Không thể xuyên tạc về quyền của dân trong xây dựng Hiến pháp

Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”

QĐND – Với 100% số đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội khóa XIII vừa thông qua Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nghị quyết đã nhấn mạnh việc lấy ý kiến nhân dân nhằm mục đích phát huy quyền làm chủ, huy động trí tuệ, tâm huyết của nhân dân và tạo sự đồng thuận của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp để Hiến pháp thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Thế nhưng trên một số diễn đàn vẫn còn có những tiếng nói lạc lõng cho rằng “việc lấy ý kiến nhân dân chỉ là hình thức” và “Đảng Cộng sản Việt Nam đã độc đoán sửa đổi Hiến pháp”…

Tờ trình của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Sửa đổi Hiến pháp là công việc hệ trọng của quốc gia. Nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp. Mục đích của lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nhằm phát huy quyền làm chủ và tạo sự đồng thuận của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp để Hiến pháp thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân; Huy động được trí tuệ, tâm huyết của nhân dân tham gia tích cực vào xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với Hiến pháp và việc thi hành Hiến pháp.

Toàn cảnh Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XIII. Ảnh: internet.

Nội dung lấy ý kiến nhân dân là toàn bộ nội dung của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, bao gồm: Lời nói đầu; chế độ chính trị; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường; bảo vệ Tổ quốc; tổ chức bộ máy nhà nước; hiệu lực của Hiến pháp và quy trình sửa đổi Hiến pháp; kỹ thuật trình bày các quy định của Hiến pháp.

Việc lấy ý kiến nhân dân được thực hiện thông qua nhiều hình thức như góp ý trực tiếp hoặc bằng văn bản gửi đến các cơ quan, tổ chức; tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm; phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức phù hợp khác.

Theo kế hoạch ban đầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII, dự kiến thời gian lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là hai tháng (tháng 3 và tháng 4 năm 2013). Tuy nhiên, do mục đích, yêu cầu và nội dung dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này, để có đủ thời gian triển khai sâu rộng việc lấy ý kiến trong các tầng lớp nhân dân, bảo đảm để việc lấy ý kiến nhân dân thực sự chất lượng, hiệu quả, tránh hình thức, tại kỳ họp thứ 4 vừa qua, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã đề nghị Quốc hội và được Quốc hội nhất trí cao cho phép tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong thời gian 3 tháng, bắt đầu từ ngày 2 tháng 1 năm 2013 và kết thúc vào ngày 31 tháng 3 năm 2013.

Trước đó, tại Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) đã thảo luận, thống nhất cao về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, các định hướng lớn, phương châm và phương pháp tiến hành; xác định việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Thông báo của Hội nghị khẳng định: “Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là công việc hệ trọng cần được tiến hành chặt chẽ, khoa học, dưới sự lãnh đạo của Đảng; động viên sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân”.

Như vậy, cả Đảng Cộng sản Việt Nam và Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều đánh giá cao vai trò đặc biệt quan trọng của nhân dân trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Thực tế trong lịch sử lập hiến của nước ta, việc xây dựng, ban hành Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 và sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 (vào năm 2001) đều tiến hành tổ chức lấy ý kiến nhân dân. Các ý kiến tâm huyết của nhân dân đều được Ban soạn thảo tiếp thu, đưa vào dự thảo.

Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 được kế thừa kinh nghiệm xây dựng các bản Hiến pháp trước đây, trong đó có kinh nghiệm quan trọng nhất là phải phát huy đầy đủ và sâu sắc dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tờ trình của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình Quốc hội cho rằng: “Để việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp bảo đảm chất lượng, hiệu quả, thực sự là đợt sinh hoạt chính trị – pháp lý quan trọng, rộng lớn trong nhân dân và cả hệ thống chính trị, Ủy ban đề nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”.

Thực tế đã rõ ràng như vậy mà vẫn còn có ý kiến lạc lõng trên một số diễn đàn cho rằng, “việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 là độc quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm thay công việc của Quốc hội”…

Ai cũng biết rằng, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là một việc làm bình thường, đúng pháp luật, phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới của đất nước. Thực tiễn cho thấy, nước ta đã trải qua 4 lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và cả 4 lần đều thu được kết quả tốt đẹp góp phần đưa đất nước tiến lên theo đúng mục tiêu đặt ra là nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nghị quyết của Quốc hội về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Tổ chức lấy ý kiến nhân dân với các hình thức thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi để các tầng lớp nhân dân cả ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào việc xây dựng Hiến pháp. Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân phải được tiến hành dân chủ, khoa học, công khai; bảo đảm tiến độ, chất lượng, thiết thực và tiết kiệm. Ý kiến đóng góp của nhân dân phải được tập hợp, tổng hợp đầy đủ, chính xác; phải được nghiên cứu tiếp thu nghiêm túc để hoàn thiện, nâng cao chất lượng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đóng góp ý kiến; phản ánh trung thực, kịp thời ý kiến tham gia của nhân dân.

Việc sửa đổi bổ sung Hiến pháp là công việc nội bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nhân dân Việt Nam, Hiến pháp và các văn bản pháp luật của Việt Nam luôn tôn trọng luật pháp quốc tế, tôn trọng chủ quyền và biên giới quốc gia của các nước, tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ các nước, đồng thời góp phần xây dựng và bảo vệ nền hòa bình của khu vực và thế giới.

Nhân dân Việt Nam hiểu và tôn trọng những thành quả mà Đảng, Bác Hồ và toàn thể nhân dân đã giành được từ trong khổ đau lầm than và nô lệ. Chúng ta quyết không chấp nhận những kẻ cố tình quay lưng lại với con đường cách mạng Việt Nam, cố tình xuyên tạc, nói xấu và đi ngược lại lợi ích của dân tộc và của nhân dân Việt Nam trong tiến trình bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

Tại kỳ họp Quốc hội vừa qua, nhiều đại biểu Quốc hội đã đề nghị để việc lấy ý kiến nhân dân vào dự thảo Hiến pháp mới không bị lợi dụng, xuyên tạc, cần có quy định cấm về hành vi xuyên tạc, bôi xấu trong việc lấy ý kiến. Mọi ý kiến của nhân dân phải được tiếp thu tối đa, chỗ nào tiếp thu cần nói rõ, chỗ nào không tiếp thu cũng cần giải thích rõ để nhân dân hiểu.

ĐỖ PHÚ THỌ
qdnd.vn

Khi “quả chanh” Nguyễn Văn Thiệu kiệt nước

Vào ngày 12/1/1973, sau những đình hoãn do vụ “ném bom vào dịp Lễ Giáng sinh” gây ra, một điệp viên của CIA đã dựa vào những nguồn tin từ Hà Nội dự đoán rằng Mỹ và Hà Nội sẽ ký kết một hiệp định ngừng bắn vào ngày 20. Do bị Kissinger cấm không được phán tán thông tin, CIA tại Hà Nội đã thúc giục trụ sở chính phải nhanh chóng báo cáo thông tin này vì họ hiểu tầm quan trọng của ngày được nêu ra.

Hiệp định Paris và San Clemente

Cũng đã có dấu hiệu cho thấy ít nhất chính quyền Sài Gòn đã có lời gợi ý xa xôi về bản hiệp định. Bunker lo ngại về sự nhạy cảm của Kissinger, nên đã giục giã Polgar cảnh báo cơ quan đầu não CIA. Polgar lập tức làm theo với hy vọng ” ngăn chặn mọi sự nghi ngờ và tức giận” có thể xảy ra tại Nhà Trắng nếu thông tin bị rò rỉ ra từ phía Mỹ.

Ngày 16/1, Haig chuyển cho Thiệu một tối hậu thư nữa của Nixon, đe dọa sẽ tố cáo Thiệu là cản trở hòa bình nếu ông ta từ chối ký vào bản hiệp định. Thiệu tiếp tục giữ thái độ ngoan cố của mình, chỉ nói với Haig rằng ông ta sẽ trả lời vào ngày hôm sau.

15 phút sau khi Haig rời đi, Thiệu đến và đọc bức thư của Nixon cho quốc hội nghe. Cuộc thảo luận tiếp sau đó chỉ tập trung vào bàn các biện pháp thực thi, trên cơ sở chiến thuật “một mũi tên trúng nhiều đích” của Thiệu, nghĩa là việc ông ta thể hiện sự ngoan cố của mình là để nhằm bòn rút mọi thứ có thể từ Mỹ trước khi ông ta đặt bút ký vào bản hiệp định.

Những nguồn tin khác cũng cho CIA biết rằng ngày hôm đó Thiệu đã nhượng bộ trước những điều không thể tránh khỏi và sẽ đồng ý ký hiệp định. Haig nhẹ cả người và ông ta sẽ không phải lo lắng về những chiến thuật mà ông ta định sử dụng với Thiệu vào ngày 17.

Thiệu đã trao cho Haig một bức thư gửi Nixon đòi hỏi thêm sự thay đổi nhưng vấn đề đó giờ đã được quyết định. Thiệu chỉ còn mỗi việc là thông báo quyết định của mình cho chính phủ và quân đội của ông ta. Vào ngày 20/1, Thiệu triệu tập Hội đồng An ninh quốc gia. Phó Tổng thống Hương vừa khóc vừa mô tả lại phiên họp ảm đạm đó và tự coi mình là kẻ giơ đầu chịu báng.

Hương nói rằng ông ta so sánh Nam Việt Nam với một cỗ xe ngựa đang đứng trên một chiếc cầu đang sập, sẽ gặp nguy hiểm cho dù đi về bất cứ hướng nào và nói về việc ký vào hiệp định như một thứ đỡ tệ hại nhất trong số những thứ tệ hại. Sau khi để cho Phó tổng thống nổi tiếng về việc chống Cộng Hương cầm chịch, Thiệu tiếp tục để cho Hương công nhận cái thực tế mà họ không thể tránh khỏi.

Ngày 23/1, ám chỉ đến việc Mỹ đang gây sức ép đối với việc ký vào bản thỏa thuận, Thiệu nói trong một cuộc họp nội các rằng hiệp định Paris phản ánh một sự đồng thuận giữa Mỹ, Trung Quốc và Liên bang Xô Viết; sự chấp thuận của Nam Việt Nam là điều không thể tránh khỏi.

Nhưng ông ta tin rằng việc ông ta không chấp nhận thoả thuận hồi tháng 10/1972 đã giúp ngăn cản một kết quả bất lợi hơn; kết quả của đợt ném bom trong Lễ Giáng sinh, như Thiệu nói, là sẽ ngăn cản hoạt động quân đội miền Bắc ở miền Nam trong ít nhất là 3 tháng nữa.

Nhưng Thiệu không hề hiểu rằng ông ta đã thuận theo những áp lực mà Nhà Trắng đã áp đặt lên ông ta như thế nào. Haig đã nói với đại sứ Bunker sau lễ ký hiệp định rằng Thiệu không thể không chấp nhận hiệp định này được.

Tổng thống Nixon đã hứa sẽ đón tiếp Tổng thống Thiệu khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, và ông ta đã thực hiện lời hứa của mình khi ông mời Thiêụ tới thăm Nhà Trắng phía Tây ở San Clemente vào đầu tháng 4. Đại sứ Bunker và trưởng văn phòng CIA tại Sài Gòn đã có mặt trong đoàn của sứ quán. Ngày 31/3, Polgar đã tới sân bay sớm để đến San Clemente và ông ta gặp tướng Szuecs người Hungary.

Tướng Szuecs có mặt là bởi ông ta phải đón Tư lệnh quân đội của chính phủ cách mạng lâm thời. Khi họ chờ máy bay hạ cánh, Szuecs đã chỉ vào 2 sĩ quan Cộng sản dẫn một đội danh dự của quân đội miền Bắc từ Ủy ban quân đội liên hiệp Paris uỷ thác và hỏi Polgar: “Ngài có biết những người này không?”.

