Chủ nghĩa anh hùng của công nhân Trung Quốc trong chiến tranh chống Nhật

CUỘC BÃI CÔNG YÊU NƯỚC

Trong chiến tranh chống Nhật, công nhân Trung Quốc là những người yêu nước ưu tú nhất, trong vùng Mãn Châu những người thất nghiệp và công nhân đều được tuyển mộ hàng loạt vào quân đội nhân dân. Công nhân mỏ biến thành du kích. Hàng ngày, anh em công nhân đường sắt, không sợ nguy hiểm đến tính mệnh, đã hợp sức với các lực lượng chống Nhật để cướp đoạt vũ khí và làm trật bánh những đoàn tàu của địch.

Ngay từ khi bọn Nhật bắt đầu xâm chiếm vùng Hoa Bắc, đã có hai trǎm nghìn công nhân, viên chức làm việc trong các công xưởng và các hãng Nhật ở Thượng Hải tham gia cuộc bãi công yêu nước. Các thuỷ thủ đã từ chối không chịu làm việc trên những tàu thuỷ chuyên chở hàng hoá của Nhật Bản. Những người thợ rèn thì lao động suốt ngày đêm để cung cấp mã tấu cho quân đội. Với đồng lương ít ỏi của mình, anh em công nhân Trung Quốc làm việc ở nước ngoài đã chịu thiếu thốn mọi thứ để góp tiền mua công trái, gửi thuốc men về các bệnh viện dã chiến cho quân đội, và gửi những thanh niên tình nguyện về nước để bảo vệ Tổ quốc.

Đằng sau phòng tuyến của quân thù và trên hai bên bờ sông Dương Tử, hàng nghìn và hàng triệu công nhân Hán Khẩu và Thượng Hải đã chiến đấu anh dũng. Trong tỉnh Hồ Bắc, 7.000 công nhân mỏ ở Hân Định đã được tổ chức thành những đội du kích. Câu chuyện về những người công nhân – du kích ở Hân Định là lý thú nhất.

TỔ CHỨC NHAU NHƯ THẾ NÀO?

Mỏ Hân Định nằm trên tuyến đường sắt Thái Nguyên – Hân Định. Mỗi ngày, các mỏ đó sản xuất khoảng 20.000 tấn than đá loại tốt. Trên 5.000 công nhân và nhân viên kỹ thuật người nước ngoài làm việc tại các mỏ này.

Bọn Nhật coi việc chiếm đóng mỏ Hân Định như chiếm được một miếng mồi béo bở. Với chính sách khoan dung giả dối, chúng tìm cách mua chuộc công nhân bằng cách tổ chức bán lương thực, thực phẩm cho họ với giá rẻ. Nhưng công nhân không để bị mắc vào thủ đoạn giả nhân giả nghĩa của bọn Nhật. Họ muốn đấu tranh nhưng không biết tổ chức cuộc đấu tranh, vì thiếu kinh nghiệm. “Hội công nhân cứu quốc Sơn Tây” thấy rõ tình hình đó. Hội muốn phái những nhà tổ chức đến các mỏ nhưng không thực hiện được vì bọn Nhật kiểm soát quá chặt chẽ. Ra sức tìm mãi, cuối cùng Hội mới kiếm được hai người công nhân quê ở Hân Định là: Tso-lung và Viou-hou. Người thứ nhất là một công nhân già trước kia đã ở trong quân đội. Người thứ hai là một người thất nghiệp. Sau khi được huấn luyện vài bài về chiến thuật và được cung cấp một khẩu súng trường, họ trở về Hân Định, và mỗi người bắt đầu tiến hành cuộc đấu tranh theo quan điểm của mình.

LÚC BẮT ĐẦU HỌ GỒM CÓ BẢY NGƯỜI…

Viou-hou mở đầu bằng việc đi tìm người cộng tác. Anh đã nhanh chóng tìm được một cựu lãnh tụ của phong trào nông dân và nǎm công nhân trẻ… Với đội quân bé nhỏ đó, anh bắt đầu đánh giặc. Đêm nào cũng vậy, Viou và các đồng chí của mình đều đi vòng quanh các nẻo và các nhà ga xe lửa. Đến mỗi nơi, họ bắn vài phát súng trường. Bọn Nhật tưởng có nhiều du kích tiến công chúng nên chúng dùng đại liên bắn trả lại hàng tràng dài. Chúng bắn vu vơ trong đêm tối, chứ không thấy gì hết. Hai hoặc ba giờ sau – vừa đúng với thời gian cần thiết để Viou và các đồng chí của anh lại đi từ địa điểm này sang địa điểm khác – cuộc chơi lại bắt đầu.

VÀ BỌN NHẬT NGÀY CÀNG TRỞ NÊN MỆT MỎI

Kết quả đầu tiên của những phát súng bắn ban đêm là đã làm cho bọn Nhật bị báo động suốt đêm, nên ban ngày vì quá mệt mỏi chúng không thể đi quấy nhiễu dân làng được nữa. Do đó, tiểu đội của Viou tranh thủ được cảm tình và lòng biết ơn của nông dân là những người đã nguyện sẽ ủng hộ anh đến cùng.

Được quần chúng tin yêu, Viou ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động của mình. Bí mật và kiên trì, anh tổ chức nông dân thành những đội tự vệ và phái họ đi phá hoại các đường giao thông. Nông dân đã làm công việc đó một cách rất tích cực và đầy nhiệt tình. Hễ có một hiệu lệnh đưa ra là đàn ông, phụ nữ và thậm chí cả trẻ con nữa đều tề tựu với cuốc, xẻng trong tay; và chỉ trong thời gian chớp nhoáng, hàng trǎm mét đường sá đã trở thành vô dụng. Đôi lúc sau khi phá huỷ được một đoạn đường sắt, nông dân liền mang những thanh ray vào tận trong núi để dùng vào việc rèn vũ khí. Dĩ nhiên là tất cả những công việc đó đều được tiến hành trong đêm tối.

Dưới sự chỉ đạo của Viou, nông dân còn tổ chức những cuộc phục kích làm trật bánh các đoàn tàu, tiến công bọn Nhật và đã thu được chiến lợi phẩm. Những trận thắng đó càng khuyến khích những người du kích mới, họ bảo nhau rằng: “Bọn quỷ Nhật Bản đó không đến nỗi đáng ghê sợ như vậy. Chúng ta có thể đánh bại chúng!”.

ĐỒNG MINH XƯƠNG MÁU VÀ SẮT THÉP

Hoạt động của họ giờ đây nhằm vào việc trừ bỏ bọn phản bội. Một buổi sáng nọ, người ta thấy Lam-te-sou, một trong những tên thân Nhật có nhiều thế lực nhất và tích cực nhất đã bị treo cổ trên cây. Bên cạnh có một bản tuyên cáo tội phản quốc của hắn. Dưới bản tuyên cáo ký tên: “Đồng minh xương máu và sắt thép diệt trừ bọn phản bội”. Vụ xử tên Lam-te-sou đã có tác dụng lớn. Từ hôm đó, bọn phản bội và mật vụ không dám ló mặt ra như trước nữa và do đó công tác bí mật của những người yêu nước càng được thuận lợi.

TSO-LUNG LẠI CÓ MỘT PHƯƠNG PHÁP KHÁC

Tso-lung bắt đầu công việc của mình theo một hướng khác và bằng một phương pháp khác. Trong khi Viou-hou bắt đầu hoạt động trong nông dân, thì Tso-lung lại bắt đầu hoạt động trong công nhân; Viou-hou bắt đầu bằng việc cổ động, còn Tso-lung thì bắt đầu bằng công tác tổ chức. Ngay sau khi trở về Hân Định, Tso liền vào ngay các mỏ, bác tìm được nǎm đồng chí và tổ chức một kho vũ khí. Vũ khí thì bọn Nhật không thiếu gì. Anh em công nhân cũng biết rõ cả và trong đêm tối thì còn biết rõ hơn cả bọn Nhật, nơi cất những vũ khí đó. Chỉ trong thời gian hai tháng, Tso đã có trong kho mình 200 khẩu súng trường, 1.200 lựu đạn, trên 26.000 viên đạn; 18 súng phóng lựu đạn và súng liên thanh, 1 máy vô tuyến điện, 3 máy điện thoại và những dụng cụ khác. Bọn Nhật tuy thấy rõ là vũ khí bị mất, nhưng chúng không biết ai lấy trộm và cất giấu ở đâu.

BỌN NHẬT ĐI TÌM NHỮNG VŨ KHÍ Ở KHẮP NƠI

Số đội viên du kích của Tso ngày càng tǎng. Ban đêm, họ là du kích diệt Nhật cướp vũ khí – thậm chí họ tìm cách đánh cắp được cả sơn pháo! Ban ngày, họ trở lại làm công nhân mỏ, ngoan ngoãn nhất và hiền lành nhất thế giới. Bọn Nhật đi tìm kiếm du kích ở khắp nơi, trừ các mỏ. Chúng có nghe nói đến Tso và ráo riết đi tìm bác ta. Nhưng Tso, mặt đầy bụi than, tay xách đèn; vai vác cuốc vẫn ung dung đi từ mỏ này sang mỏ khác, qua lại một cách bình tĩnh trước con mắt bọn hiến binh Nhật, nhưng chúng không nhận ra bác.

NƠI NÀY MỘT LỜI NƠI KIA MỘT LỜI

Tso bận trǎm công nghìn việc, nào tổ chức những công nhân mỏ, nào đi cổ động trong đám binh sĩ người Mãn Châu và tuyên truyền trong bọn lính Nhật. Dưới sự chỉ đạo của bác, mỗi người thợ mỏ trở thành một cổ động viên và một tuyên truyền viên. Người ta đối xử với binh sĩ Mãn Châu như với bạn bè thân thiết nhất. Chỉ trong khi chuyện trò bình thường và thân mật, người ta mới đưa ra nơi này một lời, nơi kia một lời để khêu gợi lòng nhớ quê hương và thức tỉnh tinh thần yêu nước của họ. Công tác cổ động ấy chẳng bao lâu đã mang lại kết quả. Tháng 2-1938, sáu chục người Mãn Châu trong vùng mỏ đã nổi dậy, sau khi diệt 12 lính và một sĩ quan Nhật, họ đi theo du kích, mang theo 2 súng liên thanh và 30 súng trường. Sau đó không lâu, 35 hiến binh Mãn Châu cũng làm như thế. Họ chạy về phía chúng tôi sau khi đã diệt 21 tên lính và một sĩ quan Nhật.

Với binh lính Nhật, người ta tuyên truyền bằng cách phát cho chúng những truyền đơn chống phát xít và chống chiến tranh, cốt làm nản lòng chúng. Có tên đã tự tử.

Hai phong trào đó phối hợp với nhau, một từ phía nông dân do Viou-hou tổ chức và phong trào kia từ phía công nhân do Tso-lung tổ chức – hình thành nên một phong trào mạnh mẽ của du kích vùng mỏ. Những đội du kích này cộng tác chặt chẽ với quân đội chính quy chúng tôi và với du kích ở Hồ Bắc và Sơn Tây. Bởi vậy, không có ngày nào là các mỏ không bị tấn công, hoặc nơi này hoặc ở nơi kia.

ĐÓ LÀ MỘT ĐÊM…

Có một lần, đó là đêm 8-2-1938, một phân đội của Bát lộ quân quốc gia cách mạng do đại uý Tsang chỉ huy, bất ngờ đi thǎm các mỏ. Khi đến đầu vùng này, đại uý được anh em công nhân đón chờ và dẫn thẳng về phía thành Hân Định. Những chiếc thang dây đã được chuẩn bị sẵn sàng nên các chiến sĩ trèo qua tường một cách dễ dàng. “Cu cu… cu!”, một con gà trống gáy đâu đây, và thế là thành phố bỗng tối om, nhờ sự chǎm lo của anh em công nhân, nên điện tắt, máy điện thoại bị cắt, đường sá bị chặn lại.

NHỮNG TIẾNG HÔ CHIẾN ĐẤU LÀM RUNG CHUYỂN CẢ THÀNH PHỐ NHỎ

Những tiếng hô chiến đấu làm rung chuyển khắp thành phố nhỏ. Bọn Nhật lâm vào tình trạng hỗn loạn. Được sự hướng dẫn của anh em công nhân, các chiến sĩ đã tiến hành có kế hoạch việc di chuyển các kho vũ khí và trinh sát sở chỉ huy Nhật Bản. Công việc xong xuôi, họ rút lui một cách rất lặng lẽ.

MỘT CƠN BÃO LỬA SÚNG LIÊN THANH

Mặc dù hết sức bí mật, nhưng cuối cùng bọn Nhật cũng biết rằng anh em công nhân đã biến thành du kích và bộ tổng tư lệnh của họ đóng trên một trong những ngọn núi. Thế là chúng điều 200 binh sĩ đi “phá cái tổ du kích”. Anh em công nhân đã được những công nhân khác báo cho biết trước, nên tất cả đều được chuẩn bị kỹ để đối phó với cuộc tiến công. Vừa đến lưng chừng đồi, bọn Nhật gặp phải một cơn bão lửa súng liên thanh buộc chúng phải chạy tán loạn.

Một tuần sau, những người công nhân du kích chuyển sang phản công. Bọn lính Nhật đang tập bắn cách thành Hân Định 7 kilômét. Chúng bỗng nghe tiếng súng liên thanh nổ sau lưng chúng, từ phía núi… đó là anh em công nhân. Bị đánh bất ngờ, bọn Nhật chạy trốn tán loạn, du kích thu được nhiều súng đạn.

THẾ LÀ NỔ RA CUỘC CHIẾN TRANH CÔNG KHAI THỰC SỰ

Như vậy là bùng nổ cuộc chiến tranh công khai thật sự giữa bọn Nhật và anh em công nhân ở Hân Định. Và chính anh em công nhân đã thắng, vì bọn Nhật không còn có thể khai thác các mỏ được nữa, và “miếng mồi béo bở” trở thành một gánh nặng thật sự đối với chúng.

CÂU CHUYỆN MỘT KỸ SƯ ĐỨC

Một nét khác đáng chú ý về tổ chức du kích vùng Hân Định là ở chỗ nó hình thành một mặt trận chống Nhật có tính chất quốc gia và quốc tế. Quốc gia, vì có một sự hợp tác chặt chẽ giữa ban giám đốc các mỏ và công nhân mỏ, giữa công nhân và nông dân, giữa du kích và quân đội chính quy. Quốc tế, vì có một sự cộng tác chặt chẽ giữa người Trung Quốc và người nước ngoài. Nhưng người nước ngoài là nhân viên kỹ thuật, nói riêng là viên tổng công trình sư người Đức, đã giúp nhiều cho du kích. Và đó là điều ai cũng biết. Sự cộng tác ấy đã được hình thành như sau: từ hơn ba chục nǎm nay, viên kỹ sư đã sống ở Trung Quốc. Ông rất nhiệt tình đối với người Trung Quốc và có một mối thù cá nhân sâu sắc đối với bọn Nhật. Mối thù này là do thú tính của bọn Nhật gây ra. Đã nhiều lần, người vợ viên kỹ sư bị bọn Nhật chửi mắng. Một hôm, trong khi bà đang tắm, một tên Nhật lẻn vào phòng… Bà vùng chạy ra bao lơn. Hắn đuổi theo bà ra đấy, và chỉ khi bà chĩa súng lục vào hắn, hắn mới chịu để cho bà yên. Từ đó, cả hai vợ chồng đều đứng hẳn về phía người Trung Quốc là những người – như viên kỹ sư đã nói – đang đấu tranh anh dũng, không chỉ vì nền độc lập của đất nước mình mà còn vì tất cả nền vǎn minh nữa.

