“Mắt thần” bắt B-52 sớm, tạo điều kiện để tên lửa lập công đầu

QĐND Online – Đêm 18-12-1972, đêm đầu đế quốc Mỹ thực hiện đòn tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố lớn trên hậu phương miền Bắc, Tiểu đoàn 59, Trung đoàn tên lửa 261 (Sư đoàn 361, Quân chủng PK-KQ) đã lập công xuất sắc, hạ gục siêu pháo đài bay B-52 đầu tiên trên bầu trời Hà Nội.

Để Bộ đội Tên lửa chủ động bắt, bám sát, tiêu diệt B-52, phải kể đến thành tích phát hiện, thông báo sớm B-52 của Bộ đội ra-đa, trước khi “con ngáo ộp” xâm phạm vùng trời miền Bắc. Ngay trong những phút đầu tiên của Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, Bộ đội Ra-đa đã thực hiện xuất sắc khẩu hiệu “Không để Tổ quốc bị bất ngờ”. Đơn vị ra-đa đã phát hiện sớm mục tiêu B-52 là Đại đội 45, Trung đoàn 291 (Binh chủng Ra-đa).

Đài ra đa P-35 đã phát hiện, thông báo sớm 25 phút, trước khi B-52 xâm phạm vùng trời Hà Nội

Hiện nay, đài ra-đa dẫn đường P-35 phát hiện sớm tốp B-52 chuẩn bị vào đánh phá Hà Nội, vẫn đang được trưng bày tại Bảo tàng Chiến thắng B-52 (số 157 Đội Cấn, Hà Nội).

Hơn 19 giờ ngày 18-12-1972, Đài trưởng Nghiêm Đình Tích cùng các trắc thủ Phạm Hoàng Cầu, Nguyễn Văn Xích, thuộc Đại đội 45, Trung đoàn 291 phát hiện ba dải nhiễu B-52. Sau một thoáng suy nghĩ, Đài trưởng Tích báo cáo lên cấp trên: “B-52 địch có khả năng vào miền Bắc”.

Từ sở chỉ huy Trung đoàn 291 ở Nghệ An, Trung đoàn trưởng Đỗ Năm báo cáo về tổng trạm ra-đa Quân chủng PK-KQ: “B-52 đang bay vào Hà Nội”. Ngay sau đó, Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu) đã báo cáo lên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đồng thời phát lệnh báo động cho Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và một số tỉnh miền Bắc.

Đúng 19 giờ 40 phút, 90 lần chiếc B-52 và 135 lần máy bay chiến thuật đã đánh liên tiếp 3 đợt vào các sân bay Kép, Nội Bài, Gia Lâm, Hòa Lạc, Yên Bái và một số khu vực của Hà Nội.

Do được thông báo B-52 trước 25 phút, quân, dân miền Bắc, mà nòng cốt là Bộ đội PK-KQ đã giành được thế chủ động, đánh địch quyết liệt ngay từ những phút giây đầu tiên khi máy bay địch xâm phạm bầu trời Hà Nội, hạ bệ B-52, đánh gục “niềm kiêu hãnh của không lực Hoa Kỳ”.

Bài, ảnh: PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

“Điện Biên Phủ trên không” – Một dự báo tài tình của Bác Hồ

QĐND – Trước khi Mỹ mở chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II (Linebacker II) tấn công ra miền Bắc năm 1972, Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo ta lúc đó đã sớm dự đoán được âm mưu này của địch nên đã chuẩn bị kỹ lưỡng các giải pháp cả trên chiến trường và “mặt trận” ngoại giao đang diễn ra ở Pa-ri. Một trong những lựa chọn sáng suốt của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo ta lúc đó là theo đuổi chiến lược “vừa đánh, vừa đàm”, lấy thắng lợi trên chiến trường để chiếm ưu thế trên bàn đàm phán ở Pa-ri.

“Lời tiên đoán” kẻ địch sẽ thua

Vào buổi chiều 18-12 cách đây 40 năm, khi máy bay chở đoàn đồng chí Lê Đức Thọ từ Pa-ri qua Mát-xcơ-va và Bắc Kinh về gần tới không phận Việt Nam, đồng chí Lê Đức Thọ đã bước tới buồng lái, thoáng lặng nhìn rồi thân mật hỏi: “Gia đình các cháu sơ tán ở đâu? Nếu sơ tán thì sơ tán càng xa càng tốt. Chưa yên đâu, còn căng thẳng đấy các cháu ạ”. Khi về tới nhà số 6 Nguyễn Cảnh Chân, chúng tôi đang chuyển hồ sơ, tài liệu vào tủ bảo mật và chuẩn bị về thăm gia đình như mọi khi, thì đồng chí Lê Đức Thọ tới dặn chúng tôi: “Tình hình như các cậu đã biết, nên bây giờ phải ở lại đây đã”. Khoảng 2 tiếng sau, B-52 Mỹ đã rải bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác.

Lưới lửa phòng không của chiến tranh nhân dân đã giăng kín trời Hà Nội và các nơi khác. Quân và dân ta đã sẵn sàng đối mặt với B-52 Mỹ. Một kế hoạch khả thi với những phương án độc đáo và sáng tạo đánh trả máy bay B-52 ném bom Hà Nội đã được Đảng và Bác Hồ chỉ đạo chuẩn bị chu đáo từ trước. Năm 1947, trong lời giới thiệu 13 chương Binh pháp Tôn Tử, Bác Hồ nhấn mạnh: “Muốn thành công thì phải biết trước mọi việc”. Cuối năm 1967, Bác Hồ đã nói với tướng Phùng Thế Tài, lúc này là Phó Tổng tham mưu trưởng, lời dự báo: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Chớp thời cơ có một không hai

Chủ trương kết hợp đánh với đàm trong kháng chiến chống Mỹ đã được Bác Hồ và Đảng tính tới từ cuối năm 1965. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 của BCH TW khóa III, tháng 1-1967 khẳng định: “Chúng ta tiến công địch về ngoại giao bây giờ là đúng lúc vì ta đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh… Trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động…”.

Ngày 28-12-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định kế hoạch Tổng tấn công mùa Xuân 1968. Lời chúc Tết của Bác đêm Giao thừa mùa Xuân 1968: “Năm qua thắng lợi vẻ vang/Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/ Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” – vừa là hiệu lệnh của cuộc Tổng tiến công này, vừa là tư tưởng chiến lược chỉ đạo kết hợp giữa đánh với đàm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1968 đã làm nhụt ý chí xâm lược của Mỹ và buộc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố trên truyền hình ngày 31-3-1968 về việc Mỹ sẵn sàng đơn phương chấm dứt ném bom miền Bắc và chấp nhận thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 13-5-1968, Hội nghị hai bên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ chính thức họp phiên đầu tiên tại tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber ở Thủ đô Pa-ri của Cộng hòa Pháp, mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”. Mục tiêu trước mắt của ta là, tập trung vào khẩu hiệu đòi Mỹ chấm dứt không điều kiện và vĩnh viễn việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 13-10-1968, Đoàn ta ở Pa-ri nhận được chỉ thị của Bộ Chính trị mà nếu thực hiện theo thì có thể bỏ lỡ thời cơ buộc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc và họp 4 bên. Thấy tình thế rất phức tạp, có thể không kịp thời gian nếu trao đổi qua mật điện, nên sáng hôm sau, sau khi trao đổi kỹ trong Đoàn, đồng chí Lê Đức Thọ đã quyết định về ngay Hà Nội. Ngày 16-10-1968, đồng chí về tới Hà Nội. Bộ Chính trị đã họp liên tục trong 3 ngày từ 17 đến 19-10 để nghe báo cáo và thảo luận về tình hình đàm phán ở Pa-ri, cuối cùng đã thống nhất với nhận định của Đoàn ta ở Pa-ri trước đó. Kết quả là Mỹ đã chấm dứt ném bom miền Bắc không điều kiện vào ngày 31-10-1968 và sau đó tiến hành họp 4 bên. Đây là một thắng lợi bước đầu quan trọng của sự kết hợp đánh với đàm, có tác động hỗ trợ lớn cho chiến trường miền Nam.

Tấn công trên ba mặt trận

Từ tháng 3-1970, Bộ Chính trị đã quyết định đẩy mạnh tấn công trên 3 mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao theo chỉ đạo của Bác Hồ: “Thực lực là cái chiêng – ngoại giao là cái tiếng. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi”. Thất bại trong cuộc tấn công của địch sang vùng Mỏ Vẹt ở Cam-pu-chia hòng “cất vó” Trung ương Cục miền Nam và phá hủy hậu cứ của ta (tháng 4-1970) và sự phá sản của cuộc hành quân Lam Sơn 719 sang đường 9 Nam Lào (tháng 2-1971) nhằm triệt phá đường chi viện huyết mạch của ta, đã làm tan vỡ một mảng lớn kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” của Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn, buộc Mỹ phải xuống thang, không đòi cả hai bên cùng rút quân nữa.

Sau chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn vào tháng 2-1972, ngày 22-3-1972, Mỹ tuyên bố ngừng họp Hội nghị Pa-ri vô điều kiện. Ngày 30-3-1972, quân giải phóng miền Nam mở chiến dịch Xuân Hè tấn công địch từ Quảng Trị đến Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Ngày 6-4-1972, Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn ra lệnh ném bom lại miền Bắc Việt Nam. Sau chuyến thăm Mát-xcơ-va vào tháng 5-1972 của Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn, ngày 11-6-1972, đoàn Mỹ gửi công hàm cho đoàn ta ở Pa-ri đề nghị nối lại cuộc gặp riêng vào ngày 28-6-1972. Ta đã giải phóng được Quảng Trị và Lộc Ninh. Trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng, so sánh thế và lực giữa ta với địch trên chiến trường, quan hệ Mỹ – Xô – Trung và tình hình chính trị nội bộ nước Mỹ, Bộ Chính trị quyết định đã tới lúc có thể đi vào giải pháp ở đàm phán Pa-ri. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ sẵn sàng gặp riêng tiến sĩ Kít-xinh-giơ chậm nhất là ngày 15-7-1972.

Những cuộc gặp riêng căng thẳng

Từ ngày 19-7 tới đầu tháng 10-1972, các cuộc gặp riêng đã có những tiến triển khả quan. Trong phiên họp riêng kéo dài lâu nhất trong suốt gần 5 năm đàm phán, từ 9 giờ 30 phút sáng 11-10-1972 tới gần 2 giờ sáng ngày hôm sau, nội dung Hiệp định về cơ bản đã được hai bên chấp nhận. Trong thông điệp ngày 20-10-1972 gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn đã xác nhận “văn bản Hiệp định coi như đã hoàn thành” và cam kết Hiệp định sẽ được chính thức ký kết ngày 31-10-1972 tại Pa-ri. Kít-xinh-giơ thông báo với báo giới: “Hòa bình trong tầm tay”!

Tuy nhiên, đồng chí Lê Đức Thọ cũng đã dự kiến những diễn biến phức tạp do các nhân tố khách quan, trong đó có mối quan hệ Mỹ-ngụy. Đúng là phía Mỹ đã lật lọng, không thực hiện điều đã cam kết. Ngày 22-10, Tổng thống R.Ních-xơn lại gửi công hàm cho ta, nêu khó khăn với Nguyễn Văn Thiệu nên chưa có thể ký Hiệp định như đã thỏa thuận. Sau khi Tổng thống R.Ních-xơn được tái cử ngày 7-11, trong cuộc họp ngày 23-10-1972, Kít-xinh-giơ đòi sửa lại 69 điều trong văn bản đã thỏa thuận.

Trong cuộc họp hẹp với Kít-xinh-giơ sáng 4-12-1972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ nói: “Chúng tôi cũng đã dự tính là nếu không giải quyết được thì chiến tranh sẽ rất tàn khốc, có thể là các ông sẽ đem B-52 đánh bom ồ ạt đất nước chúng tôi… Chúng tôi đã chịu đựng hàng triệu tấn bom đạn của Mỹ, nhưng chúng tôi không hề khiếp sợ, chúng tôi không chịu khuất phục, không chịu làm nô lệ. Cho nên những lời đe dọa của các ông và việc các ông không giữ đúng lời hứa chỉ chứng tỏ các ông “không phải là những người đàm phán nghiêm chỉnh””.

Tới cuộc gặp riêng ngày 6-12-1972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đề nghị: “Nếu sửa thì chỉ sửa một số chi tiết không thuộc thực chất và nguyên tắc; hai là hai bên đều sửa đổi. Đã sửa đổi thì bên này sửa lớn, bên kia cũng sửa lớn; bên này sửa nhỏ, bên kia cũng sửa nhỏ; không thể chỉ một bên sửa, một bên không sửa. Cứ như thế sửa đi, sửa lại mãi không thể hoàn thành được. Trong hai cách đó, phía Mỹ chọn cách nào tôi cũng sẵn sàng, nhưng chúng tôi cho rằng cách tốt nhất là cơ bản giữ hiệp định”. Đến phiên gặp riêng ngày 12-12-1972, chỉ còn hai vấn đề sẽ giải quyết bằng trao đổi công hàm: Cách ký văn kiện và vấn đề khu phi quân sự. Nhưng tới cuộc gặp riêng sáng hôm sau, ngoài hai vấn đề trong văn bản, quan điểm của hai bên trong các nghị định thư cũng xa nhau. Ngày 14-12-1972, Kít-xinh-giơ về Mỹ. Ngày hôm sau, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ rời Pa-ri về Hà Nội.