Polgar nói rằng, không biết và Szuecs đã giới thiệu Polgar với một chỉ huy người miền Bắc Việt Nam trẻ tuổi, Szuecs nói bằng tiếng Anh rằng Polgar là “một trong những nhân vật quan trọng nhất của sứ quán Mỹ, sau đại sứ Bunker”. Người chỉ huy Việt Nam này đáp lại một cách lịch sự: “Ngài có muốn duyệt đội ngũ không?” và Polgar đã nhận lời mời.

Ngay sau khi đến San Clemente, Bunker phàn nàn với Polgar rằng ông ta không được mời tới dự bữa tối duy nhất mà Nixon mời Thiệu. Ông ta nghĩ rằng Thiệu sẽ thấy điều này là khó hiểu. Polgar đương nhiên là đồng ý, và ông ta nói vấn đề này với Kissinger, người đã rất “tức giận” khi khám phá ra rằng người chiếm chiếc ghế cuối cùng của bữa tiệc là H.R.

Haldeman, Chánh văn phòng của Nixon. Haldeman đã từ chối đề nghị rút lui khỏi bữa tiệc của Kissinger và Ngoại trưởng đã đến gặp trực tiếp Tổng thống. Nixon cuối cùng đã quyết định để Bunker tham dự.

Những rắc rối không chỉ dừng lại ở giai thoại này. Kissinger rất thân thiện với Polgar và đã một lần mời ông cùng ăn sáng. Nhưng rút cục là nhà bếp do văn phòng Halderman điều hành đã không mang tới bất cứ thứ gì cho họ tại phòng của Kissinger ngày hôm đó. Họ không bàn gì nhiều về những việc đại sự nhưng ngay buổi chiều hôm đó, đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam vừa được bổ nhiệm Graham Martin đã gõ cửa phòng Polgar.

Ông ta đã nghe kể về bữa sáng, và theo như Polgar nhận thấy trong cách thức “bí ẩn và lôi cuốn” của Martin, thì Martin có vẻ lo lắng vì sợ rằng Polgar sẽ có thể bỏ qua ông ta mà bàn luận thẳng mọi việc với Kissinger. Nhưng Polgar đã đảm bảo với Martin rằng, là trưởng cơ quan CIA tại Sài Gòn, Polgar phải làm việc cho đại sứ và cho dù cuộc gặp đầu tiên giữa họ khá căng thẳng, họ đã có một mối quan hệ tốt đẹp ở Sài Gòn, sau khi Martin đến nhậm chức vào giữa mùa hè.

Polgar đã ngồi nghe khi Nixon hứa với Thiệu sẽ cung cấp 1 tỷ USD viện trợ quân sự và một tỷ nữa viện trợ kinh tế. Polgar cho rằng chính điều này đã giải thích tại sao Thiệu lại luôn tin rằng Nixon trung thành với chế độ Sài Gòn.

Thêm áp lực cho Thiệu

Sự thiết lập của một bộ máy thực thi lệnh ngừng bắn ở miền Nam không có nghĩa là tất cả các bên đều đã nhất trí với các biện pháp tiến hành. Kissinger và Lê Đức Thọ đã bắt đầu tái thương lượng một số điều khoản và Thiệu phản đối những lời lẽ trong dự thảo về phân định ranh giới giữa Sài Gòn và vùng lãnh thổ do phe Cộng sản kiểm soát.

Một bản thông cáo dự định sẽ được công bố ngày 7/6, và quyền đại sứ Charles Sheldon Whitehouse (Bunker đã rời nhiệm sở sau 6 năm làm việc một cách kiệt sức ở Sài Gòn) đã cố gắng để thuyết phục Thiệu nhất trí. Khi thấy việc thuyết phục Thiệu trở nên khó khăn, Polgar đã gặp tướng Quang để nhắc lại luận điệu quen thuộc rằng “sự ủng hộ của Mỹ đối với Nam Việt Nam quan trọng hơn nhiều bất cứ một chiến thắng về ngôn từ nào tại bàn đàm phán”.

Cả Quang và Thiệu đều không biết rằng Nixon sẽ có cuộc họp với lãnh đạo Quốc hội Mỹ ngày hôm đó và bởi thế nên ông ta rất cần sự chấp thuận của Thiệu. Polgar đã nói điều này với tướng Quang. Vì thế, những lời nói của Polgar đã khiến cho Thiệu quyết định triệu tập Whitehouse đến gặp ông ta vào chiều hôm đó.

Nhưng quyền đại sứ Whitehouse cũng không thể lay chuyển được Thiệu. Theo quan điểm của Polgar, sự ngoan cố của Thiệu bắt nguồn từ 3 lý do. Ở mức độ chiến thuật, Polgar cho rằng Thiệu không tin cả động cơ của Mỹ và Bắc Việt Nam trong việc tái đàm phán về các điều khoản thi hành, vì ông ta nghĩ rằng những đàm phán về lãnh thổ từ hồi tháng 1 vốn có lợi cho chính quyền Sài Gòn khiến những cuộc đàm phán nữa là không cần thiết.

Hơn nữa, Polgar còn nhìn nhận nguyên nhân của việc này là do thái độ thù địch cá nhân của Thiệu với Kissinger và nỗi tức giận trong khi Hà Nội tham gia đàm phán trực tiếp, còn miền Nam Việt Nam thì bị giáng cấp xuống vị trí khách hàng.

Sự đình trệ giữa Mỹ và Thiệu vẫn tiếp tục. Ngày 10/6, Nhà Trắng ra lệnh cho Polgar nhắc lại với tướng Quang về những thiệt hại với chính quyền Sài Gòn nếu Quốc hội đột ngột cắt khoản hỗ trợ tài chính để đáp lại thái độ ngoan cố của chính quyền Sài Gòn. Một quan chức CIA gặp tướng Quang tại nhà thờ Sài Gòn và đã thiết lập cuộc gặp.

Quang chấp nhận lập luận của Polgar nhưng Thiệu vẫn tiếp tục đòi hỏi “những thay đổi không đáng kể” mà ông ta cho rằng là thiết yếu trong việc tránh được một sự “hợp pháp hóa việc phân chia miền Nam Việt Nam”. Tuy nhiên, Polgar nghĩ rằng Thiệu sẽ đối ý: “Cảm nhận của tôi là chỉ cầm thêm một lá thư nữa của Nixon là sẽ đạt được mục đích”.

Song những cố vấn của Thiệu, bao gồm cả Quang, ủng hộ một cách hoàn toàn và mạnh mẽ thái độ không khoan nhượng của Thiệu khi đưa vào bản thông cáo một điều khoản của hiệp định liên quan tới tổng tuyển cử. CIA đã báo cáo về Washington vấn đề này và Nixon lập tức hạ lệnh cho đại sứ William Sullivan ở Paris phải nhắc tới điểm này với Lê Đức Thọ.

Bức thông điệp của Nixon gửi Thiệu công bố nhượng bộ này đến vào lúc 6h sáng ngày 13/6 và Polgar đã gặp Quang 1 giờ sau đó để trao đổi. Quang đã đoán trước một cuộc tranh cãi trong Hội đồng An ninh Quốc gia của Thiệu, tại đó ông ta và Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên thúc giục ký chấp thuận, còn những nhân vật dân sự diều hâu như Hoàng Đức Nhã sẽ phản đối.

Polgar cho biết họ đã đi tới gần cuối con đường và giục Quang phải thuyết phục được Tổng thống chấp thuận vào buổi trưa. Quang và Viên đã thắng thế và họ đã tránh được sự đổ vỡ trong quan hệ với Mỹ khi tất cả các bên đều ký vào nghị định thư ngày hôm đó ở Paris.

Polgar nói với cơ quan đầu não CIA rằng CIA tại Sài Gòn đã đóng một vai trò quan trọng trong việc đạt được thoả thuận với chính quyền Nam Việt Nam và CIA tại Mỹ đã phúc đáp, nhấn mạnh rằng họ đã làm rất tốt công việc, đã cho thấy “sự phối hợp của việc thu thập thông tin tình báo và các hoạt động chính trị”.

Co kéo điểm mấu chốt

Mùa hè năm 1973, 6 tháng sau khi Hiệp định Paris được ký kết, trưởng cơ quan CIA tại Sài Gòn Polgar cho rằng lực lượng của Thiệu “đã tiến bộ và củng cố kiểm soát ở phần lớn những vùng dân cư ở Nam Việt Nam”.

Khi đưa ra nhận xét này, rõ ràng là Polgar đã không đánh giá đúng tầm quan trọng của những thông tin tình báo thu thập được từ những tháng trước đó cho hay phe Việt Cộng đã quyết định chuyển trọng tâm của mình từ hoạt động quân sự sang đấu tranh chính trị.

Vài năm sau đó, ông ta cho rằng chiến dịch bình định hóa nông thôn đã thành công khi mà chính phủ Sài Gòn kiểm soát được tất cả các thủ phủ quận, huyện. Và ngay cả căn bệnh ung thư của chính quyền Sài Gòn là tham nhũng thì ông cũng cho rằng căn bệnh đó rất phổ biến ở khắp Đông Nam Á.

Tuy nhiên phó của Polgar là Conrad LaGueux không tự tin như sếp của mình. Ông ta cho rằng sự đầu tư ồ ạt của Mỹ vào nền kinh tế nông thôn đã không khiến cho người dân trung thành hơn với chế độ Sài Gòn. Theo quan điểm của ông ta “Việt Cộng đã có được sự ủng hộ sâu sắc và rộng rãi”.

Một trong những quan chức của Polgar thuộc cơ quan đánh giá và chỉ dẫn (IAB) nhớ lại rằng cơ quan này còn đưa ra những đánh giá bi quan hơn cả của LaGueux. Robert Vandaveer đã điều hành văn phòng CIA ở Huế trong vòng 2 năm trước khi đến Sài Gòn vào giữa năm 1973 để tham gia vào IAB.

Giải thích cho lý do điều chuyển công việc này, Polgar nói với Vandaveer rằng ông ta cần có sự tham gia của CIA để những đánh giá của cơ quan này được cân bằng hơn. Vandaveer hiểu rằng Polgar muốn chính phủ Mỹ cam kết nhiều hơn với chính quyền Nam Việt Nam và ít dằn vặt hơn vì những điểm yếu của nó. Polgar không cấm báo cáo về trung ương tin xấu nhưng ông ta đã áp đặt một tiêu chuẩn kiểm dịch chặt chẽ và đòi hỏi những báo cáo kiểu như vậy phải được “đặt vào viễn cảnh xa hơn”.

Trên thực tế, điều này có nghĩa những báo cáo về nạn tham nhũng của chính phủ, những nhận định cá nhân theo hướng xấu, thường hiếm khi được công bố. Và mỗi khi một làng nào đó rơi vào sự kiểm soát của phe Cộng sản sau hiệp định Paris, bản báo cáo đó phải chỉ rõ rằng một số lượng lớn hơn các làng vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Sài Gòn.

Nhưng yêu cầu về “viễn cảnh” này lại không áp dụng cho những tin tốt, Vandaveer cho rằng khi Thiếu tướng Timmes thay mặt CIA tiến hành những chuyến hành vi thường kỳ về tình hình quân đội Nam Việt Nam, ông ta thường đưa ra những báo cáo lạc quan về mặt bề nổi và Polgar chấp nhận điều đó.

Ngược lại, những nhà phân tích tại CIA lại đưa ra dự báo về sự thâm nhập ngày một sâu của phe Cộng sản và rất nhiều sĩ quan CIA hoạt động ở hiện trường hoàn toàn hoài nghi về sự tiến bộ của tiến trình chính trị ở Nam Việt Nam.

Sự tô điểm chính trị

Cho dù quan điểm chính trị của tầng lớp nông dân vào năm 1973 như thế nào, sự cam kết của Mỹ để Nguyễn Văn Thiệu tiếp tục quản lý Nam Việt Nam đã đặt dấu chấm hết cuộc đấu tranh nhằm phương Tây hóa tiến trình chính trị quốc gia ở Nam Việt Nam.

