà văn Mỹ, đến Hà Nội vào đầu năm 1975 khi cuộc chiến tranh chuẩn bị kết thúc. Bà là tác giả cuốn Tiếp sau nỗi buồn (NXB Thế giới, 2010). Cuốn Hồ Chí Minh: một hành trình của bà do NXB Thế giới ấn hành sắp ra mắt bạn đọc.

Trước đây, chúng tôi nhóm làm nghiên cứu để soạn thảo sách Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong (Nxb. Chính trị Quốc gia, 2004), đã từng cố gắng tìm thêm thông tin về trạng sư bào chữa Francis Jenkin, nhưng đã không đạt kết quả.Nhưng năm ngoái, trong khi khảo cứu một số sử liệu thuộc hồ sơ của Bộ Thuộc địa Pháp tại Lưu trữ Hải ngoại của Pháp ở Aix-en-Provence, tôi tình cờ tìm được tin Jenkin từ trần, đăng trên báo South China Morning Post. Cáo phó này cho biết Francis Jenkin mất năm 1936, trước khi Hồ Chí Minh từ Moskva về lại châu Á. Tuy nhiên, trong lời cáo phó nói trên có câu sau: “(Luật sư Jenkin) còn nổi tiếng về một vụ án khác, đó là vụ kháng án quyết định của Thống đốc Hong Kong thực hiện quyết định trục xuất đối với ông Sung Man Cho, thực chất là một nhà cách mạng người An Nam, vào năm 1931”.

Nếu nghiên cứu kỹ càng hơn vụ án này, có thể chúng ta sẽ thấy được công lao của một bậc tiền bối khác. Vụ kháng án lên được tới cấp Hội đồng cơ mật Hoàng gia, nhưng không bao giờ dội vào Nội các Anh. Ngược lại, vụ kiện này đã được xử lý ngoài toà án, bằng thoả thuận của hai luật sư có chức trách phản biện lẫn nhau: đó là Denis Pritt bảo vệ cho thân chủ của mình là Hồ Chí Minh, và Stafford Cripps đại diện cho Hoàng gia Anh. Loseby, Jenkin, và Pritt đã bổ trợ cho nhau trên các vai trò khác biệt, để cứu Hồ Chí Minh thoát án tử hình.

Đồng thời, vai trò then chốt trong vụ này hẳn thuộc về người luật sư đại diện cho cho Hoàng gia Anh là luật sư Stafford Cripps. Là một đảng viên Đảng xã hội, thành viên của Hội những người Fabian thiên tả, và một thành viên tích cực đấu tranh cho nền độc lập của Ấn Độ thời đó, Stafford Cripps, qua vụ án “Sung Man Cho”, đã có những ảnh hưởng to lớn lên các sự kiện xảy ra sau đó trong lịch sử Việt Nam.

Nếu thay vào Stafford Cripps, luật sư của Hoàng Gia tại Hội đồng cơ mật Anh là một người khác, với tư tưởng chống cả CHXH, chống trào lưu giành độc lập cho các thuộc địa, thì hẳn Sung Man Cho đã thua kiện; rồi bị trục xuất trên một con tàu Pháp rời bến Hồng Kông, và lịch sử của nước Việt Nam hiện đại hẳn đã rất khác.

Bài 2: Nuôi chí ở xứ sở sương mù

Lady Borton

baodatviet.vn

Tư tưởng độc lập tự do với sự kiến lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Nhà nước pháp quyền của toàn thể dân tộc

Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước
(5.6.1911- 5.6.2011)

“Nói đến vấn đề dân tộc tức là đã nói đến sự tự do độc lập của mỗi dân tộc tùy theo ý muốn của mỗi dân tộc… Riêng dân tộc Việt Nam…, sau lúc đánh đuổi thực dân Pháp – Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới… Chính quyền cách mạng của nước dân chủ ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc…”

Nguồn: bachovoihue.violet.vn

Chủ trương chiến lược cách mạng giải phóng vì tự do độc lập dân tộc dưới ánh sáng của học thuyết Hồ Chí Minh

Thực chất của vấn đề dân tộc là vấn đề quyền tự do độc lập và quyền tự lựa chọn của mỗi dân tộc. Đối với Việt Nam, học thuyết sáng tạo về cách mạng giải phóng vì độc lập tự do của Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn của quốc gia dân tộc, đáp ứng khát vọng thiêng liêng nhất của toàn dân, “đặc biệt là các tầng lớp thanh niên trí thức, học sinh, có tinh thần yêu nước nồng nàn, thiết tha mong muốn bảo vệ truyền thống văn hóa đẹp đẽ của dân tộc, khôi phục những giá trị tinh thần cao quý của con người Việt Nam bị bọn đế quốc phong kiến chà đạp. Họ tỏ ra thức thời và nhạy cảm với thời cuộc…” Nhiều lớp huấn luyện cán bộ được mở ở Quảng Châu (Trung Quốc) do Hồ Chí Minh chỉ đạo và là giảng viên chính để đào tạo cán bộ nhằm truyền bá lý luận về “đường cách mệnh”, theo học thuyết cách mạng giải phóng và phát triển vì độc lập tự do của Người để truyền bá vào Việt Nam, chuẩn bị để thành lập “đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”. Các học viên được học tập ở Quảng Châu đã “bí mật về nước truyền bá lý luận giải phóng dân tộc, và tổ chức nhân dân”, đã làm dấy lên trong toàn quốc một phong trào đấu tranh dân tộc, dân chủ mạnh mẽ, có tính chất chính trị, tính “tự giác”, có tổ chức chỉ đạo của các chiến sỹ theo học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, các tổ chức cộng sản đã ra đời vào mùa thu năm 1929 và hoạt động riêng lẻ. Nhu cầu thành lập một đảng cách mệnh duy nhất đã chín muồi.

Với trọng trách lịch sử đối với dân tộc và trên cương vị là một phái viên của Quốc tế cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề có liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, bằng thái độ chân thành, có sức thuyết phục các đại biểu dự Hội nghị hợp nhất Đảng họp từ ngày 6.1.1930 tại Cửu Long, Hồng Kông đã đồng thuận quyết định thống nhất các tổ chức đảng đang hoạt động riêng lẻ để thành lập một đảng với tên gọi đúng đắn là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cùng các văn kiện chính trị khác. Cương lĩnh của Đảng tuy còn vắn tắt, song là một Cương lĩnh cách mạng sáng tạo, thấm đượm yếu tố dân tộc về cả mục tiêu chính trị và sự tập hợp đại đoàn kết các giai cấp và các tầng lớp nhân dân đấu tranh vì độc lập, tự do. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, thông qua sự thử thách, sàng lọc, chọn lựa lịch sử là sự hiện thực hóa, cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam theo học thuyết cách mạng Hồ Chí Minh.

Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của sự kết hợp học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh cùng với sự tác động của chủ nghĩa Mac – Lênin với phong trào dân tộc Việt Nam (bao gồm công nhân, nông dân, những tầng lớp lao động và học sinh, trí thức yêu nước…) trong những năm 20 của thế kỷ XX. Đây là một thành công sáng tạo của Hồ Chí Minh trong cuộc vận động tổ chức một đảng tiên phong cách mạng để lãnh đạo và tổ chức cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.

Ngay sau khi Đảng mới được thành lập, một phong trào cách mạng có tính quần chúng nổ ra ở nhiều địa phương, tiêu biểu là ở Nghệ An và Hà Tĩnh đã cuốn hút mạnh mẽ lực lượng quần chúng đông đảo, không chỉ có công nhân, nông dân mà còn có trí thức, sĩ phu, phú nông, trung tiểu địa chủ và cả một số quan lại nhỏ ở nông thôn. Sự thật, lịch sử đó bước đầu đã minh chứng giá trị hiện thực của tư tưởng và đường lối giương cao ngọn cờ độc lập tự do của Hồ Chí Minh. Nét sáng tạo độc đáo này của Hồ Chí Minh khác với quan điểm của Quốc tế Cộng sản. Theo chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, của Xtalin, Hội nghị tháng 10.1930 của Ban Chấp hành đã phê phán và quyết định thủ tiêu Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và vạch ra một Cương lĩnh mới – Luận cương chánh trị của Đảng, đặt hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, độc lập dân tộc và người cày có ruộng ngang nhau. Còn trong chỉ đạo thực tiễn, xu hướng “tả” khuynh đã xuất hiện với khẩu hiện thanh trừ phí, phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ! Xu hướng “tả” khuynh đó cũng sớm được Ban Thường vụ Trung ương Đảng phê phán và nhắc nhở các cấp bộ Đảng phải sửa chữa.

Lịch sử có lúc gập ghềnh, quanh co, thậm chí sai lầm, song cuối cùng phải chảy xuôi dòng. Trải qua nhiều năm đấu tranh, rèn luyện trong thực tiễn, rút kinh nghiệm của phong trào cách mạng trong nước dưới sự chỉ đạo của Đảng và kinh nghiệm quốc tế, sự chỉ đạo của Đảng ngày càng sắc bén về chính trị, tôn trọng sự thực khách quan nên đã có sự đổi mới chỉ đạo về đường lối, chủ trương, kể cả chủ trương mạnh dạn là thay đổi cả chiến lược cách mạng cho phù hợp với đòi hỏi của lịch sử. Trong văn kiện chung quanh vấn đề Chiến sách mới của Đảng ngày 30.10.1936, Đảng đã nêu rõ hai điều rất cơ bản về chiến lược cách mạng và về Đảng cộng sản. Đó là:

Về chiến lược, Đảng nêu rõ: “Cuộc dân tộc giải phóng không nhất định phải kết chặt với cuộc cách mạng điền địa… lý thuyết ấy có chỗ không xác đáng…

Đảng Cộng sản Đông Dương là đảng của dân chúng bị áp bức, đội tiên phong cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Đông Dương.

Tháng 9.1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, đế quốc Pháp tham chiến. Chúng thi hành chính sách thời chiến ở Đông Dương. Vấn đề sống còn của các dân tộc trên bán đảo Đông Dương được đặt ra một cách cấp bách hơn bao giờ hết. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản họp dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã đề ra chủ trương phải thay đổi chiến lược cách mạng.

Năm 1940, phát xít Nhật bắt đầu xâm lược Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì thực dân Pháp đã đầu hàng đón Nhật. Dân ta phải chịu hai tầng xiềng xích nô lệ của Pháp và Nhật. Trong thời gian này, Hồ Chí Minh không còn phải “sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng” đã trở về Việt Nam ngày 28.1.1941. Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ Tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Pắc Bó, Cao Bằng (từ ngày 10 đến ngày 19.5.1941). Hội nghị đã phân tích một cách khoa học, tác động của Chiến tranh thế giới lần thứ hai đối với nhân loại giống như một cơn lốc lớn đang làm biến đổi số mệnh của hàng triệu con người, thúc đẩy các dân tộc phải vùng lên giải phóng cho mình khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc và thực dân. Đối với dân tộc Việt Nam lúc này: “Nhân dân Việt Nam… ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng mong muốn độc lập tự do, và đang trong tư thế một người lên tiếng vạn người ủng hộ”.

