Vâng lời Bác, chúng con lên đường

Đúng 7 giờ sáng ngày 23/01/2013, khi tiết trời Hà Nội còn đang mờ sương buổi sớm, nhưng gần 400 cán bộ, giáo viên, học viên Học viện Kỹ thuật Quân sự cùng các đại biểu của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có mặt đông đủ trước Lăng Chủ tịch Hồ Chi Minh để tổ chức lễ báo công dâng Bác cho 326 học viên Khoá học 43, Học viện Kỹ thuật Quân sự tốt nghiệp ra trường, chuẩn bị lên đường nhận nhiệm vụ mới.

HVKTQS
Học viên Khoá học 43, Học viện Kỹ thuật Quân sự
báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Buổi lễ báo công dâng Bác hôm nay là nội dung trọng tâm trong chương trình phối hợp giáo dục, tuyên truyền đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh giữa Học viện Kỹ thuật Quân sự và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được ký kết từ ngày 19/5/2012. Nooij dung của Chương trình phối hợp giữa Học viện và Bộ Tư lệnh là: “Tất cả các học viên của Học viện Kỹ thuật Quân sự trong dịp khai giảng, mở đầu khoá học mới được vào Lăng viếng Bác; khi kết thúc khoá học ra trường được về Lăng báo công dâng Người”. Đây là nội dung tuyên truyền, giáo dục thiết thực, hiệu quả. Mở đầu khóa học, từng học viên khi về Lăng viếng Bác, như để hứa với Bác sẽ nỗ lực cố gắng phấn đấu hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ của người học viên. Để trước khi tốt nghiệp ra trường, tất cả các học viên về trước Lăng Bác báo cáo với Người kết quả học tập, rèn luyện trong những năm học tại Trường. Đồng thời tiếp tục hứa với Bác sẽ đi bất cứ nơi đâu, nhận bất cứ nhiệm vụ gì khi Tổ quốc, nhân dân và Quân đội giao phó; phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sau lễ chào cờ và lắng nghe những lời căn dặn của Bác đối với Thanh niên, Đại tá Nguyễn Văn Tài, Phó Chủ nhiệm Chính trị Học viện đã trân trọng kính thưa với Bác những kết quả nổi bật trong học tập, rèn luyện của Khóa học 43: Thực hiện mục tiêu đào tạo học viên trở thành người sỹ quan tốt – kỹ sư giỏi – đảng viên mẫu mực, trong gần 6 năm học vừa qua (2007- 2013), toàn thể cán bộ, học viên Khóa 43 đã nêu cao tinh thần đoàn kết, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn thử thách, phấn đấu “học tập tốt, rèn luyện kỷ luật nghiêm”, hoàn thành tốt nhiệm vụ của toàn khóa học. Trong số 326 học viên tốt nghiệp ra trường hôm nay có 271 đồng chí (chiếm 83,18%) đạt kết quả Khá, Giỏi. Đồng thời, Khóa học 43 còn dành được 49 giải Olympic, trong đó có 10 giải Nhất và 12 giải Nhì; tiến hành nghiên cứu 130 đề tài khoa học, có 31 đề tài được các cấp khen thưởng và có 322 đồng chí (chiếm 98,78%) được vinh dự trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong niềm vui chung của Học viện và toàn Khoá học 43, có 10 học viên tiêu biểu xuất sắc gồm các đồng chí Nguyễn Văn Cương, Nguyễn Thị Bảo Yến và Ngô Thị Hòa thuộc Đại đội 143, Tiểu đoàn 1; Phạm Đình Thắng, Trương Quang Lăng và Trần Văn Hiệp thuộc Đại đội 243, Tiểu đoàn 2; Đới Thị Lan, Phạm Thúy Hằng thuộc Đại đội 343, Tiểu đoàn 3 và Đào Duy Tùng, Đỗ Văn Thùy thuộc Đại đội 443, Tiểu đoàn 4 được Học viện Kỹ thuật Quân sự và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Huy hiệu Bác Hồ trước Lăng của Người. Đồng chí Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Thiện Chất, Phó Chính ủy Học viện Kỹ thuật Quân sự đã gắn cho từng đồng chí Huy hiệu Bác Hồ – phần thưởng cao quý mà lúc sinh thời Người dành tặng cho những gương “người tốt, việc tốt” tiêu biểu.

Đời đời ghi nhớ công ơn của Đảng, của Bác, trực tiếp là những tình cảm quý báu và sự quan tâm giáo dục, rèn luyện của Học viện dành cho các học viên trong những năm học vừa qua, đồng chí Phạm Đình Thắng đã xúc động báo cáo với Bác: “Trong giờ phút trang nghiêm này, chúng cháu xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Đảng, Bác Hồ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các cấp, cùng các thầy, các cô và các đồng chí nhân viên, chiến sỹ phục vụ trong Học viện đã luôn quan tâm giáo dục, rèn luyện, giúp đỡ để chúng cháu hoàn thành tốt nhiệm vụ khóa học và trở thành người sỹ quan, người cán bộ khoa học kỹ thuật trong Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng”.

Kết thúc buổi lễ, các đại biểu cùng toàn thể cán bộ, học viên Khóa học 43, Học viện Kỹ thuật Quân sự kính cẩn dâng vòng hoa: “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại” và vào Lăng viếng Người. Tâm trạng về bên Bác ai cũng bồi hồi xúc động, nhưng đều quyết tâm thực hiện trọn vẹn lời hứa mà đồng chí Phạm Thúy Hằng, học viên Đại đội 343, Tiểu đoàn 3 đã hứa với Bác: “Năm xưa, vâng lời Bác, các thế hệ cha anh đã xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Nay, vâng lời Bác, chúng cháu sẽ tiếp bước cha anh, lên đường hướng tới mọi vùng miền, biên cương của Tổ quốc, đem sức trẻ, lòng nhiệt huyết và kiến thức đã được Học viện trang bị vào quản lý, khai thác, sử dụng, cải tiến vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật của từng đơn vị, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”./..

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn

Hiệp định Paris – Dấu son của ngành ngoại giao VN

Quang cảnh Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.(Nguồn: qdnd.vn)

Đúng 40 năm trước, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết là kết quả thắng lợi hết sức quan trọng của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

Bốn thập kỷ đã trôi qua nhưng hình ảnh các đoàn đàm phán vẫn luôn in đậm trong ký ức những nhân chứng lịch sử, đồng thời đây cũng là một dấu son không bao giờ phai mờ được ghi vào lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh nói riêng.

Thắng lợi ngoại giao to lớn

Sau thất bại Tết Mậu Thân năm 1968, Mỹ buộc phải ngừng ném bom từ Ninh Bình trở ra phía Bắc và ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam tại Paris. Cuộc đàm phán giữa đoàn đại biểu Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức bắt đầu ngày 13/5/1968 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở đường Kleber, Paris đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh Việt Nam, đọ sức trên mặt trận ngoại giao, mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm”.

Nhớ lại những ngày tháng đấu trí cam go, quyết liệt ấy, ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên Đại sứ, nguyên thành viên Đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa chia sẻ, đó là một trong những hoạt động ngoại giao to lớn, quan trọng của Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, thu hút sự chú ý của dư luận thế giới.

Cuộc đàm phán thể hiện sự đối đầu toàn diện về chiến lược và chiến thuật, bản lĩnh và trí tuệ, đạo lý và pháp lý giữa Việt Nam và Mỹ. Sự kết hợp khôn khéo chiến lược “vừa đánh vừa đàm” của Việt Nam buộc Mỹ phải ra lệnh chấm dứt mọi hành động ném bom đánh phá miền Bắc để đi tới đàm phán bốn bên.

Ông Huỳnh bồi hồi kể lại, mãi đến ngày 27/10/1968, hai bên mới thỏa thuận được tất cả các vấn đề và đến 31/10/1968, Johnson mới ra lệnh chấm dứt ném bom miền Bắc. Lúc đó Hà Nội chỉ thị sang cuộc họp bốn bên sẽ không tiến hành trước ngày 6/11/1968.

Do đó, hai đoàn (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ) chuẩn bị hai bản tuyên bố ngắn.

Theo thông lệ, vào phiên họp, đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ưu tiên phát biểu trước. Nhưng lần này, bắt đầu vào phiên họp Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy đã đứng lên tuyên bố bỏ phiên họp.

Ngay sau đó, không một phút chần chừ, Trưởng đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam là bà Nguyễn Thị Bình cũng đứng lên đồng tình ủng hộ ý kiến hủy bỏ phiên họp. Hai đoàn ra về nhanh chóng, điều đó làm cho đoàn Mỹ hoàn toàn bất ngờ không kịp phản ứng.

Đây có lẽ cuộc họp ngoại giao ngắn nhất trong lịch sử, ông Huỳnh cho biết.

Ngày đó, chỉ là một cán bộ bình thường tham gia thành viên của đoàn đàm phán nhưng mỗi khi nhớ lại, ông Nguyễn Khắc Huỳnh vẫn cảm thấy tự hào đã được đóng góp công sức cho thời khắc lịch sử ấy, Hiệp định Paris được ký kết là thắng lợi ngoại giao sáng chói, mở ra một chương mới cho nền ngoại giao Việt Nam và cả vận mệnh đất nước.

Qua đàm phán Paris, ngoại giao Việt Nam tiếp thu thêm những ý tưởng mới, hiểu thêm thế giới và các quan hệ quốc tế, tạo thuận lợi cho công tác ngoại giao sau này.

Bằng chất giọng trầm ấm, tuy hơi chậm do tuổi tác nhưng vẫn toát lên khí chất của một cán bộ ngoại giao kỳ cựu, như đang sống lại những thời khắc lịch sử ấy, ông bộc bạch: “Đến ngày 20/10/1972, hai bên đạt thỏa thuận cuối cùng, dự định ký Hiệp định ngày 31/10/1972. Với văn bản Hiệp định hai bên đã thỏa thuận, Việt Nam đã đạt được các mục tiêu đề ra đó là Mỹ chấm dứt chiến tranh và rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Tôi và các thành viên trong đoàn đều không thể nào ngủ được vì vui sướng, bởi điều mình chờ đợi rất lâu, nay đã đến. Lúc đó, chỉ muốn báo tin ngay về cho người thân để thốt lên: Việt Nam sắp hòa bình rồi”.

“Tù binh” trong vấn đề tù binh tại đàm phán Paris

Trong văn bản Hiệp định Paris, vấn đề tù binh, nhất là tù binh chính trị trở thành một trong các vấn đề đấu tranh gay gắt nhất. Các quy định chính của Hiệp định Paris năm 1973 đã đáp ứng đúng những yêu cầu cơ bản nhất của nhân dân Việt Nam. Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược ở cả hai miền Việt Nam và rút hết quân đội về nước, song song với việc Việt Nam thả hết tù binh Mỹ.

Với tư cách là người được giao nhiệm vụ phụ trách vấn đề quản lý tù binh Mỹ, ông Trần Tuấn Anh, nguyên Đại sứ, nguyên thành viên Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris, kể lại: “Khi Hiệp định Paris diễn ra, tôi không phải là người đầu tiên đi theo đoàn mà ở lại nhận nhiệm vụ phụ trách vấn đề tù binh ở Hà Nội. Tháng 9/1969, tôi mới sang Paris để nhập vào đoàn đàm phán theo dõi tình hình tù binh.

Sau thời gian 9 tháng, đoàn Việt Nam nhận định hội nghị còn có thể kéo dài, ít chuyển biến, thêm nữa vấn đề tài chính của đoàn lúc này có khó khăn nên tôi đã trở về nước. Đến tháng 11/1972 tôi trở lại Paris và trực tiếp tham gia vào vấn đề đấu tranh trao trả tù binh”.

40 năm đã qua đi, nhưng ký ức xưa vẫn mãi mãi khắc ghi trong tâm khảm của những nhân chứng lịch sử như ông Trần Tuấn Anh. Những lý luận đấu tranh cứng rắn, chắc chắn và quyết liệt, chặt chẽ của Việt Nam về vấn đề tù binh trở thành một trong những giải pháp buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh.

Chính sách nhân đạo đối với tù binh Mỹ của Việt Nam đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, nhất là từ tháng 5/1969, khi chính quyền Nixon khuấy lên rất mạnh vấn đề này. Những hoạt động chủ yếu của chính quyền Nixon dựa vào xuyên tạc và vu cáo.

Nhưng thời gian đầu, họ đã lợi dụng hệ thống thông tin rộng lớn và hiện đại, nhất là vào sự ít hiểu biết về Việt Nam của nhân dân và dư luận Mỹ và đánh lừa được khá nhiều người. Do đó, cuộc đấu tranh của Việt Nam về vấn đề tù binh diễn ra rất gay gắt.

Mục tiêu đấu tranh của Việt Nam là làm thất bại âm mưu thủ đoạn của Mỹ, đề cao chính sách nhân đạo của Việt Nam đối với tù binh Mỹ, làm nổi bật tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.

Điều đó đã làm cho những luận điệu xuyên tạc của Nixon ngày càng mất tác dụng, đồng thời tạo thuận lợi cho lĩnh vực đấu tranh của Việt Nam trong vấn đề tù binh. Chính vì vậy, ở thời điểm đó, các hãng thông tin của Mỹ và dư luận báo chí nhận xét: “Chưa bao giờ Mỹ lại có vẻ bất lực, trơ trụi như bây giờ”, “chính quyền này tự đào hố chôn mình”, “Nixon đã trở thành tù binh của vấn đề tù binh”… ông Trần Tuấn Anh kể.

Khi Hiệp định Paris 1973 bắt đầu có hiệu lực, Việt Nam trao trả tất cả tù binh Mỹ bị bắt vào đúng các thời điểm mà các bên thỏa thuận. Điều đó đã trở thành sức mạnh, tạo sức ép lớn chống lại ý đồ của phía Mỹ tìm cách dây dưa việc rút hết quân đội ra khỏi Việt Nam, nhất là chống lại âm mưu của chính quyền Sài Gòn gây ra những khó khăn, trục trặc để không trao trả hết tù binh của Việt Nam.

Ngày 29/3/1973, diễn ra đợt cuối cùng Việt Nam trao trả tù binh cho Mỹ, đồng thời cùng diễn ra đợt cuối cùng quân đội Mỹ rút hết khỏi miền Nam, đánh dấu việc hoàn thành điều khoản quan trọng nhất của Hiệp định Paris.

Nhờ khéo vận dụng nhiều chính sách và sách lược phù hợp với tình thế ta-địch, với tình hình và luật pháp quốc tế nên Việt Nam đã có những thành công lớn trong việc dùng vấn đề tù binh, trước hết là vấn đề phi công Mỹ bị bắt, trong đấu tranh chính trị và đàm phán với Mỹ, góp phần làm phân hóa nội bộ Mỹ, tạo sức ép trong dư luận và chính giới Mỹ, tạo thế mạnh khi đàm phán kết thúc chiến tranh, buộc Mỹ chấp nhận ký kết Hiệp định Paris kết thúc chiến tranh và gắn thời hạn rút hết quân Mỹ với thời hạn thả hết tù binh.

Vấn đề tù binh chỉ là một vấn đề cụ thể, một bộ phận của giải pháp. Tuy nhiên đấu tranh thắng lợi trên vấn đề này cũng thể hiện trí tuệ và nghệ thuật đàm phán của Việt Nam , ông Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Trận chiến phối hợp giữa quân sự và ngoại giao

Những ngày này, thành công của Hiệp định Paris 40 năm về trước, một lần nữa lại bừng lên, vẹn nguyên trong ký ức của nguyên Đại sứ, nguyên Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trần Viết Tân.

Ông nhớ lại: “Vào khoảng đầu tháng 12/1969, ông Nguyễn Ngọc Sơn, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Ngoại giao gọi tôi đến phòng làm việc để giao nhiệm vụ mới: Thư ký phái đoàn Chính phủ (phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Tôi nghĩ đây là niềm vinh dự lớn nhưng là một nhiệm vụ rất quan trọng và nặng nề. Sau đó ít ngày, tôi theo đoàn cố vấn Lê Đức Thọ đến Paris.

Đây là chuyến đi nước ngoài đầu tiên đầy ấn tượng, mọi việc đều mới lạ và bỡ ngỡ. Tôi đã nỗ lực cao, đồng thời học hỏi kinh nghiệm của những cán bộ ngoại giao đi trước nên sớm thích nghi với công việc.

Tôi được bố trí vào tổ ngoại giao do đồng chí Phan Hiền, Ủy viên Phái đoàn phụ trách (sau là Bộ trưởng Bộ Tư Pháp) với nhiệm vụ hàng ngày là theo dõi và tập hợp các phát biểu của những nhân vật chính quyền, Quốc hội Mỹ cả hai phái “diều hâu” và “bồ câu” cùng những vị đứng đầu các nước thuộc phe Mỹ liên quan đến giải pháp cuộc chiến tranh Việt Nam. Những tư liệu này để cung cấp cho nghiên cứu giải pháp đàm phán với Mỹ”…

Thời gian làm Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Paris, có một sự kiện ấn tượng mà ông Tân nhớ như in: “Đó là đầu năm 1971, Mỹ Ngụy mở chiến dịch lấy tên Lam Sơn 719 tại đường 9 Nam Lào nhằm đánh chặn sự chi viện từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam. Quân Việt Nam đánh trả quyết liệt, giành thắng lợi lớn.

Lúc này tại Paris, Trưởng phái đoàn Việt Nam nhận định địch thua nặng ở chiến trường, tại phiên họp bốn bên ngày hôm sau sẽ có phản ứng, có thể phía Mỹ sẽ chuyển văn bản, xuyên tạc tình hình, vu cáo Việt Nam và chuyển qua đường thư ký. Trưởng Đoàn Việt Nam chủ trương không nhận văn bản của phía Mỹ.

Đúng như dự đoán, ngày hôm sau, vào hội nghị, trước lúc Trưởng đoàn Mỹ phát biểu, Thư ký Mỹ David Angel ngồi đối diện đẩy văn bản sang phía tôi. Như một phản ứng tự nhiên, tôi lập tức đẩy trả lại. Việc “đẩy-trả” diễn ra 2-3 lần. Nhận thấy cách đó không xong, David Angel đã phát biểu phê phán thư ký đoàn Việt Nam không nhận văn bản.

Sự việc trên cho thấy phía Việt Nam đã phán đoán rất đúng âm mưu của đối phương. Điều đó cũng thể hiện cách xử lý linh hoạt nhưng kiên quyết của phái đoàn Việt Nam trong đấu tranh giành từng chút thắng lợi, để đạt được thắng lợi cuối cùng trên bàn đàm phán. Ông Trần Viết Tân tâm đắc: “Đây là trận chiến phối hợp đẹp mắt giữa quân sự và ngoại giao, giữa chiến trường và bàn hội nghị !”./.

Nguyễn Hồng Điệp (TTXVN)
vietnamplus.vn

Chuyện người Xôviết mừng chiến thắng của Việt Nam

Nhân dân Liên Xô míttinh tại các nhà máy của Liên Xô ủng hộ Việt Nam, lên án đế quốc Mỹ xâm lược.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tôi nhớ lại một chuyện có liên quan trực tiếp đến sự kiện lịch sử này trong số muôn vàn sự kiện, kỷ ức về những người xôviết đã kề vai, sát cánh với chúng ta trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Những năm tháng chúng ta kháng chiến chống Mỹ xâm lược, Liên Xô đã ủng hộ, giúp đỡ vô cùng chí tình và hiệu quả. Mỗi người xôviết đều dõi theo những tin tức thời sự về Việt Nam, trăn trở lo lắng cho số phận những thành phố, làng mạc, những người dân Việt Nam trong mưa bom, bão đạn của Mỹ. Người xôviết cũng rất tự hào về mỗi thắng lợi của quân và dân ta. Và trong mỗi người xôviết luôn luôn cháy bỏng khát vọng hòa bình cho Việt Nam.

Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/1/1973 đánh dấu việc chúng ta đã “đánh cho Mỹ cút.” Chúng ta rất hiểu, đây mới chỉ là một bước, để đi đến hòa bình và thống nhất đất nước thì chặng đường tiếp theo còn lắm chông gai. Nhưng với dư luận Liên Xô thì việc ký kết Hiệp định Paris đã là một kỳ tích.

Cuộc chiến quá khốc liệt, qua phương tiện truyền thông đại chúng, người xôviết cảm giác Việt Nam có thể bị hủy diệt, bị đẩy trở lại thời kỳ đồ đá! Cho nên, Hiệp định hòa bình Paris như trút bỏ được gánh nặng lo âu cho vận mệnh của nhân dân Việt Nam trong trái tim mỗi người xôviết. Người dân Liên Xô, tùy theo hiểu biết và tính cách của mình, đã có cách biểu hiện khác nhau, nhưng ai nấy đều hân hoan hạnh phúc trước thắng lợi lịch sử của Việt Nam.

Tôi nhớ rõ buổi sáng hôm đó – sáng Chủ Nhật 28/1/1973. Mùa Đông Nga. Rét đậm. Tôi là sinh viên năm thứ nhất Khoa Báo chí Đại học Tổng hợp quốc gia Mátxcơva mang tên Lomonosov. Chúng tôi ở khu ký túc xá 5 tầng trên đại lộ Míttrurinxki.

Còn ngon giấc, tôi và ba bạn sinh viên Nga ở cùng phòng bỗng nghe tiếng đập cửa rầm rầm và tiếng bà lao công ở tầng 3 của chúng tôi la hét gì đó rất lạ! Đang ngái ngủ, chúng tôi cứ tưởng bà chửi mắng ai đó. Bởi thường ngày bà rất hay bực bội, cáu gắt do đám sinh viên chúng tôi nhiều khi vứt rác bừa bãi, làm vương vãi nước khắp sàn bếp, khắp hành lang khiến bà phải lau chùi, dọn dẹp vất vả.

Chúng tôi định cứ trùm chăn đánh bài “lờ,” vì hôm đó không đi học. Với lại chúng tôi nghĩ, ngày Chủ Nhật thì bà lao công chẳng có “phận sự” gì ở ký túc xá cả! Nhưng bà cứ đấm cửa, cứ kêu ầm lên. Rồi chúng tôi cũng nghe được hai tiếng “Việt Nam,” “Việt Nam ơi”… Tưởng rằng bà gọi tôi ra để mắng nhiếc, cẩm thấy không thể “trốn thoát” nên tôi đành vùng dậy mở hé cửa xem sự tình ra sao. Tôi vừa ló đầu ra thì bà lập tức ôm lấy đầu tôi, miệng liếng thoắng “Con trai ơi, hòa bình rồi, hòa bình rồi nhé!”

Rồi bà tiếp tục nói toáng lên “Ơn trời, lạy trời, mọi chuyện kết thúc rồi!”… Thực tế là lúc đó tôi chưa hiểu ra ngô khoai chuyện gì, bởi mới năm thứ nhất đại học thì trình độ tiếng Nga của tôi còn xoàng lắm, mà bà lao công thì la hét, tỏ ra hết sức xúc động. Trong khi tôi còn ngẩn tò te thì ba bạn sinh viên Nga ở chung phòng đã hiểu ra mọi chuyện, họ cũng bật dậy luôn và mở cửa cho bà vào hẳn trong phòng.

Bà run run kể, sáng nay vừa nghe đài, biết ở Paris đã ký kết hiệp định, chiến tranh chấm dứt rồi, hòa bình đến rồi, Việt Nam thanh bình rồi. Bà lại ôm lấy tôi, luôn mồm “con ơi,” “con ơi” (cынок, cынок), vỗ vỗ vào vai, vào lưng tôi rồi giàn giụa nước mắt. Bà lay lay vai tôi, chúc mừng, sung sướng không tả xiết, mộc mạc, chân tình… Bà nói, hôm nay ngày nghỉ nhưng vội vàng đến ngay ký túc xá để “chúc mừng chúng mày, chúc mừng các con.”

Các bạn Nga cùng phòng lúc đó cùng quay sang nắm tay tôi nồng nhiệt chúc mừng chiến thắng, mừng Việt Nam hòa bình… Một lát sau, bà lao công trở ra, đi dọc hành lang, đấm đấm vào cửa những phòng khác, kêu rất to “Việt Nam hòa bình rồi!..”.

Những giờ sau, những ngày sau đó của năm 1973 và sau này, ngày 30 tháng 4, ngày 1 tháng 5 năm 1975, chúng tôi, những sinh viên Việt Nam trên đất nước xôviết, đã sung sướng và tự hào tiếp nhận muôn vàn lời chúc mừng của bạn bè, thầy cô, của những người dân xôviết về chiến thắng vĩ đại của chúng ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Người xôviết coi đó là thắng lợi chung, một thắng lợi mà họ đã có phần đóng góp bằng tâm hồn, trí tuệ, bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu của mình./.

Nguyễn Đăng Phát (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Hiệp định Paris: Yếu tố góp phần tạo nên chiến thắng

Đại sứ Dương Văn Quảng trả lời phỏng vấn phóng viên. (Ảnh: Lê Hà-Nguyễn Tuyên/Vietnam+)

Cách đây 40 năm, khi còn là một thanh niên 22 tuổi sang Pháp du học, ông Dương Văn Quảng đã được sống và chứng kiến những ngày tháng không thể nào quên về cuộc đàm phán tiến tới việc ký kết Hiệp đinh Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Hôm nay nhìn lại sự kiện lịch sử này, Đại sứ Dương Văn Quảng, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO, đã từng giảng dạy Chính sách đối ngoại của Việt Nam tại Học viện Ngoại giao, dành cho phóng viên TTXVN tại Pháp bài phỏng vấn nêu bật về ý nghĩa của sự kiện cùng những thuận lợi và khó khăn cũng như nhân tố không thể thiếu tạo nên chiến thắng ngày hôm nay.

– Xin chào đại sứ Dương Văn Quảng. Xin đại sứ cho biết ý kiến đánh giá về ý nghĩa lịch sử của việc ký kết Hiệp định Paris đối với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trong những năm 1968-1972?

Đại sứ Dương Văn Quảng: Theo tôi, muốn đánh giá hết ý nghĩa của việc ký kết Hiệp định Paris cần đặt nó trong bối cảnh đối đầu giữa ta và Mỹ cách đây 40 năm.

Thứ nhất, việc ký kết Hiệp định Paris là một bước ngoặt quyết định cho những sự kiện diễn ra sau đó. Hiệp định đã hội tụ đủ các điều kiện kể cả về chiến lược, quân sự, chính tri, lẫn ngoại giao cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1975.

Thứ hai, cần nhấn mạnh rằng việc ký kết Hiệp định Paris thể hiện rất rõ một quyết định đúng đắn về mặt chiến lược của Việt Nam. Đó là ta đã lựa chọn và thực hiện “chiến lược giành thắng lợi từng bước tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn” trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự và ngoại giao.

Thứ ba, cần nhấn mạnh nghệ thuật “vừa đánh vừa đàm.” Chúng ta phải thực hiện phương châm này là bởi chúng ta không thể đánh thắng Mỹ một cách tuyệt đối trên chiến trường. Vì vậy, chúng ta phải có cách đánh và cách thắng Mỹ phù hợp.

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Việt Nam đã biết cách xây dựng ngoại giao thành một mặt trận và đây là một sự sáng tạo. Ngoại giao đã thể hiện được vai trò chủ động của mình, góp phần quan trọng tiến tới kết thúc cuộc chiến tranh một cách thuận lợi nhất.

Như vậy, nghệ thuật “vừa đánh vừa đàm” là sự kết hợp hài hòa hai yếu tố quân sự và ngoại giao, nói cách khác, ngoại giao “không gây khó dễ” cho chiến trường và ngược lại, các hoạt động quân sự trên chiến trường không phá vỡ thế đàm phán trên bàn hội nghị.

Hiệp định Paris còn có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng nữa; đó là nó quy định các điều khoản liên quan đến chính trị, đến các lực lượng chính trị, tổng tuyển cử và việc thành lập cơ cấu chính quyền tại Miền Nam Việt Nam. Nói tóm lại, các diễn biến lịch sử cách đây 40 năm cho thấy Hiệp định Paris đã tạo mọi tiền đề để chúng ta kết thúc cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vào năm 1975.

– Thưa đại sứ, sau 40 năm nhìn lại, theo ông đâu là những khó khăn và thuận lợi đối với Việt Nam khi tiến hành các cuộc đàm phán song phương và đa phương và vai trò của phía Pháp đối với các cuộc đàm phán này như thế nào?

Đại sứ Dương Văn Quảng: Để làm rõ câu hỏi này, chúng ta cần đặt quá trình đàm phán trong bối cảnh lịch sử của quan hệ quốc tế và của mối quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác chính và trong bối cảnh quan hệ giữa các nước lớn thời kỳ đó cũng như quan hệ trong nội bộ từng khối.

Thứ nhất, trong những thập niên 60-70, về đại thể thế giới chia thành hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, và trật tự thế giới khi đó là trật tự hai cực mang tính đối kháng trên mọi khía cạnh: về ý thức hệ, về lợi ích lẫn về cách tiếp cận các vấn đề quốc tế.

Thứ hai, mỗi phe lại có những xu hướng “ly tâm,” có những đối tượng không chấp nhận vai trò lãnh đạo của Mỹ hoặc của Liên Xô. Chẳng hạn, lịch sử cho thấy Pháp là nước đã tự mình xây dựng một lực lượng hạt nhân độc lập, không muốn phụ thuộc ô hạt nhân của Mỹ và thực hiện một chính sách đối ngoại độc lập.

Phe xã hội chủ nghĩa cũng có những đối tượng thể hiện xu hướng ly tâm, ví dụ trường hợp của Nam Tư và đặc biệt là mâu thuẫn Xô-Trung. Vì thế, Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đặc biệt khi mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm” trong một bối cảnh quốc tế rất phức tạp.

Nhưng Việt Nam có nhiều thuận lợi nhất định khi thế giới được chia thành hai phe: mặc dù có mâu thuẫn Xô-Trung và những bất đồng trong nội bộ phe xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã thành công trong việc vận động, tập hợp được tất cả lực lượng của phe xã hội chủ nghĩa ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Do hành động xâm lược của Mỹ là phi nghĩa, Việt Nam đã tạo dựng được một mặt trận nhân dân thế giới phán đối chiến tranh của Mỹ. Đây là một sáng tạo của ngoại giao Việt Nam và vai trò của ngoại giao nhân dân thời kỳ đó là vô cùng quan trọng.

Nhìn vào lịch sử quan hệ quốc tế giai đoạn đó, quan hệ Mỹ-Xô-Trung rất phức tạp và cả ba nước đều tìm cách tận dụng nhau vì lợi ích của mỗi nước. Do vậy, thái độ và cách tính toán của Liên Xô và Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của ta thay đổi theo thời cuộc, tùy thuộc một phần vào quan hệ của mỗi nước đối với Mỹ.

Năm 1972 là “năm đỉnh điểm của hòa hoãn” giữa ba cường quốc này. Điều đó đã tác động tiêu cực đến tiến trình đàm phán Hiệp định Paris. Năm 1972,Tổng thống Mỹ Nixon đã đi thăm Trung Quốc và “Tuyên bố Thượng Hải” đã gây ra những hậu quả và tác động lâu dài đến tiến trình cách mạng Việt Nam.

Trên đây là một vài yếu tố khách quan thuận lợi và khó khăn tác động đến cuộc đàm phán Paris lâu dài và khó khăn giữa ta và Mỹ. Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ rằng yếu tố quyết định chính là chính sách độc lập tự chủ của chúng ta.

Việt Nam đã lựa chọn, xác định rõ quan điểm độc lập tự chủ trong suốt quá trình đấu tranh giải phóng đất nước. Việt Nam đã biết mở ra cuộc chiến tranh, tiến hành chiến tranh và cũng biết kết thúc chiến tranh, biết đánh bằng quân sự, biết đánh bằng chính trị và biết đánh bằng ngoại giao.

Tất cả các yếu tố này đã được hội tụ để mang lại thành công cho cuộc đàm phán Paris nói riêng và cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nói chung.

Nước Pháp, trong vai trò tiếp nhận hội nghị và quá trình đàm phán dài hơi này, là một nước lớn thuộc phe tư bản chủ nghĩa và Pháp có một chính sách đối ngoại độc lập. Vì vậy cả Việt Nam và Mỹ đều đã chấp nhận việc Chính phủ Pháp tuyên bố sẵn sàng đón nhận Hội nghị tại Paris.

Khách quan mà nói, việc đồng ý tiến hành đàm phán tại Paris là một lựa chọn đúng của cả hai phía. Paris đã cho thấy một lợi thế mà các nơi khác không thể có được cho việc tổ chức một hội nghị quốc tế dài hơi như vậy. Nếu thiếu các điều kiện khách quan như vậy, rõ ràng Hội nghị Paris khó có thể đi đến kết cục tốt đệp như ta đã chứng kiến.

– Trong suốt quá trình đàm phán, Việt Nam đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ của các bạn bè Pháp, nhất là từ Đảng Cộng sản Pháp, và của cộng đồng người Việt tại Pháp. Ông đánh giá thế nào về vấn đề này?

Đại sứ Dương Văn Quảng: Về quốc tế, Việt Nam đã đã tạo dựng được một mặt trận nhân dân thế giới, đoàn kết tất cả các lực lượng chính trị tiến bộ trên thế giới, kể cả những thành phần không thuộc phe cộng sản hoặc thậm chí không ưa cộng sản, ủng hộ của đấu tranh chính nghĩa của mình. Ví dụ như Tòa án Quốc tế Bertrant Rousselle được lập ra nhờ những trí thức nổi tiếng , điển hình là ông Bertrant Rousselle, người Thụy Điển và ông Jean Paul Sartre, một nhà triết học Pháp nổi tiếng.

Về nơi diễn ra hội nghị, theo tôi, Paris hội tụ được ba điều kiện mà không thể tìm thấy ở các thủ đô khác. Đó là Paris có cộng đồng người Việt đông đảo luôn ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc, trong đó có rất nhiều sinh viên đi từ Miền Nam sang Pháp du học, thậm chí được hưởng học bổng của Chính quyền Sài Gòn.

Tại Pháp, họ đã nhận rõ tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đã gia nhập phong trào của người Việt Nam yêu nước. Vì vậy, đóng góp của cộng đồng người Việt tại Pháp là vô cùng to lớn.

Thứ hai cần nhắc đến là vai trò của Đảng Cộng sản Pháp (PCF), một lực lượng chính trị rất mạnh ở Pháp lúc bấy giờ. Ngoài sự giúp đỡ vật chất rất to lớn mà PCF dành hai đoàn Việt Nam tham gia đàm phán, PCF có vai trò tích cực trong việc tập hợp các lực lượng chính trị và nhân dân Pháp ủng hộ các cuộc kháng chiến của ta và phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. PCF còn là cầu nối giữa Việt Nam và Pháp vì hai nước lúc bấy giờ chưa có quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ.

Nguyên nhân khách quan thứ ba cần phân tích là vai trò của dư luận. Không ở đâu có khả năng tập hợp dư luận và thông tin một cách nhạy bén như ở Paris, nơi có thể ví là đầu não của thông tin của thế giới lúc bấy giờ.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam luôn chiếm gần như một nửa thời lượng thông tin thời sự thế giới, đặc biệt là giai đoạn cuối của tiến trình đàm phán Hiệp định Paris.

Thực tế, Việt Nam đã tận dụng được Paris như là một đầu não thông tin quốc tế để tuyên truyền tính chính nghĩa của chiến tranh giải phóng dân tộc và tính phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược, tập hợp lực lượng và dư luận của nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam.

Ngoài khía cạnh văn hóa và nghệ thuật, Paris luôn là đầu mối thông tin của thế giới và vì vậy, với tất cả những kinh nghiêm có được trong cuộc đàm phán Paris, nếu chúng ta tận dụng được Paris làm điểm tuyên truyền, truyền bá hình ảnh đất nước sẽ là bài học rất hay cho chúng ta hiện nay.

– Xin cám ơn Đại sứ!

Lê Hà-Nguyễn Tuyên/Paris (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Biệt thự lưu giữ kỷ niệm về đàm phán hòa bình VN

Chúng tôi tới thăm ngôi nhà số 49, nay là số nhà 17 phố Cambacérès, Verrières-le-Buisson, ngoại ô thủ đô Paris, Pháp.

Nay đã trở thành một di tích lịch sử gắn liền với thời gian gần 5 năm diễn ra các cuộc đàm phán 4 bên (Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa) tiến tới việc ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, tại Paris ngày 27/1/1973.

Vì giá trị lịch sử của nó, ngày 13 tháng 10 năm 2012, Tòa thị chính thành phố Verrières-le-Buisson phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp và các bạn bè Pháp đã gắn biển di tích lịch sử cho ngôi nhà.

Tấm biển mang tên: “Nơi đây, từ năm 1968 đến 1973, Đoàn đại biểu Chính phủ cách mạng lâm thời Miền nam Việt Nam đã lưu trú để tham gia các cuộc đàm phán và ký Hiệp định Paris về Hòa bình, ngày 27/1/1973”. Ngôi nhà này do các bạn Pháp là thành viên Đảng cộng sản Pháp khi đó giới thiệu cho phía Việt Nam thuê.

Nơi đó, cách đây 40 năm, bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao lúc đó (sau này là Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, cùng một số thành viên trong đoàn tùy tùng, từng lưu trú từ năm 1968 đến năm 1973, để tham gia các cuộc đàm phán bên lịch sử tiến tới ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Với sự giúp đỡ của ông bà Pierre Gueguen, khi đó còn là thành viên lực lựơng an ninh, kể cho chúng tôi nghe lịch sử của ngôi nhà và giúp chúng tôi có được một cuộc du ngoạn xung quanh ngôi nhà.

Dù dưới cái lạnh giá của mùa đông, cây cối và hoa xung quanh nhà đã rụng hết lá và trơ lại những cành khẳng khiu, nhưng cảnh quan nơi đây vẫn tạo cho ngôi nhà vẻ đẹp nên thơ vốn có của nó.

Kiến trúc của ngôi nhà dường như không hề thay đổi, chỉ có phía trước của ngôi nhà được sửa lại một chút cho phù hợp với nhu cầu người chủ mới (ông bà Pierre Bertaud) và một lớp sơn mới được quét lên bên ngoài cũng không làm nó mất đi vẻ cổ kính của nó với sự đổi thay của thời gian.

Ngôi nhà nằm trên một khu đất cao, với một khu vườn rộng bao quanh được trồng rất hoa, cây cảnh, cây ăn quả, cây cổ thụ và được điểm thêm vài bức tượng của các nhà điêu khác nổi tiếng của Pháp.

Sau nhiều cuộc hẹn gặp và được sự đồng ý của chủ nhà, ông bà Pierre Bertaud, (đang làm việc tại Paris), chúng tôi mới vào thăm được bên trong ngôi nhà đó, cùng với sự hướng dẫn ông Trịnh Ngọc Thái, Phó Chủ tịch Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam, Chủ tịch câu lạc bộ giao lưu văn hóa, kinh tế quốc tế và Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt-Pháp, khi đó là trợ lý của ông Xuân Thủy, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Miền Bắc Việt Nam) và ông Lê Đức Thọ là cố vấn đặc biệt.

Ông nói trở lại đây bốn mươi năm sau xa cách, ngôi biệt thự này đã gợi nhớ lại trong ông lại những kỷ niệm không thể nào quên trong suốt gần 5 năm diễn ra các cuộc đàm phán, mà theo ông là cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử Việt Nam cũng như trên thế giới.

Ông cho biết, khi đó ông là thành viên của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự hội nghị 2 bên với đoàn đại biểu Mỹ do ông W. Averell Harriman, nhà ngoại giao kỳ cựu của Mỹ dẫn đầu. Hội nghị diễn ra ngày 13/5 đến ngày 1/11/1968 tại phố Kléber tại Paris, bàn việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam nói chung, trước hết đòi phía Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn và vô điều kiện chiến tranh ở phía Bắc Việt Nam.

Sau đó đến ngày 25/1/1969, mới diễn ra cuộc đàm phán 4 bên với sự tham gia (thêm) của đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam do ông Trần Bửu Kiếm dẫn đầu.

Đến tháng 6/1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam mới thành lập. Bà Nguyễn Thị Bình được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và là Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền nam Việt nam tham dự hội nghị 4 bên này tại Paris. Ngôi biệt thự trở thành ngôi nhà mang dấu ấn lịch sử của cách mạng Việt Nam – nơi bà Bình đã lưu trú và làm việc.

Ông Phạm Ngọc Thái không khỏi xúc động trước cảnh quan hầu như không đổi thay của nơi đây và cho biết cổng ô tô vào tòa nhà vẫn ở bên tay phải, hai khu nhà chính và phụ cách nhau bằng một cái sân không lớn lắm với bãi cỏ xanh mướt bao quanh…

Đi qua cửa chính vào nhà là một hành lang ngắn dẫn đến phòng khách – chính nơi bà Nguyễn Thị Bình thường tiếp ông Nguyễn Đức Thọ, ông Xuân Thủy hay các đoàn khách quốc tế, bạn bè Pháp.

