Tự phê bình và phê bình theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Trải qua hơn 80 năm phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, với bản lĩnh của một đảng cách mạng chân chính, dạn dày kinh nghiệm, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng đã lãnh đạo, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, giành được nhiều thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng.

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, gần đây nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI : Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay đang được Ban chấp hành Trung ương Đảng quán triệt và triển khai thực hiện. Nghị quyết đã đánh giá tình hình công tác xây dựng Đảng trong những năm qua và chỉ ra một số nguyên nhân cơ bản đẫn đến những hạn chế, yếu kém. Trong đó nhấn mạnh nguyên nhân: nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát.

Vấn đề này dã được Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm, nhắc nhở cán bộ, đảng viên. Chính vì vậy, trong di chúc để lại cho Đảng, cho nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: ” Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(1). Vậy làm thế nào để Đảng ta có được điều đó? Bác đã chỉ ra : ” Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”(1). ở Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình đã trở thành một nguyên tắc không thể thiếu trong phong cách lãnh đạo của Người. Dù ở cương vị lãnh đạo cao nhất, Người vẫn thực hành tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, nêu tấm gương sáng về đức tính trung thực, thẳng thắn, về thái độ và phương pháp phê bình cho cán bộ, đảng viên noi theo.

Từ một quan niệm hết sức giản dị nhưng bao hàm tính triết lý và biện chứng sâu sắc: người đời không phải là thần thánh, không ai tránh khỏi khuyết điểm, Bác chỉ ra rằng:” Tổ chức đảng cũng vậy, Đảng không phải trên trời rơi xuống, ” Đảng là người, nên có sai lầm”, tức là cũng có lúc khoẻ mạnh, lúc ốm đau, bệnh tật. Đó là lẽ thường tình, không vì thấy ốm đau mà phát sinh tư tưởng lo sợ, bi quan, tuyệt vọng, giấu giếm bệnh tật trong mình”(2). Do đó, theo Bác có bệnh thì phải mạnh dạn, chủ động, khẩn trương, kiên trì chạy chữa. Hồ Chí Minh chỉ ra liều ” thần dược” để chữa trị các chứng bệnh trong cơ thể của tổ chức Đảng và mỗi cá nhân đảng viên là tự phê bình và phê bình : ” Tự phê bình là phương thuốc trị bệnh cứu mình, phê bình là phương thuốc trị bệnh cứu người”. Người nói: Phê bình cũng như uống thuốc. Sợ phê bình cũng như có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc, để đến nỗi bệnh càng nặng, không chết cũng “la lết quả dưa”(2).

Bác yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên ” mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt”. Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như con người cần không khí, không có không khí con người sẽ chết, không có tự phê bình và phê bình Đảng khó lòng mà tồn tại. Chủ tich Hồ Chí Minh khẳng định: ” Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Đảng cần phải biết những ưu điểm và khuyết điểm của mình “để dạy dỗ đảng viên, dạy dỗ quần chúng”(2).

Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất giúp Đảng ta ngày càng thêm mạnh, ngày càng phát triển, càng nâng cao hơn nữa năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Tự phê bình và phê bình giúp ta sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, tiến bộ không ngừng. Bởi vậy, theo Bác, trong Đảng muốn đoàn kết chặt chẽ, ” ắt phải thống nhất tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình”. Có thực hành dân chủ rộng rãi thì tự phê bình và phê bình mới trở thành nền nếp thường xuyên trong sinh hoạt Đảng. Trong tác phẩm ” Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947), Bác viết: “Nếu cách lãnh đạo của ta không được dân chủ thì đối với cơ quan lãnh đạo, đối với những người lãnh đạo, các đảng viên và cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ không dám phê bình”.

Tự phê bình và phê bình là nhu cầu nội tại của tổ chức Đảng và đảng viên. Song sử dụng nó phải đúng mục đích thì mới có tác dụng, hiệu quả cao. Nếu sử dụng không đúng mục đích thì dù đó là vũ khí sắc bén cũng không tiêu diệt được kẻ thù, là “thần dược” cũng không trị được bệnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích: ” Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Vì vậy phê bình mình cũng như phê bình người phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Phê bình việc làm chứ không phải phê bình người”. Do đó, tự phê bình và phê bình tức là gột rửa những thói hư tật xấu, những cái nhơ bẩn lây bám, xâm nhập vào con người chứ không phải cắt bỏ thân thể con người. Tư tưởng nhân văn, đề cao yếu tố con người của Hồ Chí Minh ở đây thật bao la, sâu sắc và chan chứa tình người. Bác Hồ đã từng phê phán: ” Ai hợp với mình thì người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng, nó làm hại đến sự thống nhất”.

Từ quan điểm xuất phát thể hiện tính dân chủ và nhân đạo cao cả, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra phương pháp, hình thức và những yêu cầu để tiến hành tự phê bình và phê bình đạt hiệu quả cao nhất:

Trước hết, phê bình phải đi đôi với tự phê bình và phê bình phải gắn liền với sửa chữa, với biểu dương khen thưởng. Nếu chỉ phê bình người khác mà không tự phê bình thì chẳng khác nào ” thầy thuốc chỉ đi chữa bệnh người khác mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa”. Tại buổi Lễ bế mạc lớp Bổ túc trung cấp (10/1947), Hồ Chí Minh đã nói: “Tự phê bình rồi lại phải phê bình người khác nữa…Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần, mà không nói cho người ta sửa tức là hại người…Thấy cái xấu của người mà không phê bình là một khuyết điểm rất to. Không phê bình, tức là để cho cái xấu của người ta phát triển”.

Tự phê bình và phê bình phải gắn với sửa chữa, tức là phải chỉ rõ ưu, khuyết điểm và phương hướng để phát huy hoặc khắc phục. Đồng thời phải gắn với động viên, khen thưởng, xử phạt rõ ràng.

Thứ hai, tự phê bình và phê bình phải đạt tới cái đích là làm rõ đúng, bảo đảm tính khách quan, trung thực, thẳng thắn và chân tình. Tự phê bình cũng như phê bình phải trung thực, không nể nang, không thêm bớt. Bác nhắc nhở: ” Phê bình phải nghiêm chỉnh, chắc chắn, phụ trách, nói có sách, mách có chứng. Phải phê bình với tinh thần thành khẩn, xây dựng, ” trị bệnh cứu người”, chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm. Khi phê bình, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Trong lúc phê bình, khuyết điểm phải vạch rõ ràng, mà ưu điểm cũng phải nhắc đến. Một mặt là để sửa chữa cho nhau. Một mặt là để khuyến khích nhau, bắt chước nhau”.

Thứ ba, Khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải bảo đảm tính dân chủ, công khai. Công khai phân tích, nhận xét, đánh giá ưu, khuyết điểm của mình, đồng chí mình và tổ chức đảng trước hội nghị, phê phán nghiêm khắc tình trạng ” ngồi lê đôi mách”, ” việc gì cũng không phê bình trước mặt mà để nói sau lưng”. Bác cho rằng: ” Kiểu phê bình như vậy là biểu hiện của bệnh “cá nhân””.

Tự phê bình và phê bình muốn đạt kết quả cao thì phải được tiến hành trong bầu không khí thật dân chủ, bình đẳng. Chỉ có dân chủ rộng rãi thì mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân mới tích cực, chủ động, nói thẳng, nói thật. Song mở rộng dân chủ trong tự phê bình và phê bình không có nghĩa là muốn nói gì thì nói, muốn phê thì phê. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì một cuộc tự phê bình và phê bình nghiêm túc là: ” Trong lúc thảo luận, mọi người được tự do hoàn toàn phát biểu ý kiến , dù đúng hoặc không đúng cũng vậy. Song không được nói gàn, nói vòng quanh”. ở đây, vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt rất quan trọng, như Bác đã dạy: cán bộ cao cấp phải gương mẫu tự phê bình và phê bình trước.

Thứ tư, tự phê bình và phê bình phải được tiến hành thường xuyên, phê bình từ trên xuống và từ dưới lên, nhất là từ dưới lên, có như vậy mới đạt hiệu quả cao. Bởi vì, nếu chỉ phê bình một chiều thì như Bác so sánh cũng giống như người ” đi một chân, không thể đi được”.

Khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải đảm bảo đúng nguyên tắc, song cách thức tiến hành phải mềm dẻo, khéo léo. Nếu chỉ dùng phương pháp cứng rắn, mệnh lệnh, ép buộc thì rất khó tiếp thu. Phê bình không đúng lúc, đúng chỗ, không khôn khéo sẽ có tác dụng ngược lại thậm chí còn gây ra hậu quả khó lường bởi lẽ lời chê như một mồi lửa, lòng tự ái, kiêu căng của con người giống như một kho thuốc súng. Ngày xưa,Trang Tử cũng đã từng nói: Người chê ta phải là thầy ta, người khen ta phải là bạn ta, người nịnh hót ta là kẻ thù của ta.

Thứ năm, người và tổ chức được phê bình phải có thái độ thành khẩn, vui lòng để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí hoặc oán ghét. Hết sức tránh thái độ ” giấu bệnh sợ thuốc”, bị phê bình thì im lặng, không tìm cách sửa đổi. Hồ Chí Minh gọi đó là “thái độ không thật thà, không đúng đắn” và thái độ đó sẽ dẫn đến hậu quả hết sức nghiêm trọng, bệnh ngày càng nặng thêm, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng.

Trong bất kỳ một tổ chức đảng nào, cho dù là tổ chức đảng cấp trên hay tổ chức đảng cấp dưới, bất kỳ một cá nhân đảng viên ở cương vị nào nếu không thấm nhuần tư tưởng tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cũng sẽ phạm phải những sai lầm lớn. Thực tế hiện nay, một số tổ chức đảng và đảng viên đã làm tốt công tác tự phê bình và phê bình, trong các cuộc họp đã dám nói thẳng, nói thật ưu, khuyết điểm giúp tổ chức đảng và đồng chí mình phát huy, sửa chữa. Song bên cạnh đó, vẫn còn một số tổ chức đảng chưa phát huy tốt tinh thần phê và tự phê. Trong các cuộc hội nghị, cán bộ, đảng viên không dám góp ý kiến, đặc biệt là góp ý cho cấp trên, cho lãnh đạo vì sợ bị trù dập, không được thăng chức, nâng lương…Một số tổ chức đảng và đảng viên không góp ý cho tổ chức, cho đồng chí mình ngay trong cuộc họp mà lại đi nói sau lưng có tính chất ” kích động”, làm mất uy tín người khác. Bên cạnh đó vẫn còn một số cán bộ, đảng viên lợi dụng tinh thần phê và tự phê để chỉ trích, phê phán người khác với thái độ không thiện cảm, vì mục đích cá nhân” vạch lá tìm sâu”, ” chuyện bé xé ra to”, làm cho người bị phê bình không nhận ra được sai lầm để sửa hoặc có nhận ra họ cũng khó lòng mà sửa được. Bởi vậy, chúng ta học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phải bằng hành động thực tế, không nên hô hào, chỉ nói mà không làm hoặc nói nhiều làm ít.

Tự phê bình và phê bình là biện pháp quan trọng nâng cao trí tuệ, phát hiện và giải quyết những mâu thuẫn trong Đảng, là quy luật sinh tồn và phát triển của Đảng. Tự phê bình và phê bình đòi hỏi phải có tính Đảng và tính nguyên tắc cao, phải đảm bảo tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường được mối quan hệ chặt chẽ giữa đảng và quần chúng. Chủ tich Hồ Chí Minh đã tiếp thu, nghiên cứu, vận dụng và bổ sung sáng tạo quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về vấn đề tự phê bình và phê bình một cách hết sức cụ thể và độc đáo. Chính vì vậy, Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng nước ta đi đến thành công, xứng đáng và làm tròn vai trò lãnh tụ chính trị của giai cấp và của dân tộc. Ngày nay, khi toàn Đảng đang quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng, chúng ta càng thấm nhuần hơn tư tưởng tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều này sẽ giúp chúng ta thực hiện thành công Nghị quyết của Đảng, góp phần đưa sự nghiệp cách mạng của đất nước, của dân tộc tới thắng lợi vẻ vang.