Từ thực tiễn khách quan đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng được sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh, đã tiếp tục và phát triển tư tưởng, đường lối chiến lược cách mạng của Cương lĩnh đầu tiên của Đảng với một quyết định dứt khoát về vấn đề dân tộc rằng: “nói đến vấn đề dân tộc tức là nói đến sự tự do độc lập của mỗi dân tộc tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc, quốc gia tùy ý… Văn hóa của mỗi dân tộc…, tiếng mẹ đẻ của các dân tộc sẽ được tự do phát triển, tồn tại và được bảo đảm. Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng…”

Từ nhận thức đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định:

Thay đổi chiến lược cách mạng, coi cách mạng ở Đông Dương lúc đó không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, phải giải quyết song song hai nhiệm vụ phản đế và điền địa nữa, mà là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nhằm đánh đuổi phát xít Nhật – Pháp, giành lấy độc lập tự do, (sau khi hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc sẽ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cách mạng tư sản dân quyền tạo tiền đề để tiến lên con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa).

Cách mạng giải phóng dân tộc là việc chung của cả dân chúng được tổ chức thành một mặt trận đại đoàn kết bao gồm các giới đồng bào không phân biệt công nhân, nông dân, phú nông, địa chủ, tư sản bản xứ, già trẻ, trai gái, tôn giáo và xu hướng chính trị, ai có lòng yêu nước phải ra sức chuẩn bị tiến lên thực hiện một cuộc khỏi nghĩa của toàn dân – khởi nghĩa dân tộc, đánh đuổi Pháp – Nhật làm cho Việt Nam được hoàn toàn độc lập, dân Việt Nam được hoàn toàn tự do.

Sau khi đánh đuổi được Nhật – Pháp sẽ thành lập một kiểu nhà nước dân tộc theo thể chế dân chủ cộng hòa. Nghị quyết khẳng định “Dân tộc Việt Nam…, sau lúc đánh đuổi được Pháp – Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới… Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai đế quốc Pháp – Nhật và những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy”. Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Quốc dân đại hội cử ra và lấy lá cờ đỏ ngôi sao năm cánh làm lá cờ toàn quốc.

Sự đổi mới về tư duy của Ban Chấp hành Trung ương Đảng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương thực hiện chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc vì tự do, độc lập, lập nên nhà nước dân chủ mới của toàn dân tộc đã đáp ứng nguyện vọng bức thiết của mọi người Việt Nam yêu nước, phấn đấu theo Chương trình của Việt Minh, chuẩn bị đem sức ta mà tự giải phóng cho ta, không ỷ lại vào ai hết.

Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước pháp quyền của chung cả toàn thể dân tộc

Cuộc đảo chính ngày 9.3.1945 truất quyền của Pháp, chiếm hẳn lấy Đông Dương làm thuộc địa của phát xít Nhật đã tạo ra cơ hội cho những điều kiện khởi nghĩa mau chín muồi. Cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ đã diễn ra phong phú bao gồm nhiều hình thức khác nhau, trong đó đã nổ ra các cuộc khởi nghĩa từng phần, lập chính quyền bộ phận, dẫn đến sự ra đời của khu giải phóng bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang, và một số vùng lân cận thuộc Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên. Tân Trào được chọn làm Thủ đô lâm thời của Khu giải phóng. Hơn một triệu đồng bào trong khu giải phóng đã bắt đầu hưởng được hạnh phúc cách mạng. “Một nước Việt Nam mới đang nảy nở. Nhiều chiến khu ở các địa phương khác cũng lần lượt được thành lập. Một phần Bắc Bộ đã thực tế đặt dưới chính quyền cách mạng. Nước Việt Nam phôi thai từ đó”.

Giữa tháng 8.1945, tình thế cách mạng trực tiếp đã đến. Theo dõi sát tiến trình của thời cuộc thế giới và trong nước, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào đã quyết định phát động cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc trước khi quân Đồng minh kéo vào nước ta.

Ngay sau Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng vừa bế mạc thì Đại hội quốc dân đã khai mạc trưa 16.8.1945. Dự Đại hội có khoảng 60 đại biểu đại diện cho các đảng phái yêu nước, các đoàn thể cứu quốc, các dân tộc ít người, tôn giáo, có cả đại biểu từ Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Việt Kiều ở Lào và Thái Lan. Đại hội đã có ba quyết định lớn:

Tán thành chủ trương sáng suốt của Đảng do Tổng Bí thư Trường Chinh báo cáo là: “Lãnh đạo quần chúng nhân dân nổi dậy tước vũ khí của Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương, giành lấy chính quyền từ tay Nhật và bọn bù nhìn tay sai của Nhật, dùng địa vị cầm quyền mà tiếp đón quân Đồng minh vào giải ngũ quân Nhật trên đất Đông Dương”.

Thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh và hiệu triệu đồng bào toàn quốc phải tích cực phấn đấu thực hiện, trong đó điều mấu chốt đầu tiên là giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam trên nền tảng độc lập.

Thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam gồm 15 thành viên do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam cũng như Chính phủ lâm thời của nước ta lúc bấy giờ có nhiệm vụ chủ trì mọi công việc đối nội và giao thiệp với nước ngoài.

Quốc dân Đại hội Tân Trào là một biểu hiện sáng tạo, độc đáo của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng, phát triển, thực thi từng bước tư tưởng dân quyền ngay trong đêm trước của cuộc Tổng khởi nghĩa. Đây “là một tiến bộ rất lớn trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của ta ngót một thế kỷ nay”, một tổ chức chính trị mang tầm vóc lịch sử một Quốc hội của nước Việt Nam mới, một cơ quan quyền lực lâm thời tối cao của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc. Nhận xét về sự kiện lịch sử này, một sỹ quan tình báo Mỹ đã từng có mặt ở Việt Nam là Archimedes L.A Patti lúc bấy giờ đã viết, khi biết tin sự sụp đổ của phát xít Nhật, Hồ Chí Minh “đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng… Ông Hồ biết rằng ông phải làm cho mọi người thấy rõ được cả tính chất hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào”.

Cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã thành công trong cả nước. Chính quyền cách mạng thuộc về toàn dân. Ủy ban dân tộc giải phóng đã được cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 2.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân và thế giới: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời”. Tuyên ngôn độc lập là văn kiện mang tính pháp lý tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ mới do cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì độc lập tự do – quyền thiêng liêng trời cho của mọi dân tộc là chính nghĩa, hợp lý và hợp pháp.

Một nhà nước độc lập, dân chủ phải là nhà nước chung của cả dân tộc, do nhân dân cử ra và quản lý xã hội bằng luật pháp, phải có hiến pháp dân chủ. Ngày 3.9.1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: dưới chế độ quân chủ đến chế độ thực dân, nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Vì vậy, Người đã đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả mọi công dân, trai, gái mười tám tuổi trở lên đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống…

Ngày 6.1.1946, cuộc tổng tuyển cử đã diễn ra thắng lợi trong cả nước. Tại kỳ họp thứ Nhất của Quốc hội (2.3.1946), Chính phủ liên hiệp kháng chiến đã được thành lập. Đến kỳ họp thứ Hai của Quốc hội, họp ở Hà Nội (từ ngày 28.10 đến ngày 9.11.1946), bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam đã được Quốc hội thông qua với 240 đại biểu tán thành trên 242 đại biểu có mặt tại kỳ họp. Hiến pháp – đạo luật cơ bản đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ghi rõ:

“Cuộc cách mạng Tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa…”

Hiến pháp xây dựng trên những nguyên tắc sau:

“- Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo.

– Bảo đảm các quyền tự do dân chủ.

– Thực hiện quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”.

Tính chất dân tộc, dân chủ của toàn dân được phản ánh trong Hiến pháp, các Sắc lệnh của Chính phủ và trong thực tiễn cuộc sống của toàn dân. Kỳ họp thứ hai của Quốc hội họp trong thời điểm lịch sử rất gay go, đất nước sắp bước vào cuộc chiến đấu để chống lại âm mưu mở rộng cuộc tái chiếm đất nước ta của thực dân Pháp trên cả nước, các ĐBQH đã thảo luận sôi nổi, dân chủ, có khi gay gắt, song cuối cùng đã đi đến thống nhất. “Nếu có ai có thành kiến của giai cấp, của đảng phái, của tôn giáo thì đến phòng này (phòng họp của Quốc hội tại nhà hát lớn Hà Nội) cũng đã để lòng nghe theo tiếng gọi cao cả và thiêng liêng hơn cả bấy nhiêu tiếng gọi lúc thường: tiếng gọi của Tổ quốc. Cái không khí ấy đã hoàn toàn phản chiếu được tình trạng của đất nước…, tình trạng thống nhất ý chí và hành động…”

Tổ quốc trên hết! Đoàn kết, đại đoàn kết! Không phân biệt đảng phái! Đó là ý chí cơ bản của Quốc hội theo ngọn cờ độc lập tự do, thống nhất quốc gia dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chúng ta chỉ có một “Đảng Việt Nam” – đội tiên phong của dân tộc.

Trong vòng hơn một năm quản lý xã hội, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã triển khai hoạt động của mình trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, quân sự, ngoại giao vì lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, tự do, hạnh phúc trong điều kiện đất nước đang phải trải qua muôn vàn khó khăn. Chính phủ đã tỏ rõ một ý muốn duy nhất làm sao đem lại cho dân chúng được tự do, độc lập hoàn toàn và để cho tất cả mọi phần tử quốc dân được hưởng tự do, độc lập ấy như muôn vật được hưởng ánh sáng mặt trời”.

Nguồn giá trị truyền thống văn hóa tư tưởng của tổ tiên, học thuyết cách mạng giải phóng và phát triển dân tộc vì độc lập tự do của Hồ Chí Minh thực sự là cơ sở tư tưởng và kim chỉ nam hành động cho toàn Đảng, toàn dân Việt Nam trong cuộc cách mạng giải phóng dẫn đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập là chính nghĩa, hợp pháp, hợp hiến.

Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa là nhà nước pháp quyền của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc.

Thực chất vấn đề dân tộc là vấn đề tự do độc lập, quyền vô cùng thiêng liêng của Việt Nam cũng như mọi quốc gia trên thế giới. Dựa trên cơ sở triết lý lịch sử của Việt Nam và các quốc gia dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh đã nêu một quan điểm có giá trị nhân loại rằng: “Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc”.

Nhận thức tính khách quan và giá trị thiêng liêng của quyền tự do độc lập, Đảng ta do Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện và tổ chức thực thi quyền thiêng liêng đó ngay từ đêm trước và trong năm đầu của sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 – 1946) là sáng tạo tuyệt vời về trí tuệ, sức mạnh của Đảng, của toàn dân tộc Việt Nam, tạo nên một động lực vĩ đại cho sự trường tồn, phát triển của Việt Nam trong sự nghiệp giữ vững và phát triển quyền tự do và độc lập.

