Báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản

1. Địa lý: ấn Độ China thuộc Pháp, còn có tên là “Đông Dương”, gồm 5 vùng, Ai Lao, Cao Miên, Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ. Ba vùng sau là Việt Nam.

2. Dân tộc: Toàn Đông Dương có khoảng 25 triệu dân. Dân tộc Việt Nam chiếm tuyệt đại đa số: 20 triệu người. Cao Miên hơn 2 triệu người. Lào, Mán, Thổ và các dân tộc thiểu số khác cộng trên dưới 3 triệu người.

3. Chế độ chính trị: Nam Kỳ bị Pháp chinh phục trước tiên, là xứ thuộc địa. Trung Kỳ, Cao Miên, Ai Lao là nước bảo hộ, có quốc vương. Bắc Kỳ là Territory (khu quản hạt).

Toàn bộ chính quyền Đông Dương nằm trong tay Toàn quyền người Pháp. Mỗi vùng có một Khâm sứ người Pháp. Mỗi tỉnh có một Công sứ người Pháp. Ngoài ra, còn có người bản xứ làm tỉnh trưởng, tri phủ, tri huyện, v. v.. do người Pháp uỷ nhiệm.

4. Tài nguyên: Nam Kỳ sản xuất nhiều lúa gạo nhất. Mỗi nǎm xuất khẩu khoảng từ 1500 đến 1800 tấn. Bắc Kỳ nhiều nhất là khoáng sản. Mỗi nǎm sản xuất 2 triệu tấn than. Các kim loại đều có. Còn các vùng khác thì đất xấu, dân nghèo.

5. Nạn bóc lột: Ruộng vườn nhà cửa, các việc ma chay cưới xin, sinh con đẻ cái, các loại gia súc 1 , nhất nhất đều phải nộp thuế. Nam từ mười bảy, mười tám đến nǎm mươi lǎm tuổi, hằng nǎm phải nộp thuế thân, từ hai đồng đến mười hai đồng. Sau khi nộp thuế, mỗi người được phát một tấm thẻ ghi rõ tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp, hình dạng, có lý trưởng và tỉnh trưởng Pháp ký tên đóng dấu. Thẻ đó, ai cũng phải mang theo người. Nếu không sẽ bị bắt giữ. Người Pháp lợi dụng cách đó để ngǎn chặn những người cách mạng hành động.

6. Quốc phòng: Quân số không rõ, có khoảng chừng ba vạn lính. Phần lớn là lính bản xứ. Một số ít là “lính lê dương”. “Lính lê dương” không phải là người Pháp, mà người quốc tịch nào cũng có. Họ đều là những tù nhân chạy trốn. Quân lính đóng ở các thành phố lớn và vùng biên giới. Máy bay rất ít. Lực lượng hải quân cũng yếu ớt. Theo mật thám Nhật Bản nói: chỉ cần hai sư đoàn là đủ để chinh phục Đông Dương.

Do đối xử không công bằng – lính bản xứ không được làm sĩ quan, đời sống lại rất khổ – cho nên họ rất ghét người Pháp.

7. Phong trào giải phóng: Nổi tiếng nhất có:

– Sau nǎm 1880: ở Trung Kỳ, có “Khởi nghĩa vǎn thân” do Phan Đình Phùng lãnh đạo. ở Bắc Kỳ, có du kích chiến của Hoàng Hoa Thám. Đến nǎm 1912, Hoàng Hoa Thám bị ám sát, khởi nghĩa mới bị dập tắt 1 .

– Nǎm 1908: Nông dân Trung Kỳ bạo động.

– Nǎm 1910: Binh lính Hà Nội mưu đánh chiếm Hà Nội.

– Nǎm 1915: Nhân cuộc chiến tranh đế quốc lần thứ nhất, vua An Nam khởi nghĩa ở Trung Kỳ. ở Bắc Kỳ, binh lính Thái Nguyên khởi nghĩa, do một chính trị phạm lãnh đạo. Thổ dân vùng thượng du Bắc Kỳ cũng nổi dậy.

– Đầu nǎm 1930: Việt Nam Quốc dân đảng khởi nghĩa ở Yên Bái (Bắc Kỳ).

– Nǎm 1930 – 1931: Nông dân Trung Kỳ thành lập Xôviết, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

– Sau nǎm 1936, có phong trào của Mặt trận Dân chủ.

8. Các tầng lớp xã hội và khuynh hướng của họ:

– Công nhân: ở Bắc Kỳ, công nhân mỏ than chiếm tuyệt đại đa số. Thứ đến công nhân đồn điền ở Nam Kỳ, rồi đến công nhân đường sắt, công nhân xưởng công binh Sài Gòn, công nhân dệt, v.v.. Tổng cộng không đến một triệu người. Họ tuy không có quyền tự do tổ chức công hội, nhưng trong hai thời kỳ 1930-1931 và 1936-1939, họ đấu tranh rất mạnh mẽ.

– Nông dân: Những nǎm 1930-1931, nông dân Nam Kỳ và Trung Kỳ tổ chức (bí mật) rất tốt, đấu tranh rất dũng cảm. Bắc Kỳ chỉ có một số ít tỉnh có tổ chức và đấu tranh. Sau này, nông dân Trung Kỳ đã phải lùi bước vì bị khủng bố gắt gao. Hiện tại, nông dân Nam Kỳ đoàn kết tốt hơn so với các địa phương khác.

Công nhân, nông dân đương nhiên là rất cǎm ghét người Pháp.

– Trí thức: Từ học trò đến công chức, thầy thuốc, vì có trình độ vǎn hoá tương đối cao, có điều kiện tiếp cận với người Pháp, hai vì họ bị người Pháp coi thường, cho nên họ đều rất ghét người Pháp. Song vì không có tổ chức, thiếu người lãnh đạo, cho nên họ “dám nghĩ mà không dám nói”.

– Tiểu thương: Thương nghiệp lớn đều nằm trong tay người Pháp, cỡ nhỏ hơn trong tay Hoa kiều. Người Việt Nam chỉ buôn bán nhỏ. Họ không ngoi lên được bởi các thứ thuế má nặng nề, do đó họ cũng rất cǎm ghét người Pháp, đồng tình với cách mạng.

– Giai cấp tư sản dân tộc: Trong người Việt không có ai làm chủ nhà máy lớn, chủ hiệu buôn lớn hoặc chủ nhà bǎng như người Trung Quốc. Họ thường chỉ là những chủ xưởng nhỏ như xưởng rượu, xưởng xay sát lúa gạo, xưởng in. Lúc bị chèn ép, họ oán người Pháp. Khi phong trào công nhân lên mạnh, họ sợ cách mạng. Nhưng trong số đó cũng có vài người giúp đỡ cách mạng. Thế lực của họ rất yếu ớt, không có tổ chức.

– Quan lại, địa chủ: Họ tuy hai mà một, một mà hai. Quan lại lớn đồng thời là địa chủ lớn. Ví dụ, tỉnh trưởng tỉnh Hà Đông ở Bắc Kỳ, một mình y chiếm hai phần ba ruộng đất toàn tỉnh. Bọn này cùng với đế quốc Pháp sống dựa vào nhau. Địa chủ lớn ở Nam Kỳ có đoàn thể riêng: “Đảng lập hiến”. Địa chủ các vùng khác không có tổ chức gì cả.

– Vương công: như hoàng đế An Nam, quốc vương Cao Miên, v.v.. Tất nhiên họ là những rường cột phản động. Người Pháp lợi dụng họ làm bù nhìn để thi hành những luật pháp thời Trung cổ. Trước chiến tranh đế quốc lần thứ hai, ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ còn có một chút quyền tự do, như tự do xuất bản; còn ở Trung Kỳ, Cao Miên, Lào, ngay cả chút tự do đó cũng không có.

Nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ, như nǎm 1885 vua Hàm Nghi và nǎm 1915 vua Duy Tân đã đứng ra lãnh đạo chống Pháp.

– Hoa kiều: Chiếm vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế ở Đông Dương. ở bất kỳ thành phố nào, nhỏ là quán cà phê, lớn là ngành buôn bán xay sát gạo, phần lớn đều là của họ. Số Hoa kiều có khoảng trên dưới 50 vạn người, đại đa số là người Quảng Đông và người Phúc Kiến. Họ đều có tổ chức “bang”, như bang Quảng Đông, bang Phúc Kiến, bang Triều Châu, bang Hải Nam. Mỗi Hoa kiều là một “bang viên”, không ai đứng ngoài. Và chính phủ Pháp cai trị dân Hoa kiều thông qua các “bang” này. Về mặt chính trị, Quốc dân đảng (Trung Quốc – ND) và Đoàn thanh niên Tam dân chủ nghĩa rất hoạt động. ở Nam Kỳ, công nhân Hoa kiều cũng rất hoạt động, có thời kỳ An Nam Cộng sản đảng có hơn vạn đảng viên là Hoa kiều.

9. Các đảng phái:

A- Đảng Lập hiến: Thành lập ở Nam Kỳ sau Chiến tranh đế quốc lần thứ nhất, là đảng của những địa chủ lớn. Họ không có cương lĩnh, điều lệ, thẻ đảng gì cả. Từ ngày thành lập chưa họp lần nào, nhưng lại có riêng một tờ nhật báo bằng tiếng Pháp. Mấy người tự xưng là lãnh tụ đứng ra kêu gào bênh vực Chính phủ Pháp, bênh vực quyền lợi của địa chủ.

B- Tân Việt đảng: Tổ chức tại Trung Kỳ nǎm 1925, do một số trí thức đứng ra thành lập. Sau này, những phần tử tiến bộ đã gia nhập Đảng Cộng sản, số phần tử xấu bỏ chạy. Hiện không còn tồn tại nữa.

C- Quốc dân đảng 20 : Do giai cấp tiểu tư sản – những thầy giáo, luật sư, v.v. tổ chức ra tại Bắc Kỳ nǎm 1927. Họ tuyên bố theo chủ nghĩa Tôn Trung Sơn, cũng tuyên bố sẽ hợp tác có điều kiện với người Pháp, ráo riết tuyên truyền vận động trong binh lính người bản xứ. Vì tổ chức không chặt chẽ, nhiều mật thám đã chui vào được, dẫn đến việc nǎm 1929 phần lớn đảng viên bị bắt. Thế là các lãnh tụ của đảng này tuyên bố: “Đánh cũng chết, không đánh cũng chết, phải quyết một phen sống mái!”. Vào đầu nǎm 1930 họ làm bạo động ở Yên Bái (Bắc Kỳ). Tuy có nhiều binh lính bản xứ tự nguyện tham gia, nhưng vì tổ chức và lãnh đạo không tốt, cuộc bạo động đã nhanh chóng thất bại, rất nhiều người bị hy sinh. Một số lãnh tụ thứ yếu chạy sang Vân Nam, tiến hành công tác tổ chức bằng cách khủng bố và cưỡng ép. Họ mang súng lục và dao gǎm đến nhà Việt kiều rồi hỏi: “Anh có đồng ý gia nhập đảng của chúng tôi hay không?”. Bị doạ dẫm như vậy, không ít người Việt sống ở Vân Nam đã trở thành đảng viên Quốc dân đảng. (Nhiệm vụ của đảng viên là đóng đảng phí, vâng lời các lãnh tụ). Do đó, có một thời kỳ, thế lực của họ ở Vân Nam rất lớn. Ví dụ, trong toa tàu trên tuyến xe lửa Vân Nam – Việt Nam, họ có hòm thư riêng của mình. Một lần, lãnh sự Pháp bí mật bắt cóc một đảng viên, dùng xe riêng đưa về Bắc Kỳ. Quốc dân đảng cử ngay một chiếc xe đi cướp lại đảng viên đó.

Nhưng vì các lãnh tụ đảng này có thái độ ngang ngược quá đáng đối với Việt kiều như chửi mắng, chém đầu, nên ai cũng chán ghét. Lại vì chuyện họ giết một tên mật thám rồi chặt đầu ném trước lãnh sự quán Pháp, nên Chính phủ Pháp lợi dụng vấn đề này can thiệp với Chính phủ Vân Nam. Chính phủ Vân Nam đã trục xuất các lãnh tụ Quốc dân đảng. Từ đó, Việt Nam Quốc dân đảng hoàn toàn tan rã.

Gần đây, có vài ba người (trong đó có một người nghi là tay sai Pháp kiêm Hán gian, vì hắn không có nghề nghiệp gì mà sinh hoạt rất sang trọng) lợi dụng tình hình Hoa – Việt, đề nghị với tỉnh đảng bộ Côn Minh giúp đỡ sửa chữa và công bố một “Tuyên ngôn về thời cuộc” (Tuyên ngôn xem sau), cho phân phát truyền đơn “Kính cáo Việt kiều” bằng tiếng Việt. Hai tài liệu trên đây vừa xuất hiện thì bị các đảng viên cũ phản đối mạnh mẽ. Có mấy người tìm đến các đồng chí của chúng tôi, đề nghị giúp đỡ viết một Tuyên ngôn phản đối bản Tuyên ngôn trên.

D- Đảng Cộng sản: Nǎm 1924, một vài thanh niên Việt Nam học ở trường quân sự Hoàng Phố và một số thanh niên Việt Nam sống ở Quảng Châu tổ chức ra “Tâm tâm đảng” với ý nghĩa “Tâm tâm tương ấn” 1 . Hành động đầu tiên cũng là hành động cuối cùng của họ là vụ nổ bom mưu sát Toàn quyền Đông Dương khi y đến thǎm Sa Diện 2 . ít lâu sau, đoàn thể này cải tổ thành “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” 3 . Lúc này, nhờ sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và các đồng chí Nga ở Quảng Châu, “Hội Thanh niên” hoạt động rất sôi nổi. Nhiều đoàn viên tiên tiến đã tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đồng thời tổ chức nhiều lớp huấn luyện, cử người về nước tìm thanh niên đưa sang học. Học xong, đưa về nước công tác. Lúc này, cả ông Tưởng 4 , ông Tống 5 , ông Bạch 6 cũng có sự giúp đỡ. Những học viên không về nước được, thì đưa vào học ở Trường quân sự Hoàng Phố. Từ đó, toàn Đông Dương, nhất là ở ba kỳ Nam, Trung, Bắc đều có tổ chức và hoạt động của “Hội Thanh niên”.

Nǎm 1927, Quảng Châu có chính biến, Lý Tế Thâm muốn tìm tôi, nhưng tôi đã đi rồi. Số học sinh Việt Nam ở Trường quân sự Hoàng Phố bị bắt giam một nǎm, sau khi được tha họ đều chạy sang phía Hồng quân. ở Việt Nam, “Hội Thanh niên” vẫn tiếp tục phát triển.

Nǎm 1929, tại Hương Cảng, họ họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng. Trong Đại hội, các đại biểu Bắc Kỳ đề nghị thành lập Đảng Cộng sản, nhưng không được thông qua. Họ bèn rút khỏi hội nghị, về nước tổ chức “Đông Dương Cộng sản đảng”.

Mấy tháng sau, “Hội Thanh niên” Nam Kỳ cũng tổ chức ra “An Nam Cộng sản đảng”.

Đứng giữa hai “đảng”, “Hội Thanh niên” Trung Kỳ và cánh tả của Tân Việt không biết đi đâu, theo đâu, bèn tổ chức ra “Cộng sản liên đoàn”. Do đó, cùng một lúc trong một nước có ba “Đảng Cộng sản” không thống nhất được với nhau.

Cuối nǎm 1929, tôi đến Hương Cảng, triệu tập một hội nghị. Kết quả đã thống nhất được ba “đảng” thành Việt Nam Cộng sản đảng, sau đổi tên thành “Đông Dương” Cộng sản đảng. Vì lúc này người Pháp ráo riết thi hành chính sách vơ vét thuộc địa để phục hưng nước Pháp nên nhân dân Việt Nam bị bóc lột rất nặng nề, lại vì các đồng chí chúng ta rất hǎng hái và cố gắng, nên đã tổ chức được rất nhanh, rất tốt công nhân, nông dân và học sinh. ở Việt Nam, sau cuộc bạo động của Quốc dân đảng, Chính phủ Pháp đã thi hành triệt để chính sách khủng bố trắng, nhưng càng khủng bố thì quần chúng đấu tranh càng dũng cảm. Từ 1-5-1930, phong trào bãi công, bãi khoá, bãi thị, chống thuế lan rộng khắp cả nước; đến tháng 9, nông dân Trung Kỳ đã thành lập Xôviết trong một số huyện, nhất là ở 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Họ thực hiện các chế độ như chia ruộng đất, nam nữ bình quyền, phổ thông đầu phiếu, v.v.. Chính quyền của người Pháp lúc này không còn tồn tại ở nhiều thôn xã nữa. Chính phủ Pháp buộc phải dùng tàu bay, súng máy, “lính lê dương” giết sạch, đốt sạch khu Xôviết. Cả nước chìm ngập trong khủng bố trắng. Đảng viên và những phần tử tích cực trong quần chúng, gái trai già trẻ bị tàn sát kể tới hàng ngàn người, mười sáu ngàn người bị lưu đày sang Guyan (châu Mỹ) và các hoang đảo khác.

Sau tháng 5-1931, phong trào cách mạng tiếp tục bị đàn áp.

Sau nǎm 1933, Đảng dần dần khôi phục lại được tổ chức.

Nǎm 1936, sau khi Mặt trận nhân dân Pháp giành được thắng lợi, một số cải cách tiến bộ đã được thực hiện ở Đông Dương. Chẳng hạn, chấm dứt khủng bố trắng, nhiều tù chính trị được tha. Mặc dầu vẫn trong tình trạng bí mật hoàn toàn, nhưng công tác của Đảng có phần dễ dàng hơn.

Sau Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản, Đảng thi hành chính sách Mặt trận thống nhất, bắt đầu tổ chức “Mặt trận dân chủ Đông Dương”. Tất cả những người Đông Dương có khuynh hướng dân chủ, chi bộ Bắc Kỳ của Đảng Xã hội Pháp, v.v. đều tham gia. Công nhân, nông dân tuy chưa được tự do tổ chức công hội, nông hội, song các tổ chức quần chúng như Hợp tác xã, Hội ái hữu, Hội tương tế, v.v. cũng nhanh chóng lần lượt thành lập ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ.

Đảng tuy bí mật, song báo chí của Đảng lợi dụng những danh nghĩa khác nhau đã công khai xuất bản. Sau nǎm 1938, ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ, báo Đảng hoàn toàn công khai và nhanh chóng trở thành những tờ báo có ảnh hưởng rộng lớn.

ở đây, chúng tôi cần nêu ra một đặc điểm rất lý thú của Đảng Cộng sản Việt Nam mà e rằng nhiều đảng anh em trên thế giới không có: Đảng có hai loại đảng viên, đảng viên bí mật và đảng viên công khai. Những đồng chí trước đây bị bắt, bị tù đầy, được tha sau nǎm 1936, là những đảng viên công khai. Các đồng chí này công khai hoạt động, như phụ trách báo chí của Đảng, tham gia các phong trào quần chúng với danh nghĩa Đảng, lấy danh nghĩa cộng sản ứng cử vào các hội đồng dân biểu kỳ, tỉnh. Có người nhân danh chi bộ Đông Dương của Đảng Xã hội Pháp để thực hiện các chính sách của chúng tôi. Do đó, không chỉ trong quần chúng công nông, mà trong nhân dân nói chung, ảnh hưởng của Đảng tương đối lớn. Ví dụ, các vị dân biểu trong “Viện dân biểu” Trung Kỳ vốn là nơi thế lực phong kiến mạnh nhất, cũng đều có sự gần gũi với chúng tôi.

Từ nǎm 1937 đến tháng 9-1939, những cuộc thị uy của nông dân, bãi công của công nhân do Đảng lãnh đạo hầu như diễn ra liên tục.

E. Đảng bảo hoàng: ở Bắc Kỳ có một đảng tên là Đảng bảo hoàng. Họ có một tờ báo riêng. Một số quan lại dựa vào thế lực của nhà vua để hoạt động. Họ không có ảnh hưởng gì. Trái lại, dân chúng nói chung rất coi thường họ.

G. Phái tờrốtxkít: Vì quan hệ cá nhân: người lãnh đạo của phái này tên là Tạ Thu Thâu là một trí thức lưu học tại Pháp, vǎn chương rất bóng bẩy, có tài ǎn nói, lại là một kẻ đạo đức giả, nguỵ quân tử, cho nên thanh niên và công nhân ở Sài Gòn chịu ảnh hưởng của phái này rất nặng. Song, trong nông thôn Nam Kỳ và ở các địa phương khác, họ không có thế lực.

Tóm lại, chúng tôi có thể nói rằng, ở Đông Dương chỉ có Đảng Cộng sản là một chính đảng chân chính, có tính chất toàn quốc và có quần chúng.

Muốn biết tình hình Việt Nam như thế nào từ sau khi bùng nổ cuộc Chiến tranh đế quốc lần thứ hai, xin xem phần phân giải dưới đây:

TÌNH HÌNH VIỆT NAM SAU KHI CHIẾN TRANH CHÂU ÂU BÙNG NỔ

1. Về chính trị. Chính phủ Pháp giải tán tất cả các đoàn thể quần chúng ở Việt Nam như Hợp tác xã, Hội ái hữu, Hội tương tế, v.v.; đóng cửa các báo chí tương đối tiến bộ; bắt bớ giam cầm nhiều phần tử tiên tiến, nhất là thanh niên; tiếp tục tiến hành khủng bố trắng.

2. Về kinh tế. Gia tǎng mức thuế cũ, đặt ra nhiều loại thuế mới, giá cả sinh hoạt tǎng vọt. Ngoài thuế má nặng nề, tǎng cường vơ vét tài nguyên và các hình thức cướp đoạt khác, khiến dân chúng hết đường sống, lòng dân sôi sục cǎm hờn.

3. Về quân sự. Phần lớn trai tráng, từ mười sáu đến nǎm mươi lǎm tuổi đều bị lôi vào lính, đưa sang Cận Đông và Pháp. Có địa phương, bốn phần mười bị bắt đi. Đã phải xuất tiền, lại phải xuất người, cho nên dân chúng ngày càng bất bình.

4. Về xã hội. ở Việt Nam vốn chẳng có cái gì gọi là bảo hiểm xã hội. Từ khi bùng nổ chiến tranh châu Âu, thời gian làm việc bị kéo dài, lương bị giảm, sức mua giảm sút. Lại thêm tình trạng bất kể là công nhân hay viên chức, động chạm đến Chính phủ Pháp là bị xét xử theo quân luật. Sống dưới sự áp bức bóc lột tàn khốc như vậy, dù là sĩ nông công thương, ai cũng cǎm thù ách thống trị của người Pháp, ai cũng có tâm lý “tao với mày cùng chết”.

Thêm nữa, người Pháp nào mở miệng cũng nói nước Pháp hùng mạnh thế này thế nọ, quân Pháp anh dũng thế này thế nọ, Pháp sẽ thắng lợi thế này thế nọ, nên từ ngày nước Pháp buộc phải đầu hàng Đức thì uy tín của người Pháp đã bay lên quá chín tầng mây, còn người Việt Nam trong lòng không ai là không mừng rỡ. Không hiếm người muốn lợi dụng cơ hội này đánh đổ ách thống trị của người Pháp. Chỉ vì không có người tổ chức và lãnh đạo họ. Vì sao Đảng Cộng sản không tổ chức và lãnh đạo họ? Vì tám chín phần mười số cán bộ cũ đã bị bắt. Cán bộ mới thì còn thiếu kinh nghiệm và chưa đủ lực lượng. Ngoài ra, còn một vấn đề nữa muốn kêu gọi toàn dân đứng lên phải có người đủ uy tín danh vọng, nói được làm được đi tiên phong thì mới có kết quả.

TÌNH HÌNH SAU KHI PHÁP ĐẦU HÀNG ĐỨC

Tình hình hiện nay phức tạp hơn nhiều! Việt Nam là Việt Nam của ai đây?

Đức – với tư cách là nước chiến thắng, đương nhiên sẽ coi Việt Nam là Việt Nam của nước Đức.

Anh – vì nó thu nhận “Uỷ hội quốc gia Pháp” 1 , nên cũng cho rằng Việt Nam có khả nǎng trở thành Việt Nam của nước Anh. Trung tuần tháng 6, hải quân Anh đã dự định làm một cuộc “diễu hành thị uy vui vẻ” với Pháp ở Sài Gòn. Nghe nói sau này không diễu hành nữa.

Mỹ – vì vấn đề Philíppin, Mỹ tỏ ra ghen ǎn trước việc Nhật chiếm Việt Nam. Gần đây, họ thường nói đến “chủ nghĩa Mônrô”, việc nhòm ngó Thái Bình Dương là bước mở đầu của Mỹ.

Trung Quốc – có người chủ trương: phía Pháp không thể bảo vệ được Việt Nam, Trung Quốc nên xuất binh thay Pháp bảo vệ Việt Nam để chống Nhật.

Nhật Bản – hiện đang mưu toan nhanh chóng chiếm Việt Nam. Nó đã hoàn thành bước thứ nhất: một mặt chiếm Trấn Nam Quan, từ cứ điểm này, nội trong ba tiếng đồng hồ, quân Nhật đã có thể tới được Hà Nội. Một mặt, phái hạm đội tuần phòng vịnh Đông Điều, sẵn sàng đổ bộ lên Hải Phòng dễ như trở bàn tay. Mặt khác, dùng hải lục không quân uy hiếp các thành phố, các ga xe lửa quan trọng ở Bắc Kỳ, thực hiện việc phong toả Trung Quốc, đồng thời giám sát hành động của Chính phủ Pháp và người Việt Nam. Nghe nói, Bộ lục quân Nhật Bản đề nghị dùng vũ lực để nhanh chóng chiếm lấy Việt Nam.

Chính phủ Pháp ở Đông Dương tuy tuyên bố không thừa nhận Chính phủ Pêtanh, phục tùng “Uỷ hội quốc gia Pháp” ở Luân Đôn và kháng chiến đến cùng. Nhưng đối với Nhật Bản thì rǎm rắp nghe theo. Ví dụ: Họ ngoan ngoãn chấp hành việc phong toả Trung Quốc. (Có một người từ Hà Khẩu sang Lào Cai, mua một cân bột mỳ. Lúc trở về, lính Pháp nói với anh ta: “Mày phải ǎn hết bột mỳ rồi hãy đi. Nếu mày mang bột mỳ sang qua cầu, tao sẽ bắn chết mày!”. Họ gửi quà uý lạo quân Nhật đóng ở Trấn Nam Quan. Không những cho phép máy bay Nhật được quyền lên xuống sân bay Hà Nội mà còn đồng ý cho Nhật được sử dụng máy bay của Pháp, v.v.. Còn đối với người Việt Nam, Chính phủ Pháp tiếp tục thi hành chính sách khủng bố trắng.

ý định của Chính phủ Pháp là: Nếu phải giao Việt Nam cho Đức hoặc phải trả lại cho người Việt Nam thì chi bằng dâng Việt Nam cho Nhật Bản tốt hơn.

Còn người Việt Nam đối với Nhật thì thế nào? Vì họ đã quá cǎm ghét người Pháp, lại vì không được nghe, được biết những tội ác hãm hiếp, tàn sát của người Nhật ở Trung Quốc, nên họ nghĩ rằng nếu không được tự do độc lập, bọn quỷ vàng có đến cũng còn hơn quỷ Pháp. Cũng có người nghĩ rằng: Chúng ta nên lợi dụng cơ hội rối ren này mà dấn lên, thành bại ra sao, chưa cần tính tới.

ĐỘNG CƠ HÀNH ĐỘNG CỦA CHÚNG TÔI

1. Cơ sở của chủ nghĩa đế quốc Pháp đã tan rã. Chúng không còn lực lượng giải quyết công việc của Việt Nam. Đức, ý tuy cho phép Pháp giữ lại lực lượng hải quân để bảo vệ thuộc địa của nó, nhưng xung đột của hải quân Anh, Pháp khiến hải quân Pháp không thể hoạt động tại Viễn Đông. Huống hồ, tàn quân sau đại bại, về tinh thần cũng như về vật chất, đều không đáng kể.

2. Đức hiện nay đang dốc toàn lực ra để đối phó với Anh – Mỹ và giải quyết vấn đề Pháp, Hà Lan, v.v. chưa thể quan tâm nhiều tới các thuộc địa tương lai.

3. Nhật tuy hung hǎng, nhưng đại bộ phận thực lực của nó đã bị kiềm chế do cuộc kháng chiến của Trung Quốc, cũng không thể dốc toàn lực ra để chinh phục Việt Nam.

4. Lực lượng vũ trang của Pháp ở Việt Nam, phần lớn là binh lính người Việt. Binh lính người Việt vốn có truyền thống cách mạng. Vụ bạo động ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái là những ví dụ. Nếu chúng ta biết khéo léo kêu gọi, thì họ – ít nhất là một bộ phận- có khả nǎng quay súng chống lại Pháp (hoặc chống lại Nhật).

5. Lực lượng của chúng tôi hiện nay tuy chưa thể tính toán được, nhưng quân đồng minh hiện có của chúng tôi rất mạnh. Ngoài Liên Xô, phía tây có ấn Độ, phía đông có khu giải phóng rộng lớn của Trung Hoa.

6. Nhân dân Việt Nam tuy hiện nay chưa được tổ chức, nhưng ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng mong muốn độc lập, tự do, và đang trong tư thế một người lên tiếng vạn người ủng hộ.

Tóm lại, những điều kiện khách quan cho phép chúng tôi có hy vọng thành công. Song, lực lượng chủ quan – lực lượng của Đảng còn quá yếu. Như trên đã nói, một đảng mới mười tuổi lại trải qua hai lần khủng bố lớn, số cán bộ có kinh nghiệm đấu tranh hiện còn đang rên xiết trong tù ngục, khiến đảng viên và quần chúng như “rắn không đầu”, không thể tận dụng cơ hội tốt “nghìn nǎm có một”.

Chúng tôi liệu có khả nǎng làm thay đổi hoàn cảnh đó, khắc phục khó khǎn đó, giúp Đảng hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó hay không? Có. Chúng tôi nhất định không thể từ trong đánh ra, chúng tôi chỉ có cách từ ngoài đánh vào. Nếu chúng tôi có được:

(1) Tự do hành động ở biên giới.

(2) Một ít súng đạn.

(3) Một chút kinh phí.

(4) Vài vị cố vấn,

thì chúng tôi nhất định có thể lập ra và phát triển một cǎn cứ địa chống Pháp, chống Nhật – đó là hy vọng thấp nhất. Nếu chúng tôi có thể mở rộng Mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức, có thể lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước đế quốc thì tiền đồ tươi sáng là có thể nhìn thấy được. Tôi rất hy vọng các đồng chí giúp tôi nhanh chóng giải quyết vấn đề này.

12-7-40

Bút tích chữ Hán, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

“Ôông-Trôi-Co-Mat”

Đó là một câu nói của Việt Nam, nghĩa của nó là “ông trời có mắt”. Từ khi nước Pháp thất bại thảm hại và phải đầu hàng, câu nói đó rất thịnh hành ở Việt Nam. Ký giả lúc đầu không rõ lý do tại sao, sau được một người bạn Việt Nam giải thích rằng: Hồi thế kỷ XIX, người Pháp phải mất 20 nǎm (1) – từ 1862 đến 1883 – mới chinh phục nổi Việt Nam, vậy mà nay, chưa được vài tháng, nước Pháp hoàn toàn đã bị nước Đức chinh phục! Trước kia, đế quốc Pháp chiếm cả một khu vực rộng 12 triệu cây số vuông, cai trị 60 triệu dân thuộc địa, vậy mà nay, ba phần nǎm nước Pháp bị người ta chiếm đóng, 28 triệu người Pháp hoá thành dân mất nước, 14 vạn người chết trận, hơn 20 vạn người bị thương, 25 vạn người chạy ra nước ngoài, 2 triệu người bị bắt làm tù binh trở thành nô lệ cho quân Đức! Trước kia, đế quốc Pháp bóc lột vơ vét tận xương tuỷ dân Việt Nam và dân các xứ thuộc địa, vậy mà nay, nước Pháp mỗi ngày phải cung phụng cho quân Đức 400 triệu phrǎng, phải nộp 58% bột mỳ, các nguyên liệu khác cũng bị vơ vét mang đi sạch, đến nỗi chín phần mười dân vùng Pari thất nghiệp, dân chúng cả nước phải chịu đói rét. Tất cả, tất cả những chuyện ấy chẳng phải là “ông trời có mắt”, đang trả thù cho các dân tộc nhỏ yếu chúng ta đó sao? Lại nữa, người Pháp đều gọi tất cả những cái gì là không hợp lý, là kệch cỡm bằng từ Chinoiserie, tức là “kiểu Tàu”, nay Pháp chịu quỳ gối đầu hàng, còn Trung Quốc thì anh dũng kháng chiến đã hơn ba nǎm và càng đánh càng mạnh, vậy từ nay, phàm tất cả những gì là nhu nhược, là đớn hèn, chúng ta cũng có thể gọi đó là “kiểu Pháp” được rồi! Âu đó cũng là “ông trời có mắt”…

Ông bạn tôi vui vẻ kết luận: “Nếu hai dân tộc Trung Quốc và Việt Nam có thể sát cánh chặt chẽ với nhau, đá cho đế quốc đang áp bức chúng ta cút đi, thế thì ông trời chẳng những có mắt mà còn có cả chân nữa!”.

BìNH SƠN

———————–

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc),
ngày 15-11-1940.
cpv.org.vn

Chú ếch và con bò

Một chú ếch nhìn thấy một con bò, trong bụng rất thèm được to như bò, bèn cố đem hết sức bình sinh ra phình người rõ to để mong được như bò. Vì cố sức quá, cái thân bé tí của ếch ta đã bị nổ tung và chàng ếch không biết lượng sức mình cũng ô hô toi mạng. Đó là câu chuyện ngụ ngôn của Pháp.

Những người như kiểu chú ếch kia trên thế giới này quả không ít. Mútxôlini đánh Hy Lạp, dẫm phải đinh, là một ví dụ. Thấy quân Nadi (1) một ngày nuốt trôi được cả Đan Mạch và Lục Xâm Bảo (2) , hai tuần lấy được Hà Lan và Bỉ, 18 ngày chiếm được Ba Lan, một tháng chinh phục được nước Pháp, “Hắc y” tể tướng không cầm nổi sự thèm thuồng những “cao công vĩ tích” của Hítle. Thế là y cũng đem hết sức bình sinh ra làm “chiến tranh chớp nhoáng, hòng nuốt chửng nước Hy Lạp, đặng ra oai với họ Hít. Không ngờ quân ý xúi quẩy to, kể từ khi khai chiến, nhiều phen bị thất bại, thậm chí có nơi thua “mảnh giáp không còn”. ảo tưởng thắng lợi của họ Mút cũng vỡ toang như chú ếch kia. Ông anh Hítle của y chắc hẳn cũng chửi thầm: “Cái thằng vô tích sự! Mày chỉ làm tǎng nhuệ khí của kẻ thù, mất cả oai phong phe trục! Poucos Madona!” (3)

——————————–

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc),
ngày 24-11-1940, bản chụp
lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Trò đùa dai của Rudơven tiên sinh

Nǎm 1760 (?), nước Mỹ một mình đơn độc chống lại người Anh. Để kéo cái đuôi con sư tử Grǎng Brơtanhơ (1) , hoàng đế Pháp phái tướng La Phayét (2) thống lĩnh lính “tình nguyện”, đạp sóng cưỡi gió, vượt trùng dương, đến Tân Thế giới để giúp người Mỹ đánh người Anh.

Trong Chiến tranh đế quốc lần thứ nhất, các nhà tư bổn Mỹ cho Anh, Pháp và các nước đồng minh khác vay khá nhiều tiền. Đánh nhau đã hơn hai nǎm, liên quân vẫn chưa nắm chắc phần thắng. Nếu quân Đức thắng, các nhà tư bổn Mỹ ắt lỗ vốn to. Cho nên, Chính phủ Mỹ bèn cử tướng Pơsinh (Pershing) (3) , chỉ huy đại đội binh mã, đạp sóng cưỡi gió, vượt trùng dương, sang Cựu Thế giới để giúp Anh, Pháp đánh Đức.

Ngày đầu tiên đặt chân lên nước Pháp, việc đầu tiên tướng Pơsinh làm là dẫn tất cả nhân viên trong ban tham mưu và cử quân đội đến đặt vòng hoa trước mộ La Phayét. Vị nguyên soái Mỹ đã đọc trước mồ vị tướng Pháp một bài diễn từ có thể nói là tráng liệt nhất, hùng hồn nhất và cũng ngắn gọn nhất thế giới. Ông ta nói: “La Fayette – we are here!” (4) . Chỉ có bốn chữ, không nhiều hơn cũng không ít hơn. Vẻn vẹn có mấy chữ mà ý nghĩa thật sâu xa. Có thể hiểu: “Chúng tôi đến để lấy đức trả đức” – thực ra là lấy oán trả “đức” -, cũng có thể hiểu: “Thế kỷ trước, các anh giúp chúng tôi đánh người Anh, đâu phải vì “nhân đạo công lý” quái gì, chẳng qua các anh muốn làm suy yếu thế lực của Anh. Nay chúng tôi giúp các anh đánh người Đức, cũng đâu phải vì “tự do dân chủ”, chẳng qua chúng tôi muốn thu hồi những món nợ của nước Mỹ. Dù sao, ơn huệ trước kia của các anh, chúng tôi giờ đã trả đủ, không bớt một chút xíu. Những món nợ hiện nay của phố Uôn, sau chiến tranh, các anh cũng phải hoàn trả đủ số”.

Hai mươi lǎm nǎm trước, tướng Pơsinh là tử thù của người Đức, là đồng sự trong thắng lợi của tướng Pêtanh. Nhân tài ngoại giao của nước Mỹ đâu phải ít, vậy mà Tổng thống Rudơven cứ khǎng khǎng cử một ông già đã ngoại tám mươi sang làm đại sứ ở Pháp, chắc không ngoài dụng ý chọc tức người Đức và làm bẽ mặt Pêtanh.

Ru tiên sinh thật đúng là chơi trò đùa dai.

BÌNH SƠN

(Lời người biên tập: Tướng Pơsinh cuối cùng lấy lý do
sức khoẻ đã từ chối việc bổ nhiệm của Tổng thống Ru).

——————————–

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc),
ngày 27-11-1940, bản chụp
lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Trở lại nơi Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập

Vào những ngày đầu tháng 9 lịch sử, chúng tôi có dịp trở lại ngôi nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, nơi Bác Hồ đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước ngày 2/9/1945. Ngôi nhà này đã được công nhận là Di tích Lịch sử văn hóa vào ngày 29/4/1979.

Những dấu ấn lịch sử

Dịp này, cán bộ của điểm di tích 48 Hàng Ngang- 35 Hàng Cân (Bảo tàng Hà Nội) đang chuẩn bị triển lãm chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bản Tuyên ngôn độc lập” dự kiến diễn ra trong quý IV/2011. Bà Nguyễn Thị Mai, phụ trách điểm di tích này cho biết: “Trưng bày dự kiến chia làm 3 phần: Ngôi nhà Hàng Ngang nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Bản Tuyên ngôn độc lập; Tư tưởng Hồ Chí Minh trong Bản Tuyên ngôn độc lập; Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên định giữ vững nền độc lập tự do. Những tư liệu, hiện vật, ảnh giới thiệu… tại triển lãm lần này do Bảo tàng Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh và TTXVN hỗ trợ, cung cấp. Do điểm di tích này gắn với sự ra đời của Bản Tuyên ngôn độc lập nên triển lãm sẽ tập trung vào chủ đề này. Bản thân căn phòng, nơi Bác và các đồng chí Trung ương Đảng làm việc, tại tầng 2 của tòa nhà này, cũng đã là một minh chứng cho một thời khắc lịch sử của Cách mạng Việt Nam”.

Phần trưng bày ở tầng 1 tại 48 Hàng Ngang.

Theo bà Mai, trưng bày lần này sẽ có phần dành riêng liên quan đến chủ ngôi nhà 48 Hàng Ngang là gia đình nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô và lịch sử ngôi nhà 48 Hàng Ngang – nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử gắn liền với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. “Bên cạnh đó, triển lãm cũng làm nổi bật sự kế thừa truyền thống dân tộc của Bản Tuyên ngôn độc lập qua hai bản trích bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt- được nhìn nhận như là Bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Đại Việt thế kỷ XI và “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi – Bản Tuyên ngôn độc lập thứ 2 của Đại Việt thế kỷ XV. Và Bản Tuyên ngôn độc lập của Bác Hồ là kế thừa truyền thống đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc ta”, bà Mai cho biết thêm.

Nơi Bác Hồ họp với Thường vụ Trung ương Đảng (1945).

Nơi Bác Hồ viết Bản Tuyên ngôn độc lập (1945).

Được biết, trước đây, điểm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập chỉ có tầng 1 và tầng 2 của tòa nhà 48 Hàng Ngang; phần còn lại do Chi cục Thuế Hoàn Kiếm sử dụng. Năm 2008, di tích này đã được UBND thành phố Hà Nội khôi phục nguyên gốc gồm cả tòa nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân với diện tích mặt sàn hơn 443 m2. Trong khoảng thời gian năm 2008 – 2009, điểm di tích này tạm đóng cửa để tu sửa. Vào dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, nơi đây mới mở cửa trở lại với trưng bày chuyên đề “Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, diễn ra từ tháng 5/2010. Hiện nội dung trưng bày này vẫn tiếp tục tại tầng 1 của ngôi nhà 48 Hàng Ngang.

Được sự giới thiệu của cán bộ điểm di tích 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, chúng tôi đã có dịp gặp bà Hoàng Thị Minh Hồ, vợ ông Trịnh Văn Bô. Năm nay, dù 97 tuổi nhưng bà vẫn còn minh mẫn khi kể về những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Bà Hoàng Thị Minh Hồ kể: “Ngôi nhà đã được ông bà sửa sang, tôn tạo theo lối kiến trúc hiện đại thời thuộc Pháp. Nhà có 4 tầng, tầng 1 làm cửa hàng bán tơ lụa tại 48 Hàng Ngang, còn phía 35 Hàng Cân là nơi để xe, kho hàng. Tầng 2 và tầng 3 có nhiều phòng dùng làm phòng tiếp khách, phòng ăn, phòng ngủ. Tầng 4 ngoài phòng để ở còn có một sân thượng phơi phóng. Ngôi nhà chạy dài theo kiểu “nhà ống” truyền thống, mặt trước là cửa hàng, còn mặt sau quay ra 35 phố Hàng Cân.