* Tài liệu dẫn và tham khảo:
1/ Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh- NXB Chính trị quốc gia- Hà Nội- 1999.
2/ Hồ Chí Minh: Về tự phê bình và phê bình- NXB Sự thật- Hà Nội- 1986.
3/ Hồ Chí Minh toàn tập- NXB Chính trị quốc gia- Hà Nội- 1996.
4/ Xây dựng Đảng, rèn luyện đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh- NXB Quân đội nhân dân- Hà Nội- 2003.
5/ Nghị quyết số 12-NQ/TW – Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI): Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay.

Đặng Thanh Vững
Phòng Đào tạo
truongleduan.quangtri.gov.vn


Xem Bài 1

Tổng thống nước Cộng hòa Panama đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và các Anh hùng liệt sỹ

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Ngài Ricardo Martinelli Berrocal – Tổng thống nước Cộng hòa Panama và Phu nhân đã sang thăm chính thức nước ta từ ngày 24/10/2012 đến ngày 27/10/2012. Trong khuôn khổ chuyến thăm của Ngài Tổng thống và Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa Panama, sáng ngày 25/10/2012, Ngài Tổng thống, Phu nhân và các đại biểu trong Đoàn đã đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Kính viếng các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam”. Sau đó Đoàn đã đến Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt hoa tưởng niệm Người, vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

DSC 0047Tổng thống nước Cộng hòa Panama và Đoàn đại biểu cấp cao nước
Cộng hòa Panama đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên ở cấp Nguyên thủ Nhà nước Panama kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (28/8/1975). Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Ricardo Martinelli và Phu nhân diễn ra trong bối cảnh hai nước đạt được những thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế. Panama là một nước ở khu vực Trung Mỹ. Nền kinh tế Panama chủ yếu dựa vào ngành dịch vụ (chiếm 79,2% GDP); thu nhập phần lớn từ các dịch vụ của kênh đào Panama (bảo hiểm, cảng kho, đăng ký cờ tàu), ngân hàng, Khu Tự do thương mại Colon và du lịch. Tại các diễn đàn đa phương và khu vực, hai nước thường xuyên trao đổi ủng hộ lẫn nhau. Panama là một trong những nước sớm ủng hộ Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và bỏ phiếu bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc khóa 2008-2009. Năm 2010, Panama đã công nhận Quy chế Kinh tế thị trường cho Việt Nam.

Đây cũng là dịp lãnh đạo hai nước trao đổi các khả năng và biện pháp tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của mỗi bên; triển khai thực hiện các thỏa thuận đã ký kết trong các lĩnh vực như nông nghiệp, khoa học – kỹ thuật, hàng hải… thiết thực phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển ở mỗi nước.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Cái giá phải trả và bài học của sự mất ổn định chính trị ở Xy-ri

Từ tháng 3-2011 đến nay, Xy-ri rơi vào tình trạng mất ổn định chính trị nghiêm trọng, nội chiến đã xảy ra trên khắp đất nước. Tình hình còn đang diễn biến rất phức tạp, chưa biết kết cục ra sao, song cái giá phải trả và bài học về sự mất ổn định chính trị ở quốc gia Trung Đông này thì đã quá rõ ràng.

Phiên họp của HĐBA về dự thảo nghị quyết đối với Xy-ri ngày 31-1-2012 (Nguồn: qdnd.vn).

1.Cái giá quá đắt và hậu quả hết sức nặng nề.

Cuộc khủng hoảng ở Xy-ri hiệnđã bước vào giai đoạn trầm trọng, đẫm máu và ác liệt nhất kể từ khi lực lượng nổi dậy biểu tình, chống đối Chính phủ nước này hồi tháng 3-2011. Thực tế cuộc chiến cho thấy, hệ lụy của sự mất ổn định chính trị ở Xy-ri rất nặng nề, tàn khốc và được biểu hiện rõ nét ở mấy điểm sau đây:

Thứ nhất, từ một đất nước thanh bình đã trở thành bãi chiến trường của cuộc nội chiến “nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn” và chiến tranh có nguy cơ lan rộng, đe dọa hòa bình, ổn định toàn khu vực. Gần 40 năm qua, kể từ sau cuộc chiến tranh Trung Đông lần thứ tư giữa I-xra-en với thế giới A-rập (năm 1973), nhân dân Xy-ri cơ bản được sống trong hòa bình, ổn định với nền kinh tế phát triển ở mức trung bình trên thế giới (GDP năm 2008 tăng 4,8%, thu nhập bình quân đầu người đạt 2.200 USD/năm). Nhưng từ ngày 15-3-2011, bắt đầu bằng các cuộc biểu tình chống Chính phủ đã phát triển thành cuộc nội chiến giữa một bên là quân đội của Tổng thống B. An Át-xát và bên kia là các lực lượng nổi dậy do “quân đội Xy-ri tự do” làm nòng cốt. Cuộc nội chiến có sự can thiệp từ các thế lực bên ngoài đã khiến hàng trăm dân thường và binh sĩ của cả hai phe ở Xy-ri ngã xuống mỗi ngày, hàng nghìn người phải vượt biên lánh nạn vì bạo lực gia tăng; nhiều thành phố và làng mạc bị tàn phá; sản xuất bị đình đốn, giao thương hầu như bị tê liệt. Theo thống kê, hơn 18 tháng qua, đã có hơn 20.000 người Xy-ri bị chết, 170.000 người phải đi lánh nạn ở các nước láng giềng (Li-băng, Thổ Nhĩ Kỳ, I-rắc); khoảng 2,5 triệu người rơi vào “thảm họa nhân đạo” đang cần trợ giúp khẩn cấp. Đất nước và những người dân Xy-ri vô tội đang phải trả giá đắt cho sự mất ổn định chính trị ở trong nước.

Dư luận quốc tế cho rằng, những gì đang diễn ra tại Xy-ri không chỉ là một thảm kịch đối với người dân nước này, mà còn là mối đe dọa đối với an ninh, hòa bình trong khu vực và thế giới. Đặc biệt, trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, lợi ích, cơ hội và thách thức của các quốc gia có tính đan xen, việc mất ổn định kéo dài ở Xy-ri sẽ gây hệ lụy cho cả khu vực. Các nước láng giềng như: I-xra-en, Giooc-đa-ni, Ả-rập Xê-út, I-rắc, Thổ Nhĩ Kỳ đã phải đặt quân đội trong tình trạng chiến tranh. Đã có những cuộc đụng độ giữa quân đội Xy-ri với quân đội các nước láng giềng tại các vùng biên giới nơi có dòng người tỵ nạn chạy qua, làm cho tình hình khu vực vốn đã phức tạp lại càng phức tạp hơn. Theo các nhà phân tích quốc tế, nguyên nhân sâu xa của sự bất ổn chính trị ở Xy-ri là do mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo giữa đa số người Hồi giáo dòng Săn-ni và thiểu số người Hồi giáo dòng Si-ai nhưng lại nắm các chức vụ chủ chốt trong chính quyền. Điều nguy hiểm là, cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo này rất phức tạp, bùng phát mạnh mẽ và có nguy cơ lây lan sang các quốc gia khác, lôi kéo người Săn-ni, người Si-ai ở cả Bắc Phi – Trung Đông vào cuộc chiến “huynh đệ tương tàn” chưa có hồi kết.

Hơn nữa, Xy-ri hiện đang sở hữu kho vũ khí hóa học lớn thứ tư thế giới, nên nguy cơ về một thảm họa hóa học có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tháng 7-2012, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Xy-ri đã lên tiếng cảnh báo, nước này sẽ sử dụng vũ khí hóa học nếu bị quân đội nước ngoài tấn công. Ngày 11-8-2012, Ngoại trưởng Mỹ H. Clin-tơn đã đến Thổ Nhĩ Kỳ gặp người đồng cấp để bàn cách giúp quân nổi dậy lật đổ Tổng thống B. An Át-xát và kế hoạch đối phó với cuộc chiến tranh hóa học tại Xy-ri. Ngày 20-8-2012, Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma đã đặt “giới hạn đỏ” để can thiệp quân sự nếu chính quyền Xy-ri di chuyển hoặc sử dụng vũ khí hóa học. Điều này nếu xảy ra thì hậu quả thật khôn lường cho cả khu vực và thế giới.

Thứ hai, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước bị xâm phạm, Xy-ri trở thành tụ điểm tranh giành ảnh hưởng và can thiệp của các thế lực bên ngoài. Do có vị trí địa chính trị, địa chiến lược quan trọng nên đã từ lâu, Xy-ri trở thành nơi tranh giành ảnh hưởng và lợi ích sâu sắc giữa các cường quốc trong và ngoài khu vực. Hiện nay, tại Xy-ri đã hình thành hai trận tuyến: một bên là chính quyền của Tổng thống B. An Át-xát nắm trong tay một lực lượng quân đội khoảng nửa triệu người với vũ khí, trang bị khá hiện đại và được một số nước khác ủng hộ. Một bên là các lực lượng nổi dậy, được Mỹ, phương Tây, Thổ Nhĩ Kỳ, Ả-rập Xê-út và một số nước A-rập khác hậu thuẫn. Vì vậy, cuộc khủng hoảng dẫn tới xung đột khốc liệt ở Xy-ri đang là cơ hội cho các thế lực bên ngoài can thiệp, nhằm tranh giành lợi ích và ảnh hưởng của họ ở khu vực. Đối với Mỹ và phương Tây, Tổng thống B. An Át-xát như “cái gai” cần phải nhổ. Bởi lẽ, ông là một trong những nhà lãnh đạo ở Trung Đông nêu cao tinh thần độc lập dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân, lại thân Nga, Trung Quốc và I-ran. Vì thế, họ đang tìm mọi cách để tái diễn “kịch bản Li-bi” tại Xy-ri. Trước hết, họ sử dụng mạng in-tơ-nét làm công cụ để tập hợp quần chúng xuống đường biểu tình; ủng hộ, tiếp tay phe đối lập; lợi dụng danh nghĩa Liên hợp quốc ra các nghị quyết trừng phạt Xy-ri; thực hành cấm vận, tiến tới lập vùng cấm bay và cuối cùng là can thiệp quân sự khi có thời cơ, hoặc dùng chiến tranh qua tay người khác để lật đổ chính quyền Đa-mát đương nhiệm. Trái lại, Nga và Trung Quốc cực lực phê phán lập trường của Mỹ và phương Tây hậu thuẫn cho các lực lượng đối lập lật đổ chính quyền hợp hiến ở Xy-ri; đồng thời, chủ trương giải quyết cuộc khủng hoảng Xy-ri bằng biện pháp đối thoại hòa bình theo hướng: công việc nội bộ của Xy-ri phải do người Xy-ri quyết định, không có sự can thiệp từ bên ngoài. Trong vòng 9 tháng qua, phương Tây đã ba lần đưa ra dự thảo Nghị quyết hòng lợi dụng danh nghĩa Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc để can thiệp, lật đổ chính quyền Xy-ri, nhưng đều bị Nga và Trung Quốc phủ quyết. Một số chuyên gia cho rằng, cục diện ở Xy-ri đang trở thành hình thái mới của “cuộc chiến tranh ngầm”, “chiến tranh ủy nhiệm” hay “chiến tranh lạnh mới” giữa các cường quốc.

Như vậy, cùng với sự có mặt của nhiều lực lượng bên ngoài ủng hộ phe đối lập, cộng với sự can thiệp bằng nhiều cách của các cường quốc vào Xy-ri, rõ ràng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia này đã và đang bị xâm hại nghiêm trọng. Cho đến nay, chiến sự ở Xy-ri đang ở giai đoạn giằng co quyết liệt và các thế lực bên ngoài tiếp tục can thiệp mạnh mẽ dưới nhiều hình thức.

Thứ ba, nếu chính quyền của Tổng thống B. An Át-xát buộc phải ra đi thì hòa bình, ổn định có đến với người dân Xy-ri? Đây là kịch bản được nhiều học giả và phương tiện truyền thông trên thế giới nhắc đến, nhưng ngay cả khi điều đó xảy ra thì nhân dân Xy-ri cũng khó có thể có được quyền tự quyết vận mệnh của mình, thậm chí nước này còn phải đối mặt với những bất ổn định mới. Cần thấy rằng, mục đích lật đổ chính quyền Đa-mát hiện nay của Mỹ và phương Tây không phải đem lại quyền lợi cho đông đảo người dân Xy-ri, càng không phải đem lại hòa bình, ổn định cho nước này mà chủ yếu là dựng lên một chính quyền mới, thân phương Tây và phục vụ cho lợi ích của họ. Do đó, cho dù chính quyền của Tổng thống B. An Át-xát có sụp đổ thì nhân dân Xy-ri cũng sẽ không thể có một tương lai tốt đẹp, thậm chí tiếp tục rơi vào tình cảnh “nồi da nấu thịt”, “huynh đệ tương tàn” mới rất khó đoán định. Theo các nhà phân tích quốc tế, các lực lượng nổi dậy ở Xy-ri gồm nhiều thành phần, đại diện cho nhiều nhóm lợi ích khác nhau cả ở trong và ngoài nước, thậm chí có cả lực lượng An-kê-đa từ I-rắc cũng vào liên kết với “quân đội Xy-ri tự do” hoạt động khủng bố tại Xy-ri. Ngoài ra còn có hàng nghìn chiến binh là người gốc Xy-ri từ Li-bi và một số nước khác trở về đang tham chiến tại Xy-ri. Một khi các lực lượng nổi dậy giành chiến thắng, thì “chiếc bánh – thành quả của cuộc nổi dậy” sẽ phải được phân chia cho các nhóm lợi ích khác nhau. Một chính quyền như thế không thể là đại diện chân chính cho quyền lợi đông đảo của nhân dân Xy-ri, càng không có gì bảo đảm nó tốt đẹp hơn chính quyền cũ và người dân có thể lại phải sống trong tình trạng bấp bênh của những bất ổn mới. Tình trạng này không chỉ đối với người dân Xy-ri mà ngay cả đối với một số nước phương Tây cũng sẽ rơi vào thế khó xử; bởi lẽ, họ đang giương ngọn cờ chống khủng bố, nhưng lại phải chứng kiến sự tồn tại của lực lượng khủng bố trong phe nổi dậy. Không những thế, trong thời gian qua, làn sóng biểu tình phản đối sự “xúc phạm” tín ngưỡng đạo Hồi của một số nước phương Tây đang dấy lên mạnh mẽ ở các nước Bắc Phi – Trung Đông, trong đó có người Hồi giáo ở Xy-ri càng làm cho tình hình ở khu vực này thêm phức tạp. Vậy là, dù có kết cục ra sao, cái giá phải trả cho sự mất ổn định chính trị ở Xy-ri là rất đắt, hậu quả vô cùng nặng nề và kéo dài, mà người gánh chịu không phải ai khác, chính là những người dân Xy-ri vô tội; đồng thời, tác động tiêu cực đối với hòa bình, ổn định trong cả khu vực.

2. Bài học về giữ vững ổn định chính trị.

Cuộc khủng hoảng ở Xy-ri càng cho thấy rõ hơn tầm quan trọng sống còn của ổn định chính trị cũng như bài học cần thiết để giữ vững ổn định chính trị của mỗi quốc gia, trong đó có bài học về xử lý khủng hoảng sao cho không để xảy ra nội chiến. Phải chăng, một quốc gia để có ổn định chính trị bền vững cần giải quyết tốt hai yếu tố: bên trong và bên ngoài.

Về yếu tố bên trong, có một chính quyền thực sự của nhân dân, thực thi đường lối, chính sách đối nội đúng đắn, hợp lòng dân, tạo được lòng tin và sự đồng thuận của nhân dân. Đây là yếu tố cơ bản nhất để giữ vững ổn định chính trị. Nếu một quốc gia mà chính quyền quản lý, điều hành đất nước để cho những mâu thuẫn xã hội, sắc tộc và tôn giáo phát triển sâu sắc; nạn thất nghiệp và khoảng cách giàu – nghèo tăng cao; tình trạng bất công, bất bình đẳng, tham nhũng tràn lan thì sớm muộn cũng không giữ được ổn định chính trị. Nhìn lại diễn biến tại Xy-ri ta có thể thấy điều này. Từ ngày 15-3-2011 bắt đầu nổ ra các cuộc biểu tình tuần hành đường phố của đông đảo quần chúng chống lại chính quyền của Tổng thống B. An Át-xát được coi là độc tài và tham nhũng. Chính phủ Xy-ri đã từng có những nhượng bộ, nhưng lại vội vã sử dụng quân đội trấn áp bằng vũ lực. Kết quả là, bạo loạn chính trị dần trở thành nội chiến.

Thực tế trên cho thấy, giữ vững ổn định chính trị đã khó, nhưng khi khủng hoảng phức tạp xảy ra, việc xử lý sao cho không để “cái xảy nảy cái ung” lại càng khó hơn. Tại Xy-ri, khi xảy ra biểu tình, nếu chính quyền khôn khéo, kiên trì sử dụng biện pháp hòa bình và các phương pháp phi bạo lực; không dùng lực lượng vũ trang trấn áp, gây đổ máu thì tình hình có thể đi theo chiều hướng khác, thuận hơn.

Về yếu tố bên ngoài, cần có một chính sách đối ngoại đúng đắn, hợp xu thế thời đại, thêm bạn, bớt thù và tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi để cùng hợp tác và phát triển. Thế giới ngày nay còn tồn tại các thế lực bá quyền, nước lớn, lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, gây mất ổn định chính trị với mưu đồ và tham vọng đen tối. Chớ trêu thay, điều phi đạo lý đó vẫn tồn tại trong thế giới này, đòi hỏi các quốc gia cần có kế hoạch phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, không để cho các thế lực bên ngoài tạo cớ can thiệp, lật đổ; trong đó, bài học từ Xy-ri là hồi chuông cảnh tỉnh rất hữu ích.

Đại tá NGUYỄN TRUNG
tapchiqptd.vn

This entry was posted on Tháng Mười 27, 2012, in Chính luận.

Triết lý sống Hồ Chí Minh

Triết lý sống là giá trị nội tại, quan niệm về sự cống hiến và hưởng thụ nhu cầu vật chất, tinh thần, như là mục đích cuối cùng của đời người. Triết lý sống nằm trong đạo đức nhưng là phần “chìm”, phần tinh túy của đạo đức, có chức năng tự điều chỉnh đời sống tư tưởng, tình cảm và hành động của con người.

 Có thể lấy những câu C. Mác trả lời con gái là một ví dụ về triết lý sống:

– Hỏi: Đức tính mà cha yêu quý nhất? – Trả lời: Giản dị.

– Hỏi: Quan niệm của cha về hạnh phúc? – Trả lời: Đấu tranh.

– Hỏi: Đặc điểm chủ yếu ở Cha? – Trả lời: Mục đích trước sau như một.

– Hỏi: Tính xấu mà cha ghét nhất? – Trả lời: Xun xoe, quỵ lụy

– Hỏi: Câu cách ngôn mà cha thích nhất? – Trả lời: “Không có cái gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi”.

Qua hàng nghìn năm tồn tại và phát triển, dân tộc Việt Nam đã hình thành nên những giá trị nhân sinh đặc sắc, trong đó có triết lý sống. Điều này được biểu hiện ở những danh nhân và anh hùng dân tộc. Đức Vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), một trong những vị vua anh minh trong lịch sử Việt Nam; là người sáng lập Thiền phái Phật giáo Trúc lâm (một giá trị văn hóa tinh thần đặc sắc của dân tộc), ngay khi đang ở đỉnh cao của vinh quang và quyền lực, Ông đã để lại đằng sau tất cả những ham muốn trần tục, bước vào đời sống tu hành nhằm mưu cầu quốc thái dân an. Nguyễn Trãi (1380 – 1442), tác giả của Bình Ngô đại cáo luôn khẳng định: “Việc nhân nghĩa cốt ở an dân”. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ kế thừa mà còn phát triển triết lý sống cao đẹp của dân tộc lên tầm cao mới; đó là triết lý sống của cá nhân gắn liền với đạo đức cách mạng, đạo đức cộng sản chủ nghĩa.

Từ khi chế độ XHCN ra đời (1917) đến nay, xã hội XHCN do các đảng cộng sản lãnh đạo, cầm quyền đã phải đương đầu với biết bao hiểm nguy, gian khổ. Vừa phải đấu tranh chống lại sự bao vây, cấm vận, tiến công xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phát xít; vừa phải xây dựng chế độ mới, nhưng chế độ XHCN vẫn tồn tại và phát triển. Không ai có thể phủ nhận được rằng, với xã hội XHCN, loài người đã có thêm một sự lựa chọn lịch sử mới về con đường phát triển của nhân loại. Con đường mà ngày nay nhân dân lao động và những người tôn trọng sự bình đẳng và công bằng xã hội đang được đặt ra ở chính ngay những nước tư bản phát triển (mà “Phong trào Chiếm phố Uôn” là một ví dụ). Tuy nhiên chế độ XHCN, với mô hình Liên Xô – Đông Âu đã rơi vào khủng hoảng, sụp đổ trong những năm 80, đầu năm 90 của thế kỷ XX. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó có sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên (CB,ĐV) trong các đảng cộng sản cầm quyền.

Vì sao có hiện tượng này? Để trả lời câu hỏi đó, không chỉ phân tích những sai lầm, khuyết điểm trong quan điểm, đường lối chính sách của các đảng cộng sản cầm quyền, mà còn phải phân tích những vấn đề nằm sâu ở chính con người. Trong công trình “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel”, C. Mác đã viết “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí…; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng. Lý luận có thể thâm nhập vào quần chúng, khi nó chứng minh ad hominem (chứng minh ứng dụng vào con người; lấy một con người để chứng minh) và nó chứng minh ad hominem khi nó trở thành triệt để… Nhưng gốc rễ của con người, chính là bản thân con người”1. Chỉ dẫn của C. Mác có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với sự phân tích tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, nhất là đạo đức, lối sống của CB,ĐV ở nước ta hiện nay.

Thực tế cho thấy, những ham muốn vô độ về vật chất, tiền bạc, tài sản, quyền lực là khởi điểm dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống. Sự khác biệt giữa con người với các sinh vật là ở nhận thức và theo đuổi lợi ích của mình. Lợi ích đó bao gồm lợi ích tinh thần và lợi ích vật chất. Đây là nguồn gốc thúc đẩy sự vận động của lịch sử xã hội và cũng là nguồn gốc triết lý sống. Có những nhận thức chung và sự khác biệt trong triết lý sống ở mỗi người. Những nhận thức chung có thể là: cuộc sống của mỗi người là hữu hạn, rút cuộc ai cũng phải “ra đi”, trở về với cát bụi; những nhu cầu cơ bản của con người là tự do, bình đẳng, lòng thương yêu người thân, gia đình, đồng loại… Sự khác biệt trong nhận thức ở mỗi người (về các giá trị vật chất, tinh thần) có thể là: có người xem quyền lực, của cải, sự giàu có hơn người là niềm hãnh diện, là mục đích cuối cùng của đời người; có người lại xem mục đích cuối cùng của một đời người là sự hy sinh, cống hiến cho xã hội, cho dân tộc, là mong được nhìn thấy hạnh phúc của con cháu, người thân, nói rộng ra là hạnh phúc của nhân dân. Với Hồ Chí Minh, triết lý sống và đạo đức cách mạng luôn gắn liền với nhau và có vai trò quan trọng đặc biệt đối với người cộng sản. Người thường dùng mệnh đề “Tự mình phải” hoặc “đối với việc, đối với người, đối với mình”. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (tài liệu để Hồ Chí Minh đào tạo lý luận Mác – Lê-nin cho lớp cán bộ trẻ ở Quảng Châu, được xuất bản năm 1927), Người đặt lên hàng đầu việc giáo dục đạo đức cho những người cộng sản trẻ tuổi. Ngay ở chương đầu của tác phẩm này, Người viết về “Tư cách một người cách mệnh”; trong đó, đòi hỏi người cách mạng phải “giữ chủ nghĩa cho vững”, đặc biệt là “Ít lòng tham muốn về vật chất”2.

Nói đến đạo đức, triết lý sống không thể không nói đến khái niệm lương tâm, đó là sự tự phán xét đối với hành động và cả trong suy nghĩ của mỗi người. Sự tự phán xét, không phải về mặt trách nhiệm chính trị hay pháp lý mà về trách nhiệm đạo đức – rằng điều đó có phù hợp với triết lý sống hay không? và rút cuộc những việc mình làm sẽ góp phần đưa xã hội đến đâu, đem lại những giá trị gì cho chính mình? Ngụy biện đối với cơ quan, tổ chức và cả với chính mình thường là nơi trú ngụ của những hành vi sai trái, những việc làm tổn hại đến lợi ích của nhân dân, của chế độ xã hội. Ngày nay, ở nước ta, tham nhũng thường thông qua lợi ích cục bộ, “lợi ích nhóm”. Lý lẽ biện hộ của họ thường được giải thích bằng những “quyết định tập thể” hoặc do “cơ chế” để lẩn tránh trách nhiệm cá nhân. Không phủ nhận môi trường chính sách, pháp luật, cơ chế… của chúng ta cần tiếp tục được hoàn thiện, bởi vẫn còn những “khoảng trống” nào đó, nhất là trên lĩnh vực kinh tế, nhưng điều đó không phải là không có người chịu trách nhiệm. Ở đây, lương tâm, triết lý sống sẽ là sự phán xét trước hết đối với mỗi người.

Nói đến triết lý sống là nói tới nhận thức, quan niệm về vinh quanghổ thẹn. Hồ Chí Minh đã nói: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất thiết hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến, ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”3. Như vậy, với Hồ Chí Minh, những giá trị cao đẹp của mỗi cá nhân, của đảng cầm quyền, thậm chí của cả một dân tộc cũng có thể thay đổi, nếu không biết bảo vệ, phát triển những giá trị đó. Còn nhớ, sau khi V.I. Lê-nin, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và của các dân tộc bị áp bức qua đời (năm 1924), Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã viết “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính sự coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao đến các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người không gì ngăn cản nổi”4. Những điều Hồ Chí Minh ca ngợi V.I. Lê-nin, đặc biệt là đức tính coi khinh sự xa hoa, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị… cũng là quan niệm về triết lý sống và phẩm chất của Người.

Triết lý sống Hồ Chí Minh không phải là sống khổ hạnh, càng không phải là diệt dục, mà là một quan niệm sống hài hòa, giản dị, khiêm nhường, thanh cao về tinh thần và vật chất. Với Người, cách sống đẹp là sự hài hòa giữa con người với tự nhiên, giữa cá nhân với đồng bào, đồng chí. Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi nói về nếp sống giản dị, cần, kiệm, liêm, chính của Người, đã nhấn mạnh: là lãnh tụ của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh không thể sống khác như vậy được! Vào đầu năm 1946, sau thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch chính thức của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, khi trả lời các nhà báo nước ngoài, Người nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”5. Với Người, cương vị trọng trách không phải là quyền lực, quyền lợi mà là nghĩa vụ, trách nhiệm được giao nhằm phục vụ cho hạnh phúc của nhân dân. Còn nhu cầu có tính chất riêng tư thì đó là một cuộc sống giản dị, hòa nhập với nhân dân và hài hòa với tự nhiên.

Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng (khoá VII), tháng 01-1994, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra khái niệm “nguy cơ” đối với cách mạng Việt Nam. Đại hội XI của Đảng (tháng 01-2011) đã xác định những nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ CB,ĐV, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của CNXH, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”6. Trong những nguy cơ trên, Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) của Đảng xác định, sự suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ CB, ĐV “là nguy cơ lớn nhất đối với một đảng cầm quyền, như V.I. Lê-nin và Bác Hồ đã từng cảnh báo”7. Có nhiều giải pháp để phòng, chống, đẩy lùi những nguy cơ trên; trong đó, các tổ chức, các lực lượng trong hệ thống chính trị và toàn dân, trước hết là đội ngũ CB, ĐV các cấp cần coi việc nâng cao hơn nữa hiệu quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một giải pháp cơ bản, thường xuyên và cấp bách trong tình hình hiện nay.

Triết lý sống Hồ Chí Minh là phần tinh túy trong tư tưởng đạo đức của Người. Học tập và làm theo triết lý sống của Người không chỉ vì lợi ích của xã hội, của cách mạng Việt Nam, mà còn vì sự hoàn thiện nhân cách và hạnh phúc của mỗi người./.

TS. CAO ĐỨC THÁI
tapchiqptd.vn

___________

1- Các Mác, Phri-đích Ăng-ghen – Toàn tập, Tập 1, Nxb ST, H. 1978, tr. 27.

2- Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 2. Nxb CTQG, H. 2000, tr. 260.

3- Sđd – Tập 12, tr. 557.

4- Sđd – Tập 1, tr. 295.

5- Sđd- Tập 4, tr. 161.

6- ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011. tr. 29.

7- Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), ngày 28 tháng 02 năm 2012.

Pa Pa Hồ với Chậu Xu-pha-nu-vông: Câu chuyện vượt thế kỷ…

Những năm 60 của Thế kỷ 20, tôi công tác tại Đại sứ quán Việt Nam ở Mát-xcơ-va, may mắn được ít lần đưa đón Hoàng thân Xu-pha-nu-vông. Sau này ông Vũ Kỳ kể thêm nhiều chuyện, chúng tôi rút ra nhận định: Từng lời nói, việc làm của Bác Hồ đều là những bài học, lời răn dạy quí báu cho các thế hệ con cháu Việt Nam trong quan hệ Việt-Lào.

Bác Hồ đoàn kết Việt – Lào – Cam-pu-chia

Bác Hồ không chỉ lo cho độc lập, thống nhất đất nước và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới mà Người còn quan tâm đặc biệt tới khối đại đoàn kết ba nước Việt – Lào – Cam-pu-chia. Người không tán thành ý tưởng thành lập “Liên bang Đông Dương” chắc hẳn chỉ với tư tưởng chủ đạo: Tôn trọng quyền độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia dân tộc, chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa nước lớn. Người chủ trương đặt tên Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ năm 1930. Năm 1951 tại Đại hội II, chủ trương đổi tên Đảng Lao động Việt Nam và đề xuất hai nước Cam-pu-chia, Lào thành lập đảng riêng ở mỗi nước của Bác được đại diện hai nước anh em rất hoan nghênh. Chính Sta-lin và Mao Trạch Đông được Bác thông báo tháng 1-1950 cũng rất tán đồng sáng kiến này.

Hiện nay còn lưu giữ trong kho tư liệu của Trung ương biên bản viết tay lời giải thích thêm của Bác, đại ý, lúc này – năm 1951, mà nói đến giai cấp vô sản chuyên chính, lập chính quyền Xô Viết v.v.. ở Miên (Cam-pu-chia), Lào là chống lại chủ nghĩa Mác(1). Được biết, chính Hoàng thân Xu-pha-nu-vông (Chậu Xu-pha – tên gọi thân mật trong Hoàng cung) cũng rất tán thành với Bác Hồ rằng Hoàng thân “chưa vội” vào Đảng thì có lợi hơn cho cách mạng.

Sau Đại hội II “giải thể” Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập đảng riêng ở 3 nước, đã tiến hành Hội nghị liên minh để thành lập khối liên minh chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương(2) Chậu Xu-pha là đồng Chủ tịch của Khối.

pa pa 1Bác Hồ với gia đình Hoàng thân Xu-pha-nu-vông. Ảnh tư liệu.

Ông Vũ Kỳ giải thích, sự kiện lịch sử chứng tỏ Bác Hồ từ khi còn là anh thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã có tầm nhìn xuyên thấu ba nước Đông Dương phải dựa vào nhau mới tránh được “mũi dao thọc sườn” của kẻ thù từ bên ngoài trong mưu thâm “chia để trị” của đủ loại ngoại xâm. Rõ nhất là từ năm 1928 Người về Thái Lan đã qua Lào “một công đôi việc”: Tổ chức hoạt động yêu nước trong Việt Kiều, đồng thời qua đây, tìm hiểu, gây mầm trong các dân tộc Lào, đặc biệt trong dòng tộc của Phó vương Bun Khoống qua nhiều đời đều có tư tưởng chống ngoại bang xâm lược.

Năm 1941 về nước, Bác chỉ thị “bắt mối” gây dựng cơ sở yêu nước cách mạng trong các bộ tộc Lào. Từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, với tư cách đại biểu dự Hội nghị Trung ương VIII tại Pác Bó, Cao Bằng, Người chỉ đạo hội nghị thông qua Nghị quyết khẳng định: Nhật, Pháp ngày nay không phải chỉ là kẻ thủ của công nông mà là kẻ thù của cả các dân tộc Đông Dương. Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương thoát khỏi ách của giặc Pháp Nhật… (3)

Việt Minh bí mật bảo vệ ông Hoàng

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, kỹ sư Chậu Xu-pha đang trông coi thi công cầu Yên Xuân – Nghệ An. Chủ tịch Ủy ban hành chính Đà Nẵng Lê Văn Hiến nhận lệnh bổ sung vào Đoàn đại diện Chính phủ dự lễ thoái vị của vua Bảo Đại, sau đó đón ông ta ra Hà Nội và qua Vinh thì mời ông bà Hoàng thân cùng đi chuyến xe. Dọc đường xe ông bà bị hỏng, được mời sang xe Bảo Đại. Bà Hoàng không muốn ngồi cùng xe với ông vua bị hạ bệ đầy tai tiếng, nên đề nghị ở lại sửa xe, ra sau, nhưng mặt khác, lại lo cho ông Hoàng ra Hà Nội sẽ ăn, ở đâu, Chính phủ Cụ Hồ đối đãi thế nào…?

Bà nóng lòng tìm gặp cho được chồng mình. Người cần vụ lễ phép dẫn bà vào Dinh Khâm sai, qua vài phòng cửa đóng then cài vắng teo, bà càng nghi ngại, nóng ruột. Một anh khác vội chạy tới báo: Hoàng thân đang dùng bữa dưới bếp – bà Hoàng càng chẳng hiểu ra làm sao, vội bước theo xuống… bếp. Tới cửa bà sững lại: Đúng là Chậu Xu-pha cùng Cụ Hồ y chang trong ảnh – đang ăn cơm vui vẻ. Hai vị buông đũa bát. Cụ Chủ tịch nhanh nhẹn đứng lên đỡ bà tới ngồi cạnh ông: Cô ăn cơm luôn! Bà chưa kịp định thần, dạ, dạ như một cái máy…

Theo lệnh Chủ tịch, một đĩa ruốc được bưng ra. Cụ nói: “Món đặc sản này đồng bào Hà Nội vừa cho tôi, chúng tôi đã dùng, cô ăn nhiều đi cho hồi sức mấy ngày đi đường mệt…”. Nghe lời Cụ Chủ tịch chân tình, giản dị quá, cổ bà cứ nghẹn lại, cố giữ cho nước mắt khỏi ứa ra… Anh cần vụ xới bát cơm đặt trước mặt bà. Cơm gạo đỏ rẻ tiền, muối mè, dưa chua và chút xì dầu như bữa ăn nơi cửa thiền. Vậy mà là bữa cơm ngon lành, hạnh phúc trong đời bà và chắc hẳn cả ông, chưa bao giờ cảm nhận được như thế!

papa 1Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng và Thủ tướng Vương quốc Lào
Su-va-na Phu-ma ký tuyên bố chung Việt Nam – Lào tại Hà Nội (1962).
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Xu-pha-nu-vông đứng sau chứng kiến. Ảnh tư liệu.

Cơm nước xong, Cụ Hồ chủ động mời: Để Chậu đưa cô đi nghỉ… Trên gác hai, một phòng rộng sang trọng, chiếc giường to quá cỡ còn phủ nguyên khăn trải giường phẳng phiu, trắng muốt. Trên nền sàn gỗ giữa phòng trải chiếc chiếu mộc, một gối mây dài hơn một mét. Ông Hoàng cho biết: Mấy đêm rồi, Cụ và ông ngủ chung, cùng gối cái gối này. Ông mừng quá “lộ” bí mật với bà về chuyện còn giật mình nữa kia mà không hay biết.

– Chuyện chi lạ dữ vậy mình? – bà vội hỏi

Thì ra, từ lâu, hai kẻ thù Nhật, Pháp gầm ghè tranh miếng mồi Đông Dương, ở Lào, các nhà yêu nước như anh em Hoàng thân Phết-xa-lạt, Xu-pha-nu-vông đều là mục tiêu hàng đầu trong sổ đen của chúng. Do đó, Việt Minh đã theo sát, bảo vệ anh em Hoàng thân mà người chỉ huy trực tiếp chính là Trần Đăng Khoa – bạn thân, đồng nghiệp của ông. “Và, Cụ Hồ… mình đã hay… là ai chưa? Cụ Nguyễn Ái Quốc đấy!…” Bà Hoàng thốt lên: “-Trời đất ơi! Bà con ta đồn đại không sai: Cụ Hồ là vị thánh sống, vị cứu tinh của các dân tộc Đông Dương…”.

Ông Hoàng còn nói, Cụ lo cả khả năng xấu từ phía “người… mình” tự phát trong những ngày sục sôi cách mạng nên “giấu kín” ông, ông “đâm lo”… (Hoàng thân quen dùng từ “mình” cả khi nói với chúng tôi: mỏ than Hồng Quảng của mình, cảng Tu-ran của mình v.v..)

Song, điều ông vui mừng nhất muốn khoe với bà là chỉ mới ít ngày gần Cụ mà lòng dạ, tầm nhìn ở ông đã sáng ra, đổi mới, hứa hẹn một tương lai mới cho các bộ tộc Lào và nhân dân anh em ba nước Đông Dương. Ông chưa thấy có sách báo nào, bậc vĩ nhân nào nêu được tấm gương chân thực như Cụ Hồ về lý tưởng độc lập tự do cho dân tộc, đạo đức, nhân cách lớn của con người. Ông khẳng định sẽ học tập, đi theo con đường của Cụ và đề nghị bà cùng gọi cụ là Pa Pa Hồ. Bà mừng: Sao mình nói trúng ý em thế…. Người Việt ta đã gọi “Hồ Chí Minh – vị cha già dân tộc… Người Lào cũng sẽ gọi PaPa Hồ…”.

Ba anh em phải chung lưng đấu cật

Một lần, Hoàng thân cùng dịp Thủ tướng Chu Ân Lai qua Mát-xcơ-va đi Thụy Sĩ chuẩn bị họp Hội nghị Giơ-ne-vơ về Lào, ông Chu mời Thứ trưởng Ngoại giao Liên Xô Cu-dơ-nhét-xốp (sau là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô) cùng Hoàng thân dự cơm thân mật. Đại biện lâm thời Sứ quán ta Nguyễn Hữu Ngô cũng được mời, tôi tháp tùng. Trong chuyện vui, ông Cu-dơ-nhét-xốp ví Chính phủ Lào hiện tại giống như mùa đông ba anh em đắp chung một cái chăn. Người nằm giữa – chỉ Hoàng thân trung lập Phu-ma không phải co kéo gì vẫn luôn được ấm, trong khi hai bên tả-hữu: Xu-pha-nu-vông và Hoàng thân Bun-ùm (thân phương Tây) – bên này kéo được ấm thì bên kia hở bị lạnh.

Hôm tôi dẫn Hoàng thân và nhà văn Xi-xa-nạ Xa-văn đi Ôs-tan-ki-nô thăm Triển lãm thành tựu kinh tế quốc dân Liên Xô, Hoàng thân chậm rãi nói: – Bác Hồ mình có hình tượng ba anh em tựa lưng vào nhau chống thù ngoài. Đó là Việt – Cam-pu-chia – Lào ba nước tựa vào dãy Trường Sơn… Bác nói sau Đại hội II, hôm đó có cả đại biểu Sơn Ngọc Minh của Cam-pu-chia cũng rất tán thưởng. Trong ngôn ngữ ba nước đều có câu chung ý nghĩa: “một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”- đó cũng chính là nội dung một học thuyết cơ bản của Hồ Chí Minh: Đoàn kết đại đoàn kết, thành công đại thành công.

Chuyện cho nghìn năm sau

Ông Vũ Kỳ theo dõi từ đầu đến cuối một chuyện lạ, sau đó hỏi thêm tướng Lê Chưởng tháp tùng hai vị lãnh đạo Bạn cho trọn vẹn. Ấy là vào đầu năm 1963, Hồ Chủ tịch tiếp Hoàng thân Xu-pha-nu-vông và Tổng Bí thư Đảng cách mạng Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hản. Từ hôm trước, Bác chỉ bảo ông Vũ Kỳ chuẩn bị cho hai chiếc khăn len quàng cổ, không nói để làm gì.

Khách vừa an tọa, chủ thân mật hỏi: Ở Lào không rét như bên này thì phải. Sang đây các đồng chí có rét lắm không? Sao các đồng chí không quàng khăn cổ cho ấm?

– Dạ thưa, khi sang Hà Nội thì trời chưa trở gió mùa Đông Bắc ạ!

– Thế thì rét lắm! Có khăn quàng cổ đấy! Nói đoạn, Bác đứng lên vào phía trong lấy ra hai chiếc khăn mới, chậm rãi đặt xuống bàn, rồi cởi chiếc khăn đang quàng cổ ra, nói:

– Đồng chí Xu-pha-nu-vông và tôi tuổi cao, già cả nên hai chiếc khăn mới này dành cho chúng tôi mỗi người một cái. Người trao tay một chiếc cho Hoàng thân, một chiếc tự quàng cổ, rồi cầm chiếc khăn cũ đi lại bên phía đồng chí Cay-xỏn, nói: – Đồng chí Cay-xỏn, Bác trao lại chiếc khăn này của Bác cho đồng chí!

Có lẽ trong cuộc tiếp kiến còn nhiều chuyện, tới khi ngồi trong xe trên đường về, hai vị khách mới hồi tưởng không thể vô tình về 3 chiếc khăn. Hoàng thân bỗng quay sang đồng chí Bảy Cay – xỏn nói to:

– Chà, Bác Hồ với tôi, hai người già hai khăn mới…

– Còn tôi, tôi được “kế thừa” khăn Bác Hồ…

Không hiểu sao chỉ nói được đến đó, Tổng Bí thư Đảng anh em bỗng im lặng, trầm ngẫm suy nghĩ, hẳn là về hai chữ KẾ THỪA…

——————–

(1) GS. Trịnh Nhu. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Kỷ niệm 60 năm Đại hội II của Đảng. Tháng 2/2011 tại Kim Bình, Chiêm Hóa, Tuyên Quang.

(2) Hồ Chí Minh toàn tập. T.6. Trang 186. NXB CTQG. 2006.

(3) Văn kiện Đảng 1930 – 1945. Tập 3. Trang 195-196.

Trịnh Tố Long
Theo http://www.qdnd.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Tình cảm Bác Hồ dành cho phụ nữ Việt Nam

“Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta
trẻ cũng như già, ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”
– Hồ Chí Minh

Bác hồ với đại biểu phụ nữ dân tộc ít ngườiBác Hồ và đại biểu phụ nữ dân tộc ít người
tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ III, tháng 3 năm 1961
.

Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ vĩ đại, một con người tiêu biểu cho lòng yêu nước, yêu thương con người. Người có một tấm lòng yêu thương rộng mở với tất cả lớp người cùng khổ trên thế gian. Trong đó người đặc biệt dành tình cảm sâu nặng nghĩa tình, nâng niu quý trọng cho trẻ em và phụ nữ. Người cho đó là lớp người khổ nhất trong những người khổ cực.

Ngay từ khi bôn ba nơi đất khách quê người, tìm đường cứu nước, Bác của chúng ta cũng luôn quan tâm đến sự khổ cực, bất công mà phụ nữ ở các nước thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng phải chịu đựng. Trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” Người đã thẳng thắn lên án bọn cai trị đã đối xử hết sức bất công tàn bạo với phụ nữ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định rằng: “Nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội”. Và không chỉ đánh giá đúng vai trò, vị trí của người phụ nữ trong xã hội, trong quá trình đấu tranh giành độc lập, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Bác Hồ luôn là nguồn động viên, cổ vũ cho phụ nữ Việt Nam phấn đấu vươn lên, khẳng định vị thế và những đóng góp của mình cho xã hội.

Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với con đường cứu nước của Lênin vĩ đại. Từ bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga, ý thức sâu sắc rằng, cứu nước là công việc chung của tất cả mọi người, hơn ai hết, Bác Hồ hiểu và đồng cảm với thân phận của người phụ nữ Việt Nam, để từ đó đánh giá đúng về họ, tin vào họ. Là người Việt Nam đầu tiên đặt nhiệm vụ giải phóng phụ nữ trong nhiệm vụ giải phóng dân tộc, Người khẳng định: Phụ nữ là một lực lượng hùng hậu trong sự nghiệp cách mạng qua mọi thời đại. Người coi sự nghiệp giải phóng phụ nữ cũng là một mục tiêu của cách mạng. Theo Người, sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có ý nghĩa thực sự khi giải phóng được phụ nữ, bởi vì: “Phụ nữ chiếm một nửa nhân loại, nói đến phụ nữ là nói đến một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng xã hội chủ nghĩa chỉ một nửa”.

Quan điểm nam nữ bình quyền của Bác được xác định ngay trong bản Cương lĩnh đầu tiên của Đảng và mục tiêu này cũng được Người đưa vào chương trình hoạt động của Việt Minh năm 1941… Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Bác cũng khẳng định với toàn thể đồng bào và tất cả bạn bè thế giới về quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam với nam giới. Trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa chị em phụ nữ Việt Nam cũng được xếp ngang hàng với nam giới không phân biệt trong việc ứng cử cũng như bầu cử. Ngày 20 tháng 10 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam để tập hợp phụ nữ Việt Nam thành một khối thống nhất.

Suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Người luôn đề cao vai trò của phụ nữ. Trong diễn ca “Lịch sử nước ta” Bác đã khẳng định:

“Phụ nữ ta chẳng tầm thường
Đánh đông dẹp Bắc lắm gương để đời”

Và vì thế Người luôn tự hào rằng “Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng… Phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng”, cả trong kháng chiến chống Pháp. Rồi chống Mỹ “ta cũng có nhiều anh hùng là phụ nữ”. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, với những đóng góp to lớn của họ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Từ trước đến nay phụ nữ Việt Nam ta đã có nhiều đóng góp cho cách mạng, phụ nữ ta rất đáng kính, phụ nữ ta đã có rất nhiều tiến bộ”. Tuy nhiên, hiểu rất rõ rằng cuộc cách mạng giải phóng phụ nữ không thể kết thúc một sớm, một chiều được, một mặt động viên chị em tự mình khắc phục khó khăn, cố gắng phấn đấu, mặt khác Người cũng “mong phụ nữ tiến bộ nhiều hơn nữa”. Bởi theo Người, muốn giải phóng phụ nữ, muốn biến sự bình đẳng nam nữ thành hiện thực sinh động trong cuộc sống thường ngày, thì phải có sự tiến bộ về nhiều mặt: Kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội…Đấu tranh để giải phóng phụ nữ thực sự là một cuộc đấu tranh to và khó, vì “trọng trai, khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại, vì nó đã ăn sâu trong đầu mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội”. Khó nhưng không có nghĩa là không thể thực hiện được, và từ trong thực tiễn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, phụ nữ Việt Nam đã ngày mỗi ngày một tiến bộ. Họ đã tỏ rõ vai trò người chủ, “xứng đáng mình là một phần tử trong nước Việt Nam mới”.

Đáp lại tấm chân tình của Bác giành cho phụ nữ Việt Nam, các thế hệ phụ nữ Việt Nam ta đã góp phần làm nên những chiến công hiển hách, xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ trao tặng: Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đangTrong thời chiến, chị em không hề thua kém cánh nam giới mà tham gia kháng chiến chống giặc cứu nước mạnh mẽ hơn, hiên ngang hơn, với hừng hục khí thế, sẳn sàng chống lại mọi bom đạn, ngục tù của quân thù… để kháng chiến thành công giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Hòa bình lập lại tất cả phụ nữ Việt Nam lại cùng chung vai, chung sức với nam giới để bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta ngày càng giàu đẹp hơn, văn minh hơn.

Ngày 20 tháng 10 hàng năm là dịp để tôn vinh phụ nữ Việt Nam cũng là cơ hội để chị em tỏ lòng biết ơn với Bác kính yêu, cũng như nhìn lại những chặng đường lịch sử đã qua của dân tộc để cảm thấy tự hào về những gì mà phụ nữ Việt Nam đã làm. Đó là những tấm gương anh hùng lao động, những chiến sỹ thi đua, những tấm huân chương, những giải thưởng khoa học là bằng chứng ghi nhận công lao đóng góp của chị em phụ nữ, dấu ấn ghi đậm truyền thống phụ nữ Việt Nam giỏi việc nước, đảm việc nhà. Để từ đó nhận thức được vai trò trách nhiệm của mình, không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chính trị, năng lực chuyên môn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Chứng minh rằng phụ nữ Việt Nam không chỉ là người mẹ hiền đảm đang giữ gìn hạnh phúc gia đình, mà còn là những nhà khoa học, những vị lãnh đạo tài năng có những cương vị cao trong các cơ quan Đảng và Nhà nước từ cơ sở đến Trung ương, xứng đáng với sự quan tâm và tin tưởng của Bác Hồ kính yêu./.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Nhân cách và tài trí của Người trong việc tiếp khách phụ nữ quốc tế

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ thiên tài mà còn là một nhà ngoại giao kiệt xuất. Nhiều chính khách nguyên thủ quốc gia khi tiếp xúc với Bác đều cảm thấy quý mến và nể trọng. Đặc biệt, các vị khách quốc tế đã được gặp Bác, dù chỉ một lần, đều có sự cảm phục sâu sắc.

Trong lúc toàn Đảng, toàn dân ta đang thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, xin kể lại một số mẩu chuyện tiếp khách phụ nữ quốc tế của Bác nhằm giúp bạn đọc tăng thêm niềm tự hào, tôn kính đối với Người – một danh nhân văn hóa của nhân loại…

Đầu năm 1958, nhận lời mời của Tổng thống nước In-đô-nê-xi-a, Bác Hồ đã sang thăm quốc đảo này trong thời gian 10 ngày. Vợ chồng Tổng thống Xu-các-nô đón Bác hết sức trọng thể về mặt quốc gia, nhưng lại thân tình như người anh cả trong đại gia đình. Cả hai vợ chồng luôn tháp tùng cùng Bác đi thăm nhiều nơi trên đất nước có hơn 3.000 đảo dừa xinh đẹp.

Xu-các-nô là vị Tổng thống tài hoa, từng đạo diễn phim, soạn nhạc và cả chỉ huy dàn nhạc. Ông có khá nhiều vợ trên một số hòn đảo, vì vậy mà đệ nhất phu nhân không khỏi nổi máu Hoạn Thư. Thời gian Bác Hồ ở thăm, Bác đã có các cuộc gặp riêng vợ chồng Tổng thống và có nhiều ý kiến phân giải rất sâu sắc. Về sau, bà Xu-các-nô đã nói: “Tôi lấy làm biết ơn anh cả Hồ”.

Bác mời ông bà Tổng thống sang thăm nước ta, vợ chồng Tổng thống vui vẻ và nhận lời. Nhưng không hiểu sao lần sang thăm Việt Nam của Tổng thống Xu-các-nô sau khi Bác Hồ thăm lại In-đô-nê-xi-a lại không có bà Tổng thống đệ nhất phu nhân Xu-các-nô. Nhà nước ta đón tiếp cực kỳ trọng thể. Có 24 phát đại bác đón và tiễn; có chiếu lót đường và thảm đỏ trải trước Dinh Chủ tịch nước. Khi lên máy bay, một lần nữa Tổng thống In-đô-nê-xi-a phát biểu: “Xin tạm biệt anh cả Hồ Chí Minh”.

Hai tháng sau, bà Xu-các-nô lại sang thăm nước ta cùng với một số bà khác với tư cách Phu nhân Tổng thống. Thông báo ngoại giao đưa tin trên báo, nhân dân ta xôn xao: Ai ra đón bà? Chủ tịch Hội Phụ nữ, bà Thập chăng? Nhưng khi máy bay của bà Xu-các-nô đáp xuống phi trường Gia Lâm thì đã thấy Bác Hồ cầm hoa đón bà. Sau khi tặng hoa, bắt tay bà Tổng thống và các bà trong đoàn, Bác đến máy phóng thanh, không đọc diễn văn mà nói vài lời vắn tắt: “Nhân dân ta vừa đón Tổng thống nước Cộng hòa In-đô-nê-xi-a Xu-các-nô đem tới cho chúng ta tình đoàn kết, hòa bình, hữu nghị, thì lần này, nhân dân và phụ nữ Hà Nội lại đón thím Xu-các-nô. Tôi thân ái chào mừng và chúc thím trong thời gian ở thăm Hà Nội, Việt Nam tự nhiên như ở trên đất nước mình. Phụ nữ Hà Nội rất mến khách và cảm tình với phụ nữ In-đô-nê-xi-a và phụ nữ thế giới.”

Hàng ngàn người có mặt vỗ tay và cười vui khi nghe Bác gọi bà Tổng thống bằng thím. Vậy đó, với một Tổng thống nước đông dân In-đô-nê-xi-a và phu nhân, Bác Hồ của chúng ta đã được họ tôn vinh là người anh cả. Không phải ngẫu nhiên mà Bác gọi đệ nhất Phu nhân Tổng thống Xu-các-nô bằng thím.

Với nữ ký giả Pháp – bà Mađơlen Ríepphê, Hồ Chủ tịch là người cha thân yêu, hễ nữ ký giả này đến Hà Nội là xin vào gặp Bác, được Bác tiếp chuyện, mời cơm. Bác hỏi thăm nước Pháp, các đồng chí lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp và những người bạn của Bác nay ai còn ai mất. Mađơlen coi Bác như người cha của mình.

Còn con gái Thủ tướng Nê-ru (Ấn Độ) theo cha sang thăm Việt Nam, Bác Hồ đã dành thì giờ trò chuyện thân tình như đối với con cháu. Sau này, bà thay cha lên làm Thủ tướng nước Ấn Độ, có dịp gặp đoàn Việt Nam là bà bày tỏ lòng kính trọng với Bác Hồ. Theo bà thì Bác Hồ thật vĩ đại bởi Bác vô cùng giản dị. Bà noi gương Bác Hồ về phong cách gần gũi nhân dân.

Đặc biệt, cô con gái luật sư Lô-zơ-bai cùng cha sang Hà Nội thăm Bác Hồ, cô yêu quý Bác và bắt Bác chiều cô như khi Bác ở trong nhà cô tại Hồng Kông. Hồi ấy, Bác hoạt động bí mật, bị nhà cầm quyền Hồng Kông bắt, định nộp cho Pháp. Luật sư Lô-zơ-bai và cả gia đình đã giúp Bác thoát khỏi nanh vuốt kẻ thù. Năm 1969, khi nghe tin Bác qua đời, cô con gái ông bà luật sư khóc nức nở và cùng với cả gia đình đã để tang Bác như đối với một người ruột thịt…

Hồng Nhung
Theo http://www.vhttcs.org.vn

Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Người phụ nữ đặc biệt và bữa cơm với Hồ Chủ tịch

Mái tóc dài buông xõa, đôi hàng lông mày cong cong, khóe miệng tươi ghi dấu một thời xuân sắc, gặp bà Trương Thị Khuê ít ai có thể nghĩ trong cái thời “ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam” người phụ nữ ấy kiên gan cầm súng canh giữ từng tấc đất Vĩnh Linh. Bà đã cùng đồng đội sáu lần bắn rơi máy bay địch, ba lần vinh dự gặp mặt Bác Hồ…

Bắn rơi 6 máy bay địch

Nơi đầu sóng ngọn gió của thời kỳ chống Mỹ, năm 1945, Trương Thị Khuê sinh ra trong một gia đình nông dân xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Mảnh đất khói lửa ấy đã sớm được hun đúc nên một cá tính mạnh mẽ và quả cảm.

Mới lên chín tuổi thì mẹ mất, tới 18 tuổi bố bị bom Mỹ giết hại, hoàn cảnh gia đình đã rèn cho cô bé Khuê tính tự lập, đảm đang, không chỉ trong gia đình mà ở các hoạt động của cộng đồng như phụ trách đội thiếu nhi, đội du kích…

Năm 1965, ở tuổi 20, Trương Thị Khuê đã trở thành Xã đội phó kiêm Trung đội trưởng pháo 12 ly 7 xã Vĩnh Thủy, khu vực Vĩnh Linh. Trong thời gian này bà đã cùng đơn vị dũng cảm, tích cực tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Bà cùng đồng đội từng bắn rơi sáu chiếc máy bay địch, bắt giữ hàng chục lính Ngụy. Tuy nhiên khi nói về những thành tích này, bà chỉ khiêm tốn nói “của đơn vị đấy, chứ tôi có làm được gì đâu.”

Bởi bà tâm niệm giản dị rằng: “Đừng ai nói với tôi là sao bà lại có thể như thế này, như thế kia. Không phải là người phụ nữ Việt Nam thích chiến đấu đâu. Đơn giản là vì Mỹ mang quân đến Việt Nam xâm lược nên mình phải đánh trả lại thôi.”

Với những thành tích trong chiến đấu, bà Trương Thị Khuê đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và Huy hiệu Bác Hồ. Đặc biệt, tháng 8 năm 1968, dân quân xã Vĩnh Thủy đã được tuyên dương đơn vị Anh hùng, bản thân bà cũng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất và được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang.

Và bữa trưa với Bác…

Tuy nhiên, khi được hỏi trong chặng đường chiến đấu và kiên trung bảo vệ Tổ quốc phần thưởng cao quý nhất với bà là gì, bà Khuê nói, đó là những  lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, được ăn cơm cùng Bác, được kể chuyện chiến đấu cho Bác nghe, được hát phục vụ Bác.

“Tôi không bao giờ có thể quên, bây giờ những hình ảnh ấy vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi. Bác kể chuyện, đem kẹo cho chúng tôi ăn. Nhưng cảm động nhất là bữa cơm được ăn cùng Bác có đĩa cá tre mà trong tôi gọi là cá hẹ kho, đĩa gà luộc, đĩa rau muống luộc, cà muối. Bữa trưa có thế thôi nhưng ấm áp vô cùng,” bà Khuê bồi hồi nhớ lại.

Nhắc đến đây bà Khuê rưng rưng nói: “Cảm động nhất là Bác tự tay chia phần cơm cho chúng tôi khiến chúng tôi nghẹn ngào không ăn được. Vì nghĩ hoàn cảnh mình là trẻ mồ côi không có ai chăm sóc, nhìn Bác gần gũi và giản dị giống như ông nội, ông ngoại của mình thôi, chứ không giống một vị Chủ tịch nước.”

Cũng trong năm đó, bà Khuê được Bác Hồ cho phép ở lại Hà Nội học tập phục vụ xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Nhưng với tình yêu quê hương mãnh liệt, cùng mong muốn được kề vai sát cánh cùng đồng đội bảo vệ mảnh đất Vĩnh Linh khói lửa, bà lại trở về phục vụ kháng chiến. Chỉ đến khi hòa bình lập lại, bà mới rời tay súng tham gia công tác Hội Phụ nữ địa phương.

Hai lần được gặp Bác Hồ sau đó đều trở thành những dấu ấn, để lại nhiều bài học về lối sống cũng như nhân cách cao đẹp của vị lãnh tụ đáng kính và có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời bà Trương Thị Khuê.

Năm 1997, bà được tín nhiệm bầu là ủy viên Đảng đoàn – Phó Chủ tịch rồi đến Phó Chủ tịch thường trực, Phó Bí thư Đảng đoàn Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, nhiều năm liền bà là Đại biểu Quốc hội.

Trong gần 30 năm làm công tác Hội Phụ nữ, bà luôn tâm huyết và có trách nhiệm trước các phong trào của Hội. Bà trăn trở về thực trạng đời sống kinh tế, văn hóa của phụ nữ vùng sâu, vùng xa, những vấn đề còn bức xúc về lao động nữ trong các khu công nghiệp, sự bất bình đẳng giới diễn ra ở nhiều nơi.

Bởi trong mắt bà, vị thế của người phụ nữ cũng cần được củng cố và nâng cao trong cả gia đình và xã hội. Bà trở thành tấm gương sáng cho các cán bộ phụ nữ của cả nước và ngay tại quê hương mình.

Đến nay, khi đã bước vào tuổi “thất thập cổ lai hy,” cái tuổi lẽ ra đã được an nhàn vui vầy cùng con cháu thì bà Khuê vẫn cần mẫn tham gia các công tác xã hội địa phương. Bà tâm niệm “mình từng là cán bộ, phải gương mẫu chứ.”./.

Theo Xuân Mai (Vietnam+)
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 3)

Nói về người cách mạng và Đảng cách mạng, nhà đại văn hào Trung Quốc là ông Lỗ Tấn có câu thơ:

“Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ, Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu”.

Xin tạm dịch là:

“Trợn mắt xem khinh nghìn lực sĩ,

Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”.

“Nghìn lực sĩ” có nghĩa là những kẻ địch mạnh, thí dụ: Lũ thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ. Cũng có nghĩa là những sự khó khăn gian khổ.

“Các nhi đồng” nghĩa là quần chúng nhân dân hiền lành, đông đảo. Cũng có nghĩa là những công việc ích quốc, lợi dân.

Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”.

“Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam”, 3/3/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.184-185).

“…người đảng viên, dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp – ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng.

Mỗi đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành. Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo.

Mà muốn cho quần chúng nghe lời mình, làm theo mình, thì người đảng viên, từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu. Thế là làm cho dân tin Đảng, phục Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và của Chính phủ.

Đảng viên nào không được dân tin, dân phục, dân yêu thì chưa xứng đáng là một người đảng viên của Đảng Lao động Việt Nam.

Vì vậy, mỗi đảng viên phải luôn luôn cố gắng”.

(“Người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam phải thế nào?”, 25/3/1951, Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.189-190).

“Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân. Mỗi quân nhân phải là một cán bộ tuyên truyền bằng việc làm của quân đội. Trong mấy chiến dịch vừa qua, nói chung bộ đội ta đã biết giúp đỡ dân, thương yêu dân. Nhưng cũng còn có chú dọa nạt dân, mượn của dân không trả, mua rẻ của dân. Phải sửa chữa những khuyết điểm ấy. Dân như nước, quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc”.

(“Bài nói tại Hội nghị kiểm thảo chiến dịch đường số 18”, 04/5/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.207).

“Cách mạng cũng như một bộ máy, phải có phân công, người làm việc này, người làm việc khác nhưng việc nào cũng cần thiết, cũng quan trọng. Thí dụ trong một cái đồng hồ, những cái kim thì chạy suốt ngày đêm, những chữ số thì suốt đời đứng một chỗ. Nếu những chữ số cũng muốn chạy như cái kim, hay là cái kim cũng muốn đứng lại như chữ số thì không thành cái đồng hồ nữa”.

(“Thư gửi lớp cán bộ cung cấp”, 02/9/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.296).

“Có người cho đạo đức cũ và đạo đức mới không có gì khác nhau. Nói như vậy là lầm to. Đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều.

Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời. Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân”.

 (“Bài nói chuyện tại Trường Chính trị trung cấp quân đội”, 25/10/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.320-321).

“Để thực hiện chính sách, làm trọn nhiệm vụ, cán bộ chẳng những phải chịu khó giải thích, tuyên truyền, cổ động mà còn phải bàn bạc với quần chúng, hỏi han ý kiến, gom góp sáng kiến của quần chúng. Lãnh đạo quần chúng và hoan nghênh quần chúng phê bình…Tóm lại, phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân.

Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm”.

(“Tinh thần trách nhiệm”, 13/12/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.346).

“Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân. Đánh giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào khác.

Quân đội ta biết rằng: Cơm quân đội ăn, áo quân đội mặc, vũ khí quân đội dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân tăng gia sản xuất, đóng thuế nông nghiệp mà có. Nhân dân thức khuya dậy sớm, ăn gió nằm sương, để đắp đường sửa cầu cho bộ đội đi. Nhân dân không quản trèo đèo lội suối, không quản khó nhọc gian lao, để chuyên chở súng đạn cho bộ đội đánh giặc. Tóm lại, quân đội sinh trưởng, thắng lợi, là nhờ nhân dân ra sức giúp đỡ. Vì thế, bộ đội rất biết ơn và yêu mến nhân dân.

Về phía nhân dân thì ai cũng biết rằng: Có quân đội đánh giặc và giữ làng giữ nước, mình mới được yên ổn làm ăn, Tổ quốc mới được thống nhất, độc lập. Trong công cuộc kháng chiến cứu nước, nhân dân hy sinh là hy sinh một phần của cải và thời giờ. Của cải hết, có thể lại làm ra; thời giờ qua, thời giờ lại đến. Nhưng bộ đội hy sinh là hy sinh xương máu, có khi hy sinh cả tính mệnh. Cụt chân, gẫy tay, chân tay không thể mọc lại; người chết không thể sống lại. Đó là một sự hy sinh tuyệt đối. Đồng bào biết rằng: Các chiến sỹ trong bộ đội ai cũng có cha mẹ anh em, ai cũng có gia đình thân thích. Nhưng họ đã không ngại rời cha mẹ, xa quê hương, ra xông pha bom đạn, để phụng sự đại gia đình dân tộc gồm cả gia đình của mỗi đồng bào. Do đó nhân dân rất biết ơn và yêu mến bộ đội”.

(“Tình đoàn kết quân dân ngày thêm bền chặt”, 3/3/1952, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.426-427).

“Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là nhân công làm đày tớ cho dân.

Đó là vinh dự cao nhất. Nếu có thành tích gì thì Chủ tịch và người nấu cơm phải chia nhau cái vinh dự ấy. Tóm lại không có việc sang, hèn. Công việc gì làm tròn, bổ ích cho kháng chiến, cho nhân dân đều là công việc sang, công việc gì bên ngoài có vẻ loè loẹt mà không làm tròn là công việc xấu”.

(“Bài nói tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất”, tháng 6 năm 1952, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.515).

“Quần chúng rất nhiều sáng kiến, họ hiểu biết rất mau, nhất là những cái thuộc về quyền lợi của họ. Cán bộ phải tìm hiểu quần chúng, phải học hỏi quần chúng để lãnh đạo quần chúng. Cán bộ phải kiên nhẫn, quyết tâm, phải chí công vô tư. Nếu tự tư, tự lợi, lập trường không vững, tư tưởng không thông, thì tài giỏi gì cũng vô dụng, vì quần chúng rất thông minh. Ai ra sức phục vụ, ai tự tư, tự lợi, họ biết ngay, không giấu được họ”.

(“Bài nói tại Hội nghị nông vận và dân vận toàn quốc”, 5/2/1953, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.7, tr.28).

“Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành tận tuỵ của nhân dân”.

(“Lời kêu gọi nhân dân Ngày Thủ đô giải phóng”, 10/10/1954, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.7, tr.361-362).

“Chủ nghĩa xã hội là cái gì? Là mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do. Nhưng nếu muốn tách riêng một mình mà ngồi ăn no, mặc ấm, người khác mặc kệ, thế là không tốt. Mình muốn ăn no, mặc ấm, cũng cần làm sao cho tất cả mọi người được ăn no mặc ấm, như thế mới đúng. Muốn như vậy, phải ra sức công tác, ra sức lao động sản xuất.

Tiền đồ của mỗi người nằm trong tiền đồ chung của dân tộc”.

(“Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục”, tháng 6 năm 1957, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.8, tr.396).

…Đảng viên và cán bộ ta nói chung là trung thành, tận tụy, hăng hái. Nhưng một số đảng viên và cán bộ còn có bệnh công thần, suy tị, ỷ lại, tiêu cực không gương mẫu, đầy rẫy chủ nghĩa cá nhân.

Từ nay về sau, tất cả các đảng viên, cán bộ và chi bộ phải thường thường ôn lại, tự liên hệ và giữ đúng những tiêu chuẩn của người đảng viên:

1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

2. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm. Kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài.

3. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng.

4. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và kỷ luật của Đảng.

5. Liên hệ chặt chẽ với quần chúng.

6. Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình.

Phải giữ đúng những tiêu chuẩn đó mới xứng đáng là người đảng viên”.

(Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An”, 18/1/1960, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.10, tr. 33-34).

Phải thấu suốt chính sách của Đảng và Chính phủ. Phải đi đúng đường lối quần chúng.

Phải thật sự gần gũi nhân dân, lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của nhân dân, học hỏi kinh nghiệm của nhân dân.

Phải biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của quần chúng.

Phải thiết thực quan tâm đến đời sống của nhân dân.

Phải cần, kiệm, liêm, chính. Phải gương mẫu. Phải có tinh thần trách nhiệm cao độ.

Phải chống quan liêu, mệnh lệnh, hình thức. Chống tham ô lãng phí.

Phải làm đúng những điều đó mới xứng là người đày tớ trung thành của nhân dân, người cán bộ tốt của Đảng và Chính phủ”.

(Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An”, 18/1/1960, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.10, tr. 36).

“Những người được cử vào Quốc hội khóa II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đày tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội”.

(Lời phát biểu tại Đại hội nhân dân Thủ đô chào mừng các vị ứng cử đại biểu Quốc hộitại Hà Nội ra mắt cử tri”, 14/4/1960, Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, tr. 132).

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn


>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)

Đoàn đại biểu dự Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Công an báo công dâng Bác

Sáng ngày 25/10/2012, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, 100 đại biểu là những cán bộ Đoàn, đoàn viên đại diện cho 300 đại biểu ưu tú của lực lượng Công an nhân dân về dự Đại hội đã đến báo công dâng Bác.

Doan CAND bao congĐoàn đại biểu đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong giờ phút trang nghiêm và thành kính, các đại biểu đã dành phút tưởng nhớ anh linh các Anh hùng liệt sỹ, anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh và nguyện suốt đời sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại.

Thay mặt đoàn đại biểu, đồng chí Thiếu tá Nguyễn Thanh Tuấn, Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Công an khóa XIX đã báo công với Bác về những thành tích của tuổi trẻ Công an nhân dân đã và đang thi đua lập thành tích hướng tới Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X, nỗ lực phấn đấu lập công chào mừng 65 năm học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân; những kết quả đạt được trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên nhiệm kỳ XIX. Đồng thời khẳng định tuổi trẻ Công an nhân dân đã thực sự phát huy vai trò xung kích trên các mặt trận bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, là lực lượng đi đầu, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa, địa bàn trọng điểm và qua đó đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu, những công trình, phần việc thanh niên hiệu quả, được Trung ương Đoàn tặng Cờ cho đơn vị dẫn đầu công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi toàn quốc 5 năm liền.

Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Công an lần thứ XX là sự kiện quan trọng, ngày hội lớn của tuổi trẻ lực lượng Công an nhân dân. Với tinh thần “Đoàn kết – sáng tạo – trách nhiệm – hiệu quả”, Đại hội có nhiệm vụ đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Công an lần thứ XIX, xác định mục tiêu, phương hướng công tác Đoàn và phong trào thanh niên nhiệm kỳ 2012-2017, nâng cao chất lượng tổ chức Đoàn, tăng cường bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, cổ vũ tuổi trẻ Công an nhân dân thi đua học tập, rèn luyện, xung kích, sáng tạo, tình nguyện, chấp hành nghiêm điều lệnh, xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ, góp phần cùng toàn lực lượng, giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và xây dựng Công an nhân dân ngày càng trong sạch, vững mạnh; đồng thời bầu Ban Chấp hành nhiệm kỳ 2012-2017.

Với niềm vinh dự, tự hào là người đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong lực lượng Công an nhân dân, dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng, truyền thống vẻ vang của lực lượng, các đại biểu đã xin hứa với Bác nguyện đoàn kết một lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng lớp thanh niên Công an nhân dân trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, có bản lĩnh chính trị vững vàng, chấp hành nghiêm pháp luật, điều lệnh CAND; có trí tuệ, văn hóa, kỷ cương và trách nhiệm./.

Lan  Hương
bqllang.gov.vn

Người chụp ảnh Bác Hồ bỏ lá phiếu đầu tiên

Bác từ trong phòng ghi phiếu quay ra, trên tay Bác cầm lá phiếu, Bác chững chạc đi thẳng đến hòm bỏ phiếu, lúc này ai nấy đều căng mắt nhìn bàn tay Bác bỏ lá phiếu đầu tiên vào hòm phiếu. Khi Bác Hồ bỏ phiếu, tôi đã may mắn chụp được, sau này chính bức ảnh Bác Hồ bỏ phiếu là độc nhất vô nhị chỉ mình tôi là tác giả chụp.

Những nghệ sĩ nhiếp ảnh có vinh dự được chụp ảnh Hồ Chủ tịch không nhiều, trong đó phải kể đến tên tuổi như Đinh Đăng Định, Vũ Đăng Năng, Vũ Đình Hồng, Kim Côn… Ngoài ra còn có số phóng viên nhiếp ảnh Thông tấn xã Việt Nam, các tờ báo Trung ương và Đài Tiếng nói Việt Nam. Phóng viên nhiếp ảnh Báo Tiền Phong Mai Nam là người có nhiều dịp được gần và chụp ảnh cho Bác Hồ, hiện tại ông còn lưu giữ bộ ảnh rất quý giá chụp Hồ Chủ tịch với gần 200 bức hình được nghệ sĩ Mai Nam gìn giữ như một báu vật.

Nghệ sĩ Mai Nam kể lại: Có một kỷ niệm cách đây đã hơn 50 năm, tôi vẫn còn nhớ mãi, đó là lần tôi bấm máy chụp bức ảnh Hồ Chủ tịch – Người công dân số 1 bỏ lá phiếu đầu tiên Quốc hội khóa II ngày 8/5/1960.

Sáng sớm ngày 8/5/1960, tôi đến cơ quan Báo Tiền Phong thì được tòa soạn giao nhiệm vụ đến điểm bỏ phiếu số 1 phố Cửa Bắc số nhà 67 (nay là Trường Trung học phổ thông Cửa Bắc, Hà Nội) có các vị lãnh đạo Nhà nước đến bỏ phiếu (không nói có Bác Hồ vì để giữ bí mật). Đúng 7h sáng tôi có mặt tại điểm bỏ phiếu. Không khí nơi đây như một ngày hội, băng rôn, cờ, hoa đỏ rực, hai bên cổng vào quần chúng nhân dân, thanh niên ai nấy quần áo chỉnh tề đang chờ đón giờ phút trọng đại đang đến gần.

nguoi chup a1Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa II (1960)

Một lúc sau thì thấy Bác Hồ xuất hiện, cùng đi có ông Trần Danh Tuyên là Bí thư Thành ủy Hà Nội lúc bấy giờ đi vào trong khu nhà bỏ phiếu. Lúc này mọi tầng lớp nhân dân đều xôn xao vui mừng phấn khởi lần đầu tiên nhìn thấy vị lãnh tụ kính yêu đến bỏ phiếu ở khu vực mình, tiếng vỗ tay không ngớt, có nhiều người từ vòng ngoài cũng cố chen vào tận trong để tận mắt ngắm nhìn Bác Hồ kính yêu.

Tâm trạng tôi lúc này cũng hòa cùng không khí vui tươi với mọi người và tự hào là người vinh dự được giao trọng trách chụp ảnh cho Người bỏ lá phiếu đầu tiên, vị lãnh đạo Nhà nước cao nhất tại điểm bỏ phiếu số một này. Có sự may mắn lần này tôi được Tòa báo giao cho chiếc máy ảnh mới nguyên của Tiệp Khắc tặng cho Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam, sau Trung ương Đoàn tặng lại cho Báo Tiền Phong và tôi là người được sử dụng đầu tiên. Máy chụp cỡ phim 6×6.

Khi Bác Hồ và các vị lãnh đạo thành phố đi vào khu bỏ phiếu, tôi đã bấm được mấy kiểu ảnh cho đến khi Bác khuất trong phòng ghi phiếu thì thấy anh Văn Lượng – Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam  và anh Phan Trọng Quỳ, nhà quay phim tài liệu Xưởng phim Việt Nam xuất hiện. Tất cả chỉ có ba người chúng tôi, các phóng viên báo khác không thấy ai cả.

Có một tình tiết làm tôi nhớ đến tận bây giờ về công việc tác nghiệp của cánh nhà báo cũng lắm chuyện cười ra nước mắt: Chúng tôi cùng mọi tầng lớp nhân dân đều hồi hộp chờ đợi Bác từ trong phòng ghi phiếu quay ra, trên tay Bác cầm lá phiếu, Bác chững chạc đi thẳng đến hòm bỏ phiếu, lúc này ai nấy đều căng mắt nhìn bàn tay Bác bỏ lá phiếu đầu tiên vào hòm phiếu.

Tôi thấy anh Văn Lượng – Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam  nhảy ngay lên chiếc ghế mà trước đó anh Phan Trọng Quỳ đã chuẩn bị đồ nghề, đặt máy quay phim chỉ chờ lúc Bác quay ra là bấm máy. Anh Văn Lượng vừa nhảy lên ghế định giơ máy ảnh lên chụp, không hiểu sao chiếc ghế đổ làm anh Văn Lượng ngã chổng kềnh, may là có số người chung quanh kịp đỡ, không thì cả người và máy ảnh sẽ không biết xảy ra chuyện gì…

nguoi chup a2Tại Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội, thanh niên và nhân dân Thủ đô Hà Nội mít tinh, nồng nhiệt chào mừng các vị lãnh đạo Quốc hội và Nhà nước vừa đắc cử tại Quốc hội khóa II. Ảnh: Mai Nam

Khi Bác Hồ bỏ phiếu, tôi may mắn chụp được, sau này chính bức ảnh Bác Hồ bỏ phiếu là độc nhất vô nhị chỉ mình tôi là tác giả chụp. Khi rời điểm bỏ phiếu, tôi đạp xe ngay về Tòa soạn báo (lúc này Báo Tiền Phong ở tòa nhà Bệnh viện Hoàng Thụy Ba, phố Phùng Hưng bây giờ) để tráng phim. Khi tráng xong phim treo lên dây, nhìn thấy phim trong vắt, hình ảnh Bác Hồ hiện lên rất rõ, tôi mới thở phào nhẹ nhõm.

Kinh nghiệm cho thấy kể cả những người cầm máy lâu năm khi chụp máy phim cũng không thể tin tưởng 100% những bức ảnh vừa chụp không có sự cố. Với tôi lại là lần đầu sử dụng chiếc máy ảnh mới bằng phim 6×6, tác nghiệp trong hoàn cảnh sự kiện quan trọng làm gì không có cảm giác hồi hộp.

Phim vừa tráng xong còn treo trên dây thì tôi nhận được cú điện thoại từ Thông tấn xã Việt Nam: Mai Nam phóng ngay cho tôi một tấm ảnh 13×18 để phát cho các Báo. Vì yêu cầu gấp mà phim vẫn còn ướt, sau tôi nghĩ ra sáng kiến nhúng vào cồn lau khô rồi đưa lên máy phóng 2 tấm ảnh cỡ 13×18, tôi giữ một tấm để đăng ngay trên Báo Tiền Phong, còn một tấm gửi cho Thông tấn xã Việt Nam.

Về sau có vài tờ báo xin lại tấm ảnh Bác Hồ đang bỏ phiếu, tôi mang phim ra làm thì phim đã bị chảy do tội tôi nhúng phim vào cồn, tôi lại nhờ Thông tấn xã Việt Nam chụp lại bức ảnh để lấy phim phóng ra ảnh. (Như vậy bức hình Bác Hồ tôi chụp lúc Bác bỏ phiếu có hai phim – một phim chảy hỏng và một phim chụp lại qua ảnh).

Sau này bức ảnh tôi chụp Bác đang bỏ phiếu đã được anh em đồng nghiệp đánh giá rất cao ở thời điểm đúng lúc Bác đang bỏ 2/3 lá phiếu, nếu chụp sớm quá cũng không được mà bấm máy chậm lá phiếu đã vào thùng rồi thì mất tính chất thời sự, ngoài ra trên thùng phiếu còn rõ chữ ngày 8/5/1960.

Trên đây là câu chuyện tôi kể lại một kỷ niệm trong đời cầm máy chụp được bức ảnh vị Chủ tịch nước bỏ phiếu trong ngày bầu cử Quốc hội khóa II năm 1960 đối với tôi là niềm vinh dự và tự hào.

Duy Ngọc
Theo http://www.cand.com.vn
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn

Sự đánh lận xuyên tạc sự thật

Bất cứ nhà nước nào cũng phải dựa vào luật pháp để bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội. Mỹ và các nước châu Âu, các nước tư bản cũng ban hành luật pháp quản lý xã hội theo nguyên tắc đó và thực tế là nhiều trường hợp, cơ quan bảo vệ pháp luật ở Mỹ đã bắt giữ và xét xử đối tượng lợi dụng internet, tự do dân chủ để chống chính quyền…

Ngày 25/9, sau khi TAND TP Hồ Chí Minh mở phiên tòa sơ thẩm xét xử 3 bị cáo phạm tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, theo Điều 88, Bộ luật Hình sự (gồm bị cáo Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải), trên một số trang mạng gia tăng các bài viết xuyên tạc sự thật, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, tự do ngôn luận.

Một số tổ chức viện dẫn Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, cũng như các điều khoản của Tuyên ngôn Nhân quyền toàn cầu liên quan đến tự do ngôn luận, từ đó suy diễn vấn đề nhân quyền và tự do ngôn luận trong vụ việc này…

Thực tế, việc một số tổ chức và cá nhân vin cớ khi cơ quan bảo vệ pháp luật khởi tố, truy tố, xét xử các đối tượng có hành vi chống chính quyền nhân dân để vu cáo cái gọi là dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận đã là chiêu thức quá cũ. Trong vụ tòa án xét xử 3 bị cáo nói trên, một số tổ chức, cá nhân tiếp tục trích dẫn Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền để biện hộ cho lý lẽ “tự do ngôn luận”.

Tuy nhiên, đây là sự áp đặt gượng gạo và bản thân các đối tượng do nhận thức yếu kém không hiểu hoặc cố tình không hiểu những quy định của Liên hợp quốc trong bản Tuyên ngôn nói trên. Điều 19 của Tuyên ngôn quy định “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm”. Vấn đề này được làm rõ ở Điều 29 của Tuyên ngôn: “Mọi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng là nơi duy nhất người đó có thể phát triển nhân cách của mình một cách tự do và đầy đủ. Khi thực hiện các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác cũng như đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Rõ ràng, Tuyên ngôn quy định rất rõ quyền tự do ngôn luận của mọi người, được tự do bày tỏ quan điểm, nhưng khi thực hiện quyền tự do của mình phải “chịu những hạn chế do luật định” và “đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”. Không có bất kỳ điều khoản nào của Tuyên ngôn nói rằng, tự do ngôn luận là mặc sức phá hoại cộng đồng, chà đạp đạo đức, luật pháp, gây rối loạn trật tự xã hội như hành vi của các bị can, bị cáo đã làm. Hành vi của các đối tượng rõ ràng còn xuyên tạc cả Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền.

Thực tế, những nội dung trên của Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền cũng được cụ thể hóa tại Hiến pháp và pháp luật nước ta. Điều 69, Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.

Trong khi đó, hành vi của các đối tượng là phạm một tội được quy định trong Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, có tính liên tục, kéo dài, bộc lộ rõ ràng và đã tác động xấu đến an ninh quốc gia cũng như hình ảnh của nước Việt Nam trong cộng đồng quốc tế. Hoạt động phạm tội của các bị cáo có tổ chức chặt chẽ, có sự phân công cụ thể, có sự móc nối, câu kết với các tổ chức phản động người Việt Nam lưu vong và các thế lực thù địch. Các bị cáo đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do dân chủ, sử dụng internet tạo dựng ra blog “Câu lạc bộ nhà báo tự do” để liên lạc, trao đổi, viết, phát tán và tàng trữ các tài liệu, xuyên tạc sự thật, nói xấu Đảng, Nhà nước; hòng gây nghi ngờ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với chế độ; tranh thủ lôi kéo, cổ vũ cho những phần tử có tư tưởng chống đối nhằm gây dựng và chuẩn bị lực lượng, khi có thời cơ sẽ lật đổ chính quyền…

Bất cứ nhà nước nào cũng phải dựa vào luật pháp để bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội. Mỹ và các nước châu Âu, các nước tư bản cũng ban hành luật pháp quản lý xã hội theo nguyên tắc đó và thực tế là nhiều trường hợp, cơ quan bảo vệ pháp luật ở Mỹ đã bắt giữ và xét xử đối tượng lợi dụng internet, tự do dân chủ để chống chính quyền Mỹ (chẳng hạn, hồi tháng 2/2012, các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Mỹ đã bắt giữ 7 thành viên của nhóm Hutaree (tên thổ ngữ mà những người trong nhóm tự đặt ra) vì có hành vi chống lại chính quyền Mỹ, trong đó trên trang website tổ chức này có nhiều bài viết chống lại các chính sách của chính quyền Mỹ)

Trường Đăng
cand.com.vn