P.C.LIN

—————————-

Báo Notre Voix, ngày 30-4-1939
cpv.org.vn

Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ III)

(BGĐT)- Diễn biến giành chính quyền ở các huyện. Tại Việt Yên, ngày 18-7-1945 du kích của huyện Việt Yên và phủ Yên Thế đột nhập phá nhà máy đúc gang Bạc Sơn, xã Tiên Sơn, thu 9 súng, 3 máy chữ, chia 25 tấn thóc cho dân.

Mít tinh Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 (Ảnh: Tư liệu).

Tại Yên Thế, sau khi phủ lỵ và đồn Bố Hạ bị ta tước vũ khí, Nhật điên cuồng chống phá phong trào cách mạng. Tỉnh uỷ quyết định trừng trị tri phủ Yên Thế- Tưởng Văn Trang để cảnh cáo những tên phản động khác. Ngày 15-7-1945, đồng chí Hà Thị Quế, Tỉnh uỷ viên phụ trách phủ Yên Thế liền cử một đội vũ trang tuyên truyền phục kích bắt  tri phủ và những tên còn lại. Ngày 17 và 18-7-1945, tự vệ Yên Thế đã thu 20 súng, 2 máy chữ ở Phủ Yên Thế. Bộ máy chính quyền tay sai của Nhật ở Yên Thế hoàn toàn tan rã.

Tại Lục Ngạn, thấy điều kiện khởi nghĩa ở địa phương đã chín muồi, đêm 17-7-1945, đồng chí Nguyễn Thanh Bình- phụ trách Lục Ngạn đã triệu tập một cuộc họp ở làng Đọ bàn kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị quyết định khởi nghĩa giành chính quyền phủ Lục Ngạn vào sáng  ngày 18-7-1945. Ngay đêm 17-7-1945, gần 400 tự vệ khu Gàng, Rùm, Quỷnh, Sơn Đình, Tam Rỵ, Chu Điện, Đọ và phố Lục Nam được huy động bao vây phủ và phá cầu Mẫu Sơn, chặn quân tiếp viện của địch đóng ở cầu Lồ. Sáng 18-7-1945, tự vệ võ trang tiến vào phủ đường Lục Ngạn. Tri phủ Vũ Phạm Hổ đã ra hàng, xin nộp dấu ấn, sổ sách cho Việt Minh. Ngày 20-7-1945, ta tổ chức mít tinh mừng phủ Lục Ngạn được giải phóng. Uỷ ban dân tộc giải phóng phủ đã ra mắt toàn dân.

Tại Yên Dũng, ngày 20-7-1945, đội tự vệ Song Khê (phủ Lạng Giang) do đồng chí Ninh Văn Phan chỉ huy phối hợp với lực lượng tự vệ An Tràng, Đào Tràng và một số địa phương khác đánh đồn Đức La, phá kho thóc chia cho dân nghèo. Cùng đêm 20-7-1945, tự vệ Song Khê cùng với cảh vệ Cảnh Thuỵ bao vây huyện lỵ Yên Dũng, bắt tri phủ huyện Phùng Trọng Mưu cùng binh lính nộp vũ khí, gấy tờ, sổ sách và bằng triện.

Từ 1-6 đến 20-7, lực lượng cách mạng đã lần lượt giành chính quyền ở các huyện Hiệp Hoà, Việt Yên, Yên Thế, Lục Ngạn, Yên Dũng tạo điều kiện thuận lợi cho khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh. Tình hình thế giới lúc đó cũng là điều kiện khách quan, hồng quân Liên Xô đánh bại phát xít Đức. Ngày 14-8-1945, Nhật hạ vũ khí đầu hàng quân đồng minh. Đây là thời cơ ngàn năm có một cho nhân dân ta giành chính quyền đã tới.

Đồng chí Hồ Công Dự và một số các đồng chí phụ trách huyện Việt Yên, Yên Dũng đã họp tại Song Khê quyết định chớp thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh trước khi phát xít Nhật và bọn Đại Việt hành động. Kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh được vạch ra: 3 đồng chí Hồ Công Dự, Ninh Văn Phan, Trương Văn Nhã cùng một số cán bộ tự vệ sẽ đột nhập vào dinh tỉnh trưởng, bắt tỉnh trưởng phải đầu hàng; đội tư vệ phải luôn trong tư thế sẵn sàng nổ súng khi cần thiết và cùng với quần chúng biểu tình thị uy để uy hiếp địch; gửi thư báo cáo cho các đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh, Hà Thị Quế, Nguyễn Thanh Bình nhanh chóng quân tiếp viện; làm trung lập bọn Nhật.

Diễn biến chiếm dinh tỉnh trưởng Phủ Lạng Thương. Tảng sáng ngày 18-8-1945, đồng chí Hồ Công Dự và Ninh Văn Phan cùng một đội tự vệ trang bị vũ khí xuất phát từ đình làng Song Khê vượt cầu sông Thương vào tỉnh lỵ đột nhập dinh tỉnh trưởng. Bị tấn công bất ngờ, tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Đĩnh phải đầu hàng nộp toàn bộ vũ khí và ra lệnh cho viên Chánh bảo an giao trại  bảo an binh, thu gần 200 khẩu súng. Viên chánh bảo an và số đông bảo an xin ra nhập lực lượng vũ trang cách mạng.

Tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 (Ảnh: Tư liệu).

7 giờ sáng ngày 18-8-1945, cờ đỏ sao vàng tung bay trên dinh tỉnh trưởng và trại bảo an ninh ở phủ Lạng Thương. Tên sỹ quan chỉ huy quân đội Nhật ở Bắc Giang phải ngồi vào bàn thương lượng với Việt Minh và chấp hành mọi điều kiện do ta yêu cầu: Việt Minh hoàn toàn làm chủ tỉnh Bắc Giang, giữ gìn trật tự an ninh trong tỉnh; quân Nhật đóng ở các nơi trong tỉnh phải rút về tập trung tại cầu Lồ- Lục Ngạn và phủ Lạng Thương không được mang vũ khí ra phố, không được chuyển thóc đi nơi khác.

Lực lượng tự vệ Phủ Lạng Thương và các huyện Lạng Giang, Yên Thế, Việt Yên, Yên Dũng cùng quần chúng tuần hành thị uy.

Sau khi khởi nghĩa thắng lợi, tỉnh uỷ quyết định thành lập uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Bắc Giang do đồng chí Nguyễn Thanh Bình là chủ tịch.

Sáng ngày 19-8-1945, lực lượng khởi nghĩa hoàn toàn làm chủ Phủ Lạng Thương.

Chiều ngày 21-8-1945, một cuộc mít tinh lớn với hàng nghìn người được tổ chức tại sân vận động Phủ Lạng Thương để chào mừng chính quyền mới. Đồng chí Nguyễn Thanh Bình đã tuyên bố xoá bỏ chính quyền cũ, thành lập uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời các cấp, giới thiệu chương trình của mặt trận Việt Minh, kêu gọi mọi người hăng hái tham gia các tổ chức cứu quốc, nâng cao cảnh giác và kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng. Sau đó, cuộc mít tinh lớn được biến thành một cuộc tuần hành biểu dương lực lượng.

Nam Thanh
baobacgiang.com.vn

>> Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ I)
>> Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ II)

Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ II)

(BGĐT)- Giữa tháng 3-1945, Ban cán sự tỉnh Bắc Giang đã cử đồng chí Chu Đốc- cán bộ quân sự, Hồ Công Lạng- cán bộ chính trị về Lục Ngạn. Tháng 5-1945, Xứ uỷ cử thêm đồng chí Nguyễn Đức Quỳ- cán bộ chính trị mở các lớp chính trị ở Rùm, Quỷnh cho hàng chục cán bộ cơ sở và hội viên cứu quốc.

Phát lệnh Tổng khởi nghĩa năm 1945 (Ảnh: tư liệu)

Các làng có cơ sở Việt Minh đều thành lập đội tự vệ thoát ly hoặc bán thoát ly ở các làng Gàng, Rùm, Quỷnh, Ngạc. Các trận phục kích đánh Nhật ở Cầu Lồ và dọc đường 13 đã gây cho địch nhiều thiệt hại. Phong trào cách mạng lên cao, một số hào lý ra nhập Việt Minh. Bộ máy thống trị của phát xít Nhật từ phủ đến tổng, xã đều rệu rã, nhiều nơi chính quyền địch không còn hiệu lực. Mặt trận Việt Minh đứng ra giải quyết công việc.

Ở Yên Dũng, ngày 17-3-1945, thanh niên Cảnh Thuỵ tổ chức phục kích bắt tri phủ huyện Phạm Khắc Dậu. Tháng 4-1945, Ban cán sự tỉnh lập hai đội công tác cử về Yên Dũng làm nhiệm vụ tuyên truyền xung phong. Trong một thời gian ngắn, nhiều làng xã trong huyện đều tổ chức các đoàn thể cứu quốc, Mặt trận Việt Minh, đội tự vệ. Tại Hương Gián, An Tràng, Đạo Tràng, Tư Mại, Song Khê, Cảnh Thuỵ, Bằng Lương, ta đã tổ chức nhiều cuộc mít tinh, đấu tranh chống Nhật phá lúa trồng đay. Tại Song Khê, Mặt trận Việt Minh đã thu triện, sổ sách ghi thuế…chính quyền của địch tại Song Khê đã hoàn toàn  bị vô hiệu hoá.

Ở Phủ Lạng Thương, các cơ sở cách mạng được xây dựng ở xưởng sửa chữa xe lửa, nhà máy nước và phát triển tới các lực lượng công chức, binh lính, học sinh, tiểu thương…

Tại Lạng Giang, từ đầu tháng 4-1945, phong trào cách mạng ở Phi Mô, Quảng Mô, Bừng…phát triển tới Khê Cầu, Chí Mỹ, Mải Hạ, Bắc Thịnh, Chi Lễ, Dương Quan, Bằng, Kép, Đào Mỹ, Yên Bừng, Kế, Hương Gián…và toả ra các vùng xung quanh. Đến tháng 6-1945, phong trào cách mạng ở Lạng Giang phát triển khá mạnh. Nhiều làng, xã, chính quyền địch không còn hiệu lực, một số đã ngả theo cách mạng. Tại một số nơi, tránh lý trưởng tự nộp triện cho Việt Minh.

Nhưng trở ngại cho phong trào cách mạng của tỉnh Bắc Giang lúc này là hoạt động của các đảng phái phản động và bọn thổ phỉ, bọn Quốc dân Đảng và bọn Đại Việt đã nổi dậy ở Yên Thế, Lục Ngạn và ở Phủ Lạng Thương. Một số tên Quốc dân Đảng tìm cách cản trở ta hoạt động (ở Việt Yên) hoặc xây dựng lực lượng vũ trang chống lại ta (ở Đan Hội, Lục Nam). Bọn thổ phỉ đa số ẩn náu ở Yên Thế, Hữu Lũng, Sơn Động, Lục Ngạn gây khó khăn cho phong trào cách mạng.

Từ sau khi Nhật đảo chính Pháp, hầu hết miền núi tỉnh Bắc Giang, đặc biệt là Lục Ngạn, Sơn Động là nơi hoạt động của ba thế lực: Lực lượng cách mạng; lực lượng thổ phỉ; chính quyền bù nhìn và bọn  Đại Việt. Trước tình hình đó, Ban cán sự tỉnh chủ trương: đối với chính quyền bù nhìn cần thuyết phục, trừng trị bọn phản động; kiên quyết tiêu diệt bọn tướng phỉ và bọn đầu sỏ phản động; xây dựng các đoàn thể quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang, tổ chức tuyên truyền xung phong; kêu gọi các dân tộc đoàn kết kháng Nhật; tranh thủ đào tạo cán bộ dân tộc.

Tại Lục Ngạn, Sơn Động ta đã thành lập đội “Hoa Kiều tự vệ” để đánh Nhật, trấn áp thổ phỉ. Tuyên truyền bà con người Hoa cùng hợp tác với người Việt đánh Nhật, Pháp. Cuối tháng 7-1945, ta thành lập đội võ trang tuyên truyền gồm 18 người hoạt động từ Rùm qua Đối Sơn, Mai Sưu, Hổ Lao, Đám Trì (Lục Ngạn) cùng với các hình thức họat động, các cơ sở cách mạng trong đồng bào dân tộc ít người được mở rộng nhiều địa phương đã lập đội tự vệ để bảo vệ xóm làng chuẩn bị thời cơ giành chính quyền.

Ở Yên Thế, ta cũng tổ chức đội võ trang tuyên truyền ở các làng bản như Mỏ Trạng, Xuân Lương, Đồng Vương, Canh Nậu, Hương Vỹ… để tuyên truyền, vận động quần chúng, đồng bào dân tộc ít người tham gia các đoàn thể cứu quốc, mặt trận Việt Minh.

Đối với bọn quốc dân Đảng và Đại Việt, một số ta lôi kéo, phần lớn ta dùng lực lượng vũ trang tiêu diệt không cho chúng chống phá cách mạng..

Đình Vân Xuyên, xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang)- nơi mít tinh, tập trung lực lượng quần chúng đi khởi nghĩa giành chính quyền ở Hiệp Hoà – 1945.

Từ ngày 15 đến ngày 20-4-1945, tại làng Liễu Ngạn, tổng Hoàng Vân (Hiệp Hoà), Trung ương Đảng họp Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ để thảo luận cụ thể công tác chuẩn bị khởi nghĩa. Ngày 8-5-1945, tại làng Quế Sơn (Hiệp Hoà), hội nghị gồm đại biểu uỷ ban dân tộc giải phóng các xã trong huyện đã quyết định việc tạm chia ruộng đất của đồn điền Cọ và Vát cùng với việc giảm tô 25% cho nông dân. Chính quyền địch ở Hiệp Hoà hoang mang. Thời cơ giành chính quyền huyện đã đến. Tối 1-6-1945, lực lượng tự vệ chiến đấu ở một số làng thuộc tổng Hoàng Vân dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh tiến vào chiếm huyện lỵ. Tri huyện Thái Vĩnh Thịnh đã nộp toàn bộ sổ sách, giấy tờ cho ta. Sáng hôm sau, ta huy động quần chúng đến phá kho thóc chia cho nhân dân. Huyện lỵ Hiệp Hoà và đồn Chã thất thủ. Ở đồn Thị Cụ bọn lính cũng bỏ chạy về tỉnh. Toàn huyện Hiệp Hoà được giải phóng.

Hiệp Hoà giải phóng làm cho bọn quan lại từ phủ, huyện đến tỉnh hoang mang giao động. Trong khi đó, cao trào cách mạng trong toàn tỉnh dâng lên cuồn cuộn làm cho bộ máy chính quyền của địch ở thôn, xã bị tê liệt và tan dã hàng loạt. Đó là những điều kiện thuận lợi cho phép Đảng bộ tỉnh Bắc Giang phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền cấp tỉnh.

(Còn nữa)

Nam Thanh
baobacgiang.com.vn

>> Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ I)

Thư từ Trung Quốc

Hôm nay, tôi sẽ nói với các bạn về tình hình nội bộ quân thù.

Lúc đầu, bọn quân phiệt Nhật hứa là sẽ chiến thắng trong 3 tháng, rồi 6 tháng, rồi lại sau khi chiếm Hán Khẩu. Nhưng cuộc đấu tranh đã kéo dài từ gần 2 nǎm nay. Hán Khẩu một lúc nào đó đã bị thất thủ, nhưng thắng lợi thì vẫn chưa có. Hơn nữa, tình hình của nhân dân Nhật lại ngày càng tồi tệ. Giá sinh hoạt và thuế má ngày một tǎng nhanh và không thể nào tính toán nổi. Mùa màng thu hoạch kém, 1,8 triệu công nhân không có việc làm, 3 triệu người thất nghiệp từng phần. Bất chấp sự đe doạ của toà án quân sự, từ tháng 1 đến tháng 6-1938, đã nổ ra 593 cuộc bãi công của công nhân và 2.995 cuộc biểu tình thị uy của nông dân. Một số lớn trí thức bị bắt. Các hiệu buôn nhỏ bị khánh kiệt, vì những người chủ của chúng bị gọi ra mặt trận. Người ta thấy binh lính ra đi, nhưng chỉ thấy chở về nước những bình đựng di hài 1 hoặc chỉ thấy gửi về những tờ phiếu nhỏ ghi là “Đã hy sinh ở chiến trường”.