Lưu bút của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong sổ lưu niệm của di tích 48 Hàng Ngang- 35 Hàng Cân.

Do nằm ngay giữa khu buôn bán nhộn nhịp nên ngôi nhà 48 Hàng Ngang đã được chọn làm địa điểm đón Bác Hồ. Hơn thế, gia đình ông bà Trịnh Văn Bô là một gia đình yêu nước, được giác ngộ cách mạng và là một trong những cơ sở cách mạng tại nội thành, nên nơi đây đã được chọn làm nơi ở và làm việc của Bác cùng các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng trước ngày khởi nghĩa. Các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh đã đưa Bác đến ngôi nhà này. Xe ô tô đưa Bác không đỗ ở cửa trước mà đi vòng lối cổng sau thuộc phố Hàng Cân, vào tận sân trong.

Bà Hoàng Thị Minh Hồ kể: “Dịp cuối tháng 8/1945, gia đình tôi chỉ biết có một “thượng cấp” đến ở và làm việc. Khi các anh Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh dẫn Bác vào nhà, chúng tôi ra chào. Tôi còn nhớ Bác mặc rất giản dị, áo nâu, quần soóc nâu, đội mũ dạ. Chúng tôi đưa Bác lên gác 3, nơi tôi đã dọn sẵn một buồng, nhưng Bác lại xuống tầng 2 ở luôn cùng các đồng chí và làm việc tại đó. Đến ngày 2/9, khi Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, gia đình tôi mới biết “thượng cấp” ở nhà chúng tôi chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bà Hoàng Thị Minh Hồ (thứ 2 từ trái sang).

“Những ngày tháng 8 này, tôi vẫn nhớ như in những ngày tháng hào hùng đó. Phố nào cũng có cờ đỏ sao vàng, người dân đổ ra đường đấu tranh, mít tinh giành độc lập. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố đất nước độc lập, người dân nào cũng vui vì từ nay không còn là người dân nô lệ nữa. Đó là điều sung sướng nhất”, bà Hoàng Thị Minh Hồ cho hay.

Làm sống động di tích

Đến điểm di tích 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, chúng tôi được chị Nguyễn Bích Hạnh, cán bộ điểm di tích dẫn đi thăm, giới thiệu về ngôi nhà, chỉ dẫn nơi Bác đã ở và làm việc tại ngôi nhà này từ ngày 25/8 đến đầu tháng 9/1945; nơi Bác cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định nhiều chủ trương quan trọng về đối nội, đối ngoại trong tình hình mới; về thể chế và thành phần của Chính phủ mới, về tổ chức ngày lễ Độc lập… Cũng chính tại căn phòng ở tầng 2 của ngôi nhà này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây cũng là văn kiện pháp lý, tuyên bố với toàn thế giới về quyền độc lập tự do của Việt Nam.

Chị Hạnh cho biết, du khách vào thăm điểm di tích này chủ yếu là khách nước ngoài; còn khách nội địa chủ yếu theo đoàn đến nhân dịp ngày lễ như thành lập Đoàn, dịp Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Bình quân khoảng 40 – 50 khách/ngày. Khảo sát ý kiến của các doanh nghiệp du lịch tại khu phố cổ cho thấy, khách quốc tế đến điểm di tích 48 Hàng Ngang vì muốn được chứng kiến nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Bản Tuyên ngôn độc lập. Tuy nhiên, hiện tại phần trưng bày chuyên đề về Bác ở đây không có gì mới so với hiện vật có tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, nơi mà nhiều du khách đã ghé thăm khi vào Lăng viếng Bác. Hiện tại dù căn nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân đã được khôi phục nguyên gốc, nhưng phần cho du khách tham quan vẫn chỉ là tầng 1 và tầng 2 của khối nhà 48 Hàng Ngang, nên họ chỉ ghé qua chụp vài bức ảnh lưu niệm rồi về.

Theo các doanh nghiệp du lịch, điểm di tích này chưa thực sự tạo thành điểm thu hút do chưa đa dạng phần nội dung. Bên cạnh giới thiệu với du khách về một điểm Bác Hồ đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, điểm di tích này có thể khôi phục, giới thiệu các nét văn hóa của người Hà Nội đầu thế kỷ 19, nhất là nơi đây từng là cửa hàng bán lụa nổi tiếng. Sự giới thiệu đa dạng về các hoạt động văn hóa như ngôi nhà cổ 87 Mã Mây là điều đáng để học tập, để di tích đến gần với cuộc sống. Có vậy mới tạo được sức hút với du khách.

Tầng 2, nơi Bác viết Bản Tuyên ngôn độc lập gồm hai căn phòng, một phòng tiếp khách và một phòng Bác ở. Phòng tiếp khách có ban công nhìn ra mặt phố Hàng Ngang, rộng chừng 50 m2, có cửa kính, cửa chớp, che rèm lụa trắng. Căn phòng nhỏ Bác ở có diện tích khoảng 20 m2, đồ đạc rất đơn sơ. Chính tại căn phòng nhỏ bé này, Bác Hồ đã khởi thảo Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bài và ảnh: Xuân Minh
baotintuc.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 Phát huy bài học sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám

Vào những ngày này của 67 năm về trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, hưởng ứng Lời hiệu triệu quốc dân đồng bào của Tổng bộ Việt Minh (ngày 14-8-1945) và Đại hội quốc dân Tân Trào (ngày 16-8-1945), cả dân tộc ta bất kể đàn ông, đàn bà, tôn giáo trên mọi miền của Tổ quốc đã đoàn kết một lòng, nhất tề vùng lên “đem sức ta tự giải phóng cho ta”.

Chỉ trong vòng gần hai tuần lễ, với sức mạnh “dời non, lấp biển”, nhân dân ta đã làm cho chính quyền của địch hoàn toàn sụp đổ và xây dựng chính thể mới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Đúng nửa tháng sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 17-9-1945, Hồ Chủ tịch có “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”. Trong thư có đoạn: “Chúng ta đã lập nên một chính thể dân chủ cộng hòa. Đó là một cuộc thắng lợi xưa nay chưa từng có trong lịch sử nước ta… Vì sao có cuộc thắng lợi đó?

Một phần là vì tình hình quốc tế thuận lợi cho ta. Nhất là vì lực lượng của toàn dân đoàn kết. Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo lá cờ Việt Minh để tranh lại quyền độc lập cho Tổ quốc.

Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó” (1).

Bài học lớn rút ra từ thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám là: Với đường lối đúng đắn của Đảng lãnh đạo, nắm vững và giương cao ngọn cờ dân tộc độc lập, biết khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân tộc thì khó khăn mấy, cách mạng cũng vượt qua và giành thắng lợi.

Bài học đó vẫn giữ nguyên giá trị trong công cuộc đổi mới ngày nay.

Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nhờ có đổi mới mà đất nước đã ra khỏi tình trạng nước kém phát triển; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị được củng cố, ngày càng vững mạnh; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng lên nhiều lần, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Những thành tựu đó vừa là kết quả, vừa là tiền đề, là điều kiện thuận lợi để tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân.

25 năm qua, nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng về đổi mới công tác vận động quần chúng, về cải cách bộ máy hành chính, về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất v.v… được ban hành và được thể chế hóa trong Hiến pháp (sửa đổi), các luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định v.v… đã và đang đi vào cuộc sống, tiếp tục thu được những kết quả tốt đẹp. Khối đại đoàn kết trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được mở rộng. Sự đồng thuận xã hội ngày càng tăng, trở thành một nhân tố cơ bản đảm bảo ổn định chính trị – xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển và tiếp tục nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân.

Cùng với những tiến bộ đã đạt được, chúng ta cũng cần thấy rõ những khó khăn, thách thức đang đặt ra cho sự nghiệp đại đoàn kết trong giai đoạn hiện nay. Đó là:

a. Trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang làm xuất hiện ngày càng nhiều những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Mâu thuẫn nội bộ có chiều hướng gia tăng nhanh và tỷ lệ thuận với mức độ phân hóa giàu nghèo.

b. Cùng với sự gia tăng về mức độ phân hóa giàu nghèo thì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội vẫn đang là những đòi hỏi bức bách của một bộ phận nhân dân, nhất là trong tình hình khó khăn hiện nay.

c. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, thái độ cửa quyền, hách dịch, vòi vĩnh, gây phiền hà để nhận hối lộ của một số cán bộ, nhân viên đã trở thành nỗi đau, sự nhức nhối của toàn xã hội, gây bất bình trong nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng và trực tiếp đến uy tín của Đảng, của Nhà nước và mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân cũng như việc củng cố, tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất.

Để góp phần đưa cách mạng nước ta tiếp tục tiến lên trên con đường xã hội chủ nghĩa, trước mắt phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chủ trương phát huy mạnh mẽ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với những định hướng lớn sau:

– Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

– Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước được ban hành đều vì lợi ích của nhân dân.

– Cán bộ công chức phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; rèn luyện phấn đấu để thực sự là công bộc của nhân dân như Hồ Chủ tịch từng căn dặn.

– Nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của nhân dân; phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Cùng với phát huy dân chủ, Đại hội chủ trương nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới. Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào một mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội.

Để đoàn kết được rộng rãi, lâu dài và bền vững, trong điều kiện hiện nay phải giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành phần trong xã hội và đoàn kết trong Đảng phải được xem như hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Để đoàn kết trong Đảng được chặt chẽ, cần thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng chỉnh đốn Đảng đang tiến hành ở các ngành các cấp hiện nay. Tổng kết lịch sử dựng nước và giữ nước của tổ tiên ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra chân lý:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”.

Thực hiện chân lý đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, toàn dân đoàn kết, nhân dân ta nhất định thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, nhất định vượt qua mọi khó khăn, xây dựng thành công “một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” như Di chúc của Hồ Chủ tịch để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta.

Nguyễn Túc
(Ủy viên Đoàn Chủ tịch
UBTƯ MTTQ Việt Nam)
daidoanket.vn

(1) “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” ngày 17-9-1945 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, trang 17 – 18

Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sau khi lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách Mạng Tháng Tám (1945), giành độc lập cho Việt Nam từ tay phát xít Nhật, sáng 2/9/1945, trước hàng vạn đồng bào thủ đô Hà Nội, Chủ Tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản “Tuyên Ngôn Độc Lập” khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhà nước độc lập đầu tiên của giai cấp lao động, ra mắt chính phủ mới. Sau đây là tòan văn bản “Tuyên Ngôn Độc Lập”:

Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở trung, nam, bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông – dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng dã man bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa.

Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên bái và Cao bằng.

Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Hồ Chí Minh

VOVNews
vov.vn

Giữ vững quyền độc lập

Đất nước bình yên, nhưng không thể chủ quan nghĩ rằng: tự do, độc lập này cứ tự nhiên mà vĩnh cửu. Sự độc lập của đất nước luôn gắn kết với sự đoàn kết của toàn dân tộc.

“…Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Hôm nay, ngày 2.9, những ai là con dân nước Việt Nam sẽ không thể không nghe những lời bất hủ như trên do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba Đình lịch sử cách đây đúng 66 năm trước.

Người dân hân hoan trong niềm vui độc lập. Ảnh tư liệu.

Sự thật lịch sử suốt 66 năm qua từ ngày Bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời và hơn thế nữa, suốt mấy ngàn năm lịch sử của cả dân tộc, không biết bao con dân Việt Nam đã quyết đem tất cả để giữ vững quyền tự do, độc lập cho Tổ quốc! Một sứ mệnh thiêng liêng không một ai dễ dàng chối từ khi non sông bị đe dọa, khi đất nước đứng trước họa ngoại xâm. Lời khẳng định ấy cũng chính là tiếng gọi oai hùng mà hàng hàng, lớp lớp thế hệ thanh niên Việt Nam quyết tâm lên đường bảo vệ quê hương, giữ vững tự do, độc lập.

Tự do, độc lập cho Việt Nam đã thật sự định hình sau cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 lịch sử. Dẫu nó đã bị đe dọa, dày xéo sau đó bởi sự tái chiếm của Pháp và sự can thiệp của đế quốc Mỹ, nhưng cuối cùng dân tộc Việt Nam cũng đã hưởng nguyên vẹn quyền thiêng liêng ấy suốt mấy mươi năm qua. Sự thật rõ ràng nhất là chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm. Việt Nam hòa bình-độc lập-tự do xây dựng phát triển kinh tế ngần ấy thời gian. Đây là một thành quả không dễ mà có, nhất là khi các mối đe dọa đến quyền độc lập, tự do của Tổ quốc không một lúc nào chịu ngừng lại, chịu chùn bước. Thế mới biết, giữ vững quyền tự do, độc lập cho đất nước quý giá và thiêng liêng biết nhường nào. Và vì thế, khi nghe những lời của Hồ Chủ tịch “…quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”, mới thấy được hồn thiêng sông núi oai hùng ra sao.Đất nước hôm nay đang bình yên, con dân Tố quốc này đang hưởng những tháng ngày tự do, độc lập. Nhưng không phải vì thế mà vội quên đi những con người đã ngã xuống cho sự bình yên này. Càng không phải thế mà mù quáng tin rằng: tự do, độc lập này là vĩnh cửu, là không thể mất đi. Bởi lịch sử dân tộc đã chứng minh một quy luật rất rõ ràng: khi chúng ta chủ quan nhất, mất cảnh giác nhất, là khi quyền tự do, độc lập của đất nước dễ bị tước đoạt nhất. Điều này cũng đã được Đảng và Nhà nước ta luôn luôn lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân, toàn dân chú ý. Và một sự thật luôn đúng, không bao giờ khác hơn được: quyền tự do-độc lập của đất nước luôn đồng hành, gắn kết với sự đoàn kết của toàn dân tộc. Đoàn kết toàn dân không gì khác hơn là nhà nước luôn mang đến niềm tin cho người dân. Nghĩ một cách rộng hơn, giữ vững tự do, độc lập cho đất nước hôm nay không có gì khác hơn ngoài sự đoàn kết-tin tưởng của toàn dân tộc với sự lãnh đạo, điều hành của nhà nước vậy.

Hoàng Ngọc Lữ
baodatviet.vn

Bảo tồn, tôn tạo và phục hồi cây đa Tân Trào

Ngày 27/10, ông Nguyễn Việt Thanh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang cho biết: Hội đồng Khoa học tỉnh Tuyên Quang vừa tổ chức chức đánh giá, nghiệm thu Dự án khoa học và công nghệ “Nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để bảo tồn, tôn tạo và phục hồi cây đa Tân Trào”.

Chăm sóc cây đa Tân Trào bằng phương pháp phun chế phẩm sinh học.

Dự án thực hiện biện pháp kỹ thuật để chống đổ, chống đỡ phần thân cây đang còn sống và bảo tồn nguyên trạng phần gốc không còn sống của cây đa Tân Trào bằng cách sử dụng hệ thống cốt thép móng bê tông, cột đỡ bằng thép ống D250 mm ngoài bọc composit (vật liệu tổng hợp) giả thân cây, liên kết với thân cây bằng đai thép.

Đồng thời, dự án thực hiện phương pháp chăm sóc phần còn sống của cây đa Tân Trào bằng cách phun chế phẩm sinh học (phân bón lá hữu cơ sinh học KH, AH, NH) vào cành và lá cây định kỳ 10 ngày/lần. Nhờ vậy, đến nay, trên cành cây duy nhất còn sống của cây đa Tân Trào đã ra hai cụm rễ và nhiều chồi lá mới. Một cụm có 27 rễ và một cụm 20 rễ; đường kính mỗi cụm rễ 35 –40 cm. Hai cụm rễ này đã ăn sâu vào trong lòng đất để hút chất dinh dưỡng nuôi cành còn lại của cây đa Tân Trào…

Dự án đã được Hội đồng Khoa học tỉnh Tuyên Quang đánh giá cao và đạt được các mục tiêu dự án đề ra.

Tin, ảnh: Vũ Quang Đán
baotintuc.vn

Lượng khách “về nguồn” tham quan Khu di tích Tân Trào tăng đột biến

Bà Hoàng Như Loan, Phó Giám đốc phụ trách Ban Quản lý Khu di tích lịch sử văn hóa và sinh thái quốc gia Tân Trào (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) cho biết, từ đầu tháng 8 đến nay, lượng khách “về nguồn” tham quan Khu di tích tăng đột biến. Trong tháng 8, Khu di tích đã đón 40.000 lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan, tăng 10.000 lượt người so với những tháng trước đó.

Khu di tích lịch sử Tân Trào có 17 di tích gồm lán Nà Lừa, cây đa Tân Trào, đình Tân Trào, đình Hồng Thái… Tháng 5/1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tuyên Quang để chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước. Người đã chọn xã Tân Trào (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) làm “Thủ đô Khu giải phóng”, căn cứ địa cách mạng của cả nước.

Những năm gần đây, để phát huy giá trị của Khu di tích, tỉnh Tuyên Quang đã quy hoạch tổng thể Khu di tích lịch sử, văn hóa và sinh thái quốc gia Tân Trào định hướng đến năm 2020; tổ chức tập huấn nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch cho 17 đại diện hộ gia đình trong xã; hỗ trợ đầu tư xây dựng bê tông hóa đường làng ngõ xóm; hỗ trợ xi măng làm nền nhà cho các hộ dân xung quanh khu di tích cây đa Tân Trào, đình Hồng Thái… đưa Khu di tích thành điểm du lịch thu hút du khách trong và ngoài nước, nơi giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.

Năm 2011, Khu di tích lịch sử văn hóa và sinh thái quốc gia Tân Trào phấn đấu đón 400.000 lượt khách đến tham quan, chiếm 67% lượng khách du lịch đến thăm tỉnh Tuyên Quang.

Vũ Quang Đán
baotintuc.vn

Tinh thần đoàn kết và khoan dung của Cách mạng Tháng Tám

Lịch sử đã có nhiều cuộc cách mạng làm thay đổi số phận của cả một dân tộc, thậm chí làm xoay chuyển lịch sử phát triển của cả nhân loại. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là một cuộc cách mạng làm thay đổi số phận của cả dân tộc ta; biến mỗi người dân từ thân phận “vong quốc nô” trở thành người làm chủ đất nước. Cách mạng Tháng Tám đã xoá bỏ chế độ phong kiến thực dân để xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân của dân, do dân và vì dân.

Trong lịch sử thế giới, nhiều cuộc cách mạng làm thay đổi chế độ đã diễn ra trong máu lửa, nhân loại đã chứng kiến nhiều dòng họ vua chúa bị lên đoạn đầu đài hoặc bị lưu đày. Nhưng cách mạng tháng Tám là một cuộc Tổng khởi nghĩa của toàn dân để giành chính quyền hầu như không có đổ máu.

Ngay sau khi cách mạng thành công, hai vị cố vấn của Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh không phải là những đồng chí từng nằm gai nếm mật trong rừng sâu Việt bắc hay những đồng chí từng bôn ba hải ngoại cùng Người mà lại là cựu hoàng Bảo Đại và giám mục Lê Hữu Từ. Cựu hoàng Bảo Đại – công dân Vĩnh Thụy còn là đại biểu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam mới. Trong Chính phủ Hồ Chí Minh không phải tất cả đều là những nhà lãnh đạo nổi tiếng của Đảng, những chiến sĩ cộng sản, mà còn có những vị thượng thư, quan đại thần của chính quyền cũ cùng với một số trí thức, nhân sĩ đại diện cho khối đại đoàn kết và lòng yêu nước của toàn dân tộc. Lịch sử cũng ghi nhận một sự kiện đáng lưu ý là sau khi Cách mạng tháng Tám vừa thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử đại diện của Người đến thăm hỏi và tặng quà cho bà Nam Phương, vợ Bảo Đại, bà Từ Cung mẹ Bảo Đại và bà Thành Thái, bà Duy Tân.

Những sự kiện ấy không chỉ thể hiện tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn thể hiện tinh thần khoan dung cao cả của Người và của Cách mạng tháng Tám.

Tinh thần đại đoàn kết và khoan dung đó là kết tinh của tư tưởng “ Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” của dân tộc ta từ muôn đời được nâng tầm trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong tầm vóc của Cách mạng tháng Tám, mở đường cho nhiều người trong hoàng tộc, trong bộ máy chính quyền cũ lên đường theo cách mạng để trở thành những cán bộ ưu tú trên nhiều lĩnh vực. Trong số đó có nhiều người đã cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ mới và anh dũng hy sinh. Tinh thần đại đoàn kết và khoan dung đã thể hiện sức mạnh vô song qua cuộc kháng chiến toàn quốc diễn ra hơn một năm sau Cách mạng tháng Tám, mở lối cho cuộc “lên đường” vào chiến khu hoặc ra mặt trận của nhiều tên tuổi lớn như các cụ Phan Kế Toại, cựu khâm sai đại thần, cụ Phạm Khắc Hòe, cựu đổng lý ngự tiền của vua Bảo Đại; các cựu thượng thư Bùi Bằng Đoàn, Phan Anh và cựu Tổng đốc Vi Văn Định cùng “vua Mông” Vương Chí Sình…và nhiều nhân sĩ, trí thức lớn như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Huyên, Vũ Đình Hòe, Tôn Thất Tùng, Trần Duy Hưng, Hồ Đắc Di. Trong số đó có nhiều người đã hy sinh anh dũng như cụ Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội Nguyễn Văn Tố, luật sư Lê Đình Chi, luật sư Dương Minh Châu… Tinh thần đại đoàn kết và khoan dung của Cách mạng tháng Tám đã mở ra một không gian rộng lớn cho họ đem tài năng phụng sự Tổ quốc, làm cho tên tuổi của họ thêm tỏa sáng bởi lòng yêu nuớc và trách nhiệm công dân và được mãi mãi ghi vào lịch sử.

Tinh thần đoàn kết và khoan dung, trải qua 64 năm kể từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, đã thật sự làm nên sức mạnh vô cùng to lớn để dân tộc vượt qua mọi khó khăn, giành thắng lợi như ngày nay và tạo nên một giá trị nhân văn cao cả đậm nét Việt Nam.

Tinh thần đó như suối nguồn chảy mãi…

Nguyễn Quang Vinh
baotintuc.vn

Hai chính phủ Vécxây

Ngày 23-11, các báo đều đưa tin điện của Mỹ: Chính phủ Visi sắp rời về Vécxây. Tin này làm người ta nghĩ ngay đến lịch sử ô nhục của Vécxây. Hồi thế kỷ XVIII, Lui 14 tự xưng là “Vua mặt trời” bóp nặn xương máu của bao nhiêu dân chúng Pháp, xây lên ở nơi cách Pari chừng hai mươi dặm một cung điện to tát lộng lẫy nhất thế giới. Bọn vương công quý tộc Pháp, “cha truyền con nối” sống ở đó những ngày cực kỳ xa hoa dâm dật. Một hôm, bà hoàng Lui 16 nghe tả hữu than rằng dân Pháp đang đói to. Bà ta ngạc nhiên hỏi lại: “Sao họ không ǎn thịt?!”. Chuyện vớ vẩn tạm bớt nói, xin vào câu chuyện chính.

Nǎm 1870, Pháp – Đức chiến tranh, Napôlêông 3 đại bại ở Xơđǎng. Quân Đức liên tiếp tấn công, vua Phổ một mặt lên ngôi hoàng đế ở Vécxây, một mặt đốc quân bao vây Pari. Dân chúng Pari chủ trương kháng chiến đến cùng, còn Tổng thống Pháp – nguyên soái Mác Mahông và Thủ tướng của ông ta là Chie lại chủ trương đầu hàng. Bởi vậy, họ đã phái quân đội đi bắt dân chúng phải giao nộp vũ khí. Quân đội được cử đi làm nhiệm vụ lại liên hiệp với nhân dân. Tổng thống và Thủ tướng bèn đang đêm trốn khỏi Pari, thành lập chính phủ mới, rồi van xin quân Đức giúp chúng tàn sát nhân dân Pari. Đó là chính phủ Vécxây thứ nhất.

Trong cuộc chiến tranh nǎm 1940, nước Pháp cũng thất bại tơi bời. Quân Đức liên tiếp tấn công, chính phủ chuyển đi chuyển lại, cuối cùng chuyển đến Visi, nơi chuyên chữa trị bệnh ngoài da. Phải sau mấy lần Lavan 1 khóc lóc xin xỏ, Hítle mới cho phép họ dời về

Vécxây, nhưng chỉ được làm việc ở khách sạn Trênǎng chứ không được dọn vào cung điện Vécxây. Cái nhục vong quốc có thể nói đến thế là cùng!

Con cháu đời sau có thể nghĩ rằng, cách nhau 70 nǎm, lịch sử nước Pháp đã in lầm mất một trang. Vì lẽ hai chính phủ Vécxây giống nhau như đúc, cùng đẻ ra trong thất bại của chiến tranh, đều do nguyên soái làm Tổng thống, đều do luật sư làm Thủ tướng, đều là những anh hùng bán nước! Người Pháp giỏi hài hước, gần đây truyền nhau một câu đối rằng:

“Tổng thống, hai tên nguyên soái, đều phường ǎn hại.
Thủ tướng, một cặp luật sư, rặt lũ bỏ đi”.

BÌNH SƠN

—————————–

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 29-11-1940,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

cpv.org.vn