Giá trị về lý luận và bài học về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc hay như cách nói của Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương tháng 5.1941 là của chung của cả toàn thể dân tộc – vẫn tiếp tục làm cơ sở tư tưởng và kim chỉ nam hành động cho toàn Đảng và toàn dân trên con đường xây dựng và phát triển đất nước theo đường lối đổi mới.

Pgs Lê Mậu Hãn

daibieunhandan.vn

Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

ĐBP – Từ tuổi 13, Nguyễn Tất Thành đã khát vọng muốn ”xem cho rõ” sự “làm ăn ra sao” của những cường quốc mà các nhà yêu nước Việt Nam đương thời kì vọng có thể giúp đất nước mình thoát khỏi ách thống trị thực dân; và để rồi “sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”.

Mang chung hành trang là chủ nghĩa yêu nước – nhân văn Việt Nam và cùng mục đích, nhưng Nguyễn Tất Thành và hai cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh có những nét khác nhau về cơ bản. Một bên là tìm, học cái mới mà dân tộc chưa có và xem đó như một chỗ dựa, một cứu cánh; một bên là muốn tìm hiểu giá trị thật của cái mới và cả cái ẩn giấu đằng sau nó; bên này chỉ mới tiến đến ở sự tiếp nhận, còn bên kia là đến tận nơi và xem cho rõ cách làm. Hay nói cách khác, cho dù có cùng hành trang, cùng mục đích, nhưng có sự khác nhau về tầm nhìn và phương pháp, nên giữa Nguyễn Tất Thành và hai cụ Phan đã tạo ra kết quả khác biệt. Cụ thể: bên này là tiếp nhận và đưa về cái mới mà dân tộc chưa có nhưng không biết nó đã bắt đầu trở nên lỗi thời so với sự phát triển của lịch sử nhân loại. Bên kia với sự khảo sát trực tiếp, phân tích, so sánh giữa lý thuyết với kết quả thực tế của các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới (đã có đến thời điểm đó) để lựa chọn nhằm tiếp nhận những giá trị chung và mới của nhân loại, nhằm tìm ra con đường cứu nước, cứu dân thích hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước nhà và tương thích với sự vận động, xu thế phát triển mới trong quá trình tiến hóa của loài người. Chính vì vậy, nên những cố gắng cao nhất của hai cụ Phan cũng chỉ là làm bùng phát một phong trào dân tộc, nuôi dưỡng ngọn lửa yêu nước trong nhân dân, bởi những cái được cho là chưa có và được xem là mới đối với dân tộc mà hai cụ đưa về đã bị lịch sử nhân loại và chính phong trào cách mạng dân tộc vượt qua. Còn với Nguyễn Tất Thành, bằng lao động và hòa vào dòng chảy của các sự kiện trên thế giới, nên cuộc hành trình của Nguyễn Tất Thành trong ba thập kỷ trải nghiệm, thực hành ở nước ngoài không chỉ để biết thế giới mà chính là quá trình học tập, khảo sát, nghiên cứu kỹ lưỡng nhằm thấu hiểu để chọn lọc và tiếp thu những giá trị văn hóa – văn minh của nhân loại.

Cuộc hành trình vĩ đại qua ba đại dương, bốn châu lục và gần ba mươi quốc gia, đặc biệt là trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng ở một số nước có nền dân chủ, cách mạng đã nâng cao trí tuệ, làm giàu văn hóa và mở rộng thế giới quan cho Người – từ tầm mức dân tộc đến nhân loại. Đó là cơ sở giúp cho Nguyễn Tất Thành thấu hiểu được sự tương đồng và khác biệt giữa triết lý phương Đông và phương Tây. Đồng thời Người cũng đã nhận thấy nguồn gốc trực tiếp nỗi khổ đau chung của các dân tộc thuộc địa và những người lao động, không phân biệt chủng tộc, màu da, trên hành tinh này và đi tới khẳng định: “Vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con người không chỉ là nhu cầu của dân tộc và con người Việt Nam mà là của các dân tộc bị áp bức và nhân dân cần lao trên thế giới”.

Bằng sự trực tiếp khảo sát tại quê hương của các cuộc cách mạng tư sản điển hình (Pháp, Anh và Mỹ), với trí tuệ thiên tài của mình, Nguyễn Tất Thành đã phát hiện và tiếp nhận những lời bất hủ mang giá trị chung của nhân loại về quyền dân tộc và quyền con người được ghi trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước Pháp. Đồng thời, Người cũng thấy rõ hạn chế giữa lý thuyết và thực tế mà nổi bật là tính chất “không đến nơi” của các cuộc cách mạng này. Chỉ với tầm trí tuệ không ngừng được nâng cao, trên cơ sở được làm giàu về các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại và với một tầm nhìn thế giới trong phân tích lý luận và kiểm nghiệm thực tiễn, Nguyễn Tất Thành mới có thể đúc rút thành những kết luận khoa học đúng đắn có giá trị quan trọng như vậy. Do đó, Người không chỉ dừng lại ở phân tích lý luận và thực tiễn để chọn lọc và thâu thái các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại, mà còn trên cơ sở các kết luận đó, tìm lời giải đáp những vấn đề đang được đặt ra trong lịch sử tiến hóa của loài người. Đây chính là sự chuẩn bị – cả trên phương diện lý luận và thực tiễn để Người, không chỉ đi từ dân tộc đến nhân loại trong nhận thức các giá trị văn hóa – văn minh mà còn tiến tới năng lực phát hiện và nắm bắt được quy luật tiến hóa của lịch sử nhân loại, xu thế của thời đại bằng thế giới quan khoa học và cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Đi từ dân tộc đến nhân loại, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin là quá trình từ nhận thức cảm tính đến khoa học. Với thế giới quan khoa học và cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện và nhận thức được quy luật tiến hóa, xu thế phát triển trong tiến trình đi lên của loài người và đi tới khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Do đó, Nguyễn Tất Thành đã đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản và chỉ rõ “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”. Người đã chỉ rõ: cách mạng giải phóng dân tộc phải hướng đích tới sự giải phóng triệt để đối với con người theo quy luật tiến hóa tự nhiên của lịch sử nhân loại. Độc lập – Dân tộc phải đưa tới Tự do – Hạnh phúc cho con người.

Với con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã chỉ ra, cách mạng Việt Nam hàm chứa sâu sắc các nội dung Dân tộc  Nhân loại và Thời đại, và do đó, với đường lối đúng đắn thuận theo quy luật tiến hóa của nhân loại, được sự ủng hộ của toàn dân và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, cách mạng Việt Nam đã hội đủ các yếu tố “Thiên thời – Địa lợi – Nhân hòa” đảm bảo cho sự thắng lợi.

Với tất cả các ý nghĩa đó, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà nội dung là giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng con người là triết lý phát triển Việt Nam. Đây là nội dung căn bản nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, chi phối mọi hoạt động lý luận và thực tiễn của cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa, đem lại tự do, hạnh phúc cho con người. Tìm ra con đường cứu nước đúng đắn là công lao vĩ đại đầu tiên, là cống hiến lý luận sáng tạo hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là di sản có giá trị vĩnh hằng đối với cách mạng Việt Nam.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với các giá trị trên đây, sự kiện lịch sử Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước càng có ý nghĩa thực tiễn. Với đường lối đổi mới của Đảng, trên thực tế, sự hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng là tiếp tục quá trình dân tộc ta đi ra thế giới trong điều kiện lịch sử mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh để thâu nhận các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại và nắm bắt xu thế phát triển của loài người, nhằm vận dụng và tiến hành thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, tạo ra các điều kiện để thực hiện ngày một hoàn chỉnh các nội dung của tiêu chí Độc lập – Tự do – Hạnh phúc cho dân tộc và con người Việt Nam. Bởi vậy, cần phải nắm vững thế giới quan, phương pháp Hồ Chí Minh để không chỉ thâu nhận được các giá trị văn hóa – văn minh, nắm bắt được xu thế phát triển của loài người, mà còn vận dụng phù hợp với thực tiễn của đất nước. Chỉ có như vậy mới giải quyết tốt các mối quan hệ dân tộc – giai cấp, quốc gia – quốc tế, dân tộc – thời đại, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với thời đại, liên tục tạo lập lực – thế – thời mới, đưa đất nước phát triển vững chắc thực hiện các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

Một thế kỷ đã trôi qua, nhưng sự kiện Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân vẫn còn nguyên ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa thời đại. Ngày nay, trong hành trình hội nhập cùng nhân loại đi đến tương lai, chúng ta càng tin tưởng và kiên trì phấn đấu trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã chỉ ra, quyết tâm đưa ngọn cờ của Người đến đích thắng lợi hoàn toàn.

Nguyễn Vân Chương

baodienbienphu.info.vn

Báo Pháp viết về sự kiện Bác Hồ đến Marseille

Báo tin tức – Nhân kỷ niệm 100 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pháp, báo La Marseillaise, nhật báo của vùng Provence ở miền nam nước Pháp, đã dành trọn một trang khổ A3 và dòng tiêu đề chữ lớn ngay trang nhất của báo để giới thiệu sự kiện này, qua bài viết “Cách đây 100 năm, Hồ Chí Minh khám phá Marseille”.

Con tàu Đô đốc Latouche Tréville đã đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đến Pháp.

Báo đăng toàn văn bài phỏng vấn ông Nguyễn Văn Bổn, Phó Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp về những hoạt động của Bác khi tới thành phố Marseille của Pháp trên hành trình tìm đường cứu nước và sử dụng bức tranh minh họa vẽ Bác Hồ trên con tàu Đô đốc Latouche Tréville trên đường tới Pháp.

Trả lời các câu hỏi của phóng viên Leo Purguette, ông Nguyễn Văn Bổn đã giới thiệu với độc giả thành phố biển Marseille về sự kiện người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đặt chân tới thành phố này cách đây 1 thế kỷ, cũng như những nhận thức của Bác về các vấn đề “giai cấp,” “thuộc địa,” “chủ nghĩa xã hội”… trước khi Bác đi tìm đường cứu nước. Ông đã giúp độc giả Pháp tìm hiểu vì sao Bác Hồ lại tìm đường tới nước Pháp, thấy được ý nghĩa của những chuyến khám phá đầu tiên này đối với cả sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như tình cảm của kiều bào Việt Nam tại Pháp đối với Bác Hồ.

Báo La Marseillaise đăng bài viết đúng dịp triển lãm “Bác Hồ với nước Pháp” diễn ra tại thành phố Marseille.

Bà Hélène Luc, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt, nhấn mạnh, cuộc triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp tăng cường và phát triển những giá trị của tình đoàn kết Pháp – Việt.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nỗ lực phát triển tình đoàn kết giữa hai nước Việt Nam và Pháp. Những người cộng sản Pháp đầu tiên đã đón nhận người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc vào hàng ngũ của mình tại Đại hội Tours năm 1920. Sau đó, những nhà cách mạng Pháp như Henri Barbusse, Romain Roland đã hết lòng ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Nam trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và vận động công luận Pháp phản đối Hoa Kỳ xâm lược Việt Nam. Ngày nay, Hội hữu nghị Pháp – Việt sẽ tiếp tục ủng hộ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đưa ra nhiều sáng kiến ủng hộ cuộc đấu tranh đòi công lý cho các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam.

Lê Hà (P/v TTXVN tại Pháp)

baotintuc.vn

Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và bước ngoặt của Cách mạng Việt Nam

Báo tin tức – Ngày 28 tháng 1 năm 1941 (mùng 2 Tết Tân Tỵ), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ làng Nậm Quang (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc), nơi tổ chức lớp huấn luyện cho 43 cán bộ cách mạng Việt Nam đã trở về Việt Nam sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước. Bên cột mốc 108 trên biên giới Việt – Trung thuộc địa phận xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng lặng hồi lâu xúc động.

Với sự nhạy cảm chính trị đặc biệt của một lãnh tụ thiên tài, Nguyễn Ái Quốc đã tìm cách ra đi, để rồi tìm cách trở về Tổ quốc, trở về trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam trước những bước ngoặt của tình thế đã được Người dự đoán.

Người dân thuộc địa hiếm hoi trở thành thành viên của Đảng Xã hội Pháp

Khi rời bến Nhà Rồng ra đi tìm một con đuờng mới cho cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, người thanh niên Nguyễn Tất Thành chỉ nung nấu một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp, ủng hộ luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên (12/1920). Ảnh tư liệu: TTXVN

Khi nhiều người đang ngoảnh nhìn về phương Đông với sự ngưỡng mộ “người anh cả da vàng” Nhật Bản – một đế quốc mới ở châu Á – đã chiến thắng nước Nga Sa hoàng năm 1905, hay ngưỡng vọng bác sĩ Tôn Dật Tiên với chủ nghĩa Tam dân nổi tiếng và cách mạng Tân Hợi 1911 ở Trung Quốc thì Nguyễn Tất Thành tìm đường sang phương Tây, đến nước Pháp, đến nơi sản sinh ra những lời đẹp đẽ: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” đã từng làm rung động lòng mình khi còn ở tuổi thiếu niên.

Nguyễn Tất Thành muốn đến tận nơi sinh ra những lý tưởng cao đẹp đó để tìm hiểu xem làm sao người Pháp có được Tự do – Bình đẳng – Bác ái… Nguyễn Tất Thành đã chọn hướng Tây với mong muốn thiết thực: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”.

Tư liệu của Alain Ruscio, một nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh người Pháp: Khoảng cuối năm 1918 hoặc đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đoàn thanh niên xã hội và sau đó là Đảng Xã hội Pháp, vì nhận thấy có mối liên hệ giữa những hoạt động của đảng với khát vọng giải phóng dân tộc của mình. Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc đã trở thành đảng viên Xã hội Pháp “vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại Cách mạng Pháp: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” – như sau này tác giả Trần Dân Tiên đã thuật lại.

Nguyễn Ái Quốc là một trong số rất hiếm hoi thành viên của Đảng Xã hội Pháp khi đó là người dân của một xứ thuộc địa. Trong mùa hè năm 1919, người ta thấy Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trong các cuộc họp của Đảng Xã hội, trong các cuộc họp của Tổng công hội, Hội Nhân quyền…

Tìm thấy nguồn sáng tương lai

Cho đến khi nổ ra những cuộc tranh luận trong Đảng Xã hội Pháp về vấn đề nên là thành viên của Quốc tế nào, Nguyễn Ái Quốc chưa hề đọc tác phẩm nào của V.I.Lênin. Anh ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ là theo cảm tính, mà chưa hiểu hết tầm quan trọng và ý nghĩa lịch sử của cuộc cách mạng vĩ đại này. Anh tỏ ra lúng túng trước những cuộc tranh luận.

Điều làm Nguyễn Ái Quốc lúng túng chính là “trong cuộc bàn cãi, người ta rất ít nói đến sự đoàn kết với các dân tộc thuộc địa. Nhưng đó lại là vấn đề tôi quan tâm hơn hết”. Điều mà Nguyễn Ái Quốc muốn biết nhất – vì đối với Người nó quan trọng nhất – là Quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa, thì lại không thấy bàn đến trong các cuộc tranh luận đó.

Trong hai số liên tiếp ngày 16 và ngày 17/6/1920, báo L’Humanité (Nhân đạo) đăng “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin. Luận cương này được V.I.Lênin trình bày tại Đại hội II Quốc tế cộng sản họp từ ngày 19/7 đến 10/8/1920.

Luận cương của V.I.Lênin đã gây cho Nguyễn Ái Quốc một cảm xúc mạnh mẽ. Sau này Người kể lại: “Luận cương của Lênin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên”.

Qua Luận cương, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy sự ủng hộ, tìm thấy chỗ dựa, tìm thấy nguồn sức mạnh để vươn tới cái đích của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc – đã được chỉ rõ là sự chiến thắng của Chính quyền Xô viết với chủ nghĩa đế quốc thế giới.

Những điều này đã giải đáp những băn khoăn thắc mắc của Nguyễn Ái Quốc trước câu hỏi: Đứng về Quốc tế nào trong các cuộc tranh luận diễn ra ở các cuộc họp của Đảng Xã hội Pháp. Nguyễn Ái Quốc đã có câu trả lời rõ ràng: Đứng về Quốc tế III của Lênin, bởi vì “Chúng tôi thấy rằng việc Đảng Xã hội gia nhập Quốc tế III có nghĩa là Đảng hứa một cách cụ thể rằng từ nay Đảng sẽ đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa”.

Ngày 30/12/1920, tại Đại hội Tua, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng cộng sản Pháp và bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III. Nguyễn Ái Quốc đã chính thức trở thành một chiến sĩ cộng sản đấu tranh cho lý tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Sự gặp gỡ tư tưởng Nguyễn Ái Quốc – Lênin này phản ánh những nhu cầu đang đặt ra của lịch sử là xác định một con đường đúng đắn cho cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam nói riêng và các dân tộc thuộc địa nói chung.

Nguyễn Ái Quốc chính là người đảm nhận nhiệm vụ lịch sử đó. Ánh sáng của tư tưởng Lênin đã soi rọi cho Nguyễn Ái Quốc con đường đấu tranh giải phóng, không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà còn cho tất cả các dân tộc còn đang bị áp bức. Luận cương của V.I.Lênin chính là tia sáng đầu tiên của dòng ánh sáng đó.

Mặt trận Việt Minh – khối lực lượng chính trị quần chúng mạnh mẽ

Ngay sau khi Bác về nước, ngày 19/5/1941, giữa vùng núi rừng Pắc Bó, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận Việt Minh ra đời giữa lúc nhân dân Việt Nam đang rên xiết trong cảnh một cổ hai tròng, vận mệnh dân tộc đang trong cảnh nước sôi lửa nóng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường đi công tác, Tuyên Quang năm 1951. Ảnh tư liệu: TTXVN

Với một quyết tâm được xác định rõ trong chương trình của mình “làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do”, Mặt trận Việt Minh đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho Tổ quốc.

Các tầng lớp quần chúng đông đảo được tổ chức trong những Hội cứu quốc là thành viên của Mặt trận Việt Minh: Nông dân cứu quốc; Công nhân cứu quốc; Thanh niên cứu quốc; Phụ nữ cứu quốc; Phụ lão cứu quốc; Văn hóa cứu quốc… đã làm cho Mặt trận ngày càng phát triển rộng rãi. Sự phát triển của các tổ chức cứu quốc lan rộng trên khắp các địa bàn nông thôn, thành thị, miền núi, từ Bắc vào Nam, đã làm thành một Phong trào Việt Minh sôi nổi, tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ trong phong trào cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa.

Mặt trận Việt Minh chính là sợi dây nối liền chặt chẽ Dân – Đảng, Đảng – Dân, để ý Đảng thấm tới lòng dân, tạo ra khả năng cho Đảng có thể phát động một cuộc Tổng khởi nghĩa toàn dân trên địa bàn cả nước.

Thông qua Mặt trận Việt Minh, Đảng ta đã xây dựng được một khối lực lượng chính trị quần chúng mạnh mẽ, được rèn luyện qua những phong trào cách mạng. Cũng do sự phát triển rộng khắp của phong trào Việt Minh, Đảng đã có điều kiện để duy trì các đội du kích, xây dựng những khu căn cứ địa cách mạng, hình thành lực lượng vũ trang cách mạng.

Tại Việt Bắc, trong cao trào tiến tới Tổng khởi nghĩa, đã xuất hiện những xã hoàn toàn, châu hoàn toàn. Tại những nơi đó, Việt Minh nắm chính quyền, bước đầu thử nghiệm mô hình chính quyền nhân dân, xây dựng cuộc sống mới.

Mặt trận Việt Minh ra đời là sự kế tục sự nghiệp đấu tranh của các tổ chức mặt trận đã được Đảng ta tổ chức trước đó: Hội phản đế đồng minh (11/1930); Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (7/1936); Mặt trận Dân chủ Đông Dương (3/1938); Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (11/1939).

Mặt trận Việt Minh ra đời là kết quả của quá trình vận động cách mạng, là sản phẩm của sự điều chỉnh chiến lược cách mạng Việt Nam đúng đắn sáng suốt của Đảng ta từ Hội nghị Trung ương 6 (11/1939) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì và sau đó được Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh hoàn thiện tại Hội nghị trung ương 8 (5/1941).

Mặt trận Việt Minh còn là sự hiện thực hóa kết quả thắng lợi của sự phát triển đường lối, chủ trương chiến lược đoàn kết dân tộc, tập hợp đoàn kết quần chúng trong một tổ chức mặt trận dân tộc thống nhất, đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng, đưa cách mạng đến thắng lợi.

Sự thành lập và hoạt động của Việt Minh đã trở thành nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Sự ra đời và hoạt động của Mặt trận Việt Minh là kết quả của một tư tưởng cách mạng khoa học, sáng tạo. Đây cũng là một bài học thành công của Đảng ta và Hồ Chí Minh về công tác mặt trận và chiến lược đoàn kết dân tộc trong Cách mạng Việt Nam.

Trong suốt một thập kỷ, mọi thắng lợi của dân tộc, nhân dân ta đều gắn với hai chữ Việt Minh. Đồng chí Hoàng Quốc Việt trong tập hồi ký “Ánh sáng mới từ Pắc Bó – Đầu nguồn” viết: “Hai chữ Việt Minh trong một thời kỳ dài làm nức lòng đồng bào cả nước. Hai chữ Việt Minh còn mãi trong lịch sử chói lọi nét vàng son”.

Bạo lực cách mạng chống bạo lực phản cách mạng, giành chính quyền và bảo vệ chính quyền

Từ những chặng đầu tiên trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại của mình, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức rõ con đường tiến lên của Cách mạng Việt Nam là con đường bạo lực cách mạng vô sản. Bởi, độc lập tự do không thể cầu xin mà có… Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cần phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền. Quan điểm đó xuyên suốt trong cả quá trình Hồ Chí Minh lãnh đạo Cách mạng Việt Nam.

Hội nghị Trung ương lần thứ 8 cũng là mốc lịch sử đánh dấu bước phát triển hoàn thiện tư tưởng Hồ Chí Minh về vũ trang khởi nghĩa ở Việt Nam. Đó là cuộc khởi nghĩa vũ trang giành độc lập dân tộc do toàn thể dân tộc tiến hành “Đó là một cuộc đấu tranh to tát về chính trị và quân sự”.

Phương thức tiến hành khởi nghĩa từng phần tiến tới Tổng khởi nghĩa đã được Hồ Chí Minh nêu lên từ sớm: “Ở các nước Âu Mỹ, cuộc khởi nghĩa thường bắt đầu từ các cuộc đấu tranh chính trị rồi mới tiếp đến các cuộc vũ trang bạo động. Ở Đông Dương ta, khởi nghĩa có thể bùng ra ở một vài nơi rồi lan dần khắp nước. Khởi nghĩa có thể bùng ra ở nơi nhiều núi rừng tiện cho việc đánh du kích”.

Sau khi Bác về nước, trong những năm 1941 – 1944, những đội du kích, đội tự vệ được xây dựng ở nhiều xã, nhiều huyện thuộc tỉnh Cao Bằng. Những trung đội cứu quốc quân 1, 2, 3 – lực lượng vũ trang cách mạng được duy trì sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn tiếp tục được củng cố. Đây là lực lượng nòng cốt hỗ trợ cho phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng đang dâng cao, đặc biệt trong các tỉnh thuộc khu giải phóng Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên.

Trong khí thế đang lên của phong trào cách mạng, tháng 5/1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị: “Về sửa soạn khởi nghĩa”. Tháng 10/1944, Trung ương Đảng lại ra lời kêu gọi: “Sắm vũ khí đuổi thù chung”. Các địa phương ra sức củng cố xây dựng lực lượng vũ trang, tìm kiếm vũ khí, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền… Phong trào chuẩn bị khởi nghĩa sôi nổi lan rộng.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ những bước phát triển của lực lượng vũ trang và việc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa phải phù hợp với sự phát triển của tình thế cách mạng. Vấn đề quan trọng nhất là phải có đường lối chiến lược và sách lược cách mạng đúng đắn, phải chuẩn bị lực lượng đầy đủ, tạo thời cơ và nắm vững thời cơ, để khi thời cơ đến có thể nhanh chóng huy động lực lượng chớp thời cơ giành thắng lợi.

Đến tháng 7/1945, phát xít Đức, Italia đã bại trận trên chiến trường châu Âu, ở châu Á, phát xít Nhật đang trên đường thất bại và sụp đổ. Dù đang ốm nặng giữa rừng Tân Trào, Hồ Chí Minh vẫn chỉ thị cho các đồng chí: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, giữa phát triển phong trào quần chúng, xây dựng căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị lực lượng chính trị và nhạy bén chớp thời cơ phát động toàn dân đứng dậy tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Mở cửa để Cách mạng Việt Nam thành một phần của cách mạng thế giới

Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp chỉ đạo Cách mạng Việt Nam cũng mang về những nhận định mới về tình hình thế giới và đề ra sách lược đối ngoại cho Cách mạng Việt Nam.

Là chiến sĩ cách mạng có kinh nghiệm hoạt động quốc tế lâu năm, luôn luôn theo dõi sát những diễn biến của tình hình, Nguyễn Ái Quốc có những nhận định quan trọng về tình hình thế giới cũng như đề ra những quyết sách cho Cách mạng Việt Nam trong bối cảnh Chiến tranh Thế giới thứ II đang lan rộng.

“Cuộc chiến tranh này gây ra nhiều tai họa cho nhân loại nhưng nó sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, do đó mà cách mạng nhiều nước sẽ thành công”, Nguyễn Ái Quốc nhận định, khi các kẻ thù của dân tộc lao vào cuộc chiến tranh sẽ tạo những cơ hội quý báu cho công cuộc giải phóng của nhân dân Việt Nam.

Người cũng truyền đạt và bồi dưỡng những nhận thức về tình hình quốc tế cho nhiều cán bộ trong các lớp bồi dưỡng chính trị cấp tốc, truyền cho họ sự tin tưởng vào thắng lợi của Cách mạng Việt Nam, thắng lợi của cách mạng các nước thuộc địa và cách mạng thế giới nói chung.

Bến Nhà Rồng TP Hồ Chí Minh, nơi cách đây tròn 100 năm, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: Thanh Vũ-TTXVN

Nguyễn Ái Quốc đã đặt Cách mạng Việt Nam trong bối cảnh chung của cuộc đấu tranh của toàn nhân loại chống chủ nghĩa phát xít. Nguyễn Ái Quốc tìm cách đặt mối liên hệ với đồng minh cho Cách mạng Việt Nam, để cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam hòa nhập trong cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại.

Người cũng là đầu mối trực tíếp trong nhiều mối quan hệ với các nước đồng minh, để Cách mạng Việt Nam có cơ hội nhận được những sự giúp đỡ trực tiếp bằng vật chất cho cuộc kháng Nhật cứu nước nhưng điều quan trọng hơn là tạo ra những tiền đề cho việc xác lập vị thế của nước Việt Nam độc lập trên trường quốc tế sau này.

Hồ Chí Minh đã thiết lập được những mối quan hệ với các lực lượng chống Nhật ở Trùng Khánh, với các cơ quan quân sự và tình báo Mỹ ở Côn Minh… Các đội du kích cách mạng ở Cao Bằng cũng đã nhận được những sự hỗ trợ về vũ khí, về phương tiện thông tin liên lạc và sự huấn luyện của một số chuyên gia quân sự đồng minh.

Trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn chú ý đến việc mở rộng cánh cửa để Cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, để cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một bộ phận của cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hòa bình và những giá trị nhân đạo.

*  *  *

Nhiều nhà nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã thống nhất trong nhận định rằng: Hồ Chí Minh là một lãnh tụ luôn xuất hiện đúng lúc tại những thời điểm lịch sử mang tính bước ngoặt. Sự kiện Người trở về Việt Nam trực tiếp lãnh đạo cách mạng vào mùa xuân năm 1941, sau những năm dài tìm đường cứu nước, cũng là một sự kiện như vậy.

Ngô Vương Anh

baotintuc.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước và 6 điều Người dạy lực lượng CAND

Trung Tướng, GS.TS Trần Đại Quang, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Thứ Trưởng Bộ Công An

Cách đây tròn 100 năm ngày 5/6/1911, từ cảng Sài Gòn, với thẻ làm việc mang tên Nguyễn Văn Ba, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc trên con tàu Latuche de Tréville đi Pháp với một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu1.

Ra đi trong cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân chìm trong đau khổ, Nguyễn Tất Thành đến với phương trời xa lạ mang mỹ từ: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” để tìm hiểu những gì ẩn giấu đằng sau vẻ mỹ miều của cụm từ đó và cả tận cùng của sự thật với mong muốn: “Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta“2. Cuộc hành trình lênh đênh qua 3 đại dương, 4 châu lục và gần 30 quốc gia với nhiều nghề để vừa kiếm sống, vừa thâm nhập đời sống của những người cần lao, hòa mình trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc đã giúp người thanh niên Nguyễn Tất Thành thấu hiểu: Chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ cho giai cấp công nhân và nhân dân ở chính quốc cũng như các nước thuộc địa. Cũng chính cuộc hành trình đó đã giúp Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc đến được với Luận cương của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa trong bối cảnh mới của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc trên toàn thế giới, để từ đó hoàn toàn tin tưởng theo Lênin và quyết định “bỏ phiếu tán thành và trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp, tham gia Quốc tế III“3 (ngày 30/12/1920). Sự gặp gỡ Tư tưởng Nguyễn Ái Quốc – Lênin đã đưa Người trở thành một chiến sĩ cách mạng tiên phong, người Cộng sản chân chính tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc mình theo con đường cách mạng của Lênin.

Tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận khoa học và bản chất cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc khẳng định, đó là chủ nghĩa “cách mạng nhất, chân chính nhất“. Đi sâu nghiên cứu Chủ nghĩa Mác – Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga, Người khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản, bởi độc lập, tự do không thể cầu xin mà có…; trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cần phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền; một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ. Quan điểm đó xuyên suốt trong cả quá trình hoạt động, lãnh đạo cách mạng của Người và hình thành nên Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và an ninh quốc gia.

Ngày 3/2/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản thành một đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam, đánh dấu chuyển biến về chất của cách mạng nước ta, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối chính trị, xác định rõ con đường cứu nước, cứu dân, thể hiện tính quy luật lịch sử của xã hội Việt Nam trong thế kỷ XX: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn” 4.

Bến cảng Nhà Rồng.

Xây dựng lực lượng Công an nhân dân – công cụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng

Ngay khi Đảng ta mới thành lập, bằng kinh nghiệm và hoạt động thực tiễn đã được trải nghiệm, ngày 23/4/1931, Người viết thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lưu ý nhiệm vụ đề cao cảnh giác và giữ gìn bí mật để bảo vệ lực lượng cách mạng. Người căn dặn: “Các cơ quan không đặt bí hiệu hay sao? Sao mà nhiều lần cơ quan lộ rồi mà đồng chí cứ chui vào cho lộ. Hoặc có đứa phản chăng? Tài liệu bí mật, nhất là về giao thông có lộ không?… Nên tìm mi thuật gì mà giữ gìn lấy đồng chí trọng yếu chứ nếu nó cứ túm mòn những vắt khá đi thì hại cho công việc quá!… Thái Bình, Phủ Lý thì nó lại cứ giở sổ mà đi bắt người! Xem những việc đó thì có thể nói rằng Đảng còn kém đường bí mật công tác…“5.

Thực hiện sự chỉ đạo của Người, Đảng ta đã kịp thời đối phó với âm mưu khủng bố của địch, bảo vệ lực lượng cách mạng và phong trào đấu tranh của quần chúng. Đầu năm 1931, Thường vụ Trung ương Đảng đã thông báo cho các Xứ ủy chủ trương tổ chức Đội tự vệ công nông. Tháng 3/1931, Đảng ra Nghị quyết về tổ chức Đội tự vệ; đó là lực lượng nòng cốt đầu tiên bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng. Tháng 3/1935, tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng, qua tổng kết công tác đấu tranh chống phản cách mạng, công tác giữ gìn bí mật được Đảng ta coi là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động của Đảng. Đại hội còn có riêng một nghị quyết về đội tự vệ để lực lượng đó làm nhiệm vụ “hộ vệ quần chúng hàng ngày trong các cuộc tranh đấu“6.

Qua các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945, những nguyên tắc hoạt động bí mật mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút được từ thời kỳ hoạt động bí mật ở nước ngoài, đã được quán triệt sâu sắc trong việc phát triển lực lượng, các cuộc hội họp và phát triển tổ chức của Đảng và các tổ chức tiền thân của lực lượng Công an nhân dân. Năm 1943, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “về công tác giữ bí mật“, nêu rõ: “Nguy cơ bại vong của giặc Nhật mỗi ngày một gần; vì vậy, chúng ra tay khủng bố bừa bãi để phá hoại phong trào cách mạng và làm hậu thuẫn cho chính sách bóc lột táng tận của chúng. Do vậy, công việc của chúng ta khó khăn vô cùng. Một vô ý là đã làm tan vỡ một tổ chức và nguy hại cho bao nhiêu quần chúng ở chung quanh. Cho nên, các đồng chí phải biết áp dụng nguyên tắc bí mật cho triệt để mới mong tránh được gươm súng của quân thù“7.

Chính vì thực hiện tốt nguyên tắc hoạt động bí mật theo chỉ thị của Người nên lực lượng cách mạng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa được bảo vệ an toàn và phát triển mạnh mẽ, mặc dù kẻ địch ráo riết thực hiện các chiến dịch săn lùng, khủng bố.

Tháng 8/1945, với thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa, chính quyền cách mạng đã được thành lập trong cả nước. Lực lượng Công an nhân dân ra đời trong những ngày tháng sục sôi cách mạng đó, triển khai ngay nhiệm vụ bảo vệ thành quả mà cách mạng vừa mới giành được. Trên cương vị là Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng, Bác Hồ đã ý thức sâu sắc về tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh giữa cách mạng và phản cách mạng, bảo vệ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh lâu dài, cam go, phức tạp. Bác nhấn mạnh rằng, để bảo vệ lực lượng và thành quả cách mạng, lực lượng Công an nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng. Người thường xuyên quan tâm vấn đề xây dựng lực lượng Công an nhân dân làm lực lượng nòng cốt bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng. Người đã dày công nghiên cứu, vận dụng Tư tưởng của Lênin “giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn” để đưa ra phương hướng và biện pháp thích hợp trong các hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhằm giữ vững chính quyền cách mạng. Theo tư tưởng của Người, cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là cuộc đấu tranh thường xuyên, lâu dài. Tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 10 (tháng 1/1956), Người nói: “Nhân dân ta có hai lực lượng, một là Quân đội, để đánh thắng ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hoà bình. Một lực lượng nữa là Công an, để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại. Có lúc chiến tranh, có lúc hoà bình. Lúc chiến tranh thì Quân đội đánh giặc, lúc hoà bình thì luyện tập. Còn Công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hoà bình lại càng nhiều việc. Còn chủ nghĩa đế quốc, còn giai cấp bóc lột là còn bọn phá hoại. Chúng nhằm phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa (…) Nhiệm vụ của Công an là phải chặn tay bọn phá hoại (…). Địch không phải tài tình gì đâu. Nó phá hoại được vì ta sơ hở, chủ quan. Nếu Công an ta biết giữ gìn và biết dựa vào nhân dân, làm cho nhân dân cũng biết cách giữ gìn, không để sơ hở thì nhất định địch không làm gì được“8.

Nhưng để làm được việc đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Công an nhân dân phải chịu sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng. Tại buổi lễ thành lập Công an nhân dân vũ trang (tháng 3/1959), Người nói: “Công an nhân dân vũ trang, hay là Quân đội cũng thế, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng từ trên xuống dưới. Nhất định phải như thế”9. Quan điểm này của Người tiếp tục được khẳng định trong bài phát biểu tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 14: “Công tác Công an rất cần, rất quan trọng nhưng đồng thời cũng rất khó. Tình báo, gián điệp đế quốc rất nguy hiểm… Công tác Công an phải gắn chặt với đường lối chính trị của Đảng; nếu thoát ly đường lối chính trị của Đảng thì dù khéo mấy cũng không kết quả“10.

Nội dung tư tưởng, quan điểm Hồ Chí Minh về an ninh, trật tự còn thể hiện rõ tư tưởng đoàn kết toàn dân, dựa vào sức mạnh quần chúng nhân dân để bảo vệ thành quả cách mạng. Trong rất nhiều bài viết, bài nói chuyện của Người, tư tưởng đó được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, thể hiện một quan điểm nhất quán và sâu sắc. Trong lớp chỉnh huấn khoá 2 (ngày 16/5/1959) của Bộ Công an, Người chỉ ra rằng: “Làm Công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì Công an mới hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Nhân dân có hàng triệu tai mắt thì kẻ địch khó mà che giấu được. Nếu trong công tác, các cô, các chú được dân ủng hộ, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu thì nhất định các cô, các chú thành công”. Đây chính là vấn đề căn bản nhất trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về an ninh, trật tự mà nội dung cốt lõi được Người đặc biệt nhấn mạnh là tư tưởng về xây dựng tư cách người Công an cách mạng. Người khẳng định: nếu không dựa vào dân, không được dân tin yêu thì lực lượng Công an sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng để được dân tin, dân yêu và giúp đỡ Công an thì mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an phải “trau dồi đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân”, phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, có như vậy “mới xứng đáng là người cán bộ được Đảng và nhân dân tín nhiệm“.

Bác Hồ với các cháu thiếu niên dũng sĩ miền Nam (1969)

Ngày 11/3/1948, trong thư gửi đồng chí Giám đốc Công an Khu XII, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những phẩm chất đạo đức và tư cách người Công an cách mạng phải có, đó là:

Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính;
Đối với đồng sự phải thân ái, giúp đỡ;
Đối với Chính phủ phải tuyệt đối trung thành;
Đối với nhân dân phải kính trọng, lễ phép;
Đối với công việc phải tận tụy;
Đối với địch phải cương quyết, khôn khéo.

Sáu điều Bác Hồ dạy người Công an cách mạng là đạo lý, nguyên tắc, phương châm, thái độ đối nhân xử thế, là chuẩn mực về nhân cách mà mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an dù ở bất kỳ cương vị nào, hoàn cảnh công tác nào đều phải thường xuyên rèn luyện, phấn đấu. Sáu điều Bác Hồ dạy là di sản quý báu thể hiện đậm nét nhất tư tưởng, quan điểm của Bác về xây dựng người Công an cách mạng suốt đời vì nước, vì dân.

Sống, chiến đấu, công tác và học tập theo lời Bác dạy

Là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, chăm lo, xây dựng và dìu dắt, hơn 65 năm qua, lực lượng Công an nhân dân luôn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì nhân dân phục vụ. Suốt chặng đường xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Công an luôn tích cực hưởng ứng và tự giác thực hiện sáu lời dạy của Bác với những nội dung sáng tạo, thiết thực, hình thức phong phú, bám sát yêu cầu công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng.

Việc học tập, thực hiện 6 điều Bác dạy không chỉ dừng lại ở chỗ nghiên cứu, thấm sâu nhận thức, mà còn biến thành hành động, thể hiện ở những việc làm cụ thể, thiết thực hằng ngày của từng người. Trong suy nghĩ và việc làm, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an dù là lãnh đạo, chỉ huy hay cán bộ, chiến sĩ đều lấy 6 điều dạy của Bác, tấm gương đạo đức của Bác để tự soi mình, tự sửa mình, phấn đấu để không ngừng hoàn thiện bản thân. Qua đó, nêu cao vai trò nòng cốt trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

Cũng từ việc học tập, thực hiện sáu lời dạy của Bác, lực lượng Công an nhân dân đã không ngừng xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân; dựa vào dân để công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng, được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, tích cực tham gia công tác bảo vệ an ninh, trật tự, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong quá trình công tác và chiến đấu, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an luôn ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong“; ra sức phấn đấu, học tập, rèn luyện, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy 6 điều Bác dạy Công an nhân dân làm tiêu chuẩn rèn luyện phẩm chất, tư cách đạo đức và nâng cao năng lực công tác của mỗi người.

Việc thấm nhuần sâu sắc lời của Bác và tích cực tham gia phong trào học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân đã góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; có phẩm chất đạo đức trong sáng; kỷ cương, kỷ luật chặt chẽ; đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động. Phong trào luôn được duy trì và liên tục phát triển, thực sự là động lực quan trọng thúc đẩy, động viên, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Mỗi giai đoạn cách mạng, phong trào học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân được triển khai một cách thiết thực, hiệu quả bằng những nội dung và phương thức cụ thể, song mục đích hướng tới không nằm ngoài tư tưởng chỉ đạo của Người. Bởi vậy, thời kỳ nào lực lượng Công an nhân dân cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đã có ngày càng nhiều tập thể, cá nhân công tác tận tụy, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam.

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng cường và chủ động hội nhập quốc tế, bên cạnh những thuận lợi rất cơ bản, công tác đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội đã và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới không thể xem thường. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ những nhiệm vụ hết sức nặng nề trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, đó là: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị – xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trật tự an toàn xã hội; ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch…“11, trong đó giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, mà lực lượng Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt.

Để triển khai có hiệu quả nhiệm vụ vẻ vang đó, cùng với việc quán triệt sâu sắc yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, lực lượng Công an nhân dân càng phải nỗ lực phấn đấu, đề cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, với ý chí vượt lên mọi khó khăn, thử thách; chú trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân; cải tiến, đổi mới nội dung, phương thức công tác chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ, thường xuyên tổng kết và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phong trào “Học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân” gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ”.

***

Kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và 121 năm Ngày sinh của Người, lực lượng Công an nhân dân ngày càng nhận thức sâu sắc đường lối cách mạng mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho dân tộc Việt Nam là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người; phương pháp bảo vệ chính quyền được Người chỉ đạo áp dụng là dựa trên tư tưởng “Giành chính quyền đã khó, bảo vệ chính quyền càng khó hơn”; phương pháp công tác Công an theo Người là: “phải dựa vào dân, không được xa rời dân” và phẩm chất đạo đức mà người Công an cần có chính là 6 lời dạy của Người.

Lực lượng Công an nhân dân nguyện tiếp tục đi theo lý tưởng cách mạng cao đẹp của Người, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, thường xuyên nâng cao ý thức tự phê bình và phê bình, tăng cường gắn bó máu thịt với nhân dân, bồi đắp ý chí quyết tâm xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với sự tin cậy của Bác Hồ lúc sinh thời, đáp ứng tình cảm và mong muốn của Đảng, Nhà nước và nhân dân đã và đang dành cho lực lượng Công an nhân dân Việt Nam

——-
(1) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, tập 1, tr.94
(2) Trần Dân Tiên – Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1994. tr.13
(3) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, SĐD, tập 1, tr.94.
(4) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.10
(5) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.78
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 5, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.91
(7) Văn kiện Đảng, tập 1, BNCTKLS Bộ Công an xuất bản, 1967, tr.314-315
(8),
(9) Hồ Chí Minh, Về an ninh, trật tự, Viện CL và KHCA, NXB CAND, Hà Nội, 2005, tr.81,82
(10) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.117
(11) Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

T.Đ.Q.

cand.com.vn

Kỳ 2: Nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc

Tìm ra con đường chân lý QĐND Online – Hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”, đó là dự định đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tresville”, từ bến cảng Nhà Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…).

Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ… Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: Cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Từ đó, Người đi đến kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: Nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Sống hòa mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp. Ngày 18-6-1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Véc-xây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.

Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác – Lê-nin… Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lê-nin đăng trên báo LHumanité tháng 7-1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Trong bối cảnh bấy giờ có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận ra được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam soi sáng đường cách mạng.

Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12-1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người – từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sỹ cộng sản. Đồng thời, sự kiện đó cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.

Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: Truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng… Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản.

Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí dự Quốc tế Cộng sản V

Sau hơn 40 năm xa Tổ quốc, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng là bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.

Lịch sử đã khẳng định và chứng minh rằng: Việc tìm ra con đường cứu nước, con đường phát triển dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn. Đó là, đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hóa chung của nhân loại và xu thế của thời đại.

Quá trình mà người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết ra đi tìm con đường chân lý đến khi Người trở thành Lãnh tụ Hồ Chí Minh là quá trình đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lê-nin soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và châu Á nói riêng.

Kỳ 3: Tầm nhìn và những quyết định sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước bước ngoạt của cách mạng

Theo Quân đội nhân dân
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Kỳ 1: Hành trình mở trang sử mới

Bến Nhà Rồng hiện nay trong lung linh ánh điện-Ảnh Internet

QĐND Online – Ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành bước chân xuống con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville) với mục đích tìm ra con đường cứu nước. Hành trình cách mạng của người thanh niên ấy (sau này là lãnh tụ Hồ Chí Minh) đã mở ra một trang mới cho lịch sử dân tộc Việt Nam. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, báo QĐND Online gửi đến bạn đọc tư liệu tổng hợp về một phần hành trình của Người…

Bối cảnh lịch sử Việt Nam

Những năm cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hóa. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: Giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.

Trước sự áp bức, đè nén của thực dân Pháp, truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam đã phát huy mạnh mẽ. Các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi: Phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội; phong trào chống sưu thuế của nông dân ở Trung Kỳ; phong trào đánh Pháp như: vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế… Thực dân Pháp đã tìm mọi cách để dập tắt các phong trào yêu nước đó và sau khi dập tắt phong trào , thực dân Pháp bắt tay vào cuộc khai thác thực địa để làm giàu cho chính quốc.

Sở dĩ các phong trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại có nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Giai cấp phong kiến, có vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế quốc. Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụ thuộc và khuynh hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do.

Trong bối cảnh đó, xuất hiện một con người – người mà sau này trở thành lãnh tụ của cách mạng Việt Nam. Đó là Nguyễn Sinh Cung – Nguyễn Tất Thành.

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, ở một địa phương có truyền thống yêu nước nồng nàn. Từ lúc tuổi còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, hấp thụ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc cũng như vốn kiến thức Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh, Người càng tỏ rõ tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành tuy lúc đó chưa gặp chủ nghĩa xã hội, nhưng đã thể hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”.

Thất bại của các cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… nói lên một sự thật lịch sử là: Không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Các đường lối và phương pháp này đều không đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đòi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ.

Mô hình lớp học ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết), nơi Thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học trước lúc ra đi tìm đường cứu nước. (Ảnh Intrenet)

Vốn có tư chất thông minh, tinh thần ham học hỏi, khả năng tư duy độc lập, tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới, Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” và thôi thúc bởi ý định tìm hiểu “cái gì ẩn dấu sau” những mỹ từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu hiệu đó. Những tư tưởng tiến bộ của cuộc cách mạng ở Pháp năm 1789, thành tựu văn minh, tiến bộ của nhân loại ở Pháp và các nước châu Âu khác, đã thúc đẩy Người muốn đến tận nơi tìm hiểu. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành quyết định chọn nước Pháp, chọn châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911.

Tình hình chính trị thế giới

Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và đã xác lập được sự thống trị trên phạm vi thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chúng. Chủ nghĩa đế quốc vừa tranh giành xâu xé, vừa vào hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ bé. Cùng với những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản – mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh mâu thuẫn mới – mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Đời sống nhân dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vô cùng cực khổ, trong đó có nhân dân Việt Nam dưới xiềng xích của chế độ thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc bắt đầu phát triển và có xu hướng lan rộng.

Ở Trung Quốc, lúc ấy đất nước rộng lớn này bị các nước tư bản phương Tây xâu xé và cũng đang tìm lối ra nhưng đến giữa năm 1911, nhìn chung vẫn chưa có lối thoát mà phải đợi đến tháng 10-1911, dưới sự lãnh đạo của Tôn Dật Tiên, Trung Quốc mới tìm thấy hướng đi thông qua cuộc cách mạng Tân Hợi.

Ở Ấn Độ, đất nước bị thực dân Anh đô hộ, những nhà ái quốc Ấn Độ cũng đang tìm hướng đi cho dân tộc mình và Đảng Quốc Đại đã bước lên vũ đài chính trị.

Ở In-đô-nê-xi-a (bị thực dân Hà Lan đô hộ), nhiều tổ chức yêu nước của trí thức tư sản tiến bộ ra đời, thu hút đông đảo nhân dân tham gia.Từ 1905, nhiều tổ chức công nhân được thành lập và bước đầu truyền bá chủ nghĩa Mác.

Đất nước Lào, đầu thế kỷ XX, nhân dân các bộ tộc Lào đã nhiều lần nổi dậy chống thực dân Pháp…

Như vậy, bối cảnh trong khu vực, thế giới có những thay đổi, đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc phải có những bước chuẩn bị tiền đề cho sự đi lên của mình. Và ngày 5-6-1911, với tên gọi Văn Ba, từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn cũ), trên con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville), Nguyễn Tất Thành trong vai người phụ bếp đã bắt đầu con đường sứ mệnh lịch sử đối với dân tộc Việt Nam.

Theo Quân đội nhân dân
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh và chặng đường trên nước Mỹ trong cuộc hành trình 30 năm ra đi tìm đường cứu nước

Bến cảng Sài Gòn- nơi người thanh niên yêu nước Nguyền Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước ngày 05/6/1911. Ảnh: Tư liệu

Yên ả và thanh bình là ước mơ ngàn đời của dân tộc chúng ta. Để giữ vững bờ cõi, bảo vệ non sông gấm vóc và tồn tại giữa một thế giới bạo tàn, từ bao đời nay, người Việt Nam đã phải liên tục gồng mình để chống lại nạn ngoại xâm. Đã có biết bao dân tộc bị diệt vong trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại. Kiếp nô lệ cam chịu chưa bao giờ được dân ta chấp nhận. Đời nào cũng vậy, sự quật cường đã giúp chúng ta ngẩng cao đầu.

Cuối thế kỷ XIX, cả phương Đông chìm trong cơn đại hồng thủy của Chủ nghĩa thực dân đế quốc. Sự bất công, điêu tàn, uất hận bao phủ lên bầu trời của quê hương, từ mọi ngóc ngách của xóm làng đến chốn kinh thành hoa lệ. Cũng như bao đời trước, đất nước mòn mỏi trông chờ những đứa con ưu tú, những vị anh hùng. Đó là những Thánh Gióng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung…. Họ là niềm tự hào, là vẻ đẹp, là khúc tráng ca trong bản hợp xướng bi hùng về sự trường tồn và bất tử của dân tộc. Lần này, người anh hùng không phất cờ từ trong dân giã hay từ chốn cung đình mà là bắt đầu từ một chuyến ra đi, không phải là để cầu cứu ngoại bang mà là để tìm chân lý, mong trả lại sức mạnh, sự tự do vốn có của dân tộc. Cuộc hành trình của Người là thiên anh hùng ca huy hoàng và vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Trong suốt chiều dài của cuộc hành trình, nước Mỹ là chặng đường dừng chân tuy ngắn ngủi của Người nhưng nơi đây thực sự đã giúp Người nhận thức một cách sâu sắc hơn về bản chất của chủ nghĩa tư bản, nỗi thống khổ của nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới trên hành trình tìm ra con đường giải phóng dân tộc.

Cậu bé Nguyễn Sinh Cung sinh ra ở làng Nam Đàn năm 1890. Xuất thân từ một gia đình nhà giáo nghèo nhưng cả quê nội Kim Liên và quê ngoại Hoàng Trù đều là những vùng đất hiếu học, khoa cử nên cậu bé Nguyễn Sinh Cung được thừa hưởng một nền giáo dục truyền thống, tốt đẹp từ cả bố và mẹ. Thân sinh của Bác, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc có ảnh hưởng trực tiếp đến Người bằng vốn học vấn uyên thâm, một trái tim yêu nước thương dân, một đức tính khiêm tốn, giản dị, sống gần gũi, gắn bó với nhân dân lao động. Mẹ của Bác, bà Hoàng Thị Loan chính là người đã khai tâm cho con trai bằng những bài học chữ Nho về triết lý ở đời trước tuổi cắp sách tới trường. Như vậy, từ thuở thiếu thời cho đến tuổi trưởng thành, Người đã nhận được sự giáo dục và nuôi dưỡng truyền thống nhân ái của dân tộc: Thương người, thương dân, là khát vọng có một cuộc sống tự do, no ấm, hạnh phúc. Chính chủ nghĩa yêu nước dạt dào tình nhân ái đó đã nhem nhóm trong trái tim Người một ý chí quyết ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

Chuyến hành trình dài 30 năm của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trở thành chuyến ra đi lạ lùng, vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc. Theo dòng thời gian, nó hòa vào ký ức dưới hình ảnh con tàu Đô đốc Latusơ Tơrêvin rời Bến cảng Sài Gòn ngày mồng 5/6/1911 mang theo chàng trai 21 tuổi quả cảm, dưới tên gọi Văn Ba, vượt trùng dương bao la, quyết đi tới những chân trời xa lạ “xem xét họ làm như thế nào, để trở về giúp dân tộc”.

Những trang hồ sơ còn lại đã trở thành tư liệu quý báu, ghi dấu ấn một phần những gì diễn ra cách đây gần một thế kỷ trong cái đêm dài nô lệ ấy của đất nước. Một chuyến ra đi khát khao tìm hiểu thế giới, nung nấu ý chí đổi đời cho đất nước bằng một trái tim nồng nàn, một tâm hồn cao cả, một ước nguyện mãnh liệt bắt đầu từ hai bàn tay trắng và những công việc nhọc nhằn gian lao của người phụ bếp. Đó là chuyến ra đi đầy chất phiêu lưu của một nhà cách mạng trẻ tuổi. Trước mặt không chỉ là một biển cả mênh mông sóng nước, mà còn là cả một biển đời sâu thẳm đầy sóng gió. Sau lưng là hình ảnh quê hương đang quằn quại trong đau thương, mong ngóng ngày trở về.

Tượng Nữ thần Tự do - biểu tượng của nước Mỹ. Ảnh: Internet.

Khoảng cuối năm 1912, Nguyễn Tất Thành đã tới miền Đông nước Mỹ trên chiếc tàu Latusơ Tơrevin từ Pháp, vòng qua Châu Phi, vòng sang châu Mỹ rồi tới NewYork. Đi qua hàng loạt quốc gia của cả 3 Châu lục Âu, Phi, Mỹ. Khi tới thăm tượng Nữ thần Tự do ở Mỹ, chàng trai trẻ đã ghi lại những dòng cảm tưởng như sau: “Ánh sáng trên đầu Thần Tự do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân Thần thì người da đen bị chà đạp. Bao giờ thì người da đen mới hết bị chà đạp? Bao giờ thì người da đen và người phụ nữ mới có bình đẳng? Bao giờ mới có sự bình đẳng giữa các dân tộc?”. Thật ra cho tới lúc này, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã nắm được bản chất khái quát của thế giới hiện tại, đó là thiểu số người giàu cai trị và áp bức người nghèo. Các nước giàu mạnh xâm lược, thống trị và đàn áp các nước nhược tiểu. Bạo lực, bất công, bóc lột thay cho từ “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” bởi đó chỉ là những ước mơ xa vời. Bằng con mắt tinh đời và trái tim nhạy cảm, chàng trai đã thấu hiểu được lòng dạ sói lang của nước Mỹ tư bản. Dưới gầm trời này, giai cấp cần lao chỉ có thể sống đời nô lệ dưới sự đày đọa của đồng loại giàu có, tham lam, độc ác và bạo tàn, các dân tộc bị áp bức chỉ có thể quằn quại, rên xiết dưới gót giày của kẻ xâm lược. Giá trị nhân văn của Cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ đã bị phản bội ngay từ khi mới ra đời. Xã hội Mỹ lúc bấy giờ không thể giải phóng được dân chúng và các dân tộc bị áp bức khỏi những bất công mà chỉ thay đổi xiềng xích này bằng xiềng xích khác.

Khu Harlem thuộc bang Georgia – nơi Nguyễn Tất Thành hay lui tới được coi là “cái đáy” của nước Mỹ – nơi bộc lộ rõ nhất bản chất của xã hội tư bản. Sự bần cùng ở khu vực người da đen vẫn hiện lên rất rõ như một minh chứng về sự tương phản giàu nghèo mạnh mẽ chẳng khác gì ở Việt Nam. Giáo sư Meri Ratner, Chủ tịch Viện nghiên cứu Mác ở NewYork đã có nhiều năm nghiên cứu về Hồ Chí Minh, đã từng nói: “Hồ Chí Minh đã học hỏi được nhiều từ trong những ngày ở nước Mỹ. Qua những tác phẩm viết về những cuộc hành trình của người da đen, có thể thấy Hồ Chí Minh đã nhận thấy sự tàn bạo của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Hồ Chí Minh là một người nhạy cảm, đến từ một nước thuộc địa, trải nghiệm thực tiễn trong một xã hội chủ nghĩa thực dân; là một trong những người đầu tiên không phải là người Mỹ viết về nạn phân biệt chủng tộc, về chủ nghĩa thực dân, xã hội tư bản. Ở Boston, Người thấu hiểu những nỗi thống khổ của người nghèo không có việc làm, không thể có được một cuộc sống theo đúng nghĩa của nó. Do đó Người cũng đã nhận ra được những vấn đề liên quan đến giai cấp, Người bộc lộ sự cảm thông đối với những số phận thống khổ trong xã hội, những người bị bóc lột”.

Khu Harlem - nơi được mệnh danh là “Black NewYork” do tập trung nhiều người dân da đen sinh sống nhất nước Mỹ. Ảnh: Internet.

Nguyễn Tất Thành tìm hiểu rất nhiều về hoàn cảnh của người da đen ở Mỹ, nhất là phong trào đòi nhân quyền kéo dài đã gần 300 năm mòn mỏi ngay từ khi họ mới được đưa từ Châu Phi sang dưới thân phận nô lệ. Có thể tạm chia xã hội Mỹ lúc bấy giờ thành các nhóm sau đây: Trên cùng là bọn thống trị và nhà giàu, tiếp đến là lớp trung lưu da trắng, dưới là dân lao động da trắng hoặc gốc Âu, dưới cùng của đáy xã hội là dân lao động gốc Phi (không kể những dân da đỏ bản địa bị cướp hết đất và dồn vào rừng núi). Dưới con mắt của Nguyễn Tất Thành, trật tự xã hội ấy sẽ bất di bất dịch theo đúng bản chất của nó. Đó chính là một trong những kết luận sáng suốt nhất của Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Số phận bi thảm sau này của nhà lãnh tụ tinh thần da đen Martin Luther King là một ví dụ minh chứng cho những điều đó. Một cửa xã hội rõ ràng không có lối ra mặc dù phong trào đấu tranh liên tục diễn ra và mạnh mẽ? Một đất nước như thế làm sao có thế giúp được một nước nhược tiểu như nước ta thoát khỏi vòng nô lệ không kể sau này nó còn trút hàng triệu tấn bom và chất độc xuống hủy hoại quê hương, tàn sát đồng bào ta, nhân dân ta một cách dã man, ghê rợn hơn cả giặc Pháp.

Hình ảnh Tòa thị chính của Thành phố Philadelphia.Ảnh: Internet.

Thủ đô Philađenphia – Thủ đô đầu tiên của nước Mỹ, nằm giữa Washington và Bantimo chính là điểm đến tiếp theo của Người trong cuộc hành trình trên nước Mỹ. Là nơi khởi nguồn của cuộc cách mạng đã đưa đến nền độc lập, Philadelphia đóng vai trò then chốt trong lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ. Tại Hội trường Độc Lập vào ngày 04/7/1776, đã diễn ra cuộc họp đầu tiên của Quốc hội để thông qua bản Tuyên ngôn độc lập và dự thảo Hiến pháp Hoa Kỳ. Tác giả chính của những văn kiện này chính là Thomas Jefferson.Giáo sư Sophie Quinn Judge – một nhà nghiên cứu về Châu Á, tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Hồ Chí Minh – những năm tháng đã qua” đã viết : “Hồ Chí Minh đã viết rất nhiều bài báo cho Quốc tế cộng sản, qua đó có thể thấy Người đã nhìn thấy rõ sự bất công trong xã hội Mỹ. Người cũng nhận thấy rõ nhiều vấn đề đã được nêu trong Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp của nước Mỹ. Trong hoạt động chính trị, Người cũng đã nghiên cứu kỹ về hình thái của xã hội Mỹ cùng với hình thái xã hội của Liên Xô và nhiều nước khác được chia thành 2 nhóm: Các nước bóc lột và các nước bị bóc lột. Đó có thể là lý do vì sao Hồ Chí Minh đã đưa một số nội dung của Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ và Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam vào ngày 02/9/1945. Nhưng có thể khẳng định một điều, Hồ Chí Minh là một người có sự nhạy cảm và sự nhận biết tinh tế về chính trị để phân biệt những mặt tích cực và tiêu cực của hình thái xã hội Mỹ. Và Người đã nhận thức được một vấn đề quan trọng: Nước Mỹ không thể giúp Việt Nam bảo vệ quyền lợi dân tộc.”

Khi đó, Người hiểu rằng, chế độ xã hội dựa trên lợi nhuận không thể giúp các dân tộc thuộc địa giải quyết vấn đề của mình. Nhân dân lao động ở Mỹ lúc đó đã có chút nhận thức về vấn đề giai cấp; phong trào cộng sản, phong trào dân tộc cũng đã diễn ra một cách mạnh mẽ. Người đã tham gia thảo luận với nhiều chủ đề như : “Điều gì đang xảy ra ở phương Tây?”; “Sự cần thiết phải có một chế độ xã hội khác”; “Sự cần thiết của độc lập dân tộc”… Qua việc tìm hiểu sự đối xử dã man đối với người da đen, Hồ Chí Minh nhận thấy rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản. Cũng trong thời gian kiếm sống cùng khổ với người dân lao động, Người nhận ra khoảng cách ngày càng giãn ra giữa tầng lớp người giàu và người nghèo và chính điều đó đã thôi thúc Người đến với cuộc đấu tranh vì quyền lợi chính đáng của người lao động. Họ cần thức ăn, nhà ở, được lao động và hưởng thụ văn hóa. Đối với nhiều người Mỹ, Hồ Chí Minh thực sự đã trở thành biểu tượng cho sự đấu tranh công bằng, bình đẳng và sự tiến bộ xã hội.

Khách sạn Omni The Packer House ở Thành phố cảng Boston (nằm phía Tây bang Massachusetts) cũng là nơi Bác đã từng sống và làm việc. Tại khách sạn này, Bác đã từng là một người thợ làm bánh. Hiện nay, gian chế biến bánh ngọt dưới tầng hầm vẫn giữ nguyên chiếc bàn đá bị sứt mẻ một góc từ khi Bác còn làm việc không thay mới cũng không sửa chữa như để kỷ niệm những tháng ngày của một vĩ nhân cách nay cả thế kỷ.

Khách sạn Omni The Packer House ở Thành phố cảng Boston - nơi Bác đã từng là một người thợ làm bánh làm việc tại đây năm 1913. Ảnh: Internet.

Bản chất cường quyền và bành trướng của chính quyền nước Mỹ đã được Nguyễn Tất Thành phát hiện và khẳng định ngay từ khi Người đặt chân lên đất nước này trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước của mình, không phải đợi cho tới khi nước này viện trợ cho Pháp xâm lược Việt Nam, hay khi điều khiển chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm “lê máy chém” đi khắp miền Nam Việt Nam tàn sát, giết hại đồng bào, hay “rải thảm bom” B52 xuống Hà Nội năm 1972. Chính thiên tài Hồ Chí Minh đã cảnh báo được mầm mống tai họa đối với thế giới từ rất sớm, ngay tại mảnh đất mà nó mới manh nha. Đó là sự nguy hiểm của sức mạnh khi nó đồng hành với khao khát quyền lực, của cải và lãnh thổ. Bài học muôn đời này rất dễ thấm nhưng cực khó để làm theo. Thông điệp đó thực sự là một di sản bởi lý tưởng về tự do cho nhân loại không bao giờ được thực hiện bởi bàn tay của những kẻ chà đạp lên tự do của người khác.

Hành trình trên nước Mỹ đã góp phần quan trọng cho sự trưởng thành về tư tưởng nhận thức và tâm hồn của nhà cách mạng trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc. Sự thống trị hà khắc, nỗi thống khổ khôn cùng với cảnh nhân phẩm và cuộc sống bị chà đạp thô bạo đã làm quặn đau trái tim nhân hậu của Người; đồng thời bộc lộ bản chất rõ ràng của xã hội tư bản cùng Chủ nghĩa thực dân tàn bạo mà nó sinh ra. Cũng từ chuyến hành trình trên nước Mỹ này, tình thương yêu đồng loại cùng cảnh ngộ không phân biệt quốc gia, dân tộc càng nồng nàn trong trái tim của Người, góp phần tạo nên phẩm chất sáng ngời về tinh thần Quốc tế cộng sản của Nguyễn Ái Quốc được cả thế giới khâm phục và kính trọng. Nó cũng góp phần tạo nên tính kiên định cách mạng, ý chí đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng con người và giải phóng dân tộc mà Bác Hồ đã theo đuổi trong suốt cuộc đời gian lao, vĩ đại của mình./.

Hồng Vượng

bqllang.gov.vn