Trên gác là buồng ngủ của bà Nguyễn Thị Bình và phòng làm việc vẫn được bài trí như khi xưa, chỉ có bộ bàn ghế (salon) là mới và hiện đại một chút nhưng vẫn làm cho không gian của phòng khách giữ được sự sang trọng, lịch sự và ấm áp.

Tần ngần đứng trước dãy nhà cấp bốn phía sau khi đi qua cái sân nhỏ cách với với ngôi nhà chính, ông Thái cho biết thêm đây chính là nơi làm việc và chỗ nghỉ của anh em bảo vệ, lái xe.

Phòng điện đài nằm ngay bên tay trái vẫn còn như nguyên vẹn không gian và dáng vẻ của nó (nay đã trở thành nhà kho). Nơi trước đây đã từng phát đi những tin tức quan trọng góp phần không nhỏ tạo nên chiến thắng hôm nay.

Ông Trịnh Ngọc Thái nhấn mạnh đến vị trí của ngôi nhà nằm cạnh một hồ nước không lớn lắm, được thả cá, có thiên nga bơi lội và một hàng liễu trồng xung quanh thướt tha rủ xuống soi bóng trên mặt nước – mang tên Hồ Cambacérès.

Theo ông, chính những cảnh quan này đã mang đến cho ngôi nhà vẻ đẹp và sự hài hòa khó quên. Nhất là, nơi đây mãi mãi là nơi lưu giữ những kỷ niệm không thể nào quên đối với nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc nói chung và trong cuộc đàm phán để tiến tới ký kết Hiệp định Paris nói riêng.

Ông nhấn mạnh “không gian và khung cảnh nên thơ này đã giúp cho bà Nguyễn Thị Bình, có được giờ phút thư giãn và đưa ra được nhiều ý tưởng, sáng kiến mới và những suy nghĩ mang tính thuyết phục hơn”.

Cũng tại ngôi biệt thự này, nhiều phương án đã được đưa ra được nhằm cụ thể hóa đường lối chính trị của Bộ chính trị đã đề ra.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Pháp, ông không quên nhắc đến những thuận lợi và khó khăn trong suốt qua trình diễn ra các cuộc đàm phán công khai cũng như bí mật, nhiều khi gần như dẫn đến bế tắc, nhất là khi cuộc đàm phán diễn ra vào đầu tháng 12/1972, là lúc đế quốc Mỹ leo thang ném bom B52 xuống Miền Bắc. Nhưng với chiến thắng vang dội của quân và dân Việt Nam trước những “pháo đài bay trên không” của Mỹ đã kéo Mỹ trở lại cuộc đàm phán với Việt Nam.

Lý giải về thắng lợi tiến đến ký kết Hiệp định Paris về hòa bình ở Việt Nam, ông Trịnh Ngọc Thái trở nên sôi nổi hắn lên cho biết Việt Nam đã thành công là vì biết kết hợp đấu tranh trên nhiều mặt trận vừa đánh vừa “đàm”, có nghĩa phải kết hợp nhiều mặt trận như trên bàn hội nghị, trên chiến trường, mặt trận ngoại giao, kết hợp với phong trào chính trị ở miền Nam và vận động, tranh thủ sự ủng hộ các bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Không chỉ nhớ lại những công việc, cùng những kỷ niệm đã gắn bó ông với nơi này, khi cùng làm việc với bà Nguyễn Thị Bình – “nhà thương lượng tài ba” của Việt Nam, ông luôn nhắc đến những tình cảm và sự ủng hộ cao đẹp của các bạn bè Pháp đã dành cho đoàn Việt Nam khi đó. Thường các bạn Pháp giữ vai trò bảo vệ an ninh vòng ngoài tại các nơi ở và làm việc của đoàn Việt nam.

Nói đến chiến thắng này, ông ngậm ngùi nhớ đến những anh em, đồng chí, bạn bè ở Miền Nam, Miền Bắc không còn nữa, họ ra đi để lại trong lòng ông những ấn tượng và tình cảm sâu nặng, như ông Đinh Bá Thi, bà Nguyễn Thị Trơn, cô Bình Thanh – thư ký riêng của bà Bình, anh Lê Văn Tư, anh lý Văn Sáu,… những người cốt cán trong đoàn đại biểu chính phủ của cách mạng lâm thời Miền nam Việt nam, và trong đoàn miền Bắc như Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Minh Vỹ, Phan Hiền, Nguyên Cơ Thạch, Trần Công Tường,…

Tất cả họ là những người đã có nhiều đóng góp và hy sinh cho thành công của Hội nghị Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam. Họ là những người có nhiều gắn bó với bà Bình trong suốt thời gian tham gia phục vụ Hội nghị.

Về nhần mình, ông Pierre Bertaud, chủ nhà cho biết ông rất vinh dự được sống tại ngôi nhà có giá trị lịch sử như vậy. Trước khi mua nó, ông đã biết nơi đây bà Nguyễn Thị Bình đã ở. Bà là nhà “thương lượng tuyệt vời của Việt Nam về hòa bình”.

Ông cho biết ông cũng là con người của hòa bình và ông luôn ủng hộ điều đó. Theo ông, sự “kiên trì ” của Việt Nam đã trở thành một bài học đối với ông trong quá trình “thương thuyết”./.

Lê Hà-Nguyễn Tuyên/Paris (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Người Việt tại Pháp nhớ lại thời ký Hiệp định Paris

Bác Bùi Thanh Tùng. (Ảnh: Phân xã Paris/Vietnam+)

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973-27/1/2013), phóng viên TTXVN tại Pháp đã có cuộc gặp gỡ với một số Việt kiều là nhân chứng đã từng sống, chứng kiến và tham gia tích cực các hoạt động ủng hộ đoàn đại biểu Việt Nam các cuộc đàm phán góp phần không nhỏ vào việc ký kết thành công các văn kiện lịch sử này.

Cách đây 40 năm đa số các Việt kiều sang Pháp là những thanh niên tuổi mới ngoài đôi mươi (có người còn chưa tới tuổi 20) và tập trung dưới mái nhà chung gọi là Hội “Liên hiệp Việt kiều tại Pháp” thành lập tháng 4/1969 mục tiêu phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Hội lúc đó có nhiều tổ chức như sinh viên Việt Nam, có Liên hiệp trí thức Việt Nam, Hội công nhân, Hội thương gia, phụ lão, y học tại Pháp … Đến cuối 12/1975 sau khi chiến thắng hoàn toàn và thống nhất đất nước, Hội Liên hiệp Việt kiều đã tự giải tán, vì nhiệm vụ chính lúc này là xây dựng và kiến thiết đất nước. Đến 1976, “Hội người Việt Nam tại Pháp (UGVF)” thành lập và giữ nguyên cho đến hôm nay.

Các thành viên của hội luôn hướng về đất nước và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc mình và gia nhập phong trào yêu nước với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé sức mình vào cuộc đấu tranh vì hòa bình và độc lập dân tộc. Sự ủng hộ và giúp đỡ của các Việt kiều này nói riêng và của cả cộng đồng người Việt Nam tại Pháp nói chung đã trở thành một trong những yếu tố không thể thiếu tạo nên chiến thắng lịch sử hôm nay.

Bác Nguyên Văn Bổn, hiện nay là phó chủ tịch UGFV, phụ trách công tác đối ngoại của Hội, lúc đó là Chủ tịch Hội sinh viên Việt Nam (có khoảng 300 người), cho biết số người còn sống tham gia trực tiếp giúp đỡ các phái đoàn Việt Nam không còn nhiều. Đối với người Việt Nam tại Pháp, ủng hộ về vật chất không phải là vấn đề quan trọng. Bà con Việt kiều từ năm 1954 đã đóng góp tiền để gửi về Quỹ chống Mỹ cứu nước ở Việt Nam.

Thời kỳ đó có các bộ phận cùng phối hợp làm việc hàng ngày trong thời gian này như làm báo, dịch tài liệu; lo sức khỏe cho các đoàn khi có người ốm đau gồm các bác sỹ Phan, bác sỹ Dân, nha sỹ Ngô Thuần Phương; và theo dõi hoạt động của đối phương, của đoàn chính quyền Sài gòn cũ ….

Bộ phận khác theo dõi thông tin liên quan đến dư luận của người Pháp, Việt kiều, sinh viên, những người khác ủng hộ hay không ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Hoạt động của bộ phận thứ ba này không mấy khi được nhắc tới vì được xem như nhiệm vụ bí mật thời gian đó và đã mang về nhiều thông tin quý giá cho tiến trình đàm phán.

Những người khác trực tiếp làm công tác tuyên truyền, vận động phải thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các buổi míttinh để giải thích cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và diễn biến của hội nghị Paris.

Cùng chia sẻ tình cảm và những kỷ niệm không thể nào quên với bác Bổn, bác Bùi Thanh Tùng, hiện nay là Tổng thư ký UGVF, cho biết bác sang Pháp năm 1967. Từ năm 1968-1972 diễn ra các cuộc đàm phán hai bên và bốn bên, bác thường xuyên hoạt động trong Phong trào Liên hiệp sinh viên Việt Nam tại Pháp (sinh viên sang Pháp khá đông từ năm 1960 đến 1968 nhưng sau đó không sang nữa).

Với thế mạnh của giới sinh viên là trẻ, năng nổ, dễ tiếp cận và Việt Nam khi đó là một điểm nóng trên thế giới, tại các ký túc xá sinh viên, nhiều buổi hội thảo kéo dài cho đến khuya, cùng nhau trao đổi với các bạn bè quốc tế, sinh viên Pháp về tình hình chiến tranh ở Việt Nam.

Bác Tùng không giấu nổi cảm xúc khi kể lại một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất đó là sau chiến thắng oanh liệt bắn rơi rất nhiều máy bay B52 của Mỹ trên Hà Nội cuối tháng 12/1972, đầu tháng 1/1973 Mỹ đã phải trở lại bàn đàm phán, ban đầu là đàm phán bí mật, sau đó là ký kết tại Trung tâm hội nghị quốc tế Kléber vào ngày 27/1/1973 Hiệp định Paris về hòa bình lịch sử này.

Theo bác Tùng kể lại, ngay từ sáng sớm, rất đông mọi người đứng thành hàng dài suốt hai bên vào cửa ra vào trung tâm với cờ đỏ sao vàng, cờ xanh, đỏ của mặt trận giải phóng Miền nam Việt Nam để phô trương lực lượng, ủng hộ cho hòa bình của Việt Nam và để bày tỏ tình cảm của mình đối với chiến thắng của đất nước.

Những đóng góp thầm lặng

Nhiều bác tuổi đã ngoài 80 không thể nhớ hết và không thể diễn đạt rành mạch những gì mình đã làm và những gì mình cảm nhận được trong suốt thời gian từ 1968 đến 1973, như của cô Thérèse Nguyễn Văn Ký (chúng tôi quen gọi “cô” như vậy theo người miền Nam), nhưng năm nay cô đã hơn 80 tuổi. Hiện nay cô là Chủ tịch UGVF.

Cách đây 40 năm và cũng như bây giờ cô vẫn là bác sỹ. Chỉ có điều khi đó, nhiệm vụ của cô là tham gia chăm sóc sức khỏe cho đoàn hoặc cho bà con Việt kiều mỗi khi ốm đau, cùng những công việc khác như tham gia míttinh, biểu tình vận động quần chúng, hậu cần… cho các đoàn.

Đến nay khi hỏi cô về những gì cô thường đau đáu nhớ về nó sau 40 năm, cô cho biết cô không thể nào quên hình ảnh đường phố Champs Elysées trung tâm thủ đô Paris tung bay cờ đỏ sao vàng khẳng định thắng lợi các cuộc đàm phán về hòa bình ở Việt Nam.

Còn bác Đoàn Hữu Trung, lúc đó làm nhiệm vụ gặp gỡ bà con cũng như Hội, tổ chức các cuộc míttinh ở nơi nào có Việt kiều, gặp đoàn mặt trận giải phóng ở Massy để giúp đỡ họ. Ngoài kỷ niệm riêng – đứa con gái đầu lòng của bác được sinh ra đúng những năm tháng đang diễn ra đàm phán, bác còn luôn nhớ đến thời gian sống và làm việc cùng đoàn miền Nam do bà Bình dẫn đầu.

Trong thời gian được sống cùng với phái đoàn, bác cảm thấy mình có may mắn được gần với cách mạng và coi những người trong phái đoàn như là những chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao. /.

Lê Hà-Nguyễn Tuyên-Trung Dũng/Paris (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris (27-1-1973/27-1-2013): Báo chí phương Tây với madame Bình

Hơn 40 năm trước, có một người phụ nữ Việt Nam được báo chí phương Tây trân trọng ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ cho sự thành công của Hội nghị Paris: Bà Nguyễn Thị Bình – một trong 4 người đặt bút ký vào bản Hiệp định chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Bình và bà Bình Thanh (đeo kính),
tại cuộc họp báo ngày 5-11-1968

2 giờ chiều ngày 2-11-1968, bầu trời Paris u ám và giá lạnh, bà Bình trong bộ áo dài màu hồng sậm, khoác măng – tô xám với chiếc khăn quàng đen điểm hoa, cùng 6 anh chị em của Đoàn MTDTGPMNVN, hồi hộp bước xuống sân bay Bourget giữa đám đông người chào đón, trong đó có nhiều nhà báo. Bà bị bao vây từ bốn phía như chiếc thuyền trôi trên sông lớn, máy ảnh chớp lia lịa. Vào phòng khách danh dự, bà dõng dạc tuyên bố giải pháp 5 điểm của Mặt trận, bà Bình Thanh (Thanh Vân), dịch rõ ràng mạch lạc, nghe như giọng “đầm”. Đám nhà báo ngạc nhiên, im lặng, rồi “xung quanh chúng tôi vang tiếng bàn ghế gãy, kính vỡ loảng xoảng và cãi cọ om xòm” vì ai cũng muốn đứng gần bà Bình để ghi hình, ghi tiếng tốt hơn” – bà Bình Thanh kể lại câu chuyện ấy.

Ông Xuân Thủy (Trưởng đoàn đại biểu VNDCCH) cùng bà Bình đi trên đoàn xe bóng loáng loại DS (déesse, có nghĩa là “nữ thần”), phấp phới lá cờ nửa đỏ nửa xanh (cờ Mặt trận), có ô tô, mô tô của cảnh sát Pháp dẫn đường và hộ tống, bà con Việt kiều và người dân Paris đứng chật hai bên đường sững sờ, xúc động. Hôm sau tất cả các báo Pháp và báo của các nước phát hành ở Paris đều chạy tít lớn: “Đại diện của Việt Cộng đã đến Paris” và những lời bình rất kêu: “Việt Cộng đã thắng lớn qua cuộc đón tiếp bà Bình ở Paris”; “Bà Bình như một bà hoàng được đón như một quốc trưởng với đủ nghi thức chính quy, lại được hoan nghênh nhiệt liệt”; “Bà Bình đã làm chấn động dư luận Paris và thế giới. Cờ Mặt trận đã tung bay ở Paris! Rất tuyệt! Thật hiếm có!”. Nhiều nhà báo đeo bám đến nơi ở. Có nhà báo leo qua tường, có người đặt máy ảnh giữa kẽ hở cánh cửa để bất chợt chụp được những tấm ảnh đặc biệt của đoàn Việt Cộng, nhất là ảnh bà Bình ở biệt thự Thévent.

Ba ngày sau (5-11), Đoàn tổ chức họp báo, cuộc họp báo được coi là hiếm có. Hơn 400 nhà báo quốc tế đến dự, chứng tỏ họ rất quan tâm chú ý đến Đoàn MTDTGPMNVN, đến cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta. Trước mắt họ là một người phụ nữ nhỏ nhắn, hiền lành, đến từ một vùng đất đang rực lửa chiến tranh, ăn nói có lý có tình. Bà Bình đã trả lời phỏng vấn các nhà báo một cách suôn sẻ hơn một tiếng đồng hồ, gây được thiện cảm với họ. Những ngày tiếp theo, bà Bình chịu áp lực khi nhiều nhà báo và các hãng truyền hình phỏng vấn riêng, nhưng vẫn tỏ ra bình tĩnh trước ánh đèn pha chiếu vào mặt.

Thời gian nghỉ giữa hai phiên họp, trong 4 năm đàm phán, bà Bình đi thăm nhiều nước để tranh thủ sự ủng hộ của họ. Tháng 4-1969, thăm Anh, một nước luôn ủng hộ Mỹ, nên các đoàn thể của MTDTGPMNVN không xin được visa vào Anh. Nhưng nay Mỹ đã phải đàm phán với Mặt trận nên Anh chịu tiếp. Chuyến thăm kết quả tốt đẹp hơn cả mong đợi. Kết thúc buổi đón tiếp long trọng, madame Bình từ trên đài cao bước xuống, đi giữa hai hàng cảnh binh bảo vệ. Giữa quãng trường Trafalgar, rừng người hô vang khẩu hiệu “Đoàn kết với Việt Nam!”, “Chấm dứt chiến tranh!”. Chuyến thăm Thụy Điển năm 1970, được đích thân Thủ tướng Olof Palme (1927-1986) tiếp và cùng madame Bình dẫn đầu cuộc biểu tình ủng hộ Việt Nam. Nữ nhà văn Sara Lidman (1923-1976) nổi tiếng ở Bắc Âu, tiếp và nói: “Chị Bình ơi, Việt Nam đang có một nền văn hóa dân tộc vô cùng quý giá…” Các nước khác bà Bình đến thăm đều được đón tiếp nồng hậu, báo chí không tiếc lời khen ngợi madame Bình-Bộ trưởng, Trưởng đoàn và cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta.

Cuối tháng 4-1969, bà về Hà Nội nhận chỉ thị mới, kết hợp thăm cha đang bệnh nặng, và được Bác Hồ dặn phải vận động nhân dân các nước ủng hộ Việt Nam. Không ngờ đó là lần cuối cùng gặp cha và Bác. Ngoài việc chuẩn bị cho các cuộc họp chính vào thứ 5 hàng tuần, các trưởng đoàn phải tiếp xúc với báo chí nhiều. Bà Bình “có những giai đoạn hầu như ngày nào cũng phải tiếp một hay hai hãng truyền hình hoặc phóng viên các báo Pháp, Mỹ, Anh, Nhật. Báo chí có thiện cảm nhất với đoàn CPCMLTCHMNVN. Mặt trận đối ngoại là một chiến trường, có thể nói đấu lý lần nào chúng ta cũng giành thắng lợi. Có nhà báo hỏi: “Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?” Bà Bình trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”. Họ xoay mãi nhưng bà chỉ một cách trả lời đó, họ phải chịu.

Nhà báo hỏi: “Vùng giải phóng ở đâu?” Bà Bình dứt khoát: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?” Các nhà báo đều chấp nhận. Giữa năm 1971, truyền hình Pháp tổ chức cuộc họp báo ở hai đầu Paris và Washington, có 20 nhà báo tham gia, 10 người phần lớn là Mỹ bảo vệ lập trường của Mỹ, 10 người phần lớn là Pháp trung lập. Bà Bình một mình giữa các nhà báo sừng sỏ, dưới ánh đèn sáng chói đã bình tĩnh, đối đáp đàng hoàng, mạnh mẽ nhưng hòa nhã, nêu rõ thiện chí muốn tìm giải pháp chính trị chấm dứt chiến tranh. Ông Xuân Thủy gọi điện khen : “Cô rất dũng cảm.”

Khi Mỹ huy động nhiều máy bay B52 ném bom Hà Nội, ai cũng hồi hộp, lo lắng. Bà Bình được gọi về. Giữa đêm 30-12-1972 về đến Hà Nội, bà đi thăm phố Khâm Thiên bị B52 tàn phá tối 26-12 với nỗi căm giận kẻ thù tàn bạo; thăm hai đứa con nhỏ thương yêu, sống xa mẹ nhiều năm, sơ tán ở thị xã Hưng Yên. Ngày 21-1-1973, trở lại Paris, bà Bình mở ngay cuộc họp báo, tuyên bố: “Chỉ có một nước Việt Nam, chỉ có một dân tộc Việt Nam và Chính phủ lâm thời là đại diện của nhân dân miền Nam!” Hãng AFP mô tả: “Bà Bình mặc áo dài truyền thống của Việt Nam bằng lụa vân màu xanh lá cây, trông rất thoải mái. Đôi lúc madame nở nụ cười làm khuôn mặt càng rạng rỡ, trả lời các nhà báo rõ ràng khúc chiết, làm cho người ta có cảm giác đứng trước một quý bà đầy bản lĩnh, đầy tự tin.” Ngày 27-1-1973, họp phiên chính thức ký kết “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh Việt Nam”. Phóng viên hãng AP của Mỹ mô tả Trung tâm hội nghị Kléber tràn ngập biển người và cờ Việt Nam, cờ Mặt trận, hô vang khẩu hiệu chống Mỹ và ngụy khi ngoại trưởng Rogers và ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn Trần Văn Lắm đến. Họ tung hô ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh và Nguyễn Thị Bình: “Hoan hô Việt Nam dân chủ cộng hòa! Hoan hô Chính phủ cách mạng lâm thời!”. Mỗi vị ký vào 32 văn bản của Hiệp định. Phóng viên UPI của Mỹ trang trọng viết: “Buổi lễ ký kết hòa bình ở Việt Nam diễn ra trong khung cảnh huy hoàng tráng lệ của thế kỷ 19 và những biện pháp an ninh nghiêm ngặt nhất mà thế kỷ 20 có thể tạo ra. Bốn ngoại trưởng, 2.000 cảnh sát và an ninh bảo vệ nghiêm cẩn”.

Phan Thu Hương
daidoanket.vn

Hiệp định Paris: Thắng lợi tổng hợp trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao

(ĐCSVN) – Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết tại Paris ngày 27/1/1973 là một sự kiện trọng đại, một thắng lợi vẻ vang trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của Việt Nam, và cũng là đỉnh cao của Mặt trận Ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh.

Các đồng chí: Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Xuân Thủy,
Cố vấn Lê Đức Thọ gặp gỡ phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ tại Hội nghị Paris
năm 1973 (Ảnh tư liệu Bộ Ngoại giao)

Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973, tại Paris, “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam”, gọi tắt là Hiệp định Paris về Việt Nam, đã được ký kết. Hiệp định đã buộc Mỹ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Việc Mỹ phải ký Hiệp định Paris là một thắng lợi to lớn, tạo ra cục diện có lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam.

Hiệp định là một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân ta, chưa bao giờ có cuộc đàm phán nào kéo dài như tại Hội nghị Paris, từ 15/3/1968 đến 27/1/1973, cụ thể kéo dài 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, với 202 phiên họp công khai và 24 đợt gặp riêng. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên bàn thương lượng đã giành được thắng lợi quan trọng, to lớn về nhiều mặt.

Giai đoạn đàm phán dưới thời Tổng thống Mỹ Johnson diễn ra từ 15/3/1968 đến 31/10/1968. Sau Tết Mậu Thân 1968, Mỹ buộc phải ngừng ném bom từ Ninh Bình trở ra phía Bắc và ngồi đàm phán với Việt Nam tại Paris. Cuộc đàm phán giữa đoàn đại biểu Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức bắt đầu ngày 15/3/1968 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở đường Kléber, Paris, đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh Việt Nam: Đọ sức trên mặt trận ngoại giao, mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm”.

Nhiệm vụ của đối ngoại giai đoạn này là dùng đàm phán để tiến công cô lập địch; vạch trần âm mưu của địch kéo dài chiến tranh, tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh do Mỹ phát động; tranh thủ dư luận phục vụ cho cuộc đấu tranh quân sự, chính trị trên chiến trường; yêu cầu Mỹ chấm dứt ném bom không điều kiện miền Bắc Việt Nam.

Kết thúc giai đoạn này, Tổng thống Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom và chấp nhận để Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) tham gia Hội nghị Paris. Tháng 1/1969, Nixon nhậm chức Tổng thống Mỹ. Đến ngày 18/1/1969, hội nghị 4 bên họp phiên đầu tiên dưới hình thức bàn tròn, đoàn đại biểu của MTDTGPMNVN xếp ngang hàng với các đoàn đại biểu khác. Trên bàn đàm phán, cuộc đấu trí diễn ra quyết liệt giữa các bên đàm phán, đặc biệt là giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và trợ lý Tổng thống Mỹ Kissinger. Ngày 8/10/1972, phái đoàn Việt Nam đưa cho Mỹ bản dự thảo Hiệp định với những điều khoản yêu cầu Mỹ rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Lúc đầu, bản dự thảo được các bên nhất trí, nhưng đến ngày 22/10/1972, phía Mỹ lật lọng viện dẫn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đòi sửa đổi bản dự thảo. Ngày 12/12/1972, cuộc đàm phán phải tạm dừng. Đêm 18/12/1972, tổng thống Nixon ra lệnh ném bom huỷ diệt Hà Nội và Hải Phòng bằng B52. Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm, Việt Nam đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược, lập nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, gây thiệt hại nặng nề cho lực lượng không quân chiến lược Mỹ. Đây là đòn quyết định nhất buộc Nixon phải tuyên bố ngừng ném bom từ bắc vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị cho phía Mỹ gặp đoàn đại biểu Việt Nam tại Paris để ký hiệp định chấm dứt chiến tranh. Ngày 23/1/1973, cố vấn Lê Đức Thọ cùng trợ lý Tổng thống Mỹ Kissinger đã ký tắt văn bản Hiệp định. Ngày 27/1/1973, đã diễn ra lễ ký chính thức Hiệp định tại Pari, buộc Mỹ phải cuốn cờ rút khỏi miền Nam.

Hiệp định Paris là thắng lợi tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Với Hiệp định, Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, rút khỏi Việt Nam và Đông Dương, chấm dứt dính líu quân sự, tạo thuận lợi cho cách mạng phát triển; ngụy mất chỗ dựa về quân sự, bị suy yếu và lún sâu vào khủng hoảng chính trị; Mỹ phải lùi về chiến lược, đi sâu vào xu thế rút lui về quân sự khỏi Đông Dương và tránh một Việt Nam thứ hai. Hiệp định Paris là cơ sở pháp lý không cho phép Mỹ tiếp tục dính líu và can thiệp trở lại.

Hiệp định cũng xác nhận thực tế miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát; xoá ngụy một bước về pháp lý, ta giữ vững lực lượng quân sự, chính trị của ta, làm cơ sở cho cách mạng miền Nam tiến lên.

Hiệp định mở ra giai đoạn mới, tạo điều kiện cho việc hoàn thành giải phóng miền Nam. Hiệp định buộc Mỹ rút hết, ngụy mất chỗ dựa và suy yếu, ta giữ nguyên lực lượng và lớn mạnh lên, xuất hiện cục diện mới, so sánh lực lượng mới ở miền Nam. Đây là điều kiện cơ bản rất thuận lợi cho ta. Với Hiệp định Paris, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, tạo so sánh lực lượng mới, thuận lợi cho mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”, hoàn thành giải phóng miền Nam. Mỹ rút quân nhưng Việt Nam vẫn giữ nguyên lực lượng chính trị và vũ trang ở miền Nam Việt Nam. Vì vậy, chiến thắng mùa Xuân 1975 hoàn toàn giải phóng miền Nam không tách khỏi thắng lợi của Hiệp định Paris.

Hiệp định Paris 1973 phản ánh thắng lợi ở mức cao trong bối cảnh quốc tế có thuận lợi nhưng cũng phức tạp. Việt Nam đã tranh thủ được cả Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, các nước không liên kết, nhân dân thế giới và hình thành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược”.

Sự hình thành của mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam đã thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh quốc gia với sức mạnh quốc tế, kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân. Hiệp định Paris và thắng lợi của nhân dân Việt Nam góp phần mở ra một chương mới trong cục diện Đông Nam Á: Mỹ rút lui về quân sự khỏi Đông Dương và Đông Nam Á; khối SEATO giải tán; xu thế hoà bình, trung lập phát triển mạnh trong khu vực, mở ra khả năng thiết lập một khu vực hoà bình, hữu nghị ổn định.

Hiệp định Paris phản ánh được ở mức cao nhất thắng lợi và xu thế cuộc đấu tranh của nhân dân ta là Mỹ chấp nhận thất bại, rút lui, ta đứng vững và mạnh lên. Với Hiệp định Paris, ta phát huy thắng lợi trên chiến trường, giành thắng lợi quyết định, buộc Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút hết quân. Ta giành thắng lợi trong bối cảnh quốc tế phức tạp, trên chiến trường có nhiều khó khăn nên thắng lợi càng có ý nghĩa to lớn.

Nhân tố đóng vai trò quyết định đưa đến thắng lợi của cuộc đàm phán Paris, đó là sự lãnh đạo sáng suốt, đầy trí tuệ, rất bản lĩnh của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đề ra đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đường lối quốc tế độc lập tự chủ, đúng đắn sáng tạo.

Nghệ thuật ngoại giao “Đánh kết hợp với đàm”, hoạt động ngoại giao đã góp phần tranh thủ dư luận thế giới, cô lập kẻ thù, hỗ trợ chiến trường và ngược lại, chiến thắng trên chiến trường đã hỗ trợ to lớn cho công tác vận động quốc tế trong các cuộc đàm phán; buộc địch xuống thang từng bước, làm thay đổi so sánh lực lượng, thế trận trên chiến trường.

Một nhân tố quan trọng góp phần tạo ra chiến thắng chính là chúng ta đã chủ động thúc đẩy hình thành được mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ. Đó là nêu cao chính nghĩa của cuộc đấu tranh của ta, vạch trần tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ; quyết tâm giành độc lập, thế tất thắng của ta và thế thất bại của Mỹ; nêu cao thiện chí hòa bình của Việt Nam; tố cáo tội ác chiến tranh, âm mưu xuyên tạc, lừa bịp của Mỹ.

Cùng với đó là sự chỉ đạo sát sao, sáng suốt của Bác Hồ, Bộ Chính trị và đóng góp to lớn, sáng tạo của Đoàn đàm phán. Đoàn đàm phán đã tìm tòi, xây dựng lập luận sắc bén, có sức tấn công, thuyết phục về những vấn đề quan trọng như quân miền Bắc ở lại miền Nam và quân Mỹ, chư hầu phải rút khỏi Việt Nam; đưa ra nhiều sáng kiến như: Giải pháp đồng bộ 10 điểm, 8 điểm, 7 điểm..; tranh thủ thời cơ và tạo thời cơ, biết nhân nhượng trên cơ sở “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Thắng lợi của Hiệp định Paris khẳng định, chỉ có thể thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ của mình nếu kiên định tinh thần độc lập, tự chủ, tự mình quyết định công việc của mình; đồng thời luôn coi trọng và ra sức tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế; xem ngoại giao là một mặt trận để huy động, phối hợp mọi lực lượng tham gia đấu tranh giành thắng lợi hoàn toàn. Chủ động, linh hoạt sử dụng nhiều hình thức tổ chức, nhiều phương thức đấu tranh, huy động nhiều lực lượng, phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và đối ngoại nhân dân; với hai nền ngoại giao miền Bắc và miền Nam phối hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn ở trong nước cũng như trên quốc tế và đặc biệt tại bàn đàm phán Paris.

Hiệp định Paris thắng lợi, đó là việc quán triệt sâu sắc tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, kiên trì quan điểm độc lập, tự chủ; đánh giá và dự báo thời cuộc; nghệ thuật đánh – đàm; tranh thủ dư luận, tập hợp lực lượng tác động vào nội bộ đối phương; xác định rõ mục tiêu, biết giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi cuối cùng; nhân nhượng có nguyên tắc; kiên trì nguyên tắc, linh hoạt sách lược; chủ động tạo thời cơ, nắm bắt thời cơ, xây dựng lập luận khoa học, lý lẽ sắc bén, thuyết phục; chủ động tiến công giành thế chủ động; tuyên truyền, vận động dư luận…

Mạnh Hùng
cpv.org.vn

Những câu chuyện về Hội nghị Paris: Giai thoại về cái bàn đàm phán

Cuộc đàm phán bước sang một giai đoạn mới là giải quyết vấn đề quân sự và chính trị ở miền Nam Việt Nam. Hai bên đều cho rằng để giải quyết vấn đề này phải có mặt các bên miền Nam Việt Nam.

Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) đề nghị có mặt của đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPNMVN). Phía Mỹ đề nghị có mặt của Cộng hòa Việt Nam tức chính phủ Sài Gòn. Hội nghị 2 bên đã trở thành hội nghị 4 bên. Vì thế, cuộc tranh cãi về hình thù cái bàn kéo dài đến 2 tháng, từ 1-11-1968 đến tháng 1-1969 mới họp được phiên đầu tiên của Hội nghị 4 bên là VNDCCH, Mỹ, MTDTGPMNVN và Chính phủ Sài Gòn.

Trước khi đến Bắc Kinh để nhận nhiệm vụ Đại sứ Pháp do De Gaulle bổ nhiệm, Etienne Manac’h (Vụ trưởng Vụ châu Á-Bộ Ngoại giao Pháp) tham gia các cuộc thảo luận dưới hình thức bàn đàm phán. Ngoài tính chất giai thoại, vấn đề chiếc bàn trên thực tế động chạm đến bản chất của đàm phán bởi vì nó đặt ra vấn đề về vị trí và thân phận các đồng minh của Mỹ và VNDCCH: Ở đây là Chính phủ Sài Gòn và MTDTGPMNVN. Đề xuất của trung gian Pháp về một loại bàn hình kim cương có thể đáp ứng được cả ý muốn của Mỹ- đàm phán 2 bên bên 2 bàn chữ nhật- và của miền Bắc Việt Nam- đàm phán 4 bên bên 4 bàn hình vuông- xuất hiện sau đề xuất của Liên Xô và cuối cùng phương án được chấp nhận là: Một bàn tròn cho phía Mỹ và miền Bắc Việt Nam, hai bên có hai bàn nhỏ hình chữ nhật cho chính phủ Sài Gòn và cho MTDTGPMNVN.

Nguyễn Thế Mai
(dịch và biên tập từ tài liệu: NướcPháp,
bên thứ năm trong đàm phán?)

daidoanket.vn

Vị Đại đức có nhiều việc làm theo gương Bác

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu rõ những giá trị đạo đức và văn hóa tích cực của tôn giáo: “Chúa Giê-su dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi”. Cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về tình yêu thương con người, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân.

Tìm thấy trong triết lý Phật giáo và tư tưởng Hồ Chí Minh những trùng hợp về tư tưởng cao cả vì con người, noi theo tấm gương đạo đức tuyệt vời cao đẹp của Bác, trong thời gian qua, Đại đức Thích Thiện Hòa cùng chùa Hải Hội, xã Hòa Hiệp Trung, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên đã có nhiều việc làm thiết thực nhằm cứu giúp những cảnh đời nghèo khó và xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

Bàn thờ Bác bốn mùa ngát hương

Tôi tìm về chùa Hải Hội – ngôi chùa đẹp, cổ kính, mang đậm dấu ấn kiến trúc chùa chiền Nam Trung Bộ vào một ngày rằm. Người đi lễ chùa khá đông. Tiếng chuông, tiếng mõ hoà với tiếng rì rào sóng vỗ tạo nên khung cảnh yên bình ở một vùng quê biển. Đại đức Thích Thiện Hòa, trụ trì cùa Hải Hội dẫn tôi vào gian chánh điện, kính cẩn thắp hương lên bàn thờ Phật và bàn thờ Bác.

Đại đức cho biết: Từ trước năm 1975, sau khi Bác mất, hằng năm, vào dịp sinh nhật Bác hay Tết Độc lập, chùa đều bí mật lập bàn thờ Bác, thắp hương tưởng nhớ công ơn của Người. Ngay sau giải phóng, chùa lập bàn thờ Bác ở vị trí trang trọng nhất của gian chánh điện. Bà con ngư dân, trước mỗi chuyến biển, đều đến chùa, cầu cho sóng yên biển lặng và thắp thắp hương, hứa với Bác sẽ chung tay giữ biển đến cùng, như lời Bác dạy. Đi lễ chùa cũng là dịp bà con thắp hương lên bàn thờ Bác, vì thế, bàn thờ Bác quanh năm hương hoa thơm ngát.

Đại đức Thích Thiện Hoà tâm sự: “Chúng tôi lúc nào cũng tưởng nhớ đến Bác Hồ kính yêu vì Bác là vị lãnh tụ vĩ đại đã giải phóng dân tộc khỏi áp bức của ngoại xâm, để chúng tôi có được cuộc sống yên bình như ngày hôm nay, yên tâm tu hành, tu học. Tôi đã nghiên cứu rất kỹ cuộc đời, tấm gương đạo đức của Bác, tư tưởng vì dân, vì con người của Bác và thấy bổn phận mình phải học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người”.

Chùa Hải Hội đã có từ lâu đời. Trong kháng chiến chống Mỹ, đây là cơ sở, nơi đi về của cán bộ cách mạng. Cũng vì thế, không ít lần chính quyền chế độ cũ đã làm khó dễ đối với chùa, thậm chí chúng còn cài lựu đạn cho nổ tung  tượng Phật. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, với sự ủng hộ của chính quyền, sự đóng góp của đạo hữu, ngôi chùa được tu bổ, xây dựng khang trang, là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của bà con phật tử xã Hòa Hiệp trước đây, nay là các xã Hòa Hiệp Bắc, Hòa Hiệp Trung, Hòa Hiệp Nam, huyện Đông Hòa. Tiếp nối truyền thống tốt đẹp trong kháng chiến chống Mỹ, các thế hệ trụ trì chùa Hải Hội đã tích cực tham gia hưởng ứng các phong trào yêu nước.

vi Dai ducBàn thờ Bác tại chùa Hải Hội

Đặc biệt, từ khi triển khai Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gươg đạo đức Hồ Chí Minh”, từ tấm gương của Bác và qua nghiên cứu, tìm thấy trong triết lý Phật giáo và tư tưởng Hồ Chí Minh những trùng hợp về tư tưởng cao cả vì con người, mỗi tháng 2 lần, trong các buổi dạy giáo lý, Đại đức Thích Thiện Hòa đã lồng ghép nói về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho bà con phật tử. Đại đức dặn bà con phải luôn thương yêu, đoàn kết, giúp đỡ nhau theo lời Bác và cũng là lời Phật dạy.

Những việc làm theo gương Bác

Các xã Hòa Hiệp ngày nay đã có nhiều đổi mới, song tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn khá cao và vẫn còn không ít cảnh đời bất hạnh do hậu quả chiến tranh. Chung tay cùng người nghèo, góp phần cùng địa phương giúp đỡ những gia đình khó khăn, Đại đức Thích Thiện Hòa đứng ra  thành lập Chi hội Chữ thập đỏ của chùa với gần 200 hội viên là các phật tử, luôn duy trì nguồn quỹ khoảng 30 triệu đồng, trong đó có nhiều  hội viên nòng cốt, chưa bỏ sót tham gia một đợt quyên góp nào. Ông Huỳnh Đức Ngọc ở thôn Phú Hiệp 2, xã Hòa Hiệp Trung, một thành viên tích của Chi hội Chữ thập đỏ chùa Hải Hội nói: “Chúng tôi rất ủng hộ những việc làm từ thiện của chùa Hải Hội. Không nhiều thì ít, hễ nhà chùa mở đợt quyên góp là gia đình tôi hưởng ứng ngay”.

Từ nguồn quỹ này, Chi hội Chữ thập đỏ Chùa Hải Hội thường xuyên giúp đỡ nhiều gia đình khó khăn, nạn nhân chất độc màu da cam và tặng quà cho học sinh nghèo vượt khó. Ngay sau trận lũ  lịch  sử ở Phú Yên đầu tháng 11/2009, chùa Hải Hội đã vận động quyên góp, tổ chức 3 đợt về huyện Đồng Xuân – nơi bị thiệt hại nặng nề nhất – trao quà cho bà con vùng lũ trị giá 50 triệu đồng.

Cùng với đó, Đại đức Thích Thiện Hòa còn gặp gỡ trao đổi với bà con phật tử về thực hiện đời sống văn hoá ở khu dân cư, chăm lo xây dựng gia đình hạnh phúc, yêu thương đùm bọc, nuôi dạy con cái ngoan hiền, hiếu học, góp phần xây dựng và giữ vững danh hiệu các thôn văn hóa.

Những việc làm của Đại đức Thích Thiện Hòa và Chi hội Chữ thập đỏ chùa Hải Hội được chính quyền, Mặt trận địa phương đánh giá cao. Ông Nguyễn Hữu Tổng, Phó Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam xã Hòa Hiệp Trung nói: “Không chỉ góp phần giúp đỡ những cảnh đời khốn khó, bà con nghèo,  chùa Hải Hội và Đại đức Thích Thiện Hòa còn hỗ trợ địa phương rất nhiều trong việc xây dựng thôn xóm bình yên”.

Phan Xuân Luật
cand.com.vn

“Đã đánh là nhất định thắng”

Tròn 40 năm đã trôi qua kể từ ngày quân và dân ta lập nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” lẫy lừng, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Chiến thắng này một lần nữa cho thấy tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, một trong những yếu tố đóng vai trò then chốt làm nên thắng lợi rực rỡ của cách mạng nước nhà.

Ngày 16-4-1952, trước trận “Điện Biên Phủ trên không” hai mươi năm, nước Mỹ cho bay thử thành công chiếc máy bay B.52 đầu tiên do hãng Boeing sản xuất và tuyên truyền rùm beng cho loại “siêu pháo đài bay bất khả xâm phạm”. Sau 20 năm, năm 1972, B.52 đã được qua 8 lần cải tiến từ B.52A đến B.52G, B.52H. Mỗi chiếc B.52G hoặc H (loại bị bắn rơi tại Hà Nội tháng 12-1972) có thể mang trên dưới 100 quả bom với trọng lượng từ 17 đến 30 tấn cùng nổ chỉ trong phạm vi 3 đến 10 giây đồng hồ. Đi kèm B.52 là một lực lượng máy bay F4 hộ tống tạo thành mộthàng rào không thể chọc phá”. Nhưng điều chủ yếu nhất, nguy hiểm nhất và gây nhiều khó khăn nhất cho đối phương là hệ thống gây nhiễu điện tử cực mạnh tạo thành chiếc áo giáp điện tửche giấu toàn bộ lực lượng tiến công, biến mỗi chiếc B.52 thành một máy bay tàng hình”. Hoa Kỳ cho rằng “Đối phương không thể có cách chống đỡ và không còn một sinh vật nào tồn tại nổi dưới những trận mưa bom kinh khủng của loại B.52 bất khả xâm phạm”.

da danh nhat dinh thang 1Máy bay B.52 thực sự là kho bom đạn bay trên không.
(Ảnh Tư liệu – Internet)

Ngày 18-6-1965, đế quốc Mỹ cho 30 chiếc B.52 từ đảo Gu-am giữa Thái Bình Dương bay vào “rải thảm” khu căn cứ Long Nguyên của ta ở huyện Bến Cát. Đây là lần đầu tiên B.52 được sử dụng ở Việt Nam. Giặc Mỹ muốn dùng “con ngáo ộp” B.52 để hăm dọa chúng ta.

Nhưng chỉ một tháng sau, ngày 19-7-1965, trong chuyến thăm Trung đoàn 324, bộ đội Phòng không – Không quân đóng tại Tam Đảo, Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt nhân dân Việt Nam đã lên tiếng trả lời bọn xâm lược: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B57, B.52 hay “Bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”.

Lời khẳng định ấy của Bác, cùng chỉ thị của Bộ Chính trị và mệnh lệnh Bộ Quốc phòng sau này, đã trở thành niềm tin và động lực để quân và dân ta tạo nên chiến thắng lịch sử của trận Điện Biên Phủ trên không ở Hà Nội cuối năm 1972.

“Dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B57, B.52 hay “Bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng” – Thể hiện quyết tâm của Bác, cũng là quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong cuộc chiến chống trả đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đồng thời, câu nói này cũng thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của một nhà chiến lược tài tình.

Riêng đối với Quân chủng Phòng không – Không quân, lời dạy của Bác đã củng cố lòng tin và tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ chiến sĩ trong toàn quân chủng nỗ lực vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, đánh thắng những bước leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc nước ta. Hơn thế nữa, lời dạy của Bác thực sự đã đặt nền móng cho tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng không, nghệ thuật tác chiến phòng không của chúng ta. Ngay sau khi Bác đến thăm, theo chỉ thị của Đảng ủy Quân chủng, Cục Chính trị Quân chủng đã hướng dẫn các đơn vị phát động toàn thể cán bộ, chiến sĩ học tập và làm theo lời dạy của bác, thi đua lập công, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Bản chỉ thị nêu rõ những yêu cầu của đợt phát động: 1) Nêu cao quyết tâm chiến đấu, kiên định vững vàng, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dũng cảm chiến đấu, đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. 2) Quán triệt tư tưởng chỉ đạo tác chiến “Đánh thắng trận đầu, đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng”, phát huy quân sự dân chủ, tăng cường rèn luyện năng lực chỉ huy, trình độ kĩ thuật để bắn trúng ngay từ loạt đạn đầu, bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay địch, tiết kiệm đạn, trước mắt nhanh chóng đưa số máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc lên 400 chiếc.

Dù kẻ địch có huy động lực lượng đông đảo quân lính với những vũ khí tối tân để tấn công, “Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa”, có đông hơn nữa thì “ta cũng đánh”. “Ta cũng đánh” là lời khẳng định chắc như đinh đóng cột của Bác kính yêu. Sở dĩ Người có thể khẳng định mạnh mẽ như vậy là xuất phát từ sự thấu hiểu sâu sắc truyền thống yêu nước quý báu đã có từ hàng nghìn năm nay của dân tộc ta; thấu hiểu ý chí quật cường, tinh thần anh dũng, quả cảm, không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù xâm lược của những người con mang dòng máu Lạc Hồng. Đó là quyết tâm của Bác, quyết tâm của Đảng cũng như của nhân dân ta, dù thế nào “ta cũng đánh” và “đã đánh là nhất định thắng”.

“Phải đánh thắng B.52” là mối quan tâm đặc biệt của Bác và cũng là quyết tâm của quân dân ta. Năm 1962, mười năm sau khi chiếc B.52 đầu tiên ra đời, trong lần gặp đồng chí Phùng Thế Tài nhân dịp đồng chí được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Bác hỏi:

Bây giờ chú là Tư lệnh Phòng không, vậy chú biết gì về B.52 chưa?

Thấy đồng chí Tài lúng túng, Bác cười độ lượng:

Nói thế thôi, chú có biết cũng chưa làm gì được nó. Nó bay trên cao mười cây số mà trong tay chú hiện nay mới chỉ có cao xạ thôi. Nhưng ngay từ nay, là Tư lệnh Phòng không, chú phải theo dõi chặt chẽ và thường xuyên quan tâm đến thằng B.52 này”.

Để có vũ khí trừng trị được B.52, Bác đặt vấn đề với Liên Xô chi viện cho Việt Nam vũ khí tên lửa phòng không. Dưới sự giúp đỡ của nước bạn, Trung đoàn tên lửa phòng không SAM-2 đầu tiên mang phiên hiệu H36 ra đời.

Tháng 4-1965, Mỹ quyết định dùng Sư đoàn Không quân chiến lược số 3 đóng ở đảo Guam tiến hành chiến dịch ném bom mang tên “Cung sáng” vào miền Nam Việt Nam để yểm trợ cho bộ binh Mỹ trong các cuộc hành quân trên bộ. Ngày 18-6-1965, 30 máy bay B.52 cất cánh từ Guam ở trung tâm Thái Bình Dương vượt gần 9.000 km với 16 giờ bay liên tục, thực hiện cuộc ném bom “rải thảm” lần đầu tiên trên thế giới vào căn cứ Long Nguyên của ta ở huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương (phía Tây Bắc Sài Gòn). Cùng với bom là những tờ truyền đơn in hình chiếc B.52 với đủ kích thước, tính năng của nó và đã gây tác dụng tâm lý nhất định. Một số cán bộ ở miền Nam ra công tác miền Bắc khi kể về những trận rải thảm của B.52 đã tỏ ra phân vân, lo lắng. Vì, chỉ cần 10 chiếc B.52 lọt vào Hà Nội cũng đủ gây tổn thất nặng nề không lường hết được. Chính vì vậy mà Bác Hồ đã đặc biệt quan tâm đến loại máy bay này. Việc xây dựng quyết tâm dám đánh và quyết thắng B.52 được đặt ra ngay từ khi đế quốc Mỹ bắt đầu sử dụng máy bay B.52 đánh phá ở chiến trường miền Nam.

Ngày 24-7-1965, Trung đoàn tên lửa H36 ra quân đánh thắng trận đầu, bắn rơi tại chỗ chiếc F4C trên bầu trời Hà Tây. Một ngày sau, ngày 25-7-1965, hạ tại chỗ thêm một máy bay trinh sát không người lái BQM34A ở độ cao 19 km. Hai chiến công đầu của bộ đội tên lửa Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt: Nó khẳng định khả năng tên lửa Việt Nam trị được B.52 đã ở trong tầm tay. Bác Hồ đã gửi thư khen quân và dân Hà Tây và ký lệnh thưởng 2 Huân chương Quân công hạng Ba cho 2 Tiểu đoàn 63 và 64 đã trực tiếp lập công. Ngày 12-4-1966, máy bay B.52 lần đầu tiên ném bom đèo Mụ Giạ ở Tây Nam Quảng Bình, mở đầu việc đánh phá của B.52 ở miền Bắc nước ta. Ít lâu sau, B.52 đánh rộng đến Vĩnh Linh, phía bắc giới tuyến 17 với mức độ ngày càng dữ dội. Bác mời đồng chí Đặng Tính, Chính uỷ Quân chủng Phòng không – Không quân lên báo cáo tình hình và trực tiếp giao nhiệm vụ cho quân chủng: “Máy bay B.52 Mỹ đã ném bom miền Bắc. Phải tìm cách đánh cho được B.52. Nhiệm vụ này Bác giao cho các chú Phòng không- Không quân”.da danh nhat dinh thang 2Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm các chiến sĩ lực lượng phòng không bảo vệ thủ đô năm 1966. (Ảnh Tư liệu – Internet)

Các đồng chí trong Quân uỷ Phòng không – Không quân báo cáo Bác ý định đưa lực lượng tên lửa, ra-đa vào chiến trường phía Nam tìm cách bắn rơi máy bay B.52, để củng cố ý chí quyết thắng và xây dựng niềm tin đánh thắng B.52 cho bộ đội. Người suy nghĩ rồi thong thả nói: “Đúng, muốn bắt cọp phải vào tận hang”. Tháng 5-1966, một số đơn vị tên lửa, ra-đa và những cán bộ có kinh nghiệm của quân chủng đã được cấp tốc đưa vào chiến trường. Trung đoàn tên lửa H38 (biệt danh Đoàn Hạ Long) – đơn vị hoả lực đầu tiên nhận trọng trách lớn lao này, đã kịp thời cơ động từ đồng bằng Bắc Bộ, vượt qua nhiều chặng đường hiểm trở đầy ác liệt của bom đạn Mỹ để tới Vĩnh Linh vào đầu năm 1967. Các chiến sĩ đã anh dũng nằm ngay trong tầm đạn pháo mặt đất, pháo biển của địch phục kích bắn B.52. Một số đơn vị ra-đa đã vượt qua muôn vàn gian khổ, khó khăn đưa máy lên tận đỉnh Trường Sơn để nghiên cứu phát hiện B.52. Đưa tên lửa vào Vĩnh Linh là chặng đường đầu tiên trên con đường dài đi đến chiến thắng B.52. Nghe tin 1 trung đoàn tên lửa SAM-2 của ta vào Vĩnh Linh, Lầu năm góc hoảng sợ và quyết tiêu diệt những bệ phóng của ta bằng mọi giá. Các khí tài của ta bị bom, đạn Mỹ đánh hỏng nặng. Biết đơn vị gặp khó khăn, Bác thường xuyên quan tâm thăm hỏi xem có biện pháp khắc phục chưa.da danh nhat dinh thang 3Ngày 09-02-1967, Bác Hồ thăm bộ đội Không quân nhân dân Việt Nam.
(Ảnh Tư liệu – Internet)

Ngày 17-9-1967, Phân đội tên lửa 84, Đoàn H38 lần đầu tiên chỉ trong vòng ba mươi phút đã kịp thời phát hiện và bắn rơi 2 chiếc B.52 trên bầu trời Vĩnh Linh. Nhận được tin vui từ Vĩnh Linh ra, các đồng chí lãnh đạo Quân chủng Phòng không – Không quân muốn báo tin ngay đến Bác vì Người đã cho phép gọi điện thoại trực tiếp đến bất cứ lúc nào cần thiết. Trời đã khuya, sợ Bác thức giấc, đồng chí Tư lệnh đã gọi cho đồng chí Vũ Kỳ (thư ký của Bác) thì được biết Bác vẫn chưa ngủ. Đồng chí quay số 01 (mật danh điện thoại của Bác), Bác nhận ra giọng đồng chí Phùng Thế Tài và hỏi ngay: “Chú Tài đấy à? Có việc gì thế? Bắn rơi B.52 rồi phải không?”

Việc Bác đoán trước đã bắn rơi B.52 là xuất phát từ niềm tin tuyệt đối của Người vào lòng dũng cảm, trí tuệ, khả năng sáng tạo của bộ đội ta. Từ ngôi nhà sàn, Bác đã tự tay viết thư khen quân và dân Vĩnh Linh anh hùng và ký Lệnh thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì cho Tiểu đoàn 84 thuộc Trung đoàn tên lửa H38 là đơn vị trực tiếp đã lập công.

Bước leo thang của Mỹ đã lên đến đỉnh. Chúng tổ chức những chiến dịch không quân liên tục đánh phá quyết liệt Thủ đô. Bộ Tư lệnh Phòng không -Không quân được giao nhiệm vụ chuẩn bị phương án chiến đấu bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng trong tình huống địch sử dụng B.52. Vào một buổi tối mùa Xuân năm 1968, tại ngôi nhà sàn, Bác Hồ nói với đồng chí Phùng Thế Tài, lúc này là Phó Tổng tham mưu trưởng lời dự báo về một cuộc chiến căng thẳng, khốc liệt sắp diễn ra: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội. Vì vậy nhiệm vụ cuả chú rất nặng nề”.

Đúng như lời dự đoán của Bác, ngày 17-12-1972, Ních-xơn chính thức ra lệnh mở Chiến dịch Lai-nơ-bêch-cơ II, sử dụng không quân chiến lược B.52, tập kích với quy mô hủy diệt vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc.