Từ chiến thắng trên bầu trời Hà Nội đến thắng lợi ở Pa-ri

Đúng như dự báo của Bác Hồ, tối 18-12-1972, Mỹ đã dùng B-52 không kích Hà Nội. Đồng thời cũng trong ngày hôm đó, Mỹ lại gửi công hàm tới Đoàn ta ở Pa-ri đề nghị nối lại đàm phán sau ngày 26-12-1972. Dùng B-52 tấn công là “canh bạc” cuối cùng của R.Ních-xơn. Hình ảnh “con bồ câu” của R.Ních-xơn trong khi vận động tái tranh cử đã lộ nguyên hình “con diều hâu” hiếu chiến điên rồ sau khi vừa tái cử. R.Ních-xơn và giới quân sự chóp bu Lầu Năm góc đã quá ảo tưởng về sức mạnh của pháo đài bay B-52 “bất khả chiến bại”. Đây là một chiến dịch đã được chuẩn bị sẵn từ trước với cái tên “Linebacker II”. Nhưng có một điều mà ông ta và các chiến lược gia Hoa Kỳ chưa biết rõ. Đó là Thăng Long địa linh, Thăng Long bất khuất và kiên cường đã chôn vùi nhiều mộng tưởng ngoại xâm. Trong 12 ngày đêm của trận “Điện Biên Phủ trên không” ấy, đã có 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có 34 chiếc B-52 và 5 chiếc F-111, hàng chục giặc lái đã bị bắt. Mưu đồ của R.Ních-xơn nhằm khuất phục ý chí sắt đá của Hà Nội bằng tham vọng “đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá” đã thất bại hoàn toàn. Mơ mộng của Kít-xinh-giơ về “Không lực của nước Mỹ… mạnh tới mức trong vấn đề Việt Nam từ “thất bại” không bao giờ thuộc về chúng ta” đã tan thành mây khói. R.Ních-xơn cũng không còn gì để trấn an chính quyền Thiệu được nữa và nội bộ càng mâu thuẫn, rối ren. Dư luận thế giới phê phán và phản đối kịch liệt. Mỹ không còn lựa chọn nào khác là phải ngừng ném bom để quay lại bàn đàm phán.

Bộ Chính trị đã thảo luận suốt 3 ngày trong hầm nhà Rồng ở trong thành, nhiều ý kiến lật đi, lật lại, nhưng cuối cùng đã nhất trí cao với ý kiến do các đồng chí Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đề xuất là phía ta nên gặp lại phía Mỹ để giải quyết vấn đề. Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký tắt ngày 23-1-1973 và được ký chính thức ngày 27-1-1973 với nội dung cơ bản như dự thảo của ta chủ động đưa ra hồi tháng 10-1972.

Trong cuộc gặp mặt cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn tên lửa 77 Sư đoàn phòng không Hà Nội, Đại tá Trần Văn Giang, Chính ủy sư đoàn, thay mặt đơn vị chào mừng “lão tướng chiến thắng từ mặt trận ngoại giao trở về”. Đồng chí Lê Đức Thọ xua tay nói: “Không dám, không dám! Cán bộ, chiến sĩ phòng không không quân anh hùng mới chính là người chiến thắng. Không có chiến thắng B-52 của các đồng chí trên bầu trời Hà Nội, làm gì có thắng lợi ở Hội nghị Pa-ri. Chính chiến thắng đó đã buộc Mỹ ký Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973”…

LƯU VĂN LỢI (*)
qdnd.vn

(*) Nguyên thư ký của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại Hội nghị Pa-ri.

Đêm 18-12-1972: B-52 tan xác khi vừa mò vào Hà Nội

Nhật ký Chiến thắng B-52

QĐND Online – LTS: Cách đây vừa tròn 40 năm, ngày 18-12-1972, đế quốc Mỹ mở đầu cuộc tập kích đường không chiến lược 12 ngày đêm vào Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố lớn trên Bắc nước ta. Bắt đầu từ hôm nay (18-12-2012), Báo QĐND Online giới thiệu với bạn đọc “Nhật ký Chiến thắng B-52”, với nội dung khái quát lại diễn biến, kết quả từng ngày của Chiến dịch, trên cơ sở tổng hợp từ các tài liệu tin cậy và qua lời kể của các nhân chứng trực tiếp tham gia Chiến dịch…

Đêm 18-12-1972: B-52 tan xác khi vừa mò vào Hà Nội

Sáng 18-12-1972, từ chỗ không quân địch đang đánh phá quyết liệt ở chiến trường Quân khu 4 bỗng giảm đột ngột. 10 giờ 15 phút, một máy bay không người lái vào trinh sát Hà Nội. Đến 10 giờ 46 phút, lại có một máy bay không người lái vào trinh sát Hải Phòng.

16 giờ, Bộ Tổng tham mưu thông báo có 32 máy bay B-52 đã cất cánh từ Gu-am. Lệnh từ Quân chủng PK-KQ xuống các đơn vị: “Mọi công tác chuẩn bị đánh B-52 phải xong trước 17 giờ”. Đến 18 giờ 50 phút, toàn Quân chủng PK-KQ chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu vào cấp 1.

19 giờ 10 phút, Đại đội ra-đa 16, Trung đoàn 291 (Binh chủng Ra-đa) phát hiện được nhiễu B-52; tiếp đó, 19 giờ 15 phút, Đại đội ra-đa 45 (Trung đoàn 291) phát hiện và kịp thời báo cáo về sở chỉ huy: “B-52 đang vào miền Bắc”.

Bộ đội Tên lửa đã hạ gục B-52 ngay trong đêm đầu của Chiến dịch. Ảnh Tư liệu

19 giờ 25 phút, không quân ta được lệnh cất cánh đón đánh các tốp máy bay chiến thuật Mỹ (F-4, F-8, F-111, A-7…). Cùng lúc đó, ở Tam Đảo, Việt Trì, các đài quan sát dồn dập báo về sở chỉ huy trung tâm: Máy bay F-111 ném bom các sân bay Nội Bài, Kép…Toàn thành phố Hà Nội đã được báo động.

Từ 19 giờ 40 phút, nhiều tốp máy bay B-52 (mỗi tốp 3 chiếc) liên tiếp dội bom xuống khu vực sân bay Nội Bài, Gia Lâm, Hòa Lạc, Kép, Yên Bái và khu vực Yên Viên, Đông Anh.

19 giờ 44 phút, quả đạn tên lửa đầu tiên của Tiểu đoàn 78 (Trung đoàn 257, Sư đoàn 361, Quân chủng PK-KQ) được phóng lên.

20 giờ 16 phút, Tiểu đoàn 59 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 361) do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng chỉ huy phóng 2 quả đạn (quả thứ nhất ở cự ly 36km, quả thứ hai giãn cách 6 giây, ở cự ly 34km), chế độ bám sát bằng tay và phương pháp điều khiển 3 điểm, hạ ngay một máy bay B-52, rơi xuống cánh đồng Chuôm, Phù Lỗ (Đông Anh, Hà Nội), cách trận địa gần 10km. Đây là chiếc B-52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội.

Mảnh xác chiếc B-52 bị bắn rơi đầu tiên trong đêm 18-12-1972 hiện được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Ảnh: Hoàng Hà

4 giờ 39 phút sáng 19-12, Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn 257) phát hiện được B-52 trên nền dải nhiễu. Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn hạ quyết tâm đánh với 2 quả đạn. Sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Đức ấn nút phóng đạn; kíp trắc thủ Hà, Mộc, Tân bình tĩnh, tự tin chuyển sang chế độ bám sát cả 3 màn. Hai quả đạn gặp mục tiêu và nổ tốt. Chiếc B-52 bị tiêu diệt, bốc cháy rơi xuống cánh đồng Tân Hưng, Thanh Oai, Hà Nội.

Đêm 18 rạng sáng 19-12, Mỹ đã huy động 90 lần chiếc B-52 ném 3 đợt bom xuống Thủ đô Hà Nội. Xen kẽ giữa các đợt đánh phá của B-52 có 8 lần chiếc F-111 và 127 lần chiếc máy bay cường kích bắn phá các khu vực nội, ngoại thành.

Trong đêm đầu tiên, Mỹ đã ném khoảng 6.600 quả bom xuống 135 điểm thuộc Thủ đô Hà Nội, 85 khu vực dân cư bị trúng bom, làm 300 người chết.

Trong đêm 18-12, quân và dân ta đã bắn rơi 3 máy bay B-52 (có 2 chiếc rơi tại chỗ), 3 máy bay chiến thuật (2 chiếc F-4 và một chiếc A-7).

HOÀNG HÀ (tổng hợp)
qdnd.vn

Bản hùng ca viết từ ý chí và sức mạnh Việt Nam

QĐND Online – Ngày 16-12-1972, Hà Nội đang sục sôi khí thế chuẩn bị cho một cuộc đối đầu lịch sử với không quân chiến lược Mỹ. Đúng 40 năm sau, Hà Nội lại lung linh ánh điện ở nhiều địa điểm mang đậm dấu tích Chiến thắng B-52. Đó là những điểm cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội”, do Đài PT-TH Hà Nội, Báo Quân đội nhân dân và Đoàn phòng không Hà Nội (Sư đoàn 361, Quân chủng PK-KQ) phối hợp tổ chức…

“Bê” gì cũng đánh

Cầu truyền hình trực tiếp “Bản hùng ca Hà Nội” diễn ra tại 5 điểm cầu: Đoàn phòng không Hà Nội, đơn vị chủ công đánh B-52 của Quân chủng PK-KQ; Trận địa tên lửa Chèm (xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội), nơi “rồng lửa” vút lên bầu trời Thủ đô, hạ gục siêu pháo đài bay B-52; Đài tưởng niệm Khâm Thiên, nơi ghi dấu tội ác của đế quốc Mỹ; Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam và Bảo tàng Chiến thắng B-52, những nơi đang lưu giữ các hiện vật của Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Các đại biểu tham dự điểm cầu truyền hình tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Tham dự tại các điểm cầu truyền hình có các đồng chí: Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; Trung tướng Mai Quang Phấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thiếu tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thiếu tướng Lê Phúc Nguyên, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân; lãnh đạo TP Hà Nội; lãnh đạo Quân chủng PK-KQ và nhiều tướng lĩnh, sĩ quan quân đội.

Sân khấu cột cờ Hà Nội tại điểm cầu Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam tỏa ánh sáng rực rỡ trong đêm truyền hình trực tiếp. Cách đó không xa là bảo vật quốc gia- chiếc Mig-21 mang số hiệu 5121 đã cùng phi công Phạm Tuân quật cổ siêu pháo đài bay B-52 trên bầu trời Sơn La. Phía dưới chân cột cờ là đống xác máy bay Mỹ với đủ kiểu loại, trong đó có những mảnh xác của “con ngáo ộp” B-52 bị quân, dân Thủ đô tiêu diệt trong những đêm cuối tháng Chạp năm 1972. Hoạt cảnh “Hà Nội những đêm không ngủ” công phu, hoành tráng đã mở đầu chương trình truyền hình, với việc khắc họa cuộc sống và chiến đấu của quân, dân Hà Nội trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vọng vang dưới lá cờ lớn đang cuộn trong gió lộng: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ, không có gì quý hơn độc lập tự do”. Lời dạy ấy đã hun đúc thành quyết tâm sắt đá của cả một dân tộc, tất cả cho “độc lập, tự do”.

Nhiều cán bộ, chiến sĩ tại điểm cầu Đoàn phòng không Hà Nội bồi hồi xúc động khi người dẫn chương trình giới thiệu về một kỷ vật đặc biệt-tờ giấy chứng nhận số tiền nhuận bút trị giá 25 đồng, được trích ra từ sổ tiết kiệm mà Bác Hồ dành tặng cán bộ, chiến sĩ đơn vị pháo cao xạ thuộc Đoàn phòng không Hà Nội, làm nhiệm vụ trực chiến trên nóc Hội trường Ba Đình năm 1966. Ra đời đúng vào ngày 19-5-1965, Đoàn phòng không Hà Nội vinh dự được đón Bác về thăm nhiều nhất (8 lần). Quyết tâm đánh B-52 đã được cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn khắc cốt, ghi tâm từ lời Bác dạy: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B-57, B-52, hay “Bê” gì đi chăng nữa thì ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”.