Như những phần trước đã đề cập, vào cuối năm 1971, trưởng văn phòng CIA ở Sài Gòn lúc đó là Ted Shackley đã đoán trước khả năng về một cuộc đấu tranh chính trị cam go khi hiệp định ngừng bắn có hiệu lực. Nhưng vào tháng 6/1973, khi cuộc bầu cử thượng viện đến gần, CIA và Bộ Ngoại giao Mỹ chỉ quan tâm đến hình ảnh của Sài Gòn ở Mỹ hơn là sự sống còn của thể chế này.

Cơ quan đầu não CIA ở Mỹ và ở Sài Gòn cố gắng liên hệ với các đảng phái trong chính phủ và cả đảng phái đối lập nhằm tạo cho cuộc bầu cử “dáng vẻ của một cuộc diễn tập đa đảng phải càng nhiều càng tốt”.

Polgar hứa sẽ cố gắng nhưng cũng nói rõ rằng ông ta không thể làm gì nhiều vì chính quyền Nam Việt Nam vẫn tức giận vì Mỹ đã gây áp lực buộc họ ký vào hiệp định Paris, khiến cho họ “không còn tin rằng Mỹ sẽ là đúng như những cam kết của mình”, có nghĩa tiếng nói của Mỹ sẽ còn rất ít trọng lượng với họ.

Ngày 18/6, CIA tại Sài Gòn báo cáo rằng những áp lực của họ lên các nhân vật chính trị để họ lập ra đảng đối lập đã thất bại bởi những nhân vật này hiểu rõ được thất bại hiển hiện một khi tranh cử.

Trong những tuần ở khoảng thời gian giữa lúc Ellsworth rời nhiệm sở và Graham Martin chuẩn bị nhậm chức, Polgar phải giải quyết những bản báo cáo về mối bất hòa giữa Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm. Lo ngại rằng những diễn biến như vậy có thể gây ra bất ổn, đại sứ lâm thời đã khuyến khích Polgar đến gặp trực tiếp Khiêm để hỏi về chuyện này.

Thủ tướng sẵn sàng thừa nhận những căng thẳng gần đây giữa họ do ông rút lui khỏi vị trí đứng đầu danh sách ứng cử viên thượng viện cho đảng Dân chủ của Thiệu và bởi vì quan điểm chống đối của ông với những cố vấn diều hâu như Hoàng Đức Nhã, một người mà ông ta cho là “hung hăng, kiêu ngạo và có sức thuyết phục”.

Khiêm, một người thường tự cho mình là không biết sợ gì cả và có những hành động theo nguyên tắc mà Polgar không hề tin tưởng, đã nói rằng ông ta và tướng Cao Văn Viên chống lại những nỗ lực của Nhà Trắng trong việc thúc đẩy một chế độ “chuyên chế, hoàn toàn tập trung” theo mô hình của Ngô Đình Diệm.

Tháng 7/1973, vào giữa giai đoạn mà Polgar gọi là khoảng lặng trước cơn bão, Graham Martin đến nhận nhiệm vụ là đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Ông này đã từng làm đại sứ ở Thái Lan và Italy. Khi họ đến Sài Gòn, Martin và vợ đã mất một đứa con trai trong cuộc chiến ở Việt Nam. Mặc dù có phong cách hoàn toàn khác với Bunker, người được Polgar miêu tả là hòa nhã, thân thiện và tử tế, Martin dường như không đưa ra thay đổi gì đáng kể đối với phái đoàn trong phương cách tiếp cận những vấn đề cơ bản.

Trong giai đoạn đầu, quan hệ của Polgar với đại sứ mới ở mức trung bình, nhưng chỉ sau vài tháng, Polgar “rõ ràng đã trở thành người thân tín nhất của đại sứ”. Quan hệ của họ tốt đẹp mặc dù Polgar nhiệt tình ủng hộ một số nhà báo Mỹ mà Martin không thích. Sau đó, Polgar còn đảm nhận thêm nhiệm vụ giúp Martin tìm một người phó mới cho ông ta và cùng ông ta đánh giá lại những quan chức cấp cao của sứ quán.

Đại sứ mới tận dụng văn phòng CIA như một kênh thông tin và gây ảnh hưởng một cách tối đa, giống như Bunker đã từng làm. Như phó trưởng văn phòng CIA tại Sài Gòn LaGueux nhận xét, lý do là bởi Martin rất tin tưởng ở sự cẩn trọng của văn phòng CIA.

Một lý do khác là bởi CIA có những mối liên hệ mật thiệt với người của Thiệu như Khiêm, Quang, những người sẵn sàng thúc đẩy những quan điểm và chính sách của Mỹ với Thiệu. Thêm vào đó, còn có những yếu tố khác khiến CIA trở nên quan trọng.

Phó đại sứ mới, Wolfgang Lehmann, không được phong hàm đại sứ như người tiền nhiệm của ông ta là đại sứ Whitehouse, và điều này đã khiến ông ta không được tổng thống Thiệu coi là một nhân vật đối thoại chính thức. Trong khi đó, văn phòng CIA lại có thể duy trì mối liên lạc không chính thức với Khiêm trong lúc Ngoại trưởng Trần Văn Lắm phản đối mối liên lạc thường xuyên của sứ quán với Thủ tướng mà không thông qua bộ của ông ta.

Đáp ứng đòi hỏi của sứ quán và Washington, CIA bắt đầu sử dụng những quan hệ của họ, cả với những người trong quốc hội, để phục vụ mục tiêu tô điểm chính trị. Conrad LaGueux nhớ lại rằng mục tiêu của họ thời gian đó tập trung xung quanh việc chính quyền đối xử với những tù nhân chính trị đã gây ra sự bất bình trong công luận Mỹ.

LaGeuex không hiểu Thiệu được cái gì khi bắt giam những người chống đối không phải là Cộng sản. Ông ta đã thuyết phục chính quyền Sài Gòn công bố thông tin về những tù nhân và đảm bảo rằng họ được đối xử tử tế. Khi vụ xìcăngđan Watergate xảy ra, chính quyền Nixon không thể đảm bảo được sự ủng hộ Thiệu như trước. Vấn đề càng leo thang vào tháng 9/1973, Martin thì thuyết phục Thiệu và Polgar thì thuyết phục Khiêm để họ quyết định thả một nhân vật chống đối không phải là Cộng sản. Con bài quen thuộc của Mỹ lại là triển vọng về viện trợ nếu chính quyền Sài Gòn không tuân thủ.

Polgar đã gặp Hoàng Đức Nhã về trường hợp những người chống đối này và nhắc nhở ông ta rằng khoản viện trợ cho cảnh sát đang có nguy cơ không còn nữa. Kết cục, ngày 18/9, chính quyền đã hứa sẽ thả 3 thành viên nghiệp đoàn mà không kết tội họ.

Khi mùa hè chuyển sang thu vào năm 1973, người Mỹ đã thắng thế vị khách hàng bướng bỉnh của họ khi ép được Thiệu phải ký vào hiệp định ngừng bắn và nghị định thư thực thi hồi tháng 6. Nhưng rút cục, chính quyền của Nixon đã không thể giữ lời hứa của mình là ủng hộ Thiệu tới cùng. Kết cục của những con rối chính trị như thế nào thì ai cũng đã rõ.

“…Thiệu đã thực thi chính sách ‘một mũi tên trúng nhiều đích’, nghĩa là ông ta thể hiện sự ngoan cố của mình là để nhằm bòn rút mọi thứ có thể từ Mỹ trước khi ông ta đặt bút ký vào bản hiệp định…”.

Bắc Bình (lược dịch) – CSTC số 8
cand.com.vn

40 năm ký kết Hiệp định hòa bình Pa-ri (27-1-1973/27-1-2013)

QĐND – LTS: Giô-dép A.Am-tơ là một luật gia ở Đen-vơ, bang Cô-lô-ra-đô, Mỹ, người đã có một thời gian dài quan tâm đến công tác đối ngoại và hòa bình quốc tế. Am-tơ đã thành lập tổ chức “Quỹ tổ chức nghiên cứu hòa bình” và nhiều năm làm giám đốc tổ chức này.

Một gia đình người Việt Nam ở phố Khâm Thiên để tang người thân bị B-52 Mỹ giết hại. Ảnh: Corbis

Năm 1965, theo yêu cầu của Tổng thống Giôn-xơn, Am-tơ làm đồng chủ tịch các cuộc hội nghị Nhà Trắng nghiên cứu về sự cộng tác quốc tế để “tìm kiếm, thăm dò, suy xét và thảo luận mọi con đường có thể có để đưa đến hòa bình”. Theo Am-tơ, ông vô cùng thất vọng vì Tổng thống Mỹ không cho phép hội nghị thảo luận chính sách của Nhà Trắng đối với Việt Nam.

Qua cuốn “Lời phán quyết về Việt Nam”, Am-tơ cố gắng giải thích sự việc, không đưa những ý kiến cá nhân, mà chỉ nêu những kết luận qua tài liệu nghiên cứu tham khảo trong những năm làm việc tại Nhà Trắng.

Cuốn sách “Lời phán quyết về Việt Nam” ngoài lời mở đầu, gồm 4 phần lớn: Sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam; Cuộc chiến tranh của Giôn-xơn; Cuộc chiến tranh của Ních-xơn; Thảm họa Việt Nam. Cuối cùng là phần kết ngắn: Lời phán quyết của một công dân Mỹ (cũng chính là tác giả).

Nhân dịp 40 năm ký kết Hiệp định hòa bình Pa-ri (27-1-1973/27-1-2013), Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần xin trích dịch một phần trong cuốn sách trên đây, nhằm cung cấp thêm một góc nhìn về cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam nói chung và khuôn khổ Hiệp định hòa bình Pa-ri nói riêng.

Kỳ I: Kế hoạch “giành chiến thắng”

Vì Ri-chát Ních-xơn công bố “hòa bình đã ở tầm tay” nên ông ta theo đuổi kế hoạch giành thắng lợi hoàn toàn bằng một cuộc tiến công không quân dã man nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh chống Bắc Việt Nam, cố gắng buộc Hà Nội đầu hàng. Ngày 20-11-1972, sau khi cuộc bầu cử đã xong xuôi, Kít-xinh-giơ đồng ý gặp lại ông Lê Đức Thọ. Trong lúc đó, Mỹ tập trung cung cấp cho Sài Gòn mọi vũ khí có thể. Mỹ gửi cho tướng Thiệu một số lượng vũ khí lớn, gồm xe tăng, máy bay lên thẳng, máy bay ném bom và máy bay chiến đấu. Việc cung cấp vũ khí mà chẳng bao lâu rơi vào tay quân Bắc Việt Nam, tốn của Mỹ nhiều tỷ USD và làm yếu các căn cứ khác của chúng ta trên thế giới. Trong khi đó, quân đội Sài Gòn lại nổi lên “với lực lượng không quân lớn thứ tư trên thế giới, với hơn 2000 máy bay, tuy rằng, phi công của họ chưa được kiểm tra để bay một số các máy bay tinh vi hơn”.

Chính quyền Ních-xơn cố gò ép toàn bộ chương trình viện trợ quân sự của cả năm tới cho quân đội Sài Gòn chỉ trong một vài tuần lễ, trước khi hiệp định hòa bình có thể đạt được.