Thêm vào đó là không khí phát xít trong quân đội của Nhật hoàng và nỗi đau khổ của những cuộc trường chinh trên một đất nước xa lạ và thù địch. Cuộc tiến công dồn dập của du kích, việc tuyên truyền chống chiến tranh được tiến hành ở Nhật, sự tỏ tình thân thiện của quân đội và nhân dân Trung Quốc – tất cả những điều đó đã ảnh hưởng nặng nề đến binh lính Nhật. Đối với những người tiêu cực, sau khi mất tinh thần thì họ tự tử.

Những người giác ngộ nhất thì nổi dậy. Tôi không kể ra đây danh sách những vụ tự tử vì sẽ quá dài dòng. Tôi chỉ kể vài – chứ không phải tất cả cuộc nổi dậy gần đây nhất, vẫn là theo những thông cáo chính thức thôi.

NHỮNG VỤ BINH BIẾN

Takou, ngày 22-1.

3.000 binh sĩ đã làm binh biến. Trong khi lên tàu thuỷ ở Thượng Hải, họ được những viên thuyền trưởng cho biết họ sắp được trở về Nhật Bản. Nhưng đến ngoài khơi Takou, đáng lẽ các tàu đó tiếp tục đi về hướng Đông, nhưng chúng lại hướng vào cảng này. Bị binh lính chất vấn, các viên thuyền trưởng nói rằng theo phản lệnh của bộ tổng tư lệnh, binh lính phải hoãn nghỉ phép để đi đến Sơn Tây là nơi mà hoạt động của du kích đang phát triển. Thế là cuộc binh biến bắt đầu. Bốn chiếc tàu chiến đậu ở cảng bắt đầu bắn vào những người làm binh biến. Những binh lính đồn trú ở Takou – tưởng rằng bọn lính thuỷ tiến công chúng, liền nã súng vào những chiếc tàu đó. Về phía du kích, thì tưởng rằng quân đội của chúng tôi đã đến và đang bị quân Nhật tấn công, nên cũng vội vàng xông vào cứu. Người ta đánh nhau loạn xạ. Cuộc chiến đấu kéo dài trong nhiều giờ và chỉ chấm dứt khi những lực lượng Nhật Bản khác được điều đến. Binh lính và những người Nhật làm binh biến đều bị chết và bị thương nhiều. Những người làm binh biến còn sống sót đều bị áp giải lên mặt trận Luyouan.

Hán Khẩu, ngày 9-2.

Những tổ chức bí mật do binh lính Nhật thành lập, muốn tỏ tình đoàn kết với những người làm binh biến ở Takou. Nhưng không may là kế hoạch đã bị lộ từ trước. Những người bị bắt gồm có: 12 hiến binh, 130 sĩ quan và binh lính, 55 người dân thường (tất cả đều là người Nhật) và 8 người Bạch Nga.

Chouangtung (phía bắc tỉnh Hà Bắc), ngày 13-2.

Từ mặt trận Wangxung trở về để đi lên Hán Khẩu, khoảng 2.000 binh sĩ Nhật đã nổi dậy và giết viên chỉ huy của họ là thiếu tá Yo Katha. Những người làm binh biến bị tấn công cùng một lúc bởi những lính thuỷ và bộ binh được phái đến đàn áp họ. Về phía họ có nhiều người chết.

Chongcha, ngày 17-2.

2.000 lính Nhật được lệnh phải ra mặt trận. Đến Jouchikiou, họ không chịu lên tàu. Lữ đoàn của tướng Hamito được điều đến để đàn áp họ. Cuộc chiến đấu giữa quân đội và những người làm binh biến đã diễn ra trong một ngày rưỡi. Khoảng 800 binh sĩ làm binh biến đã bị hy sinh.

Singlo, ngày 26-2.

Theo tin tức do một số người Nhật ở Thái Nguyên cho biết thì ngày 13-2, trung đoàn của đại tá Nomura vừa đến phía tây tỉnh Sơn Tây thì nổi dậy. Viên đại tá đã tự sát và 9 tên sĩ quan bị những người làm binh biến giết.

LÒNG CUỒNG TÍN ẤY CÒN ĐÂU NỮA

Người ta thấy rằng trong cuộc chiến tranh Trung – Nhật và trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật, khi một người lính ra mặt trận, anh ta được gia đình và làng xóm dọn tiệc mừng. Lúc lên đường, anh ta được cả làng đi tiễn, có mang theo nhạc cụ và cờ. Trên những lá cờ đó có ghi những lời động viên như: “Hy sinh vì Nhật hoàng là vinh dự lớn nhất!”, “Hãy chiến thắng khi trở về hoặc là tự sát trên chiến trường!”, v.v.. Người Nhật lấy làm tự hào được phục vụ Nhật hoàng. Người ta tự hào vì đã có con hoặc chồng ở mặt trận. Còn ngày nay thì thế nào ?

Ngày nay, sự cuồng tín đó đã giảm đi nhiều, nếu không nói là đã tiêu tan rồi. Chúng tôi xin trích vài đoạn trong các báo, những đoạn này đã được các tù binh xác nhận.

Singlo, ngày 6-2.

Một sĩ quan phiên dịch người Nhật nói rằng, gần đây trong huyện X, khi những đoàn tàu quân sự sắp chuyển bánh, bố mẹ các binh sĩ bắt đầu khóc than và la ó, rồi họ nằm lên trên đường sắt để ngǎn không cho tàu chạy. Họ đông đến nỗi hình thành một dãy dài khoảng 6 kilômét. Cảnh tượng thật là đáng thương đến nỗi có những công nhân lái đầu máy xe lửa phải tự tử để khỏi bị buộc phải lái những đoàn tàu đó.

Thái Nguyên, ngày 15-2.

Phần đông binh lính vừa mới đến Sơn Tây là những người buôn bán, tuổi từ 30 đến 35 – họ không thích chiến tranh. Trong khi trò chuyện, họ kể rằng những người phụ nữ Nhật đã tự tổ chức lại thành cái gọi là “tổ chức để đòi chồng”.

Mặt trận trải quá dài. Bọn quân phiệt không có đủ người. Để khắc phục điều đó, chúng cưỡng ép những người Triều Tiên, Mãn Châu và những người Trung Quốc trong vùng bị chiếm phải nhập ngũ và đưa họ ra mặt trận. Chúng nói “Làm như vậy rẻ hơn”. Nhưng trên thực tế, đó là “uống thuốc độc cho đỡ khát”, như ngạn ngữ Trung Quốc đã từng nói. Những người Triều Tiên, Mãn Châu và những người Trung Quốc trong các vùng bị chiếm chỉ mong chờ có cơ hội thuận tiện là sẽ quay súng chống lại bọn Nhật tàn bạo đó. Xin trích dẫn thêm vài bản thông cáo chính thức mà tình cờ chúng tôi đọc được.

Hồng Công, ngày 12-2.

Gần Quảng Châu, 6.000 binh lính Triều Tiên đã nổi dậy. Nhiều sĩ quan Nhật bị giết. Những đội tảo phạt gồm lính bộ binh và hải quân được phái đến để đàn áp những người làm binh biến. Cuộc chiến đấu kéo dài suốt cả ngày. Những người đứng đầu cuộc nổi dậy là Thôi Chang Kwei, Li Vin Ka, Kim Chang Han và 800 người Triều Tiên khác đều bị giết. Số còn lại bị quân lính áp giải về Triều Tiên.

Louang, ngày 23-2.

Những đội gọi là tự vệ ở các khu Lang Song và Jongshan, sát ngay Bắc Kinh, đều do Chang Dung Lai, Oei Sou Tin, Chou Wan Lung và Hoa The Hai chỉ huy. Những đội đó gồm trên 1.000 người. Sau khi cấp vũ khí và trả lương, bọn Nhật phái những đội ấy đi coi như những đội quân tiên phong đi chống du kích tại miền Nam Hồ Bắc. Nhưng đáng lẽ đi về phía nam thì Chang Dung Lai và những người bạn chiến đấu của anh lại gặp nhau ở Joumachang, gần Jongshan, và tấn công mạnh mẽ vào quân đội Nhật.

Sau khi đọc qua vài sự việc trên đây, chắc các bạn thừa hiểu vì sao bọn Nhật sau khi chiếm Hán Khẩu, Quảng Châu và Nam Dương thì không còn tiến được nữa.

P.C. LIN

———————————

Báo Notre Voix, ngày 21-5-1939
cpv.org.vn

Thư gửi một đồng chí ở Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản

Bạn thân mến,

Trong thư trước, tôi quên nói với bạn một vài điều. Hôm nay tôi bổ sung thêm điều đó.

ít lâu nay, tôi có quan hệ với chủ nhiệm báo Notre Voix (14) – tờ tuần báo xuất bản ở Hà Nội từ 1-1939. Đó là những mối liên hệ thuần tuý báo chí. Tôi đã gửi cho ông ta một bài báo nói về những sự tàn bạo của Nhật Bản 1 ở Trung Quốc. Sau khi đǎng bài báo đó, ông ta viết cho tôi rằng, bài báo được bạn đọc hoan nghênh và yêu cầu tôi luôn luôn gửi cho ông ta tài liệu. Để đáp lại, tôi đã đề nghị ông ta phái ai đó nói chuyện cụ thể với tôi về hình thức cộng tác này. Ông ta không trả lời. Tôi viết thư lần thứ hai. Không có sự trả lời. Tuy nhiên ông ta tiếp tục gửi báo của ông ta cho tôi; và tôi – thỉnh thoảng gửi cho ông ta những bài báo.

Có thể đến tháng 5 tôi sẽ phái một người nào đó nói chuyện với ông ta.

Khi đọc Notre Voix, tôi thấy những thông tin khá hay:

1. Nhóm cánh tả có nhiều tờ báo:

Dân chúng 15 (Masse), nhật báo cộng sản tiếng bản xứ, xuất bản hợp pháp ở Sài Gòn, có 10.000 người đọc.

Lao động (Travail).

Dân tiến (Progrès).

Dân muốn (Voeux du Peuple), tất cả ở Sài Gòn.

Đời nay (époque Actuelle).

Thế giới (Monde), cơ quan của Thanh niên dân chủ.

Notre Voix – tờ tuần báo cộng sản – tất cả ba tờ ở Hà Nội.

Những tờ báo này bị cấm nghiêm ngặt ở Trung Kỳ và luôn luôn bị các nhà chức trách Bắc Kỳ và Nam Kỳ không để cho yên. Những phần tử cánh tả người Pháp có hai tờ báo: Effort và Agir.

Giúp Trung Quốc: Những thanh niên cánh tả người bản xứ đã tổ chức lạc quyên để giúp những nạn nhân chiến tranh và cả những đảng viên nữa, gửi thuốc men cho quân đội chúng ta, tung ra khẩu hiệu “Giúp Trung Quốc”, và tuyên truyền tẩy chay hàng hoá Nhật Bản. Họ đã đòi trục xuất ra khỏi lãnh thổ Đông Dương tên Uông Tinh Vệ và những tên phản bội khác.

Theo tờ Notre Voix, họ đã sáng tác một bài ca dao “Cứu Trung Quốc là cứu mình!”; bài ca dao đó đã trở nên rất phổ thông trong quần chúng. Ngay cả những trẻ chǎn trâu bò cũng hát.

Thanh niên Trung Quốc và thanh niên bản xứ cùng nhau tổ chức những buổi biểu diễn để giúp Trung Quốc.

Chi nhánh Đảng Xã hội Pháp, Hội nhân quyền (Hà Nội) và những phần tử cánh tả người bản xứ đã lập “Hội bảo vệ Trung Quốc”. Mới đây, Hội này đã tổ chức một chợ phiên lớn để giúp đỡ nạn nhân chiến tranh.

2. Đảng Xã hội 1 – Trong hội nghị (đầu tháng 1), họ đã biểu quyết về các nghị quyết chống đàn áp, về sự thống nhất hành động và về sự bảo vệ Trung Quốc.

Những đại biểu của Thanh niên dân chủ đã có mặt ở hội nghị để yêu cầu thành lập một chi hội thanh niên xã hội nhằm thống nhất và lãnh đạo phong trào thanh niên ở Đông Dương.

Trong thời gian hội nghị, Notre Voix đã đǎng một bức thư chào mừng hội nghị của những người xã hội và đề nghị lập mặt trận thống nhất.

Hội nhân quyền đã đòi quyền tự do lập nghiệp đoàn cho công nhân bản xứ.

3. Dưới một cớ tầm phào vô lối, hai đảng viên Dân chủ ở Viện dân biểu Trung Kỳ đã bị tước quyền đại biểu và bị buộc tội.

Để chống lại sự tǎng thuế, ba đại biểu đảng viên xã hội người bản xứ ở Hội đồng thành phố Hà Nội (được bầu vào tháng 12 trước, với số trung bình 409 phiếu so với với số trung bình 157 phiếu của danh sách tư sản) đã từ chức.

Những lãnh tụ cánh tả – Tạo, Mai, Ninh, Nguyễn được ân xá vào dịp đầu nǎm âm lịch, đã nộp đơn ứng cử vào Hội đồng thuộc địa của Nam Kỳ.

4. Sự đàn áp xảy ra ở khắp nơi, đặc biệt là ở Trung Kỳ, chống những … phần tử cánh tả, những công nhân và những nông dân hoạt động.

Những sự khám xét, bắt bớ diễn ra hàng ngày ở tỉnh này hay ở tỉnh khác.

Thuế má tǎng.

Sự phá hoại chống lại luật xã hội lan rộng. Ngày nghỉ hàng tuần bị bãi bỏ ở một loạt hiệu buôn.

5. Bọn phản động hoạt động mạnh.

ở Hà Nội, mới xuất bản một tờ báo phát xít: Cứu nước, đấu tranh chống mặt trận nhân dân, những hội viên Tam điểm, những người Do Thái, những người xã hội và những người cộng sản. Số báo Cứu nước đầu tiên viết: “Chúng ta không giấu giếm, chính chúng ta muốn nói to lên rằng Đảng được chúng ta tán thành nhất đó là Đảng bình dân Pháp do Đôriô (Doriot) lãnh đạo…”.

Đọc, một tờ báo mới do một người bản xứ lãnh đạo cũng đòi chủ nghĩa quốc xã. Đây là một vài chỗ nổi của nó: “Chính phủ Pháp, nếu muốn cộng tác thành thực với người An Nam phải thực hiện chính sách chống cộng”. Tất cả được in bằng tít chữ to (10-1-1939) “Chủ nghĩa cộng sản là tai hoạ của loài người. Chính phủ còn chờ gì để tiêu trừ bọn vô lại cộng sản ?” (13-1-1939). Biên tập viên của tờ báo này vừa mới được phép xuất bản một tờ báo hàng ngày bằng tiếng bản xứ Pháp – An Nam và Chính phủ đã hứa cho hắn làm quan ở cấp khá cao.

Tờ Tổ quốc An Nam có khuynh hướng phát xít. Nó tôn thờ Mútxôlini (Moussolini) và nước Italia phát xít.

Bọn tờrốtkít chia làm hai nhóm cãi lộn nhau.

Bọn Nhật Bản hoạt động khá mạnh ở Đông Dương. Một nhà báo Pháp và một người bản xứ đã bị kết án 15 nǎm tù khổ sai vì làm gián điệp cho Nhật Bản. Một sĩ quan Nhật Bản đã bị bắt giữ với chiếc cặp đầy tài liệu mật về phòng thủ Đông Dương.

Đọc Notre Voix, tôi có cảm tưởng rằng phong trào của mặt trận thống nhất ở xứ này không mạnh lắm. Trái lại, những phần tử cánh tả hoạt động khá mạnh.

Tôi khá khoẻ. Tôi góp phần nhỏ bé của tôi vào cuộc đấu tranh chống Nhật Bản bằng cách thỉnh thoảng gửi những bài tuyên truyền cho các báo nước ngoài và công tác ở Bát lộ quân. Tôi chúc bạn sức khoẻ tốt và tôi xin bạn nhận lời chào thân thiết nhất của tôi.

20-4-1939
LIN

Địa chỉ: (Bằng máy bay)
Quế Lâm (Quảng Tây) Trung Quốc 1

—————————-

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư từ Trung Quốc – Về chủ nghĩa Tờrốtxki

Quế Lâm, ngày 10-5-1939

Các bạn thân mến,

Trước kia, chủ nghĩa Tờrốtxki đối với tôi cũng như đối với nhiều người khác, hình như là một vấn đề tranh cãi trong nội bộ giữa các phe phái khác nhau của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bởi vậy, chúng tôi không lưu ý đến nó. Nhưng ít lâu trước khi xảy ra chiến tranh – nói đúng hơn là hồi cuối nǎm 1936, và nhất là trong thời gian chiến tranh, những sự cổ động đầy tội lỗi của bọn tờrốtxkít đã làm cho chúng tôi sáng mắt ra. Thế là chúng tôi bắt đầu nghiên cứu vấn đề. Và việc nghiên cứu đó đã chứng minh cho chúng tôi thấy như sau:

1. Vấn đề chủ nghĩa Tờrốtxki không phải là sự tranh cãi trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc, vì giữa những người cộng sản và bọn tờrốtxkít không có quan hệ, hoàn toàn không có quan hệ gì với nhau cả. Nhưng đây là một vấn đề liên quan đến toàn quốc, toàn dân: một vấn đề chống lại Tổ quốc.

2. Bọn phát xít Nhật và bọn phát xít nước ngoài đều biết rõ điều đó, bởi vậy chúng cố ý gây mối bất hoà để lừa gạt thiên hạ và làm mất uy tín của những người cộng sản, chúng làm cho người ta tưởng rằng những người cộng sản và bọn tờrốtxkít là cùng một cánh với nhau.

3. Bọn tờrốtxkít Trung Quốc (cũng như bọn tờrốtxkít nước ngoài) không lập thành nhóm, càng không lập thành chính đảng. Chúng chỉ là những bè lũ bất lương, những con chó sǎn của chủ nghĩa phát xít Nhật (và chủ nghĩa phát xít quốc tế).

4. Trong tất cả các nước, bọn tờrốtxkít đều dùng những tên gọi hoa mỹ để che giấu những công việc kẻ cướp bẩn thỉu của chúng. Chẳng hạn: ở Tây Ban Nha, chúng gọi là “Đảng công nhân thống nhất mác xít” hoặc “POUM”. Chắc các bạn cũng biết rằng chính bọn chúng đã tổ chức tất cả những tổ do thám ở Mađrít, ở Bácxơlon và ở các nơi khác để phục vụ cho Phrǎngcô. Chính chúng đã tổ chức cái “đội quân thứ 5” nổi tiếng để giúp làm nội ứng cho các quân đội phát xít ý – Đức. ở Nhật Bản, chúng gọi là “MEL” (Đồng minh Mác, Ǎngghen, Lênin). Bọn tờrốtxkít Nhật dụ dỗ thanh niên vào trong đồng minh, rồi tiếp đó chúng đi tố cáo họ với sở cảnh sát. Chúng còn mưu toan chui vào Đảng Cộng sản Nhật Bản cốt để phá hoại nó. Tôi cho rằng bọn tờrốtxkít Pháp hiện giờ cũng đang tập hợp chung quanh nhóm “Cách mạng vô sản” và nhiệm vụ của chúng là phá hoại Mặt trận nhân dân. Về việc này, chắc các bạn biết rõ hơn tôi. ở nước Trung Hoa chúng tôi, bọn tờrốtxkít liên kết với nhau chung quanh nhóm “Tranh đấu”, nhóm “Chiến tranh chống Nhật và vǎn hoá” và nhóm “Cờ đỏ”.

5. Bọn tờrốtxkít không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ. Đó là bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất.

Chắc các bạn đã đọc bản án xử bọn tờrốtxkít ở Liên Xô. Nếu các bạn chưa đọc thì tôi khuyên các bạn nên đọc và làm cho bạn bè mình cũng đọc nó. Đọc bản án này rất bổ ích. Nó sẽ giúp các bạn thấy rõ bộ mặt thật đáng ghê tởm của chủ nghĩa Tờrốtxki và bọn tờrốtxkít. ở đây, tôi xin phép các bạn chỉ trích dẫn vài đoạn trong bản án có liên quan trực tiếp đến Trung Quốc thôi.

Trước toà án, tên tờrốtxkít Racốpxki khai như sau: Nǎm 1934, khi hắn còn ở Tôkiô (với tư cách là đại diện Hội chữ thập đỏ Liên Xô), một nhân vật cao cấp trong Chính phủ Nhật đã nói với hắn:

“Chúng tôi có quyền mong đợi ở những người tờrốtxkít một sự thay đổi về sách lược. Tôi không cần đi sâu vào chi tiết. Chỉ cần nói rằng chúng tôi mong đợi ở họ những hành động thuận lợi cho sự can thiệp của chúng tôi vào công việc của Trung Quốc”.

Racốpxki trả lời với tên Nhật: “Tôi sẽ viết thư cho Tờrốtxki về vấn đề này”. Đến tháng 12-1935, Tờrốtxki ra chỉ thị cho những tên Trung Quốc đồng bọn của hắn, và nhắc đi nhắc lại rằng: “Đừng gây trở ngại cho cuộc xâm lược của Nhật Bản ở Trung Quốc”.

Như vậy là bọn tờrốtxkít Nga muốn bán cho đế quốc Nhật không chỉ những phần đất của Tổ quốc mình – Xibêri và những tỉnh ven biển – mà chúng còn muốn bán cho đế quốc Nhật cả Tổ quốc chúng tôi – nước Trung Hoa nữa!

– Thế thì bọn tờrốtxkít Trung Quốc đã hành động như thế nào? Rõ ràng các bạn sẽ nôn nóng, hỏi tôi như vậy.

– Nhưng, thưa các bạn thân mến, chỉ trong bức thư sau, tôi mới có thể trả lời các bạn được. Các bạn há chẳng đã dặn tôi viết những bài ngắn đó sao?

Mong sớm được gặp lại các bạn.

P.C.LIN

———————-

Báo Notre Voix, ngày 23-6-1939
cpv.org.vn

Thư từ Trung Quốc – Hoạt động của bọn tờrốtxkít Trung Quốc

Các bạn thân mến,

Trước khi trả lời câu hỏi của các bạn về hoạt động của bọn tờrốtxkít Trung Quốc, trước hết cho phép tôi giới thiệu với các bạn nửa tá những tên đầu sỏ, quá ư phản bội đã từng làm rạng danh “quốc tế thứ tư”. Đó là: Trần Độc Tú, Bành Thuật Chi, La Hán, Diệp Thanh, Trương Mộ Đào, Hoàng Công Lược.

Theo thứ tự thời gian, sau đây là những việc chúng đã làm:

Tháng 9-1931, trong khi quân đội Nhật xâm chiếm Mãn Châu, Sở mật thám Nhật ở Thượng Hải đã bắt liên lạc với ba tên trước. Hai bên đã ký kết với nhau một hiệp định: Nhóm tờrốtxkít cam kết không tiến hành một cuộc tuyên truyền nào chống lại cuộc xâm lược của Nhật. Sở mật thám Nhật thì cam kết sẽ trả cho nhóm tờrốtxkít mỗi tháng 300 đôla, cùng những khoản tiền trả thêm cho cân xứng với những “công việc đã làm được có kết quả”.

Thế là Trần Độc Tú và đồng bọn bắt tay ngay vào công việc. Với tiền bạc của Nhật, chúng cho xuất bản những tạp chí và những tập trào phúng để truyền bá những tư tưởng như là: “Chiếm Mãn Châu, người Nhật chỉ mong giải quyết nhanh chóng những vấn đề còn đang tranh cãi, chứ họ không hề có chút ý đồ nào xâm lược Trung Quốc”.

Những mục trên các tờ báo tờrốtxkít vừa rao thì đến lượt Thượng Hải bị bọn Nhật tấn công, vào tháng 1-1932.

Lúc đó, bọn tờrốtxkít nói như thế nào? Chúng có thừa nhận là chúng phạm sai lầm không? Chúng có thôi làm việc cho kẻ xâm lược không? Hoàn toàn không? Trong khi binh sĩ của Lộ quân thứ 19 hy sinh xương máu của mình để bảo vệ đất nước thì bọn tờrốtxkít, trên lời nói cũng như trong hành động, đã phạm hết tội phản bội này đến tội phản bội khác. Một mặt chúng viết:

“Cuộc chiến tranh ở Thượng Hải không có quan hệ đến nhân dân. Đó không phải là một cuộc chiến tranh dân tộc cách mạng. Đó là một cuộc chiến tranh giữa bọn đế quốc với nhau”. Và mặt khác, chúng phao tin đồn nhảm, đưa ra những khẩu hiệu có tính chất thất bại chủ nghĩa, làm lộ những kế hoạch phòng thủ, v.v..

Không phải chỉ có thế đâu. Những tên tờrốtxkít khác như Hoa Vǎn Khôi và Cung Tân Thư đã chui vào trong cuộc bãi công của công nhân Thượng Hải, chúng bí mật liên lạc với Sở cảnh sát và bọn chủ Nhật, và làm đủ mọi cách để phá hoại phong trào. Thậm chí, chúng còn mưu toan bắt đi cả những người cầm đầu giỏi nhất của cuộc bãi công.

Nǎm 1933, nguyên soái Phùng Ngọc Tường và tướng Cát Hồng Xương, một đảng viên cộng sản đã tổ chức một đội quân chống Nhật ở Kalgan. Trong thời kỳ này, Đảng Cộng sản đang còn hoạt động bí mật, việc liên lạc giữa miền Trung và miền Bắc đang khó khǎn. Lợi dụng tình hình đó, tên tờrốtxkít Trương Mộ Đào tự xưng là “đại diện Đảng Cộng sản” và tìm cách biến sự nghiệp chống Nhật thành một cuộc nội chiến, bằng cách đưa ra khẩu hiệu: “Đi với Nhật, chống lại Tưởng Giới Thạch”. Hắn bị tướng Cát lột mặt nạ và tống cổ đi. ít lâu sau đó, tướng Cát nhân có công việc phải đi đến Thiên Tân, Trương Mộ Đào liền cho người ám sát ông.

Trong thư sau, tôi sẽ kể để các bạn rõ về việc bọn tờrốtxkít Trung Quốc tiếp tục phản bội Tổ quốc của chúng như thế nào.

Chào thân ái
P.C.LIN

—————————

Báo Notre Voix, ngày 7-7-1939.
cpv.org.vn

Thư từ Trung Quốc – Tổng kết sau 2 nǎm đấu tranh

Trong dịp kỷ niệm lần thứ hai cuộc chiến tranh chống Nhật, cho phép tôi, qua báo Notre Voix, thành thực cảm ơn các bạn Đông Dương và Pháp đã từng trực tiếp hoặc gián tiếp giúp đỡ chúng tôi trong những lúc khó khǎn và lúc đấu tranh. Trong khi cảm ơn và mong rằng trong tương lai các bạn đó sẽ giúp đỡ chúng tôi một cách có hiệu quả và tích cực hơn, tôi tin chắc là đã nói lên được tình cảm sâu sắc của tất cả anh em Trung Quốc chúng tôi.

Nhân dịp kỷ niệm này mà điểm lại một cách nhanh chóng những thành tích của hai nǎm đấu tranh vừa qua có lẽ không phải là thừa.

Với cái giá phải trả là 10 tỷ yên và 700.000 người bị chết và bị thương, bọn phát xít Nhật đã xâm chiếm 12 tỉnh của chúng tôi (với số dân là 200 triệu người). Đó là một tổn thất nặng nề đối với chúng tôi. Còn đối với Nhật Bản, phải chǎng đó là một thắng lợi lớn? Không. Trong số 1.038 khu hay huyện trong vùng bị chiếm, chỉ có 65 khu hay huyện hoàn toàn bị đặt dưới sự kiểm soát của địch, tuy rằng 25 trong số 65 khu hay huyện đó đã bị chiếm từ trước chiến tranh; tên phản bội Âu Như Canh đã tổ chức tại đấy cái gọi là “Chính phủ tự trị Hà Bắc chống cộng”. Trên 900 khu hay huyện đang là cǎn cứ của du kích và hoàn toàn do chúng tôi kiểm soát. Những khu hay huyện khác chỉ bị địch kiểm soát từng phần, chúng chiếm đóng các tỉnh lỵ và những con đường lớn, chứ không dám mạo hiểm đi vào các làng mạc. Bởi vậy cho nên đó vừa làm một tổn thất đối với chúng tôi, nhưng về phía địch thì đó không phải là một thắng lợi.

Nếu chúng ta xét cuộc chiến tranh trong toàn cục của nó, chúng ta có thể nói rằng suốt trong hai nǎm nay, bọn đế quốc Nhật đã bị đánh bại trên tất cả các mặt trận.

Mặt trận chính trị: Sách lược “làm cho người Trung Quốc này đánh người Trung Quốc khác” của chúng đã bị bẻ gãy trước Mặt trận dân tộc chống Nhật của chúng tôi, bọn phát xít Nhật phải chuyển sang dùng một sách lược khác: “đánh mạnh, thắng nhanh”. Đến lượt nó, sách lược này cũng bị phá tan với chính sách của chúng tôi là “chiến tranh kéo dài”. Sách lược thứ ba của Nhật Bản là “ký nhanh hoà ước, kết thúc nhanh cuộc chiến tranh” đã bị thất bại thảm hại trước quyết tâm của chúng tôi là đánh đến cùng. Hiện nay, chúng đang thử “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, nghĩa là dùng tài nguyên trong những vùng bị chiếm để chống lại chúng tôi. Chính sách đó cũng không thực hiện được, giống như cái tham vọng muốn khai hoang một núi lửa! Làm sao chúng có thể khai thác được một nước mà ở hậu phương đang mọc lên tua tủa những giáo mác và súng trường của du kích, còn ở tiền phương thì bị súng trường và súng liên thanh của bộ đội chúng tôi chặn lại?

Mặt trận kinh tế: Cách đây hai nǎm, một tên bộ trưởng Nhật viết: “Nước Nhật sẽ bị phá sản nếu cứ để cho công trái vượt quá 10 tỷ”. Thế mà hiện nay, công trái của Nhật đã lên tới 24 tỷ, vượt xa tổng thu nhập của cả nước. Theo tờ Niên giám kinh tế Nhật Bản 1 , từ tháng 7 đến tháng 9-1938, chỉ tính trong huyện X… đã có 64 công xưởng bị đóng cửa. Trong công nghiệp nhẹ, trên 8.000 cơ sở chỉ hoạt động từng phần, 1,5 triệu công nhân không có việc làm. Mùa màng nǎm nay kém nǎm ngoái 4,7 triệu tạ. Số vụ bãi công và xung đột về ruộng đất ngày càng tǎng. Trong nửa đầu của nǎm 1938, đã xảy ra 593 vụ bãi công và 299 cuộc biểu tình của nông dân. Thương nghiệp cũng giảm sút một cách nguy kịch do việc tẩy chay được tổ chức tại các nước chống Nhật.

Mặt trận quân sự: Từ 8 tháng nay, quân Nhật không tiến được nữa. Nhiều lần chúng toan vượt qua sông Hoàng Hà, nhưng lần nào chúng cũng phải tháo lui sau khi bị tổn thất nặng nề. Điều đó chứng tỏ quân đội Nhật đã bị suy yếu. Trong thời kỳ thứ hai của cuộc chiến tranh, chúng định huy động tất cả là 46 sư đoàn, nhưng chỉ huy động được 33 sư đoàn. Chúng không đủ người để đối phó với một mặt trận quá dài – khoảng 3.000 kilômét! Tinh thần chống chiến tranh ngày càng lan nhanh trong quân đội và nhân dân. Những vụ tự tử, đào ngũ và binh biến xảy ra trong quân đội ngày càng nhiều. Tính đến tháng 12 nǎm vừa qua, trên 6.000 giáo viên và giáo sư đã bị bắt vì đã đấu tranh chống chiến tranh.

Nếu chúng ta nhìn về mặt quốc tế, chúng ta sẽ thấy rằng chủ nghĩa phát xít Nhật – uy hiếp mọi người và gây chiến với mọi người- đang lâm vào tình trạng ngày càng bị cô lập.

Chống một kẻ thù rất mạnh và rất nguy hiểm, nhưng đang suy yếu nhanh chóng, chúng tôi có tất cả những điều kiện thuận lợi. Thời gian đang làm chúng tôi mạnh lên, một đất nước bao la với những tài nguyên vô tận, một số dân đông đúc sẽ là một nguồn dự trữ cho quân đội chúng tôi; Pháp, Anh, Mỹ và nhân dân tất cả những nước dân chủ đều giúp đỡ chúng tôi; Liên Xô là một trong những người bạn chung thuỷ nhất và vô tư nhất đối với chúng tôi.

Chúng tôi có “thiên thời, địa lợi và nhân hoà” là ba yếu tố cần thiết cho chiến thắng. Nhưng để khỏi mang tiếng là khoác lác, tôi xin mượn lời một người nước ngoài, đã từng hiểu biết nhiều về Trung Quốc, – ông vốn là đại sứ Mỹ: “… Thái độ của nhân dân Trung Quốc rất bình tĩnh – ông đại sứ ấy nói như thế. – Tinh thần các chiến sĩ rất cao. Những người lãnh đạo đều tuyệt đối tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của mình. Chưa bao giờ quyết tâm đánh đến cùng lại mạnh đến thế…”.

Mặc dù lời dẫn chứng này hơi cũ – ông đại sứ phát biểu những lời này ngày 4-7 tại Niu Oóc -, nhưng nó vẫn có giá trị. Để kết thúc, cho phép tôi giới thiệu với các bạn đoạn cuối của một bài hát được soạn ra để chào mừng lễ kỷ niệm nǎm thứ hai cuộc chiến tranh của chúng tôi vì nền độc lập và tự do:

“Ai có tiền thì góp tiền.
Ai có sức thì góp sức.
Mỗi chúng ta là một chiến sĩ anh dũng.
Tiến lên! Quân thù sắp phải nhả ra thôi.
Hãy cống hiến tất cả! Hãy cống hiến tất cả!
Cho chiến thắng đang đến với chúng ta!”.

P.C.LIN

—————————-

Báo Notre Voix, ngày 14-7-1939.
cpv.org.vn

Thư từ Trung Quốc – Hoạt động của bọn tờrốtxkít ở Trung Quốc

Các bạn thân mến,

Trong những thư trước, tôi đã kể với các bạn về việc bọn tờrốtxkít ǎn lương của tụi Nhật, đã tìm cách phá hoại như thế nào cuộc đấu tranh anh hùng ở Thượng Hải và sự nghiệp yêu nước ở Kalgan. Hôm nay, tôi lại kể tiếp với các bạn câu chuyện về tội ác của chúng.

Rút lui về Phúc Kiến, Lộ quân thứ 19 lại tiếp tục chiến đấu. Nó tổ chức một chính phủ chống Nhật và bắt đầu cuộc vận động thành lập mặt trận duy nhất bằng cách ký kết một hiệp nghị với Hồng quân Trung Quốc. ít lâu trước đó, Lộ quân thứ 19 là một trong những lực lượng đã từng hǎng say chống cộng; nhưng trước tình hình Tổ quốc lâm nguy, nó đã quên hết hận thù để theo đuổi một mục đích duy nhất là chống quân xâm lược.

Theo lệnh của Nhật, bọn tờrốtxkít đi ngay vào hoạt động. Một mặt, chúng khêu gợi chủ nghĩa địa phương của dân chúng để chống lại chính phủ mới – Lộ quân thứ 19 từ Quảng Đông tới – và mặt khác, chúng tìm cách làm cho Hồng quân suy yếu. Cách chúng tiến hành để thực hiện nhiệm vụ thứ hai là như sau: chúng xin vào Hồng quân với tư cách là những phần tử cách mạng và để gây tín nhiệm, lúc đầu chúng làm việc rất tích cực. Một khi được đề bạt lên những cương vị ít nhiều có trọng trách, chúng bắt đầu làm công việc tội lỗi. Xin nêu vài ví dụ: Trong chiến đấu, khi cần phải rút lui thì chúng tiến và khi cần tiến thì chúng lùi. Chúng gửi quân nhu súng đạn đến những nơi không cần, nhưng những chỗ đang cần thì chúng lại không gửi tới.

Chúng bôi thuốc độc vào vết thương của các chiến sĩ – nhất là cán bộ quân đội – cốt làm cho tay chân họ bị cưa cụt đi, v.v.. Những hành động tội lỗi đó đã được phát hiện khá sớm, thật may cho những người cộng sản!

Từ nǎm 1935, những người cộng sản đã bắt đầu một chiến dịch tuyên truyền rộng lớn cho mặt trận dân tộc chống Nhật. Nhân dân, nhất là công nhân và sinh viên, đã tích cực ủng hộ cương lĩnh đó. Trong Quốc dân đảng, tư tưởng về mặt trận dân tộc đã có tiến bộ. Trong lúc đó, người ta thấy bọn tờrốtxkít vẫn đóng vai trò hai mặt. Vừa vu khống, vừa chia rẽ. Chúng nói với quần chúng: “Đấy! thế là bọn cộng sản đã tự bán mình cho giai cấp tư sản rồi. Quốc dân đảng sẽ không bao giờ chống Nhật đâu!” Còn với Quốc dân đảng, thì chúng nói: “Mặt trận dân tộc ư? Đó chẳng qua chỉ là một thủ đoạn của bọn cộng sản thôi. Nếu muốn đánh Nhật, trước hết phải diệt trừ bọn cộng sản!”.

Cuối nǎm 1936, trong sự biến Tây An, chính sách đoàn kết chống Nhật đã thắng. Khi thấy âm mưu gây nội chiến của chúng bị thất bại, bọn tờrốtxkít Trương Mộ Đào và Tạ Duy Liệt liền tổ chức vụ ám sát tướng Vương Di Triết, một trong số những người sốt sắng tán thành chủ trương về mặt trận dân tộc 1 .

Bây giờ nói về nǎm 1937, thời kỳ sắp xảy ra chiến tranh. Toàn dân đều đoàn kết chống xâm lược. Tất cả mọi người, trừ bọn tờrốtxkít. Những tên phản bội này, họp lén lút với nhau, đã thông qua những “nghị quyết” mà sau đây là một vài đoạn: “Trong cuộc chiến tranh chống Nhật này, thái độ của chúng tôi đã rõ ràng: những kẻ nào muốn chiến tranh xảy ra và có chút ít ảo tưởng về Chính phủ Quốc dân đảng; những kẻ đó đều là phản bội thật sự. Việc hợp tác giữa Đảng Cộng sản và Quốc dân đảng chẳng qua chỉ là một sự phản bội có ý thức mà thôi…”. Và những thứ tồi tệ khác cùng một loại như thế.

Chiến tranh đã đến gần. Những lời hứa hẹn của Sở mật thám Nhật được vật chất hoá. Bọn tờrốtxkít ở Thượng Hải được lĩnh một tháng 100.000 đôla để làm việc tại miền Trung và miền Nam đất nước. Bọn ở Thiên Tân và Bắc Kinh mỗi tháng lĩnh 50.000 đôla để làm việc tại Hoa Bắc, nhằm chống lại Bát lộ quân và những tổ chức yêu nước khác.

Đến giữa nǎm 1937, bọn tờrốtxkít đã bị khám phá và bị bắt trong Đặc khu. Theo lời Tôn Nghĩa Hải thú nhận, chúng có nhiệm vụ: 1) phá hoại Bát lộ quân, 2) gây cản trở cho sự phát triển của mặt trận dân tộc, 3) do thám, và 4) tổ chức mưu sát các nhà lãnh đạo.

Trước toà án nhân dân của Đặc khu, tên tờrốtxkít Hoàng Phật Hải, ngoài những điều khác ra, đã khai rằng, trong cuộc gặp gỡ lần thứ tư, Trương Mộ Đào có dặn hắn: “Anh hãy nghiên cứu kỹ phương pháp và hệ thống tổ chức của Hồng quân. Sau đó, anh thành lập những trung tâm thanh niên để dùng vào việc phá hoại…. Mục đích của chúng ta là gây rối loạn trong Hồng quân và trừ khử những tên chỉ huy của nó”. Trương Mộ Đào còn dặn hắn rằng: “Dụ dỗ một bộ phận cán bộ cơ sở theo chúng ta, khêu gợi lòng nhớ quê hương của họ, khuyến khích họ đào ngũ bằng cách cho họ một ít tiền đi đường. Đó là một trong những phương pháp để làm cho quân đội tan rã”.

Tên tờrốtxkít Quách Uẩn Kinh thú nhận là Tôn Nghĩa Hải đã giao cho hắn nhiệm vụ phải tuyên truyền chủ nghĩa thất bại trong đám chiến sĩ, bằng cách nói với họ rằng Trung Quốc không bao giờ thắng nổi vì “ngay dù chúng ta có đánh đuổi được người Nhật đi chǎng nữa, thì người Mỹ và người Anh cũng sẽ áp bức chúng ta”; rằng “không những chúng ta sẽ không thắng nổi mà sẽ còn bị tiêu diệt nếu chúng ta đấu tranh”; rằng “Trung Quốc quá yếu, không chống lại nổi Nhật Bản, Anh và Mỹ đâu!”. Và Trương Mộ Đào bổ sung những chỉ thị đó bằng cách nói thêm rằng: “Phải lợi dụng chính sách mặt trận dân tộc để vu cáo bọn cộng sản, và để nói rằng chúng đã bán rẻ giai cấp vô sản, cốt để gây bất bình trong đám chiến sĩ…”. Lấy cớ là để giáo dục, bọn tờrốtxkít tổ chức những phần tử chậm tiến trong quân đội thành những nhóm trung tâm nhỏ, rồi lợi dụng những điều kiện sống gian khổ trong quân đội để khuyến khích họ đào ngũ mang theo cả vũ khí và câu kết với bọn thổ phỉ, gây rối loạn ở hậu phương trong khi Bát lộ quân đang ở ngoài mặt trận….

Đó là những mưu mô của bọn tờrốtxkít chống lại Bát lộ quân dân tộc cách mạng. Trong thư sau, tôi sẽ nói các bạn rõ về việc bọn phản bội đó đã dùng phương pháp đáng ghê tởm như thế nào để mưu làm tan rã các lực lượng chống Nhật khác.

LIN

—————————–

Báo Notre Voix, ngày 28-7-1939 và ngày 11-8-1939
cpv.org.vn

Những chỉ thị mà tôi nhớ và truyền đạt

1. Lúc này, Đảng không nên đưa ra những đòi hỏi quá cao (độc lập dân tộc, nghị viện, v.v.). Như thế sẽ rơi vào cạm bẫy của phát xít Nhật.

Chỉ nên đòi các quyền dân chủ, tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do báo chí và tự do ngôn luận, đòi ân xá toàn thể chính trị phạm, đấu tranh để Đảng được hoạt động hợp pháp.

2. Muốn đạt được mục đích trên phải ra sức tổ chức Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi.

Mặt trận ấy không những chỉ có người Đông Dương mà bao gồm cả những người Pháp tiến bộ ở Đông Dương, không những chỉ có nhân dân lao động mà gồm cả giai cấp tư sản dân tộc.

3. Đối với tư sản dân tộc, Đảng phải có thái độ khéo léo, mềm dẻo. Phải hết sức lôi kéo họ và giữ họ ở trong Mặt trận, thúc đẩy họ hành động nếu có thể, cô lập họ về chính trị nếu cần. Tránh hết sức để họ ở ngoài Mặt trận, vì như thế là đẩy họ rơi vào tay bọn phản động, là tǎng thêm lực lượng cho chúng.

4. Đối với bọn tờrốtxkít, không thể có thoả hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị.

5. Để phát triển và củng cố lực lượng, mở rộng ảnh hưởng và hành động có hiệu quả. Mặt trận dân chủ Đông Dương 17 phải có liên hệ chặt chẽ với Mặt trận nhân dân Pháp 18 , vì Mặt trận này cũng đấu tranh cho các quyền tự do dân chủ và có thể giúp rất nhiều cho ta.

6. Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và nǎng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo.

7. Muốn làm được nhiệm vụ trên, Đảng phải đấu tranh không nhân nhượng chống tư tưởng bè phái, và phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác – Lênin để nâng cao trình độ vǎn hoá và chính trị cho các đảng viên. Phải giúp đỡ cán bộ không đảng phái nâng cao trình độ. Phải duy trì quan hệ chặt chẽ với Đảng Cộng sản Pháp.

8. Ban Chấp hành Trung ương phải kiểm soát các báo chí của Đảng để tránh những khuyết điểm về kỹ thuật và chính trị (ví dụ: đǎng tiểu sử đồng chí R., báo “Lao động” viết đồng chí đó ở đâu, đồng chí đó trở về như thế nào, v.v.. Báo đó lại đǎng và không bình luận gì về bức thư của đồng chí này cho rằng chủ nghĩa Tờrốtxki là sản phẩm của tính khoe khoang cá nhân, v.v.).

Viết nǎm 1939

—————————–

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức, lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thắng lợi và sáng lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (1930-1945)

Sau cao trào 1930-1931, sự khủng bố của thực dân Pháp càng gắt gao hơn, nhiều chiến sĩ cách mạng bị bắt bớ, tù đày, giết hại. Ngày 6 tháng 6 nǎm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam trái phép tại Hồng Kông (Trung Quốc).

bh - cmt8Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945

Cuối nǎm 1933, Nguyễn Ái Quốc rời Hồng Kông. Đầu nǎm 1934, Người trở lại Liên Xô. Tại đây Người vào học Trường Quốc tế Lênin, nghiên cứu ở Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, đồng thời tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước trong tình hình chủ nghĩa phát xít đã công khai đàn áp mọi phong trào dân chủ và hoà bình. Trong nhiều tài liệu Nguyễn Ái Quốc nêu lên sách lược của Đảng Cộng sản Đông Dương trong thời kỳ 1936-1939, nhấn mạnh vấn đề tập hợp mọi tầng lớp nhân dân và thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi đấu tranh đòi tự do, dân chủ và hoà bình.

Trước những chuyển biến của tình hình thế giới, tháng 10 nǎm 1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô về Trung Quốc. Tháng 9 nǎm 1940, phát xít Nhật chiếm đóng Đông Dương. Cuối nǎm 1940, Người về sát biên giới Việt – Trung, bắt liên lạc với tổ chức Đảng, chuẩn bị về nước. Người đã mở lớp huấn luyện chính trị để chuẩn bị cán bộ đáp ứng yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới. Người nêu rõ trong tài liệu huấn luyện: “Sự nghiệp giải phóng dân tộc là sự nghiệp chung của các dân tộc, các giai cấp bị bóc lột ở Đông Dương. Toàn thể nhân dân Đông Dương không phân biệt dân tộc nào, giai cấp nào đều phải đồng tâm hiệp hội đoàn kết cùng nhau mới làm nổi”.

Ngày 28 tháng 1 nǎm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, Người chọn Cao Bằng làm cǎn cứ địa xây dựng tổ chức, phát động phong trào cách mạng. Vùng Khuổi Nậm Pác Bó là nơi họp Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương (tháng 5 nǎm 1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, nơi ra Báo Việt Nam Độc Lập, mở các lớp huấn luyện xây dựng lực lượng cách mạng. Pác Bó có hang Cốc Bó, nơi Nguyễn Ái Quốc chọn làm chỗ ở và làm việc của mình.

Ngày 6 tháng 6 nǎm 1941, Nguyễn Ái Quốc gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng… Việc cứu quốc là việc chung, ai là ngườiViệt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài nǎng góp tài nǎng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dẫu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”.

Tháng 8 nǎm 1942, lấy tên là Hồ Chí Minh và với tư cách là đại diện Mặt trậnViệt Minh và phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội quốc tế chống xâm lược, Người sang Trung Quốc. Ngày 29/8/1942 Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam, sau đó bị giải qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian ở tù, Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm thơ nổi tiếng “Nhật ký trong tù“. Đến nay “Nhật ký trong tù” đã được dịch ra hơn 10 thứ tiếng.

Tháng 9 nǎm 1943, Hồ Chí Minh được trả lại tự do. Tháng 3 nǎm 1944, Người tham dự Hội nghị Các lực lượng cách mạng Việt Nam ở Liễu Châu (Trung Quốc). Tại Hội nghị này Người đã đọc báo cáo về hoạt động của Mặt trận Việt Minh và Đảng Cộng sản, nêu rõ tiền đồ của sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam, mối quan hệ mật thiết và lâu đời giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Tháng 9 nǎm 1944, Hồ Chí Minh trở lại Cao Bằng. Người gửi thư cho đồng bào toàn quốc kêu gọi chuẩn bị triệu tập Quốc dân Đại hội. Tháng 12 nǎm 1944, Người quyết định thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dânViệt Nam.

Ngày 9 tháng 3 nǎm 1945, phát xít Nhật đảo chính hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương. Cuộc chiến tranh thế giới thứ I cũng bước vào giai đoạn cuối với những thắng lợi của Liên Xô và các nước Đồng minh. Ngày 4 tháng 5 nǎm 1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang) sau sự kiện Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản (ngày 9 tháng 8 nǎm 1945) và ồ ạt tiến công đạo quân Quan Đông của chúng, Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hirôsima (6/8/1945), và Nagadaki (9/8/1945), ngày 10 tháng 8 phe Đồng minh đã gửi công hàm yêu cầu Nhật Bản đầu hàng không điều kiện. Chớp thời cơ ấy, ngày 12 tháng 8 nǎm 1945, Hồ Chí Minh cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Theo đề nghị của Người, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã họp tại Tân Trào ngày 13 tháng 8 nǎm 1945. Hội nghị thông qua quyết định Tổng khởi nghĩa, thành lập ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ngày 16 tháng 8 nǎm 1945, Quốc dân Đại hội Tân Trào đã hoàn toàn nhất trí với chủ trương phát động khởi nghĩa của Đảng. Đại hội đã bầu ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Trong bức thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến; toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên”. Ngày 19 tháng 8, khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội, ngày 23 tháng 8 thắng lợi ở Huế, ngày 25 tháng 8 thắng lợi ở Sài Gòn.

Ngày 2 tháng 9 nǎm 1945, tại Quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Theo Camau.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Báo cáo gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản

Các bạn thân mến,

Tôi ra đi đã 9 tháng nay và đã tới nơi được 7 tháng. Nhưng tôi lấy làm khổ tâm mà báo cáo rằng tôi chưa hoàn thành nhiệm vụ. Đúng là tôi đã rơi vào cơn lốc lớn đang làm biến đổi số mệnh của hàng trǎm triệu con người và trên con đường di chuyển của nó, nó đã ngẫu nhiên làm đảo lộn tất cả kế hoạch của tôi. Tuy nhiên điều đó cũng không thể bào chữa cho sự bất lực của tôi.

Trong bảy tháng qua, tôi đã làm gì ? Được sự giúp đỡ của một số bạn, tôi bắt tay tiến hành nghiên cứu, nhưng chẳng thu được kết quả nào. Sau đó, tôi tìm cách bắt các mối liên lạc, và việc này đã đưa lại ít nhiều kết quả như sau đây chúng ta sẽ rõ. Trong khi chờ đợi, để khỏi phí thời gian, tôi đến làm việc phiên dịch các tin tức thế giới (nghe đài thu thanh) ở Bát lộ quân, làm bí thư chi bộ, chủ nhiệm câu lạc bộ và hiện nay, uỷ viên uỷ ban câu lạc bộ. Đồng thời tôi đã viết một cuốn sách nói về Khu vực đặc biệt và một số bài báo phản ánh những biến cố chính trị và quân sự, sự tàn ác của bọn Nhật Bản, tinh thần anh dũng của các chiến sĩ Trung Quốc, cuộc đấu tranh chống bọn tờrốtxkít… để tuyên truyền quốc tế.

Từ ngày 12-2-1939, số lớn những bài đó đã được đǎng trên tờ Notre Voix, tuần báo công khai của Đảng Cộng sản Đông Dương, xuất bản tại Hà Nội. Trên các bài đó tôi đều ghi Quế Lâm và ký tên Lin, hy vọng rằng các đồng chí có trách nhiệm có thể đoán được ai là tác giả và hiện người đó ở đâu. Nhưng hy vọng này không đạt được. Tuy nhiên, giữa tôi và đồng chí chủ nhiệm tờ báo đã hình thành một mối liên hệ chặt chẽ, và đồng chí ấy vẫn tin chắc tôi là một nhà báo Trung Quốc.

Chỉ đến cuối tháng này (tháng 7), thông qua một người bạn, rồi thông qua đồng chí chủ nhiệm tờ báo nói trên, tôi mới gửi được cho Ban Chấp hành Trung ương địa chỉ của tôi và các đường lối, chủ trương. Nên chú ý là từ lúc ra đi, để cho dễ nhớ, tôi đã ghi lại những điểm chính của đường lối, chủ trương. Nhưng bản ghi đó, cùng với tất cả đồ đạc còn lại của tôi, đã bị thất lạc ở Diên An và đến lúc tôi về tới nơi thì chỉ còn lại vẻn vẹn một quyển từ điển. Vì vậy, tôi chỉ có thể truyền đạt cho Ban Chấp hành Trung ương những điều tôi còn nhớ. Đề nghị các đồng chí xem có những gì sai lầm và thiếu sót lớn không (bản sao kèm theo) 1 .

*

*      *

Qua tờ Notre Voix và tờ Đời nay – một tờ tuần báo công khai khác của Đảng xuất bản bằng tiếng Việt ở Hà Nội – tôi có thể tóm tắt tình hình trong nước như sau:

Nhìn chung, từ nǎm 1936 đến nǎm 1938, tình hình đã được cải thiện khá nhiều, chế độ ngày làm 8 giờ, hằng tuần có ngày nghỉ, chế độ nghỉ hằng nǎm là 10 ngày có lương, tự do tổ chức đã bắt đầu được thực hiện. Nhiều tù chính trị đã được ân xá. Nhưng tất cả những điều đó đã xấu đi từ khi Chính phủ Đalađiê ngả về hữu, nhất là từ nǎm 1939. Tình hình nghiêm trọng này đã gây nên phong trào đấu tranh trong quần chúng.

TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ TRONG NGƯỜI BẢN XỨ

Trung Kỳ: 2 đảng viên xã hội người bản xứ, nghị viên dân biểu và biên tập viên báo “Dân” đã bị tước quyền đại biểu, quyền công dân và bị tống giam. Tờ báo “Dân” bị đóng cửa.

Trong cuộc bầu cử bổ sung, 2 đảng viên xã hội khác đã trúng cử với đa số phiếu: 669 và 878 phiếu, so với 292 và 500 phiếu bỏ cho các ứng cử viên do chính quyền đưa ra. (Hình như nhiều người cộng sản đã lấy danh nghĩa Đảng Xã hội để dễ hoạt động hợp pháp).

Nam Kỳ: Trong dịp bầu cử Hội đồng quản hạt, Mặt trận dân chủ đã đưa ra danh sách Ninh, Tạo, Mai. Chính quyền đã gây mọi khó khǎn đối với các ứng cử viên này: từ chối không nhận danh sách ứng cử, đe doạ các chủ muốn cho họ thuê phòng làm nơi hội họp, xé áp phích của họ, bắt các biên tập viên báo Dân chúng (tờ báo công khai của Đảng ở Sài Gòn), tịch biên toà báo và tài chính của nó… Sau hàng trǎm cuộc mít tinh phản đối, có hơn 2 vạn người tham gia, chính quyền mới buộc phải thừa nhận danh sách ứng cử đó. Và chỉ đến vòng bầu cử thứ hai, 3 tên tờrốtxkít và 3 tên lập hiến mới trúng cử.

Bắc Kỳ: Do các đại biểu người Pháp từ chối không chịu thảo luận đề nghị nâng số đại biểu người bản xứ lên bằng số đại biểu người Pháp (hiện nay có 12 Pháp và 6 bản xứ), 3 đại biểu đảng viên xã hội người bản xứ đã từ chức. Trong khi bầu lại, những người từ chức đó đã thắng lợi rất oanh liệt và trúng cử với con số từ 750 đến 772 phiếu so với con số từ 11 đến 370 phiếu bỏ cho các ứng cử viên do chính quyền đưa ra.

ít lâu sau, anh Phan Thanh, một trong số đại biểu đảng viên xã hội đó, chết. Dân chúng đã tổ chức tang lễ rất trọng thể. Đám tang có 153 vòng hoa, có đại biểu 14 tỉnh về dự và dài 2 kilômét. Gia đình anh nhận được 110 điện viếng. Chưa bao giờ có một đám tang lớn như thế ở Hà Nội.

TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ CỦA PHÁP Ở BẮC KỲ

Tháng 1, Đại hội Chi nhánh Đảng Xã hội Bắc Đông Dương họp tại Hà Nội. Nhiều quyết nghị đã được thông qua:

Kết nạp đảng viên: – “…tới tận các thợ thủ công mù chữ…”.

Thống nhất hành động: – “… Đại hội thông qua đường lối thống nhất hành động của Ban Thường vụ và giao cho Ban Thường vụ thực hiện sách lược này…”.

Giúp đỡ Trung Quốc: – “Một uỷ ban thường trực sẽ được thành lập để đảm nhiệm việc giúp đỡ Trung Quốc, đồng thời giúp đỡ cả những người cộng hoà Tây Ban Nha, những người lưu vong Tiệp Khắc, những người Do Thái và các nạn nhân Đông Dương”.

Chống đàn áp – “… cực lực phản đối những hành động phá hoại lòng tin cậy và mối hy vọng của nhân dân bản xứ đối với nước Pháp dân chủ…. Báo động cho tất cả các tổ chức tiến bộ đang hoạt động ở miền Bắc Đông Dương và đề nghị các tổ chức ấy cùng phối hợp hoạt động để ngǎn chặn những hành động vô chính trị và độc đoán đó”.

Một đại biểu thanh niên dân chủ (không phải là một tổ chức) đã đọc trước Đại hội một bản kiến nghị yêu cầu cho thành lập một chi hội Thanh niên xã hội (vào tháng 4, một chi hội như thế đã được thành lập ở Hà Nội).

Tờ Notre Voix đã đǎng một lời chào mừng anh em gửi cho Đại hội.

Hội nhân quyền 19 đã đòi tự do lập nghiệp đoàn cho công nhân bản xứ. (Về sau tôi sẽ trình bày chính sách của bọn tờrốtxkít Đông Dương).

CÔNG NHÂN

Tuỳ từng vùng, tiền lương có khác nhau. Nhưng nét chung đối với tất cả các nơi là tiền lương rất thấp.

Lương công nhật tối thiểu là:

Đàn ông – Trung Kỳ: từ 0đ20 đến 0đ33

Bắc Kỳ: – 0đ22 – 0đ33

Đàn bà – Trung Kỳ: – 0,15 – 0,25

Bắc Kỳ: – 0,17 – 0,25

Trẻ em – Trung Kỳ: – 0,11 – 0,19

Bắc Kỳ: – 0,12 – 0,17

Theo số liệu chính thức ở Bắc Kỳ thì giá sinh hoạt tháng 6-1939 tǎng 40% so với tháng 9-1938 và so với nǎm 1914 thì tǎng 177%; trong khi đó, tiền lương chỉ tǎng từ 10 đến 12%, vì vậy một làn sóng bãi công đã nổ ra.

Địa phương

Ngành nghề

Yêu sách

Người tham gia bãi công

Tháng

Kết quả

– Turan

công nhân Riksha phản đối tǎng tiền thuê nhà

1

– Vĩnh Long

thợ làm gạch tǎng lương

500

nt

thắng lợi

– Chợ Lớn

đồn điền tǎng lương

nt

– Thủ Dầu Một đồn điền giảm giờ làm từ 11 giờ xuống 9 giờ

300

nt

thắng lợi

– Hải Phòng

thợ may tǎng lương (không nổ ra bãi công)

3

thắng lợi

– Hải Phòng

thợ cưa

tǎng lương

1.000

4

– Cần Thơ

thợ cưa

tǎng lương

100

4

– Hà Nội

thợ cưa

tǎng lương

400

4

– Uông Bí

công nhân mỏ than

tǎng lương

300

4

thắng lợi

– Mỹ Tho

công nhân Riksha

phản đối phạt vạ

200

4

– Chợ Lớn

thợ cưa

tǎng lương

100

4

– Hải Phòng

công nhân sợi

tǎng lương

3.000

nt

thắng lợi

– Hà Nội

thợ may

tǎng lương

nt

– Hà Nội

thợ in

tǎng lương

70

4

thắng lợi

– Nam Định

trẻ em bán
kem

phản đối tǎng giá

60

5

– Hà Nội

trẻ em bán kem

tǎng giá

100

5

thắng lợi

– Hà Nội

đô tuỳ

tǎng lương

500

nt

– Hà Nội

thợ dệt

tǎng lương

14

nt

thắng lợi

– Hà Nội

học nghề

cải thiện sinh hoạt

30

nt

– Hà Nội

nhạc sĩ

tǎng lương

40

nt

– Hà Nội

thợ dệt

tǎng lương

nt

thắng lợi

– Hà Nội

thợ mộc

nt

700

nt

thắng lợi

– Hải Phòng

công nhân
bốc vác

nt

1.500

nt

thắng lợi

– Sài Gòn

công nhân
vệ sinh

nt

300

nt

thắng lợi một phần

– Hải Phòng

công nhân
xi mǎng
tǎng lương (bãi công 1 giờ)

60

6

thắng lợi

– Hải Phòng

công nhân
bốc vác

nt

100

nt

– Hải Phòng

công nhân
xe chỉ

nt

800

nt

thắng lợi

– Hải Phòng

dệt thảm

nt

700

nt

– Hải Phòng

làm ô yêu sách, (không bãi công)

nt

– Hải Phòng

chè tǎng lương

200

nt

thắng lợi

– Hải Phòng

thợ máy tǎng lương

300

5

thắng lợi

– Hải Phòng

hãng buôn

nt

300

6

nt

– Hải Phòng

chè

nt

300

nt

thất bại

– Hải Phòng

thuỷ tinh

nt

700
phụ nữ

nt

– Hà Nội

công nhân
hoả xa

nt

800

nt

thắng lợi một phần

– Hà Nội

thêu tǎng lương

nt

thắng lợi một phần

– Hà Nội

làm mũ tǎng lương

100

nt

thắng lợi một phần

– Hà Nội

hãng ô tô Pho

nt

300

6

– Dĩ An

xe lửa

nt

700

nt

– Sài Gòn

bến tàu

nt

4.000

6

thắng lợi

– Sài Gòn

nhà in

nt

300

6

thắng lợi một phần

– Sài Gòn

thợ giày

nt

nt

– Hà Nội

máy diêm

tǎng lương

240 phụ nữ

6

thắng lợi

– Hà Nội

nhà in

nt

60

6

thắng lợi

– Hà Nội

thợ mộc ngày hợp pháp

6

thắng lợi

– Hà Nội

nhà in khác tǎng lương

6

thắng lợi

– Hà Nội

xe lửa

nt

6

– Hà Nội

thợ máy

nt

600

6

thắng lợi

– Hải Phòng

lái tàu sông

nt

6

thắng lợi

– Uông Bí

công nhân
mỏ than

nt

2.000

6

thắng lợi

(Bảng này thống kê từ tháng 1 đến tháng 6, nhưng chưa đầy đủ. Dấu (-) tức là chưa biết).

Một vài đặc điểm của các cuộc bãi công nói trên:

So với trước thì các cuộc bãi công nǎm 1939 có tổ chức và có kỷ luật hơn. Các cuộc bãi công ấy đều đưa ra những yêu sách cụ thể hơn: đòi tǎng lương, ngày làm 8 giờ, bảo hiểm xã hội, công nhận các đại biểu, tự do nghiệp đoàn. Đó là những yêu sách cơ bản.

Hầu hết các cuộc bãi công đều được sự ủng hộ tinh thần và vật chất của công nhân các ngành khác, của nông dân và tiểu thương; đôi khi ngay cả tù chính trị cũng đóng góp vào các cuộc lạc quyên ủng hộ. Những người bãi công đã ra lời kêu gọi lao động trong cả nước và đã nhận được thư tỏ tình đoàn kết. Mỗi lần thắng lợi, họ lại ra những bản tuyên bố động viên toàn thể công nhân đoàn kết lại, đồng thời cũng nhận được nhiều điện mừng gửi tới.

Trong khi cuộc bãi công của công nhân Nhà máy sợi Hải Phòng đang nổ ra, bọn mộ công nhân đã tìm cách quyến rũ công nhân thất nghiệp Nam Định; nhưng những người này không muốn trở thành những kẻ phá hoại bãi công và đã gửi thư khuyến khích bạn đồng nghiệp của họ ở Hải Phòng tiếp tục đấu tranh cho đến thắng lợi.

Sau cuộc bãi công, bọn chủ và bọn thanh tra lao động buộc phải ký giao kèo với đại biểu công nhân. Như vậy là đoàn đại biểu công nhân được coi như hợp pháp.

Những người bãi công đã thực hiện kỷ luật dân chủ. Ví dụ: sau cuộc bãi công của công nhân Nhà máy sợi Hải Phòng, đến trưa thì ban giám đốc và bọn thanh tra lao động của nhà máy ký giao kèo, nhưng đại biểu của những người bãi công từ chối không chịu ký khi họ chưa có ý kiến đồng ý của toàn thể công nhân. Đến 2 giờ chiều, trước 2.000 công nhân tập hợp rất trật tự trước nhà máy, bản giao kèo được đem ra đọc. Chỉ sau khi toàn thể những người tham gia bãi công nhất trí tán thành, các đại biểu mới ký tên vào bản giao kèo. Lúc bấy giờ, công nhân đã giơ nắm tay “mặt trận đỏ” lên cám ơn viên tổng thanh tra lao động. Bức thư của họ được đǎng trên các báo và kết thúc bằng những khẩu hiệu: “Vô sản thế giới muôn nǎm! Mặt trận dân chủ muôn nǎm! Tự do nghiệp đoàn, dân chủ và tinh thần đoàn kết muôn nǎm!”.

Làn sóng bãi công làm cho bọn chủ lo lắng. Một số trong bọn chúng (Nhà máy sợi, Nhà máy rượu Nam Định và một số khác) không đợi công nhân yêu sách, đã thực hiện tǎng lương.

Tổ chức công nhân

Từ nǎm 1936, sau khi Mặt trận nhân dân ở Pháp thắng lợi, phong trào đòi tự do nghiệp đoàn ở Đông Dương bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Để ngǎn chặn hoặc làm trì trệ phong trào, chính phủ thuộc địa đã “khuyên công nhân trước hết hãy tổ chức những hội ái hữu” với một điều lệ hạn chế do tự chúng thảo ra. Nhưng ngay sau khi chính phủ Pháp ngả về hữu thì các tổ chức ái hữu ở Đông Dương bắt đầu bị khủng bố. ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ, người ta đóng cửa một vài tổ chức cũ, gây khó khǎn đối với những tổ chức mới và cấm không cho lập thêm các tổ chức khác. ở Trung Kỳ thì lại quá tay! Người ta bỏ tù 4 nǎm những nông dân tổ chức hợp tác! Vì vậy cho nên “đòi hỏi tự do tổ chức” trở thành một trong những khẩu hiệu chính của tất cả các cuộc bãi công và biểu tình. Cần nhắc lại rằng, ngày 6-3-1939, công nhân dệt ở Hà Nội đã gửi thư cho Thống sứ Bắc Kỳ đòi tự do nghiệp đoàn. Ngày 14-4, cũng ở thành phố này, những người lao động đã gửi thư cho Bộ trưởng thuộc địa tố cáo những hành động đàn áp công nhân và đòi tự do dân chủ. Ngày 6-6, đại biểu các hội ái hữu của 4 thành phố (Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng và Hà Đông) đã gửi cho Thống sứ Bắc Kỳ và cho Tổng thanh tra lao động một lá thư, trong đó, đoạn cuối như sau:

“Nǎm 1936, khi phong trào đòi tự do nghiệp đoàn lên cao, chính phủ bảo những người lao động hãy tổ chức những hội ái hữu đã, trong khi chờ đợi thành lập nghiệp đoàn. Chúng tôi không phải là những người bảo thủ để tin rằng hội ái hữu là một bước cần thiết để tiến tới nghiệp đoàn, nhưng vì không muốn bỏ lỡ một cơ hội nhỏ nào, nhằm tổ chức quần chúng lao động lại, nên chúng tôi đã bắt đầu tiến hành thành lập hội ái hữu ở khắp nơi, mỗi nơi một ít, đồng thời không ngừng đòi nhà chức trách phải thực hiện tự do nghiệp đoàn.

“Khắp nơi, mỗi nơi một ít, các hội ái hữu được thành lập, làm việc trong không khí mới mẻ và với một phương pháp mới. Thấy vậy, nhà chức trách tìm hết cách ngǎn chặn, khủng bố các hội ấy, đuổi những công nhân là hội viên hoặc công nhân có trách nhiệm trong các tổ chức này, giải tán một cách độc đoán những hội ái hữu cũ và ngǎn cấm không cho thành lập những hội mới.

“Chúng tôi kịch liệt phản đối việc giải tán các hội ái hữu hoạt động trong vòng trật tự, hợp pháp và không bao giờ vượt quá phạm vi nghề nghiệp của mình. Chúng tôi kiên quyết đòi cho những người lao động được tự do lập hội ái hữu. Thay mặt các hội ái hữu của những người lao động Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và Hà Đông, đại biểu cho niềm hy vọng của các tầng lớp lao động Bắc Kỳ, với thiện cảm và sự ủng hộ của lao động toàn Đông Dương, chúng tôi lớn tiếng đòi: Tự do nghiệp đoàn! Tự do tổ chức hội ái hữu!”.

Ngày 1-5-1939

Nǎm 1938, lần đầu tiên Hà Nội được tổ chức ngày 1-5 hợp pháp. Ngày đó thật là lớn và đối với Đông Dương, có thể nói là vĩ đại: 2 vạn người biểu tình. Nǎm nay, Đảng Cộng sản tán thành, nhưng Đảng Xã hội lại phản đối biểu tình công khai. Cuối cùng, một cuộc họp đã được tổ chức tại trụ sở Đảng Xã hội, có 100 đại biểu các tổ chức tham dự. ở các thành phố khác lại có nhiều cuộc biểu tình lớn hơn.

Hải Phòng 700 người biểu tình,

Thái Bình 500 –

Thanh Hoá 2.000 – trong 23 cuộc míttinh,

Nghệ An 500 nông dân,

Sài Gòn 11 cuộc biểu tình, 5 cuộc bãi công,

Mỹ Tho 250 công nhân biểu tình,

Long Xuyên 300 –

Thà khẹt (Lào) 40 –

Sau ngày lễ đó, nhiều vụ bắt bớ và tù tội đã diễn ra.

Những cuộc biểu tình khác

Lấy cớ để phòng thủ Đông Dương, ngày 15-5 Chính phủ quyết định thu 10 triệu bạc “đảm phụ quốc phòng”. Tất cả gánh nặng đó đè lên lưng người bản xứ. Một công chức người bản xứ phải đóng góp 8 lần so với đồng sự của họ người Pháp. Một người Âu chỉ phải đóng một đồng thuế thân, trong khi đó một người bản xứ phải đóng từ 1đ50 đến 20đ00, cộng thêm 4đ20 tiền miễn trừ tạp dịch nữa. Thuế môn bài tǎng gấp đôi, gấp bốn. Ví dụ: một ông già bán thuốc chữa bệnh vốn chỉ 15đ00 mà phải đóng đến 6đ00 thuế thân và 9đ80 thuế môn bài! Nông dân phải đóng nhiều hơn nǎm 1938 là 38%. Tình hình đó đã gây ra những cuộc biểu tình và phản đối trong nhân dân. Dưới đây là bản thống kê không đầy đủ về những cuộc biểu tình đó.

Ngày tháng

Địa phương

Người tham gia

Yêu sách

Tháng 3

Hà Nội

200

– Người buôn bán gửi đơn cho chính phủ phản đối tǎng thuế.

Tháng 4

Hà Nội

Tiểu thương

– Gửi đơn cho chính phủ phản đối tǎng thuế.

Tháng 4

Vĩnh Long

Nông dân

– Đòi chia đất công.

Tháng 5

Hải Phòng

1.500

– Phản đối tǎng thuế, đòi giảm thuế cho người nghèo, đòi tự do tổ chức, đoàn kết với công nhân bãi công, chống khủng bố.

Tháng 5

Hà Nội

722

– Tiểu thương đòi phủ toàn quyền giảm thuế cho người nghèo và người thất nghiệp. Đánh thuế nặng hơn đối với các công ty lớn.

Tháng 5

Hải Phòng

438

– Tiểu thương phản đối tǎng thuế.

Tháng 5

Hải Phòng

1000

– Công nhân và tiểu thương phản đối tǎng thuế và đòi tự do tổ chức.

Tháng 5

Sơn Tây

– Nông dân làng Dụ Phước đòi chia ruộng công.

Tháng 5

Thái Bình

500

– Biểu tình chống thuế, đòi tự do dân chủ, đòi ân xá chính trị phạm.

Tháng 5

Thanh Hoá

– Đòi lại phiếu quốc trái mà bọn trung gian đã chiếm mất.

Tháng 6

Hà Đông

100

– Nông dân Hạ Trì chống thuế.

Tháng 6

Cao Bằng

300

– Nông dân chống thuế.

Tháng 6

Hải Phòng

1.500

– Công nhân và tiểu thương chống tǎng thuế, chống khủng bố và chủ nghĩa phát xít, đòi tự do tổ chức.

Tháng 6

Hà Nội

650

Biểu tình phản đối tǎng thuế, tỏ tình đoàn kết với những người bãi công và nông dân bị tước đoạt ở Thái Ninh.

Tháng 6

Hà Đông

3.000

– Nông dân làng Vǎn Phước chống bán ruộng công.

Tháng 6

Thái Bình

500

– Nông dân Đặng Phổ chống tǎng thuế, tỏ tình đoàn kết với nông dân Thái Ninh.

Tháng 6

Thái Bình

– Nông dân An Thái đòi chia ruộng công.

Tháng 6

Hải Phòng

– Hàng trǎm người biểu tình ở công viên phản đối tǎng thuế, chống khủng bố công nhân, và tỏ tình đoàn kết với những người bãi công.

Tháng 6

Thanh Hoá

1.739

– Nhân dân gửi 47 đơn cho phủ toàn quyền đòi giảm thuế và thực hiện tự do dân chủ.

Tháng 7

Thái Bình

– Hàng ngàn nông dân biểu tình phản đối tước đoạt ruộng đất của họ (1.500 mẫu) để cấp cho bọn chủ báo Hà Nội buổi chiều và Đông Pháp. Số ruộng đất này thuộc làng Thái Ninh. Nhiều cuộc bãi thị đã nổ ra.

Báo Chí

Theo tôi biết, ở Bắc Kỳ cánh tả có những tờ tuần báo như sau:

Demain – Đảng Xã hội,

Tribune républicaine – (Pháp),

Effort – Tiến bộ – tự trị – (bản xứ),

Notre Voix – Cộng sản,

Đời nay – Cộng sản,

Người mới – Khuynh hướng xã hội,

Ngày mới – Khuynh hướng xã hội,

Thế giới – Thanh niên tiến bộ.

Trung Kỳ:

Tiếng dân – Quốc gia.

Nam Kỳ:

Dân chúng – Cộng sản,

Lao động – Khuynh hướng cộng sản (tôi cho như vậy),

Tiến tới – Tiến bộ,

Đông phương – Tiến bộ,

Mới – Thanh niên dân chủ.

Các báo này tán thành đòi tự do, dân chủ và ân xá chính trị phạm.

Tờ Dân chúng xuất bản ở Sài Gòn từ tháng 7-1938 là tờ báo đầu tiên đã bất chấp đạo luật cấm phát hành nếu không được phép trước. Sau khi nó ra đời được một tháng, quyền tự do báo chí được ban hành, nhưng hàng ngày, người ta cứ tìm cách cắt xén và thủ tiêu đi, như về sau, chúng ta sẽ thấy. Tôi nghĩ rằng Dân chúng cũng là tờ báo được nhiều người đọc nhất ở Đông Dương, vì số lượng phát hành của nó lớn hơn tất cả – mỗi số 1 vạn bản. Ngày 7-3, tờ báo bị tịch thu, các biên tập viên của nó bị bắt. Trong suốt tháng sau, 28 cuộc mít tinh phản đối đã nổ ra, một vài cuộc có tới 1.000 người tham gia; và để giúp đỡ tờ báo, một cuộc lạc quyên đã được tổ chức và thu được hơn 400đ trong một tuần lễ. Phản đối chính phủ tìm cách ngǎn cản các ứng cử viên của Mặt trận dân chủ trong cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt, trong vòng đầu, báo Dân chúng đã đưa ra khẩu hiệu bỏ phiếu trắng và 2.585 cử tri đã làm theo.

Báo Đời nay ở Bắc Kỳ cũng rất được nhiều người đọc. Trong danh sách “ủng hộ báo Đời nay” người ta đọc thấy tên phụ nữ, thanh niên, học sinh, công nhân, nông dân, tiểu thương ủng hộ từng xu nhỏ một. Người ta còn thấy tên một thiếu nữ ủng hộ tới 20 đồng bạc; có lẽ đó là một người cảm tình trẻ tuổi thuộc tầng lớp tư sản. Công nhân ở Boócđô, Havơrơ, Xiêm, Lào và Vân Nam cũng đều gửi tiền ủng hộ. Khi công nhân, nông dân, tiểu thương và hương sư có kêu ca điều gì thì họ cũng nhờ tới báo “Đời nay”.

Người đọc tờ Notre Voix thì ít hơn nhiều, và chỉ gồm những người Đông Dương biết tiếng Pháp, làm chính trị. Đây là cương lĩnh của tờ Notre Voix và cũng là cương lĩnh chung của các tờ báo cộng sản Đông Dương:

“Notre Voix sẽ là tiếng nói của những người mong muốn hoà bình, muốn được tự do và hạnh phúc hơn, của những người quyết tâm đấu tranh cho một cuộc sống tốt đẹp hơn, đấu tranh chống lại các lực lượng bảo thủ và áp bức xã hội, chống lại những kẻ gây chiến, chủ nghĩa phát xít trong nước và trên quốc tế.

“Nói một cách chính xác hơn, Notre Voix sẽ hoạt động để mở rộng và củng cố mặt trận những lực lượng tiến bộ, mặt trận dân chủ Pháp – Đông Dương, để tǎng cường tình đoàn kết của nhân dân Đông Dương với các chiến sĩ anh hùng Trung Quốc, Tây Ban Nha và nói chung, với toàn thể nhân dân thế giới”.

Chính phủ thuộc địa tích cực dùng bạo lực chống lại các báo phái tả cũng như các báo dân chủ bản xứ. Chúng đuổi những công nhân, viên chức đọc các báo đó, đe doạ những độc giả khác, tịch thu báo, và đôi khi cả tài chính của toà báo, bắt bớ và tống giam các biên tập viên và phóng viên, truy tố ban biên tập trước toà án, v.v.. Các biên tập viên báo Thanh niên bị bắt ngay sau khi tờ báo phát hành. Thuế môn bài các đại lý báoĐời nay đều tǎng 700%.

Nói về những cuộc đàn áp ấy, báoĐời nay, cơ quan của Đảng Xã hội xuất bản ở Hà Nội, viết:

“Người ta chỉ có thể khiển trách họ đã đề cập đến những vấn đề dân chủ, đã ca ngợi một sự hợp tác Pháp – Việt chân thành, một sự đoàn kết hợp lý trước hoạ phát xít…. Người ta bóp nghẹt mọi tài liệu dân chủ và dung túng sách báo thân Nhật hoặc có khuynh hướng phát xít”.

Cũng cần nhắc ra đây tên một số sách bị cấm:

Lênin

Nước Nga Xô viết

Lịch sử cách mạng Trung Quốc

Tây Ban Nha

Thắng lợi của thái độ kiên trì của Liên Xô

Việc võ trang Liên Xô

Công cuộc khôi phục ở Liên Xô

Sự tiến bộ trong quan hệ Trung – Xô

(Tóm lại, tất cả sách viết về Liên Xô).

Tờrốtxki, công cụ của chủ nghĩa phát xít (bằng tiếng Trung Quốc)

Mặt trận thống nhất chống phát xít sau sự kiện Muyních (bằng tiếng Trung Quốc).

Tất cả những sách chống phát xít và ngay cả những quyển sách như:

Nguyên lý lãnh đạo (bằng tiếng Việt) và các tác phẩm vǎn nghệ như:

Lúc tôi ở với Lênin của Goócki, cũng đều bị cấm.

Báo cánh tả bằng tiếng Việt bị cấm lưu hành ở Trung Kỳ và Cao Miên. Các báo tờrốtxkít và có khuynh hướng phát xít được khuyến khích và tự do lưu hành khắp nơi.

Cuốn Tư bản cũng bị cấm ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ.

Tù chính trị

Theo tờ Notre Voix thì còn khoảng 1.500 tù chính trị ở trong các nhà lao. Tổ chức cứu tế nhân dân ở Pháp luôn luôn can thiệp và các báo cánh tả Pháp, Việt ở Đông Dương (ngay bọn tờrốtxkít cũng có tham gia một lần và theo cách của chúng) đều lên tiếng đòi trả lại tự do cho họ.

Tháng 6, Hội đồng quản hạt Nam Kỳ đã thông qua một bức điện gửi cho Bộ trưởng Bộ thuộc địa yêu cầu ân xá toàn thể các chính trị phạm.

Các báo cộng sản đều tổ chức lạc quyên giúp đỡ họ. Từ nǎm 1938 cho đến tháng 4-1939, số tiền lạc quyên đã hơn 800đ. Cũng như mọi khi, những người đóng góp vẫn cứ là công nhân, nông dân, sinh viên, tiểu thương, thanh niên dân chủ, công nhân bản xứ làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, đôi khi cũng có những hành động cảm động: 2 thanh niên nông dân cùng nhau ủng hộ 7 xu và bên cạnh họ là một người cảm tình vô danh ủng hộ 20đ. Cũng có những người ủng hộ thuốc uống, sách và truyện cũ, kẹo, bưu ảnh, v.v..

Nhưng nếu lớp tù chính trị này được thả ra thì người ta lại tống giam những lớp mới khác.

Biểu tình trước trụ sở Hội đồng dân biểu: 3 nǎm tù và 3 nǎm quản thúc.

Tham gia vào hội tương tế, dù hội này đã được phép mở: cũng án như vậy.

Đưa yêu sách của dân làng cho các nghị viên, dù các nghị viên đó tự mình đến hỏi: 10 nǎm khổ sai và 10 nǎm quản thúc, v.v..

Phi Vân (mà người ta cho rằng đã phản bội) đã bị bắt và bị kết án 10 nǎm tù hồi tháng 6-1939. Anh ta bị áp giải một cách cẩn mật từ nhà lao đến Toà án Bắc Ninh, tay bị xiềng, đầu trần, chân đất, mình trần trụi và chỉ mang mỗi chiếc quần cộc.

Tờ Cố gắng viết về các cuộc đàn áp như sau: “… 20 nǎm sau khi hàng vạn đồng bào của chúng ta đã ngã xuống trên chiến trường Pháp, chúng ta vẫn không được hưởng một chút quyền, một chút tự do sơ đẳng nào mà nhân dân các nước dân chủ vǎn minh đã được hưởng.

Không có tự do báo chí.

Không có tự do lập hội.

Không có tự do hội họp.

Sau hai nǎm thực hiện một mức tự do hạn chế, trong đó, một vài chính kiến đã được phép nói lên đến một chừng mực nào đó, Chính phủ Đông Dương… lại bắt đầu o ép và đàn áp… Tờ Ngày mai viết:

“Hình như các nhà cầm quyền của chúng ta đã mất hết sáng suốt và bình tĩnh, hình như hễ bị kinh khủng là họ mất hết trí minh mẫn và lòng độ lượng; kể từ nǎm 1930… – thời kỳ bi thảm mà hiện nay hình như chúng ta đang trở lại – chưa bao giờ lại có những phương pháp đàn áp khốc liệt và tàn bạo quá tay đến thế.

Người ta tịch thu, người ta cấm đoán, người ta bắt bớ, người ta kết tội một cách không cǎn cứ, điên rồ, sai trái, độc đoán và hết sức ráo riết. Người ta bịa đặt, người ta nặn ra mọi chứng cớ giả tạo, người ta dùng đến những hành động nhục nhã. Người ta dùng cả những biện pháp bất hợp pháp: người ta đã hành động đến mức không luật pháp, đạo đức, nhân quyền, lương tri nào có thể bào chữa cho một chính sách ngu xuẩn đến thế”.

Đông Dương và Trung Quốc

Những người lao động Việt Nam hoàn toàn đứng về phía Trung Quốc. Những người có ít nhiều tinh thần dân chủ, những nhà buôn Pháp cũng đều như vậy, tất nhiên vì nhiều nguyên nhân khác nhau.

Đảng Xã hội, Hội nhân quyền và tất cả những phần tử cánh tả ở Bắc Kỳ đã tổ chức vào đầu nǎm 1939 một cuộc hội chợ lớn để giúp các nạn nhân chiến tranh của Trung Quốc. Những người cộng sản đưa ra khẩu hiệu: “Giúp đỡ Trung Quốc!”. Dân chúng đã thấm nhuần tinh thần khẩu hiệu đó và bằng chứng là, dù còn đói khổ, từ tháng 3-1938 tới tháng 2-1939, họ đã đóng góp 579 đồng vào cuộc lạc quyên ủng hộ các chiến sĩ Trung Quốc, do các báo cộng sản ở Bắc Kỳ tổ chức (ở các địa phương khác cũng có lạc quyên, nhưng tôi không biết kết quả). Ngày đầu nǎm, báo Notre Voix đã nhận được 38đ35 ủng hộ những người du kích. Nhân dịp kỷ niệm 2 nǎm ngày chiến tranh bùng nổ, nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã gửi cho các chiến sĩ 100 đồng và một lá thư cổ vũ gồm 2.330 chữ ký.

Những người cộng sản cũng đưa ra khẩu hiệu tẩy chay hàng Nhật. Cần nói thêm rằng, những người cộng sản đã đặt ra bài hát: “Giúp Trung Quốc tức là giúp mình”, và bài hát đó đã được truyền đi rất rộng trong quần chúng. Nhiều nơi đã tổ chức các cuộc biểu diễn ban đêm. Người biểu diễn là công nhân, nông dân, nhất là thanh niên, họ thường phối hợp với thanh niên Trung Quốc để làm.

Dưới áp lực của Nhật, Chính phủ Pháp quyết định đóng cửa biên giới Trung Quốc – Bắc Kỳ lại. Chính phủ thuộc địa không tán thành chủ trương ấy. Các thương gia Pháp đấu tranh chống quyết định đó. Báo chí cũng nhất trí chống lại việc đóng cửa biên giới, nhưng với lý do khác nhau, kẻ thì vì vật chất, người thì vì chính trị. Trước Hội đồng dân biểu, Chủ tịch phòng thương mại Hà Nội đã kịch liệt phản đối quyết định của Chính phủ. Sau khi cho biết rằng từ tháng 2 đến tháng 10-1938, Đông Dương đã xuất cảng sang Nhật 341.000 tấn than và quặng sắt, ông nói: “… Nếu chúng ta coi việc xuất cảng này là hợp pháp thì không thể hiểu tại sao chúng ta lại cấm việc xuất cảng sang Trung Quốc, … Trung Quốc đã nhường đường xe lửa Vân Nam cho một công ty Pháp, Trung Quốc đã nhường đất để làm đường sắt và cung cấp nhân lực cần thiết cho công cuộc xây dựng. Ngoài ra, trong điều 4 của Hiệp ước Trung – Pháp có ghi: “Dụng cụ chiến tranh, vũ khí và đạn dược mà Chính phủ quốc gia muốn chuyển vận xuyên qua đất Bắc Kỳ sẽ được miễn mọi thứ” … Không tôn trọng lời ký kết của nước Pháp, chúng ta đã cấm vận chuyển hàng hoá sang Trung Quốc bằng con đường sắt (Pháp – Trung Quốc) Vân Nam. Trong lúc đó, chúng ta lại giao than và quặng sắt của chúng ta cho Nhật Bản…”.

Tướng tổng tham mưu trưởng Bạch Sùng Hy tuyên bố với các nhà báo Pháp: “Hiện nay không phải chỉ Quảng Tây tỏ ý bất bình với nước Pháp, mà cả Vân Nam, Quảng Đông và tất cả các tỉnh khác ở Hoa Nam nữa”.

Trong thời gian 3 tháng, người Trung Hoa đã làm xong 250 kilômét đường ôtô nối liền Vân Nam và Rǎnggun. Anh sẽ cho Trung Quốc vay 100 triệu để xây dựng một con đường sắt chạy theo hướng này. Chính phủ Đalađiê nhận thấy rằng nhiều mối lợi to lớn sẽ mất, không những thế cả nền thương mại Pháp ở Bắc Kỳ cũng sẽ bị phá sản, cho nên chúng buộc phải ngấm ngầm mở lại cửa biên giới mà không nói nǎng gì.

Nhật chiếm đảo Hải Nam và Spralây làm cho Pháp lo sợ. Họ liền tìm cách hợp tác với người Anh (Hội nghị quân sự ở Singapo) và chuẩn bị phòng thủ: tǎng quân bằng cách tuyển thêm một vạn người, sửa lại các hải cảng, xây dựng sân bay và các nhà máy có thể sản xuất từ 150 đến 400 máy bay một nǎm.

Các báo cánh tả cho rằng như vậy vẫn chưa đủ, rằng muốn phòng thủ có kết quả thì phải có sự hợp tác thành thật của dân chúng; muốn thế, cần ban hành những quyền dân chủ cho người bản xứ.

Nên nhớ rằng chính phủ thuộc địa đã tổ chức một trường học tiếng Nhật ở Thanh Hoá. Lại một sự việc có ý nghĩa hay một dấu hiệu sợ hãi: tháng 6, trong một thông tri gửi cho người Pháp ở Bắc Kỳ, chính phủ đã hỏi họ rằng: Nếu chiến tranh nổ ra thì họ sẽ tản cư vợ con họ ra sao.

Nói thêm, những người cộng sản đã sáng tác bài hát Giúp Trung Quốc tức là giúp mình, một bài hát rất được phổ biến. Nhiều đêm (vui) kịch đã được tổ chức ở nhiều nơi. Những phần tử hǎng hái là công nhân, nông dân và nhất là thanh niên, họ thường hợp tác với thanh niên Trung Quốc.

Hoạt động của Nhật ở Đông Dương

Bọn Nhật đã nhòm ngó Đông Dương từ lâu. Điều đó rất rõ ràng. Chương trình hoạt động của chúng có thể chia ra 3 mặt tuyên truyền, xâm nhập kinh tế và hoạt động gián điệp. Công tác tuyên truyền ấy chỉ tranh thủ được bọn quan lại bất mãn và các cụ đồ nho. Trong khi tuyên truyền, những người này tỏ ra công khai thân Nhật và chống Trung Quốc. Nhưng họ không có chút tác dụng nào trong đông đảo quần chúng, vì như trên đã nói, quần chúng thực sự đứng về phía Trung Quốc. Từ 34 nǎm nay, bọn Nhật đã nuôi Cường Để, ông hoàng Việt Nam lưu vong ở trên đất chúng, chỉ mong có dịp sẽ dùng đến. Về mặt kinh tế, đặc biệt bọn Nhật tìm cách thâm nhập vào các vùng mỏ Bắc Kỳ. Chúng đã đầu tư được vào nhiều công ty khai thác. Thứ hai là bán hàng hoá giá rẻ.

Gián điệp Nhật hoạt động rất mạnh ở Đông Dương. Ba tháng trước đây, một người Pháp chủ nhiệm một tờ báo và một người Việt Nam đã bị kết án 20 và 15 nǎm khổ sai về tội làm gián điệp. Về vấn đề này, tờ Effort viết: “Nhưng biết bao người như thế sẽ có thể tiếp tục công việc của họ một cách yên ổn gần như tuyệt đối, do thái độ do dự của các nhà cầm quyền Pari của chúng ta tạo nên”. Đối với bọn gián điệp người Nhật, Chính phủ Pháp tỏ ra rất nhân nhượng. Ví dụ, nǎm ngoái một sĩ quan Nhật bị bắt quả tang làm gián điệp ở Bắc Kỳ, người ta bắt được trong người hắn một tập tài liệu dày cộp. Nhưng Chính phủ chỉ yêu cầu tên sĩ quan này ra khỏi Đông Dương mà thôi. Mới đây, người ta bắt được ở Lào Cai 3 gián điệp người Nhật đang vẽ các cứ điểm chiến lược. Ra trước toà án, chúng chỉ bị phạt 100 quan!

Trái lại, người ta kết tội những người cộng sản là thân Nhật. Ngày 13-6, đồng chí chủ nhiệm tờ báo cộng sản Đời nay ở Hà Nội bị triệu đến sở mật thám. Viên chánh cẩm bảo đồng chí rằng: Những người cộng sản đã ǎn lương của Nhật và chính vì thế mà họ đã tổ chức bãi công nhằm mục đích phá hoại việc tiếp tế cho Trung Quốc. Những người cộng sản đã kịch liệt phản đối lời vu cáo này của bọn cẩm bằng lời nói và bằng vǎn bản.

*

*      *

Tôi rất tiếc hôm nay chưa thể nói được về bọn tờrốtxkít. Liên lạc cần phải đi ngay. Tôi phải ngừng bút và gửi lời chào anh em tới các đồng chí.

Cuối tháng 7 nǎm 1939

LIN

———————————

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn