Thư viện

Hồ Chủ tịch và “Hành trình đi tìm tự do”

(Dân trí) – “Hành trình đi tìm tự do” – Đó là nhan đề bài viết của Laura Lam về Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó tác giả lần theo dấu chân nhà lãnh đạo kiệt xuất của Việt Nam, ngược lại những năm tháng Người rời quê hương đến Pháp để tìm đường cứu dân tộc.

>> Nguyễn Ái Quốc những năm đầu tìm đường cứu nước

Cụ tôi thường nói lính Pháp đã bắt Vua Hàm Nghi và đày ông sang Algeria đúng năm cụ sinh ra, năm 1888. Cụ được cha mẹ kể lại quân đội thực dân đã đốt làng và đàn áp phong trào kháng chiến Cần Vương như thế nào. Nhiều nhà lãnh đạo bị tra tấn và xử tử. Cuộc chiến đấu kéo dài cả thế kỷ chống thực dân Pháp kết thúc với chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng năm 1954. Nguyễn Ái Quốc, sinh năm 1890, là nhân vật của thời đại.

Lối vào thư viện St. Genevieve

Ở trung tâm thủ đô Paris, tôi thường đi qua Thư viện St Genevieve – một trung tâm công cộng lớn mà các sinh viên và các nhà nghiên cứu ở những trường học xung quanh và Sorbonne thường lui đến. Tám mươi năm trước, đây là nơi Nguyễn Ái Quốc rất yêu thích và chỉ cách chỗ ông ở vài phút đi bộ. Giống như Karl Marx đã dùng tất cả thời gian của mình ở phòng đọc của Thư viện Bảo tàng Anh, người cha của nền độc lập Việt Nam đã miệt mài ở St Genevieve. Phía trước mặt tiền dài và thoáng rộng của St Genevieve, hướng về Pantheon, khắc một danh sách tên những nhà văn nổi tiếng. Tôi đồ rằng Nguyễn Ái Quốc đã từng đọc những dòng chữ này khi ông tới đây, vì vậy, tôi quyết tâm đi tìm câu trả lời.

Nguyễn Ái Quốc khi sinh thời là Nguyễn Sinh Cung, đến năm 11 tuổi mới được cha đổi tên là Nguyễn Tất Thành. Ông theo học trường Quốc học Huế danh tiếng. Nhận thức của ông chịu sự ảnh hưởng rất lớn của thuyết Khổng Tử. Khi còn nhỏ, ông rất tò mò về phương Tây. Ông từng nói: “Khi tôi 13 tuổi, tôi đã từng lần đầu tiên nghe nói về Tự do, Bình Đẳng và Bác ái… Tôi muốn tự mình làm quen với văn hóa Pháp, để tìm hiểu điều gì ẩn sau những khái niệm này”.

Đối nghịch với những phép tắc ở Mẫu quốc, không có tự do, bình đẳng và lòng bác ái ở Đông Dương. Sự bóc lột của Pháp được tóm tắt đầy đau đớn trong từng từ ngữ của cụ Phan Chu Trinh, với những giam hãm, đánh đập, lột da và dóc xương người dân bản xứ.

Để ngăn chặn phong trào cải cách đang ngày một lớn mạnh, chế độ thực dân đã kiểm soát gắt gao trường học tự do duy nhất là Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907 và bắt bớ những người sáng lập cùng những nhà trí thức tiến bộ khác. Là trường học đầu tiên trao quyền bình đẳng tiếp cận giáo dục cho nữ giới, Đông Kinh Nghĩa Thục cũng chủ trương ủng hộ cải cách xã hội và chính trị.

Danh sách các nhà văn nổi tiếng khắc phía trước thư viện St Genevieve

Ở tuổi 21, Nguyễn Tất Thành bắt đầu dạy chữ Quốc Ngữ và chữ Hán ở trường Dục Thanh danh tiếng tại Phan Thiết. Mỗi ngày, ông đến trường trong bộ áo dài cotton trắng, đầu đóng khăn xếp và chân đi guốc mộc. Các học trò cũng mặc quần áo dân tộc. Trường học nằm ở bên bờ phía Nam thơ mộng của sông chảy qua Phan Thiết. Thày giáo trẻ thường đưa các học trò của mình ra bờ sông để giảng dạy đạo lý và dã ngoại. Thỉnh thoảng, thày trò ngồi trên bãi đá, hát những bài ca yêu nước do chính mình sáng tác.

Nguyễn Tất Thành trở thành thày giáo được học trò rất yêu mến. Trong những buổi giảng bài như vậy, thày giáo Thành thường mở mang cho đầu óc non nớt của các trò những hiểu biết về nền văn minh phương Tây, quyền con người, sự bình đẳng, tự do cá nhân và những tư tưởng lớn của JJ Rousseau, Montesquieu, Voltaire… Tại thư viện ở Paris, ông chắc đã tiếp thu được còn nhiều hơn như vậy. Chắn chắn có nhiều tác phẩm vĩ đại khác thu hút sự chú ý của ông, như của các tác giả Shakespeare, Charles Dickens, Victor Hugo và Emile Zola.

Thực dân Pháp nghi ngờ trường Dục Thanh từ khi thày giáo Thành vẫn đang dạy học tại đây, cho rằng đây sẽ là một trường Đông Kinh nữa. Pháp lưu tâm đến hiệu sách ngay cạnh trường học, bán những tác phẩm của những nhà văn hàng đầu Việt Nam cổ vũ cho cải cách, với khẩu hiệu: “Hãy dẹp sang bên những gì lỗi thời và cổ hủ, nắm lấy cái mới và hiện đại”. Thực dân Pháp cảm thấy khẩu hiệu này đang chĩa mũi dùi vào các chính sách cai trị của chúng ở Đông Dương.

Thày giáo Thành luôn trăn trở và đã nghĩ đến việc nghỉ dạy học. Ông chứng kiến thường xuyên kiểu đối xử tàn ác của Pháp đối với người dân bản xứ và cảm thấy vô cùng tủi cực. Một lần, khi một cơn bão tràn qua tàn phá cảng Phan Rang, các viên chức Pháp đã lệnh cho các công nhân người Việt lặn xuống nước giữa lúc bão lớn để cứu thuyền. Nhiều người Việt Nam đã bị chết đuối, trong khi người Pháp xem đấy là trò tiêu khiển.

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở Tua (ảnh tư liệu).

Đầu năm 1911, thầy giáo Thành đến Sài Gòn, đổi tên là Văn Ba. Ông xin được làm phụ bếp cho tàu buôn Đô đốc Latouche Treville. Mỗi ngày, ông phải làm việc từ sáng sớm đến nửa đêm. Khi nhận việc, ông được hứa sẽ được trả 45 francs một tháng. Nhưng trước khi tàu cập cảng Marseille tháng 7/1911, ông được trao tổng số lương chỉ có 10 francs.

Lên bờ cùng một người bạn quen trên tàu, ông đi đến quán cafe vỉa hè ở Rue Cannebiere. Một người bồi bàn chào ông “Xin chào ngài!”. Ông rất ngạc nhiên và nói với người bạn: “Người Pháp ở đây tốt hơn và lịch sự hơn người Pháp ở Đông Dương”.

Trong nhiều thập kỷ sau đó, chàng thanh niên trẻ tên Thành sống ở nhiều nước khác nhau, bị truy đuổi, bị tù, vượt ngục, cả bị thực dân Pháp tuyên án tử hình. Nhưng ông vẫn làm việc không ngừng nghỉ để tranh thủ sự hỗ trợ từ những người đồng chí với khao khát cháy bỏng là chấm dứt chế độ thực dân ở quê nhà.

Ông đã luôn luôn vận động, đã thay đổi ít nhất là 45 tên và bút danh. Năm 1939, tên tuổi Nguyễn Ái Quốc đã trở nên rất nổi tiếng. Năm 1945, trên Quảng trường Ba Đình, tên gọi “Hồ Chí Minh” đã cùng ông làm nên lịch sử rạng ngời với tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 8 năm sau, tại Điện Biên Phủ, mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tuyên ngôn độc lập đã thành hiện thực. Tuyên ngôn này đã chứa đựng phần nhiều những gì Chủ tịch Hồ Chí Minh học được về tự do trong một thư viện lớn ở Paris.

Laura Lam
(Việt Hà dịch)

dantri.com.vn

Nguyễn Ái Quốc những năm đầu tìm đường cứu nước

(Dân trí) – Với cái tên Nguyễn Ái Quốc và lòng yêu nước mãnh liệt, Nguyễn Tất Thành (sau này được biết đến với cái tên Hồ Chí Minh) đã bắt đầu xây dựng nền móng đầu tiên trên con đường cứu nước của mình.

Dưới đây là chuyện kể về Nguyễn Ái Quốc trong những năm tháng đầu tiên đi tìm đường cứu nước của tác giả Laura Lam viết riêng cho Dtinews, trang tiếng Anh của báo Dân trí điện tử.

Một bức tranh biếm họa của Nguyễn Ái Quốc trên tạp chí Paria

Nguyễn Tất Thành đến Marseille lần đầu tiên vào tháng 6/1911. Sau một thời gian ngắn ở đây, nhà yêu nước trở lại tàu đô đốc Latouche-Tréville. Rồi con tàu rời tới Le Havre, Dunkirk và trở lại Marseille 3 tháng sau đó. Nguyễn Tất Thành đã viết một lá thư cho Tổng thống Cộng hòa Pháp, xin được tham dự Trường Thuộc địa (Colonial) với tư cách là một thực tập sinh. Trường này được thành lập vào năm 1889 để đào tạo các quan chức chính phủ đảm nhiệm các vị trí ở Đông Dương khi đó. Nguyễn Tất Thành nuôi hi vọng đây có thể là con đường hướng tới tự do ở đất nước mình.

Trong khi chờ câu trả lời, Nguyễn Tất Thành trở lại Sài Gòn, với hi vọng được gặp cha. Nhưng mọi nỗ lực tìm kiếm cha đều thất bại. Các anh chị em đã tham gia phong trào phản kháng vũ trang và chị gái đã bị binh lính thực dân bắt hai lần. Cha của Nguyễn Tất Thành cũng bị bắt giam năm 1912 và khi được thả ông bị người Pháp vẫn tiếp tục theo dõi.

Trở lại tàu, Nguyễn Tất Thành tới Marseille lần thứ ba và nhận được tin trường Colonial đã từ chối mình. Nguyễn Tất Thành trở lại tàu và tới Le Havre. Tại đây Nguyễn Tất Thành làm vườn cho một người chủ tàu và bắt đầu học để nâng cao trình độ tiếng Pháp.

Với sự giúp đỡ của người chủ tàu, Nguyễn Tất Thành nhận được việc làm tại Messageries Maritimes (công ty hàng hải cũ của Pháp), đi khắp các thuộc địa ở châu Phi. Trong một lần dừng ở Dakar, Nguyễn Tất Thành thấy một nhóm người châu Phi bị người Pháp yêu cầu lặn xuống cảng trong mưa bão để cứu các thuyền nhỏ. Nhiều người đã bị chết đuối. Nguyễn Tất Thành sau đó viết: “Người Pháp ở Pháp đều tốt. Nhưng người Pháp ở thuộc địa lại bạo tàn và vô nhân đạo. Ở đâu cũng vậy. Tôi đã chứng kiến sự đối xử tương tự ở Phan Rang. Người Pháp đã cười phá lên đầy vui vẻ trong khi những người yêu nước của chúng ta đang bị chết đuối. Đối với thực dân, mạng sống của một người châu Á, châu Phi không là gì”.

Nguyễn Tất Thành đã lênh đênh trên biển trong một thời gian dài, nhờ vậy mà tới được nhiều nơi như Rio de Janeiro, Buenos Aires, New York cùng Boston. Trong khi ở Boston, Nguyễn Tất Thành đã viết thư cho cụ Phan Chu Trinh và thông báo đang làm phụ bếp tại Khách sạn Parker House.

Năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời Boston và đến London. Công việc đầu tiên của Nguyễn Tất Thành tại đây là quét dọn tuyết tại một trường học, nhưng do không thể chống chọi được với cái giá lạnh đóng băng trong suốt nhiều giờ, Thành đã tìm một công việc khác, đó là làm than. Nhưng công việc này thậm chí còn cực nhọc hơn công việc trước, phải ở trong tầng hầm tối, nóng kinh hoàng từ sáng sớm cho tới đêm khuya.

Rồi không lâu sau Nguyễn Tất Thành được thuê làm phụ bếp ở khách sạnCarlton tại Haymarket. Kỹ năng và phong cách của Nguyễn Tất Thành đã gây ấn tượng được với đầu bếp nổi tiếng Escoffier và Thành được chuyển từ rửa bát sang làm bánh. Tranh thủ thời gian rảnh rỗi, Nguyễn Tất Thành  học tiếng Anh và tham gia vào Hiệp hội công nhân nước ngoài, hiệp hội có mục đích cải thiện điều kiện làm việc ở các nhà máy của Anh.

Năm 1917 Nguyễn Tất Thành nghỉ việc ở khách sạn Carlton và qua eo biển Anh tới Pháp.

Các hoạt động chính trị của Nguyễn Tất Thành trong những năm tháng ởLondon vẫn còn chưa được biết đến. Phải khi trở lại Pháp, Nguyễn Tất Thành bắt đầu tham dự các cuộc họp của Đảng Xã hội Pháp. Nguyễn Tất Thành định thành lập cơ quan liên lạc với các nhóm công nhân giữa Anh Quốc và Pháp. Các hoạt động công đoàn của Nguyễn Tất Thành nhanh chóng đưa ông liên hệ với các chính trị gia cánh tả và các nhà văn. Tại cuộc họp hàng tuần của họ, Nguyễn Tất Thành thỉnh thoảng được mời phát biểu để nói về điều kiện ở Đông Dương. Khi đứng lên giữa cuộc họp, Nguyễn Tất Thành không phải là một con người bình thường, ông được chú ý bởi “đôi mắt đen bừng sáng mỗi khi ông nói và dường như xuyên thấu tâm hồn của người quan sát”.

Giới chức Pháp ở Đông Dương ngày càng để ý tới hoạt động của Thành. Vào tháng 6/1917, toàn quyền Đông Dương đã thành lập một cơ quan tình báo để theo dõi tất cả các cá nhân được xem là mối nguy hiểm an ninh cho thuộc địa châu Á này cũng như trong lòng nước Pháp. Họ đã tuyển những người Việt Nam biết nói tiếng Pháp làm điệp viên để theo dõi các hoạt động hàng ngày của Thành.

Mùa đông năm 1918, ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, là một mùa đông vô cùng khắc nghiệt, thiếu nhiên liệu, chất đốt nghiêm trọng trên toàn nước Pháp. Vào ban đêm người ta phải mang rèm cửa ra để ủ ấm thêm. Nạn thất nghiệp lan tràn khắp nơi. Thành lúc đó đang sống với cụ Phan Chu Trinh và đã giúp đỡ cụ trong studio phục chế ảnh.

Vào đầu năm 1919 Nguyễn Tất Thành biết được tin về Hội nghị Hòa bình Quốc tế được tổ chức ở Versailles. Ông đã chuẩn bị một đơn kiến nghị gửi đến Ngoại trưởng Mỹ với hi vọng có sự can thiệp để giải phóng Việt Namkhỏi chế độ thuộc địa. Và đây chính là lúc ông lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, tức Nguyễn Yêu Nước, trong bản kiến nghị.

Giữa năm 1919, người Pháp đã “liệt” Nguyễn Ái Quốc là “người nổi loạn nguy hiểm nhất”, đe dọa đến an ninh Pháp ở Đông Dương.

Laura Lam
(Phan Anh dịch)

dantri.com.vn

Ra đi tìm đường cứu nước là sự khởi đầu một con đường đi đúng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911- 5/6/2011)

(TCTG)- 100 năm là độ lùi lịch sử đủ tin cậy để có thể khẳng định rằng: sự lựa chọn, khởi đầu chính xác của Nguyễn Tất Thành từ ngày 5/6/1911, đã góp phần làm nên “nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh và chắc chắn Người là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta, mà người ta có thể nói rằng: không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một con đường khác. Lịch sử đã đặt Người vào đúng chỗ của mình, trong quá trình đó, Người là nhân vật sáng tạo quyết định”.

Một quyết định đúng đắn

Trước khi rời Tổ quốc ra đi tìm đường giải phóng dân tộc, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống của người dân xứ Nghệ. Lòng yêu nước, ý chí ham học hỏi, ham hiểu biết của người cha; lòng yêu thương con trẻ, sự chịu thương, chịu khó của người mẹ; tinh thần vượt khó và vươn lên, cần cù trong lao động, cố kết trong tình làng nghĩa xóm của quê hương, đất nước, v.v..là chiếc nôi tốt, sớm nuôi dưỡng trong Nguyễn Tất Thành tình yêu nước, thương dân với một thiên hướng đặc biệt đến mẫn cảm. Tuy nhiên, tuổi thơ của Nguyễn Tất Thành có nhiều biến động. Không chỉ sống ở xứ Nghệ, Nguyễn Tất Thành còn được sống ở kinh thành Huế. Người không chỉ được học chữ Hán, bước đầu làm quen với thời đại qua những sách “Tân thư”, “Tân văn” bằng tiếng Hán, mà còn được học tiếng Pháp, làm quen với văn minh phương Tây qua câu khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” nổi tiếng của cách mạng tư sản Pháp 1789.

Hơn nữa, không chỉ chịu ảnh hưởng bởi các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta (cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa nông dân do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, mang “nặng cốt cách phong kiến” dù cốt cách đó có chiều dày hàng ngàn năm; phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh…theo lập trường dân chủ tư sản Việt Nam – một nước thuộc địa nửa phong kiến và tính không triệt để của nó) liên tiếp nổ ra và thất bại, mà Nguyễn Tất Thành còn sớm bị mất mẹ và người em ruột khi mới hơn 10 tuổi đầu.

Trong bối cảnh đó, những suy tư của một Nguyễn Tất Thành “sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào” đã được cộng hưởng bởi bầu không khí yêu nước, cảnh thực dân Pháp chém giết người yêu nước, đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta trong bể máu và những bất công diễn ra thường ngày…Luôn bận tâm, trăn trở về con đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đã dần hiểu được những hạn chế của các vị tiền bối cách mạng trong việc quy tụ sức mạnh của quần chúng nhân dân; khoảng cách quá xa trong tương quan so sánh lực lượng giữa một Việt Nam (đại diện cho phương thức sản xuất phong kiến đã lỗi thời) và thực dân Pháp (đại diện cho phương thức sản xuất TBCN hiện đại); cùng những bế tắc trong việc định hướng đường lối, con đường đi của các phong trào đấu tranh yêu nước.Vì vậy, dù rất khâm phục lòng yêu nước của các bậc tiền nhân, nhưng khác họ, qua những kiến thức mới mẻ tiếp thu được từ Tân thư, từ những năm tháng học tập, sinh sống ở Huế, và bằng nội lực bẩm sinh, Nguyễn Tất Thành hiểu rằng một thời đại mới, đòi hỏi một con đường đi mới, một phương thức đấu tranh mới, khác hẳn con đường cách mạng cải lương từng diễn ra, đó là làm cách mạng. Đây là một suy nghĩ đúng đắn, hợp quy luật và thời đại.

Dấu ấn quê hương và gia đình, sự tác động về nhiều mặt đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nguyễn Tất Thành, trong đó thực tế, sự hiểu biết, chí hướng yêu nước, hành động tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Trung Kỳ năm 1908, đã là cơ sở, là tiền đề chuẩn bị cho quyết định của Nguyễn Tất Thành sau này. Đầy nhiệt huyết và mang trong lòng hoài bão giành lại “độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi”, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định rời nhà trường, rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Và khác những vị tiền bối cách mạng, vì muốn tìm hiểu và khảo nghiệm thực tế những gì đang diễn ra trong lòng chế độ tư bản, trong “nội bộ kẻ thù của dân tộc mình”, Nguyễn Tất Thành đã chọn con đường sang phương Tây, nơi sản sinh những tư tưởng lớn, những cuộc cách mạng lớn với mong muốn, đến “xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào …sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”[1].

Vậy là, khi quyết định không sang phương Đông, không nhờ cậy vào những người “anh lớn” như Trung Quốc và Nhật Bản, mà muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn dấu đằng sau những từ mỹ từ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của Đại cách mạng tư sản Pháp, Nguyễn Tất Thành đã muốn học hỏi nhiều hơn những gì mình có, dân tộc mình có. Đó cũng đồng thời là, “trong khi lòng yêu nước và tư tưởng chống Pháp của các sĩ phu có nguồn gốc trong sự đối lập giữa hai nền văn hoá (Đông -Tây) và ở sự khác nhau về chủng tộc (da vàng – da trắng) thì tinh thần yêu nước và ý thức phản đế của Nguyễn Ái Quốc xuất phát từ chế độ xã hội với cốt lõi của nó là quan hệ giữa người với người”[2]. Xuất phát điểm này, sự vượt lên chính mình này, đã quyết định con đường đi sau đó của Người – mở đầu một chặng đường dài xa Tổ quốc.

Hành trình khảo nghiệm thực tiễn

Với ý chí và quyết tâm của một người dân mất nước, với nhiệt huyết và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu một con đường đúng, khi quyết định xin làm thuê trên tàu Đô đốc Latútxơ Trêvilơ, rời Tổ quốc ngày 5/6/1911 để “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”.

Suốt thời thanh niên sôi nổi của đời mình, Nguyễn Tất Thành dành cho việc lao động kiếm sống, tích luỹ tri thức và tìm hiểu đời sống chính trị, xã hội các quốc gia, dân tộc và các nền văn hoá của nhiều châu lục. Trải qua những tháng ngày lao động vất vả, bằng nghề làm phụ bếp trên tàu, thợ chụp ảnh, vẽ đồ giả cổ Trung Hoa ở thủ đô Pari của nước Pháp, cào tuyết cho trường học, bồi bàn trong khách sạn ở nước Anh, v.v..và vượt qua cái lạnh giá của châu Âu, với viên gạch ủ nóng thay cho lò sưởi, là một Nguyễn – Người thanh niên yêu nước đã sống, học tập và hoạt động không mệt mỏi.

Bằng những nỗ lực hoạt động của mình trong nhiều tổ chức, trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – một người dân nô lệ ở thuộc địa, ham học hỏi, không sợ cường quyền, từng bước vượt qua mọi thử thách, gian truân, luôn phấn đấu cao độ với một nghị lực phi thường và một định hướng chính trị đúng, để gom góp và đanh thép đưa ra bản cáo trạng tội ác thực dân – Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925.

Được chứng kiến nhiều diễn biến lớn của thời đại, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy những tồn tại, những khoảng cách và cả những bất công về quyền lợi và hưởng thụ trong lòng xã hội tư bản, tất yếu sẽ dẫn đến những “khủng hoảng” không thể tránh khỏi ở cả các nước chính quốc, như nước Mỹ (với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776) và nước Pháp (với bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng 1791). Đó chính là sự phân biệt giàu nghèo giữa những người bị áp bức và những kẻ bị áp bức ở các thuộc địa, giữa nhân dân lao động tại các nước tư bản với những tên thực dân, những kẻ hữu sản, và Người đã đưa ra nhận định sâu sắc: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”[3].

Một Nguyễn Ái Quốc sau chặng đường bôn ba qua nhiều châu lục, qua nhiều quốc gia trên thế giới, cùng với sự khảo nghiệm và so sánh đó, khi được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của Lênin (7/1920), đã đi đến một quyết định trọng đại – đó là đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, đến với con đường cách mạng vô sản, đến với cách mạng tháng Mười Nga và Quốc tế thứ ba do Lênin sáng lập. Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ tìm được con đường cứu nước, cứu dân phù hợp quy luật của thời đại, mà còn trang bị cho mình một nhân sinh quan mới để định hình con đường phát triển cho một đất nước Việt Nam còn lạc hậu, kém phát triển, nhưng ở đó “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”.

Đây là quá trình khảo nghiệm, tiếp biến và vượt gộp của Hồ Chí Minh, khi thâu thái tinh hoa, tri thức của các nền văn minh nhân loại, để vừa sáng tạo, vừa độc lập vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam sau đó. Và trong quá trình đó, Người không chỉ thành công trong việc vận dụng một học thuyết, vốn có cơ sở thực tế từ xã hội phương Tây vào thực tiễn một nước thuộc địa, nửa phong kiến, chưa phát triển như Việt Nam, mà còn phát triển học thuyết Mác – Lênin lên một tầm cao mới, phù hợp với phần thế giới còn lại – đó là những nước chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, mà Việt Nam là một điển hình.

Vậy là, với quyết định đi sang “phương Tây”, với hành trình gần 30 năm lao động, học hỏi và hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đã có thời gian khám phá, chiêm nghiệm, để hiểu được thực chất của “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, của pháp quyền, dân chủ và mô hình tổ chức Nhà nước tư sản; của nhân quyền, pháp quyền, dân chủ, mô hình tổ chức Nhà nước Xô viết, và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo tinh thần của V.I.Lênin. Và sự lựa chọn đúng đắn của Hồ Chí Minh sau khi đã “trưng cất” những tinh hoa của nền văn minh Đông và Tây, TBCN và XHCN, nói giản dị như linh mục Nguyễn Bá Cần, đó là “Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn Mác- Lênin bởi vì không còn một sự lựa nào khác”, và còn hơn thế nữa “Nguyễn Ái Quốc đã trở thành cộng sản vì….Liên Xô và Đệ tam quốc tế đã chủ trương giải phóng các dân tộc bị áp bức như là một chặng đường cần thiết trong cuộc giải phóng toàn diện con người …Họ đã đơn độc tố cáo những tội ác của thực dân và Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn họ”[4]. Sự lựa chọn con đường cách mạng chính xác này sẽ giúp Người thực hiện hoài bão của mình, đó là giải phóng dân tộc mình, giải phóng “các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”- sự nghiệp giải phóng toàn diện loài người.

Người trở về tạo dựng, lãnh đạo của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam thắng lợi

Từ những tri thức tích luỹ được, tháng 11/1924, một Hồ Chí Minh thấu hiểu được nguồn sức mạnh nội lực “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”; với niềm tin cháy bỏng về một Tổ quốc Việt Nam được độc lập, nhân dân Việt Nam được tự do; với mong muốn đem lại hạnh phúc “cho tất cả mọi người” đã về đến Quảng Châu, Trung Quốc. Trên cơ sở những nguyên lý của học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng, Nhà nước, về phương pháp vận động quần chúng, tập dượt đấu tranh cách mạng được tích luỹ trong những năm tháng hoạt động của tuổi trẻ, Nguyễn Ái Quốc đã tận tâm, tận lực truyền giảng cho những thanh niên Việt Nam yêu nước, đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán đầu tiên, chuẩn bị những tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức, để xúc tiến cho sự ra đời của một chính Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.

Mở lớp huấn luyện chính trị, thành lập tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1925, sáng lập báo Thanh niên 6/1925, tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, về Đảng Cộng sản, về cách mạng tháng Mười Nga, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh đầu năm 1927.v.v, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đem đến cho những thanh niên Việt Nam yêu nước, những người chủ tương lai của nước nhà, những người cũng giống như cha anh mình phải sống trong thân phận nô lệ, một luồng sinh khí mới, một con đường cách mạng mới. Bằng khát vọng tuổi trẻ và kinh nghiệm của chính bản thân mình, Người muốn thức tỉnh thanh niên, truyền cho họ con đường cách mệnh, để đi tới thức tỉnh cả dân tộc – Đó là phương pháp cách mạng đúng đắn, thể hiện một tầm nhìn vĩ đại.