Hoạt cảnh “Hà Nội những đêm không ngủ”

Với nhận định của Người, rằng sớm muộn B-52 cũng đánh ra Hà Nội; rằng đế quốc Mỹ chỉ chịu thua khi thua đau trên bầu trời Hà Nội…và với sự chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ đội PK-KQ và quân, dân Thủ đô đã sớm chuẩn bị phương án đánh máy bay B-52, quyết giữ trọn lời thề bảo vệ bầu trời Hà Nội, bảo vệ Trung ương và Thủ đô yêu dấu…

Chủ động, quyết chiến và sáng tạo

Tham gia điểm cầu tại Đoàn phòng không Hà Nội có Đại tá Nghiêm Đình Tích, nguyên Đài trưởng đài ra-đa P-35, thuộc Đại đội ra-đa 45 (Trung đoàn 291, Binh chủng Ra-đa). Trong những ngày lịch sử cuối tháng Chạp năm 1972, “mắt thần” P-35 “mai phục” tại một địa danh hẻo lánh gần đồi Si (thị trấn Đô Lương, huyện Đô Lương, Nghệ An). Ngày 18-12-1972, Nghiêm Đình Tích và kíp trắc thủ phát hiện có nhiễu lạ. Bằng tất cả kinh nghiệm có được sau 7 năm quần thảo với không quân Mỹ, Đài trưởng Nghiêm Đình Tích báo cáo dứt khoát và đầy trách nhiệm: “B-52 đang bay vào Hà Nội”! Thời khắc quyết định đã điểm, Hà Nội hoàn toàn chủ động, không bị bất ngờ.

Đại tá Nghiêm Đình Tích nhớ lại: “Tối 18-12-1972, khi mở máy, chúng tôi phát hiện nhiễu B-52 dày đặc. Cả phiên ban tập trung chống nhiễu, dựa trên kinh nghiệm chống nhiễu khi máy bay Mỹ vào phá hoại Hà Nội trước đó và kinh nghiệm tập đánh B-52 ở Quân khu 4. Những lần vào đánh Cánh Đồng Chum (Lào), B-52 thường bay đến phương vị 290º thì vòng lại, còn lần này chúng bay tới phương vị 300º và vẫn bay thẳng về phía Tây Bắc nước ta. Trước đó, máy bay trinh sát của địch cũng đã bay vào Hà Nội. Vậy nên chúng tôi khẳng định B-52 đang vào đánh Hà Nội”.

Nhờ sự cảnh giác cao độ của Bộ đội ra-đa, “con ngáo ộp” B-52 đã bị “bắt bài” trước khi mò vào Hà Nội. Miền Bắc đã được báo động sớm, chủ động và điềm tĩnh bước vào cuộc chiến sinh tử. Đúng 19 giờ 44 phút ngày 18-12-1972, quả tên lửa đầu tiên của Tiểu đoàn 78 (Trung đoàn 257, Sư đoàn 361) rời bệ phóng, mở đầu cho cuộc “nghênh tiếp dữ dội”-như người Mỹ đã ví von sau này.

20 giờ 13 phút, sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận của Tiểu đoàn 59 (Trung đoàn 261) ấn nút phóng đưa quả tên lửa mang số hiệu C202A xé toạc trời đêm, lao trúng đích, biến “siêu pháo đài bay” B-52 thành bó đuốc khổng lồ, rơi xuống cánh đồng Chuôm, xã Phù Lỗ, huyện Kim Anh (nay thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội).

Đại tá Nguyễn Đình Kiên tại điểm cầu Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Người sĩ quan tên lửa lập chiến công hạ gục chiếc siêu pháo đài bay đầu tiên, nay cũng có mặt tại điểm cầu trận địa tên lửa Chèm. Trong chiếc xe điều khiển tên lửa C-125M, Trung tá Dương Văn Thuận bồi hồi tâm sự: “Tôi như đang được sống lại không khí của 40 năm về trước, khi chiếc B-52 đầu tiên bị hạ trên bầu trời Hà Nội. Trong những ngày tháng hào hùng đó, lịch sử lại được tái hiện. Xưa nỏ thần của An Dương Vương từ thành Cổ Loa vút đi tiêu diệt quân xâm lược; nay đánh đế quốc Mỹ, những người lính tên lửa lại điều khiển rồng lửa vút lên từ chân thành Cổ Loa, hạ gục siêu pháo đài bay B-52 ngay trên bầu trời Hà Nội”

Điểm cầu Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ngập tràn xúc động sau những thước phim “Hà Nội 12 ngày đêm”, với hình ảnh “vầng sáng” Vũ Xuân Thiều. Quyết tâm tiêu diệt B-52 vốn đã găm sâu trong trái tim và suy nghĩ của các phi công đánh đêm. Vậy nên, khi thời cơ đến, với tinh thần quyết chiến, phi công Vũ Xuân Thiều đã diệt tan xác một B-52 và anh cũng anh dũng hy sinh ngay trong trận quyết chiến đó.

Với vũ khí không phải là hiện đại trong thời điểm lúc bấy giờ, phải tác chiến trong điều kiện địch gây nhiễu nặng và đánh phá ác liệt, song Bộ đội Tên lửa vẫn “vít cổ” siêu pháo đài bay trên bầu trời Hà Nội. Kỳ tích đó được làm nên từ những khối óc, bàn tay không ngừng sáng tạo. Khẳng định đó được thể hiện qua chia sẻ của các cựu chiến binh trực tiếp tham gia Chiến dịch của 40 năm về trước, tại điểm cầu Đoàn phòng không Hà Nội.

Rạng sáng ngày 21-12-1972, với phương pháp đánh 3 điểm, trong vòng 9 phút, với 2 quả đạn tên lửa, Tiểu đoàn 57 (Trung đoàn 261) đã diệt gọn 2 chiếc B-52. Cho đến nay, đây vẫn là một kỷ lục về hiệu suất chiến đấu cao và thời gian di chuyển hỏa lực nhanh. Trong cả Chiến dịch, Tiểu đoàn 57 đã tiêu diệt 4 máy bay B-52. Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đình Kiên, nguyên Phó cục trưởng Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu), nguyên sĩ quan điều khiển của Tiểu đoàn 57 những ngày tháng Chạp năm 1972 lại chia sẻ nhiều về sự giúp đỡ của Liên Xô trong việc trang bị và cải tiến để tên lửa SAM-2 có thể đánh được B-52; sự dày công huấn luyện cách đánh B-52 của Bộ đội PK-KQ và sự sáng tạo của bộ đội tên lửa khi đối đầu với B-52 Mỹ.

Cựu chiến binh Đinh Trọng Đức, nguyên trắc thủ cự ly Tiểu đoàn 78, nói về cách đánh “chỉ bộ đội tên lửa Việt Nam mới có”, đó là phương pháp đánh 3 điểm. Còn Đại tá Đinh Thế Văn, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn 257) lại chia sẻ về cách đánh sở trường – bắn “vượt nửa góc” của đơn vị ông. Cách đánh không chỉ đòi hỏi sự tính toán chuẩn xác của các sĩ quan tên lửa, mà còn đòi hỏi ở họ lòng gan dạ, sẵn sàng vô hiệu hóa tên lửa sơ-rai của đối phương. Còn Trung tá Nguyễn Văn Đức, nguyên là sĩ quan điều khiển của Tiểu đoàn 77 thì chia sẻ về sự khổ luyện của ông trên con đường từ trắc thủ thành anh nuôi rồi lại lên làm sĩ quan điều khiển. Nhờ nỗ lực không ngừng để vượt lên khó khăn gian khổ, nhờ những cách đánh sáng tạo, Bộ đội Tên lửa đã đánh thắng giòn giã trong cả 12 ngày đêm của Chiến dịch.

“Đạp quân thù xuống đất đen/Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”. Rời quân ngũ, Đại tá Đinh Thế Văn lại trở về làng rối Đào Thục (Đông Anh, Hà Nội), khôi phục lại nghề rối truyền thống mà cha ông để lại. Trong đêm kỷ niệm đặc biệt này, ông đã mang đến một tiết mục rối cũng rất đặc biệt, có tên “Hà Nội, Chiến thắng B-52”…

“Nước mắt rơi làm nhòa mặt quân thù”

Những ngọn nến được thắp lên tại Đài tưởng niệm Khâm Thiên, như lời cầu nguyện cho 287 người dân vô tội đã thiệt mạng khi bom từ B-52 trút xuống con phố này. Người Hà Nội vẫn quen gọi Khâm Thiên là “phố vắng 3 số nhà”. Trên con phố san sát cửa hàng cửa hiệu, khoảng không gian giữa 3 số nhà 47, 49 và 51 là sự hao khuyết đặc biệt và chính là địa điểm không thể quên trong ký ức người Hà Nội. 40 năm trước, vào lúc 22 giờ 45 phút ngày 26-12, B-52 Mỹ đã rải thảm xuống Khâm Thiên, biến nơi đây trở nên tan hoang và tang tóc.

Các nghệ sĩ nước ngoài với bài hát “Hà Nội niềm tin và hy vọng”

Nhà văn Giang Quân, người được chứng kiến Khâm Thiên oằn mình sau làn mưa bom rưng rưng hồi tưởng . Khi B-52 vào rải thảm ở Khâm Thiên, ông xuống hố trú ẩn cá nhân trong nhà sách nhân dân Đống Đa. Dưới hầm, ông nghe thấy tiếng ầm ì, rồi tiếng lụp bụp trên mặt đất. Nhìn qua lỗ thông hơi, ông thấy ngôi nhà đã bay mất mái. Khi có lệnh báo yên, lên khỏi hầm, ông chứng kiến cảnh tan hoang của con phố Khâm Thiên. Nhà cửa đổ nát, người chết là vậy, nhưng bà con Khâm Thiên vẫn không nao núng, sợ hãi mà chỉ còn lòng căm thù giặc ngút trời. Lòng căm thù ấy đã biến thành sức mạnh, thôi thúc họ lao vào cứu sập, cứu thương.

Người mẹ trong tư thế giữ chặt đứa con đã mềm oặt trên tay, chân đạp lên bom thù, là bức tượng được đặt trang trọng tại Đài tưởng niệm Khâm Thiên, do nhà điêu khắc Nguyễn Văn Tự sáng tác. Ông chia sẻ: “Chính cái chết oan uổng của hơn 200 người dân Khâm Thiên đã thôi thúc tôi cho ra đời bức tượng này. Người mẹ ôm đứa con đã chết. Chị đau khổ vì mất mát, nhưng không khóc lóc. Dáng chị bế đứa con nhoài ra phía trước vừa để phơi bày tội ác của đế quốc Mỹ, vừa như tạo điểm tựa vững vàng cho người chiến sĩ quyết tâm tiêu diệt lũ giặc trời”.

Sau những phút giây nghẹn ngào không nói lên lời, Nhạc sĩ Phú Quang, từng ở số nhà 49 phố Khâm Thiên chia sẻ cảm xúc khi trở lại nhà sau trận bom thù dội xuống Khâm Thiên. Rồi ông cất cao lời bài hát “Em ơi Hà Nội phố”, trong rưng xúc động của nhiều người tham dự tại các điểm cầu truyền hình.

“Trắng khăn tang em chẳng khóc đâu/Hỡi em gái mất cha mất mẹ/Nước mắt rơi làm nhòa mặt quân thù/Em phải bắn, trúng đầu giặc Mỹ”. Đó là 4 câu thơ của nhà thơ Tố Hữu trong bài “Việt Nam máu và hoa”, dành cho nữ tự vệ Phạm Thị Viễn.

Người nữ tự vệ ấy cũng có mặt tại điểm cầu Bảo tàng Chiến thắng B-52. Những ngày máu lửa cuối tháng 12-1972 như thước phim quay chậm trong ký ức người nữ tự vệ can trường. Cha, mẹ bị bom Mỹ giết hại, song vượt lên nỗi đau, Phạm Thị Viễn vẫn kiên cường bám trận địa. Và ngày 22-12-1972, chị cùng đồng đội tiêu diệt một chiếc F-111 của Mỹ, khi nó đang bay vào Hà Nội gây tội ác.

Hà Nội những ngày cuối tháng Chạp năm 1972 chìm trong khói lửa, trắng những vành khăn tang. Nhưng, vượt lên mất mát, hy sinh, quân và dân Hà Nội với ngùn ngụt lòng hờn căm và ý chí ngoan cường, anh dũng, đã quyết chiến và tạo nên lưới lửa phòng không dày đặc, đỏ trời, tầm thấp, tầm cao. Để rồi: “Dưới gươm thiêng hùng khí Thủ đô/Cả bốn biển hoan hô Hà Nội/Pháo đài bay rụng đỏ mặt hồ/Ngọc Hà em! Lộng lẫy hoa tươi” (Thơ: Việt Nam máu và hoa, tác giả: Tố Hữu).

Sau 12 ngày đêm Hà Nội và cả nước không ngủ, 81 máy bay Mỹ đã phải đền nợ máu, trong đó có 34 siêu pháo đài bay B-52. Hà Nội đã đứng vững và chiến thắng. Chiến thắng ấy thể hiện sức mạnh của dân tộc Việt Nam, của Thủ đô anh hùng. Chiến thắng ấy đã viết lên “Bản hùng ca Hà Nội”, thể hiện ý chí và sức mạnh Việt Nam. Bản hùng ca đang vọng vang từ quá khứ, đến hôm nay và cho cả mai sau…

Bài, ảnh: HOÀNG HÀ-VIỆT CƯỜNG
qdnd.vn

Đánh phản nhiễu điện tử, hạ gục B-52 Mỹ

QĐND – Từ một trưởng xe, kiêm sĩ quan điều khiển tên lửa, phát triển thành Trung đoàn trưởng (các trung đoàn: 238, 281, 258), rồi về công tác ở Phòng 22 Bộ Tham mưu quân chủng, Trợ lý tác chiến huấn luyện của Binh chủng tên lửa… trực tiếp “nằm vùng” ở các tiểu đoàn, cùng chiến đấu với các kíp chiến đấu để nghiên cứu cách đánh, nên Đại tá Trần Xuân Khuyến tích lũy nhiều kinh nghiệm đánh phản nhiễu điện tử của không quân Mỹ. Nhân dịp này, ông kể về kinh nghiệm đánh B-52 trên bầu trời Thủ đô Hà Nội.

“Cuộc chiến đánh trả máy bay Mỹ trên bầu trời Hà Nội đã lùi xa 40 năm nhưng dấu ấn của cuộc chiến và những kinh nghiệm xương máu của bộ đội tên lửa phòng không vẫn còn lưu lại mãi trong tâm trí chúng tôi – những người trực tiếp chiến đấu. Với tôi, những trận bộ đội tên lửa phòng không đánh phản nhiễu điện tử của không quân Mỹ là một kỳ tích trong lịch sử chiến tranh. Kết quả là, trong 34 máy bay B-52 Mỹ bị hạ có 18 chiếc rơi tại chỗ; hàng chục máy bay cường kích bị diệt. Đó là cái giá mà bọn giặc trời phải trả.

Thế nào là đánh phản nhiễu điện tử?

Đánh phản nhiễu điện tử là chống lại nhiễu điện tử công nghệ cao của đối phương. Nhiễu điện tử công nghệ cao nhằm vô hiệu hóa ra-đa dẫn đường để cho máy bay cường kích, máy bay chiến lược B-52 dễ dàng xâm nhập bầu trời, không bị phát hiện. Cách đánh phản nhiễu điện tử phát sinh từ khi có chiến tranh điện tử công nghệ cao. Đó là quy luật tất yếu của chiến tranh đất đối không.

Máy bay của địch phát ra tần số (siêu cao tần) cộng hưởng với tần số của máy phát đài điều khiển tên lửa làm cho máy thu bị nhiễu nặng không bắt được tín hiệu mục tiêu. Muốn tiêu diệt được B-52 và máy bay cường kích gây nhiễu điện tử trong và ngoài đội hình, ta phải nghiên cứu tổ chức đánh phản nhiễu điện tử. Đó là đỉnh cao của chiến tranh điện tử, đòi hỏi bộ đội tên lửa phòng không của ta phải mưu trí sáng tạo và dũng cảm.

Các trận đánh mở đầu

Nhờ có trận đánh trượt B-52 của Tiểu đoàn 84, Trung đoàn 238 tại Nông trường Quyết Thắng vào năm 1967, tiểu đoàn đã nghiêm túc kiểm điểm và rút kinh nghiệm. Trận này ta không đánh được B-52 mà đánh nhầm máy bay cường kích F của chúng vì thế coi như không hoàn thành nhiệm vụ. Đài điều khiển phát sóng được khoảng 20 giây thì trúng tên lửa chống ra-đa của địch làm hư hỏng khí tài và gây thương vong cho cán bộ và chiến sĩ của tiểu đoàn.

Được trung đoàn bổ sung khí tài và kíp chiến đấu, Tiểu đoàn 84 khôi phục lại sức chiến đấu và rút ra những kinh nghiệm xương máu. Nên trận đánh ngày 17-9-1967, đơn vị đã bắn rơi chiếc B-52 đầu tiên khi ở Vĩnh Linh. Từ kinh nghiệm này, quân chủng biên soạn tài liệu, phổ biến đến từng đơn vị, ngày đêm tập luyện các phương án đánh B-52.

Trưa ngày 17-12-1972, Ních-xơn (Tổng thống Mỹ) ra lệnh mở cuộc tiến công đường không chiến lược vào miền Bắc nước ta thì đêm 18-12-1972, chúng bắt đầu cuộc tiến công vô nhân đạo này bằng máy bay ném bom chiến lược B-52.

Vào lúc 19 giờ 44 phút đêm 18-12-1972, các tốp tiêm kích hộ tống B-52, các tốp F mang tên lửa sơ-rai đã vượt qua tầm hỏa lực của tên lửa ta. Các tốp B-52 đi đầu đã vào vùng hỏa lực. Cả Hà Nội đang yên tĩnh, nín thở, bỗng như nổ tung. Các tiểu đoàn tên lửa ở hướng tây và tây bắc đồng loạt phóng đạn tên lửa. Tiếng tên lửa xé không khí bay vút lên gầm rít, cùng với tiếng máy bay cường kích, máy bay B-52, tiếng bom đạn nổ ầm ầm như sấm dậy. Trời Hà Nội tưởng chừng như vỡ tung. Loạt đạn đầu không có B-52 rơi, các tốp B-52 đi sau đang bay vào khu vực hỏa lực của Tiểu đoàn 78, Trung đoàn 257. Đơn vị này được giao nhiệm vụ tiêu diệt tốp “B-52 mang ký hiệu 957”. Tiểu đoàn đã phóng đạn tiêu diệt tốp 957 bằng phương pháp điều khiển 3 điểm, 2 quả đạn được điều khiển tốt, nhưng không thành công.

Qua trận đánh trượt này của Tiểu đoàn 78, chúng ta đã kịp thời rút ra những kinh nghiệm rất thiết thực, đó là phương pháp xử lý của kíp chiến đấu trước và sau khi phóng tên lửa vào khu vực tín hiệu B-52 trên nền dải nhiễu, tiểu đoàn trưởng phải lệnh chuyển sang phương pháp điều khiển vượt nửa góc bám sát tự động. Qua trận đánh này lãnh đạo chỉ huy quân chủng điện cho các kíp chiến đấu phải kịp thời rút kinh nghiệm, bình tĩnh mưu trí, không sợ tên lửa sơ-rai của địch, mạnh dạn phát sóng đài điều khiển tên lửa ở cự ly thích hợp, khi xuất hiện tín hiệu B-52 trên màn hiện sóng, chuyển phương pháp điều khiển thích hợp.

Lúc 20 giờ 13 phút, tốp B52 mang “số hiệu 671” từ hướng Tam Đảo bay xuống đánh ga Đông Anh. Chỉ huy trung đoàn ra lệnh cho các tiểu đoàn 57, 59, 94 tiêu diệt. Tiểu đoàn 59 ở trận địa Tó bám sát dải nhiễu xác định là B-52 và phát lệnh tiêu diệt tốp 671 bằng phương pháp điều khiển ba điểm. B-52 trúng đạn bốc cháy rơi xuống cánh đồng xã Phủ Lỗ, huyện Đông Anh, TP Hà Nội. Được tin Tiểu đoàn 59 bắn rơi tại chỗ B-52, Phó tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài điện cho Sư đoàn Phòng không 361 đi xác minh. Vừa lúc đó đồng chí Võ Công Lạng, Trung đoàn phó mang về một mảnh xác máy bay B-52G có gắn phù hiệu nắm đấm và tia chớp của không quân chiến lược Hoa Kỳ.

Lúc 4 giờ 39 phút ngày 19-12-1972, tại trận địa Chèm, Tiểu đoàn 77 phát hiện tốp B-52 từ hướng tây vào đánh Hà Nội. Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn và kíp chiến đấu phát sóng đài điều khiển ở cự ly thích hợp bắt được tín hiệu B-52 trên nền dải nhiễu cực mạnh. Tiểu đoàn trưởng lệnh tiêu diệt bằng phương pháp điều khiển vượt nửa góc bám sát tự động và phóng 2 quả. B-52 bốc cháy, rơi xuống cánh đồng xã Tam Hưng, Quốc Oai, Hà Tây.

Đêm 26-12-1972, bộ đội phòng không – không quân ta thắng lớn. Không quân Mỹ đã ngấm đòn. 22 giờ 36 phút ngày 26-12-1972, Tiểu đoàn 76 ở trận địa Dục Tú dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Lê Văn Hệ, kíp chiến đấu đã bám sát dải nhiễu sáng nhất “tốp B-52 mang số hiệu 599”. Tiểu đoàn trưởng lệnh tiêu diệt bằng phương pháp điều khiển ba điểm phóng 2 quả. B-52 bốc cháy rơi xuống gần cửa hàng ăn uống Tương Mai (nay thuộc quận Hoàng Mai).

Cũng trong đêm 26-12, Tiểu đoàn 79 phát sóng đài điều khiển và phát hiện được tín hiệu B-52 trên nền dải nhiễu cực mạnh “B-52 đang bay lượn vòng lớn”, Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Chiến lệnh dùng phương pháp điều khiển vượt nửa góc bám sát hỗn hợp phóng 1 quả tên lửa, B-52 trúng đạn rơi xuống địa phận tỉnh Sơn La.

Trận chiến đấu đêm 26-12-1972 diễn ra rất ác liệt. Bộ đội tên lửa và pháo cao xạ 100mm ở Hà Nội – Thái Nguyên đánh một trận tiêu diệt lớn, bắn rơi 8 máy bay B-52, có 5 chiếc rơi tại chỗ. Đây được coi là trận then chốt của Quân chủng Phòng không – Không quân ta đánh trả cuộc tập kích đường không chiến lược của không quân Mỹ, nó có tính quyết định, làm thay đổi tình thế chiến dịch, làm suy sụp tinh thần giặc lái B-52. Nhà Trắng, Lầu Năm Góc ngán ngẩm và thất vọng.

Vào lúc hơn 23 giờ đêm 27-12-1972, Tiểu đoàn 72 ở trận địa Đại Chu, dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt phát sóng đài điều khiển bắt tín hiệu B-52 trên nền dải nhiễu rất mạnh, trắc thủ góc tà bắt được B-52 trước cự ly bám theo góc tà, sau đó trắc thủ phương vị cũng bắt được mục tiêu. Tiểu đoàn trưởng quyết định dùng phương pháp điều khiển vượt nửa góc, bám sát tự động bắn 2 quả đạn và đã hạ B-52 tại chỗ (xác B-52 rơi xuống thôn Ngọc Hà, Hà Nội).

Những nhân tố tạo nên thắng lợi

Sau này, càng nghiên cứu tôi càng nhận thấy, nguyên nhân thắng lợi thì có nhiều, nhưng nguyên nhân trực tiếp chính là con người: Từ người chỉ huy lãnh đạo cao nhất đến các chiến sĩ trắc thủ tay quay, họ là những con người hoàn hảo trong chiến đấu. Đó là các kíp chiến đấu tài ba, mưu trí, dũng cảm của các tiểu đoàn tên lửa. Đó là những cán bộ chỉ huy lãnh đạo, các sĩ quan điều khiển và các trắc thủ, dám đánh, biết đánh, tìm ra chỗ yếu để bắn trúng, máy bay địch. Họ là những con người có bản lĩnh chiến đấu vững vàng, được huấn luyện hết sức bài bản, được trải nghiệm gần chục năm trời chiến đấu với không quân chiến lược Mỹ ở các chiến trường, tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu, được giúp đỡ thường xuyên của cán bộ tham mưu, tác chiến, kỹ thuật, hậu cần, các nhà nghiên cứu khoa học để nghiên cứu tìm ra cách đánh B-52 có hiệu quả cao nhất.

Bộ đội tên lửa phòng không đã nắm vững và phát huy cao độ tính năng chiến thuật, kỹ thuật của khí tài CA-75M, kết hợp chặt chẽ giữa chiến thuật – kỹ thuật xạ kích, thao tác của kíp chiến đấu, bố trí đội hình chiến đấu linh hoạt, có trận địa chốt, có trận địa cơ động vòng ngoài, trận địa dự bị, trận địa dã chiến, cơ động lực lượng nghi binh, ngụy trang, trận địa giả làm giảm uy lực của bom đạn địch, giảm thương vong tổn thất cho ta. Bộ đội tên lửa càng đánh càng trưởng thành, càng tinh nhuệ, thiện chiến.

Bộ Tổng tư lệnh, lãnh đạo, chỉ huy Quân chủng Phòng không-Không quân đã chỉ đạo đánh B-52 từng trận, kịp thời rút kinh nghiệm và phổ biến kinh nghiệm những trận đánh hay và những trận đánh chưa tốt. Tôi cho rằng đấy là những yếu tố cơ bản tạo nên thắng lợi “Điện Biên Phủ trên không”.

Đại tá TRẦN XUÂN KHUYẾN
qdnd.vn

Ra-đa “tóm gọn” B-52, báo động sớm cho miền Bắc

QĐND – Để bộ đội tên lửa chủ động bắt, bám sát, tiêu diệt B-52 ngay từ những giờ đầu tiên của Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, phải kể đến thành tích phát hiện, thông báo sớm B-52 của bộ đội ra-đa. Ngay trong những phút đầu tiên của chiến dịch, Đại đội 45, Trung đoàn 291 (Binh chủng Ra-đa) đã “tóm gọn” B-52, thực hiện xuất sắc khẩu hiệu “Không để Tổ quốc bị bất ngờ”.

Hiện nay, đài ra-đa dẫn đường P-35 phát hiện sớm tốp B-52 chuẩn bị vào đánh phá Hà Nội đang được trưng bày tại Bảo tàng Chiến thắng B-52 (số 157 Đội Cấn, Hà Nội). Hơn 19 giờ ngày 18-12-1972, Đài trưởng Nghiêm Đình Tích cùng các trắc thủ Phạm Hoàng Cầu, Nguyễn Văn Xích, thuộc Đại đội 45, Trung đoàn 291 phát hiện ba dải nhiễu B-52. Sau một thoáng suy nghĩ, Đài trưởng Tích báo cáo lên cấp trên: “B-52 địch có khả năng vào miền Bắc”. Từ sở chỉ huy Trung đoàn 291 ở Nghệ An, Trung đoàn trưởng Đỗ Năm báo cáo về tổng trạm ra-đa Quân chủng PK-KQ: “B-52 đang bay vào Hà Nội”. Ngay sau đó, Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu) đã báo cáo lên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đồng thời phát lệnh báo động cho Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và một số tỉnh miền Bắc. Đúng 19 giờ 40 phút, 90 lần chiếc B-52 và 135 lần máy bay chiến thuật đã đánh liên tiếp 3 đợt vào các sân bay: Kép, Nội Bài, Gia Lâm, Hòa Lạc, Yên Bái và một số khu vực của Hà Nội.

Do được thông báo B-52 trước 25 phút, quân, dân miền Bắc, mà nòng cốt là Bộ đội PK-KQ đã giành được thế chủ động, đánh địch quyết liệt ngay từ những phút giây đầu tiên khi máy bay địch xâm phạm bầu trời Hà Nội. Tiểu đoàn 59, Trung đoàn Tên lửa 261 (Sư đoàn 361, Quân chủng PK-KQ) đã lập công xuất sắc, hạ gục “siêu pháo đài bay” B-52 đầu tiên trên bầu trời Hà Nội, đánh sập “niềm kiêu hãnh của không lực Hoa Kỳ”.

PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

Lấy yêu cầu tác chiến làm mục đích tổ chức bảo đảm kỹ thuật

QĐND – Trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, việc tổ chức bảo đảm kỹ thuật nhằm duy trì và phát huy sức chiến đấu liên tục trong điều kiện tác chiến tập trung, ác liệt là vấn đề vô cùng khó khăn nhưng đồng thời có ý nghĩa quan trọng để giành thắng lợi.

Việc bảo đảm kỹ thuật trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 gặp không ít khó khăn vì lúc này lực lượng phòng không của ta đang phải tập trung lực lượng tác chiến trong Chiến dịch Trị Thiên. Nhiều khí tài tốt, vật chất kỹ thuật, đạn tên lửa đã và đang tiếp tục được chuyển vào chiến trường Khu 4 phục vụ chiến dịch. Một số lớn cán bộ, công nhân kỹ thuật có trình độ cao cũng đang có mặt ở chiến trường để bảo đảm kỹ thuật phục vụ tác chiến. Bên cạnh đó, lượng khí tài tên lửa dự trữ không còn nhiều. Các bộ khí tài ở các đơn vị chiến đấu hầu hết đã có giờ tích lũy lớn và cần phải trung tu. Lượng đạn tên lửa dự trữ chiến lược cũng còn hạn chế, thiếu đồng bộ, một số lớn đã quá niên hạn sử dụng…

Một xưởng lắp ráp đạn tên lửa phục vụ Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu.

Song song với việc bảo đảm kỹ thuật cho tác chiến, Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ) chỉ đạo các nhà máy của quân chủng tích cực đầu tư sản xuất vật tư thay thế, dồn lắp sửa chữa và nghiên cứu kéo dài niên hạn sử dụng của đạn tên lửa, bố trí lại hệ thống kho tàng ở miền Bắc, đồng thời tổ chức các đội cơ động sửa chữa phối hợp với cơ quan kỹ thuật của sư đoàn, trung đoàn và đơn vị nhanh chóng kiểm tra định kỳ cho khí tài. Vượt qua muôn vàn khó khăn, kết quả là trước khi bước vào chiến dịch, các đơn vị tên lửa ở phía Bắc đã được kiểm tra định kỳ hằng năm xong. Lượng đạn cung cấp ở các tuyến trung đoàn, tiểu đoàn cơ bản đã đủ theo quy định. Từ ngày 3 đến 5 tháng 12-1972, Cục Kỹ thuật Quân chủng PK-KQ mở hội nghị toàn ngành bàn về bảo đảm kỹ thuật phục vụ yêu cầu tác chiến liên tục trong chiến dịch. Ngày 15-12-1972, Cục Kỹ thuật Quân chủng PK-KQ tiếp tục mở hội nghị khẩn cấp bàn về tổ chức bảo đảm đạn tên lửa cho chiến dịch và quyết định tổ chức hai đội sửa chữa, lắp ráp đạn tên lửa của Nhà máy A31 sẵn sàng phục vụ chiến dịch. Cục Kỹ thuật Quân chủng PK-KQ cũng chủ động tổ chức vận chuyển đạn cho Hà Nội, Hải Phòng, bổ sung nhiên liệu, vật tư đồng bộ để các đơn vị đẩy nhanh tốc độ lắp ráp đạn. Bên cạnh đó, việc tổ chức lắp ráp đạn tập trung ở khu vực cất giấu đạn cũng được triển khai để nhanh chóng bảo đảm đạn cho tác chiến. Sau đợt một chiến dịch, lượng đạn tên lửa tiêu thụ lớn, khả năng cung cấp khó khăn. Để kịp thời bảo đảm, Quân chủng PK-KQ đã chủ động đề nghị cấp trên cho điều đạn từ Khu 4 ra.

Trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, việc bảo đảm khí tài chiến đấu, đặc biệt là khí tài tên lửa cũng là một vấn đề lớn. Trong quá trình chuẩn bị chiến dịch, ngành kỹ thuật Quân chủng PK-KQ đã chủ động tổ chức kiểm tra, hiệu chỉnh khí tài và bảo dưỡng định kỳ ở hầu hết các đơn vị ra-đa, tên lửa, pháo cao xạ; tổ chức cung cấp bổ sung vật tư phụ tùng thay thế; củng cố, bổ sung trang thiết bị cho các trạm sửa chữa ở các trung đoàn… Nhờ đó, khi bước vào chiến dịch, hệ số kỹ thuật của các loại vũ khí, khí tài đã đạt được ở mức cao. Trong 3 ngày đầu chiến dịch, không quân địch chủ yếu tập trung đánh phá và khống chế sân bay, do đó khí tài chưa tổn thất lớn. Nhưng từ ngày 21-12-1972, địch tập trung lực lượng đánh phá các trận địa phòng không nên vũ khí trang bị của nhiều đơn vị có bị tổn thất. Ngành kỹ thuật Quân chủng PK-KQ đã tổ chức tốt việc sửa chữa, khôi phục khí tài chiến đấu trong quá trình tác chiến chiến dịch. Đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật của từng đơn vị đã chủ động hiệu chỉnh, sửa chữa những hư hỏng thông thường để bảo đảm chiến đấu liên tục, kịp thời. Bên cạnh đó, lực lượng sửa chữa cơ động của chiến dịch đã tập trung tổ chức sửa chữa tại các đơn vị có khí tài bị hư hỏng nặng, nên chỉ sau 1 đến 2 ngày, đơn vị lại có thể đưa khí tài vào sử dụng, kịp thời phục vụ chiến đấu. Đối với những bộ khí tài hư hỏng nặng không thể sửa chữa tại chỗ, Cục Kỹ thuật đã tổ chức thay thế khẩn trương cho các đơn vị bảo đảm chiến đấu ngay…

Vấn đề bảo đảm kỹ thuật trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 bao hàm nhiều nội dung, nhiều lĩnh vực khó khăn và phức tạp. Nhưng nhờ sự tích cực, chủ động vượt qua mọi khó khăn với phương châm “lấy yêu cầu tác chiến làm mục đích để tổ chức bảo đảm kỹ thuật”, ta đã làm tốt công tác chuẩn bị như bố trí hệ thống kho tàng, khí tài dự bị, chuẩn bị đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật; kết hợp tốt giữa bảo đảm tập trung và bảo đảm tại chỗ, kết hợp giữa các đội sửa chữa cơ động với lực lượng sửa chữa tại chỗ của các đơn vị… góp phần làm nên chiến thắng lịch sử.

NGUYỄN TRUNG (Theo Trung tướng Lương Hữu Sắt, nguyên Cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân chủng PK-KQ).
qdnd.vn

Đỉnh cao nghệ thuật tác chiến của Không quân nhân dân Việt Nam

QĐND Online – “Đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ cuối tháng 12-1972 là đỉnh cao về nghệ thuật tác chiến của Không quân nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ”, đó là khẳng định của Tư lệnh Quân chủng PK-KQ, Trung tướng Phương Minh Hòa, tại Hội thảo “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không-Tầm cao bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam”, được tổ chức cuối tháng 11 vừa qua…

Tinh thần, lực lượng sẵn sàng

Để có được Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” cuối tháng 12-1972, vấn đề đầu tiên và có tính quyết định là sự chuẩn bị chu đáo về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật của ta.

Đầu năm 1968, Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ đã giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Binh chủng Không quân phải nghiên cứu cách đánh B-52. Trên cơ sở đó, Binh chủng Không quân đã cử các cán bộ tham mưu và phi công vào Quảng Bình, Vĩnh Linh…trực tiếp quan sát, tìm hiểu đội hình, quy luật hoạt động của B-52 cả ngày đêm; xây dựng phương án tác chiến, nghiên cứu cách đánh và huấn luyện một số phi công Mig chuyên đánh B-52. Đồng thời, tổ chức củng cố, nâng cấp, xây dựng mới hệ thống sân bay trên miền Bắc.

Nhờ được chuẩn bị chu đáo về tinh thần, lực lượng nên Không quân nhân dân Việt Nam chủ động tham gia Chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972. Ảnh Internet

Cùng với đó, Không quân tập trung xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao cho các thành phần, tập trung nhất là đội ngũ phi công. Trong 12 ngày đêm đánh B-52, ngoài những khó khăn do bị tiêm kích địch khống chế, uy hiếp nhiều tầng, nhiều lớp, phi công của ta còn chịu không ít căng thẳng về tâm lý do trực chiến dưới tầm bom đạn của địch; cất, hạ cánh trong điều kiện ban đêm, đường băng ngắn, hẹp hoặc đã bị đánh phá, thiếu đèn chiếu sáng, không có chỉ huy. Đặc biệt, sau những đêm đầu của Chiến dịch, Không quân vẫn chưa bắn rơi được máy bay B-52, dẫn đến những luồng tư tưởng khác nhau xuất hiện, nhất là trong đội ngũ phi công. Số ít lo lắng về khả năng bắn rơi B-52 của không quân ta; số khác có thể nôn nóng dễ dẫn đến mất bình tĩnh và mạo hiểm… Từ thực tế đó, nhiệm vụ đánh B-52 đã được quán triệt sâu sắc đến mọi cán bộ, chiến sĩ, chú trọng tới đội ngũ phi công. Nhờ vậy, trong những thời điểm gian khổ và ác liệt nhất, tất cả cán bộ, phi công luôn giữ vững ý chí chiến đấu, với quyết tâm còn một người, một máy bay cũng kiên quyết tiến công.

Cùng với xây dựng bản lĩnh chính trị, tinh thần cho các thành phần, Không quân ta hết sức chú trọng công tác xây dựng lực lượng. Thời điểm đó, phi công chiến đấu ở mỗi trung đoàn không nhiều, được chia thành 2 bộ phận: bộ phận huấn luyện và chiến đấu ban ngày (chiếm đa số) và bộ phận huấn luyện và chiến đấu ban đêm. Năm 1972, các phi công chiến đấu ban ngày hầu hết đều lập công; nhiều đồng chí bắn rơi 5 đến 6 máy bay địch. Trong khi đó, số phi công đánh đêm đã tham gia trực ban chiến đấu, xuất kích ban đêm nhiều lần nhưng chưa bắn rơi được máy bay địch. Bởi vậy, có những phi công bay đêm muốn được chiến đấu cùng đội ngũ đánh ngày. Tuy nhiên, ta đã nắm chắc ý đồ của địch, quyết tâm giữ gìn lực lượng. Vì vậy, trước khi Chiến dịch 12 ngày đêm diễn ra, số phi công đánh đêm vẫn được giữ nguyên.

Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (thứ nhất từ trái qua); Trung tướng Phương Minh Hòa (thứ 2 từ trái qua) và các đại biểu dự Hội thảo “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không-Tầm cao bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam”. Ảnh: Hoàng Hà

Tốp nhỏ, chiếc lẻ, chiến thuật linh hoạt

Trong cuộc tập kích đường không cuối tháng 12-1972, máy bay B-52 chủ yếu đánh đêm. Ta đã sử dụng sân bay dã chiến, ánh sáng hạn chế để xuất kích và hạ cánh sau chiến đấu, do đó thường sử dụng lực lượng nhỏ từ một đến 2 chiếc (thường là một chiếc). Với cách sử dụng lực lượng như vậy, máy bay của ta có điều kiện tiếp cận nhanh, công kích nhanh, thoát ly nhanh; vừa đánh được địch, vừa bảo vệ được mình. Chỉ sử dụng 2 chiếc khi cần tăng cường nghi binh để kéo tiêm kích địch ra hướng khác, còn hướng đánh B-52 phải giữ bí mật bất ngờ, tránh tiêm kích địch, tiếp cận trực tiếp mục tiêu chính.

Khi đánh vào Hà Nội, không quân Mỹ đã gây nhiễu kết hợp với hộ tống nhiều tầng, nhiều lớp tạo nên lá chắn cho B-52 và đánh đồng loạt các sân bay của ta. Ngay trận đầu xuất kích (đêm 18-12-1972) và một số trận sau, phi công của ta đều phát hiện đèn của F-4 và đèn của B-52, nhưng không tiếp cận được; hoặc khi tiếp cận mở ra-đa vừa bị nhiễu, vừa lộ lực lượng, địch cơ động khiến ta mất mục tiêu.

Ra-đa dẫn đường là mắt thần của không quân. Tuy nhiên, trong thực tế 12 ngày đêm tháng 12-1972, dẫn đường gặp nhiều khó khăn do ra-đa bị nhiễu nặng. Từ việc đúc kết kinh nghiệm “máy gây nhiễu của B-52 chỉ có tác dụng tốt về phía trước theo hướng bay, 2 bên sườn và phía sau cường độ yếu hơn”, chúng ta đã nghiên cứu bố trí các trạm ra-đa dẫn đường trên một đường bay cùng phối hợp dẫn đường, các trạm ra-đa 2 bên sườn của đường bay hoạt động linh hoạt, nên việc dẫn dắt máy bay ta ngày càng chuẩn xác.

Không quân địch thường xuyên thay đổi thủ đoạn, càng ngày càng tinh vi. Nghiên cứu kỹ thủ đoạn của địch, chúng ta đã có nhiều cách đánh sáng tạo, độc đáo như: Đánh quần, đánh gần, kéo địch đến khu vực có lợi để đánh; chủ động đánh chặn từ xa; sử dụng tất cả các số trong đội hình đều có thể tham gia công kích khi xuất hiện thời cơ; sử dụng ra-đa, thiết bị vô tuyến linh hoạt; kết hợp chặt chẽ trên không và mặt đất…

Đặc biệt, Không quân ta đã nghiên cứu, áp dụng và phát triển hình thức chiến thuật từ “bay thấp, kéo cao” đến “bay cao, tiếp cận nhanh”. Với chiến thuật này, các phi công Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều đã bắn rơi liên tiếp 2 chiếc B-52 trong 2 đêm 27 và 28-12-1972.

PHẠM HOÀNG HÀ (ghi)
qdnd.vn

Hiệp đồng chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng

Bản lĩnh – trí tuệ Việt Nam

QĐND – Theo phân tích của nhiều chuyên gia, nhà khoa học và các tướng lĩnh – những người trực tiếp tham gia chiến dịch, một trong nhiều nguyên nhân làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là các lực lượng phòng không quốc gia và phòng không nhân dân đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ. Bằng thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận phòng không quốc gia, phòng không nhân dân, quân và dân ta đã tạo nên hệ thống hỏa lực phòng không rộng khắp, hiểm hóc, nhiều tầng, nhiều lớp; sử dụng cả lối đánh phân tán và tập trung; đánh máy bay địch bằng mọi quy mô; đánh địch từ xa đến gần; đánh bằng cả lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động; đánh địch từ tầm thấp, đến tầm trung và tầm cao; đánh địch đến từ mọi hướng, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến đấu và chiến thắng không quân Mỹ.

Trước hết phải nói đến sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các đơn vị của bộ đội Phòng không – Không quân (PK-KQ) – lực lượng nòng cốt của chiến dịch. Bằng những vũ khí, trang bị, khí tài chưa thật hiện đại so với địch nhưng các đơn vị bộ đội: Ra-đa; Không quân tiêm kích; Tên lửa phòng không; Pháo cao xạ, đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với nhau trong thế trận chiến tranh nhân dân, tạo thành lực lượng PK-KQ chủ lực mạnh đủ sức chiến đấu và chiến thắng.

Bộ đội ta chuẩn bị tên lửa trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu.

Mặc dù địch tìm đủ mọi cách để “bịt mắt” ta. Mỗi chiếc B-52 là một trung tâm tác chiến điện tử và đi theo nó thường có nhiều máy bay chiến thuật hộ tống, gây nhiễu. Nhưng với chức năng là lực lượng trinh sát, quản lý vùng trời, ngay trong trận đánh đầu tiên vào đêm 18-12-1972, Bộ đội Ra-đa, trực tiếp là các kíp trắc thủ của Đại đội 45 thuộc Trung đoàn Ra-đa 291 đã “vạch nhiễu tìm thù” kịp thời phát hiện, khẳng định chính xác B-52 khi chúng cách Hà Nội khoảng 500km, báo động cho các lực lượng PK-KQ sớm 25 phút để chuyển cấp SSCĐ… Với những kinh nghiệm chống nhiễu trước đó và từ trận đầu ra quân, trong suốt 12 ngày đêm của chiến dịch, Bộ đội Ra-đa luôn phát hiện sớm và xác định chính xác B-52, để thông báo, báo động cho các đơn vị, các lực lượng chuyển cấp SSCĐ, hạ quyết tâm sử dụng hỏa lực, bảo đảm bắn rơi B-52. Việc báo động sớm đã giúp nhân dân kịp thời sơ tán, xuống hầm trú ẩn, hạn chế thấp nhất thiệt hại về con người. Mặt khác, Bộ đội Ra-đa đã cung cấp tình báo cho các đơn vị hỏa lực, dẫn đường cho bộ đội Không quân đánh địch trên không…

Khi mà máy bay Mỹ tập trung đánh phá các sân bay hòng vô hiệu hóa khả năng cất cánh của không quân ta, được Bộ đội Ra-đa thông báo sớm, được Bộ đội Phòng không chi viện, bảo vệ, lực lượng Không quân tiêm kích của ta đã chủ động sơ tán, bố trí máy bay ở các sân bay dã chiến, rồi từ đó bất ngờ xuất kích đánh chặn máy bay địch từ xa. Đặc biệt phi công Phạm Tuân đã trở thành người đầu tiên bắn rơi pháo đài bay B-52 của Mỹ trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”… Bị không quân ta đánh chặn tiêu hao, đội hình của không quân Mỹ bị chia cắt, phân tán, rối loạn khiến cho cường độ nhiễu giảm đáng kể… Đây chính là điều kiện thuận lợi để Bộ đội Tên lửa ta “vít cổ” pháo đài bay B-52 Mỹ. Trong 12 ngày đêm của chiến dịch, Không quân tiêm kích Việt Nam đã bắn rơi 7 máy bay các loại, trong đó có 2 chiếc B-52.

Lực lượng chủ yếu đánh B-52 trong suốt chiến dịch là Tên lửa phòng không. Lực lượng tên lửa đã được bố trí tập trung trên các hướng chủ yếu. Đặc biệt, 50% lực lượng Tên lửa phòng không được tập trung cho địa bàn Hà Nội. Do không quân Mỹ chủ yếu dùng B-52 đánh phá vào ban đêm, ban ngày chúng sử dụng máy bay chiến thuật, do đó ban ngày quân và dân ta sử dụng Pháo phòng không, Không quân tiêm kích tập trung đánh máy bay chiến thuật để bảo vệ các trận địa tên lửa và các mục tiêu quan trọng. Lực lượng tên lửa được dành ưu tiên chủ yếu để đánh B-52 vào ban đêm… Sự hiệp đồng chặt chẽ, chi viện kịp thời của Ra-đa, Pháo phòng không, Không quân tiêm kích, đã giúp bộ đội Tên lửa bắt, bám, đánh B-52 hiệu quả ngay trong đêm đầu tiên của chiến dịch (18-12). Đặc biệt ngay sau khi Tiểu đoàn 78, Trung đoàn Tên lửa phòng không 257 phóng quả đạn đầu tiên mở màn cho chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, vào 20 giờ 13 phút Tiểu đoàn 59, Trung đoàn Tên lửa phòng không 261 phóng 2 quả đạn hạ 1 máy bay B-52 rơi xuống cánh đồng Chuôm, xã Phù Lỗ, huyện Kim Anh (nay là Đông Anh, Hà Nội). Đây là chiếc máy bay B-52 đầu tiên bị ta bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội. Những ngày kế tiếp, các đơn vị Tên lửa liên tục bắt, bám, đánh trúng đội hình B-52 của địch, lập công xuất sắc… Trong cả chiến dịch, bộ đội Tên lửa đã bắn rơi 36 máy bay các loại, trong đó có 29 pháo đài bay B-52.

Sát cánh cùng các lực lượng còn có bộ đội Pháo Phòng không. Trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, ban ngày, Pháo Phòng không phát huy cao độ khả năng, tập trung đánh các loại máy bay chiến thuật của địch khi chúng đánh phá các sân bay, trận địa tên lửa và các mục tiêu quan trọng. Ban đêm Pháo Phòng không trực tiếp tham gia đánh các máy bay chiến thuật bay thấp gây nhiễu và hộ tống trong đội hình pháo đài bay B-52. Trong toàn bộ chiến dịch, lực lượng Pháo Phòng không đã bắn rơi 29 máy bay chiến thuật các loại, đặc biệt pháo 100mm đã bắn rơi 3 máy bay B-52.

Cùng với lực lượng phòng không quốc gia, lực lượng phòng không nhân dân đã có những đóng góp quan trọng làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Trong 12 ngày đêm của chiến dịch các đơn vị thuộc lực lượng phòng không của bộ đội địa phương, dân quân tự vệ chủ yếu được bố trí đón lõng bắn máy bay bay ở tầm thấp và tầm trung. Trong cả chiến dịch, lực lượng phòng không nhân dân đã bắn rơi 9 máy bay các loại.

Bằng việc tổ chức, bố trí, sử dụng lực lượng phù hợp, có sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, chúng ta đã phát huy mọi khả năng, sức mạnh tổng hợp của các lực lượng nhằm lập thế, tạo lực có lợi để thực hiện “thắng giặc bằng thế”. Từ chỗ tưởng chừng như không thể bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 chúng ta đã buộc pháo đài bay B-52 của Mỹ rơi tơi tả trên bầu trời miền Bắc. Sau 12 ngày đêm hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, ngoan cường, mưu trí, dũng cảm, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay của giặc Mỹ, trong đó có 34 máy bay B-52, 5 chiếc F-111 và 42 máy bay chiến thuật các loại. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã trở thành biểu trưng cho sức mạnh tinh thần, sức mạnh tổng hợp từ sự hiệp đồng chặt chẽ của các lực lượng và sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam.

Bài học kinh nghiệm quý báu về sự phối hợp, hiệp đồng chiến đấu giữa các lực lượng trong chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vẫn còn có ý nghĩa hết sức quý giá trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN hiện nay.

PHÙNG KIM LÂN
qdnd.vn

Kể chuyện “Đối mặt với B-52”

QĐND Online – Buổi lễ ra mắt cuốn sách “Đối mặt với B-52” và gặp gỡ các nhân chứng lịch sử của 12 ngày đêm năm 1972, diễn ra tại Thư viện Hà Nội vào ngày 4-12, do Nhà xuất bản Trẻ phối hợp với Công ty Tomorrow Media tổ chức đã giúp người đọc hồi tưởng lại ký ức của một thời Hà Nội kiên cường chiến đấu, làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Cuốn sách tập hợp lời kể của 116 nhân chứng đã chứng kiến những năm tháng Hà Nội bị B-52 tàn phá. “Đối mặt với B-52” chia làm 3 phần, cuốn sách đi theo mạch thời gian từ thời điểm miền Bắc chống chiến tranh phá hoại, cuộc sống của người Hà Nội những năm 1966-1972 và quá trình Quân đội nhân dân Việt Nam nghiên cứu làm thế nào để hạ được “pháo đài bay” B52. Tiếp theo là quãng thời gian 12 ngày đêm người Hà Nội kiên cường trong cuộc chiến chống lại đạn bom của Mỹ trút xuống Thủ đô. Phần III là câu chuyện của Hiệp định Paris dưới tác động của “Điện Biên Phủ trên không”.

Đọc cuốn sách “Đối mặt với B-52”, độc giả sẽ thấy “Dẫu phố phường bị giặc tàn phá đau thương, ghi chiến công tuyệt vời, một Điện Biên chói sáng, Hà Nội ơi… trong bom đạn vẫn ngời ánh sáng tương lai, ta đứng trên đầu thù, tự hào thay dáng đứng Việt Nam”.

Ông Phùng Tửu Bôi, sinh năm 1958 (Viện Điều tra quy hoạch rừng, Bộ Lâm nghiệp) kể: “Những năm chiến tranh, bom đạn như cơm bữa, cứ nghe còi báo động thì biết phải chui vào đâu rồi. Cơ quan cũng có hầm, ngoài đường cũng có, nhà nào cũng có hầm. Nhưng cũng nguy hiểm, tôi có anh bạn mất con trong hầm ở nhà. Chuẩn bị đi sơ tán, bố mẹ mải thu dọn quần áo, đồ đạc buộc lên xe đạp, để mấy đứa nhỏ chơi với nhau. Một lúc sau, không thấy con, tưởng nó đi chơi ngoài đường, cả nhà chạy đi tìm thì thấy con đã chết trong hầm trú ẩn ngập nước trong nhà. Hà Nội hồi ấy vắng, có một điều lạ là khi bom đạn thì yên ắng nhưng khi có tiếng còi báo đã hết ném bom thì đường phố lại tấp nập, mọi người đi lại, làm việc ngay. Tôi thấy, hồi ấy tinh thần hay lắm, giúp người ta vượt qua mọi thứ, ai cũng có thể làm được nhiều việc, sẵn sàng xông vào để cứu người này, giúp người khác”.

Buổi lễ ra mắt cuốn sách “Đối mặt với B-52” và gặp gỡ các nhân chứng lịch sử của 12 ngày đêm năm 1972

“Hồi ấy, chúng tôi luôn tâm niệm “ăn cũng B-52, ngủ cũng B-52”, lúc nào cũng nghĩ cách làm thế nào để đánh được B-52”, ông Đỗ Mạnh Hiến (Binh chủng Rađa) khẳng định.

Bác sĩ Nguyễn Văn Luân, nguyên phó trưởng khoa Ngoại bệnh viện Bạch Mai nhớ lại: “Trời hôm ấy lạnh lắm. Khi máy bay cường kích ném bom xong bỏ đi thì nghe B-52 bay trên bầu trời. Tôi cùng một số nhân viên còn lại chui xuống hầm trú ẩn. Còi báo yên, ra khỏi hầm thì trước mắt tôi là quang cảnh nhà cửa bị tàn phá. Khối nhà dưới thuộc khoa Da liễu và khoa Tai mũi họng bị sập”.

Diễn viên nổi tiếng người Mỹ Jane Fonda đã viết trong hồi ký khi kể về những ngày cô đến Hà Nội năm 1972 như sau: “Tôi lái xe đến Bệnh viện Hữu nghị Việt –Xô để khám chân. Phiên dịch của tôi tên là Chi. Tôi nói với các bác sĩ, tôi là người Mỹ và câu giới thiệu này gây xôn xao xung quanh. Tôi tìm một biểu hiện hằn thù trong mắt những người tôi thấy. Nhưng tuyệt nhiên không có gì. Những ánh mắt không hận thù ấy ám ảnh tôi suốt nhiều năm sau khi cuộc chiến chấm dứt”.

Nguyên phóng viên ảnh Báo Phòng không – Không quân Nguyễn Xuân Ất cho biết: “Nhà tôi ở phố Khâm Thiên. Đêm 26-12, khi địch đánh vào khu phố, tôi có mặt ở nhà nên chụp được cảnh B-52 cháy ngay trong nội thành. Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 26-12 thì có tiếng còi báo động, vẫn như những ngày trước, còi rú lên, loa báo máy bay địch đến gần, cách Hà Nội bao nhiêu cây số. Lúc nghe loa báo, tôi đang ở giữa phố, tôi chạy về nhà, lấy máy ảnh ra sân “trực chiến”. Khi thấy bầu trời bừng sáng, tôi chụp được 2 kiểu ảnh B-52 cháy. Xong việc, tôi mới xuống hầm trú ẩn”.

Hình thức tái hiện lịch sử qua lời kể trong cuốn sách “Đối mặt với B-52” đem đến cho độc giả một tác phẩm có giá trị và sự cảm nhận lịch sử gần gũi, chân thực.

Tin, ảnh: Khánh Huyền
qdnd.vn

Bản lĩnh, trí tuệViệt Nam: Biểu tượng rực rỡ của nghệ thuật quân sự Việt Nam

QĐND – Thắng lợi của Chiến dịch Phòng không (CDPK) Hà Nội, Hải Phòng tháng 12-1972 tạo bước ngoặt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau 12 ngày đêm chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh, thành phố miền Bắc đã đánh bại sức mạnh của không lực Hoa Kỳ. 40 năm trôi qua, đã có nhiều tác phẩm, tổng kết của các nhà lãnh đạo, tướng lĩnh, nhà nghiên cứu lý luận quân sự trong và ngoài nước viết về CDPK Hà Nội, Hải Phòng tháng 12-1972. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng đều khẳng định CDPK Hà Nội, Hải Phòng tháng 12-1972 là chiến thắng của sức mạnh chính trị tinh thần, của trí tuệ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, tiến hành chiến tranh nhân dân toàn diện, với nghệ thuật quân sự tài giỏi của một quân đội anh hùng.

Cho đến tháng 10-1972, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đã diễn ra hơn nửa năm và giành thắng lợi to lớn, làm thay đổi cục diện chiến trường. Trên miền Bắc, quân và dân ta đã đánh bại một bước quan trọng cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ; không ngừng tăng cường sức người, sức của vào tiền tuyến lớn, cùng quân và dân miền Nam phát triển cuộc tiến công chiến lược. Tại Pa-ri, cuộc đàm phán giữa ta và Mỹ kéo dài đã 4 năm. Ngày 8-10-1972, Chính phủ ta đưa ra bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, ta và Mỹ đã thỏa thuận hầu hết các nội dung của bản dự thảo, ấn định ngày 22-10-1972 ký tắt tại Hà Nội và ngày 31-10-1972 ký chính thức tại Pa-ri. Nhưng phía Mỹ cố tình dây dưa, muốn sử dụng thỏa thuận này để làm một cuộc nghi binh chiến lược tạo bất ngờ cho cuộc tiến công bằng không quân chiến lược vào Hà Nội và Hải Phòng, nhằm giành thế mạnh cả về quân sự và ngoại giao, ép ta phải nhân nhượng theo những điều kiện có lợi cho Mỹ.

Từ lâu, Chủ tịch Hồ chí Minh với thiên tài của mình đã nhận định: “Mỹ chỉ chịu thua ta khi chúng thua trên bầu trời Hà Nội”. Bộ Chính trị, Trung ương Đảng cũng nhận định: Địch sẽ đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, có nhiều khả năng chúng sẽ dùng máy bay chiến lược B-52 đánh ồ ạt vào Hà Nội… Đúng như dự đoán của ta, ngày 17-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn ra lệnh mở cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 mang tên “Lai-nơ-bếch-cơ II” vào Hà Nội, Hải Phòng và các vùng phụ cận…

Để chuẩn bị và đánh thắng B-52 của Mỹ trên bầu trời Hà Nội, Quân ủy Trung ương giao cho Quân chủng PK-KQ xây dựng kế hoạch tác chiến; đồng thời đã sớm điều Trung đoàn Tên lửa 238 vào chiến trường Nam Khu 4 nghiên cứu cách đánh B-52. Nhiều đoàn cán bộ PK-KQ cùng một số trung đoàn tên lửa và biên đội không quân tiêm kích cũng được cử vào Nam Khu 4 nghiên cứu cách đánh B-52.

Bộ Tổng tham mưu (BTTM) tổ chức Hội nghị chuyên đề tìm cách đánh B-52. Hội nghị đã phân tích tình hình, đặc tính kỹ thuật, chiến thuật của máy bay B-52, các phương án tác chiến và kinh nghiệm đánh B-52 từ thực tế trên chiến trường, trên cơ sở đó thống nhất cao về cách đánh, chuẩn bị chu đáo về con người và VKTBKT. Ngay sau hội nghị, BTTM chỉ thị cho các cơ quan, đơn vị thực hiện gấp việc nghiên cứu và triển khai kế hoạch đánh B-52. Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ chủ trì biên soạn lý luận chiến thuật đánh B-52; bổ sung kế hoạch, phương án tác chiến, điều chỉnh bố trí lực lượng đánh B-52, biên soạn tài liệu “Cách đánh B-52″, tổ chức huấn luyện và tiến hành tập huấn đánh B-52 trong các tình huống phức tạp. Phương án đánh B-52 được nhanh chóng hoàn thành theo đúng kế hoạch gọi là “Phương án tháng bảy”. Các đơn vị tên lửa, ra-đa, pháo 100mm mở đợt huấn luyện đột kích với nội dung, mục tiêu chủ yếu là đánh B-52. Bộ đội Không quân tích cực luyện tập theo phương án đánh B-52 trên năm hướng xung quanh Hà Nội, gọi là “Phương án năm cánh sao”. Phương án này được kết hợp chặt chẽ với hỏa lực của các binh chủng bạn, cả vòng trong và vòng ngoài, kết hợp cơ động và yếu địa, tuyến trước và tuyến sau, trên không và mặt đất…

Việc nghiên cứu chuẩn bị kế hoạch đánh máy bay B-52 được triển khai gấp rút và đã căn bản hoàn thành vào đầu tháng 9-1972. Dựa vào kinh nghiệm đã rút ra từ thực tiễn chiến đấu và những hiểu biết ngày càng nhiều về vũ khí, khí tài và thủ đoạn hoạt động của địch, tài liệu “Cách đánh B-52” sau nhiều lần bổ sung hoàn chỉnh đã góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, chiến đấu của bộ đội. Tháng 9-1972, BTTM chỉ đạo Quân chủng PK-KQ bổ sung và hoàn thiện phương án mới đánh B-52, được gọi là “Phương án tháng chín”; xác định những vấn đề cơ bản của nghệ thuật chiến dịch phòng không như phán đoán âm mưu, thủ đoạn, hướng và mục tiêu tiến công của địch, quyết định sử dụng lực lượng, cách đánh của ta. Nhờ nắm vững thực tế chiến trường, nghiên cứu đề ra phương án tác chiến đúng, điều chỉnh kịp thời, ta đã chủ động trong Chiến dịch Phòng không Hà Nội – Hải Phòng tháng 12-1972 và giành thắng lợi quyết định.

Để đánh thắng các đòn tập kích đường không bằng máy bay chiến lược B-52, Quân chủng PK-KQ tạo lập thế trận phòng không khu vực Hà Nội, Hải Phòng theo nguyên tắc tập trung có trọng điểm, hình thành ba cụm phòng không ôm sát ba khu vực mục tiêu bảo vệ: Cụm Hà Nội, cụm Hải Phòng và cụm phía Bắc đường 1, Thái Nguyên. Ba cụm phòng không này tạo ra thế “chân kiềng” liên kết hỗ trợ lẫn nhau, trong đó cụm phòng không Hà Nội là trọng điểm. Do ta tạo lập được thế trận phòng không liên hoàn đã bảo đảm cho cách đánh tập trung của các lực lượng phòng không rất có hiệu quả, giành quyền chủ động ngay từ đầu.

Trong quá trình tác chiến, ta chủ động chuyển hóa thế trận. Khi sang đợt 2 ta điều hai Tiểu đoàn tên lửa phòng không 71, 72 của Hải Phòng cho Hà Nội và đưa cả 3 tiểu đoàn của Trung đoàn Tên lửa 274 vào chiến đấu. Đồng thời, thay đổi sân bay cất cánh cho không quân ta đánh từ xa, gây bất ngờ lớn đối với địch. Giành thế chủ động đánh thắng trận then chốt quyết định vào đêm 26-12-1972.

Thắng lợi của CDPK Hà Nội, Hải Phòng, thể hiện nghệ thuật tác chiến phòng không tài tình, sáng tạo, phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng phòng không ba thứ quân, lấy phòng không chủ lực làm nòng cốt, giải quyết đúng đắn và phát triển sáng tạo việc phát động toàn dân đánh máy bay địch. Đồng thời, đã xác định đúng nhiệm vụ cho lực lượng phòng không ba thứ quân. Để phát huy sức mạnh đánh địch, BTTM đã chỉ đạo chặt chẽ, phối hợp hoạt động tác chiến giữa phòng không chủ lực với phòng không địa phương, phòng không DQTV và đông đảo các tay súng bắn máy bay bằng súng bộ binh của các lực lượng khác, trong đó lực lượng phòng không chủ lực luôn giữ vai trò nòng cốt. Thực hiện kết hợp đánh rộng khắp với đánh tập trung, đánh nhỏ với đánh vừa và đánh lớn làm cho địch vô cùng hoảng sợ khi bay vào vùng trời Hà Nội, đồng thời cổ vũ tinh thần giữ vững ý chí quyết chiến quyết thắng của các lực lượng.

Trong CDPK này, lực lượng phòng không đã đánh và thắng kẻ địch mạnh và hiện đại gấp nhiều lần, một trong những nguyên nhân đó là ta biết kết hợp chặt chẽ các yếu tố lực, thế, thời, mưu. Sức mạnh tổng hợp của lực lượng phòng không tham gia chiến dịch được phát huy cao độ. Phong trào thi đua bắn rơi máy bay địch nói chung và B-52 đối với lực lượng chủ chốt chiến dịch đã lan tỏa trong từng thành phần lực lượng, từng đơn vị. Kết quả từ các lực lượng phòng không của DQTV đến các đơn vị phòng không, không quân chủ lực đều bắn rơi máy bay địch.

CDPK Hà Nội, Hải Phòng tháng 12-1972, quán triệt sâu sắc nghệ thuật chiến tranh nhân dân của Đảng, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, lấy phương tiện vũ khí kém hiện đại thắng phương tiện vũ khí hiện đại. Chúng ta đã đánh giá đúng tình hình, đúng sự tương quan lực lượng và dự kiến được sự chuyển hóa tình hình, sự phát triển của địch. Trên cơ sở đó đã đề ra các biện pháp và động viên sự nỗ lực cao độ của toàn dân tham gia đánh địch, nhằm hạn chế những điểm mạnh của địch, đồng thời khoét sâu vào những điểm yếu của chúng, tạo nên thế trận có lợi, giành và giữ quyền chủ động trong tác chiến. Chiến dịch đã lựa chọn hình thức chiến thuật phù hợp; tổ chức sử dụng lực lượng hợp lý trong từng trận đánh; sáng tạo nhiều cách đánh hay, hiểm, tập trung tiêu diệt đối tượng chủ yếu của chiến dịch. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã vượt ra khỏi phạm vi của một chiến dịch thông thường, góp phần quyết định “đánh cho Mỹ cút”, tạo tiền đề “đánh cho ngụy nhào” vào mùa xuân 1975.

Trung tướng, TS VÕ TIẾN TRUNG, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng
qdnd.vn

Chiến thắng của sự kết hợp thiên thời, địa lợi, nhân hòa

Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

QĐND – Bốn mươi năm đã trôi qua, nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu về “Điện Biên Phủ trên không” đã tổng kết, đúc rút thành các bài học được công bố trong nước và trên thế giới. Tôi hoàn toàn đồng tình với những gì mà các công trình nêu ra. Với cương vị là người trong cuộc, tôi xin góp một lời bàn để lý giải câu hỏi mà đến nay vẫn có nhiều người đặt ra: “Vì sao bộ đội Tên lửa Phòng không (TLPK) Hà Nội bắn rơi máy bay chiến lược B -52 của Mỹ trong cuối tháng Chạp năm 1972”.

Tôi cho rằng, chiến thắng của Bộ đội TLPK Hà Nội tháng 12-1972 là bởi “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Thiên thời là bởi, thời cơ mà người Mỹ chọn để đánh Hà Nội lúc này là muốn ép chúng ta phải ký một hiệp định có lợi nhất cho phía Mỹ. Phía ta, sau 4 năm nghiên cứu đánh máy bay B -52 ở chiến trường Quân khu 4 và cả ở Hải Phòng, Bộ đội TLPK đã rút được nhiều kinh nghiệm và biên tập thành tài liệu “Cách đánh B -52” để tập huấn cho toàn quân chủng vào cuối tháng 10-1972. Bộ đội TLPK Hà Nội trải qua gần một năm chiến đấu với lực lượng không quân Mỹ với thủ đoạn gây nhiễu tạp, nhờ đó đã sáng tạo và thành thạo cách đánh “ba điểm”. Đây là một lợi thế của bộ đội TLPK Hà Nội so với bộ đội tên lửa Hải Phòng và Khu 4 khi bước vào đánh B -52. Trong quá trình xây dựng cách đánh máy bay B -52, bộ đội TLPK Hà Nội đã được Quân chủng PK -KQ xác định là lực lượng chủ yếu. Do vậy ngay từ tháng 11-1972, các kíp chiến đấu của các tiểu đoàn TLPK Hà Nội đã miệt mài luyện tập thành thạo cách đánh máy bay B -52 theo tài liệu tập huấn của quân chủng và chỉ chờ thời cơ để sử dụng nó. Khoảng thời gian ngừng bắn từ cuối tháng 10-1972 là cơ hội rất thuận lợi để bộ đội tên lửa Hà Nội huấn luyện, nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật trước khi bước vào chiến dịch.

Kíp chiến đấu Tiểu đoàn Tên lửa 57 (Trung đoàn 261) bắn rơi 4 máy bay B -52 trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972.

Về phía đối phương, do 4 năm sử dụng B -52 đánh phá miền Bắc nước ta, kể cả đánh vào Hải Phòng, nhưng chúng chưa bị ta bắn rơi tại chỗ B -52 nên không quân Mỹ chủ quan, coi thường lực lượng TLPK Việt Nam. Họ cho rằng: “Bay vào Hà Nội chỉ như cuộc dạo chơi trong đêm phương Đông, ở độ cao 10.000m, đối phương không thể với tới, các bạn chỉ cần ấn nút rồi trở về căn cứ an toàn, sạch sẽ”. Sự chủ quan của không quân Mỹ cũng chính là thời cơ vàng của chúng ta để hạ “nốc ao” con ngáo ộp B -52 trên bầu trời Thủ đô. Ta nói việc đánh giá sai khả năng chiến đấu của TLPK là thời cơ “vàng” vì nếu không quân Mỹ coi lực lượng TLPK Hà Nội là mối đe dọa trực tiếp thì họ sẽ tổ chức lực lượng không quân đánh phá các trận địa tên lửa ngay từ đầu chiến dịch như hệ thống sân bay của ta khi đó. Nếu như vậy thì chúng ta sẽ không biết điều gì xảy ra trong chiến dịch này.

Một yếu tố khác là cuối tháng 11 đầu tháng 12-1972 cấp trên đang có kế hoạch đưa Trung đoàn Tên lửa 261 vào tăng cường cho chiến trường miền Nam. Nhưng quyết định đó chưa thực hiện thì chiến dịch 12 ngày đêm tháng Chạp 1972 đã xảy ra và lực lượng tên lửa Hà Nội đủ khả năng đánh trả và đánh thắng không quân chiến lược Mỹ.

Khi đánh Hà Nội là một mục tiêu cố định. Máy bay B -52 muốn bay bằng cắt bom chính xác vào mục tiêu thì ở cự ly cách mục tiêu từ 70km đến 100km bắt buộc phi công phải giữ máy bay bay ổn định cho tới lúc bay qua mục tiêu. Đây lại là thời cơ tốt nhất để bộ đội TLPK Hà Nội thực hành xạ kích và bắn rơi máy bay B -52 của Mỹ. Đó chính là: Địa lợi. Mặt khác thế trận phòng không Hà Nội đã được xây dựng từ nhiều năm, trải qua thử thách trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ được bổ sung, điều chỉnh thích hợp khá ổn định. Hỏa lực tên lửa ở đây có thể bố trí đánh được nhiều tầng, nhiều hướng. Do vậy khi đánh Hà Nội, máy bay B -52 của Mỹ thường cùng một lúc bị nhiều đơn vị đánh tập trung và “đánh bồi, đánh nhồi” nên xác suất tiêu diệt chúng tăng lên rất cao, khả năng bị bắn rơi nhiều là điều tất yếu.

Do đội hình bố trí nhiều tầng, nhiều lớp, nên khi B -52 gây nhiễu trong đội hình thì sẽ có đơn vị bị nhiễu nặng khi tham số đường bay nhỏ phải đánh bằng phương pháp 3 điểm. Và có những đơn vị bị nhiễu nhẹ có khả năng phát hiện được mục tiêu trên nền nhiễu khi tham số đường bay tương đối lớn. Đây là thời cơ thuận lợi để các đơn vị TLPK sử dụng phương pháp bắn đón nửa góc – một phương pháp bắn hiệu quả nhất của khí tài tên lửa phòng không SAM -2 để bắn rơi B -52.

Yếu tố quyết định cho việc đánh thắng B -52 trong tháng Chạp năm 1972 chính là con người trong chiến tranh, nói cách khác là được: Nhân hòa. Ngày đó những người chiến sĩ TLPK Hà Nội cũng như những người chiến sĩ khác trên khắp các chiến trường chống Mỹ trong cả nước, họ đều có một quyết tâm chiến đấu vì sự nghiệp bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng, Bác Hồ được mọi người dân tin tưởng và quyết tâm thực hiện bằng được. Từ niềm tin họ biến thành hành động cụ thể trong công tác, lao động sản xuất và đặc biệt là trong chiến đấu. Nhân hòa ở đây còn là lòng tin. Những ngày đó lòng tin vào vũ khí khí tài có khả năng đánh rơi B -52 là rất quan trọng. Sự tin tưởng đó là xuất phát từ tính năng của bộ khí tài cho phép và đã được kiểm nghiệm từ thực tế chiến đấu trên các chiến trường. Từ lòng tin người chiến sĩ TLPK biến thành hành động thực tế huấn luyện, trong công tác bảo quản, khai thác triệt để những tính năng của bộ khí tài để đánh địch. Chính từ lòng tin mà nhiều đơn vị đã mạnh dạn sử dụng phương pháp “ba điểm” – một phương pháp có xác suất tiêu diệt thấp để đánh địch nhưng vẫn hiệu quả. Có lòng tin nên từng cán bộ, chiến sĩ đã ngày đêm lăn lộn sửa chữa khí tài khi xảy ra hỏng hóc, điều chỉnh tỉ mỉ từng tham số về giá trị danh định để bảo đảm hệ số sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Nhân hòa ở đây còn là lòng tin, là sự tin tưởng lẫn nhau trong kíp chiến đấu của tiểu đoàn TLPK. Chúng ta biết trong tiểu đoàn TLPK SAM -2 hàng trăm con người phục vụ cho công tác sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Nhưng để đưa quả đạn tới diệt máy bay thì cuối cùng phụ thuộc vào vai trò của tiểu đoàn trưởng, sĩ quan điều khiển và 3 trắc thủ tay quay. Sự hiệp đồng giữa những con người này là rất quan trọng, chỉ cần một sơ suất nhỏ của một trong năm con người này là trận đánh sẽ thất bại. Vì vậy sự đoàn kết và tin cậy lẫn nhau của kíp trắc thủ có vai trò quyết định trong chiến đấu. Ngoài sự tin cậy trong kíp trắc thủ, họ còn rất tin cậy đối với công tác kiểm tra, điều chỉnh tham số máy móc của các xe, hệ, bệ, đạn trong toàn tiểu đoàn cũng là yếu tố tạo nên sức mạnh trong chiến đấu. Suy cho cùng trong mọi trường hợp nếu chúng ta mất lòng tin thì sẽ chẳng làm được một việc gì thành công.

Một yếu tố quan trọng khác góp phần để tạo nên sức mạnh trong cả hai cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đối với miền Bắc nói chung và trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972 đó là Đảng ta đã khéo léo tận dụng được sự giúp đỡ của các nước XHCN, đặc biệt là của Liên Xô và Trung Quốc; sự ủng hộ của các nước bạn bè quốc tế và nhân loại tiến bộ trên thế giới đã góp phần giúp chúng ta đánh Mỹ và thắng Mỹ.

ĐẠI TÁ NGUYỄN ĐÌNH KIÊN (*)
qdnd.vn

(*)Anh hùng LLVT nhân dân; nguyên Phó cục trưởng Cục Tác chiến – Bộ Tổng tham mưu; nguyên sĩ quan điều khiển Tiểu đoàn 57 (Trung đoàn 261).