Bịa đặt

Bịa đặt là một tội ác. Trung Quốc cũng như nhiều nước đều xử rất nặng đối với những tội phạm “phao tin đồn nhảm”. ấy vậy mà, từ khi Chiến tranh đế quốc lần thứ hai bùng nổ đến nay, thói bịa đặt đã trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách ngoại giao của một số nước, không những các phóng viên thời sự, các chuyên gia tuyên truyền của họ bịa đặt, thậm chí cả nhà cầm quyền của đường đường một nước lớn cũng bịa đặt. Vài ví dụ:

Khi con đường Vân Nam – Miến Điện bị cấm vận, nhà cầm quyền của Đại đế quốc Anh tuyên bố ở nghị viện: “Biện pháp này đã được Liên Xô đồng ý!”. Hôm sau, Thông tấn xã TASS kiên quyết phủ nhận. Nhân sĩ thế giới mới biết là chuyện bịa đặt.

Quân Đức tiến vào Rumani, Chính phủ Đức tuyên bố: “Biện pháp này đã được Liên Xô đồng ý!”. Hôm sau, Thông tấn xã TASS kiên quyết phủ nhận. Nhân sĩ thế giới mới biết nhà cầm quyền Đức bịa đặt.

Chính phủ Hunggari gia nhập “Liên minh ba nước”. Thông tấn xã Mỹ tuyên bố: “Việc đó được Liên Xô đồng ý và cho phép”. Hôm sau, Thông tấn xã TASS được phép tuyên bố: “Tin tức đó hoàn toàn sai sự thật”. Nhân sĩ thế giới mới biết Thông tấn xã Mỹ bịa đặt.

Đó đều là những chuyện đại bịa. Thế nhưng, giải quán quân thế giới về bịa đặt, rốt cuộc giặc lùn đã giành được. Chỉ trong hai tuần lễ vừa qua, giặc lùn đã bịa ra rất nhiều chuyện từ lớn đến nhỏ. Xin cử vài chuyện lớn nhất:

Ngày 15 tháng này – “Nhật Bản đã cùng với Liên Xô thoả thuận về việc hoạch định phạm vi thế lực ở Viễn Đông. Khoản đình chỉ viện trợ cho Trung Quốc cũng bao gồm trong đó”.

Ngày 16 – “Đại sứ Nhật Bản tại Liên Xô đề nghị, nếu Liên Xô đồng ý gia nhập đồng minh ba nước Đức – ý – Nhật, sẽ được đổi lại bằng việc nhượng toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ ấn Độ thuộc Anh…”.

Ngày 19 – “Quân đội Trung Quốc trên biên giới Vân Nam – Việt Nam đã vượt biên giới”.

Ngày 20 – “Ba nước Anh – Mỹ – Thái Lan đã ký kết hiệp định bí mật…”.

Dù bịa đặt về phương diện nào thì cũng không ngoài mục đích gây chia rẽ. Kết luận của chúng ta là: Điều bịa đặt còn độc hại hơn cả hơi độc. Chúng ta phải đề cao cảnh giác, chỗ nào cũng phải đề phòng, đừng bị mê hoặc bởi những lời bịa đặt.

BÌNH SƠN

—————————–

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 1-12-1940,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Nhân dân Việt Nam và báo chí Trung Quốc

Người Pháp chinh phục Việt Nam đã ngót 60 nǎm. Nhưng người Việt Nam trước sau vẫn không cam chịu làm dân mất nước. Nhiều phen họ đã dùng giáo mác gậy gộc chống lại tàu bay đại bác của người Pháp. Tuy lần nào cũng thất bại, họ vẫn người trước ngã xuống người sau tiến lên, phấn đấu không ngừng. Tinh thần dũng cảm đó thể hiện rất rõ trong biết bao nhiêu sự việc xúc động lòng người:

Nǎm 1880, tiến sĩ Phan Đình Phùng khởi nghĩa.

Nǎm 1890, Hoàng Hoa Thám khởi nghĩa, chiếm giữ vùng núi rừng Yên Thế (Bắc Kỳ), đánh du kích ròng rã 22 nǎm.

Nǎm 1905, trí thức Trung Kỳ lãnh đạo nông dân khởi nghĩa.

Nǎm 1910, binh lính người Việt ở Hà Nội khởi nghĩa.

Nǎm 1915, nhân cơ hội chiến tranh đế quốc, vua Việt Nam ở Trung Kỳ, chí sĩ Lương Ngọc Quyến ở Bắc Kỳ đồng thời khởi nghĩa.

Nǎm 1924, liệt sĩ Phạm Hồng Thái ném bom Toàn quyền Méclanh ở Sa Diện (Quảng Châu).

Sau nǎm 1924 nhân dân Việt Nam thường xuyên có phong trào chống Pháp can thiệp vào cách mạng Trung Quốc.

Nǎm 1927, “Việt Nam độc lập đồng minh hội” 1 thành lập. Khẩu hiệu của Hội rất thiết thực, giản đơn: Tổ chức lực lượng toàn dân, đánh đổ đế quốc Pháp, giành độc lập hoàn toàn cho Việt Nam.

Từ nǎm 1930 – 1931, nhân dân Việt Nam tiến hành một phong

trào chống Pháp quy mô lớn.

Sau nǎm 1933, thế lực của “Độc lập đồng minh” phát triển khắp cả nước.

Nǎm 1937, Đồng minh này đưa ra hai khẩu hiệu mới: ủng hộ Trung Quốc kháng chiến, Phản đối Nhật Bản xâm lược.

Từ khi Pháp bị thất bại thảm hại, giặc Nhật xâm lược Việt Nam, người Việt Nam cho rằng ách thống trị của người Pháp sắp tan rã, guồng máy cai trị của người Nhật chưa thiết lập vững chắc, đó là cơ hội để Việt Nam giành độc lập. Muốn lợi dụng cơ hội này, phải liên kết với Trung Quốc trong cùng một mặt trận.