Từ những định hướng chính trị nêu trên, cùng với những hoạt động về lý luận và thực tiễn, Người và những người Việt Nam yêu nước từng học tập ở Quảng Châu đã ngày mỗi ngày, góp phần đưa tư tưởng của thời đại mới về Việt Nam, đưa đến sự chuyển biến về chất trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sau đó, khi các tổ chức cộng sản Việt Nam ra đời, khi nguy cơ phân liệt, mất đoàn kết, sự tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau của các tổ chức cộng sản đe dọa sự phát triển của phong trào cách mạng cả nước, Hồ Chí Minh đã quyết định viết thư mời, triệu tập, tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (từ 6/1-8/2/1930) tại Hương Cảng, và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và rèn luyện, với đường lối cách mạng đúng đắn, nhân dân Việt Nam nồng nàn yêu nước, đoàn kết muôn người như một kiên cường đấu tranh cách mạng, sau 15 năm đấu tranh gian khổ, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã thành công. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Người dân Việt Nam đã từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập, tự do, với bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.

Như vậy là, hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành cách đây tròn một thế kỷ đã trở thành sự thật. Từ một sự khởi đầu đúng đắn, với ý chí, quyết tâm và sự phấn đấu không mệt mỏi cho con đường mình đã chọn, Hồ Chí Minh – Người ra đi từ bến cảng Sài Gòn năm xưa đã tìm thấy con đường và lãnh đạo nhân dân Việt Nam đi đến độc lập và thống nhất, tự do và hạnh phúc, ngày một phát triển và bền vững.

Đồng thời, cũng từ một sự khởi đầu đúng đắn đó, kiên định con đường cách mạng do Người và Đảng ta đã chọn, 100 năm sau – một nước Việt Nam hồi sinh sau những năm dài chiến tranh ác liệt, đã chủ động hội nhập toàn diện cùng bạn bè quốc tế đang ngày một giàu mạnh và phồn vinh. Vì vậy mà, sẽ không ngạc nhiên khi mỗi người nhìn thấy trên bức tường “Những người làm nên thế kỷ 20″ (Ils ont fait le XX Siecle) ở thủ đô Pari của nước Pháp, có nụ cười của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giữa những trí tuệ, những tâm hồn lớn của thời đại chúng ta – thời đại mà, dù thế giới vẫn còn nhiều đổi thay, vẫn còn bạo ngược và lẫn lộn, nhưng luôn có cuộc đời Hồ Chí Minh, một con người Hồ Chí Minh đã biết khởi đầu đúng và đi tới đích. /.

Bài và ảnh: TS. Văn Thị Thanh Mai

[1]Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Sự Thật, Hà Nội 1975, tr.13
[2] Nguyễn Khánh Toàn: Tuyển tập, Nxb. KHXH, 1999, tr.34
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H,1996, t.1, tr. 266
[4] Song Thành: Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb. LLCT, H, 2005, tr.60 (theo Lý Chánh Trung, Nói chuyện với người đã khuất ,Tạp chí Đất nước, Sài Gòn, số 14, tháng 10/1969)

tuyengiao.vn

Hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ra đi tìm đường cứu nước

1. Phong trào yêu nước chống Pháp diễn ra sôi nổi nhưng đều thất bại

Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hoá. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc cũng có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam. Các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi: phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản Đông Du, Đông kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội; phong trào chống sưu thuế của nông dân ở Trung kỳ; phong trào đánh Pháp như: vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế…

Các phong trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại. Nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Giai cấp phong kiến, có vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế quốc. Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụ thuộc và khuynh hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do. Giai cấp nông dân và tiểu tư sản khao khát độc lập, tự do, hăng hái chống đế quốc và phong kiến, nhưng không thể vạch ra con đường giải phóng đúng đắn và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng. Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước.

Nguyễn Ái Quốc ở Pháp năm 1920.

Nguyễn Ái Quốc ở Pháp năm 1920.

Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành tuy lúc đó chưa gặp chủ nghĩa xã hội, nhưng đã thể hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”.

Thất bại của các cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh …nói lên một sự thật lịch sử là: không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Các đường lối và phương pháp này đều không đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đòi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ.

2. Những chuyển biến của tình hình chính trị thế giới

Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và đã xác lập được sự thống trị trên phạm vi thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chúng. Chủ nghĩa đế quốc vừa tranh giành xâu xé, vừa hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ bé. Cùng với những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản – mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh mâu thuẫn mới – mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Đời sống nhân dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vô cùng cực khổ, trong đó có nhân dân Việt Nam dưới xiềng xích của chế độ thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc bắt đầu phát triển và có xu hướng lan rộng.

Con tàu La Towche Treville chở Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: TLCon tàu La Towche Treville chở Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: TL

3. Phẩm chất và trí tuệ của Nguyễn Tất Thành

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, một địa phương có truyền thống yêu nước. Từ lúc tuổi còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, hấp thụ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc, Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hoá phương Tây. Chứng kiến chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh, Người càng yêu nước, thương dân sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Vốn có tư chất thông minh, tinh thần ham học hỏi, khả năng tư duy độc lập, tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới, Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” và thôi thúc bởi ý định tìm hiểu “cái gì ẩn dấu sau” những từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu hiệu đó. Những tư tưởng tiến bộ của cuộc cách mạng ở Pháp năm 1789, thành tựu văn minh, tiến bộ của nhân loại ở Pháp và các nước châu Âu khác, đã thúc đẩy Người muốn đến tận nơi tìm hiểu. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành quyết định chọn nước Pháp, chọn châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911.

Những chuyển biến trong nhận thức về con đường giải phóng dân tộc

Hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”, đó là dự định đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tréville”, từ bến cảng Nhà Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…). Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ… Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Từ đó, Người đi đến kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Khách sạn trung tâm Max-cơ-va, nơi Nguyễn Ái Quốc ở trong những ngày sang Liên Xô (1923 – 1924). Ánh: TLKhách sạn trung tâm Max-cơ-va, nơi Nguyễn Ái Quốc ở trong những ngày sang Liên Xô (1923 – 1924). Ánh: TL

Sống hòa mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp. Ngày 18/6/1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Vécxây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.

Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác – Lênin… Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo L’Humanité tháng 7/1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Trong bối cảnh bấy giờ, có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận ra được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12/1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người – từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản. Đồng thời, sự kiện đó cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.

Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng… Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản.

Sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng là bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.

Ý nghĩa lịch sử to lớn:

– Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hoá chung của nhân loại và xu thế của thời đại.

– Hồ Chí Minh đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

– Với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và châu Á nói riêng.

IV. Những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin và cách mạng vô sản thế giới.

1. Hồ Chí Minh – nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của phong trào cộng sản, phong trào công nhân quốc tế: Từ khi rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh sớm nhận thức muốn hoạt động cách mạng cần phải tham gia các tổ chức và hoà mình vào phong trào đấu tranh cách mạng. Người đã hoạt động trong phong trào của người Việt Nam yêu nước và phong trào công nhân Pháp, tham gia Đảng Xã hội Pháp; sinh hoạt trong Câu lạc bộ Phôbua; tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa; chủ nhiệm kiêm chủ báo Người cùng khổ; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp; tham gia Quốc tế Cộng sản, hoạt động trong Quốc tế Nông dân; tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức… Những hoạt động đầy nhiệt huyết của Người – với tư cách nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản quốc tế đã in dấu đậm nét trong lịch sử cách mạng vô sản thế giới. Trong quá trình hoạt động cách mạng, nhiều lần phải sống trong thiếu thốn, khổ cực, nguy hiểm, tù đày, thậm chí bị hiểu lầm, nhưng trong hoàn cảnh nào, Người cũng có một niềm tin sắt son vào chủ nghĩa Mác – Lênin, nêu cao ý chí, bản lĩnh và phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản.

Cuốn sách “Đường Kachs mệnh” của Nguyễn Ái Quốc. Ảnh: TLCuốn sách “Đường Kachs mệnh” của Nguyễn Ái Quốc. Ảnh: TL

2. Hồ Chí Minh có công truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Hoạt động trong tổ chức Quốc tế Cộng sản, Người tích cực đưa lý luận Mác – Lênin vào phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa; kiên trì bảo vệ, phát triển sáng tạo những quan điểm của V.I Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc. Với trách nhiệm là Ủỷ viên Ban phương Đông của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Người hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng, phong trào cộng sản ở các nước châu Á và xúc tiến thành lập đảng cộng sản ở Việt Nam.

3. Sức lan toả của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc rất mạnh mẽ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cách mạng ở hàng trăm nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Hàng loạt các phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở các nước Á, Phi và Mỹ Latinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

4. Chủ tịch Hồ Chí Minh có những đóng góp quan trọng với lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau: Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở các nước chính quốc, nhân dân các dân tộc ở các nước thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng chính mình và cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước. Đây là những cống hiến quan trọng vào kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin.

Xuất phát từ tình hình ở các nước tư bản, Lênin đã nêu luận điểm Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Xuất phát từ tình hình Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy việc ra đời của Đảng Cộng sản ở đây nếu chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác -Lênin với phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ bé và phong trào còn non yếu, do đó phải kết hợp cả với phong trào yêu nước rộng lớn của các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Đảng cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Hồ Chí Minh còn đi đến kết luận: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Đây là những luận điểm mới của Hồ Chí Minh, bổ sung vào học thuyết về Đảng Cộng sản của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Các Mác, Ăngghen xác định, quần chúng làm cách mạng là giai cấp công nhân, nông dân. Lênin, trong cách mạng vô sản Nga, xác định quần chúng cách mạng là công nhân, nông dân và binh lính. Đối với Hồ Chí Minh, lực lượng cách mạng là “cả quần chúng”, bao gồm: giai cấp công nhân – giai cấp lãnh đạo cách mạng, giai cấp nông dân – cùng với công nông là gốc của cách mạng, tiểu tư sản, trí thức, phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc, các cá nhân yêu nước, “Bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới”. Quan điểm này của Người không chỉ đúng trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn trong sự nghiệp xây dựng đất nước ngày nay.

Hồ Chí Minh có những sáng tạo độc đáo trong các bước đi giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc; luận giải khoa học, sâu sắc về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, ưu tiên giải quyết vấn đề dân tộc trước, giải quyết vấn đề dân chủ từng bước. Bảo vệ nền độc lập dân tộc đã giành được bằng biện pháp hòa bình, nhưng khi kẻ thù đã dùng chiến tranh xâm lược để áp đặt sự nô dịch mới, thì cần dựa vào và phát huy sức mạnh của cả dân tộc để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Để bảo vệ nền độc lập dân tộc chân chính, cần xây dựng một xã hội mới là xã hội xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc để xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc.

Trong di sản tư tưởng của Người, có cả một hệ thống những chỉ dẫn khoa học về cách thức, biện pháp, bước đi trong thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ tính khoa học, cách mạng mà còn có nhiều luận điểm bổ sung từ góc độ đạo đức, văn hoá, nhân văn.

Tiếp tục triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

1. Đảng ta kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, luôn tìm tòi, làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, khẳng định quyết tâm tiếp nối con đường đó trong các văn kiện đại hội của Đảng, nhất là trong các Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ là: “xây dựng được về cơ bản nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc”.

2. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nêu cao tinh thần trách nhiệm và nỗ lực thực hiện con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, nhất là những điều căn dặn trong Di chúc của Người về điều kiện bảo đảm sự bền vững của con đường đó: bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tổ chức một đời sống xã hội ưu việt, đầy tính nhân văn và thực sự đem cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, bồi dưỡng thế hệ trẻ sống có lý tưởng, có hoài bão, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có lòng yêu nước nồng nàn để tiếp tục sự nghiệp cách mạng của ông cha, thực hiện đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế…

Những văn bản do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo trong thời gian hoạt động ở nước ngoài. Cuốn sách “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925) và “Bản án yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Véc xây đòi các quyền tự do, độc lập cho các dân tộc thuộc địa” (1919), Báo Le Paria. Ảnh: TLNhững văn bản do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo trong thời gian hoạt động ở nước ngoài.

Cuốn sách “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925) và “Bản án yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Véc xây đòi các quyền tự do, độc lập cho các dân tộc thuộc địa” (1919), Báo Le Paria. Ảnh: TL

3. Hơn bốn năm qua, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong các tổ chức của hệ thống chính trị và toàn xã hội và đã tạo được những chuyển biến quan trọng. Để phát huy những kết quả đó, trách nhiệm của mỗi cấp uỷ, các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, mỗi cán bộ đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động này, gắn liền với những nhiệm vụ về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

4. Hiện nay, các thế lực thù địch đang tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Người với ý đồ đen tối “lật đổ thần tượng Hồ Chí Minh”, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ định con đường cách mạng Việt Nam… Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân là bảo vệ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới. Đó chính là sự bảo vệ đúng đắn nhất chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta, vững bước đi theo con đường của Hồ Chí Minh đã chọn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kỷ niệm sự kiện 100 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước gắn với kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Người, chúng ta càng hiểu rõ hơn về cuộc đời cách mạng và tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng dịp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu sâu sắc hơn về những cống hiến to lớn của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nguyện thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đảng hoạch định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được bổ sung, phát triển năm 2011. Đó là tấm lòng tri ân sâu sắc của toàn dân tộc đối với công lao vĩ đại của Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

TS (Theo tài liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương)

Theo Lâm Đồng Online

Nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

Đã một thế kỷ trôi qua. Một trăm năm của biết bao đời người với biết bao nhiêu biến động, đổi thay nơi vùng đất phía Nam này của Tổ quốc. Có một điều không thể thay đổi về một địa danh được gắn với một sự ra đi đặc biệt của một người công dân Việt Nam đặc biệt đó là Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Người là Chủ tịch Hồ chí Minh khi dân tộc giành được đất nước từ thân kiếp nô lệ cho ngoại bang. Người là Thầy giáo Nguyễn Tất Thành, là Anh Ba khi từ Bắc vô Nam, dừng chân ở Sài Gòn tìm con đường đi mới cho giống nòi khởi thủy từ địa danh đặc biệt này.

Đây là nơi bắt đầu của một chuyến đi vĩ đại của một người con xứ Nghệ. Đó là bến cảng Nhà Rồng! Địa danh này đã có trước đó hàng bao nhiêu chục năm với chức năng một bến nước trên sông của một xứ thuộc địa đón tàu đi tàu đến nơi biển xa biển gần giúp thông thương giữa Việt Nam và thiên hạ trong chức năng một thương cảng lớn.

Bến Nhà Rồng – TP HCM.

Chuyện quá đỗi bình thường trong công việc giao lưu quốc tế. Nhưng phải đến mùa hè năm ấy, ngày 5/6/1911, mốc thời điểm của một chuyến đi, chuyến đi huyền thoại của một con người làm nên huyền thoại đất nước để sau đó thật sự ý nghĩa và thiêng liêng đối với mỗi người dân Việt Nam yêu nước.

Một trăm năm cho một địa danh được đi vào lịch sử và trường tồn cùng dân tộc trong tư cách một nhân chứng và một bảo tàng!

Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi
Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác
Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất
Bốn phía nhìn không bóng một hàng tre…

Và sau đó ba mươi năm, ở biên giới bắc vùng đất Cao Bằng, nơi có non xanh và suối mát tự nguồn, Tổ quốc được đón bước chân đầu tiên của Người trở về cùng đồng bào làm cách mạng trong tư cách một nhà Ái quốc và Cứu quốc vĩ đại của lịch sử dân tộc…

Luận cương của Lênin theo Người về quê Việt
Biên giới còn xa. Nhưng Bác thấy đã đến rồi
Kìa, bóng Bác đang hôn lên hòn đất
Lắng nghe trong màu hồng, hình đất nước phôi thai.

Những câu thơ trên viết về sự kiện này là của nhà thơ Chế Lan Viên trong bài thơ “Người đi tìm hình của nước” đã được một người bạn văn đọc cho tôi nghe khi anh cùng tôi đến thăm Bến cảng nhà Rồng nơi xưa Bác đã từng làm việc và rời nước ra đi. Hôm nay đây đã là một di tích, một bảo tàng. Lời thơ này tôi cũng đã thuộc từ hồi còn đi học, đọc trong trường lớp rồi bình luận chứng minh theo đề văn.

Nay đứng trước tượng đài Người- Chủ tịch Hồ Chí Minh trong dáng vóc một sức trai với bước đi hăm hở trên sân Bảo tàng mang tên Người, ở thành phố mang tên Người thì sự xúc động sau đó là niềm lắng đọng được tăng lên rất nhiều.

Ngày ấy đâu biết rằng một trong những lao công người Việt cần lao và lặng lẽ, từ chuyến tàu ấy xa Sài Gòn, đến Mác-xây rồi đi khắp năm châu bốn biển để sau đó hàng chục năm tích cóp kiến thức cách mạng, tu rèn nhân cách và ý chí trở về quê hương lãnh đạo toàn dân làm nên một kỳ tích trong sự nghiệp giải phóng đất nước.

Nhìn sông nước Sài Gòn hôm nay, người đến chiêm ngưỡng nhà bảo tàng như muốn tìm lại dấu chân của Bác khi Người bước xuống con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Tơ-rê-vin trong chân phụ bếp nấu ăn, nuôi chí vượt biển lớn. Nghĩ về phẩm chất Hồ Chí Minh ta có thể dẫn ra nhiều nhận định hay, lời nói hay về Người của người trong nước và quốc tế.

Ta nhận ra một điều rằng phẩm chất lớn ấy của Người tất cả đều vì dân vì nước, bắt nguồn từ thực tiễn đấu tranh mà sinh ra Nhân cách rồi Phong cách và cuối cùng để thành Việt-Nam-Hồ-Chí-Minh gắn quyện vào nhau như một phẩm chất tiêu biểu của dân tộc. Đấy là Đức hạnh truyền thống và Trí tuệ mẫn tiệp của một con dân đất Việt yêu nước thương dân hết lòng và đã dành trọn cả cuộc đời mình cho Dân cho Nước…

Hình như nhà Bảo tàng vẫn là ngôi nhà xưa trong dáng vóc của cơ ngơi thương cảng. Người làm bảo tàng vẫn giữ nguyên hình khối cũ để hôm nay người đến thăm vẫn có một không gian gần như nguyên cũ mà ngấm trong mình một cảm xúc lịch sử trọn vẹn.

Việc đặt nhà bảo tàng mang tên Người ở nơi này, một địa danh không thể phai mờ trong lịch sử cứu nước của dân tộc gắn liền với sự nghiệp vĩ đại của Bác là một lựa chọn phù hợp và ý nghĩa.

Lâu nay, nơi này trong những công việc lớn của mình, nhiều cơ quan đoàn thể đã tập hợp nhau cùng đến đây dâng hoa lên tượng đài Bác, nói lời hứa, lời tuyên thệ nguyện sống học tập và làm việc theo tấm gương sáng của Người.

Bến cảng nhà Rồng – Miền hành hương của rất nhiều thế hệ người Việt Nam yêu nước!

Nhật Văn

cand.com.vn

Từ thành phố này Người đã ra đi tìm đường cứu nước

Nơi lưu lại cho dân tộc Việt Nam một kỷ niệm thiêng liêng của Bác

Ngày nay, có dịp đến Sài Gòn – TP.Hồ Chí Minh, ít ai lại không tìm đến một nơi mà cách đây 100 năm, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã sống những ngày đầu vào Sài Gòn, trước khi xuống tàu A. La-tút-sơ Tơ-rê-vin đi tìm đường cứu nước. Đó là cơ sở của Phân cuộc Liên thành Thương quán tại số nhà 1-2-3 Quai Testard-Chợ Lớn (nay là số 5 phố Châu Văn Liêm).

Từ Huế đến Phan Thiết rồi vào Sài Gòn

Đúng ngày 19-9-1910, từ trường Dục Thanh (Phan Thiết) thầy giáo Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn, chuẩn bị cho cuộc hành trình 30 năm bôn ba xứ người tìm đường cứu nước. Ban đầu, Nguyễn Tất Thành được bố trí sống tại nhà ông Lê Văn Đạt, một người bà con bên mẹ của ông Trương Gia Mô, sau được chuyển đến ở tại cơ sở của Phân cuộc Liên thành Thương quán tại số nhà 1-2-3 Quai Testard. Lúc đó nhà ở bên dòng kênh, sau kênh được lấp thành đường đi. Đến năm 1915 đổi thành đường Tổng đốc Phương và nay là đường Châu Văn Liêm, quận 5, TP.Hồ Chí Minh. Trong 3 căn nhà đó, một căn đã được giữ lại làm di tích lưu niệm về Hồ Chủ tịch.

Sự giúp đỡ của ông Trương Gia Mô, ông Hồ Tá Bang, 2 vị nhân sĩ có tiếng tăm ở Nam bộ thời bấy giờ cũng chính là những người bạn của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, đã tạo điều kiện cho việc đưa Nguyễn Tất Thành từ Huế vào dạy học ở trường Dục Thanh. Lại cũng chính các ông Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang và một nhà nho khác nữa là Trần Lê Chất đã chuẩn bị điều kiện cho Nguyễn Tất Thành rời trường Dục Thanh vào Sài Gòn. Bằng uy tín và sự khôn khéo, các ông đã vận động viên Công sứ Pháp đồng ý cấp giấy thông hành cho Nguyễn Tất Thành với một tên mới là Văn Ba.

Thời gian ở Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành vừa dạy học ở Trường thợ máy (École des Mécaniciens), vừa đi bán báo ở khu vực Thương cảng để kiếm sống và tìm hiểu đời sống công nhân, nhân dân lao động và tình hình các tàu ra vào cảng Sài Gòn.

Những năm tháng ở Huế, Nguyễn Tất Thành đã nhiều lần được nghe cha là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và các sĩ phu yêu nước đàm đạo về tình hình đất nước, về dân tộc bị nô lệ, áp bức, bóc lột và những gì được chứng kiến về Triều đình Huế; về phong trào đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng tại Huế và các tỉnh miền Trung những năm 1908-1910 đã thức dậy trong Nguyễn Tất Thành tinh thần yêu nước, ý thức đấu tranh chống thực dân xâm lược. Cùng với đó là các phong trào Đông Du (1906-1908) do nhà yêu nước Phan Bội Châu lãnh đạo; phong trào Đông kinh Nghĩa thục (1907) do các sĩ phu yêu nước Lương Văn Can, Nguyễn Quyền và phong trào Duy Tân (1906-1908) do Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng… khởi xướng. Các phong trào đó tuy không thành công, nhưng Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc sĩ phu. Nhưng cũng ngay từ đó, Nguyễn Tất Thành cũng đã không hoàn toàn tán thành chủ trương của các cụ. Nguyễn Tất Thành cho rằng: Chủ trương cầu viện Nhật giúp đỡ đánh Pháp của cụ Phan Bội Châu chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”; chủ trương thực hiện cải lương của cụ Phan Chu Trinh không khác gì đến xin kẻ thù rủ lòng thương. Còn chủ trương khởi nghĩa chống Pháp của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám là phản ánh đúng hoàn cảnh của đất nước nhưng điều kiện lại chưa chín muồi, chưa đủ cơ sở đảm bảo cho những cuộc khởi nghĩa vũ trang đó thành công…

Đất nước bị xâm lược, dân tộc bị nô lệ, nhân dân bị áp bức, lầm than; các phong trào yêu nước bị đàn áp và thất bại đã thức dậy trong Nguyễn Tất Thành-Văn Ba ý chí quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Và, ngày 2-6-1911, Nguyễn Tất Thành đến xin việc làm ở tàu A. La-tút-sơ Tơ-rê-vin, một tàu lớn vừa chở hàng, vừa chở khách đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn đi Pháp và được chủ tàu chấp thuận. Ngày 3-6-1911, Nguyễn Tất Thành bắt đầu làm việc trên tàu với tấm thẻ nhân viên mang tên Văn Ba.

Cuộc hành trình 30 năm ra đi tìm đường cứu nước

Lôi cuốn bởi khẩu hiệu “tự do-bình đẳng-bác ái” của tư tưởng tiến bộ từ cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789, ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành-Văn Ba theo tàu A.La-tút-sơ Tơ-rê-vin rời cảng Sài Gòn mà lâu nay thường gọi là bến Nhà Rồng sang Pháp, mở đầu cho cuộc hành trình 30 năm đi tìm đường cứu nước. Cuộc hành trình 30 năm, Nguyễn Tất Thành-Văn Ba sau này là Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã vượt qua 3 đại dương, 4 châu lục, đến gần 30 quốc gia trên thế giới để như Bác tâm nguyện: Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi. Chúng ta sẽ đi, và nhìn, và học và suy nghĩ… Chúng ta tìm cho ra phương pháp nào, con đường nào tốt nhất để đưa đồng bào ta thoát khỏi nô lệ.

Các nhà khoa học nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã chia cuộc hành trình 30 năm (5-6-1911 – 1941) đi tìm đường cứu nước của Người làm 3 chặng lớn:

Chặng thứ nhất từ 1911-1919: Kể từ ngày 5-6-1911 trên tàu A.La-tút-sơ Tơ-rê-vin rời bến cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành-Văn Ba-Nguyễn Ái Quốc đã bôn ba qua nhiều nước, Người không chỉ chọn nước Pháp, chọn châu Âu – nơi khai sinh ra các tư tưởng dân chủ tư sản tiến bộ, nơi phát minh ra nền khoa học, kỹ thuật tiên tiến và cũng là nơi khởi phát các tư tưởng XHCN và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, mà còn đến cả những nơi bần cùng, khốn khổ nhất ở châu Mỹ, châu Phi, tiếp xúc với nhiều lớp người, thuộc nhiều dân tộc khác nhau để hiểu đúng thực chất hơn về chủ nghĩa tư bản, về sự áp bức dân tộc của thực dân đế quốc và để được thấy tận mắt cuộc sống bần cùng của người dân nô lệ. Người đã rút ra kết luận: Ở đâu cũng có người nghèo khổ như nước mình do bị áp bức, bóc lột vô nhân dạo của giai cấp thống trị. Người khẳng định: muốn thoát khỏi nô lệ và áp bức bóc lột thì nhân dân lao động toàn thế giới phải cùng đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị.

Chặng thứ hai từ 6-1919 – 1924: Người nhân danh “Nhóm người Việt Nam yêu nước” ký tên Nguyễn Ái Quốc vào bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi các đoàn đại biểu dự Hội nghị Véc-xây. Người yêu cầu các nước đồng minh vừa thắng trận trong chiến tranh thế giới thứ nhất, trong đó có nước Pháp, hãy tôn trọng quyền tự do, bình đẳng của nhân dân Việt Nam. Từ đây, cái tên Nguyễn Ái Quốc trở thành mối lo rất lớn của thực dân Pháp. Trái lại, ba tiếng Nguyễn Ái Quốc đã trở thành biểu tượng của niềm tin và hy vọng của những người yêu nước và nhân dân Việt Nam về một lãnh tụ kiệt xuất, một ngày nào đó sẽ trở về dẫn dắt cuộc đấu tranh của nhân dân thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, giành độc lập cho dân tộc.

Những năm này, thế giới đã có sự biến động lớn sau cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Trong điều kiện lịch sử đó, Nguyễn Ái Quốc đã đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, học thuyết cách mạng tiên phong của thời đại. Người đã trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và là một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Là một chiến sĩ quốc tế trung kiên, Người luôn luôn quan tâm đến cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc rời đất Pháp sang Liên-Xô, đất nước của V.I.Lênin vĩ đại bắt đầu một chặng đường mới, nghiên cứu về lý luận và thực tiễn cuộc Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga vĩ đại. Và chính tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường đúng đắn để đưa đồng bào thoát khỏi vòng nô lệ. Người khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Cách mạng giải phóng dân tộc phải gắn liền với cách mạng vô sản, độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH.

Chặng thứ ba từ 1924-1941: Trong chặng đường này, Nguyễn Ái Quốc vừa làm nhiệm vụ quốc tế, vừa lo toan sự nghiệp cách mạng Việt Nam với biết bao truân chuyên, gian khó. Nhưng với một mục đích đúng đắn, rõ ràng, một nghị lực phấn đấu phi thường và tầm nhìn thấu đáo thời cuộc thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện rõ là người hoạt động cách mạng có bản lĩnh, gan dạ, khôn khéo. Ngay trong lòng kẻ thù vẫn đấu tranh trực diện với thực dân Pháp, đòi xóa bỏ áp bức và xiềng xích nô lệ cho dân tộc, cho các nước thuộc địa. Bằng các yêu sách, các luận cứ xác đáng, Người đã lên tiếng tại các hội nghị quốc tế; viết bài đấu tranh trên các báo Người cùng khổ (do chính Người làm chủ bút), Nhân Đạo, Đời sống Công nhân…; đặc biệt là tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” với rất nhiều tư liệu phong phú để đấu tranh và tố cáo tội ác của thực dân Pháp và chủ nghĩa đế quốc thực dân, đòi quyền tự do, bình đẳng cho dân tộc mình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Nhà sử học Anh T. Hốt-kin đánh giá: Một khía cạnh trong thiên tài của cụ Hồ Chí Minh là ngay từ năm 1922, khi cụ xuất bản tờ Người cùng khổ và cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp ở Pa-ri, cụ đã có khả năng trình bày Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải như một tín điều ngoại lai, mà như là một cách suy nghĩ đặc biệt Việt Nam về con người và xã hội được nảy sinh từ kinh nghiệm cách mạng và thực tiễn của chính dân tộc cụ.

Khi được Quốc tế Cộng sản cử về Trung Quốc hoạt động, Người đã bắt tay vào chỉ đạo và đề ra chiến lược cụ thể, vạch ra đường lối, phương châm cho cách mạng Việt Nam; tập hợp lực lượng, xây dựng tổ chức, đào tạo cán bộ. Người đã sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam làm ngọn cờ lãnh đạo, vận động nhân dân. Khi trở về Tổ quốc tại Cao Bằng tháng 2-1941, Người đã cùng Trung ương Đảng xây dựng thành công chiến khu Việt Bắc, chỉ đạo quân, dân ta trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu cao cả là giành lại độc lập, chủ quyền cho dân tộc, tự do cho đồng bào.

Có thể nói, hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành-Văn Ba – Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước là tri thức văn hóa phương Đông và niềm ham mê học hỏi văn hóa phương Tây; là lòng yêu nước nồng nàn, sự tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước, tiếp thu học thuyết cách mạng của thời đại đã giúp Người tìm được con đường cứu nước, cứu dân đúng đắn. Con đường cách mạng đó đã để lại cho hôm nay thành quả vĩ đại là một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ đang trên đường đổi mới, hội nhập quốc tế, phát triển và giàu mạnh, tạo nền tảng để không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân ngày càng tự do, ấm no.

Ngôi nhà số 1-2-3-Quai Testar thuộc Phân cuộc Liên thành Thương quán, tức nhà số 5, đường Châu Văn Liêm, quận 5 ngày nay – nơi cách đây 100 năm Bác Hồ từng sống trước khi lên tàu rời cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước đã được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Di tích đã được Ngành văn hóa TP.Hồ Chí Minh trùng tu vào năm 1977 và luôn được mở cửa để đón du khách thăm quan. Dẫu một thế kỷ đã qua, nhưng ngôi nhà vẫn giữ được nét cổ kính thuở xưa. Tầng trệt của di tích đặt bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên lầu 1, trưng bày một số hình ảnh liên quan đến Công ty Liên Thành, các hình ảnh về Sài Gòn thời kỳ 1910-1911. Ngày nay vào thăm quan, vãn cảnh di tích, khi bước chân lên cầu thang nhỏ, ngắm nhìn những hiện vật từng gắn bó với Người, từng sống cùng Người trong căn nhà này, như nhắc nhở lớp lớp con cháu hôm nay và cả mai sau hãy nhớ về một thời đất nước còn trong vòng nô lệ, lầm than; về người thanh niên yêu nước vĩ đại Nguyễn Tất Thành-Văn Ba-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã từ đây ra đi để tìm con đường cứu nước đúng đắn nhất nhằm giải phóng đất nước, giành độc lập cho dân tộc và tự do ấm no cho đồng bào.

…………………………………………………

Nguồn tài liệu tham khảo:

– Hồ Chí Minh Biên niên Tiểu sử, tập 1, 1890-1930, NXBCTQG, H.1993.
– Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5-9, NXBCTQG, H.1995.
– Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc-Khu Di tích Đồng Tháp xuất bản 1990.

Phạm Bá Nhiễu

xaydungdang.org.vn

Lòng yêu nước, thương dân và khát vọng giải phóng dân tộc

“Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”…

Cách đây 100 năm, ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành lúc đó mới vừa 21 tuổi, lấy tên là Văn Ba, đã bước lên con tàu vận tải La-Tuýt-xơ Tơ-rê-vin của Hãng hợp nhất (Pháp), rời Sài Gòn đi Mác-xây mang theo lòng yêu nước, thương dân nồng nàn và một khát vọng cháy bỏng, một hoài bão lớn lao là tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách lầm than, nô lệ. Sự kiện đó, mở ra một giai đoạn mới trong cuộc đời của Người. Đặc biệt, sự kiện đó có ý nghĩa quyết định đối với cách mạng Việt Nam sau này.

Về mục đích của chuyến đi lịch sử này, đã được Nguyễn Tất Thành khẳng định trước khi lên đường: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”(1). Hơn mười năm sau, Người cũng nhắc lại khi trả lời nhà thơ, nhà báo Nga Ô-xíp Man-đen-xtam rằng: “Vào trạc tuổi 13, lần đầu tiên tôi được nghe những từ Tự Do, Bình Đẳng, Bác Ái… Người Pháp đã nói thế và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”(2). Thế nhưng, một số học giả phương Tây lại có những nhận định sai lầm khi cho rằng, việc Nguyễn Tất Thành ra nước ngoài năm 1911 là để tìm kế mưu sinh, mưu cầu danh lợi cá nhân. Nhận định sai lầm này là do những hạn về thế giới quan hoặc do ý đồ muốn làm giảm giá trị sự kiện lịch sử đó, nhằm bôi nhọ và hạ thấp uy tín lãnh tụ Hồ Chí Minh của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, làm sáng tỏ việc Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh quyết định ra đi tìm đường cứu nước có ý nghĩa rất quan trọng khẳng định giá trị lịch sử của sự kiện này, đồng thời góp phần tô đậm thêm nhân cách cao cả và vĩ đại của Bác Hồ kính yêu.

1. Nguyễn Tất Thành còn nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, yêu nước. Thân mẫu là bà Hoàng Thị Loan, một người phụ nữ đảm đang, hiền lành, giàu lòng nhân ái. Thân phụ là ông Nguyễn Sinh Sắc, một vị Phó bảng, một nhà nho yêu nước, thương dân, có ý chí kiên cường vượt gian khổ để đạt được mục đích, chí hướng. Thời thơ ấu, Nguyễn Sinh Cung sống trong sự chăm sóc đầy tình thương của ông bà ngoại và cha mẹ. Qua những lời ru ngọt ngào, những câu hát phường vải hay những câu chuyện cổ tích mà bà ngoại và mẹ thường hát ru hay kể lại để đưa cậu vào giấc ngủ, đã thắp sáng trong tâm hồn thơ ngây của cậu ngọn lửa yêu quê hương, đất nước.

Tình yêu quê hương, đất nước ấy ở Nguyễn Tất Thành tiếp tục được bồi đắp do ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng và nhân cách của người cha. Ông Nguyễn Sinh Sắc mồ côi cả cha lẫn mẹ, ở với anh, phải chịu nhiều vất vả, thiệt thòi. Có tài, có chí, thông minh, hiếu học mà không được học. Nhưng nhờ bà con làng xóm đùm bọc, sự giúp đỡ của gia đình cụ Hoàng Đường (ông ngoại của Bác), của người vợ hiền tần tảo, nhờ có trí cao, nghị lực mạnh, kiên trì theo đuổi học hành thi cử. Cuối cùng ông đã đạt được chí hướng – đỗ Phó bảng năm 1901.

Trong 5 năm dạy học ở quê nhà, Nguyễn Sinh Sắc có điều kiện đi sâu vào cuộc sống của nhân dân, giao du tiếp xúc với nhiều sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Đặng Thái Thân… Những nơi ông đến là những nơi có phong trào đấu tranh chống Pháp sôi nổi và anh dũng. Những người ông kết giao đều là những người có lòng yêu nước, có chí cứu nước. Trong gia đình, Nguyễn Sinh Cung là người con được ông yêu thương và đặt nhiều hy vọng nhất, khi đỗ Phó bảng ông đã đổi tên Nguyễn Sinh Cung thành Nguyễn Tất Thành với hy vọng con sau này sẽ thành đạt. Đi đâu ông cũng thường cho Nguyễn Tất Thành đi cùng, nhờ vậy mọi việc làm, lời nói, cử chỉ hằng ngày của ông đều tác động mạnh mẽ và sâu sắc tới cậu. Đặc biệt là những cuộc đàm luận với các sĩ phu yêu nước đã có ảnh hưởng lớn tới tình cảm yêu nước của Nguyễn Tất Thành. Cậu thường được cha cho đứng bên cạnh trong những lần ông tiếp khách. Những lúc ấy, Thành được nghe những câu chuyện về thời cuộc xã hội Việt Nam hồi đó và những việc làm cứu nước của các ông. Nhờ đó mà nhận thức về xã hội và lòng yêu nước của cậu cũng đã được nhen nhóm lên từ đây.

Nhưng có lẽ tư tưởng thương dân của ông Nguyễn Sinh Sắc mới ảnh hưởng sâu sắc nhất, quyết định nhất đối với sự hình thành chí hướng cách mạng của Nguyễn Tất Thành. Lòng thương dân đó có gốc rễ sâu xa từ trong cuộc đời nghèo khổ mà đi lên, chịu ơn sâu nặng của dân. Ông Nguyễn Sinh Sắc là con người đôn hậu, vốn xuất thân nghèo khổ, sống gần dân nên dễ xúc cảm và thương người. Khi làm quan, ông đứng về phía dân nghèo, trừng trị bọn cường hào, tổng lý… hay ức hiếp dân nghèo. Tư tưởng tiến bộ và nhân cách cao thượng của phụ thân đã ảnh hưởng sâu sắc đến Nguyễn Tất Thành, làm sớm nảy nở tình yêu nước, thương dân ở Người.

Rõ ràng, tư tưởng yêu nước, thương dân của Nguyễn Tất Thành được bắt nguồn và hun đúc từ chính trong môi trường gia đình của mình, đặc biệt là từ người cha kính yêu.

2. Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trên quê hương Nghệ An giầu truyền thống văn hiến và cách mạng. “Mảnh đất này không nổi tiếng về vẻ đẹp và sự giầu có của thiên nhiên mà vì người dân của nó”(3). Mảnh đất nghèo nhưng rất giầu lòng nhân ái và sâu nặng nghĩa tình. Chỉ có những con người có tinh thần mạnh mẽ mới thắng được thiên tai, mới tồn tại được trong cuộc đấu tranh chống lại đói nghèo. Chính vì thế, cư dân ở đây, từ thế hệ này qua thế hệ khác đã tôi luyện được một tính cách thật khác thường, một nét văn hóa rất riêng đó là truyền thống hiếu học với nhiều dòng họ, nhiều làng học nổi tiếng, sản sinh cho đất nước nhiều danh tướng, lương thần, nhiều nhà khoa học, nhà văn hoá có tầm cỡ quốc gia và quốc tế, đã để lại nhiều chiến công hiển hách trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam.

Quê ngoại là làng Hoàng Trù (làng Trùa), xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An vốn nghèo, nắng lên là hạn, mưa to mấy ngày là lụt. Quê nội là làng Kim Liên (làng Sen), “Tuy nghèo nhưng Kim Liên mang truyền thống hiếu học của xứ Nghệ. Từ năm 1635-1918, qua 96 khoa thi hương và thi hội, làng Kim Liên đã có 53 người đỗ đạt”(4). Nho sĩ ở làng Kim Liên khá đông, và trở thành nơi thường xuyên lui tới của các nho sĩ quanh vùng. Không chỉ giầu truyền thống hiếu học, cần cù trong lao động, tình nghĩa trong cuộc sống, người dân ở đây còn giầu truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm với những tấm gương lẫm liệt được ghi vào sử sách như Hoàng Xuân Hành, Nguyễn Sinh Quyết (5)… cậu Nguyễn Sinh Cung con người trí khôn mở trước tuổi đời, hẳn đã tìm hiểu về những điều này.

Cái nôi quê hương giầu truyền thống bất khuất với bản sắc riêng của xứ Nghệ đã tạo cho Nguyễn Tất Thành sớm có lòng yêu nước, thương dân và chí căm thù giặc sâu sắc. Đây cũng là nguồn sức mạnh “vô hình” tiếp tục nuôi dưỡng và hun đúc tinh thần yêu nước, thương dân ở Người.

3. Truyền thống gia đình, quê hương là “mảnh đất tốt” ươm mầm và làm nảy nở tinh thần yêu nước, thương dân ở Nguyễn Tất Thành. Song, tinh thần ấy lại được tiếp tục nuôi dưỡng và ngày càng phát triển từ ảnh hưởng của các thầy giáo, các sĩ phu yêu nước mà cậu từng gặp hay qua các “tân văn”, “tân thư” mà cậu được đọc.

Nguyễn Tất Thành đã được học chữ Hán ở nhà thầy Vương Thúc Quý – một người giầu lòng yêu nước thương dân. Mặc dù sống trong sự kiểm soát của bộ máy thống trị từ làng đến tỉnh, nhưng thầy Quý không hề ngần ngại dạy cho học trò tư tưởng yêu nước, thương dân và chí làm trai phải giúp ích cho đời. Nhà thầy Quý còn là nơi lui tới của các sĩ phu yêu nước trong vùng. Nhiều khi Nguyễn Tất Thành được thầy sai tiếp nước cho các vị khách đặc biệt này, nhờ đó cậu dần dần hiểu thời cuộc và sự day dứt của các bậc cha chú trước cảnh nước mất, nhà tan. Vấn đề thời cuộc có quan hệ đến sự sống còn của dân tộc đã ngày một thấm sâu vào trái tim và khối óc của cậu.

Năm 1902, khi theo cha vào dạy học ở Võ Liệt, huyện Thanh Chương, qua những cuộc tiếp xúc của cha với các thân sĩ vùng Thanh Chương cũng giúp cho Nguyễn Tất Thành hiểu rõ hơn sự trăn trở về con đường cứu nước, cứu dân của các bậc cha anh. Theo lời khuyên của ông nghè Nguyễn Quý Song “muốn đánh kẻ thù phải học tiếng kẻ thù để hiểu được kẻ thù”(6), Nguyễn Tất Thành được cha gửi vào học ở lớp dự bị trường Vinh. Tại đây, cậu chú ý đến ba từ được sơn vào gỗ gắn ở phía trên bảng đen “LIBERTÉ, ÉGALITÉ, FRANTERNITÉ” nghĩa là “ TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, BÁC ÁI”, đó là khẩu hiệu nổi tiếng của Đại cách mạng Pháp năm 1789. Đối với cậu những điều này hoàn toàn mới lạ, khác với những điều mà cậu đã được học trong sách vở thánh hiền. Vì vậy, cậu nảy ra ý muốn “tìm xem những gì ẩn dấu sau những chữ ấy”(7). Tuy nhiên chưa hết năm học Nguyễn Tất Thành đã phải nghỉ học để theo cha vào Huế.

Khi ở Huế, Nguyễn Tất Thành vào học ở trường Tiểu học Pháp – Việt Đông Ba, rồi trường Quốc Học Huế. Đây là một quyết định rất khác người của ông Nguyễn Sinh Sắc. Bởi thời điểm này, đa số các nhà Nho đều không muốn cho con cái mình vào học trường Pháp – Việt, vì vào đây phải học chữ Pháp, bỏ mất chữ Nho là “chữ của Thánh hiền”. Các sĩ phu, ghét Pháp ghét luôn cả văn hóa Pháp, không muốn cho con cái theo học chữ Tây, chữ quốc ngữ. Ông Nguyễn Sinh Sắc không phải là người hủ nho, bảo thủ như vậy. Đối với Nguyễn Tất Thành, học ở những trường này là điều kiện tốt để cậu trực tiếp tiếp xúc với nền giáo dục mới nói riêng và nền văn minh phương Tây nói chung. Năm 1908, Nguyễn Tất Thành chuyển sang học ở Trường Quốc học Huế. Các thầy giáo ở đây có cả người Pháp và người Việt, trong số những thầy giáo người Việt cũng có những người yêu nước, có ý thức giáo dục học trò không quên giang sơn, Tổ quốc như thầy Hoàng Thông, Lê Văn Miến… Các thầy không chỉ dạy về văn hóa mà còn dành nhiều thời gian nói chuyện với học sinh về những thành tựu dân chủ, văn minh phương Tây. Chính ảnh hưởng của các thầy giáo tân học và những sách báo tiến bộ ấy mà ý định sang phương Tây tìm hiểu lớn lên trong tâm trí Nguyễn Tất Thành.

4. Lòng yêu nước, thương dân và khát vọng giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành được thôi thúc và nhân lên khi Người ngày càng thấm thía thân phận cùng khổ của người dân mất nước.

Hằng ngày, Nguyễn Tất Thành chứng kiến cảnh đói, nghèo của người dân. Bọn quan lại đặt ra đủ các thứ thuế. Bọn hào lý tham nhũng vô bờ và ra sức bóc lột nông dân. Ở Nghệ An khổ cực nhất là phải đi phu làm con đường số 7 từ Diễn Châu đi Xiêng Khoảng trên đất Lào. Đây là nơi núi non hiểm trở, hoang vu, rừng thiêng, nước độc, “Số người được trở về rất ít. Vả lại người ta có làm gì giúp cho người dân phu trở về quê quán đâu!”(8) .

Từ năm 14 tuổi, Nguyễn Tất Thành đã được cha đưa đi nhiều nơi ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thái Bình, đến đâu cậu cũng chứng kiến những cảnh bất công, khốn cùng của người dân mất nước. Không chỉ người lao động nghèo khổ, “những người lao động áo xanh lấm lem dầu mỡ lầm lũi đi vào các nhà máy để rồi sau giờ tan tầm lại phờ phạc đi ra, đen đủi, hốc hác”(9).

Sự kiện có ảnh hưởng nhất đến Nguyễn Tất Thành thời kỳ này là tham gia phong trào chống thuế của nhân dân Thừa Thiên Huế. Mặc dù mang tính chất ôn hòa nhưng đã bị thực dân Pháp và triều đình phong kiến nhà Nguyễn đàn áp hết sức dã man. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hồi ký của mình đã viết: “Vào thời kỳ này (tức 1908) phong trào đấu tranh ở Huế rất sôi nổi…Đồng bào các nơi kéo về Huế biểu tình suốt mấy ngày liền, đòi giảm thuế. Pháp đưa lính đồn Mang Cá xả súng bắn vào những người dân không tấc sắt. Nhiều người bị đẩy xuống sông, máu đỏ loang trên cầu Trường Tiền”(10).

Năm 1911, khi ở Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành lại thấy thêm sự đối lập giữa cảnh xa hoa dành riêng cho người Pháp, còn người Việt Nam đa số vẫn lam lũ, khổ cực.

Như vậy, từ truyền thống gia đình, quê hương và dân tộc; từ những tri thức, tư tưởng học ở trường, ở các thầy giáo và đặc biệt từ những điều mà anh trực tiếp chứng kiến hằng ngày của một dân tộc bị mất nước, đã làm nảy nở và ngày càng bồi đắp, hun đúc, nhân lên lòng yêu nước, thương dân và khát vọng cứu nước, cứu dân của Người. Đây chính là những nhân tố cơ bản, chủ yếu, là cơ sở quan trọng nhất để Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh quyết định ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

——————-

1. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Trẻ – Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.14
2. Theo Ôxíp Manđenxtam: “Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản – Nguyễn Ái Quốc”. Báo Đốm Lửa (Liên Xô) số 39, ngày 23-12-1923
3. E. Côbêlép, Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị – Hành chính, Hà Nội, 2010, tr.11
4. Song Thành, Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.21
5. Song Thành, Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.23
6. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.61
7. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.1, tr.41
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.2, tr.81
9. Song Thành, Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.40
10. Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn hóa, H, 1977, tr. 325

Phạm Văn Minh
Giảng viên Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viên Kỹ thuật Quân sự

xaydungdang.org.vn

Nguyễn Tất Thành và con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

Nguyễn Tất Thành, trước hết, chịu ảnh hưởng từ người cha – cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Nguyễn Sinh Cung (tên Nguyễn Tất Thành hồi nhỏ) là người được cha yêu thương và đặt nhiều hy vọng nhất. Trong 5 năm từ chối không ra làm quan, Nguyễn Sinh Sắc thường đến những nơi có phong trào đấu tranh chống Pháp, kết giao với những người yêu nước, có chí cứu nước, đặc biệt là lớp sĩ phu có tư tưởng “bài” phong kiến, chống Pháp như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Đặng Thái Thân… Đi đâu, ông cũng thường cho Nguyễn Sinh Cung đi theo. Chính nhờ vậy mà mọi việc làm, lời nói, cử chỉ hằng ngày của ông đều tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng sâu sắc tới Nguyễn Sinh Cung. Khi có khách đến chơi, Nguyễn Sinh Cung thường được cha cho đứng bên cạnh giúp cha tiếp khách. Nguyễn Sinh Cung nghe được những câu chuyện về thời cuộc và những chủ trương cứu nước của các cụ. Lòng yêu nước của Nguyễn Sinh Cung được nhen nhóm từ đây, đồng thời góp phần giúp cho Nguyễn Sinh Cung thêm nhiều suy nghĩ về con đường mình sẽ lựa chọn.

Nguyễn Sinh Sắc còn là người có tư tưởng tiến bộ, chán ghét chốn quan trường. Năm 1905, cụ cho hai người con trai của mình là Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung xuống TP.Vinh học ở Trường Tiểu học do Pháp mở. Quyết định này được cho là khác người của cụ, bởi vào trường này phải học chữ Pháp, trong khi cụ theo đuổi nền giáo dục truyền thống Nho học. Trải qua tuổi ấu thơ ở quê, Nguyễn Sinh Cung có khoảng 10 năm sống ở Huế – Kinh đô của chế độ phong kiến Việt Nam. Đây có thể coi là quê hương thứ hai của Người, mảnh đất đã góp phần nuôi dưỡng, hun đúc ý chí cứu nước của Nguyễn Sinh Cung. Đặc biệt, tháng 4-1908, Người đã trực tiếp tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nhân dân Thừa Thiên Huế và các tỉnh miền Trung. Có thể nói, tất cả những điều mắt thấy, tai nghe ở trên đã tác động rất sâu sắc đến sự hình thành chí hướng cứu nước, đặc biệt là việc Người phủ định con đường cứu nước, giải phóng dân tộc theo ý thức hệ phong kiến.

Nguyễn Tất Thành một mặt bị hấp dẫn bởi những giá trị của tư tưởng dân chủ tư sản, đồng thời cũng rút ra được những kinh nghiệm thất bại của các phong trào yêu nước theo ý thức hệ tư sản. Trong một lần trò chuyện với nhà báo, nhà thơ Nga Ô-xíp Man-đen-xtam năm 1923, Người nói rằng: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe 3 chữ Pháp: Tự do – Bình đẳng – Bác ái… Thế là tôi rất muốn làm quen với với văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy… Tôi tìm cách ra đi nước ngoài”(1). Như vậy, việc Nguyễn Tất Thành sang phương Tây năm 1911 một phần cũng bởi sức hấp dẫn của những giá trị dân chủ tư sản được kết tinh trong khẩu hiệu Tự do – Bình đẳng – Bác ái của đại cách mạng Pháp.

Có thể nói, đến cuối thế kỷ XIX, trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản qua các tân thư, tân văn Trung Quốc dội vào Việt Nam; cùng với các học thuyết về nhân đạo, dân quyền thông qua sách báo Pháp cũng được truyền bá vào Việt Nam. Bên cạnh đó, gương tự cường của Nhật Bản, đặc biệt là chiến thắng của Nhật đối với Nga trong chiến tranh Nga – Nhật (1904-1905) đã ảnh hưởng đến phong trào cách mạng và tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đối với Nguyễn Sinh Cung – Nguyễn Tất Thành, càng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ Tây Âu, Người càng khao khát muốn tìm hiểu sự thật của 3 từ Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Ngoài ra, Nguyễn Tất Thành còn biết đến tư tưởng, giá trị dân chủ tư sản qua thực tế cuộc sống, điều đó giúp Người có điều kiện hiểu rõ bản chất của bọn thực dân với cái gọi là “khai hóa thuộc địa”. Người “chú ý theo dõi những lời nói và việc làm của người Pháp ở trường và cả những người Pháp đang làm việc trong cái mà bọn chúng gọi là chính phủ “bảo hộ”. Càng học, cậu Cung càng hoài nghi về những từ đẹp đẽ do người Pháp nêu ra”(2).

Trong sự hình thành tư tưởng về con đường cứu nước mới, dưới ảnh hưởng, tác động của tư tưởng dân chủ tư sản, còn phải nói đến những bài học kinh nghiệm mà Nguyễn Tất Thành đã thu được từ các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, tiêu biểu là phong trào yêu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Dù thất bại nhưng các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX đã đặt ra nhiều câu hỏi và tác động đến chí hướng của Nguyễn Tất Thành, để rồi Người có một quyết định đúng đắn là xuất dương tìm đường cứu nước.

Trải qua hành trình đến nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc, tư bản đế quốc, hoà mình vào phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân các nước, Người nảy sinh ý thức về sự cần thiết phải đoàn kết những người bị áp bức để đấu tranh cho nguyện vọng, quyền lợi chung vì “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột” và “cũng chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi, tình hữu ái vô sản”(3). Nguyễn Tất Thành tìm hiểu cách mạng tư sản Pháp 1789, cách mạng tư sản Mỹ 1776. Người rất khâm phục tinh thần cách mạng kiên cường của nhân dân 2 nước, coi trọng bài học của hai cuộc cách mạng ấy song không thể đi theo. Bởi vì, “cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư sản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(4). Nhận thức đó chứng tỏ Nguyễn Tất Thành đã không coi học thuyết dân chủ tư sản và cách mạng tư sản là vũ khí lý luận, con đường cứu nước, giải phóng cho dân tộc mình.

Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã ảnh hưởng quyết định đến quá trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh. Mặc dù lúc ấy chưa hiểu về nước Nga và cách mạng Tháng Mười, nhưng Người đã tỏ lòng ngưỡng mộ cuộc cách mạng này. Tháng 7-1920, khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin trên báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp, thì sự kết hợp giữa thực tế của cuộc Cách mạng Tháng Mười với lý luận cách mạng V.I.Lênin đã nâng cao nhận thức của Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc, đáp ứng những tình cảm, suy nghĩ, những hoài bão ấp ủ từ lâu. Người xác định: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(5).

Như vậy, trải qua gần 10 năm vừa nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tiễn, không ngừng phê phán, lựa chọn, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Đó là “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(6). Con đường kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin và Cách mạng Tháng Mười, con đường kết hợp giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Lịch sử cách mạng nước ta sau một thế kỷ đã chứng minh rằng chỉ có con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mới có thể đưa dân tộc ta tiến lên tự do, ấm no, hạnh phúc. Trung thành với con đường Hồ Chí Minh đã chọn trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta một mặt phải thực hiện triệt để, kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, phải vận dụng sáng tạo tư tưởng và lý luận của Người vào điều kiện cụ thể hiện nay. Không có sáng tạo thì cách mạng không thể giành được thắng lợi. Nhưng vận dụng sáng tạo không có nghĩa là tước bỏ linh hồn của nó, mà phải làm cho nó càng được phát huy, phù hợp, hiệu quả hơn. Những kết quả to lớn sau hơn 25 năm đổi mới ngày càng khẳng định con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn là hoàn toàn phù hợp với tiến trình đi lên của cách mạng Việt Nam và là đòi hỏi bức thiết của sự nghiệp đổi mới.

———————-

(1): Đỗ Quang Hưng, Thêm những hiểu biết về Hồ Chí Minh, Nxb Lao động, H.1999, tr.125.
(2): Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H.2002, tập 1, tr.266.
(3): Sách đã dẫn, tập 2, tr.274.
(4): Sđd, tập 10, tr.127.
(5): Sđd, tập 9, tr.314
(6): Sđd, tập 10, tr.128

Nguyễn Văn Đạo
Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị – Hành chính khu vực II

xaydungdang.org.vn

Nhìn từ cuộc hành trình vĩ đại của Bác Hồ

Hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước”


QĐND – Ngày 31-5, tại Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc Hội thảo khoa học: “Chủ tịch Hồ Chí Minh – hành trình tìm đường cứu nước”, nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011). Cuộc hội thảo do Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch phối hợp tổ chức.

Tôn kính và trách nhiệm

Tham dự hội thảo có nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ; Đinh Thế Huynh, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh; Trung tướng Trần Đại Quang, Thứ trưởng Bộ Công an.

Toàn cảnh Hội thảo.

Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười; Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; đồng chí Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương… gửi tham luận khoa học tham gia hội thảo.

Phát biểu khai mạc hội thảo, đồng chí Đinh Thế Huynh nêu rõ tầm vóc lịch sử của sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước 100 năm trước và mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng to lớn của hội thảo; sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà nghiên cứu đối với sự kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng này.

Phát biểu đề dẫn hội thảo, đồng chí Nguyễn Văn Đua, Phó bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định: Với lòng tôn kính và trách nhiệm cao, các tác giả của các tham luận đã dày công nghiên cứu, suy nghĩ, tìm tòi những tư liệu và nội dung khoa học phong phú. Các tham luận khoa học thực sự là nguồn tài liệu quý phục vụ công tác nghiên cứu lý luận và thực tiễn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các tác giả đã tập trung nghiên cứu, làm rõ ý nghĩa lịch sử của sự kiện người thanh niên Nguyễn Tất Thành (Văn Ba) ra đi tìm đường cứu nước trên 4 mảng nội dung lớn: Quyết chí tìm đường cứu nước, bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; từ thành phố Sài Gòn, Người ra đi tìm đường cứu nước; cuộc hành trình vĩ đại; vững bước trên con đường Người đã chọn.

Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học, tham luận của đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư đã phân tích sâu sắc những cơ sở lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo tư tưởng của Người, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, gắn với triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, tạo thêm động lực, niềm tin thúc đẩy thực hiện việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

“Vững bước trên con đường Người đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” là tiêu đề bản tham luận mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày, thu hút sự chú ý của các đại biểu dự hội thảo (toàn văn tham luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đăng trên số báo ra ngày hôm nay).

Trong tham luận của mình, đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh bày tỏ niềm vinh dự, tự hào của mỗi cán bộ, đảng viên, người dân thành phố được mang tên Người. Đồng chí đề cập những giải pháp cụ thể, vận dụng tư tưởng của Người xây dựng Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh trong sạch, vững mạnh; trong đó chú trọng các giải pháp bồi dưỡng, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho thành phố “đầu tàu” của cả nước. Lòng tôn kính đối với công lao trời biển của Bác chính là cội nguồn sức mạnh, hun đúc ý chí, nghị lực để Đảng bộ, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ IX.

“Xây dựng Quân đội nhân dân, phát huy bản chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay” là tiêu đề tham luận của Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gửi tới hội thảo. Với cách tiếp cận khoa học, xuyên suốt chiều dài hình thành, phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã nêu bật những giá trị to lớn trong tư tưởng của Bác Hồ về quân sự và quân đội nhân dân. Những tư tưởng vĩ đại đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt để quân đội không những ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, mà còn làm tốt chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó… (Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu đến bạn đọc toàn văn tham luận của Đại tướng Phùng Quang Thanh trên số báo ra ngày 2-6).

Quyết chí tìm đường cứu nước

Tham luận của các tác giả: Phan Đình Trạc, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An; Phan Xuân Biên, Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng Thư ký Hội đồng Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Trọng Xuất, Tổng Thư ký Ban biên soạn Công trình lịch sử Nam Bộ kháng chiến… và nhiều tác giả khác đã phân tích, tìm hiểu động cơ, động lực thúc đẩy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Các tác giả tập trung phân tích, lý giải trên phương diện khoa học lịch sử những yếu tố về quê hương, gia đình, xã hội…, góp phần hình thành trí tuệ, ý chí, khát vọng ra đi tìm đường cứu nước của Người.

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trao đổi với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các đại biểu tại hành lang hội thảo.

Linh mục Nguyễn Công Danh, Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam nhấn mạnh đến phẩm chất yêu nước, thương nòi của Bác. Phẩm chất ấy hình thành và phát triển ngay từ khi Người còn là một cậu bé ở vùng quê Nam Đàn. Linh mục nhấn mạnh: “Nhận thức “Hiếu với cha không bằng hiếu với nước” như lời dặn của cụ thân sinh Nguyễn Sinh Sắc trước khi Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, đã trở thành phương châm hành động của Người, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết”. Xúc cảm trước hành trình cứu nước vĩ đại của Người, Linh mục đã trình bày ca khúc “Tiếng hát từ Thành phố mang tên Người” (Nhạc Cao Việt Bách, lời Đăng Trung), được cả hội trường nhiệt liệt hoan nghênh.

Từ tấm gương về ý chí, khát vọng của Người, các nhà nghiên cứu đã liên hệ, vận dụng, đề xuất những hình thức, giải pháp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng và bồi dưỡng thế hệ trẻ của đất nước hiện nay. Đó là giáo dục nhân cách, lối sống, xây dựng đạo đức làm người, đi đôi với học tập, bồi dưỡng kiến thức văn hóa, khoa học kỹ thuật phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

Thời khắc lịch sử

PGS,TS Phan Xuân Biên, Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng Thư ký Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu rõ trong tham luận: Sự xuất hiện của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Người đã xuất hiện đúng lúc, ra đi đúng thời cơ, chọn con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.

Đồng chí Lê Hưng Quốc, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Thành phố Hồ Chí Minh đã hệ thống hóa và lý giải vấn đề một cách lô-gic những quyết định phi thường của Bác ngay từ khi lựa chọn thời điểm rời cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước.

Đồng chí Trần Trọng Tân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương với cách tiếp cận các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian, đã chứng minh ý nghĩa lịch sử trọng đại của ngày 5-6-1911. Mốc thời gian ấy đã mở ra một trang sử hiện đại đối với con đường cách mạng Việt Nam, vốn trước đó hoàn toàn bế tắc.

Tham luận của nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đã vận dụng phương pháp luận khoa học để phân tích, lý giải tầm vóc, ý nghĩa to lớn của sự kiện Bác Hồ rời cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước. Sau 100 năm nhìn lại, ý nghĩa của thời khắc lịch sử ấy vẫn vẹn nguyên tính thời sự, là niềm tin, động lực để Đảng ta, nhân dân ta lấy đó làm cơ sở, tiền đề tiếp tục vững bước thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

Và cuộc hành trình vĩ đại

Tham luận của các nhà nghiên cứu đều khẳng định, hành trình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là cuộc hành trình vĩ đại của lịch sử. Từ cuộc hành trình ấy, Người đã tìm ra ánh sáng chân lý từ chủ nghĩa Mác – Lê-nin vận dụng sáng tạo vào cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH ở Việt Nam. Chính Người đã mở lối, khai phá, đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi thời kỳ tăm tối của lịch sử, khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

PGS, TS Phạm Hồng Chương (Viện Nghiên cứu Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng) dưới góc độ tiếp cận của văn hóa, cho rằng: Giá trị cao nhất của văn hóa – văn minh là giải phóng con người, làm cho con người biết tự đứng lên để giải phóng mình. Hồ Chí Minh quan niệm giải phóng dân tộc, giải phóng con người bằng sự phát triển. Tư tưởng của Người về sức mạnh đoàn kết để giải phóng dân tộc đã tạo ra nguồn năng lượng, động lực cực kỳ mạnh mẽ từ mỗi người dân, từ sự đoàn kết của toàn dân, tạo nên sức mạnh vô song để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Để có được sức mạnh ấy, giá trị văn hóa – văn minh trong người cộng sản chính là đạo đức, nhân cách và tài năng, dũng khí…

Vững bước trên con đường Người đã chọn

Nghiên cứu con đường cứu nước của Bác để rút ra bài học lý luận và thực tiễn bổ ích, góp phần làm giàu thêm tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước là phương châm xuyên suốt của hội thảo. Với phương pháp tiếp cận đó, tham luận của các tác giả đã trình bày dưới góc nhìn chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quốc phòng – an ninh… Mỗi lĩnh vực đều có tư tưởng của Người soi rọi. Vận dụng, thực hiện thắng lợi tư tưởng của Người trên thực tiễn chính là “chìa khóa” thành công của sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta trong thời kỳ đổi mới, hội nhập.

TS Nguyễn Công Bình, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh với tham luận “Từ sự ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc cách đây 100 năm, nghĩ về định hướng XHCN ngày nay”, đã nêu các giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN. Theo TS Nguyễn Công Bình, định hướng XHCN ngày nay là sự tích lũy sức mạnh và sự năng động xã hội, nhưng không để phân hóa xã hội mà phải giải quyết các mâu thuẫn xã hội bằng chính sách, pháp luật thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đi đôi với an sinh xã hội. Chăm lo cho người nghèo, thực hiện thắng lợi công cuộc xóa đói, giảm nghèo hiện nay chính là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo tư tưởng của Bác trong thực hiện nền dân chủ xã hội theo định hướng XHCN.

Dưới góc nhìn giáo dục truyền thống, tham luận của Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu những hình thức, biện pháp nhằm phát huy ý nghĩa lịch sử, chính trị, văn hóa của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giáo dục truyền thống cách mạng.

Không chỉ gói gọn trong các tham luận, cuộc hội thảo thực sự là một đợt sinh hoạt chính trị lớn của toàn Đảng, toàn dân thông qua sự tương tác của truyền thông. Những tham luận của các tác giả sẽ được tuyên truyền, phổ biến sâu rộng để các cấp, các ngành tiếp cận, làm cẩm nang cho công tác tuyên truyền, giáo dục, vận dụng vào từng chương trình hành động nhằm mang lại hiệu quả thiết thực.

Hội thảo đã nhận được 137 bản tham luận của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ Quốc phòng, các đồng chí lão thành cách mạng, các nhà khoa học, cán bộ quản lý trong cả nước. Mỗi tham luận là một công trình khoa học, dưới những góc độ khác nhau, nêu bật tầm nhìn thời đại của Bác, thể hiện lòng biết ơn vô hạn đối với công lao trời biển của Người, rút ra những bài học thực tiễn vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và mai sau. Có 16 tham luận được trình bày tại Hội thảo.

Bài và ảnh: Đào Văn Sư – Phan Tùng Sơn

qdnd.vn

100 năm ngày Bác Hồ tới Pháp

Nước Pháp là nơi Bác Hồ đặt chân đến đầu tiên trong hành trình tìm đường cứu nước.

>> Cảng Sài Gòn và những sự kiện lịch sử
>> Theo dấu chân Bác Hồ ở Ai Cập

Lễ kỷ niệm 100 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nước Pháp, trên hành trình tìm đường cứu nước, diễn ra mới đây tại Pháp. Chương trình do Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp phối hợp với lãnh đạo thành phố Choisy-le-Roi (Pháp) tổ chức.

Người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc tại Hội nghị Hòa bình Versailles năm 1919, tổ chức tại Pháp. (Ảnh tư liệu)

Ngày 5/6/1911, từ Bến Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành lên đường sang Pháp với nghề phụ bếp, trên chiếc tàu buôn Đô đốc atouche-Tréville, mong muốn học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây.

Ngày 6/7/1911, sau hơn 1 tháng, tàu cập cảng Marseilles, Pháp. Sau khi ở Mỹ một năm (từ cuối năm 1912 đến cuối năm1913), Nguyễn Tất Thành quay trở lại nước Anh làm nghề cào tuyết, đốt lò rồi phụ bếp cho khách sạn. Cuối năm 1917, Người trở lại nước Pháp, sống và hoạt động ở đây cho đến năm 1923.

Tại Pháp, từ năm 1921-1923, Bác đã sống và chiến đấu vì quyền độc lập và tự do cho nhân dân Việt Nam và các dân tộc bị áp bức.

Ngày 18/6/1919, thay mặt Hội những người An Nam yêu nước, Người đã mang tới Hội nghị Hòa bình Versailles bản Yêu sách của nhân dân An Namgồm 8 điểm kêu gọi lãnh đạo các nước Đồng Minh áp dụng các lý tưởng của Tổng thống Wilson cho các lãnh thổ thuộc địa của Pháp ở Đông Nam Á. Bản yêu sách được trao tận tay tổng thống Pháp và các đoàn đại biểu đến dự hội nghị.

Năm 1920, Người đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lenin, từ đó Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn đi theo chủ nghĩa cộng sản.

Cũng tại Pháp, Người tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại Tours (từ 25 đến 30/12/1920) với tư cách là đại biểu Đông Dương của Đảng Xã hội Pháp và trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp và tách khỏi đảng Xã hội.

Năm 1921, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệp Thuộc địa (Union intercoloniale – Association des indigènes de toutes les colonies) nhằm tập hợp các dân tộc bị áp bức đứng lên chống chủ nghĩa đế quốc.

Năm 1922, người cùng một số nhà cách mạng thuộc địa lập ra báo Le Paria (Người cùng khổ), làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, nhằm tố cáo chính sách đàn áp, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc nói chung và thực dân Pháp nói riêng. Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp bằng tiếng Pháp (Procès de la colonisation française) do Nguyễn Ái Quốc viết được xuất bản năm 1925, đã tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa…

Cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ gắn liền với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, mà còn ảnh hưởng tới nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chính vì lẽ đó, Lễ kỷ niệm không chỉ có ý nghĩa đối với người Việt Nam trên toàn thế giới, mà còn với nhiều bạn bè quốc tế. Cũng tại Lễ kỷ niệm, Trung Tâm văn hóa Việt Nam tại Pháp đã giới thiệu và trưng bày bộ phim tài liệu Hồ Chí Minh, chân dung một con người và những bức ảnh tư liệu đen trắng quý giá về quãng thời gian hoạt động cách mạng tại Pháp của Người.

Vũ Bình

baodatviet.vn

Cảng Sài Gòn và những sự kiện lịch sử

(PL&XH) – Đúng một thế kỷ trước đây (5-6-1911), người anh hùng vĩ đại của Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã rời bến Nhà Rồng (Sài Gòn) ra đi tìm đường cứu nước. Thời gian cả trăm năm đã qua nhưng bến Nhà Rồng vẫn còn in đậm những dấu tích năm xưa.

Để ghi nhớ sự kiện ngày 5-6-1911, Bác Hồ đã xuống tàu từ bến cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước, sau ngày miền Nam giải phóng, Nhà Rồng được giữ lại làm Di tích lưu niệm 10 năm ngày mất của Người – nơi đây đã mở cửa đón khách tham quan phần trưng bày về “Sự nghiệp tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1945)”. Tiếp đến ngày 2-9-1982, UBND TP Hồ Chí Minh đã ra Quyết định số 236/QĐ-UB thành lập “Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Hình ảnh bến cảng Nhà Rồng xưa và nay

Từ đó đến nay, Bảo tàng Hồ Chí Minh – Bến Nhà Rồng đã đón tiếp hàng chục triệu lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan. Không những thế, tại đây còn thường xuyên tổ chức những lễ tổ chức kết nạp Đảng, nghe kể chuyện truyền thống, biểu diễn nghệ thuật, ngày hội vui chơi lớn của TP HCM.

Bến Nhà Rồng vốn là trụ sở Cty Tàu biển Năm Sao (còn có tên gọi là Cty Vận tải Hoàng Gia) được xây dựng từ năm 1863 nằm trên ngã ba sông Sài Gòn, đầu tuyến phố Nguyễn Tất Thành ngày nay. Sỡ dĩ người dân Sài Gòn gọi tên là Bến Nhà Rồng bởi vì trên nóc tòa nhà có gắn một đôi rồng lớn bằng đất nung, tráng men xanh quay ra hai bên. Giữa đôi rồng là chiếc phù điêu mang hình “đầu ngựa cùng chiếc mỏ neo” – là biểu tượng của Cty Vận tải Hoàng Gia. Đây là loại kiến trúc kế tiếp giữa kiến trúc truyền thống phương Đông với văn hóa phương Tây lúc đó.

Tại đây, sau khi người ta cho xây thêm cột cờ Thủ Ngữ treo cờ hiệu để tàu thuyền ra vào thuận tiện thì Nhà Rồng còn được gọi là Sở Canh tân tàu biển. Cuối năm 1899, bến tàu mới được Pháp xây cất. Năm 1911, khi người thanh niên yêu nước Việt Nam Nguyễn Tất Thành bước chân đến bến Nhà Rồng để lên con tàu Amiral Latouche Tréville làm phụ bếp thì bến này mới chỉ được lót bằng ván dày đặt trên trụ sắt dọc theo mé sông Sài Gòn. Từ bờ đến bến có cầu rộng khoảng hơn 10m. Cho đến năm 1930, Cty Vận tải Hoàng Gia mới hoàn tất việc bê tông hóa bến cảng. Con đường sát bến cảng được gọi là bến Khánh Hội.

Năm 1955, người ta đã cho tu bổ lại mái ngôi nhà và thay thế hai con rồng cũ bằng hai con rồng khác với tư thế quay đầu ra. Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất (30-4-1975), Nhà Rồng – biểu tượng của cảng Sài Gòn – thuộc Cục đường biển Việt Nam quản lý và toàn bộ kiến trúc cũ xưa của tòa trụ sở thương cảng Nhà Rồng hầu như còn lưu giữ nguyên vẹn cho tới ngày nay.

Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp, bọn xâm lược Mỹ, bến Nhà Rồng đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử như các cuộc tấn công của bộ đội Việt Nam vào vùng Khánh Hội hay sự kiện đốt cháy tàu Alee của Pháp cập bến Nhà Rồng đêm 15-10-1945 hay các cuộc bãi công, bãi thị của công nhân hãng tàu tại đây…

Tất cả những ai đến đây dù là khách thập phương hay du khách nước ngoài đều thấy tự hào và cảm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong những dòng nhật ký còn lưu giữ, người ta đã đọc được ở đây rất nhiều cảm xúc thiêng liêng đáng trân trọng – “Bác Hồ không chỉ là lãnh tụ vĩ đại của Việt Nam mà của cả chúng tôi nữa!” – Đó là những lời cảm nhận sâu sắc của Đoàn đại biểu Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khi đến thăm bảo tàng.

Nhân cách vĩ đại của Bác Hồ khiến hàng triệu trái tim bạn bè thế giới kính phục. Bởi, suốt hành trình bôn ba khắp các xứ người tìm đường giải phóng dân tộc, cuộc đời Bác Hồ là sự hy sinh vô bờ bến – Như lời ông Richard Dixon (người Anh) đã nói: “Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Những thành tựu Người thực hiện là có một không hai. Muốn hiểu rõ nước Việt Nam hôm nay thế nào thì nhất thiết phải nghiên cứu cuộc đời Hồ Chí Minh”.

Một bạn Việt kiều trong đoàn Việt kiều và sinh viên Việt Nam tại Nhật trong những ngày về thăm quê, đã viết: “Dù làm gì, ở đâu tôi cũng không được quên mình là người Việt Nam, là con cháu Bác Hồ. Tôi sẽ cùng bạn bè đem kiến thức góp phần dựng xây quê hương Việt Nam”. Hay trong lần đến bảo tàng, hình ảnh “Viên gạch sưởi ấm” rất đỗi đời thường đã khiến gợi cho bạn Trần Thị Tú Lan (Việt kiều tại Pháp) rất nhiều cảm xúc: “Viên gạch mà Bác Hồ để lại đã dạy tôi bài học về sự cần kiệm, ý chí sáng tạo từ cái nhỏ bé nhất và không bao giờ được xem thường cái gì, bởi nó có thể tạo ra cái bắt đầu thay đổi cho cuộc đời và sự nghiệp của mình! Hình ảnh viên gạch còn giúp tôi hiểu ra rằng, phải sống trọn vẹn với từng ngày, từng tháng, từng năm mình đang có và càng tự hào hơn về dân tộc Việt Nam”. Và, đúng như lời của một người Pháp đã viết nhật ký tại đây là: “Nhân dân Việt Nam phải rất tự hào vì đã có Người”.

Trước ngày lên đường cùng đội “trí thức trẻ tình nguyện” về phục vụ ở tỉnh Sóc Trăng, bạn Nguyễn Huỳnh Chín, sinh viên của một trường đại học tại TP Hồ Chí Minh đã đến đây và tâm niệm: “Thế hệ chúng cháu hôm nay coi Bác là tấm gương vĩ đại để giờ đây sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần”.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, rất nhiều thế hệ, nhiều con người đã nguyện sống xứng đáng, phấn đấu không ngừng để làm theo tấm gương vĩ đại của Người, họ đã đến đây chiêm ngưỡng những gì tại bảo tàng và cũng bày tỏ nguyện vọng của chính họ: Được nhìn tận mắt các tư liệu, hiện vật vô giá của Người, chúng con như đang đi ngược theo chuyến tàu thời gian, như được tiếp thêm động lực học tập, phấn đấu rèn luyện và hành động để xứng đáng là con cháu Bác Hồ… khắc ghi mãi mãi lời Bác dạy: “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do!”. Cả dân tộc Việt Nam luôn tâm nguyện cùng Người suốt chiều dài lịch sử hào hùng để trọn niềm vui: “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” của dân tộc Việt Nam.

Trí Hải

phapluatxahoi.vn

Tìm lại cầu tàu nơi Bác Hồ rời cảng Sài Gòn

Đến nay, người ta vẫn cho rằng Hồ Chủ tịch xuống tàu ra đi tìm đường cứu nước từ bến Nhà Rồng. Viện dẫn lý do là: Tuy Bác tìm được chân phụ bếp trên tàu Amiral Latouche Tréville thuộc hãng Năm Sao.

Nhưng hãng Năm Sao, đương thời không có bến đậu, “nên tàu của hãng Năm Sao phải đậu nhờ bến cảng Nhà Rồng”! Sự thật thì Hồ Chủ tịch không ra đi từ bến Nhà Rồng thuộc quận 4, mà từ cảng Sài Gòn (Port de Saigon) – nơi cầu tàu Nguyễn Huệ (appontement de Charner) ở bên này Sài Gòn thuộc quận 1 ngày nay.

Để giữ kín tung tích, Hồ Chủ tịch đã lấy tên Văn Ba xin làm phụ bếp dưới tàu Amiral Latouche Tréville của hãng chuyên chở Chargeurs Réunis (ta gọi là hãng Năm Sao, vì trên ống khói tàu có vẽ 5 ngôi sao). Anh Ba tới xin việc tại trụ sở hãng ở lầu một Café La Rotonde tại số 2 Catinat (Đồng Khởi). Anh Ba xuống tàu làm việc ngày 3.6.1911, hai ngày sau, tàu nhổ neo đi Singapore rồi sang Pháp.

Theo tài liệu ghi lại rõ ràng: Tàu Amiral Latouche Tréville từ Hải Phòng vào cập bến Sài Gòn ngày 2.6.1911 có trọng tải 3.572 tấn, với thuyền trưởng Maisen và đoàn thuỷ thủ 69 người. Ngày 3.6.1911, anh Văn Ba xuống tàu làm phụ bếp, ngày 5.6.1911 tàu nhổ neo. Ta hãy tìm xem tàu này cập bến nào khi tới cảng Sài Gòn.

Tàu Amiral Latouche Tréville của Hãng tàu Chargeurs Réunis (hãng Năm Sao) – con tàu đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: S.T

Cảng Sài Gòn hồi 1911 chia làm 2 phần: Quân cảng và thương cảng. Quân cảng dài chừng 600m, kể từ Nhà máy Ba Son tới công trường Mê Linh (khi ấy gọi là Quai Primauguet, nay là một phần đường Tôn Đức Thắng). Thương cảng cũng dài chừng 600m, kể từ công trường Mê Linh tới cầu Khánh Hội (khi ấy gọi là Quai Francis Garnier, nay cũng là một phần đường Tôn Đức Thắng). Bến Nhà Rồng ở bên Khánh Hội, coi như nối tiếp với thương cảng.
Bờ sông bên Khánh Hội từ ranh Nhà Rồng tới cầu Tân Thuận dài trên 1km gọi là bến Tam Hội. Bến đó chưa có cầu tàu, kho hàng và trang bị cần thiết cho việc bốc xếp hàng hóa. Cầu Khánh Hội chưa làm kiên cố để nối đường xe hỏa từ Sài Gòn sang. Như vậy, các tàu lớn viễn dương chưa thể cập bến Tam Hội. Năm 1914, cảng Tam Hội – sau gọi cảng Khánh Hội – mới được khánh thành (đồng thời với chợ Bến Thành mới bây giờ). Do đó, tàu Amiral Latouche Tréville và các tàu khác của hãng Năm Sao tất phải cập bến thương cảng Sài Gòn ở phía quận 1 nay.

Thương cảng hồi 1911 khá tấp nập, trang bị đầy đủ và ở vào đầu mối giao thông rất thuận lợi, chỉ dài 600m mà có tới 6 đại lộ châu đầu vô bến. Thương cảng Sài Gòn khi ấy có 5 cầu tàu (appontement): 3 cầu tàu nhỏ ở đầu đường Catinat (Đồng Khởi) dành cho các hãng chuyên chở đường sông, 1 cầu tàu lớn ở đầu đường Charner (Nguyễn Huệ) dành cho các tàu lớn chạy viễn dương và 1 cầu tàu nhỏ ở đầu đường Krantz-Duperré (Hàm Nghi) dành cho hãng tàu người Hoa.

Tình hình này đúng như Brebion đã mô tả thương cảng Sài Gòn hồi 1911: “Trên bến Francis Garnier (nay là một phần đường Tôn Đức Thắng kể từ công trường Mê Linh tới cầu Khánh Hội), phía bờ sông có nhiều loại cầu tàu chiếm chỗ. Một trong số cầu tàu lớn nhất là nơi cập bến các tàu lớn thuộc Hãng Chargeurs Réunis”.

Như vậy, ta có thể khẳng định là tàu Amiral Latouche Tréville trên có anh Văn Ba làm phụ bếp đã cập bến ở cầu tàu lớn nơi đầu đường Nguyễn Huệ. Đây là một vị trí khang trang và khoảng khoát nhất thành phố: Nhìn vào đất liền qua đường Nguyễn Huệ rộng rãi thấy trụ sở Uỷ ban Nhân dân thành phố (nhà Xã Tây cũ với kiến trúc đặc sắc ghi dấu một thời), nhìn sang phía sông thấy ngôi Nhà Rồng đồ sộ với dáng vẻ Âu – Á pha trộn dễ gây ấn tượng (nay là Bảo tàng Hồ Chí Minh) và sông nước bao la rừng cây bát ngát lan rộng thẳng tới Thái Bình Dương…

Sự ra đi của Bác năm 1911, thực là bức xúc: Bác đã chứng kiến cuộc nổi dạy chống Pháp của Hoàng Hoa Thám vô vọng, phong trào Duy Tân (1901) với Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu bị trấn áp ngay từ đầu, kế hoạch Đông Du (1905-1909) của Phan Bội Châu không được Phan Chu Trinh hoàn toàn tán trợ, Đông kinh nghĩa thục (1907) bị cấm cản, phong trào chống thuế (1908) sôi nổi ở miền Trung cũng bị đàn áp dã man…

Hàng trăm sĩ phu yêu nước phải lãnh những bản án tử hình hay tù đày ra Côn Đảo… Sứ mạng giải phóng quê hương hầu như bế tắc. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã phải ưu tư sâu sắc và mãnh liệt đến mức nào trước khi dấn thân vào một phương hướng khác.

Từ Sài Gòn, Bác ra đi năm 1911, Bác về Pác Bó năm 1941. Năm nay 2011, kỷ niệm 100 năm ngày Bác ra đi và 70 năm ngày Bác trở về. Lúc Bác ra đi mới 21 tuổi.

Ghi nhận chính xác thời điểm và địa điểm khi Bác ra đi, ngõ hầu lập bia kỷ niệm đánh dấu di tích trang trọng để cho hậu thế luôn nhớ tới hành trình cứu quốc vĩ đại của Bác Hồ kính yêu.

Theo LĐO

phapluatxahoi.vn