Kế hoạch In-han-xơ Plớt là một hoạt động trọng yếu cho chiến lược Ních-xơn và Kít-xinh-giơ nhằm chấm dứt chiến tranh theo các điều kiện của Mỹ. Họ tin tưởng rằng, sức ép như vậy sẽ củng cố lập trường thương lượng của họ và buộc Hà Nội khuất phục theo các điều kiện của họ. Theo quan điểm của Ních-xơn, In-han-xơ Plớt phục vụ hai mục đích. Chương trình đó ủng hộ chế độ Sài Gòn và làm cho Thiệu dễ bảo hơn khi có hiệp định hòa bình. Tổng thống cử tướng He-gơ đến Sài Gòn để giám sát việc giao hàng. He-gơ cảnh cáo Thiệu là sẽ có thể đến lúc Mỹ buộc phải rời khỏi Việt Nam và Thiệu phải hợp tác với Nhà Trắng. He-gơ nói rõ cho nhà lãnh đạo chính quyền Sài Gòn là phải tập trung vào việc làm thế nào để sống sót sau khi Mỹ rời Việt Nam.

Kế hoạch In-han-xơ Plớt còn có một mục tiêu nữa là làm cho Thiệu thấy rằng, Mỹ có ý định đứng sau lưng hắn ta. Để nhấn mạnh điểm đó, Tổng thống Ních-xơn ra lệnh các cuộc đánh phá mới bằng không quân chống Hà Nội ngay vào lúc In-han-xơ Plớt bắt đầu. Hà Nội tố cáo Ních-xơn “củng cố phe lũ Nguyễn Văn Thiệu để chuẩn bị những cuộc xâm lược mới”. Tuy nhiên, ông Lê Đức Thọ vẫn trở lại Pa-ri dự một cuộc họp nữa với Kít-xinh-giơ. Tại cuộc họp đó, ông Lê Đức Thọ ra tuyên bố: “Nếu Mỹ kéo dài các cuộc thương lượng trì hoãn việc ký hiệp định và tiếp tục chiến tranh thì người Việt Nam không có cách nào khác hơn là quyết tâm tiếp tục cuộc chiến đấu của mình cho đến khi đạt được độc lập, tự do và hòa bình thực sự”.

Mỹ trả lời bằng việc đưa ra những yêu sách mới làm cho nhiều vấn đề đã được thỏa thuận hồi tháng 10-1972 bị lật lại. Bây giờ, Kít-xinh-giơ đòi rằng khu phi quân sự phải được thừa nhận như một biên giới tạm thời. Hà Nội phải rút một số quân khỏi miền Nam và thừa nhận thực sự chủ quyền của chính quyền Sài Gòn. Kít-xinh-giơ cũng phác họa một số phản đối của Thiệu. Khi Oa-sinh-tơn đã ra những yêu sách mới hơn nữa vào ngày 25-11-1972, ông Lê Đức Thọ yêu cầu ngừng họp. Hai bên tỏ ra bế tắc một lần nữa.

Khi rời Pa-ri, Kít-xinh-giơ đe dọa là cuộc chiến tranh sẽ tăng lên trừ phi Hà Nội nhượng bộ. Trong một bức điện cho Kít-xinh-giơ, Ních-xơn viết: “Nếu họ ngạc nhiên vì tổng thống có thể có hành động mạnh mẽ như ông ta đã làm trước cuộc họp cấp cao Mát-xcơ-va và trước cuộc bầu cử thì bây giờ họ sẽ thấy, với cuộc bầu cử bỏ lại sau lưng chúng ta, tổng thống sẽ có bất kỳ hành động nào mà ông ta cho là cần thiết để bảo vệ lợi ích của Mỹ”.

Rồi Ních-xơn cam kết bí mật với Thiệu là nếu Hà Nội, dù bằng cách nào vi phạm hiệp định đã được dự định thì Mỹ sẽ đến cứu Sài Gòn. Ních-xơn viết: “Tôi xin bảo đảm với ông rằng, nếu Hà Nội không tôn trọng các điều khoản của hiệp định, tôi sẽ có hành động trả đũa nhanh chóng và nghiêm khắc”. Tổng thống bảo đảm với giới nội bộ của ông ta là ông ta có ý định giữ lời cam kết bí mật đó. Ông ta cũng hướng dẫn Lầu Năm Góc hoàn thành việc vạch ra một kế hoạch đặc biệt để thực hiện cam kết đó, gọi là kế hoạch “các thay đổi về tổ chức ở Đông Nam Á”. Kế hoạch đó phác họa việc Mỹ có thể tiếp tục dính líu ở Việt Nam như thế nào: Sau khi đạt được một số giải pháp, bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn sẽ được thay bằng một cơ quan của tùy viên quốc phòng Mỹ, viết tắt là DAO, với nhiều chức năng tương tự.

DAO sẽ phối hợp các hoạt động quân sự “trong nước” điều khiển sự “giám sát của không quân Mỹ” phối hợp các biện pháp an ninh cho quân đội Sài Gòn và thành lập một mạng lưới đưa tin tức tình báo ở miền Nam Việt Nam và các “lãnh thổ kế cận”. Kế hoạch này đặt ra thực tế là dù cho hiệp định có thể nói gì về việc Mỹ rút khỏi Việt Nam, giới quân sự Mỹ đã có ý định ở lại và chuẩn bị tình huống cho một cuộc chiến tranh không quân mới, dùng B-52 đậu ở Thái Lan trên cơ sở báo động 24 tiếng một ngày.

Kít-xinh-giơ và ông Lê Đức Thọ nối lại các cuộc thảo luận của họ vào tuần đầu của tháng 12-1972 ở Pa-ri. Cả hai đại diện xem xét lại các vấn đề một lần nữa nhưng không bên nào thay đổi lập trường. Kít-xinh-giơ giữ vững những thay đổi lớn mà cả Ních-xơn lẫn Thiệu muốn có trong hiệp định tháng 10 và đe dọa Hà Nội với những cuộc tiến công ném bom hơn nữa nếu Hà Nội không chịu nhượng bộ. Về phần mình, ông Lê Đức Thọ hy vọng buộc được Kít-xinh-giơ thương lượng thực tế hơn.

Phố Khâm Thiên, Hà Nội, bị B-52 của không quân Mỹ tàn phá trong cuộc ném bom Lễ Giáng sinh 1972. Ảnh: Corbis

Cuộc thảo luận bị cắt đứt lần nữa vào ngày 13-12-1972. Kít-xinh-giơ về Oa-sinh-tơn và gặp Ních-xơn ngày hôm sau. Họ quyết định ra một tối hậu thư cho Hà Nội: “Nhượng bộ theo yêu sách của Mỹ trong vòng ba ngày hoặc phải đương đầu với một chiến dịch ném bom”. Hành động nhanh chóng, Kít-xinh-giơ giải thích tình hình cho Đô đốc Mu-rơ của Bộ Tham mưu liên quân và hỏi có bao nhiêu B-52 sẵn có cho một cuộc tấn công Hà Nội. Câu trả lời rõ ràng làm vừa lòng Nhà Trắng. Ngay tức khắc, Ních-xơn ra lệnh các cuộc tiến công không quân lớn nhất của cuộc chiến tranh vào Hà Nội và Hải Phòng.

Để biện bạch cho việc ném bom, Kít-xinh-giơ nói với dân Mỹ rằng, Hà Nội có lỗi và đã phá hoại các cuộc đàm phán tại Pa-ri. Ông ta nói rằng, Hà Nội đã đưa ra “hết vấn đề phù phiếm này đến vấn đề phù phiếm khác” như là một phần của “trò chơi đố chữ” lớn và mỗi lần “một giải pháp sắp đạt được thì lại bị đẩy ra khỏi tầm với của chúng tôi”. Kít-xinh-giơ chỉ làm theo các chỉ thị của Tổng thống Ních-xơn: “Chúng ta phải đóng một vai trò mà chúng ta có thể đóng được làm sao để tỏ ra là Hà Nội chứ không phải chúng ta chịu trách nhiệm về vệc phá vỡ hội nghị. Và rồi chúng ta phải thương lượng ở mức càng thấp càng tốt, hành động càng mạnh mẽ càng hay, mà không gây sự huyên náo về thực tế là chúng ta đẩy mạnh ném bom và do đó nối lại chiến tranh…”.

Trong 12 ngày tiếp theo, từ ngày 18-12 đến 29-12-1972, Mỹ ném bom Hà Nội và Hải Phòng với sự tàn bạo hơn bao giờ hết trong lịch sử cuộc chiến tranh Việt Nam, thả hơn 35.000 tấn bom vào bên trong hai trung tâm đô thị lớn ở Bắc Việt Nam. Lầu Năm Góc đã dùng 200 B-52, các “pháo đài bay” này bay theo từng nhóm 3 chiếc, mang bom 500 và 700 bảng Anh, mà khi thả xuống, đúng là nhấn chìm những khu vực hình chữ nhật, một dặm bề dài, nửa dặm bề ngang của thành phố. Giới quân sự cho rằng, các trung tâm dân cư cũng như các mục tiêu quân sự sẽ bị quét sạch. Và trong phần lớn các trường hợp, khu vực mục tiêu chỉ còn là những đống gạch vụn. Gạch vụn là mục tiêu thừa nhận của Lầu Năm Góc nhằm “làm tê liệt đời sống hằng ngày của Hà Nội và Hải Phòng và phá hủy khả năng của Hà Nội ủng hộ các lực lượng ở Nam Việt Nam”.

Các cuộc ném bom Lễ Giáng sinh năm 1972 đã tàn phá và gây đau khổ lớn lao. Chỉ riêng ở Hà Nội, hơn 2000 người dân thường chết. Toàn bộ các vùng lân cận đã bị xóa sạch. Các phương tiện vận tải bị hoàn toàn phá hủy. Những nhà thương quan trọng bị tàn phá. Nhà thương Bạch Mai, cơ sở y tế hiện đại nhất của Hà Nội, với hơn 900 giường, đã bị biến thành đống đổ nát. Các nhà báo nước ngoài mô tả những hố bom 50 bộ Anh và những gốc cây trốc rễ trong chính trung tâm Hà Nội.

NGUYỄN HOÀNG biên soạn
qdnd.vn

Có một “Chiến dịch Hồ Chí Minh” trong lòng Pa-ri (Kỳ cuối)

Sau khi ký Hiệp định Pa-ri

Mặt trận ngoại giao “đợi tin” chiến trường

QĐND – Trên mặt trận ngoại giao, cơ quan của ta ở Pháp cũng nhận thức rằng, Pa-ri là một trong những đài quan sát quan trọng nhất của ta trên thế giới để thu thập tin tức, nghiên cứu các vấn đề phối hợp với chiến trường nên cần phải làm việc khẩn trương và chính xác. Chúng tôi đã huy động hầu hết lực lượng nghiên cứu, tiếp xúc của hai cơ quan Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để tổng hợp và đưa ra nhận định cho thấy những hạn chế của Mỹ trong khả năng trở lại Việt Nam bằng quân sự. Trong đó có một số việc chỉ riêng ở vị trí của tôi mới làm được.

Năm thành viên chính thức của đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Hiệp định Pa-ri (từ trái sang phải): Nguyễn Minh Vỹ, Xuân Thủy, Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Cơ Thạch, Võ Văn Sung. Ảnh tư liệu

Ví dụ, sau khi ta giải phóng toàn bộ tỉnh Phước Long, tôi có gặp và hỏi ông Nguyễn Duy Quang ý kiến về việc ta giải phóng Phước Long. Ông Nguyễn Duy Quang nguyên là Đổng lý văn phòng của Bảo Đại. Ông này đã tham gia kháng chiến chống Pháp đến năm 1953, là Giám đốc Sở Tư pháp Liên khu 4 của ta; năm 1953 trở về vùng tạm chiếm và được chính quyền Sài Gòn sử dụng và chọn làm Đại sứ ở Pa-ri. Ông Quang tỏ thái độ khá lo lắng và nói đại ý không rõ tình hình. Tôi nói: “Chỗ anh em với nhau, tôi xin nói thẳng, năm 1953 anh đã không tiếp tục đi với kháng chiến thì bây giờ anh nên cân nhắc và tôi có thể đảm bảo với anh rằng, nếu anh quay trở về thì vẫn được hoan nghênh”. Ông Quang xin thêm thời gian suy nghĩ. Sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột, tôi lại chủ động gặp ông Nguyễn Duy Quang. Ông Quang cho tôi biết đại ý là không thấy Mỹ động tĩnh gì. Tôi nhắc lại việc “trở lại với kháng chiến”, ông ta vẫn trả lời lần lữa. Chỉ có một lần tôi hỏi quan hệ giữa Mỹ và Thiệu như thế nào, ông ta trả lời cho tôi hiểu rằng quan hệ đó không tốt.