Gần đây, nhiều nơi ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ còn xảy ra những trận đánh giữa dân chúng với người Pháp. Những cuộc nổi dậy đó, theo quan điểm của người Pháp, đương nhiên nếu không phải là “phỉ” thì là “giặc”. Đã là “giặc phỉ” thì đương nhiên được ghép thêm tội “cướp bóc” nữa. Cũng giống như giặc lùn vu cáo các đội du kích anh dũng của chúng ta, điều chẳng lạ gì.

Đáng tiếc là nhiều cơ quan ngôn luận, báo chí của Trung Quốc chúng ta, dường như đã không bày tỏ sự đồng tình đối với cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân Việt Nam, trái lại còn đǎng tải không có sự phê phán những lời xằng bậy của người Pháp (hoặc kẻ thù), nào là “Bạo động của dân bản xứ”, nào là “Dân bản xứ Việt Nam nghe giặc lùn xúi giục, gây phiến loạn”.

Phong trào giải phóng của Việt Nam là đội quân đồng minh trong cuộc kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc. Về tinh thần cũng như về vật chất, chúng ta đều cần phải cổ vũ và giúp đỡ. Quốc phụ 1 từng dạy chúng ta: Giúp đỡ các dân tộc nhỏ yếu, cùng nhau phấn đấu giành lấy tự do độc lập. Cơ hội để thực hiện lời di huấn đó đã đến.

BÌNH SƠN.

———————–

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 2-12-1940,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Ca dao Việt Nam và cuộc kháng chiến của Trung Quốc

Ký giả khi qua Việt Nam, ở thành phố cũng như làng quê, đều được nghe thấy một bài hát. Tuy không biết tiếng Việt, nhưng khi nghe câu “Cứu Trung Quốc là tự cứu mình”, tôi cũng có thể hiểu đó là một bài hát ủng hộ Trung Quốc. Sau đó, ở Hà Nội, tôi đem chuyện này ra hỏi một vị Hoa kiều “chính cống Việt Nam”. Ông ta bảo, đại đa số nhân dân Việt Nam đều hết sức đồng tình với cuộc kháng chiến của Trung Quốc. Họ cầu chúc chúng ta đánh thắng. Giả dụ, anh có nhắc đến Tưởng uỷ viên trưởng, cụ Triệu hay tên một ông tướng nào đó, người Việt Nam sẽ giơ ngón tay cái ra, vui vẻ nói: “Tốt lắm – tốt lắm!”. Có khi họ bí mật quyên góp, giấu giếm gửi cho các đoàn thể cứu quốc của kiều bào, vì vậy đã bị Chính phủ Pháp bắt giam hàng mấy chục vạn người. Để đẩy mạnh tuyên truyền giúp Trung Quốc chống Nhật, đồng thời tránh sự can thiệp rắc rối của người Pháp, “Việt Nam độc lập đồng minh hội” 21 – một đoàn thể hoạt động rất hǎng nhưng cũng rất bí mật – đã nghĩ ra được một cách rất tài tình: Họ đặt ra những bài hát theo những làn điệu quen thuộc và dạy cho trẻ con hát. Thế là tự nhiên các em bé Việt Nam trở thành những tuyên truyền viên rất đắc lực. Những bài hát đó chẳng mấy chốc đã truyền khắp cả nước. Bài mà ký giả được nghe là một bài hát mới làm. Lời ca như sau:

Nhật Bản, phát xít ở phương Đông,
Dã man, cuồng bạo lại tàn hung.
Vào Trung Hoa, gây chiến xâm lược,
Nhân dân Trung Quốc khổ vô cùng.
Người thì bị giết, nhà bị đốt
Núi đầy xương, đất đầy máu đỏ.
Tàu bay, bom đạn tránh làm sao?
Đói rét, ốm đau sống thật khó.
Họ đang đấu tranh rất gian khổ,
Giữ gìn dân chủ và hoà bình.
Họ đang cần có người viện trợ,
Họ đang cần được sự đồng tình.
Giặc Nhật tấn công cả thế giới,
Là kẻ thù chung toàn nhân loại.
Mau đứng lên giúp đỡ Trung Hoa.
Anh chị em Việt Nam ta hỡi!
Ra sức giúp cho người Trung Quốc,
Trung – Việt, khác nào môi với rǎng.
Nhớ rằng môi hở thì rǎng buốt,
Cứu Trung Quốc là tự cứu mình.

BÌNH SƠN

—————————-

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 4-12-1940,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Mắt cá giả ngọc trai

Ở vùng địch chiếm đóng, đa số dân lành không muốn sống dưới gót sắt của giặc lùn. Họ chẳng quản ngần ngại hy sinh tất cả để được trở về trong lòng Tổ quốc. Lợi dụng cơ hội này, địch cho tay chân của chúng đóng giả dân lành, chui vào hậu phương, vừa để tung tin đồn nhảm, vừa để dò la tình hình quân ta. Cái trò mắt cá giả ngọc trai này đã bị chúng ta lật tẩy. Có một trò mắt cá giả ngọc trai khác, chúng ta cũng phải hết sức chú ý.

Phong trào dân tộc Việt Nam hiện nay đang lên mạnh, ai cũng biết cả. Công cuộc giải phóng của Việt Nam không thể tách rời ba điều quan trọng: 1- Liên Hoa; 2- Kháng Nhật; 3- Bài Pháp. Ba điều đó thiếu một không được. Giặc lùn cǎm nhất là hai điều đầu tiên. Cho nên chúng tìm đủ mọi cách, hòng chia rẽ lực lượng nhân dân Việt Nam và làm mê hoặc hướng đi của họ. Thậm chí người Nhật còn lập ra “đảng cách mệnh” Việt Nam giả, giống như chúng đã tổ chức “Quốc dân đảng” giả và “Hội cứu quốc” giả trong vùng chúng chiếm đóng.

Hôm qua, sau khi đọc Tuyên ngôn của “Đảng thống nhất cách mạng Việt Nam”, ký giả thấy có điều kỳ lạ:

Thứ nhất – Bản Tuyên ngôn này công bố ngày 12-10, đúng vào dịp Nhật đánh chiếm Bắc Kỳ, uy hiếp Sài Gòn, vậy mà trong Tuyên ngôn không có một chữ nhắc đến việc chống Nhật.

Thứ hai – Phong trào giải phóng của Việt Nam là một mắt xích của mặt trận giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới, đặc biệt nó là một cánh quân của cuộc kháng chiến cách mạng Trung Quốc.

Liên hệ mật thiết với Trung Quốc là một trong những điều kiện tối quan trọng của phong trào giải phóng của Việt Nam. Vậy mà trong Tuyên ngôn không có một chữ nhắc đến Trung Quốc.

Thứ ba – Cường Để (xuất thân hoàng tộc Việt Nam) được giặc Nhật nuôi nấng 35 nǎm nay, chuẩn bị để về làm bù nhìn. Mấy tháng trước, ông ta cùng với lũ lâu la họp ở Quảng Châu (xem các báo). ở Việt Nam, họ cho xuất bản ba tờ báo thân Nhật, tài liệu và kinh phí do giặc Nhật cung cấp, vậy mà “Tuyên ngôn” lại công nhận lũ Việt gian ấy là “đảng cách mạng”.

Cứ thế mà suy đủ thấy dụng ý của bản Tuyên ngôn này, một là mưu toan ly gián tình cảm giữa hai nước Trung – Việt, hai là mưu toan đánh lừa tai mắt người Việt. Trong các đảng phái yêu nước của Việt Nam, rất nhiều người sáng suốt, họ nhất định không bao giờ phát biểu những bài vô lý kiểu đó.

Đối với nhân dân Việt Nam, đối với phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam, chúng ta phải giúp đỡ bằng mọi khả nǎng có thể. Nhưng đồng thời chúng ta cũng phải cẩn thận, phải vạch trần cái trò mắt cá giả ngọc trai đó.

BÌNH SƠN

————————-

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 5-12-1940,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Ý Đại Lợi thực bất đại lợi

Đánh bạc với chiến tranh là thủ đoạn quen dùng của giai cấp thống trị ý. Trước nǎm 1914, ý là đồng minh của Đức. Sau khi cuộc Chiến tranh đế quốc lần thứ nhất nổ ra, thấy trong túi của Anh, Pháp, Mỹ đầy ắp những tiền, máu tham nổi lên, bất chấp tín nghĩa, ý đã bán đứng bạn đồng minh của mình, gia nhập liên minh, tuyên chiến với Đức. ý chắc mẩm lúc đó Đức đã bị Anh – Pháp – Nga bao vây chặt, chỉ cần ý tham gia là chiến tranh sẽ dễ dàng thu được thắng lợi. Khi đại bộ phận quân Đức bị giam chân ở Vécxây, quân ý bèn ào ào tiến quân vào bắc Biacôvi với khí thế như dời non lấp biển. Dè đâu chưa kịp vượt sông thì quân ý đã bị quân Đức đánh cho tan tác tơi bời, không còn một mảnh giáp. Ngày chiến tranh châu Âu kết thúc, ở hội nghị Vécxây, ý được hưởng phần ǎn chia chẳng bõ bèn so với cái đã mất.

Trong cuộc chiến tranh đế quốc lần này, nhà cầm quyền ý thấy lão Hít phẩy tay một cái đã nuốt chửng bảy nước, máu tham lại không kìm được. Thế là nó liều mạng, một mặt tấn công Ai Cập, một mặt xâm lược Hy Lạp. Ngờ đâu đại quân vừa xuất trận thì tin thất bại đã bay về như tuyết rơi. Trong cùng tháng (ngày mồng 9 tháng này), trên đất Ai Cập, quân Anh đột nhiên mở cuộc tấn công toàn diện, mấy nghìn quân ý bị bắt làm tù binh… Dinh luỹ cuối cùng quân ý chiếm được ở Anbani – Agilô Caxtơrô – bị quân Hy Lạp đột phá, đó là thất bại lớn nhất của quân ý kể từ ngày tham chiến… Quân đội Hy Lạp đã chiếm được 1/4 Anbani… (tin điện Hoa Kỳ).

Trong khi đó, giai cấp thống trị ý lại gặp những chuyện bất lợi khác. ở Tơrielit, ở Phuma và nhiều nơi khác có “phiến loạn” chống chiến tranh, chống phát xít. ở Xanh Gôlǎng, nhân dân vũ trang nổi dậy, tập kích quân ý, giết và làm bị thương hơn 200 binh sĩ… Xung đột kịch liệt đã xảy ra trong nội bộ đảng phát xít, đến nỗi Tổng tư lệnh là tướng Patôgriô, Tư lệnh tiền phương là Nguyên soái Graxini, v.v., buộc phải từ chức.

Tất cả những sự việc đó cho chúng ta thấy rõ rằng giấc mộng của Mútxôlini muốn khôi phục lại Impiris Romano (1) đã thành bong bóng xà phòng, và cái ngày mà nhân dân ý thoát khỏi gông xiềng phát xít đã sắp đến rồi.

BÌNH SƠN

————————-

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 16-12-1940,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Việt Nam “phục quốc quân” hay là “mại quốc quân”

Nǎm 1905, chiến tranh Nhật – Nga, giặc lùn may mắn thắng trận. Đây là lần đầu tiên người da vàng đánh bại người da trắng, chuyện đó khiến thanh niên trí thức Việt Nam nói chung rất phấn khởi. Họ cho rằng nước Nhật Bản “đồng vǎn đồng chủng” và “anh dũng tuyệt vời” tất có thể giúp Việt Nam đánh đuổi đế quốc Pháp. Vì ảo tưởng này mà nhiều thanh niên Việt Nam đã vượt mọi nguy hiểm, chạy tới nước Nhật du học. Lãnh tụ của họ là Phan Bội Châu nổi danh vì tài vǎn chương. Mục đích của họ là sang học quân sự rồi về tổ chức khởi nghĩa vũ trang, khôi phục lại Tổ quốc. Để kêu gọi dân chúng, họ đưa cả ông Hầu 3 cùng sang Nhật.

Cao tổ của ông Hầu là Nguyễn Cảnh, con trưởng bà vợ cả của hoàng đế Gia Long (Việt Nam). Một cuộc chính biến cung đình đã khiến Nguyễn Cảnh không kế vị được ngôi vua. Bởi nguyên cớ đó mà đối với các vua Việt Nam hiện nay, Nguyễn Cảnh cũng như con cháu ông ta hận đến tận xương tuỷ, lúc nào cũng chỉ muốn đoạt lại vương vị. Phan Bội Châu lợi dụng mâu thuẫn đó, đưa Cường Để ra làm chiêu bài.

Lúc đầu, Chính phủ Nhật đối xử rất tốt với những thanh niên Việt Nam sang Nhật, và lợi dụng phong trào chống Pháp để hù doạ

đế quốc Pháp. Nǎm 1907, sau khi hiệp ước Pháp – Nhật rất có lợi cho giặc lùn được ký kết, Chính phủ Nhật lập tức hạ lệnh trục xuất các thanh niên Việt Nam. Riêng với Cường Để và con nuôi ông ta là Trần Vǎn An được Khuyển Dưỡng Nghị lấy danh nghĩa cá nhân, lưu hai người ở lại Nhật Bản, tính kế dùng họ làm bù nhìn sau này.

Sau nǎm 1931, Trần Vǎn An từng làm nhân viên ngoại giao ở nguỵ Mãn Châu. Nǎm 1938, sau khi Quảng Châu thất thủ, Trần Vǎn An về hoạt động ở vùng biên giới Quảng Đông – Việt Nam. Cuối tháng 9 nǎm nay, giặc lùn xâm lược Việt Nam, Trần Vǎn An cũng theo chân trở về, hoạt động ở vùng Lạng Sơn, Cao Bằng. Khi giặc lùn rút, đã để Trần Vǎn An ở lại Lạng Sơn.

Chúng tôi ở Trung Quốc, đối với tình hình Việt Nam, cũng có những điều chưa được tỏ tường. Ví dụ, ngày mồng 5 tháng này, các báo đưa tin:

“Địch ở gần Lạng Sơn chiêu mộ dân Việt quanh vùng, tổ chức “phục quốc quân”, mỗi người được cấp mỗi tháng 30 đồng tiền Việt, cán bộ cấp dưới đều do địch quân tuyển lựa, thực lực có khoảng vạn người, mục đích của nó là muốn xúi giục người Việt giành lấy chính quyền, rồi do nó cai quản”.

Ngày 11, tin tức các báo lại khác:

“Những ngày gần đây, phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam dần dần đã sôi nổi, mạnh mẽ. Tư lệnh Việt Nam phục quốc quân Trần Mỗ mấy ngày trước đã khởi nghĩa ở Bắc Kỳ, dân chúng mang lương thảo rầm rộ đi theo, hiện đã tập hợp được X vạn người…”.

Thế ra, “Phục quốc quân” của ngày mồng 5 là một tổ chức Việt gian, và cũng là “Phục quốc quân” nhưng của ngày mồng 10 đã biến thành đội tiên phong cách mạng dân tộc!

Tin tức của ngày 12 càng phủ định nguồn tin của ngày 11:

“Đồng Đǎng, Lạng Sơn và nhiều nơi khác tuy được quân Pháp tiếp phòng chu đáo, nhưng nguỵ “Phục hưng quân” cùng bọn thổ phỉ ở nhiều nơi bị đối phương lợi dụng bí mật tiếp tế vũ khí, gần đây lại ráo riết hoạt động, có khi tập kích cả quân Pháp …”.

Cuối cùng thì nguồn tin nào là chính xác? “Phục quốc quân” là bộ đội võ trang của nhân dân Việt Nam hay là tổ chức của Việt gian? Ngụy “Phục hưng quân” với “Phục quốc quân” liên quan thế nào? Ngoài ra, có hay không có lực lượng vũ trang thật sự của người Việt ? Cái ông Trần Mỗ đó là ai ?

Ký giả sau khi điều tra cẩn thận dựa vào các phía đáng tin cậy, có thể quả quyết rằng: Trần Mỗ chính là Trần Vǎn An; “Phục quốc quân” và “Phục hưng quân” là một mà hai, hai mà một; nhân dân Việt Nam có một tổ chức võ trang yêu nước thực sự, tuy phát triển chưa lớn mạnh.

Bây giờ, chúng tôi muốn nói rõ đôi điều:

Một, nông dân Lạng Sơn đầu óc đơn giản, vì cǎm hờn đế quốc Pháp, vì không biết rõ lai lịch của Trần Vǎn An, cho nên nghe thấy hai tiếng “phục quốc” đã “rầm rộ đi theo”. Một khi biết Trần Vǎn An là Việt gian, họ nhất định sẽ bỏ rơi y và tham gia vào đội ngũ giải phóng dân tộc chân chính.

Hai, vì cần giặc lùn tiến xuống phía Nam để phá hoại hoặc kiềm chế Anh, Mỹ mà Hítle nhường Việt Nam cho nó. Hiện nay, giặc lùn bị Anh, Mỹ, Xô cản trở, chưa dám làm cuộc Nam tiến, nhưng lại tiếc rẻ nguồn tài nguyên giàu có của Việt Nam, cho nên nó thuê bọn Việt gian, định gây ra các vụ lộn xộn để kiếm cớ chiếm Việt Nam.

Ba, kẻ địch đào tạo lực lượng Việt gian của nó không phải ở các nơi khác mà lại ở Lạng Sơn, ngay giáp với phía nam Quảng Tây. Điều này rất đáng để chúng ta lưu ý.

Bốn, chúng ta cần phân biệt rõ các đoàn thể chính trị và vũ trang của Việt Nam, không nên nhầm các tổ chức Việt gian thành “phong trào dân tộc”, càng không nên nhầm phong trào dân tộc chân chính của Việt Nam là “bọn thổ phỉ” hoặc “bị kẻ địch xúi giục”.

BÌNH SƠN

——————————

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 18-12-1940,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Pác Bó hùng vĩ

Non xa xa, nước xa xa.
Nào phải thênh thang mới gọi là.
Đây suối Lênin, kia núi Mác.
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Tháng 2 nǎm 1941

———————–

Theo bài in trong tập Thơ
In trong sách: Hồ Chí Minh, Thơ,
Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1970, tr.9.
cpv.org.vn

Tức cảnh Pác Bó

Sáng ra bờ suối, tối vào hang,
Cháo bẹ, rau mǎng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Tháng 2 nǎm 1941

———————-

Theo bài in trong tập Thơ.
In trong sách: Hồ Chí Minh, Thơ,
Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1970, tr. 10
cpv.org.vn

Kính cáo đồng bào

Hỡi các bậc phụ huynh!

Hỡi các hiền nhân, chí sĩ!

Hỡi các bạn, sĩ, nông, công, thương, binh!

Pháp đã mất nước cho Đức. Thế lực của chúng ở ta đã điêu tàn. Song đối với chúng ta, chúng tǎng sưu tǎng thuế để vơ vét tài sản. Chúng khủng bố trắng để giết hại nhân dân. Đối với ngoài, chúng im hơi lặng tiếng, cắt đất cho Xiêm, chúng quỳ gối chắp tay đầu hàng Nhật Bản. Dân ta một cổ hai tròng. Đã làm trâu ngựa cho Tây, lại làm nô lệ cho Nhật.

Trước tình cảnh đau đớn, xót xa ấy, ta có chịu khoanh tay chờ chết không?

Không, quyết không! Hơn 20 triệu con Lạc cháu Hồng quyết không chịu làm vong quốc nô lệ mãi!

Bảy tám mươi nǎm nay dưới quyền thống trị của giặc Pháp, chúng ta luôn luôn tranh đấu giành quyền độc lập tự do. Tấm gương oanh liệt của các bậc lão tiền bối như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến còn treo đó. Tinh thần anh dũng của các liệt sĩ ở Thái Nguyên, Yên Bái, Nghệ An hãy còn đây.

Những cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ23, Bắc Sơn, Đô Lương vừa rồi đã tỏ rằng: Đồng bào ta quyết nối gót người xưa, phấn đấu hy sinh đặng phá tan xiềng xích.

Việc lớn chưa thành không phải vì đế quốc mạnh, nhưng một là vì cơ hội chưa chín, hai là vì dân ta chưa hiệp lực đồng tâm.

Nay cơ hội giải phóng đến rồi, đế quốc Pháp bên Âu đã không thể tự cứu, càng không thể cứu bọn thống trị Pháp ở ta.

Đế quốc Nhật đã bị sa lầy ở Trung Hoa, lại đương gay go với Anh- Mỹ. Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều:

Toàn dân đoàn kết.

Hỡi đồng bào! Hãy noi gương vĩ đại của dân Tàu, tổ chức những hội cứu quốc chống Pháp, chống Nhật.

Hỡi các bậc phụ huynh! Hỡi các bậc hiền huynh chí sĩ! Mong các ngài noi gương phụ lão đời nhà Trần trước hoạ giặc Nguyên xâm lấn, đã nhiệt liệt hô hào con em tham gia sự nghiệp cứu quốc.

Hỡi các bậc phú hào yêu nước, thương nòi! Hỡi các bạn công, nông, binh, thanh niên, phụ nữ, công chức, tiểu thương!

Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng.

Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài nǎng góp tài nǎng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề.

Hỡi các chiến sĩ cách mạng! Giờ giải phóng đã đến. Hãy phất cao cờ độc lập, lãnh đạo toàn dân đánh tan thù chung. Tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đương vang dội bên tai các đồng chí! Máu nóng của bậc anh hùng đương sục sôi trong lòng các đồng chí! Chí phấn đấu của quốc dân đương chờ đợi sự lãnh đạo của các đồng chí!

Chúng ta hãy tiến lên! Toàn thể đồng bào tiến lên!

Đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp, Nhật!

Việt Nam cách mạng thành công muôn nǎm!

Thế giới cách mạng thành công muôn nǎm!

Ngày 6 tháng 6 nǎm 1941
NGUYỄN ÁI QUỐC

————————-

Tài liệu gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
cpv.org.vn

Ngàn năm độc lập vững âu vàng

(VOV) – Thành quả lớn lao nhất, vĩ đại nhất mà Cách mạng tháng Tám năm 1945 đem lại cho dân tộc ta là độc lập dân tộc, nền tảng của tự do, ấm no, hạnh phúc cho mỗi con người.

Qua hàng ngàn năm lịch sử, với bao khúc biến cố thăng trầm, hưng vong, với nghìn năm phong kiến phương bắc đô hộ, với gần trăm năm thực dân đế quốc phương Tây xâm lược, khát vọng độc lập dân tộc luôn cháy bỏng trong tâm can mỗi người dân nước Việt. Giành độc lập dân tộc và bảo vệ, gìn giữ, nâng cao giá trị thành quả thiêng liêng đó là khát vọng, ý chí và cũng là động lực gắn bó, đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam trong một khối thống nhất, tạo nên sức mạnh vô biên phản kháng ngoại xâm và nội nghịch.

Có khát vọng nào sánh bằng khát vọng tự do? Có sức mạnh nào sánh được với sức mạnh toàn dân tộc khi vùng lên giành cho được độc lập tự do? Có sự đánh đổi nào xứng đáng hơn sự đánh đổi máu xương để dành lấy tự do độc lập?!

Nhớ lại 66 năm trước, tại Tân Trào, nhận rõ thời cơ cách mạng đang đến, với nhãn quan cách mạng vô cùng sáng suốt, Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thể hiện khát vọng và ý chí: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải giành cho bằng được nền độc lập cho Tổ quốc”. Quốc dân đại hội Tân Trào quyết định tổng khởi nghĩa toàn quốc diễn ra ngay sau đó là một hội nghị “Diên Hồng của thời đại”, để rồi những ngày tháng Tám sục sôi cách mạng “người lên như nước vỡ bờ”, đánh đuổi thực dân, phát xít, giành độc lập dân tộc sau gần trăm năm nô lệ.

Nhớ lại, ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đã trang trọng đọc bản Tuyên ngôn khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tuyên ngôn mang tên Độc lập, trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập, và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

Nhớ lại, những ngày cuối năm 1946, thực dân Pháp trở lại gây hấn, định cướp nước ta một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước…Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”

Nhớ lại, những ngày Tổ quốc bước vào cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược cam go khốc liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định chân lý: Không có gì quý hơn độc lập tự do… Cả dân tộc Việt Nam lại kết thành sức mạnh, chiến đấu, hy sinh làm nên đại thắng mùa xuân 1975 lịch sử.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiêu biểu cho dân tộc Việt Nam, là hiện thân của khát vọng dân tộc độc lập, đất nước tự do, con người hạnh phúc: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Đó cũng chính là khát vọng của cả dân tộc Việt Nam, từ hàng ngàn năm trước, hôm nay, và mai sau…

Từ mùa thu năm 1945 đến nay, dù với quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hay Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thì cứu cánh, mục tiêu tối thượng của dân tộc ta vẫn là độc lập, tự do, hạnh phúc. Dân tộc có độc lập, đất nước mới tự do, nhân dân mới có hạnh phúc. Tự do, hạnh phúc là cội nguồn của bản lĩnh, khí phách và sáng tạo và lòng trung thành với Tổ quốc. Có độc lập mới có tự do, và tự do, hạnh phúc để củng cố, giữ vững nền độc lập. Nhân dân hạnh phúc, đất nước tự do là thước đo của giá trị, thành quả của độc lập.

Mục tiêu của cuộc cánh mạng tháng Tám 66 năm trước đã thành hiện thực trong đời sống chính trị xã hội hôm nay, càng phải được gia tăng về chất lượng hơn nữa, không chỉ cơm no, áo ấm, học hành, mà hơn thế nữa. Củng cố giá trị độc lập cho mỗi con người, cho cả dân tộc chính là tạo nền tảng để “non sông vạn thuở vững âu vàng”, “độc lập, tự do từ nay vĩnh viễn”./.

Uông Ngọc Dậu
vov.vn

Đỉnh cao của tư tưởng thời đại và ý thức dân tộc

Bản Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – trịnh trọng đọc tại Quảng trường Ba Đình trước hàng chục vạn nhân dân thủ đô, với toàn thể quốc dân đồng bào, cũng là trịnh trọng tuyên bố với nhân dân thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”.

Bản Tuyên ngôn Độc lập, trước hết là tuyên ngôn chính trị khẳng định quyền độc lập của dân tộc Việt Nam, cũng là áng văn chương bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói lên niềm hân hoan về khát vọng độc lập, tự do của dân tộc đã trở thành hiện thực; cũng là khát vọng của hàng triệu triệu nhân dân thế giới bị áp bức đã và đang đấu tranh cho quyền độc lập của dân tộc, quyền tự do của nhân dân. Nhưng do bản tuyên ngôn mở đầu bằng trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791, nên không phải ai cũng thấu hiểu hết sự kết tinh đỉnh cao của tư tưởng thời đại và ý thức quật cường dân tộc của dân tộc Việt Nam.

Câu mở đầu trích dẫn “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng… có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Tuyên ngôn Độc lập Mỹ); “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” (Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp); đồng thời cũng chứa đựng tư tưởng cốt yếu nhất Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Hãy xóa bỏ nạn người bóc lột người, thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ”… được Nguyễn Ái Quốc vận dụng đưa vào Chánh cương vắn tắt của Đảng 1930 là làm cách mạng dân tộc giải phóng tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, tính tư tưởng thời đại của bản tuyên ngôn đã vận dụng nhuần nhuyễn tư tưởng Cách mạng tư sản Pháp, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và Chánh cương vắn tắt khi thành lập Đảng, là sự kế thừa phát triển từ thấp tới cao tư tưởng tiến bộ và cách mạng của thời đại. Cùng với đó, Tuyên ngôn Độc lập cũng kế thừa tinh túy, nhuần nhuyễn ý thức của dân tộc được thể hiện trong các tuyên ngôn của các anh hùng dân tộc: “Đất nước Nam, người nước Nam ở” (Lý Thường Kiệt); “Nước Đại Việt ta xưng nền văn hiến đã lâu, Cõi bờ sông núi đã riêng… Trải Đinh, Lê, Lý, Trần nối đời dựng nước, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương” (Lê Lợi – Nguyễn Trãi); “Đánh cho biết nước Nam có chủ” (Quang Trung), đến “Dù phải đốt cả dãy Trường Sơn, cũng quyết giành cho được độc lập, tự do” được kết tinh thành chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (Hồ Chí Minh).

Sự gặp gỡ thần kỳ và hòa quyện nhuần nhuyễn tư tưởng thời đại với ý chí quật cường của dân tộc đã tạo nên bản Tuyên ngôn Độc lập thần kỳ, trở thành mục tiêu và sức mạnh bất diệt của dân tộc trong giải phóng dân tộc, đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, đã và đang là sức mạnh tinh thần vô địch của nhân dân ta trong xây dựng “Dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” và nghị lực phi thường bảo vệ vững chắc non sông gấm vóc, thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ cho các thế hệ người Việt Nam ta: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Đan Tâm
laodong.com.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9: Niềm tin và chân lý đưa chúng ta đến thành công (17/08/2012)

Tôi sinh ra vào những năm đầu của nền dân chủ cộng hoà nên tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 như ngấm vào trong máu, trong máu của cha mẹ mà truyền sang cho mình. Có lẽ không chỉ riêng tôi mà cả thế hệ những người sinh ra vào thời kỳ ấy đều như thế. Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 muôn năm! không chỉ là khẩu hiệu mà là xương thịt tạo nên cái hình hài của cả thế hệ chúng tôi, cái thế hệ đã tiếp bước cha ông, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Theo chân Bác, thế hệ ấy nhiều người đã vĩnh viễn ra đi, chỉ để lại một tinh thần bất diệt : Không có gì quý hơn độc lập tự do! cái tinh thần được khởi nguồn từ tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9!

Nhân dân Hà Nội chiếm phủ Khâm Sai ngày 19-8-1945

Ảnh: TL

Những người còn lại như chúng tôi, đa phần trở về với cuộc sống hoà bình với tư cách là một công dân nước Việt Nam độc lập, hoà bình và thống nhất; một phần tham gia vào hệ thống chính trị với cương vị là những cán bộ từ cơ sở đến trung ương, nhiều người giữ trọng trách trong bộ máy chính quyền của dân, do dân và vì dân. Dù ở cương vị nào thì tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 vẫn chảy trong huyết quản mà làm nên sức mạnh vượt qua mọi thử thách để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới nhiều thời cơ nhưng cũng không ít thách thức cam go. Đất nước đã có Hoà bình, Độc lập, Thống nhất và Tự do; nhưng Dân chủ và Giàu mạnh trên con đường phát triển còn gặp muôn vàn khó khăn, gian khổ bởi lực cản hữu hình và vô hình trong và ngoài nước. Những lực cản ấy từ bên ngoài không trực tiếp như thời kỳ chống đế quốc, thực dân xâm lược, nhưng cũng không kém phần nguy hiểm và tiềm ẩn những thử thách cam go dài lâu. Tuy nhiên, so sánh tương quan lực lượng giữa kẻ chống đối và người ủng hộ, thì lực lượng ủng hộ chúng ta, ủng hộ Hoà bình, Độc lập, Thống nhất, Tự do, Dân chủ và Giàu mạnh của Việt Nam trên trường quốc tế lớn hơn bao giờ hết. Dẫu còn muôn vàn khó khăn để đối phó với lực cản bên ngoài, nhưng xét về mọi phương diện chính trị, kinh tế, quân sự và hợp tác quốc tế trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chúng ta không thể có thuận lợi trong thế so sánh ta và địch như trong tình thế hiện nay. Khi ấy giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm cùng một lúc hoành hành như muốn nhấn chìm nền Cộng hoà Dân chủ vừa mới ra đời của chúng ta! Khi ấy cách mạng Trung Quốc còn chưa thành công, Liên Xô (cũ) mãi đến năm 1950 mới công nhận Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, vậy mà Nhà nước công nông của chúng ta vẫn đứng vững, kháng chiến trường kỳ vẫn thành công! Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 bất diệt trong mỗi trái tim người Việt Nam ta đã làm nên sức mạnh thần kỳ ấy!

Như vậy lực cản lớn nhất xét về tổng thể không còn nằm ở cái bên ngoài mà là ở cái bên trong, cái tồn tại trong mỗi con người chúng ta hôm nay. Sức ì của tư duy cũ, sức ì của quán tính cũ, thói quen cũ vẫn đang là lực cản không nhỏ của chính chúng ta mặc dù nó đã được hạn chế, tước bỏ đi nhiều trong quá trình đổi mới hơn hai mươi năm qua. Thêm vào đó, những căn bệnh mới mà mặt trái của kinh tế thị trường đem đến là thói tham lam, ích kỷ, hám tiền, trục lợi dẫn đến quốc nạn tham nhũng đang ngày đêm sói mòn niềm tin của nhân dân, khoảng cách giàu nghèo trong xã hội tăng lên làm suy giảm nghiêm trọng sức mạnh đoàn kết của dân tộc. Cuộc đấu tranh ai thắng ai đang diễn ra hết sức quyết liệt trong mỗi con người chúng ta. Cái thiện, cái ác, cái tốt, cái xấu đan xen trong mỗi chúng ta, trong mỗi cơ quan, tổ chức, đoàn thể và xã hội ta! Cái nào sẽ thắng, bản thân chúng ta nhiều khi cũng mơ hồ chưa rõ, bởi kẻ địch không hiện nguyên hình trước ta mà lẩn trốn ngay trong ta. Chỉ lơ là thiếu tinh thần cách mạng một thoáng thôi, chúng ta có thể làm hỏng những người đồng chí vốn trung kiên, năng động và có thể đã có nhiều công trạng trong quá khứ. Chỉ buông thả trong khoảnh khắc, cái xấu đã lôi ta lút vào con đường tăm tối của danh lợi, quyền chức, bạc tiền đến nỗi muốn quay đầu cũng chẳng còn đơn giản nữa. Chúng ta đã được các nhà cách mạng tiền bối cảnh báo “viên đạn bọc đường” với sức tàn phá còn hơn cả bom đạn, vậy mà để tránh nó vẫn là vấn đề hết sức nan giải. Loại đạn này không từ bất kỳ ai, kể cả những người ở ngôi vị quyền cao, chức trọng, kể cả những người đã dạn dày kinh nghiệm trong chính trường hay trong thương trường. Cái độc hại của nó hơn cả bom đạn vì nó gặm nhấm tâm hồn và trái tim con người. Làm cho bản chất người suy giảm trong ta đến khi tỉnh ngộ thì thân đã tàn, lực đã kiệt, khó bề chống đỡ. Khi ấy liệu ta có dũng cảm tự nguyện hy sinh như khi xưa nơi chiến địa chống quân thù?! Thật vô cùng khó, bởi hình như trong lịch sử nó là chuyện cực kỳ hiếm gặp! Như vậy, chẳng phải bi kịch lắm sao khi cái thân ta tồn tại lại như mảnh đất màu mỡ để lây truyền căn bệnh vốn hiểm nguy cho cộng đồng, làm giảm đi sức sống mà chính cha anh ta và bản thân ta đã góp phần làm nên trong lịch sử, đó là Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 muôn năm! Nhân dân ta, dân tộc ta, Đảng ta với kinh nghiệm xương máu của mình nhất định không để bất kỳ kẻ thù nào dù ngoại xâm hay ” nội xâm” khuất phục. Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 đang thực sự sống động trong toàn Đảng, toàn dân ta trong đợt sinh hoạt chính trị đặc biệt này!

Trước tiên, phải nói đến các đồng chí trong Bộ Chính trị. Các đồng chí đã thể hiện một tinh thần tiên phong cách mạng, đi đầu trong khó khăn, gian khổ, gương mẫu thực hiện phê bình và tự phê bình, mở đầu cho việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về chỉnh đốn, xây dựng Đảng. Đợt sinh hoạt chính trị đặc biệt này diễn ra đúng dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9, phải chăng là sự khẳng định quyết tâm cao độ vượt lên chính mình của tất cả các Uỷ viên Bộ Chính trị, những người hơn ai hết, trước tiên nhất đã, đang học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đạo đức cách mạng sáng ngời Hồ Chí Minh chính là niềm tin vào nhân dân vĩ đại. Niềm tin Hồ Chí Minh là niềm tin của bậc chí nhân, chí dũng, chí tín: Tin người để người tin mình. Tinh thần Cách mạng Tháng Tám là minh chứng lịch sử sinh động cho niềm tin ấy! Chính niềm tin vào nhân dân mà với hơn năm ngàn đảng viên hoạt động công khai ở một số vùng nông thôn, còn trong các thành phố lớn là hoạt động bí mật, Đảng đã phất cờ cách mạng, lãnh đạo toàn dân ta làm nên thắng lợi thần kỳ, giành chính quyền trong cả nước, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bản Tuyên ngôn Độc lập do Hồ Chủ tịch đọc trước quốc dân đồng bào tại quảng trường Ba Đình đã đi vào lịch sử như một mốc son sáng ngời trong lịch sử dân tộc. Bộ máy trung ương của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không chỉ có những người cộng sản mà còn có nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước, thậm chí có cả những phần tử chống đối cách mạng. Ngay sau đó, để phù hợp với yêu cầu của cách mạng, Đảng ta đã tự giải tán và hoạt động trên danh nghĩa chỉ là Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Vậy mà Nhà nước dân chủ cộng hoà non trẻ vẫn vững vàng trong điều kiện ” ngàn cân treo sợi tóc”. Nhà nước ấy chẳng những tồn tại vững vàng mà còn cùng dân tộc trường kỳ kháng chiến và lập nên nhiều chiến công vang dội. Cho đến năm 1951 Đảng mới chính thức công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam để lãnh đạo cách mạng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, tiếng bom đầu tiên báo hiệu sự sụp đổ của chế độ thực dân kiểu cũ ở Đông Dương và trên toàn thế giới. Rõ ràng lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho ta bài học vô cùng quý giá là : dù công khai hay bí mật, thậm chí không còn trên danh nghĩa, nhưng Đảng còn sống trong lòng dân, thì Đảng còn lãnh đạo cách mạng. “Đảng không có quyền lợi nào khác là quyền lợi của nhân dân” thì nhân dân mãi mãi vẫn tin vào Đảng, mãi mãi vẫn đi theo Đảng bất chấp mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh! Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định quyết tâm của Bộ Chính trị, của toàn Đảng triển khai tích cực và có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Quyết tâm cao của toàn Đảng chính là sự tiếp nối sinh động tinh thần Cách mạng Tháng Tám và 2 – 9! Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh : ” Không làm tốt vấn đề này là có tội với nhân dân” là sự quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng tin vào sức mạnh vô địch của nhân dân ” khó trăm lần dân liệu cũng xong”!

Đúng là khó khăn đang chồng chất khó khăn. Chính phủ đang cố gắng hết sức để khắc phục hậu quả của suy thoái kinh tế và các tệ nạn xã hội. Tuy nhiên, tham nhũng và các tệ nạn xã hội vẫn chưa giảm lại có phần tinh vi hơn, táo tợn và tàn bạo hơn! Lương và các khoản trợ cấp xã hội được điều chỉnh theo hướng nâng cao đời sống của nhân dân chưa đủ bù vào sự tăng giá đồng loạt của các mặt hàng và dịch vụ thiết yếu cho đời sống con người. Biển Đông lại đang dậy sóng bởi những toan tính hẹp hòi, thủ cựu và nguy hiểm. Thế hệ chúng tôi nay cũng đã già rồi. Những người trẻ nhất cũng đã ngoài 60 tuổi. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay cũng đã 67 năm. Trách nhiệm xây dựng đất nước Hoà bình, Thống nhất, Độc lập, Dân chủ và Giàu mạnh chắc chắn phải trông vào thế hệ sau chúng tôi!

Nhìn vào những gương mặt trẻ trung, tươi vui mà quyết đoán, của những người lính Trường Sa; những gương mặt tự tin của các phi công trên các chiếc SU hiện đại; những gương mặt sạm nắng gió mà vẫn sáng vẻ thông minh, sáng tạo của những người thợ trên dàn khoan dầu nơi đầu sóng ngọn gió; nhìn những gương mặt xinh tươi, tinh nghịch, nhanh nhẹn, tự tin của các cô gái trên đồng ruộng, đồi nương…những người đã làm nên hàng triệu tấn gạo, hàng chục vạn tấn cà phê và các nông sản khác, đưa Việt Nam thành quốc gia có trách nhiệm quan trọng về an toàn lương thực trong cộng đồng thế giới! …Tất cả những gương mặt trẻ ấy là niềm tin, là chỗ dựa tinh thần vững chắc của thế hệ chúng tôi và của toàn Đảng, toàn dân ta. Dòng chảy lịch sử, dòng chảy cuộc sống vẫn tiếp nối như mạch nguồn vô tận Việt Nam mỗi khi gặp gian nguy lại kết thành làn sóng mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Lớp sau tiếp lớp trước thành hàng ngàn lớp sóng trùng trùng cuốn phăng mọi lực cản trên con đường Độc lập, Tự do của dân tộc, ấm no và hạnh phúc của nhân dân.

Niềm tin ấy là sự thật, là chân lý sáng ngời bởi Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 muôn năm!

TS. Nguyễn Viết Chức
(Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục,
Thanh thiếu niên – nhi đồng của Quốc hội khoá XI)
daidoanket.vn