Trong suốt 12 ngày đêm vần vũ trên bầu trời Hà Nội, đế quốc Mỹ đã huy động một lực lượng lớn chưa từng có kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai (tính đến tháng 12/1972) cho cuộc tập kích này: gần 1/2 số máy bay chiến lược B.52 của toàn nước Mỹ (193 chiếc trên tổng số 400 chiếc), gần 1/3 số máy bay chiến thuật của toàn nước Mỹ (1.077 chiếc trên tổng số 3041 chiếc) cùng nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại khác. Chúng đã huỷ diệt nhiều khu phố, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga, giết hại 2.368 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác. Tờ báo lớn nhất của Anh, the Daily Mirror đã bình luận rằng: “Việc Mỹ quay lại ném bom Bắc Việt Nam đã làm cho cả thế giới lùi lại vì ghê sợ”.

Đế quốc Mỹ toan tính rằng, bằng sự tàn sát dã man của B.52, chúng có thể buộc nhân dân ta phải khuất phục. Nếu đế quốc Mỹ thành công trong cuộc tập kích bằng B.52 thì hậu quả thật khôn lường. Báo Pháp Nhân đạo viết: “Tấn thảm kịch Việt Nam đang trải qua cho ta hương vị của cái mà trái đất chúng ta sẽ nếm trải nếu nước đế quốc mạnh nhất đặt được nền thống trị độc tôn của nó!”. Thế nhưng, “thần tượng B.52” – con át chủ bài trong bộ ba chiến lược của đế quốc Mỹ đã phải sụp đổ trước ý chí kiên cường và trí tuệ thông minh tuyệt vời của dân tộc Việt Nam. Chỉ trong 12 ngày đêm, lưới lửa phòng không dày đặc của ta đã xé tan xác 81 máy bay của giặc Mỹ, trong đó “siêu pháo đài bay” B.52 là 34 chiếc, F111 – 5 chiếc và 42 máy bay chiến thuật khác, bắt sống nhiều giặc lái, trong đó có nhiều giặc lái B.52.

Thông thường trong chiến tranh, ở những trận tập kích đường không lớn, tỷ lệ tổn thất về máy bay của phe tiến công là khoảng 1-2%. Vậy mà trong cuộc tập kích không quân chiến lược cuối tháng 12-1972 này tỷ lệ tổn thất về máy bay của Mỹ đạt kỷ lục cao nhất từ trước tới nay (25%), khiến các nhà quan sát quân sự Mỹ phải thú nhận: “Cứ cái đà mất máy bay, người lái này và nếu Mỹ còn tiếp tục ném bom thì chỉ đến ngày 28 tháng 4 năm 1973 toàn bộ lực lượng không quân chiến lược Mỹ ở vùng Đông Nam Á sẽ hết nhẵn”. Người Mỹ cũng đã phải cay đắng thừa nhận rằng: “B.52 đã được tung ra chiến trường với số lượng lớn chưa từng có, để cuối cùng Tổng thống phải chấp nhận một kết cục bi thảm chưa từng thấy!”. Chính Ních-xơn cũng đã phải cay đắng thừa nhận về thất bại thảm hại này trong hồi ký của mình: “Nỗi lo của tôi trong những ngày này không phải là lo những làn sóng phản đối, phê phán nghiêm khắc ở trong nước và trên thế giới, mà chính là mức độ tổn thất về máy bay B.52 quá nặng nề”.

da danh nhat dinh thang 4 Xác pháo đài bay B.52 chất đống ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. (Ảnh tư liệu – Internet)

Trước sự thất bại liên tiếp trong 12 ngày đêm đánh phá miền Bắc, 7h sáng ngày 30/12, Tổng thống Mỹ Ních-xơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận họp lại Hội nghị Pari về Việt Nam. Cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B.52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc kéo dài 12 ngày đêm đã bị thất bại hoàn toàn. Ngày 27-01-1973 Hiệp định Pari về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết.

“Phải tin tưởng vững chắc là ta nhất định thắng, Mĩ nhất định thua. Lúc này mà còn phân vân, tàu địch to, tàu ta nhỏ, máy bay địch nhiều, súng ta ít, liệu có đánh được không? Đó là biểu hiện quyết tâm chưa cao. Tuy không dám tự nhận là sợ địch, nhưng chính là sợ địch. Phải khẳng định rằng: Dù đế quốc Mĩ có lắm súng nhiều tiền. Dù chúng có B57, B52 hay “bê” gì đi chăng nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ, chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng… Ta phải có lòng tin sắt đá ở Đảng. Đảng đã nói: “Nhất định đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” là nhất định thắng… Đánh nhau có hi sinh, có gian khổ, nhưng bền gan, vững chí thì cuối cùng ta nhất định thắng, giặc nhất định thua”. Lời của Bác tựa như lời sông núi, thấm sâu vào trái tim mỗi người dân Việt Nam, cổ vũ, thôi thúc quân dân ta vững niềm tin tất thắng kiên cường chống lại kẻ thù xâm lược. Đoàn kết một lòng, quân dân thống nhất, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã kiên cường, dũng cảm, quyết chiến, quyết thắng, làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” vang dội, đánh một đòn chí mạng vào kẻ thù xâm lược, khiến chúng phải thua một cách “tâm phục, khẩu phục”.da danh nhat dinh thang 5Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội trao cờ cho các đơn vị lập công xuất sắc trong Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972.
 (Ảnh tư liệu – Internet)

Đã bốn thập kỷ qua đi nhưng những bài học vô giá về tính chủ động, sáng tạo, tinh thần dám đánh và quyết thắng mà Bác Hồ để lại từ trận “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” vẫn còn vẹn nguyên giá trị và sẽ giúp cho dân tộc ta vững tay lái khi ra biển lớn trong quá trình hội nhập quốc tế hôm nay.

Thu Hiền (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Cần hiểu đúng nội dung về Đảng lãnh đạo trong Dự thảo Hiến pháp

Làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình

QĐND – Ngay sau khi các phương tiện thông tin đại chúng của nước ta đồng loạt đăng tải toàn văn Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để lấy ý kiến toàn dân vào văn kiện đặc biệt quan trọng này, nhiều trang mạng ở hải ngoại và các phần tử phản động lại tiếp tục xuyên tạc nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội được quy định tại Điều 4 của Hiến pháp.

Một quy định tất yếu, phù hợp với yêu cầu lịch sử

Để “tấn công” vào Điều 4, một số ý kiến lập luận rằng, Hiến pháp các năm 1946 và 1959 không có điều nào quy định Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nhưng Đảng “vẫn lãnh đạo nhân dân đánh thắng thực dân đế quốc xâm lược và hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thì cũng không nhất thiết phải xác nhận lại vai trò lãnh đạo của Đảng như trong Hiến pháp hiện tại”(!).

Lập luận này là lập lờ, thiếu toàn diện, không có quan điểm lịch sử cụ thể. Sở dĩ Hiến pháp năm 1946 không có quy định vai trò lãnh đạo của Đảng, vì trước đó ngày 11-11-1945, do tình thế đặc biệt của cách mạng, Đảng ta đã ra tuyên bố tự giải tán, nhưng sự thật là rút lui vào hoạt động bí mật, giữ vững vai trò lãnh đạo. Trong thập niên 50 của thế kỷ XX, đế quốc Mỹ nhảy vào can thiệp miền Nam, đất nước ta bị chia cắt, Đảng bộ miền Nam cũng chưa ra hoạt động công khai vì bộ luật 10-59 của ngụy quyền Sài Gòn nhằm “tiêu diệt cộng sản” cực kỳ hà khắc, man rợ. Vì vậy, Hiến pháp 1959 cũng chưa đề cập đến vai trò lãnh đạo của Đảng. Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội, dân tộc ta có chung một bản Hiến pháp mới, trong đó khẳng định Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Điều này là tất yếu, phù hợp với yêu cầu lịch sử, nhiệm vụ cách mạng mới, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và thực hiện đúng cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta.

Điều 4 Hiến pháp năm 1980 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác – Lê-nin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”.(1)

Kế thừa tinh thần đó, Điều 4 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.(2)

Trên cơ sở Điều 4 Hiến pháp năm 1992, Điều 4 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 xác định: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; 2. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Việc quy định Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không chỉ là tư tưởng xuyên suốt, nhất quán để khẳng định vị trí, vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng, mà còn là một nguyên tắc bất di bất dịch của cách mạng Việt Nam, phù hợp với thể chế chính trị – xã hội mà Việt Nam đã lựa chọn.

Đảng không “đứng ngoài” Hiến pháp và pháp luật

Với mưu đồ xuyên tạc Điều 4 Hiến pháp, một số luận điệu thường nhấn mạnh một vế là: Nếu chỉ có một Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội sẽ dẫn tới chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ. Thế nhưng, họ cố tình không nhắc tới hay “phớt lờ” một điểm then chốt được khẳng định trong Điều 4 là: Các tổ chức của Đảng đều hoạt động trong khuổn khổ Hiến pháp – với tư cách là đạo luật cơ bản và có hiệu lực pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Khẳng định vai trò cầm quyền của mình đối với Nhà nước và xã hội, nhưng trách nhiệm của Đảng trước đất nước, trước nhân dân ngày càng được đề cao, nhấn mạnh rõ ràng, cụ thể hơn trong mỗi bản Hiến pháp. Nếu như Điều 4 Hiến pháp năm 1980 xác định “Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”, thì Điều 4 Hiến pháp năm 1992 đã bổ sung: “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Tiếp tục tinh thần đó, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 còn quy định thêm về việc tuân thủ, thi thành Hiến pháp và pháp luật đối với mọi đảng viên.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không chỉ bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức và kiểm tra; mà phần cốt yếu là thông qua đội ngũ tiền phong của mình là những cán bộ, đảng viên tiêu biểu về bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất và năng lực. Vì vậy, việc Điều 4 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 khẳng định “Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” nhằm bảo đảm cho Đảng giữ vững bản chất, mục tiêu, lý tưởng của mình, đồng thời là giải pháp quan trọng hàng đầu để phòng, chống, ngăn ngừa mọi nguy cơ thoái hóa, biến chất có thể xảy ra trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta. Mặt khác, việc xác định trách nhiệm của các đảng viên trong việc tự giác, gương mẫu thực hiện, chấp hành Hiến pháp và pháp luật cũng không ngoài mục đích làm cho “đội ngũ tiên phong của Đảng” phải thường xuyên nêu cao ý thức, thái độ, trách nhiệm cả về suy nghĩ và việc làm, tư tưởng và hành động trong việc sống, làm theo Hiến pháp và pháp luật, làm gương cho nhân dân noi theo.

Có ý kiến băn khoăn: Liệu có phải “luật hóa” vai trò cầm quyền của Đảng không? Phải khẳng định rằng, dù không có một đạo luật cụ thể về Đảng, nhưng Đảng đã tự nguyện, tự giác đưa mọi hoạt động của mình vào khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Hơn nữa, không chỉ chấp hành Hiến pháp và pháp luật, Đảng hoạt động còn dựa trên cơ sở Cương lĩnh, Điều lệ, Nghị quyết, Quy chế làm việc của Đảng và các chỉ thị liên quan đến việc điều chỉnh các vấn đề trong nội bộ Đảng cũng như điều chỉnh các mối quan hệ của Đảng với Nhà nước, xã hội và nhân dân. Thực tế trong những năm qua, Đảng ta đã ban hành nhiều chỉ thị thể hiện trách nhiệm của Đảng trước đất nước và nhân dân như: Quy định 76-QĐ/TW ngày 15-6-2000 của Bộ Chính trị (khóa VIII) “Về việc đảng viên đang công tác ở cơ quan, doanh nghiệp thường xuyên giữ vững mối quan hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ nơi cư trú”; Quy định 115-QĐ/TW ngày 7-12-2007 của Bộ Chính trị (khóa X) về những điều đảng viên không được làm và gần đây được thay thế bằng một văn bản có tính pháp lý cao hơn là Quy định 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư (khóa XI) về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, v.v.. Chứng tỏ rằng, Đảng ta luôn tự nghiêm khắc với chính mình thông qua việc ban hành các chỉ thị, quy định nhằm giáo dục, rèn luyện, đưa mọi hoạt động của các tổ chức Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên vào khuôn khổ ý thức tổ chức, kỷ luật, qua đó bảo đảm cho Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên không trượt ra khỏi “đường ray” Hiến pháp và pháp luật.

Đảng không “đứng trên” nhân dân

Muốn hiểu được bản chất của một đảng cầm quyền, phải nhận thức rõ mục đích hoạt động của đảng đó là vì ai, mang lại lợi ích cho ai. Đảng Cộng sản Việt Nam, như Bác Hồ đã khẳng định “Ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Vì vậy, Điều 4 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã bổ sung: “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”.

Việc nhiều lần Đảng ta tiến hành tự chỉnh đốn, mà gần đây nhất là đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình của các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” bước đầu mang lại nhiều hiệu ứng tích cực, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Tại Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) vừa qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương công khai thừa nhận và thành thật nhận lỗi trước toàn Đảng, toàn dân về những yếu kém, tồn tại trong công tác xây dựng Đảng và về những suy thoái, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Điều đó đã thể hiện tinh thần cầu thị nghiêm túc của Đảng, đồng thời khẳng định ý chí quyết tâm đẩy lùi những khuyết điểm, yếu kém để Đảng không ngừng nâng cao sức chiến đấu, phẩm chất, trí tuệ, năng lực lãnh đạo, ngày càng ngang tầm với trọng trách được giao.

Đối với nhân dân Việt Nam, nói đến Đảng là nói đến tình cảm tự nhiên, thiêng liêng, là thể hiện niềm tin và tình yêu son sắt nhân dân dành cho Đảng. Có một sự thật mà hầu như mọi người Việt Nam ai cũng biết đó là: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời; 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược giành thắng lợi vẻ vang, hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc, cùng với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 26 năm đổi mới vừa là minh chứng thực tiễn sinh động, vừa là cơ sở khoa học thực tiễn để khẳng định về vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với dân tộc và nhân dân Việt Nam.

———-

(1), (2): Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980 và 1992), Nxb CTQG, HN,

1995, trang 76 và 137, 138

THIỆN VĂN
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Một 22, 2013, in Chính luận.