Cùng với việc thăm dò đối phương, các hoạt động đề cao vị thế quốc tế của Chính phủ Cách mạng lâm thời cũng được đẩy mạnh. Cao điểm là từ cuối tháng 1 đến giữa tháng 2-1975: Đấu tranh cho sự tham gia của Chính phủ Cách mạng lâm thời ở Hội nghị quốc tế về Luật Nhân đạo tại Giơ-ne-vơ. Đồng thời, tiếp tục tiến hành vận động thêm một số nước công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời.

Tôi có một số kỷ niệm đáng nhớ giúp cho ta thấy được tình cảm của chính phủ các nước đối với Chính phủ Cách mạng lâm thời nhiều khi không như biểu hiện về mặt ngoại giao chính thức. Ví dụ như việc tôi xin gặp Đại sứ Van-đơ Clao-xơ, Trưởng phái đoàn của Hà Lan tại Giơ-ne-vơ (về sau ông này làm Bộ trưởng Ngoại giao Hà Lan) nhưng Văn phòng của phái đoàn Hà Lan trả lời đại sứ không tiếp vì cách đó hai ngày đã từng gặp một người xưng là đại diện của ta. “Chúng tôi chưa có ai gặp các ông cả. Ông Võ Văn Sung xin gặp là Đại sứ của Hà Nội tại Pa-ri kiêm nhiệm Đại sứ tại Hà Lan”- ta trả lời. Chưa đầy 15 phút sau, phái đoàn Hà Lan gọi lại cho biết đại sứ có thể tiếp tôi lúc nào tôi muốn. Khi tôi bước vào phòng khách, Đại sứ Van-đơ Clao-xơ vồn vã ra tận cửa đón và nói: “Xin bạn đồng nghiệp miễn chấp vì tôi cứ tưởng người xin gặp tôi là đại sứ của chính quyền bù nhìn ở Sài Gòn”. Tôi nói: “Lời nói của bạn đồng nghiệp làm cho tôi hiểu được tình cảm thật sự của bạn đối với chúng tôi. Thế lập trường của Sài Gòn thế nào mà Hà Lan không thể ủng hộ được?”. Đại sứ Hà Lan trả lời: “Họ đề nghị tôi chống việc Chính phủ Cách mạng lâm thời tham gia Hội nghị”. Tôi hỏi: “Thế Hà Lan sẽ ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời chứ?”. Trả lời: “Đó là ý định của chúng tôi”. Sự việc này khiến tôi thấy rằng giữa hành động ngoại giao chính thức và tình cảm thực sự có lúc có khoảng cách và không nên vì thế mà xem nhẹ tình cảm thật của bạn bè đối với chính nghĩa của ta.

“Sắp thống nhất rồi anh Sung ơi!”

Hai năm sau ngày ký kết Hiệp định Pa-ri, chúng tôi dự kiến có một hoạt động với ý đồ phục vụ hai mục đích như các việc đã kể trên. Kinh nghiệm vận động Việt kiều hàng chục năm trước ở Pháp và Tây Âu cho thấy, Tết là dịp có thể huy động được số đông Việt kiều và bạn bè quốc tế. Vì vậy, chúng tôi quyết định tiến hành hai đợt hoạt động: Đợt 1 nặng về chính trị làm vào ngày 26-1-1975 nhân dịp hai năm ký kết Hiệp định Pa-ri; đợt 2 tổ chức một đêm Tết lớn với nòng cốt là Hội Liên hiệp Việt kiều gọi là “Tết hòa giải hòa hợp Ất Mão” bao gồm cả Việt kiều ở Pháp và các nước lân cận. Mọi việc diễn ra suôn sẻ đúng với ý định của ta. Sau lễ Tết “hòa giải hòa hợp”, tôi để ý thấy nhiều người xin gặp tôi và có thái độ gần như “chúng ta là cùng một phía”.

Ngày 13-4-1975, tôi được triệu tập sang Mát-xcơ-va gấp và ngày 14-4-1975 tôi được nối “đường dây” mà anh Lê Đức Thọ nói khi lên máy bay rời Pa-ri. Bất ngờ đầu dây bên kia là anh Lê Thanh Nghị. Anh Lê Thanh Nghị đã giao cho tôi một số việc về kinh tế và khoa học kỹ thuật, sau đó nói với tôi về tình hình trong nước và báo riêng “anh Sáu Thọ nhắn anh là các việc cứ xúc tiến như đã bàn; có nhiều khả năng xong trước mùa mưa này”. Trước khi chia tay, anh Nghị nói với tôi một câu đầy xúc động khác với tác phong thường ngày của anh: “Sắp thống nhất rồi anh Sung ơi!”. Tôi thấy trong người như được thêm một sức mạnh mới, phấn chấn hẳn lên. Trên máy bay trở về Pa-ri tôi liên tục nghĩ về công việc của những ngày sắp tới…

BÍCH TRANG
qdnd.vn

(Theo lời kể của nhà ngoại giao lão thành Võ Văn Sung – người duy nhất còn sống trong năm thành viên của đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Hiệp định Pa-ri).

Có một “Chiến dịch Hồ Chí Minh” trong lòng Pa-ri (Kỳ 1)

Có một “Chiến dịch Hồ Chí Minh” trong lòng Pa-ri

Sau khi ký Hiệp định Pa-ri

QĐND – Tham gia cuộc đấu tranh ngoại giao của ta tại Hội nghị Pa-ri, sau đó là giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định, nhà ngoại giao Võ Văn Sung là một trong số ít người có may mắn chứng kiến toàn bộ cuộc đụng đầu lịch sử giữa nền ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ và một nền ngoại giao lão luyện của Mỹ ngay tại Pa-ri.

40 năm sau, chúng tôi có dịp trò chuyện với ông tại nhà riêng. Qua hồi ức của ông, một “Chiến dịch Hồ Chí Minh” thầm lặng và không tiếng súng đã diễn ra gay go và ác liệt ngay trong lòng trung tâm văn minh lớn của phương Tây.

Nhà ngoại giao Võ Văn Sung. Ảnh: Song Thanh

Pa-ri, trọng điểm của mặt trận ngoại giao

Tháng 11-1970, tôi sang Pháp, bên trong là tham gia nhóm làm việc của anh Lê Đức Thọ đàm phán “bí mật” với Kít-xinh-giơ, bên ngoài tôi làm Tổng đại diện của chính phủ ta. Tôi nhớ trong 12 ngày đêm Mỹ ném bom B-52 xuống Hà Nội tháng 12-1972, tại Pa-ri ngày nào Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp Mô-rít-xơ Su-man và tôi cũng gặp gỡ, hoặc gọi điện thoại cho nhau cả vào đêm khuya để thông tin tình hình và trao đổi ý kiến vì phía Pháp cần có thông tin để có thái độ. Ngược lại, ta cũng mong muốn phía Pháp góp phần lên án cuộc ném bom đó. Ngày 31-12-1972, nghe tôi thông báo thắng lợi của ta bắn rơi 81 máy bay Mỹ trong đó có 34 máy bay B-52, ngoại trưởng Pháp đã thốt lên “Thật kỳ diệu” và sau đó đưa tôi ra thềm trụ sở Bộ Ngoại giao. Tại đây, đã có hàng chục nhà báo Pháp và quốc tế chờ sẵn để nghe tôi nói về sự kỳ diệu ấy.

Thực tiễn cho thấy, Pa-ri đúng là môi trường đàm phán, đấu tranh dư luận và tranh thủ quốc tế tốt cho ta. Trong các năm 1968-1975, ta lần đầu tiên đã đưa ngoại giao thành một mặt trận, thực sự hình thành cuộc đấu tranh: Chính trị, quân sự, ngoại giao chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Các cuộc đàm phán: Hai bên Việt Nam dân chủ cộng hòa và Mỹ (1968); bốn bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Mỹ – Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam – chính quyền Sài Gòn (1969-1973); đàm phán “bí mật” Lê Đức Thọ – Kít-xinh-giơ (1970-1973); hiệp thương hai bên miền Nam Việt Nam (3-1973 đến cuối năm 1974) đều diễn ra tại Pa-ri.

Liên tục trong 5 năm, thường xuyên có các cuộc mít tinh, biểu tình, hội họp ủng hộ hòa bình ở Việt Nam và lập trường đàm phán của ta. Riêng Đảng Cộng sản Pháp đã chuyển toàn bộ trường Đảng Trung ương đi nơi khác để lấy địa điểm cho đoàn đàm phán Việt Nam sử dụng. Báo chí Pháp cũng luôn bám sát, phản ánh đều đặn và hầu hết đều bình luận có lợi cho việc giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam cũng như bênh vực lập trường có tình có lý của ta.

Đòn cân não sau Hiệp định

Khoảng đầu tháng 5-1973, phía Mỹ đã gặp tôi chuyển đề nghị cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để tổ chức cuộc gặp tại Pa-ri giữa anh Lê Đức Thọ với Kít-xinh-giơ. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trả lời đồng ý với mục đích buộc Mỹ phải hành động thực sự thi hành đầy đủ các điều khoản của Hiệp định Pa-ri. Đợt gặp này bắt đầu từ 17-5 đến 13-6-1973. Anh Lê Đức Thọ bác bỏ mọi điểm xin sửa đổi của phía Mỹ và nêu điều kiện, phải ký như đã thỏa thuận nếu không thì kết thúc hội đàm. Sài Gòn tiếp tục đánh thì ta phải đánh trả lại. Thái độ miễn cưỡng của Mỹ và sự ngoan cố của Nguyễn Văn Thiệu cho ta thấy rõ khả năng thi hành Hiệp định Pa-ri ngày càng ít.

Ngày 25-11-1974, anh Lê Đức Thọ sang Pa-ri công tác đã gặp và yêu cầu tôi chuẩn bị để kịp thời xử lý những hoạt động ở Pháp trong tình huống sự chỉ đạo cụ thể của trong nước sang Pa-ri không thể kịp thời. Trước khi lên máy bay, anh Thọ còn cho tôi biết, sẽ có “đường dây” báo riêng cho tôi biết “thời điểm” để tôi hiệp đồng tốt với “nhà”. Từ đây, tôi cho rằng vấn đề hàng đầu có ý nghĩa cốt lõi khi quyết định dùng quân sự là việc đánh giá đúng ý đồ và khả năng Mỹ có đưa quân trở lại miền Nam để cứu chính quyền Sài Gòn không…

BÍCH TRANG
qdnd.vn

(Theo lời kể của nhà ngoại giao lão thành Võ Văn Sung- người duy nhất còn sống trong 5 thành viên của đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Hiệp định Pa-ri).

(Còn nữa)

Ngày “họa mi” rời ngục tối

QĐND – Chuyến bay cuối cùng chở tù chính trị từ Cần Thơ về Lộc Ninh theo Hiệp định Pa-ri vừa hạ cánh, hàng trăm người lập tức ùa tới. Ai nấy đều ngạc nhiên khi thấy viên trung úy cai ngục lẽo đẽo bước theo một cô gái. Khi mọi người xúm đến ôm chầm cô gái vào lòng, viên sĩ quan ngụy nước mắt lưng tròng, đứng lặng nhìn. Khoảnh khắc ấy đã đi vào tác phẩm của các văn nghệ sĩ có mặt lúc bấy giờ. Cô gái ấy là Trần Thu Hồng, vừa tròn 17 tuổi, nhưng đã phải ở tù hơn 4 năm…

“Họa mi” Trần Thu Hồng sau ngày ra tù.

“Họa mi” trong “chuồng cọp”

Cô gái của 40 năm trước, giờ đã là một phụ nữ U.60, đã có cháu nội, nhưng chị vẫn rất đẹp. Những năm tháng chịu cực hình, đòn roi trong “chuồng cọp”, tù ngục và chuỗi thời gian vất vả nơi thương trường dường như không làm nhạt phai nét xuân sắc của chị. Là một phụ nữ thầm lặng và bình dị nên cái tên của chị còn xa lạ với truyền thông. Cũng bởi vì: “Từ lúc đi làm cách mạng cho đến những năm tháng bị tù đày, mình đều được các chị, các anh, những đồng chí đi trước dìu dắt, giúp đỡ. Công lao của các anh, các chị lớn lắm chứ mình thì cũng bình thường thôi…”. Ấy là chị khiêm nhường nói thế, nhưng khi tiếp xúc với các đồng đội của chị và được xem các tài liệu, tác phẩm văn học viết về chị ngày ấy, tôi mới nhận ra, chị là một con người đặc biệt. Điều đặc biệt nhất, chị là nữ tù chính trị trẻ tuổi nhất. 13 tuổi đã bị địch bắt giam vào “chuồng cọp”. Và những câu chuyện cảm động trong lao tù cũng bắt đầu từ cái “nhất” ấy.

Sinh ra ở vùng quê Điện Bàn, Quảng Nam, lên 10 tuổi chị đã được dìu dắt, tham gia làm giao liên cho các cơ sở cách mạng trong vùng. Năm 1968, chị sa vào tay giặc trong một lần đi trinh sát, tìm đường cho đoàn cán bộ vượt sông. Bị địch bắt, chị đã mưu trí hét toáng lên, báo động cho đoàn cán bộ của ta rút êm vào rừng. Chị bị tống giam vào nhà tù Non Nước ở Đà Nẵng, biệt giam vào “chuồng cọp” ở nhà lao Phú Tài (Quy Nhơn). Sau đó, chị nằm trong nhóm 10 nữ tù bị địch liệt vào hàng “cứng đầu” bắt giam vào hầm cầm cố. Năm 1972, gần 1000 nữ tù chính trị, trong đó có nhóm 10 nữ tù “cứng đầu” bị đưa vào nhà tù Cần Thơ.

Ở cái tuổi thiếu niên, mọi đường đi, nước bước của Hồng đều được các chị đi trước hướng dẫn, dìu dắt. Cô bé dù phải chịu cực hình, tra tấn tàn khốc, vẫn không mất đi nét duyên nhí nhảnh trời cho. Hồng càng lớn càng xinh đẹp, là “con chim họa mi” trong tù. Tiếng hát líu lo và sự hồn nhiên, nhí nhảnh của tuổi mới lớn ở Hồng đã làm bừng lên tinh thần lạc quan, ý chí đấu tranh của chị em tù. “Tại sao lại có thể bắt giam một cô bé xinh đẹp, trong trẻo, hồn nhiên như vậy?”. Viên sĩ quan cai ngục tên Thọ ở nhà tù Phú Tài nhiều lần thốt lên như vậy. Vẻ đẹp thánh thiện của nữ tù chính trị tuổi trăng tròn đã làm mềm lòng một số sĩ quan, binh lính cai tù. Nhiều đối tượng trong số đó được ta cảm hóa, trở thành “tay trong”, tích cực giúp đỡ tù nhân. Ngày Hồng bị chuyển vào nhà tù Cần Thơ, trung úy Thọ, không hiểu vì lý do gì, một thời gian ngắn sau đó cũng có mặt trong đám cai tù ở đây. “Có một số cai tù luôn tỏ ý giúp đỡ chúng tôi. Các chị thường nói vui với tôi, có lẽ thấy mày xinh đẹp nên chúng nó nương tay. Nhưng tôi thì nghĩ, có thể có những trường hợp người của ta cài cắm vào…” – chị Hồng kể.

Bà Thu Hồng và cháu nội hiện nay.

Một trong những nhân vật “bí ẩn” ấy là trung sĩ, y tá trưởng tên Sỹ ở nhà tù Cần Thơ. “Lúc bị bắt, trên người tôi có một đôi khuyên tai, một chiếc nhẫn và một dây chuyền vàng. Tôi đã giấu được. Đến khi vào nhà tù Cần Thơ, tôi nhờ Sỹ bán số nữ trang này để lấy tiền mua sắm đồ dùng, vải vóc phục vụ chị em trong tù. Sỹ giúp đỡ chị em tôi rất tận tình mà không hề đòi hỏi bất cứ điều gì…” – chị Hồng nhớ lại.

Ký ức ngày về

Hôm đó tầm 5 giờ chiều, Sỹ đưa Hồng từ bệnh viện về lại trại giam, khi đi ngang qua sân bay Trà Nóc, bất ngờ Hồng nghe tiếng hét: “Hiệp định Pa-ri được ký rồi!”. Cô bé như quên hết tất cả, nhảy phốc lên chạy một mạch về buồng giam, vừa chạy vừa hét toáng lên: “Cách mạng thắng lợi rồi! Hiệp định Pa-ri được ký rồi! Chúng ta được tự do rồi…”. Thế là suốt đêm hôm đó, nhà tù như mở hội. Các buồng giam vang lên tiếng hát của tù nhân: Đảng đã cho ta một mùa xuân… Nhờ chiếc ra-đi-ô mà Sỹ mua giúp, buồng giam 10 nữ tù chính trị “cứng đầu” vừa nghe đài vừa hát vang những ca khúc ca ngợi Đảng, Bác Hồ…

Trưa hôm sau, tù nhân được ăn một bữa rất ngon. Thức ăn có đủ món thịt, cá, rau xanh, cơm trắng. Trước khi thực hiện thủ tục trao trả tù binh, trung úy Thọ cho gọi Hồng lên phòng điều hành. Anh ta nói:

– Tôi đã có thiện cảm với em từ ngày em còn ở nhà tù Phú Tài. Em xinh đẹp, lại rất trẻ, phải chịu cảnh tù đày… Bây giờ được trả tự do rồi, chi bằng em ở lại đây, tôi sẽ lo cho em một cuộc sống sung sướng, giàu sang, hạnh phúc.

Hồng đáp:

– Cảm ơn lòng tốt của ông. Nếu thực tình ông có thiện tâm như vậy thì hãy làm một việc gì đó có ích cho dân, cho nước. Tôi làm sao có hạnh phúc khi các đồng chí của tôi suốt ngày đêm bị người của các ông tra tấn, đánh đập. Làm sao có hạnh phúc nếu người chồng của mình làm tay sai cho bọn Mỹ, phản bội lại Tổ quốc, nhân dân. Chị em tù chúng tôi sống chết có nhau. Các chị đi đâu, tôi đi đó.

Một cuộc hội ngộ của các nữ tù chính trị ở Quảng Nam.

Trung úy Thọ cố thuyết phục, níu kéo nhưng Hồng nhất định không nghe. Trong lúc đó, 9 nữ tù chính trị chưa thấy Hồng trở lại cũng dứt khoát không chịu lên máy bay. Có mấy chị xông thẳng vào phòng điều hành đòi trung úy Thọ phải đưa Hồng ra máy bay gấp. Chuyến bay sắp cất cánh nhưng bên ta phát hiện còn thiếu 10 người trong danh sách, lo sợ bị bọn chúng thủ tiêu nên kiên quyết đòi phía bên kia phải bàn giao đủ. Tình thế ấy buộc trung úy Thọ phải để cho Hồng trở về. Hồng và các đồng chí của mình vừa bước lên cầu thang máy bay thì trung úy Thọ cũng vội vã bước theo. Đó là chuyến bay cuối cùng từ Cần Thơ về Lộc Ninh thực hiện việc trao trả tù binh theo Hiệp định Pa-ri.

Cuộc đón tiếp tù nhân tại sân bay Lộc Ninh diễn ra hết sức cảm động. Hồng nhận được thật nhiều tình cảm, sự động viên, mến mộ của các bác, các chú, các cô. Chứng kiến ngày về của Hồng trong vòng tay yêu thương của đồng bào, đồng chí, trung úy Thọ đứng im một góc, nước mắt chảy dài. Anh ta lặng lẽ rời Lộc Ninh theo máy bay trở lại Cần Thơ…

Trong đoàn người đón tù chính trị trở về có nhiều văn nghệ sĩ. Hình ảnh của nữ tù chính trị tuổi 13 đã trở thành nhân vật trong nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật. Trong bài thơ “Em về chiến thắng” tặng nữ tù chính trị tuổi 13 Trần Thu Hồng của nhà thơ Trần Đình Vân đăng trên Báo Giải Phóng sau đó có đoạn: Em gái cười như ánh mặt trời/ Màu da xanh bỗng chuyển hồng tươi/ Em ơi Trái Đất này vui lắm/ Em đó niềm vui của mọi người… Thằng ngụy khoanh tay đứng lặng nhìn/ Cả rừng người đến đón mừng em/ Nghĩ chi nó bước chân không vững/ Nắng hắt bên lề bóng đổ nghiêng… Nhưng “bài thơ” tuyệt vời nhất dành tặng chị trong ngày trở về chính là tình yêu của nhà thơ Đỗ Nam Cao ở Ban Văn nghệ giải phóng. Cảm phục tinh thần cách mạng của người con gái xứ Quảng, nhà thơ Đỗ Nam Cao sau cuộc đón chị ở sân bay đã đem lòng yêu mến. Năm 1977, họ trở thành vợ chồng.

Giờ đây, chị Hồng sinh sống cùng hai con (một trai, một gái) ở quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh. Hôm đến dự ngày giỗ đầu của nhà thơ Đỗ Nam Cao, tôi được gặp nhiều bạn tù ngày xưa của chị. Trở về cuộc sống đời thường sau chiến tranh, ngoài chị Hồng, tất cả các chị trong nhóm 10 nữ tù chính trị ngày ấy đều đã qua thời con gái. Nay, mỗi người một hoàn cảnh. Có người đã mất. Có người vẫn phải còng lưng làm đủ nghề mưu sinh khi cõi ngày đã cạn và ước mơ về một mái ấm gia đình mãi mãi không thành hiện thực. Trong câu chuyện với tôi, các chị nhắc đến những kỷ niệm ở chốn lao tù. Chìm trong muôn vàn tội ác và sự tàn khốc của kẻ thù, vẫn le lói những gam màu nhân ái. Trung úy Thọ, trung sĩ Sỹ, trung sĩ Tấn, trung sĩ Trường… là những con người như vậy. Không biết bây giờ họ ở đâu? Nếu có một cuộc hội ngộ, biết đâu lại gợi ra thật nhiều điều chưa bao giờ nói…

Bài: PHAN TÙNG SƠN – Ảnh: HỒNG THU
qdnd.vn

Hà Nội tặng thành phố Choisy le Roi bức tranh gốm Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Pa–ri

QĐND – Ngày 27-1, các nghệ sĩ của Công ty Nghệ thuật Tân Hà Nội đã hoàn thành bức tranh gốm Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Pa-ri tặng thành phố Choisy le Roi (Pháp).

Họa sĩ Nguyễn Thu Thủy (trái) bên bức tranh gốm Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris.

Bức tranh gốm là quà tặng của TP Hà Nội, do họa sĩ Nguyễn Thu Thủy thiết kế và cùng cộng sự thể hiện. Các bức ảnh lịch sử về cuộc đàm phán Hiệp định Pa -ri được họa sĩ Thu Thủy in trên gốm, lưu giữ những hình ảnh lịch sử về Bác Hồ, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, toàn cảnh ngày ký kết hiệp định… Những bức ảnh lịch sử này được sắp đặt trên nền hai dải lụa mềm uốn lượn tượng trưng cho sông Hồng của Việt Nam và sông Seine của Pháp. Bức tranh sẽ được đặt trong phòng họp lớn của Tòa thị chính thành phố Choisy le Roi và dự kiến sẽ được khánh thành vào ngày 20-3 tới.

VƯƠNG HÀ
qdnd.vn

Những chuyện chưa kể bên lề Hội nghị Pa-ri

QĐND Online – Bên lề đàm phán ở Hội nghị Pa-ri 40 năm trước có những câu chuyện, tình tiết ít người được biết. Xin chia sẻ những mẩu chuyện thú vị do ông Lưu Văn Lợi, nguyên Thư ký của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại Hội nghị Pa-ri kể lại.

Nhiệt tình biếu… gà

Các nhà ngoại giao của ta tham gia đàm phán ở Pa-ri đã nhận được những sự quan tâm giản dị nhưng rất chân thành, tình cảm của bà con Việt kiều. Có cặp vợ chồng, vợ người Việt, chồng là người Pháp trước đó từng đi lính sang Việt Nam. Cả hai vợ chồng đều rất yêu Việt Nam, nhớ Việt Nam lắm nhưng không có điều kiện để về nước. Biết có đoàn đàm phán Việt Nam đang ở Pa-ri, vậy là hằng tuần, khá đều đặn, ông chồng tự lái xe chở 50 con gà tới biếu đoàn đàm phán VNDCCH đang ở trường Đảng Maurice Thorez ở Choisy Le Roi. Ông tới nhiều lần đến mức ông bảo vệ người Pháp đã quen mặt và những lần sau thấy xe chở gà của ông tới là ra mở cổng ngay, không cần phải xin phép. Vợ chồng họ làm việc này trong hai năm liền, tới mức đoàn miền Bắc mặc dù rất cảm động nhưng cũng thấy ái ngại và phải nói cám ơn, nếu không họ còn tiếp tục biếu gà.

“Tôi không cười thì khóc à”

Báo chí ở Pa-ri hồi ấy săm soi nhất cử nhất động của hai đoàn ta và Mỹ rất ghê, nhất là trong những cuộc đàm phán riêng giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ. Họp trong phòng mà có phóng viên còn thuê nhà bên cạnh, dỡ cả mái ngói để trèo lên rồi chĩa máy ảnh sang. Hai ông cố vấn họp xong đi ra ngoài cửa, có bắt tay không, có cười không, mặt lạnh hay cười…đều bị chụp lại rồi đưa lên báo. Có lần họp căng thẳng, quyết liệt, kết quả chưa ngã ngũ mà chẳng hiểu sao báo chí lại đồng loạt đăng tin nghe chừng đàm phán có tiến triển. Thì ra họ chụp được cảnh đồng chí Lê Đức Thọ đang cười, dẫu chưa biết ông cười vì cái gì, họp có kết qủa không nhưng đã vội tung tin lên báo theo chiều hướng tích cực. Ở Hà Nội theo dõi tin tức thấy vậy gọi sang hỏi tình hình thế nào, sao đồng chí Thọ lại cười! Lúc ấy, đồng chí Lê Đức Thọ mới lộ ra rằng: “Tôi không cười thì khóc à, vì Kít-xinh-giơ bắt tay tôi chặt quá!”.

Cánh nhà báo “bé cái nhầm”

Ở Pa-ri, đoàn ta nhận được sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí thuộc Đảng Cộng sản Pháp. Vào kỳ nghỉ hằng năm, một số đồng chí tình nguyện tham gia phục vụ hậu cần các đoàn đàm phán của ta. Một số người còn mang theo cả ô tô riêng tới phục vụ việc đi lại của đoàn. Có lần họp quan trọng với đoàn Mỹ ở địa điểm do ta chọn, vì không muốn bị cánh báo chí làm phiền, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Trưởng đoàn Xuân Thủy đã lên xe của một đồng chí Pháp đi theo lối cổng sau, chạy thẳng tới chỗ họp. Trong khi đó, một xe khác đi lối cổng chính đằng trước hòng đánh lạc hướng cánh báo chí đang tập trung chờ bám theo. Là xe xịn nên khi kéo kính lên và đóng cửa xe thì khó nhìn được bên trong. Ngoài cổng chính vẫn có mấy ông bảo vệ mở cửa, bảo vệ đứng gác bồng súng chào như bình thường. Thế nên các nhà báo đã bị nhầm là xe chở đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Xuân Thủy nên vội vã phóng mô tô đuổi theo. Nhưng đi một lúc, ngó nghiêng mãi thì các tay săn tin, săn ảnh phát hiện không phải hai ông trên xe nên vội vàng quay lại. Lúc đó, thì xe hai chở hai đồng chí đã đi lâu rồi nên địa điểm lần họp đó được giữ kín.

Tình báo tồi

Trên bàn đàm phán ở Hội nghị Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, có giai đoạn Mỹ đòi ta không được đưa thêm quân miền Bắc vào miền Nam. Mỹ còn đưa ra các bằng chứng để cáo buộc ta về việc này. Có lần họp, đoàn Mỹ đưa bằng chứng là mấy bức ảnh màu chụp từ vệ tinh, trong đó chụp bộ đội của ta đang ở trong rừng mà Mỹ cho là đang trên đường hành quân vào Nam. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ rất nhanh, phản ứng trước tiên bằng tiếng cười to, chắc khỏe, có ý “khinh khi” sự bịa đặt của Mỹ. Rồi đồng chí nói, tình báo của các ông tồi lắm. Lúc chúng tôi không đưa quân nữa thì các ông lại chụp ảnh này. Tôi nói với các ông chứ rừng Việt Nam chỗ nào chả giống chỗ nào. Các ông ra Bắc chụp quân mà đội mũ cối, sao vàng, đeo lon thế này là bình thường. Nhưng lúc chúng tôi đưa đại pháo và cả xe tăng vào Sài Gòn thì tình báo các ông lại chẳng biết tí gì cả. Cho nên các ông thua là phải. Tấm ảnh Mỹ đưa ra không hề chính xác, vì khi dàn trận, quân ta không đeo lon, đeo sao như thế. Sau đó, ta họp báo cũng nêu tình tiết này nhằm cho thế giới biết âm mưu và thủ đoạn của Mỹ.

Ông “nghễnh ngãng” ở Hội nghị Pa-ri

Trưởng đoàn Xuân Thủy nổi tiếng là người hay lái vào các vấn đề đàm phán khi gặp đoàn Mỹ một cách khéo léo. Suốt thời gian diễn ra hội nghị hai bên giữa đoàn VNDCCH và đoàn Mỹ (từ tháng 5 đến tháng 11-1968), ta chỉ nhắc đi nhắc lại yêu cầu Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc trước khi bàn sang các vấn đề khác. Trong khi Mỹ muốn bàn đồng thời hai vấn đề quân sự và chính trị trên nguyên tắc “có đi có lại”. Suốt mấy tháng trời, trong các cuộc họp, ta chỉ nêu độc vấn đề như trên, còn Mỹ nhất định không chịu. Thế nên báo chí gọi đây là “cuộc nói chuyện giữa những người điếc”. Song rốt cuộc, do các diễn biến thay đổi trên chiến trường và sức ép mạnh mẽ của dư luận, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã phải tuyên bố chấm dứt ném bom hoàn toàn và vô điều kiện miền Bắc Việt Nam. Sau đó, trong một buổi nói chuyện khi kết thúc hội nghị hai bên giữa trưởng đoàn Xuân Thủy và trưởng đoàn Mỹ Ha-ri-man, ông Ha-ri-man tâm sự với ông Xuân Thủy rằng: “Tôi già trên 80 tuổi rồi, nên tai hơi khó nghe”. Đồng chí Xuân Thủy bèn nói ngay: “Bây giờ tôi mới biết ông nghễnh ngãng. Thảo nào chỉ có một câu là “Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc” thôi mà tôi nói suốt gần 6 tháng ông mới nghe ra”.

MỸ HẠNH-ANH THƯ
qdnd.vn

Mùa xuân nhớ Bác

Kính tặng đồng chí Lê Đức Thọ, tác giả bài thơ “Lẽ sống” và đồng chí Hồ Thiện Ngôn, tác giả bài thơ “Đọc thơ anh”.

Hình nền

Mùa xuân về nhớ Bác khôn nguôi
Tiếng pháo giao thừa nhớ ngày xuân Bác còn chúc Tết

Vần thơ thân thiết
Ấm áp lòng người
Bác đã đi xa rồi
Để lại chúng con bao nỗi nhớ
Người cha đã đi xa.

Các anh ơi, Mùa xuân về đọc thơ xuân các anh trên báo Đảng
Lòng càng nhớ Bác nhiều hơn
Làm sao có thể quên
Mỗi lần gặp Bác
Bác bắt nhịp bài ca đoàn kết
Người thường nhắc nhở:
Yêu nước, thương dân
Dẫu thân mình có phải hy sinh
Cũng chỉ vì trường xuân cho đất Việt.

Mùa xuân về đọc thơ xuân các anh
Tuổi trẻ chúng tôi thấy lòng mình day dứt
Day dứt vì mình chưa làm được
Những điều hằng ước mơ
Những điều chúng tôi thề
Dưới cờ Đoàn trong giờ kết nạp,
Tuổi trẻ chúng tôi tha thiết
Được Đảng chăm lo
Được cống hiến cho quê hương nhiều nhất

Nhưng tuổi trẻ chúng tôi
Không ít người đang lỡ thì, mai một.

Theo năm tháng cuộc đời
Ngoảnh lại nhìn, mình chưa làm được bao nhiêu
Bởi một lẽ chịu hẹp hòi, ích kỷ
Thanh niên chúng tôi thường nghĩ:
Bỏ công gieo cấy, ai quên gặt mùa màng

Mỗi vụ gieo trồng
Có phải đâu là lép cả?

Tuổi trẻ chúng tôi vẫn tự hào
Những trang sử vẻ vang dân tộc
Chúng tôi được học
Được thử thách nhiều trong chiến tranh

Chúng tôi nghĩ: Nguyễn Huệ – Quang Trung
Lứa tuổi hai mươi lập nên nhiều chiến công hiển hách.
Lẽ nào tuổi trẻ hôm nay thua thiệt
Có học hành, lại phải sống cầu an
Phải thu mình, xin hai chữ “bình yên”
Bởi lẽ đấu tranh – tránh đâu cho được?

Đồng chí không bằng đồng tiền
Bằng lòng vẫn hơn bằng cấp
Có ai thấu chăng
Và ai phải sửa?
Mỗi xuân về con càng thêm nhớ Bác

Lòng vẫn thầm mơ ước
Bác Hồ được sống đến hôm nay
Làm nắng mặt trời xua tan hết mây
Trừ những thói đời làm dân oán trách

Có mắt giả mù, có tai giả điếc
Thích nghe nịnh hót, ghét bỏ lời trung
Trấn áp đấu tranh, dập vùi khốn khổ

Cùng chí hướng sao bầy mưu chia rẽ?
Tham quyền cố vị
Sợ trẻ hơn già

Quên mất lời người xưa:
“Con hơn cha là nhà có phúc”
Thời buổi này,
Không thiếu người xông pha thuở trước
Nay say sưa trong cảnh giàu sang
Thoái hóa, bê tha khi dân nước gian nan?

Mùa xuân đất nước
Nhớ mãi Bác Hồ
Ta vẫn hằng mong lý tưởng của Người

Cho đất nước khải hoàn, mùa xuân mãi mãi.

Phạm Thị Xuân Khải – Xuân Bính Dần

Theo nguồn Báo Tiền Phong 
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Hai Tết với Bác Hồ

Bà Lê Tâm là một cán bộ hoạt động Công đoàn chuyên nghiệp. Suốt cuộc đời tham gia cách mạng, bà đã vinh dự 2 lần được đến chúc Tết và ăn Tết cùng với Bác Hồ. Kỷ niệm về hai sự kiện này đã ghi sâu trong tâm khảm của bà. Khi chạm tới niềm sâu thẳm đó, bà rưng rưng tâm sự:

Tết Độc lập đầu tiên năm 1946, tôi công tác ở Hội Công nhân cứu quốc, trụ sở tại 51 Hàng Bồ (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) được cơ quan cử tham gia Đoàn đại diện cho các đoàn thể đi chúc Tết Bác Hồ và ông Vĩnh Thụy.

Đoàn đến 51 Trần Hưng Đạo – nơi ở của ông Vĩnh Thụy. Ông ta mặc bộ comlê vải đũi, đầu chải bóng loáng ra tiếp. Chị Hải đại diện cho Đoàn cầm hoa tặng, ông Vĩnh Thụy cảm ơn nhận hoa và tỏ ra xúc động lắm. Sau đó, Đoàn về Nhà khách Chính phủ chúc tết Bác. Các đồng chí Văn phòng bảo Đoàn chờ tại phòng khách. Bác mặc bộ đồ kaki màu vàng đã bạc, giày vải, nhanh nhẹn đi ra phòng khách tươi cười chào mọi người.

2 tet
Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng cán bộ – nhân viên
Văn phòng Phủ chủ tịch – Tết 1963. Ảnh: Tư liệu

Nhìn Bác gầy, đôi mắt trũng sâu nhưng ánh mắt vẫn sáng, ai cũng xúc động và thương Bác quá. Chúng tôi kính tặng Bác bó hoa layơn trắng rồi vây quanh Bác như đàn con cháu tíu tít bên người cha, người ông trong ngày Tết cổ truyền. Bác vui lắm cảm ơn cả Đoàn. Bác chúc Tết mọi người rồi căn dặn, chúng ta vừa giành chính quyền, dân còn khổ, các cô các chú phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Ai nấy đều thắc mắc, ở thành phố lấy đâu ra đất để tăng gia. Bác nói: “Phải tận dụng mọi chỗ nếu tận dụng được… phải chống mù chữ… Lần sau đến chúc Tết Bác, chỉ cần báo cáo cho Bác biết trồng được bao nhiêu rau, giúp được bao nhiêu người biết chữ”. Rồi Bác hỏi thăm và gửi lời chúc Tết gia đình, thăm hỏi bà con. Khi về cơ quan, tôi đã đi vận động nữ công nhân trồng rau ở bãi Phúc Tân, Phúc Xá, vận động nhau học chữ. Công việc tăng gia và học chữ quốc ngữ được mọi người thực hiện tốt cho đến khi Hà Nội cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm gian khổ.

Đầu năm 1952, đồng chí Trần Danh Tuyên cho phép 2 đại biểu đến ăn Tết ở Trung ương. Đại diện cho nam giới là đồng chí Trần Bảo, còn tôi đại diện cho phụ nữ. Hai anh em, sáng 30 Tết khăn gói lên đường từ cơ quan Tổng Liên đoàn (Sơn Dương- Tuyên Quang) đến trưa tới đèo De thì mở cơm nắm ra ăn, chiều đến chiến khu gặp anh Hoàng Quốc Việt – Thường vụ Trung ương Đảng phụ trách dân vận trực tiếp phụ trách công vận.

Anh Việt đưa đến thăm anh Thận (đồng chí Trường Chinh), anh Thận mời ở lại ăn Tết với vợ anh vừa ở khu Ba lên. Buổi chiều, chúng tôi trở về chỗ anh Hoàng Quốc Việt. Thời gian này chị Thục Chinh chuẩn bị tổ chức đám cưới với anh Nguyễn Lương Bằng; nhưng có việc đột xuất ở biên giới, anh Bằng đi công tác ở đó nên hoãn đám cưới lại. Chị Thục Chinh đang ở chỗ Bác. Các anh cho phép tôi lên cùng chị Thục Chinh ăn Tết với Bác. Vừa tới nơi, Bác quan tâm hỏi:“ Cháu có mệt không?”. Tôi phấn khởi quá trả lời: “Thưa Bác, cháu không thấy mệt ạ!”.

Tối 30 Tết, Bác ngồi đọc tài liệu. Tài liệu rất nhiều, nhiều nhất là thư của công nhân, nông dân, bộ đội, thiếu nhi gửi Bác. Bác bảo tôi đọc những bức thư đó cho Bác nghe, chỗ nào lưu ý Bác bảo dừng lại, Bác đánh dấu để dễ tìm khi cần đọc lại. Khuya Bác bảo tôi đi ngủ, còn Bác vẫn chong đèn đọc tiếp. Bác ở nhà sàn, còn chúng tôi ở nhà ngang, đêm ấy chúng tôi không ngủ được vì thấy Bác vẫn thỉnh thoảng ho nên lo cho sức khỏe của Bác. Bảo vệ giục Bác đi ngủ nhiều lần nhưng Bác vẫn thức.

Sáng mùng 1 Tết, tỉnh dậy chúng tôi xuống bếp đã thấy Bác ở đấy, chúng tôi ùa vào chúc Bác mạnh khỏe sống lâu muôn tuổi. Bác nói, muốn Bác mạnh khỏe sống lâu, các cô cần làm việc tăng gấp 2 – 3 lần… Một lúc sau, các cháu thiếu nhi con em của các đồng chí lãnh đạo đến chúc Tết, Bác đưa các cháu lên nhà sàn bắt nhịp cho các cháu hát rồi chia kẹo, chia quà. Gần trưa, gia đình các đồng chí Trường Chinh, Lê Văn Lương, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt… đến chúc Tết Bác, không khí lúc này rất vui và quá đầm ấm.

Tất cả quây quần bên Bác như một gia đình lớn có nhiều thế hệ. Bữa cơm trưa mùng một Tết có một đĩa thịt lợn kho tàu, cá kho, trứng rán, dưa chua và một bát canh tôm nấu với rau cải soong. Rau cải soong do tự tay Bác trồng. Đến đâu Bác cũng ở gần suối. Dưới suối Bác thả bè rau cải soong, ở trên đồi Bác trồng rau cải, rau muống. Tôi hỏi đồng chí phụ trách bếp, Tết của Bác sao lại không có bánh chưng.

Đồng chí đó nói đồng bào gửi biếu Bác nhiều thứ, bánh chưng, giò, còn có cả con bò, bà con vùng kháng chiến cũng gửi quà cho Bác nhưng Bác bảo mang cho bộ đội, thiếu nhi… Thức ăn mỗi bữa, Bác bảo chia nhau ăn hết không được lãng phí. Đang ăn, anh Cù Huy Cận đến, một lúc sau bác sĩ Chánh là bác sĩ phục vụ Bác cũng tới. Mọi người cười nói, chuyện trò rôm rả. Sau bữa ăn là tiết mục sinh hoạt văn nghệ, có người lấy soong nồi lên gõ đệm cho người khác hát, anh Huy Cận đọc thơ, có người hát chèo, tôi và chị Thục Chinh rụt rè e ngại. Bác động viên mãi, tôi đọc bài thơ của anh Tố Hữu:

“Em là con gái Bắc Giang, Rét thời mặc rét nước làng em lo…”. “Nhà em con bế con bồng, Em cũng theo chồng đi phá đường quan”… Bác cười, bây giờ không được vận động bà con phá đường mà vận động bà con đắp đường để bộ đội, dân công có đường đi đánh giặc. Bác cháu sinh hoạt văn nghệ vui quá, vui đến tận chiều… Tối hôm đó khi Bác cháu cơm nước xong, Bác bảo hai chị em đi xem phim do Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức. Ở chỗ chiếu phim, hai chị em gặp anh Trường Chinh, anh Hoàng Quốc Việt,… phim hay thích xem, nhưng hai chị sốt ruột muốn về.

Các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt cũng đốt đuốc về cùng. Tới nhà, thấy Bác vẫn chăm chú đọc tài liệu. Mấy anh chị em trước cảnh tượng Bác ngồi làm việc áo đại cán khoác hờ trên vai, quên cả cái rét cắt thịt cắt da ở miền núi mà thấy nao lòng. Chúng tôi ăn Tết với Bác hết ngày mùng 3, hằng ngày hai chị em xuống bếp giúp các đồng chí phục vụ làm bữa… Bác bận tiếp khách ban ngày, ban đêm đọc tài liệu, đọc sách.

Sáng mùng 4, chúng tôi chào Bác để trở về cơ quan công tác. Bác cho mỗi chị em một gói cơm nếp lạc và dặn chúng tôi lúc chia tay: “Các cháu đi đâu cũng phải gần gũi dân mới được dân giúp đỡ… Công tác tốt sang năm lại lên ăn Tết với Bác”.

Đỗ Văn Phú
Theo http://www.tinmoi.vn
Thu Hiền
(st)

bqllang.gov.vn

Không ai khôn hết được đâu

36
Ảnh Tư liệu

Ông Nguyễn Tiến Sự kể lại:

Trong thời gian ở cùng với gia đình tôi, một lần sau bữa cơm, Bác hỏi:

– Ông Chủ nhiệm Việt Minh của xã Tân Trào bao nhiêu tuổi rồi?

– Thưa Bác, tôi ba mươi tám. Tuy chưa già nhưng đã yếu.

Bác liền bảo:

– Chú còn khoẻ lắm. Nên đi học cho biết chữ, phải học nhiều. Học văn hoá, học kinh nghiệm công tác ở mọi người, mọi lứa tuổi để làm việc tốt hơn. Không ai khôn hết được đâu.

Rồi Bác kể chuyện.

Một hôm đi công tác, giữa đường gặp mưa to. Đường vừa dốc lại trơn nên phải thận trọng bước từng bước một. Bỗng gặp ba em bé cùng trú mưa ở cái lều bên đường. Nhìn tôi đi chậm, một em nói.

– Chà. Cụ già này trời mưa, đường trơn đi không có gậy mà không sợ ngã nhỉ.

Từ bữa ấy về sau hễ đi đường gặp mưa trơn, nhớ lời các cháu kháo nhau tôi đều tìm gậy để chống. Quả nhiên có chiếc gậy đi dễ hơn mà lại không sợ ngã.

Theo Những câu chuyện kể về Bác Hồ, tập 3
NXB Nghệ An năm 2000
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

“Đầu bếp thì phải biết mình làm món gì chứ!”

50Ảnh Tư liệu

Sáng ngày 19-5-1953, nhân kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác Hồ, Ban phụ trách lớp chỉnh huấn cho cán bộ trung cao cấp tại Tân Trào quyết định tổ chức chiếu phim. Đồng chí liên lạc đi nhận phim ở xa, phải vượt qua đèo, suối mãi chiều mới về, gánh theo hai làn phim và cầm theo một bức thư có dòng chữ “phim mới nhận chưa có thuyết minh”.

Sau phần ngâm thơ một cán bộ ở lớp chỉnh huấn cầm micro nói:

– Thưa Bác, ngành điện ảnh vừa nhận được một bộ phim mới đã gủi đến ngay để chiếu phục vụ Bác vì vậy nên chưa có nội dung, chưa có bản thuyết minh. Xin phép được chiếu để Bác và mọi người cùng xem.

Chờ chiếu xong một cuốn, Bác quay lại bảo:

– Đưa micro cho Bác.

Bác cầm micro và giải thích cho mọi người hiểu nội dung phim. Sau đó cứ chiếu hết mỗi cuốn thì dừng lại ít phút để Bác thuyết minh cho. Đó là phim “Hoa bông” của Liên Xô.

Cuối buổi chiếu, chờ mọi người về hết Bác nói với người chiếu phim:

– Hôm nay Bác nghe được tiếng Nga lên thuyết minh giúp. từ nay nếu chưa rõ nội dung phim nói gì thì đừng chiếu… Đầu bếp thì phải biết mình làm món gì chứ!

Bài học về buổi chiếu phim ấy qua lời căn dặn nhẹ nhàng mà sâu sắc của Bác cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với những người hoạt động điện ảnh.

Theo 108 chuyện vui đời thường của Bác Hồ
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn