Đọc tâm hồn xuân Bác Hồ

Theo gương Bác Hồ làm báoNhư một hoài niệm thấm đượm tâm hồn Việt, cứ mỗi độ xuân về, ký ức con người lại dấy lên những vần thơ Xuân Bác Hồ. Ấy là vì, như thành lệ, khi xuân đến trong cảnh đất trời rực rỡ, lòng người lại xốn xang chờ đợi những lời chúc mừng năm mới của lãnh tụ: “Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”. Xuân về, nhớ Bác là tình cảm thiêng liêng tự nhiên.

Gần như suốt những năm với cương vị người đứng đầu Nhà nước, Bác Hồ đều gửi thu bằng thơ mừng xuân như một phong tục đẹp mới vừa truyền thống, vừa rất cách mạng.

Trong tâm hồn người cầm súng tự vệ mùa xuân Đinh Hợi 1947 là lồng lộng tung bay lá cờ đỏ sao vàng và rộn rã “Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông”. Lời lãnh tụ từ đài Tiếng nói Việt Nam ở cơ sở Chùa Trầm, ngay sát Thủ đô khói lửa, có sức kêu gọi ghê gớm cả lớp thanh niên Quyết tử quân mùa xuân ấy. Rồi cả nước, từ hải đảo xa xôi đến vùng biên hẻo lánh nghe Bác Hồ cất tiếng nói Mừng Xuân 1968 kêu gọi trong niềm hy vọng cháy bỏng: “Tiến lên!/Toàn thắng ắt về ta”

Mùa xuân Kỷ Dậu 1969, không ai ngờ Mừng Xuân như một lời gĩa biệt trước khi Người đi xa mãi mãi.

Nếu ngược dòng thời gian ta sẽ nhớ lại những mùa xuân trọng đại từ trước Cách mạng của Bác Hồ.

Mùa xuân Canh Ngọ, sau nhiều năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng : Ôi sáng xuân nay, Xuân 41/ Trắng rừng biên giới nởhoa mơ” (Theo chân Bác – Tố Hữu). Năm sau, đúng ngày 01/01/1942, Mừng xuân 1942 là bài thơ khởi đầu cho chùm hơn hai chục bài thơ vào dịp năm mới của vị Nguyên thủ Quốc gia tương lai.

Hồ Chí Minh gắn bó với Mùa xuân – một sự gắn bó mật thiết từ trong tâm hồn. Không phải đợi đến kỳ chuyển giao thời tiết mà, đối với Người, mỗi năm không chỉ có một mà là những bốn mùa xuân – như một ý thơ mừng xuân.

Mùa xuân là “mùa xanh” của vạn vật, mùa của đâm chồi nảy lộc, của sinh sôi cây lá. Bức tranh thiên nhiên xanh tuyệt đẹp ấy chính là phiên bản của một “tâm hồn xanh” – tâm hồn vui tươi yêu đời lạc quan tột độ.

Không chỉ là phong cách mà chính là cốt cách. Hồ Chí Minh là người ưa sống với thiên nhiên, bầu bạn với thiên nhiên. Chủ tịch phủ gắn với Bách thảo như một khu rừng với cây cao bóng cả. Riêng Vườn Bác đã là một bảo tàng sống thực vật “Cõi Bác” tiên cảnh mà đời thường “Đường xoài hoa trắng nắng đu đưa, Có bốn mùa rau tươi tốt lá… ” (Tố Hữu). Sở thích riêng là tính cách con người hòa nhập tự nhiên theo một quan niệm triết lý.

Từ bạt ngàn xanh Chủ tịch phủ “Lộc non về như trận thắng Mùa Xuân”, Người muốn “Lộc của đời chia đến mỗi người dân” (Lộc của đời-Chế Lan Viên). Màu “xanh” chính là màu “xuân” – báu vật của thiên nhiên và đời người.

Mùa xuân là mùa hy vọng, mùa của những ước mơ.

Đông qua, xuân tới. Mỗi khi năm hết tết đến, trong thâm tâm Bác Hồ lại nổi lên lòng trắc ẩn, nỗi niềm đồng chí, đồng bào, tình yêu con người.

Năm 1948, người viết bài thơ Tư chiến sĩ (Nhớ chiến sĩ) có câu : “Gửi mau áo rét ra tiền tuyến/ Nhờ ấm truyền tin xuân sắp sang”. Lòng người trĩu nặng tình cảm gắn liền trách nhiệm trước mùa xuân nhân sinh.

Ưu tư nhưng vẫn thanh thản, đó là cốt cách của bậc đại nhân. Nguyên tiêu viết trong kháng chiến thể hiện rất rõ một tâm hồn tuyệt đẹp qua một bài thơ tuyệt bích/Rằm xuân lồng lộng trăng soi/Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân/ Giữa dòng bàn bạc việc quân/ Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

Từ lâu lý tưởng cao đẹp nhất của Người là đấu tranh vì độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc và nhân loại. Lý tưởng ấy chính là mùa xuân của loài người. Đấu tranh cho một mùa xuân vĩnh viễn là tất cả tâm can, ý chí và ước vọng của người.

Mừng xuân, xuân cả thế gian.

Mùa xuân là mùa trăm hoa đua nở, muôn hồng nghìn tía.

Trong mùa xuân của thơ Bác không có những cảnh tượng thiên nhiên rực rỡ mặc dầu nhà thơ Hồ Chí Minh thừa sức mô tả.

Có hoa nhưng nổi lên là “hoa lao động” : “Bốn mùa hoa Duyên Hải, Đại Phong”, nhất là “hoa chiến đấu” : “Tin vui thắng trận nở như hoa”. Trong kháng chiến phải là những bó “hoa lửa” chiến công. Nhưng năm cuối đời, với tâm trạng “Lắng mỗi tin mừng, tiếng súng xa” (Bác ơi – Tố Hữu), tâm hồn lãnh tụ chói ngời hy vọng, niềm tin sắt đá chiến thắng. Bài thơ lớn của Bác vang lên âm thanh của chiến trận. Tin vui lớn là tin vui thắng trận : “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/Thắng trận tin vui khắp nước nhà”

Lời mừng xuân cũng là lời chúc thắng lợi : “Tiến lên!/Toàn thắng ắt về ta” (Mừng xuân – 1968).

Như để đáp lại tấm lòng mong mỏi của Bác Hồ qua thơ Mừng xuân 1969, nhà thơ Tố Hữu diễn đạt ý thơ của Người qua vần thơ Xuân 69 : “Tưng bừng năm 68 chuyển nhanh/ Như một chuyến tốc hành chở đầy hoa chiến thắng/ Hoa Việt Nam – Hoa bốn mùa mưa nắng” Tứ thơ gói gọn ý Bác, lòng Dân.

***

Nghe thơ chúc mừng đầu năm của Bác, lòng người phấn khích tưng bừng nở hoa cùng với đất trời vào xuân :

Xuân về xin có một bài ca

Đúng, đó là một bài ca, bài ca chiến thắng, bài ca hy vọng.

Nhưng hơn thế, đó còn là một lời “kêu gọi” vang lên giọng đanh chắc như một mệnh lệnh thép có sức chấn động lương tâm, ý thức con người, như lời truyền hịch hào hùng.

Qua thơ mừng xuân của Người, người dân đọc được bản tổng kết “thắng lợi vẻ vang” và hướng tới nhiệm vụ thời sự, đường hướng chiến lược mới “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy” (Mừng xuân 1969) .Lịch sử đã diễn ra đúng như dự cảm, tiên đoán của lãnh tụ thiên tài.

Nhưng lẽ trời là thế “Ví không có cảnh đông tàn/ Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân (Tự miễn, Nhật ký trong tù). Lẽ đời cũng vậy. Với Người, vượt lên bức xúc, phiền hà, gian khó, hiểm nguy là lòng yêu đời lạc quan tin tưởng.

Dự cảm tương lai của Hồ Chí Minh là cực kỳ mạnh mẽ, nhanh nhạy. Thăm bạn, trên đường về, chợt thấy cây mai núi mà lòng Người đã xốn xang (Tầm hữu vị ngộ).

Mỗi đóa hoa vàng một điểm xuân

Rất nhạy cảm với tín hiệu, nhiều khi còn ở dạng ẩn hiện, thấp thoáng, mơ hồ. Với thiên nhiên là vậy, với công cuộc đấu tranh lại càng như vậy!

Mừng thấy miền Nam, luôn thắng lớn
Một năm là cả bốn mùa xuân
(Vô đề – 1963)

Với Hồ Chí Minh, trong đời Người, mùa xuân như bao trùm hết – trong bốn mùa, trên cả bốn mùa. Ấy là mùa xuân trong tâm tưởng – mùa xuân tâm hồn.

Bình sinh, Người mong ước một Đất nước xanh tức một Đất đẹp, tràn đầy sức sống. Như câu thơ tươi trẻ: “Mùa xuân là tết trồng cây/ Làm cho Đất nước mỗi ngày một xuân”.

Trước lúc ra đi mãi mãi, Người còn để lại thông điệp lạc quan. Đời người là liên tục những mùa xuân như tinh thần Di chúc : “Khi người ta đã ngoài 70 xuân”.

Đặc biệt Người rất coi trọng tuổi thanh xuân .Trong mấy lời Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến, Người nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.”

Qua cuộc đời anh hùng của Người, qua thơ của bậc danh nhân văn hóa thế giới, có thể thâu tóm một nhận định như chân lý nhân sinh và nghệ thuật.

Hồ Chí Minh -một con người sống đầy xuân sắc
Hồ Chí Minh- một cuộc đời sáng mãi mùa xuân
Hồ Chí Minh -một tâm hồn xuân

Thành phố Hồ Chí Minh
Tất niên Nhâm Thìn, nghênh xuân Quý Tỵ
Đoàn Trọng Huy(*)

CHÚ THÍCH:

1.Tất cả thơ văn trích dẫn đều lấy từ Hồ Chí Minh -Thơ – toàn tập, Danh ngôn Hồ Chí Minh – Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2000; Nhà xuất bản Văn học – Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2011.

2.Tất cả thơ Tố Hữu lấy từ Tố Hữu toàn tập – Thơ ca Nhà xuất bản Văn học , Hà Nội, 2008.

* Tác giả Đoàn Trọng Huy nguyên là nhà giáo, đã từng dạy học ở Tây Bắc từ năm 1953-1958, chuyên gia giáo dục ở Angola, hiện đã về hưu và sống tại thành phố Hồ Chí Minh

(Theo Bản tác giả gửi NBĐ)
Theo Nguoibanduong.net

nguoixunghekiev.vn

Bác Hồ khai bút đầu xuân

Bác Hồ chúc TếtNgoài những thư và thơ chúc tết gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước, đầu xuân Bác Hồ thường khai bút bằng những bài báo với nhiều bút danh khác nhau, khi thì C.B, T. Lan hoặc Trần Lực (T.L). Thường mỗi tết, Bác viết từ một đến hai bài báo. Đặc biệt tết năm 1960, Bác viết tới 4 bài báo. Chủ đề Bác viết rất phong phú, bài viết ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu. Có bài Bác viết tố cáo kẻ thù xâm lược bị nhân dân lên án như “Mỹ không mừng xuân” (T.L 1961).

Khi phê phán tệ nạn lãng phí xa hoa, lấy tiền công quỹ để chè chén lu bù, trong ngày lễ, ngày tết – Bác viết bài: “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?” (T.L 1960). Bác lên án những kẻ “đục khoét” của dân là những kẻ bất nhân, có tội với dân. Đồng thời, Bác khen ngợi cán bộ của hai HTX vì dân đã không những không chè chén mà còn biết động viên dân ăn tết tiết kiệm, lấy tiền dự định liên hoan đầu tư vào sản xuất và trích thưởng nếu tăng năng suất. Bác kết luận, như vậy cán bộ ở đó biết nâng cao đời sống cho dân và làm cho dân yêu quý HTX, tin tưởng ở cán bộ hơn. Bác nhắc nhở tiết kiệm là quốc sách, làm giàu đất nước, tạo cho con người nếp sống văn minh lành mạnh, làm việc vì mọi người, khi ăn uống biết nghĩ đến người nghèo. Trong bài viết khai bút đầu xuân, Bác đề xướng phong trào “Tết trồng cây”, giữ mãi trong chúng ta hình ảnh đẹp đẽ đầu xuân Bác đi trồng cây. Trong di sản những bài báo ký nhiều bút danh, có nhiều bài cổ vũ Tết trồng cây. Bác nêu gương những người trồng cây giỏi, như cụ Vũ Văn Lân ở Hưng Yên tuy đã 104 tuổi, tự mình trồng và chăm bón cây tốt. Anh Cao Xuân Nhĩ ở Vĩnh Phúc, tuy kém cả hai mắt nhưng vẫn trồng được 6.000 cây. Bác khen những địa phương có phong trào trồng cây tốt như Lạc Trung, Ngọc Long (Vĩnh Phúc), Vĩnh Thành (Nghệ An), Nà Vó (Hòa Bình), Vinh Quang (Phú Thọ), Lê Hồng Phong (Hà Tĩnh)…

Bác khen Đoàn thanh niên thực sự là đội quân chủ lực của phong trào trồng cây. Riêng năm 1963, Đoàn thanh niên đã trồng được hàng triệu cây. Thanh niên tỉnh Hải Dương đã biến 1.500ha đồi trọc thành rừng cây. Bác khích lệ: “Vì lợi ích 10 năm trồng cây” để có gỗ làm nhà, có củi đun, có bóng mát, góp phần cho bầu không khí trong lành. Trồng cây có lợi cho xuất khẩu, cho công nghiệp như cây keo lá tràm, cây trẩu, quế, hồi… Trồng cây chắn sóng, chắn cát, chắn gió. Trồng cây cho quả ăn, tăng thu nhập kinh tế gia đình như cam, quýt, mận, mơ, nhãn, vải… mang lại lợi ích gần gũi với người dân. Đặc biệt, Bác động viên không những đồng bào miền xuôi trồng cây mà đồng bào miền ngược cũng phải tích cực trồng cây, phủ xanh đồi núi trọc, có rừng cây xanh giữ nước tránh lụt, giữ đất tránh khỏi bạc màu. Bác kết luận, lợi ích trồng cây là cho hôm nay và cho cả mai sau. Bác mong muốn thiết tha là phong trào trồng cây phải được giữ gìn, phát huy mãi mãi, vì nó luôn gắn với sự tồn vong và phồn vinh của đất nước.

Có bài khai bút đầu xuân, Bác nhắn nhủ vui xuân mới không quên xuân cũ, những cái tết thiếu thốn, gian khổ, ác liệt đã qua. Bác nhắc nhở mỗi một chúng ta, ăn tết sung sướng hôm nay là nhờ những ngày gian khổ hôm qua, không được quên đi quá khứ, không được quên đi lịch sử. Bác nhắc nhở không được quên nhân dân lao động vì cách mạng mà nay vẫn còn thiếu thốn, nghĩa cử “uống nước nhớ nguồn” là lẽ sống của người cách mạng.

QUỲNH LINH
baophuyen.com.vn

Bác Hồ và mùa xuân năm ấy

Việt Nam - Hồ Chí MinhTrong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ có 30 mùa xuân bôn ba đáng ghi nhớ.

Những cái Tết đạm bạc trên đất khách quê người nhiều khi chỉ là bát cháo và cái bánh mỳ rẻ tiền ở một quán ăn nhỏ, cũng có khi lại là những tháng ngày buồn tẻ trong ngục tối với cuốn sách thơ mà ngậm ngùi nhớ về đồng bào đang lầm than. Những ngày Tết, Bác nhớ đất nước, nhớ quê hương da diết cùng với bao dự định lớn lao. Dấu mốc lớn nhất phải kể đến mùa xuân năm 1930 của Bác và cũng là mùa xuân lịch sử của Cách mạng Việt Nam.

Mùa xuân Canh Ngọ 1930, Bác quyết định tổ chức Hội nghị hợp nhất các Đảng Cộng sản ở Việt Nam vào đúng dịp Tết Nguyên đán. Hội nghị họp từ ngày 3 đến mồng 7 tháng 2 năm 1930 tại Cửu Long, Trung Quốc thành lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày cuối cùng của hội nghị, Bác tổ chức một bữa cơm nhỏ ở tại phòng và xúc động nói: “Các đồng chí! Hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Bây giờ chúng ta đã có một Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đi đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành Độc lập, Tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

83 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giành được những thắng lợi hết sức to lớn, đó là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Trong suốt  83 năm, Đảng ta luôn luôn làm theo lời Bác, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, đoàn kết nhân dân thành một khối vững chắc để xây dựng nước nhà. Đảng ta luôn coi ý kiến, nguyện vọng của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng.

Đón xuân mới Quý Ty 2013, cùng với kỷ niệm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta lại nhớ đến Bác Hồ kính yêu – Vị cha già dân tộc, nhà lãnh đạo thiên tài. Không những chúng ta mà bạn bè thế giới đã nói: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là “Một cuộc đời, một bước ngoặt kỳ diệu, một sự nghiệp vĩ đại…”./.

ttttninhbinh.gov.vn

Công tác an ninh bảo vệ Hội nghị Paris

Kỉ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris (27/1/1973 – 27/1/2013):
Trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, chưa từng có cuộc hội đàm nào kéo dài suốt 5 năm (Từ năm 1968-1973) như Hội nghị Paris. Hiệp định Paris là thắng lợi ngoại giao nổi bật, có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; là kết quả cuộc đấu trí, đấu lực kiên trì trên mặt trận ngoại giao. Tham gia vào Hội nghị Paris, có những cán bộ làm công tác an ninh và họ đã góp phần không nhỏ vào những thắng lợi trên bàn đàm phán.

Vào dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris tôi may mắn được gặp ông Trần Hữu Diệt, một trong những cán bộ Cảnh vệ tại Hội nghị Paris, người trực tiếp bảo vệ đoàn Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngay từ những ngày đầu tiên đến ngày kết thúc cuộc hoà đàm lịch sử.

Ông Trần Hữu Diệt năm nay đã gần 80 tuổi, hiện là Trưởng ban liên lạc sĩ quan hưu trí Cảnh vệ. Người đầu tiên mà ông nhắc tới là Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nguyên Cục trưởng Cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ), người được đích thân Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn giao phụ trách công tác an ninh cho cả hai đoàn A và B (Đoàn A bảo vệ phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đoàn B bảo vệ phái đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam).

Trong số 42 cán bộ Cảnh vệ được lựa chọn kĩ càng (lần lượt trong 5 năm) đưa đi bảo vệ Hội nghị Paris, hiện chỉ còn 27 người, 15 người đã về cõi vĩnh hằng. Thiếu tướng Phan Văn Xoàn nay đã trên 90 tuổi, đang sinh sống tại TP HCM; một số khác như ông Nguyễn Văn Việt ở Bắc Giang, ông Nguyễn Văn Chuyền ở Bắc Ninh, ông Lê Văn Chín ở Nghệ An, ông Phạm Quý ở Bà Rịa – Vũng Tàu còn lại phần đông nghỉ hưu tại Hà Nội và đều ở độ tuổi xưa nay hiếm.

Ông Diệt nhớ lại: Sau chiến thắng Mậu Thân 1968, Hoa Kỳ buộc phải tính đến việc ngồi vào bàn đàm phán để tìm một giải pháp rút khỏi cuộc chiến tranh hao người tốn của, bị nhân dân thế giới và chính nhân dân Mỹ phản đối.

Đầu tháng 5/1968, chúng tôi mới được biết địa điểm đàm phán là Thủ đô Paris (Cộng hòa Pháp). Paris được lựa chọn sau khi xem xét nhiều địa điểm do các bên liên quan đưa ra. Đây là nơi có phong trào yêu nước mạnh mẽ của Việt kiều, trong đó nhiều người vẫn còn lưu giữ những kỉ niệm với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, luôn dành sự ủng hộ to lớn với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.  Bên cạnh đó, Đảng Cộng sản Pháp sẵn sàng giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phái đoàn đàm phán của ta.

Ông Diệt nhớ lại lời Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn nhắc nhở anh em Cảnh vệ trước ngày sang Paris: “Công tác an ninh bảo đảm an toàn tuyệt đối cho phái đoàn ta, phải xác định dựa vào sức mình là chính, đồng thời phải làm tốt công tác ngoại giao, vận động kiều bào”.

Mới đầu, ta thuê khách sạn Lutestia (quận 6, Paris) để đoàn Chính phủ ta sinh hoạt. Đây là một khách sạn sang trọng, anh em phấn khởi nghĩ là an toàn nhưng khi kiểm tra an ninh ta phát hiện có đến 16 máy nghe trộm ở nhiều chỗ trong các phòng; riêng phòng của đồng chí Xuân Thủy, Trưởng đoàn đàm phán có tới 6 cái! Thật là nguy hiểm. Tất nhiên ta không thể chuyển ngay địa điểm đến nơi khác một sớm một chiều mà phải lập tức có biện pháp đối phó. Từ đó bộ phận Cảnh vệ tham mưu cho đồng chí trưởng đoàn đề ra qui định: Tất cả mọi người không được trao đổi công việc tại phòng riêng, muốn trao đổi phải viết ra giấy rồi hủy luôn hoặc đến cơ quan Tổng đại diện nước ta ở phố LeVerrer để  giữ được bí mật. Khi cần thiết phải đi ra vườn trao đổi…


Ông Trần Hữu Diệt (thứ hai từ trái sang), người đã tham gia bảo vệ phái đoàn ta tại Hội nghị Paris. Ảnh: Duy Hiển.

Nhận thấy ở khách sạn Lutesia không thuận tiện cho công tác bảo vệ an ninh, hơn nữa giá thuê rất đắt nên đồng chí Phan Văn Xoàn báo cáo và đề nghị đồng chí Xuân Thủy chuyển địa điểm. Nhân một chuyến đoàn ta đến chào Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp, đồng chí Xuân Thủy đã đề nghị và được đồng chí Tổng Bí thư đảng bạn nhiệt tình giúp đỡ, mời đoàn ta về lưu trú tại trường Đảng mang tên Maurice Thoresz (ở Choisy Le Roy, ngoại ô Paris).

Trường này có đủ phòng làm việc, phòng ăn, phòng nghỉ. Các đồng chí cộng sản Pháp đã dành mọi sự giúp đỡ tận tình, hiệu quả, cử 10 người bảo vệ, 10 lái xe, 10 người phục vụ… Thị trưởng sở tại cũng cử Cảnh sát thường  trực cùng bảo vệ với ta suốt ngày đêm và một đội môtô hộ tống đoàn ta khi di chuyển.

Chúng tôi đến nơi ở mới gần được một tháng thì đồng chí Lê Đức Thọ, Cố vấn đặc biệt của Đoàn đàm phán được Chính phủ ta cử sang Paris. Đồng chí đi kiểm tra thực địa và tỏ ý hài lòng, cảm ơn Đảng Cộng sản Pháp. Đồng chí nhắc lãnh đạo đoàn ta cần có một phòng bảo mật. Chấp hành ý kiến chỉ đạo của đồng chí Cố vấn đặc biệt, bộ phận kỹ thuật chỉ trong 3 ngày đã xây dựng xong một phòng đạt tiêu chuẩn, chống được nghe trộm. 

Nơi họp chính là ở Trung tâm hội nghị quốc tế thường diễn ra có 4 bên dự gồm: Hoa Kỳ; Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Cộng hòa Miền Nam Việt Nam; Việt Nam Cộng hòa,  nhưng các đoàn đều có một địa điểm riêng để họp kín. Đối với  đoàn ta,  nhờ một Việt kiều là ông Lê Ủy tìm thuê được một ngôi biệt thự 2 tầng xinh xắn ở phố Darthe thuộc thị xã Choisy Leroi. Đây là phố nhỏ ít người qua lại nên  đảm bảo được yếu tố bí mật.

Trong số 45 cuộc họp kín tại đây, đã diễn ra cuộc gặp lịch sử giữa Hariman (trưởng đoàn Mỹ) với Bộ trưởng Xuân Thủy vào đêm 30/10 rạng sáng 31/10/1968. Trong cuộc gặp, ông Hariman thông báo với Bộ trưởng Xuân Thủy: Trong vòng 24 giờ tới, Tổng thống Mỹ Johnson sẽ ra lệnh ngừng ném bom và bắn phá trên toàn miền Bắc Việt Nam, yêu cầu ta giữ bí mật thông tin này cho đến khi Tổng thống đọc xong bài diễn văn. Để đảm bảo bí mật, ta trao đổi với an ninh Mỹ tất cả hai đoàn đến địa điểm họp mặt đều đi xe dân sự, không có xe cảnh sát Pháp dẫn đường. Ông Hariman và an ninh Mỹ chấp nhận đề nghị này và tỏ ra tâm đắc với sáng kiến của phía Việt Nam.

Ngày 31/10/1968, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ ngày 1/11/1968. Sang đầu năm 1969, Hội nghị 4 bên mở ra, có hiện diện của đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Bình, ông  Dương Đình Thảo, ông Trần Bảo Kiếm… đại diện của Chính Phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam lần lượt sang Paris. Công tác Cảnh vệ lại thêm nhiệm vụ mới, số người phải bảo vệ được tăng thêm nhưng số sỹ quan Cảnh vệ vẫn như cũ.

Một trong những khó khăn của công tác bảo vệ là sự đeo bám của phóng viên báo chí đối với đoàn ta, vì một số báo chưa hiểu rõ tình hình, vẫn tỏ ra thiên vị phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Một số tờ báo cho rằng Mặt trận giải phóng là “bóng ma Việt cộng”, là “tay sai cộng sản Bắc Việt”… Nhưng khi hội nghị chính thức mở ra, với sự khôn khéo của hai trưởng đoàn ta và các thành viên trong đoàn, dần dần ta đã “thu phục được nhân tâm”.

Chuyện bảo vệ trên đường cũng lắm tình huống gay cấn. Paris thời đó cũng đã có tắc đường nhưng dĩ nhiên không căng thẳng như Hà Nội bây giờ. Để đưa Đoàn đến địa điểm đúng giờ họp, chúng tôi thường cho người đi tiền trạm, thấy không tắc đường mới bàn với cảnh sát Pháp cho xe dẫn. Biện pháp này tỏ ra hiệu quả, nên phía bạn cũng rất vui vì họ cũng hoàn thành nhiệm vụ.

Cũng có lần xảy ra sự cố, do đường vắng nên xe cảnh sát dẫn đường chạy tốc độ cao. Hôm đó đoàn ta đi dự buổi họp do kiều bào ta tổ chức ở nhà Tương tế khu phố La – tinh.  Lúc 24h đêm cuộc họp mới kết thúc, xe cảnh sát dẫn đoàn về nơi ở. Do tốc độ nhanh một xe cảnh sát đâm vào một xe ôtô khác khiến viên lái xe dẫn đường chết ngay tại chỗ. Hôm sau đoàn ta cử cán bộ mang vòng hoa đến viếng chia buồn. Người vợ cảnh sát lái xe rất xúc động nói: “Chồng tôi hy sinh là sự mất mát lớn đối với tôi và gia đình nhưng cũng góp một phần nhỏ vào cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam”. Tình cảm đó đến nay chúng tôi còn nhớ mãi.

Đến ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết. Thắng lợi ngoại giao lịch sử này có phần đóng góp của những cán bộ, chiến sĩ Cảnh vệ nói riêng và lực lượng CAND nói chung

Văn Chấn
cand.com.vn

Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không: Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam

Đại Tá TS Nguyễn Thành Hữu
Đêm 20 rạng ngày 21/12/1972, đế quốc Mỹ tung hàng loạt máy bay B-52 oanh tạc tàn phá Hà Nội. Với ý chí quyết chiến quyết thắng, ta thắng lớn, bắn rơi 19 máy bay địch, trong đó có 7 chiếc B-52. Chỉ trong 9 phút của đợt đầu, ta đã bắn rơi 3 máy bay B-52, trong đó có 2 chiếc rơi tại chỗ, trong 20 phút của đợt 3 ta đã bắn rơi 4 máy bay B-52, trong đó có 3 chiếc rơi tại chỗ. Pháo đài bay Mỹ hạ gục trước ý chí, trí tuệ của người Hà Nội.

Hẳn nhiều người biết, từ 19h20 ngày 21/12/1972, đế quốc Mỹ tập trung 93 lần chiếc B-52 cùng 151 lần chiếc không quân chiến thuật tổ chức tập kích ba trận vào Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên. Tại Hà Nội, địch đánh các đầu mối giao thông, chân hàng ở Bắc ngoại thành, Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, sân bay Nội Bài, Khu tập thể An Dương. Xen kẽ giữa các trận đánh của B-52, địch tăng cường 25 chiếc F-111 hoạt động…

Sau hai đêm, địch thay đổi thủ đoạn và quy luật đánh phá, nhận ra đối thủ chính của chúng là tên lửa. Do đó, trước khi đưa B-52 vào, ngoài việc đánh phá các sân bay của F-111, chúng đưa F4 và F-105 lùng sục các trận địa tên lửa của ta để dọn đường; tăng cường nhiễu các loại; tăng cường sử dụng các tốp B-52 giả.

Bộ đội rada vẫn đĩnh đạc phát hiện và thông báo các tốp B-52 cho chiến dịch. Không quân ta khắc phục khó khăn do các sân bay bị địch đánh phá và khống chế liên tục, sửa chữa không kịp, cất cánh từ đường lăn lên đánh B-52. 19h27, hai tốp MIG cất cánh lên hướng Việt Trì, Phú Thọ và Mộc Châu, Suối Rút.

Từ 19h41 đến 19h55, nhiều tốp B-52 giả vào khu vực hỏa lực. Bộ đội ta nhanh chóng nhận dạng tín hiệu B-52 giả, nên không một tiểu đoàn tên lửa nào đánh nhầm. Đây là một thành công lớn trong cuộc đấu trí với địch. 20h5, 2 tốp B-52 vào đánh khu vực Gia Lâm. Tiểu đoàn 93 Trung đoàn tên lửa 261 Quân chủng Phòng không – Không quân (PKKQ) xử trí nhanh sau khi phóng 2 quả thấy tín hiệu mục tiêu trong nhiễu đã phóng bồi quả thứ 3 diệt một B-52 rơi tại Yên Thượng, Yên Viên cách trung tâm Hà Nội 10km.

Trận đánh thắng đầu tiên trong đêm 20/12 của Tiểu đoàn 93 đã giải tỏa được những căng thẳng sau đêm 19 không bắn rơi tại chỗ được B-52. Các tiểu đoàn khác tiếp tục đánh các tốp B-52 đi sau đội hình.

Xác pháo đài bay B52 tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự. Ảnh: Duy Hiển.

20h34, Tiểu đoàn 77 Trung đoàn tên lửa 257 lợi dụng thuận lợi của một trận địa chốt, phát sóng bắn trúng 1 máy bay B-52 rơi xuống xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, Hà Tây. Sau thắng lợi giòn giã ngay từ đợt đầu, khí thế chiến đấu của bộ đội thay đổi hẳn. Kinh nghiệm của các tiểu đoàn 93, 77 Quân chủng PKKQ được nhanh chóng phổ biến đến các đơn vị. Tiếp đó, 20h36, Tiểu đoàn 94 Trung đoàn tên lửa 261 nỗ lực đánh tập trung bắn trúng 1 máy bay B-52 rơi tại biên giới Thái Lan – Lào. Tiểu đoàn 76 Trung đoàn tên lửa 257 cũng vận dụng phương pháp phát sóng gần bắt mục tiêu. Nhưng do thao tác không hợp lý, không đúng thời cơ nên bị tốp hộ tống B-52 phóng tên lửa tự dẫn vào trận địa làm đơn vị tạm thời mất sức chiến đấu. 

Phối hợp chiến đấu, hỏa lực pháo súng phòng không tầng thấp của ta đánh rất mãnh liệt chặn đánh F-111. Lúc 21h, phòng không dân quân tự vệ ở trận địa Vân Đồn đã bắn rơi 1 chiếc F-111.

Tại Hải Phòng, lúc 22h22, Tiểu đoàn 72 Trung đoàn tên lửa 285 bắn rơi 1 máy bay F4; lúc 0h10 ngày 21-12, Tiểu đoàn 83 Trung đoàn tên lửa 238 cùng pháo phòng không khu vực bắn rơi một F4 nữa.

Tại Thái Nguyên, từ 23h30 đến 0h45, B-52 đánh vào Nhà máy Điện Cao Ngạn và Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ.

Tại Hà Nội, máy bay F-111 vào đánh xen kẽ. Các tốp máy bay cường kích chiến thuật săn tìm trận địa tên lửa, bay lởn vởn vòng ngoài hỏa lực làm mồi nhử cho tên lửa đánh để khi B-52 vào thì tên lửa không còn đạn, đồng thời nhử cho ta phát sóng tự bộc lộ đội hình để đánh trả bằng tên lửa tự dẫn. Các tiểu đoàn tên lửa đã dày dạn với thủ đoạn nghi binh của địch nên không bị đánh lừa.

4h10 ngày 21/12, địch lại tổ chức trận tập kích thứ ba vào Hà Nội với 45 lần chiếc B-52. Lúc này, đạn tên lửa ở các trận địa của ta còn rất ít. Tình huống hết sức khó khăn, Bộ Tư lệnh chiến dịch, Quân chủng và Sư đoàn Phòng không Hà Nội chỉ thị các đơn vị tích cực đánh bằng phương pháp hiệu quả nhất, đánh tiết kiệm đạn, đánh chắc thắng, tiếp tục bắn rơi tại chỗ B-52; đồng thời chỉ thị cho Cục Kỹ thuật tìm mọi cách tăng nhanh số lượng đạn ở các tiểu đoàn hỏa lực; các lực lượng pháo cao xạ tích cực đánh bảo vệ trận địa tên lửa…

Cán bộ, chiến sĩ bảo đảm kĩ thuật làm việc liên tục, lắp ráp, vận chuyển tiếp đạn tên lửa với tinh thần tất cả vì chiến thắng, cho đến gần sáng ngày 21, đạn đã được bổ sung tương đối đầy đủ cho các trận địa hỏa lực.

Tên lửa ta sẵn sàng cho trận quyết chiến chiến lược 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972.

Sau các trận đánh tập trung, khi đạn bảo đảm chưa kịp, các đơn vị phải cân nhắc tính toán sử dụng trong từng trận và chọn phương pháp điều khiển thích hợp. Lúc 5h9, Tiểu đoàn 77 bắn trúng một B-52 rơi xuống Phúc Yên, Tiểu đoàn 57 Trung đoàn tên lửa 261 bắn rơi 1 máy bay B-52 khác. Năm phút sau, Tiểu đoàn 79 Trung đoàn tên lửa 257 lại bắn rơi 1 máy bay B-52 tại khu vực Phả Lại. Với cự li đánh và phương pháp điều khiển thích hợp, với trình độ bám sát điêu luyện của kíp chiến đấu, chỉ 13 phút sau, bằng một quả đạn, Tiểu đoàn 57 Trung đoàn tên lửa 261 bắn 1 chiếc B-52 rơi xuống khu vực chợ Thá – Núi Đôi. Đó là trận đánh cuối cùng kết thúc chiến đấu đêm 20 rạng sáng 21/12 và cũng là trận đánh hết sức điển hình về tài nghệ chiến đấu của bộ đội tên lửa.

Trận đánh đêm 20 rạng ngày 21/12 thực sự là một trận đánh then chốt tiêu diệt lớn B-52 của địch trong chiến dịch, làm thay đổi lớn về kế hoạch sử dụng lực lượng và cách đánh cả của địch và của ta. Trận đánh đêm 20 đã phá vỡ kế hoạch ban đầu của cuộc tập kích chiến lược. Níchxơn cho rằng chỉ cần ba ngày cũng đủ làm cho ta phải khuất phục. Nhưng thực tế trong ba ngày, 30 máy bay bị bắn rơi, trong đó có 11 chiếc B-52 kể cả 1 chiếc do tên lửa ta ở Nghệ An bắn rơi, tỉ lệ máy bay B-52 bị bắn rơi ngày càng tăng.

Đối với ta, trận then chốt tiêu diệt lớn B-52 đêm 20 có ý nghĩa lớn về xây dựng quyết tâm và phát triển cách đánh chiến dịch, càng khẳng định vai trò của từng lực lượng trong tác chiến chiến dịch, tạo điều kiện cho cách đánh tập trung của tên lửa có hiệu quả, phát huy được mọi cách đánh của tiểu đoàn hỏa lực tên lửa. Chưa bao giờ truyền thống anh hùng của QĐND Việt Nam được phát huy cao độ trong chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” với niềm tự hào khôn tả

N.T.H.
cand.com.vn

Gặp người bắn rơi chiếc máy bay Mỹ cuối cùng trong trận chiến lịch sử

40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”:

Trong trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972, Không quân Việt Nam đã lập những chiến công giòn giã, góp phần vào thắng lợi vang dội của dân tộc: 24 lần xuất kích đã bắn rơi 7 chiếc máy bay, trong đó, có 2 chiếc B52. Các biên đội không quân 8 lần phá vỡ đội hình bay chiến đấu của địch, tạo điều kiện cho tên lửa và các lực lượng phòng không đánh thắng. Cùng với Anh hùng Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều, Trần Việt, Hoàng Tam Hùng…, phi công Bùi Doãn Độ cũng bắn cháy một máy bay Mỹ vào đêm cuối của cuộc không kích, 29/12/1972.

Chiến công này đặc biệt, bởi đây là chiếc F-4 đầu tiên bị Không quân ta bắn rơi vào ban đêm, bằng máy bay MiG-21, lại là chiếc máy bay cuối cùng của địch bị bắn rơi trong 12 ngày đêm máu lửa. Đây cũng là máy bay Mỹ cuối cùng do Không quân ta bắn rơi trên bầu trời miền Bắc. Vì chỉ vài tiếng sau, 7h sáng 30/12/1972, Tổng thống Mỹ Nich-xơn tuyên bố ngừng ném bom và chấp nhận quay lại bàn đàm phán. 

Sau tròn 40 năm, chúng tôi tìm gặp lại người đã hạ gục tên “giặc trời”, “khóa đuôi” chiến dịch lừng lẫy đó. Chàng trai trẻ nhất Phi đội đánh đêm 40 năm trước giờ đã là vị đại tá nghỉ hưu hiền lành, nhỏ nhẹ và khiêm nhường. Trong ngôi nhà rộng lớn bên đường Lê Trọng Tấn (Hà Nội), Đại tá Bùi Doãn Độ cùng chúng tôi ôn lại chuyện xưa.

Vượt qua những đợt kiểm tra nghiêm ngặt về sức khỏe, Bùi Doãn Độ nhập ngũ ở tuổi 16, rồi được sang Liên Xô học lái máy bay MIC-21. Tốt nghiệp năm 1970, tròn 20 tuổi, anh về nước nhận nhiệm vụ ở Phi đội 5, cùng Trung đội với Anh hùng Phạm Tuân.

Cuối năm 1972, tiên đoán khả năng Mỹ sẽ huy động B-52 đánh phá miền Bắc, Quân chủng Phòng không – không quân đã khẩn trương tổ chức huấn luyện bay đêm cho Phi đội 5. Gần 10 phi công bay giỏi, kỹ thuật tốt, bản lĩnh vững vàng được lựa chọn để tập luyện cất cánh với tên lửa bổ trợ, bay chặn kích máy bay B-52 bằng rada và kết hợp bằng mắt. Vì đánh đêm khó khăn hơn đánh ban ngày rất nhiều: không thể quan sát địch trực tiếp bằng mắt, mà phải dựa vào rada, trong khi địch luôn gây nhiễu sóng rada nên khó xác định được mục tiêu và cũng khó theo kịp nếu máy bay địch cơ động. Mà thời cơ phát hiện mục tiêu chỉ 10-15 giây.

Hơn nữa, các phi công đánh đêm còn hiểu rất rõ, cuộc chiến trên không vô cùng nguy hiểm, khi vừa phải đối mặt trực tiếp với kẻ thù, vừa có cả rủi ro từ chính các trận địa pháo cao xạ, pháo phòng không dày đặc ở mặt đất, vì có lúc, lệnh xuất kích của máy bay ta không thể thông báo kịp đến các đơn vị. Chính anh Bùi Doãn Độ trong một lần bay qua Việt Trì, cũng từng bị pháo cao xạ của ta bắn vì tưởng máy bay địch. Chúng tôi hỏi khi đó, anh có sợ không, Đại tá Bùi Doãn Độ cười hiền: “Chiến tranh là thế, có gì mà phải sợ! Khi đó, chúng tôi đều khao khát được trực tiếp chiến đấu, được tự mình bắn rơi máy bay địch để trả thù cho nhân dân Thủ đô, cho đồng đội, không ai nghĩ đến sự hi sinh.”

Đại tá Bùi Doãn Độ bên chiếc máy bay MIG21 từng tham chiến trong trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972.

Được chuẩn bị kỹ càng về kỹ-chiến thuật đánh B-52 cũng như tinh thần, nên toàn bộ Phi đội 5 bước vào chiến dịch 12 ngày đêm với khí thế hừng hực và quyết tâm cao: có điều kiện là kiên quyết tiêu diệt bằng được, dù đó là “thần sấm” B-52 hay các loại máy bay khác.

12h ngày 18/12/1972, cuộc chiến 12 ngày đêm bắt đầu. Trong suốt chiến dịch, anh Độ được xuất kích 4 lần: Ngày 21/12 sau khi cất cánh ở Sân bay Miếu Môn, anh gặp được B-52, nhưng vì độ cao chênh lệch quá lớn, không đủ điều kiện phóng tên lửa. Hai lần sau, anh xuất kích từ Sân bay Nội Bài nhưng lại không gặp địch. Đến ngày 29/12, cuộc chiến càng ác liệt. Địch đánh phá dữ dội Sân bay Miếu Môn, khiến các phi công phải đi ôtô về Sân bay Hòa Lạc, rồi mới đi máy bay trực thăng lên sân bay Nội Bài để lấy máy bay về Sân bay Kép trực chiến.

Trọn 1 ngày vất vả, căng thẳng. Đêm, bọn “giặc trời” F111 điên cuồng đánh phá, thì anh Độ được lệnh cất cánh. Lúc đó khoảng 23h. Nhưng không “săn” được B-52, anh Độ quay về, thì lại được Sở chỉ huy thông báo có địch. Ngay khi phát hiện địch, anh liền tăng tốc đuổi theo. Đúng lúc này, anh lại nhận thông báo phía sau cũng có địch và yêu cầu anh nhanh chóng công kích. Một giây cân nhắc, anh quyết tâm truy kích đến cùng chiếc F4 phía trước. Khi chọn được khoảng cách thích hợp, anh phóng 2 quả tên lửa cùng lúc, rồi nhanh chóng thoát ly theo lệnh của Sở chỉ huy.

Anh nhớ lại: Khi lật sang trái thoát ly, tôi thấy máy bay F4 của địch đang bốc cháy dữ dội và cắm xuống 1 góc khoảng 30 độ, bụng máy bay lật ngửa. Khoảng cách giữa máy bay của tôi và chiếc F4 chỉ chừng 100m, nên tôi có thể nhìn rõ từng chiếc đinh tán trên thân máy bay đang cháy. Niềm vui ngập tràn, vì đã được tham gia chiến đấu, lại bắn rơi máy bay địch. Trở về đơn vị, dù rất mệt nhưng tôi vẫn thao thức đến sáng với niềm hân hoan vô bờ.

Với chiến công đó, anh Bùi Doãn Độ đã vinh dự được tặng Huy hiệu Bác Hồ và Huân chương Chiến công hạng Ba.

Kết thúc chiến tranh, anh tiếp tục đi học ở Liên Xô, rồi trở thành chuyên gia cho nước bạn Campuchia, sau đó lại đi Pháp học trước khi trở thành Cơ trưởng loại máy bay ATR-72 của Hàng không Việt Nam, rồi về hưu năm 2010. Năm tháng trôi qua, Đại tá Bùi Doãn Độ cũng trải qua nhiều cương vị khác nhau, nhưng ký ức về những ngày được trực tiếp chiến đấu và lập công trong những ngày bảo vệ Thủ đô năm 1972 chưa bao giờ nguôi quên trong anh.

Vào những ngày này, khi cả nước hân hoan kỷ niệm 40 năm chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không”, Đại tá Bùi Doãn Độ càng thêm tự hào vì được sống lại giữa những cảm xúc hào hùng của ngày tháng lịch sử ấy, được gặp gỡ bao đồng đội yêu thương, gắn bó và nhất là, cảm nhận thật rõ rằng, sự cống hiến của mình đã không bị lãng quên!

Thanh Hằng
cand.com.vn

Pa-ri ngày ấy, lẩy Kiều sang Xuân

(ĐCSVN) – 40 năm về trước, nhân dân ta đón Tết Quý Sửu trong niềm vui hân hoan: Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết trước Tết ít ngày. Những kỷ niệm về cái Têt đáng nhớ vào mùa Xuân năm 1973 vẫn còn in đậm trong tâm trí những người Việt Nam khao khát hoà bình, nhất là những người tham gia trực tiếp vào cuộc đàm phán lịch sử. Xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của đồng chí Hà Đăng, nguyên thành viên Đoàn đàm phán Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973) – (Ảnh chụp từ triển lãm)

Tết Qúy Tỵ năm nay 2013 gợi nhớ Tết Qúy Sửu 40 năm về trước. Năm ấy, Tết đến đúng bảy ngày sau khi Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (Hiệp định ký ngày 27-1-1973 và Tết Qúy Sửu là ngày 3-2 năm đó). Là thành viên Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị, tôi có mặt tại Pa-ri từ cuối năm 1968. Bốn năm liền chúng tôi ăn Tết trên đất Pháp. Qúy Sửu là tết thứ 5. Cái Tết đặc biệt thú vị. Cái Tết hòa bình đầu tiên của nhân dân ta sau hàng chục năm đấu tranh gian khổ.

Trước mắt chúng tôi vẫn còn công việc chuẩn bị cho Hội nghị quốc tế được triệu tập sau đó một tháng để ký Định ước quốc tế về Việt Nam (2-3-1973). Sau đó nữa là Hội nghị hai bên miền Nam Việt Nam (Chính phủ Cách mạng lâm thời và Chính quyền Sài Gòn) để giải quyết những vấn đề thuộc nội bộ miền Nam.Dẫu sao vẫn phải ăn Tết cái đã. Hẵng để cho đầu óc các nhà đàm phán thư giãn mấy hôm.

Một ngày giáp Tết, Bộ trưởng Xuân Thủy cùng một số anh chị em trong Đoàn VNDCCH đến trụ sở Đoàn miền Nam ở Verie Lơ Buytxông chúc tết Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình và anh chị em Đoàn chúng tôi. Công khai nói như vậy, thật ra anh Xuân (Xuân Thủy) đến với chúng tôi như người anh cả trong nhà. Anh chúc Tết theo kiểu nhà thơ, nghĩa là nói chuyện thơ, chuyện văn, chuyện đời.

Không nhớ câu chuyện bắt đầu như thế nào mà chị Hai (tên gọi thân mật chị Nguyễn Thị Bình) bỗng nhắc đến anh Sáu (Lê Đức Thọ) và anh Xuân trong lần gặp trước – cũng ở Verie Lơ Buytxông sáng ngày 27-11-1972. Hồi đó, một đợt đàm phán mật giữa Lê Đức Thọ – Xuân Thủy với Kit-xinh-giơ kéo dài liền một tuần mà vẫn chưa ngã ngũ vì Mỹ đòi sửa đổi quá nhiều điều trong Hiệp định đã thỏa thuận ngày 20-12-1972. Chị Hai nhắc lại: “Hồi đó chúng tôi bực quá và cũng sốt ruột quá. Nhưng anh Sáu đã có lời dặn rất đúng: Dằn lòng chờ đợi ít lâu. Chầy ra thì cũng năm sau vội gì. Cứ tưởng năm sau thì cũng phải dài dài, hóa ra mới chỉ hai tháng, tháng Giêng năm nay đã ký được Hiệp định”

Câu chuyện sẽ chẳng có gì đáng để nổ ra một trận cười sau đó, nếu không có sự hiểu lầm về từ ngữ. Chữchầy ra mà anh Sáu Thọ phát âm kiểu miền Bắc một số anh chị em miền Nam lại hiểu là trầy da. Ừ nhỉ, cótrầy da tróc thịt, có B52 giội bom vào Hà Nội đi nữa thì ta vẫn cứ thắng và ký được Hiệp định năm sau vội gì! Tôi bình luận: Cái chữ ra mà cứ đọc thành da thì ai mà chẳng nhầm. Chẳng thế mà người ta bảo Thúy Kiều bật đèn xanh cho Kim Trọng làm mọi thứ, miễn là chỉ ngoài da. “Đừng điều nguyệt nọ hoa kia. Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai”

Anh Xuân cười hóm hỉnh: “Cậu nói giống hệt như mấy ông miền Nam ở tù với tôi tại nhà tù Hỏa Lò năm xưa. Các ông ấy cứ đem chữ ngoài da ấy mà bảo chúng tôi xuyên tạc Nguyễn Du. Còn tôi thì nói, cái câu “Thuyền tình vừa ghé đến nơi. Thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ”, cứ thử ghép từ miền Nam vào thì thành ra “ghe mèo vừa tấp tới chỗ”, vậy còn ra cái thi tứ gì!

Tôi giả vờ ngây ngô: “Có những câu Nguyễn Du nói, người Nam không hiểu lầm, người Bắc cũng không hiểu lầm, nhưng chẳng ai cãi được. Nguyễn Du bảo Thúy Kiều có mang đấy!”. Và tôi đọc: “Đầy sân gươm tuốt sáng lòa. Thất kinh nàng chửa biết là làm sao” (lúc Kiều chứng kiến cảnh hành hung của bọn Khuyển Ưng, Khuyển Phệ). Tôi nhấn mạnh hai chữ thất kinh và nàng chửa, làm như sau chữ chửa có một dấu phảy vậy. Khác nào nói Kiêu đã mất kinh và có thai. Chị Hai suỵt một tiếng: “Cái ông Đăng này cứ như vậy thì cả ngày không xong. Thôi, để anh Xuân làm thơ đi”.Anh Xuân không làm thơ lúc ấy. Đã có mấy câu thơ mà anh ứng khẩu đọc trong cuộc gặp ngày 27-12-1972:

Vật lộn hôm nay thắng một keo
Anh hùng Nam Bắc biết bao nhiêu
Ngoài trời sương lạnh trong lòng ấm
Hớn hở vui chung đĩa bánh xèo.

Bánh xèo là do anh chị em Đoàn miền Nam làm để thết các anh Lê Đức Thọ và Xuân Thủy khi sang thăm chúng tôi.

Cho đến tối 3 tháng Hai 1973, tối mồng Một Tết Qúy Sửu, kiều bào ta ở Pháp tổ chức ngày hội mừng Xuân, mừng thắng lợi vừa giành được, Bộ trưởng Xuân Thủy mới đọc mấy câu thơ vừa sáng tác:

Xuân Bảy ba đậm đà thắng lợi
Xuân bay lên phơi phới trời xanh
Chào Việt Nam, Tổ quốc quang vinh!
Chào chiến sĩ, Chào nhân dân! Chào tình bốn biển!

…Hăm bảy tháng Giêng, ngày mừng chữ ký
Giữa Pa-ri lộng lẫy sắc cờ ta…

Đồng chí Xuân Thủy đối với tôi, là người Thầy về nhiều mặt. Nhưng trong cuộc sống thương ngày, anh coi chúng tôi như em. Ở Pa-ri, đàm phán gay go là thế mà anh vẫn làm thơ, lại còn làm thơ nhiều nữa là khác. Và mỗi lần làm xong một bài thơ, anh đều cho đánh máy mấy bản, gửi cho những anh em gần gũi nhất góp ý. Tôi là một trong số đó. Thật ra chúng tôi chẳng có ý gì để góp ngoài việc nêu lên cảm nhận của mình. Đồng chí Trường Chinh từng gửi thư cho anh:

Mỗi tuần một trận đấu gay go
Mấy tháng chưa xong một ván cờ
Nắm vững phương châm giành thắng lợi
Ung dung anh vẫn dạo vườn thơ.

Không ai trong chúng tôi không biết là từ những ngày bị giam ở ngục Sơn La, Xuan Thủy đã là chủ bút tờ báo Suối reo và nổi tiếng với mấy câu thơ:

Đế quốc tù ta, ta chẳng tù
Ta còn bộ óc, ta không lo.
Giam người, khóa cả chân tay lại
Chẳng thể ngăn ta nghĩ tự do.

Chúng tôi cũng biết cái tên Xuân Thủy là lấy từ hai chữ đầu của một câu đối dán trên hiệu thuốc Đông y do nhà thơ mở ở Phúc Yên để làm nơi liên lạc với cách mạng từ năm 1934:

Xuân hồi thảo mộc thiên hoa phát
Thủy bát ba lan tứ hải bình
(Xuân về muôn ngàn hoa đua nở
Nước lặng song tan bốn biển yên)

Ở Pa-ri, tôi làm công việc soạn thảo các bài diễn văn chuẩn bị sẵn của Trưởng đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời. Các bài diễn văn ấy, đều được sửa đi sửa lại nhiều lần qua ý kiến đóng góp của các đoàn viên Đoàn miền Nam. Nhưng cuối cùng vẫn phải đưa lên các đồng chí Lê Đức Thọ và Xuân Thủy duyệt, mà Xuân Thủy là chủ yếu. Anh không sửa nhiều nhưng đã sửa chỗ nào là đích đáng chỗ ấy.

Viết diễn văn đàm phán, quả là làm dâu trăm họ. Dự thảo đưa ra, khen ít, chê nhiều. Trong Đoàn, chín người mười ý. Có lần tôi đem nỗi khổ của cái kiểu “làm văn tập thể” ấy giãi bày với đồng chí Xuân Thủy. Anh tủm tỉm trao cho tôi một nụ cười đầy thông cảm:

Cái nghiệp văn chương vốn thế thôi
Viết đi viết lại vẫn chưa rồi
Người giao anh viết: Anh là Thánh
Anh viết, người chê: dở nhất đời!

Tôi không nhớ trong số 174 bài diễn văn của Trưởng đoàn ta, tương ứng với 174 phiên họp của Hội nghị bốn bên, tôi đã trực tiếp đảm trách bao nhiêu bài và bao nhiêu bài đã được đồng chí Xuân Thủy duyệt. Bởi viết diễn văn không chỉ mình tôi, và anh Xuân Thủy không phải lúc nào cũng có mặt ở Pa-ri.

Chỉ biết rằng vào cái ngày giáp Tết Qúy Sửu ấy, anh Xuân và chị Hai tuy có thấy tôi tếu táo trong việc lẩy Kiều để vui chung nhưng chưa bao giờ ngờ cái tâm ngay thẳng của tôi trong công việc. Lòng tôi lúc nào cũng tâm niệm di ngôn của đại thi hào Nguyễn Du:

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài!

Hà Đăng
dangcongsan.vn

Bác Hồ với mùa xuân kháng chiến đầu tiên xuân Đinh Hợi 1947

Bác Hồ chúc TếtĐêm 13 tháng 1 năm 1947, tức là ngày 23 tháng chạp, đúng ngày ông Táo lên chầu trời, Bác Hồ bí mật lặng lẽ rời xã Xuyên Dương, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (cũ), chuyển đến xã Cầu Kiệm, huyện Quốc Oai tỉnh Sơn Tây,tiếp tục chặng đường trường kỳ kháng chiến.

Trên đường đi, ngồi trong xe, Bác trầm ngâm suy nghĩ, Bác đang nghĩ nhiều đến những người con yêu dấu của dân tộc đang chiến đấu giữa vòng vây của thực dân Pháp trong lòng Hà Nội. Quá nửa đêm, Bác mới đến địa điểm mới. Các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh bố trí Bác ở trong một ngôi nhà mới làm xong, nhưng nền đất chưa nện kỹ, các bức vách chưa được trát bùn. Bác ở trong một gian buồng nhỏ cuối nhà đã đặt sẵn một chiếc giường tre lót ổ rơm. Cạnh giường là một cái bàn nhỏ, một chiếc ghế để ngồi làm việc. Đây là ngôi nhà ông Nguyễn Đinh Khuê làm cho người con thứ, nhưng chưa đến ở. Thường ngày, Bác ngồi trên giường vai khoác chiếc áo ba – đờ – xuy cũ, đọc sách báo hoặc viết.

Tối 16 tháng 1 năm1947, tức ngày 26 tháng chạp, Bác chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ ở Chương Mỹ. Trong cuộc họp Bác căn dặn: trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được để các

em đói ăn, thiếu mặc, các cụ già phải khổ sở vì chiến tranh, đặc biệt là trong dịp Tết sắp tới. Khi nhắc đến vấn đề này, cặp mắt Bác rưng rưng như muốn khóc. Tất cả các thành viên Hội đồng chính phủ đều im lặng xúc động.

Tối ngày 21 tháng 1 năm 1947, tức ngày 30 tết, Hội đồng Chính phủ họp phiên tất niên tại phủ Quốc Oai. Ngoài các thành viên Chính phủ đều có mặt đầy đủ, còn có cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng ban và linh mục Phạm Bá Trực, Ủy viên Ban thường trực Quốc hội khóa I. Có mặt đêm nay ở đây là những người tiêu biểu cho khối đại đoàn kết của dân tộc ngay trong những ngày đầu tiên của cuộc kháng chiến. Có người trước đây là thượng thư của triều đình cũ, có người là đức giám mục, có người là tri thức, có người là đảng viên Đảng Cộng sản, có người là Việt minh, có người tóc đã điểm bạc, có người đang lứa tuổi thanh niên… Đây là hình ảnh thu nhỏ của Hội nghị Diên Hồng đời Trần năm xưa. Tất cả đều cùng chung một ý chí: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” theo lời kêu gọi khẩn thiết của Bác Hồ.

Cuộc họp tất niên của Hội đồng Chính phủ được các đồng chí Hoàng HữuNam, Nguyễn Văn Lưu lo chạy được một tí mứt kẹo, thuốc lá và mấy chiếc bánh chưng. Mọi người nhất trí bánh chưng thì để chờ Bác, còn mứt kẹo, thuốc lá thì đem ra dùng trước.

21 giờ, Bác đột ngột bước vào phòng họp. Bác đội mũ cát, cổ quấn khăn che kín bộ râu, chân lấm bùn lên tận đầu gối. Bác bắt tay tất cả mọi người, đặc biệt Bác xiết chặt tay hồi lâu cụ Bùi Bằng Đoàn và linh mục Phạm Bá Trực, và nói: “Tôi chỉ lo hai cụ không đến được. Hôm nay có mặt thế này là thắng lợi! Đại thắng lợi”. Rồi Bác kể chuyện xe bị sa lầy dọc đường. Xe sa bánh ba lần xuống ruộng, phải vận động nhân dân địa phương ra khiêng lên, rồi đẩy cho xe nổ máy. Bác nói vui: “chỉ một việc xe đi thôi, không có nhân dân thì Chủ tịch nước cũng đành chịu. Huống hồ chi việc kháng chiến kiến quốc, một công việc to lớn vĩ đại, nhất định phải dựa vào khối đại đoàn kết toàn dân mới thành công”. Bác chủ trì cuộc họp tất niên của Hội đồng chính phủ. Kết thúc cuộc họp, Bác đọc cho Hội đồng Chính phủ nghe trước bài thơ “ Chúc năm mới” Đinh Hợi mà lát nữa Bác sẽ đọc tại Đài Tiếng nói ViệtNam đặt ở chùa Trầm.

22 giờ 30 phút, Bác lên xe ra đi trong mưa phùn gió rét.Tất cả các thành viên Hội đồng Chính phủ đều tiễn Bác ra cửa. Riêng đồng chí Võ Nguyên Giáp tiễn Bác ra tận xe. Khi ngồi trong xe, Bác gọi đồng chí Võ Nguyên Giáp đến gần,và dặn: “Tối mai, bảo Nhân (đồng chí Trường Chinh) cùng chú đến chỗ Bác nhé!”.

Do đường lầy lội khó đi, gần 12 giờ đêm, Bác mới tới chùa Trầm. Đài tiếng nói Việt Nam đặt trong hang núi đá, điện sáng trưng, máy chuyển ầm ầm. Bác vào buồng thu, đọc trước máy: Chúc năm mới:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,

Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông

Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.

Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!

Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.

Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!

Thống nhất độc lập, nhất định thành công!

Bài thơ như một lời hiệu triệu vang dậy non sông, như một hồi kèn thúc giục quân và dân cả nước xông lên giết giặc lập công…. Trong 24 năm ở cương vị chủ tịch nước, tết năm nào Bác cũng có thơ “Chúc năm mới” gửi đến đồng bào và chiến sĩ cả nước. Nhưng có lẽ bài thơ “Chúc năm mới” Đinh Hợi là một trong những bài thơ hay nhất.

Sau đó, Bác nói chuyện thân mật với cán bộ, nhân viên Đài Tiếng nói ViệtNam.

Bác sắp ra về thì sư cụ chùa Trầm xin yết kiến. Chú tiểu thành kính đội mâm bánh chưng đặt lên bàn. Sư cụ thưa với Bác: “Đây là lòng thành của nhà chùa kính dâng, mong cụ Chủ tịch thu nhận cho”.

Bác cám ơn sư cụ, và chúc nhà chùa sang năm mới càng ra sức cầu Phật cho kháng chiến chóng thành công!

Gần một giờ đêm, trời vẫn mưa to. Bác ra về, cách nhà khoảng hai cây số thì xe tụt cả hai bánh trước xuống ruộng. Giờ này, chẳng còn nhờ được ai khênh xe. Thế là Bác và những người tùy tùng phải lội bùn đi bộ, khi về đến nhà đã gần bốn giờ sáng. Đồng chí lái xe phải ngủ lại trên xe giữa cánh đồng.

Tối ngày 22 tháng 1 năm 1947, tức tối Mồng một Tết, các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp đến chúc mừng năm mới Bác. Lúc này, Bác đang ngồi trên giường, vai khoác chăn, và đang viết bên ngọn đèn dầu. Đồng chí Võ Nguyên Giáp rút trong cặp ra một gói mứt, một gói chè do phu nhân đồng chí gửi, và năm bao thuốc lá ngon mà đồng chí Trần Quốc Hoàn ở trong Liên khu I ra gửi biếu Bác.

Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đưa bánh chưng ra đãi hai đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp. Cùng dự có đồng chí Trần Đăng Ninh. Đồng chí Trường Chinh báo cáo với Bác về công tác xây dựng đảngở Nam Bộ, một vấn đề mà lâu nay Bác rất quan tâm. Đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo với Bác tình hình khả quan về kháng chiến và kiến quốc ở Liên khu V. Những người có mặt hôm ấy ngồi vây quanh bếp lửa nghe Bác nói về tình hình thế giới, tình hình nước Pháp, triển vọng của phong trào đòi độc lập của các dân tộc thuộc địa.

Một giờ sáng, các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp xin phép Bác ra về.

Ngày 27-1- 1947, tức mồng sáu Tết, Bác còn viết thư đầy xúc động gửi đến các chiến sĩ cảm tử quân thủ đô. Cuối thư, Bác viết:” Các em hăng hái tiến lên, lòng Già Hồ, lòng Chính phủ và lòng  toàn thể đồng bào luôn luôn ở bên cạnh các em…”

CHÍNH LUẬN (tổng hợp)
xaydungdang.org.vn

Bác Hồ và người gánh nước đêm giao thừa

“Một Đảng cầm quyền mà để người dân mình nghèo hết còn chỗ để nghèo thì đó là lỗi của Đảng với nhân dân…” – điều Bác Hồ nói vào mùa Xuân cách đây 45 năm đến nay còn thấm thía.

Chuyện suy tư đêm 30

Bác Hồ chúc TếtTrước thời khắc chuyển giao giữa năm mới và năm cũ của 45 năm về trước, khi nhà nhà sum họp, quây tụ, Bác “vi hành”.

Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nguyên là cận vệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại: Đúng 11 giờ đêm giao thừa, bác mặc áo bông, quần vải gụ, đi dép cao su, đội mũ len đen và quấn khăn chòng cổ, tìm đến nhà “một gia đình nghèo nhất Hà Nội” như người cận vệ của bác báo về. Đó là nhà chị Nguyễn Thị Tín, góa chồng, ngoài 40 tuổi, đêm trừ tịch vẫn phải đi gánh nước thuê nuôi các con.

Đến nay, sau gần nửa thế kỷ, liệu đất nước chúng ta đã hết những cảnh nghèo khổ, cơ cực như chị Tín?

Tết năm ấy Bác Hồ buồn. Trước những người hàng phố quanh nhà cô Tín ở, Bác đã hỏi: “Tại sao cả một khu phố như vậy mà không thấy ai quan tâm đến một gia đình như cô Tín? Chúng ta đã quá quan liêu để không biết những câu chuyện như vậy ở ngay thủ đô nước mình”.

Nếu bây giờ Bác Hồ hoặc bất kỳ ai hay tin về những vụ bạo hành trong các khu dân cư âm ỉ hàng chục năm – biểu hiện của sự thờ ơ, vô cảm – chắc chắn là Bác sẽ buồn biết bao nhiêu? Mong rằng, mỗi lần nhớ đến Bác với những câu chuyện như thế này, bệnh quan liêu sẽ được thuyên giảm. Nên chăng, cuối năm, chúng ta nên lắng lại để nhìn lại mình và nhớ tới những người sống quanh mình, để trái tim cởi mở hơn, ấm áp hơn.

Lúc ấy, Người đã nói về tinh thần “lá lành đùm lá rách” mà chúng ta vẫn luôn cho rằng đó là truyền thống quý báu của mình. Trước hết là trách nhiệm của khu phố, và như Bác nói “điều lớn nhất vẫn là trách nhiệm của Chính phủ”.  Ngày ấy Bác Hồ đã đích thân nhờ cảnh vệ đi tìm một gia đình nghèo thực sự để chúc Tết, vì thế, sau nhiều ngày, người thân cận bên Bác mới có thể tìm đến đúng nhà cô Tín. Và như Bác nói là “đu đúng người thật, việc thật”.

Bác còn nói một chữ “nếu”: “Nếu mà mình báo trước với thành phố, hỏi nhà nào nghèo nhất thì chắc chắn không phải nhà cô Tín rồi…”.

Điều ấy khiến ta giật mình vì đến nay những chuyện viếng thăm đầy tính hình thức, thiếu tính thực tâm đâu đã mất đi?

Gương soi mỗi độ Xuân về

Giở những trang báo Xuân, năm nào cũng vậy, luôn gặp những câu chuyện về Bác. Đó là điều rất đỗi tự nhiên và dễ hiểu, không cần phải đợi đến những đợt vận động hay thi đua nào để thấm thía những lời nói và hành động vì nước, vì dân của Người. Bản thân những câu chuyện thật, việc thật – dù chỉ bình dị thôi – nhưng luôn có sức lan truyền.

Câu chuyện này gieo cho chúng ta một mong ước trước thềm Xuân rằng: Mỗi “người trong một nước” rung động với nhau nhiều hơn, Chính phủ và các cấp chính quyền đến gần dân hơn – để không còn những cảnh nghèo như gia đình chị Nguyễn Thị Tín – thì nước mới mạnh.

Tổng hợp: Văn Hòa
thanhdoanquynhon.org

Bác Hồ với mùa xuân Tây Nguyên

Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vui mừng đón xuân Quý Tỵ năm 2013 cùng lúc với sự kiện khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên nằm trong khuôn viên quảng trường Đại Đoàn Kết tại thành phố Pleiku – tỉnh Gia Lai. Đây là một công trình lịch sử – văn hoá mang tính thời đại và đáp ứng nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Gia Lai cũng như đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

Ngày 19 tháng 4 năm 1946 – cách đây 67 năm – tại Pleiku, tỉnh Gia Lai đã tổ chức Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam với hơn 1000 người tham dự. Tại Đại hội này, đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên rất vinh dự và tự hào đón nhận bức thư đầy tâm huyết của Bác Hồ gửi đến. Trong thư, Bác Hồ viết: “Hôm nay đồng bào khai hội, sum họp một nhà thật là vui vẻ. Tiếc vì đường sá xa xôi, tôi không đến dự Đại hội được. Tôi tuy xa nhưng lòng tôi và Chính phủ vẫn gần gũi đồng bào… Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Giarai hay Ê đê, Xê đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác đều là anh em ruột thịt… Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng để giữ vững quyền tự do độc lập của chúng ta”.

Thấu hiểu nguyện vọng, tình cảm của Bác đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và tấm lòng của các đồng bào dân tộc Tây Nguyên đối với Bác; năm 2008, Bộ Chính trị TW Đảng đã đồng ý cho xây dựng tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên tại Gia Lai. Ngày 21 tháng 9 năm 2010, Ban Bí thư đã chọn duyệt được mẫu tượng Bác Hồ cùng bức phù điêu khá hoành tráng về các dân tộc Tây Nguyên. Sau hai năm xây dựng, ngày 11 tháng 12 năm 2012, nhân dịp kỷ niệm 67 năm ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Gia Lai, lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên đã được tổ chức trọng thể với sự hiện diện của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Các bộ ban ngành TW … các đồng chí lãnh đạo tỉnh Gia Lai cùng đông đảo đồng bào các dân tộc tỉnh Gia Lai và các tỉnh bạn

Trích đoạn phù điêu tượng đài

Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên nằm trong khuôn viên với một quần thể các kiến trúc, biểu tượng có diện tích 12,5ha. Có thể coi đây là một trung tâm tâm linh, lịch sử, văn hoá, mỹ thuật, kiến trúc và một không gian xanh.

Tượng đài Bác Hồ – sáng tác của nhà điêu khắc Nguyễn Bá Đua, được thể hiện bằng chất liệu đồng tấm, dày 5 ly, có chiều cao 10,8m và trọng lượng 16 tấn. Bức tượng được thực hiện bằng phương thức ép khuôn thuỷ lực từ những lá đồng nguyên chất và hàn lại với nhau theo một quy trình với chất lượng cao, đảm bảo việc chuyển đổi chất liệu đúng nguyên mẫu tượng. Đây là lần đầu tiên tượng đài bằng đồng ở Việt Nam được thực hiện với kỹ thuật ép khuôn hiện đại này với sự tham gia của các nhà khoa học chuyên ngành. Tượng được đặt trên bệ cao 4,5m, lõi là bê tông cốt thép nhưng phủ ngoài được thực hiện bằng đá tảng có tạo hình khối như những ngọn núi của Tây Nguyên. Phía trước bệ tượng có dòng chữ nổi bằng đồng “Chủ tịch Hồ Chí Minh (1891-1969)” cùng một bông hoa sen cách điệu. Phía dưới là tảng đá để đặt các lẵng hoa và hoa kính viếng Bác. Phía sau tượng Bác là bức phù điêu đá có hình cánh cung – sáng tác của nhà điêu khắc Lê Lạng Lương – có chiều dài 58m và chiều cao nhất là 11m, tổng diện tích 600m2 được làm từ đá tự nhiên của Thanh Hoá với khối lượng trên 1000 tấn. Bức phù điêu này được đặt trên bệ cao 1,5m. Nhìn vào tổng thể phù điêu, ta thấy có hình hoa sen cách điệu, nhấp nhô như núi rừng Tây Nguyên, mặt trời và nhà rông. Nội dung phù điêu được chia làm ba phần: Phần chính diện ở giữa thể hiện những hoạt động văn hoá truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên. Phía bên phải có nội dung “Tây Nguyên chiến đấu”. Phía bên trái có nội dung “Tây Nguyên sản xuất”. Phía sau tượng đài Bác Hồ và phù điêu là một ngọn núi nhân tạo có hình dáng mô phỏng núi Hàm Rồng – ngọn núi linh thiêng cao nhất ở cao nguyên Pleiku được trồng cây cỏ, trong tương tai, ngọn núi này sẽ trở thành một rừng cây phía sau tượng đài và phù điêu. Điều đặc biệt của công trình này là không có các lễ đài được xây sẵn. Các nhà thiết kế đã dành khu vực sân đặt tượng đài và phù điêu có diện tích hơn 1000m2 để làm sân biểu diễn nghệ thuật với các bậc có độ rộng 2m ở phía trước để đến ngày lễ khi đặt bàn và ghế sẽ có một lễ đài hoành tráng.

Phía cánh phải và trái của bức phù điêu các dân tộc Tây Nguyên là hai dàn cồng chiêng gồm các chiêng bằng và chiêng núm (biểu tượng của không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên đã được Unesco công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại). Phía trước tượng đài Bác Hồ ở hai bên là đài phun nước. Cách con đường lớn là Quảng trường “Đại đoàn kết” có diện tích 23.823m2 với 205 ô cỏ cùng các đường đi lát đá granit được khai thác và chế tạo ở các nhà máy đá trong tỉnh. Trước nữa là cột cờ cao 25m với lá Quốc kỳ 40m2. Bên trái quảng trường là Thạch thư Bác Hồ bằng khối đá hoa cương cao 6m, rộng 3,5m và dày 2,5m. Mặt trước khắc thư Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tổ chức tại Pleiku ngày 19 tháng 4 năm 1946. Phía bên phải quảng trường là Biểu tượng Đại đoàn kết được tạo hình như một tháp đá ba tầng, cao 12m với 54 trụ đá ba gian tự nhiên – loại đá đĩa ta thấy ở Phú Yên nhưng được khai thác ở một mỏ đá ở tỉnh Gia Lai. Hồ sen Bách tán Hà Nội được chọn giống cùng với bùn Hồ Tây được đưa vào để đảm bảo cho sen được phát triển và có vẻ đẹp như sen Hồ Tây (hồ sen này để gợi nhớ đến Thủ đô yêu quý của cả nước). Phía sau, bên phải của tượng đài là quần thể các bảo tàng, bao gồm Bảo tàng Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên chi nhánh Gia Lai – Kon Tum, Bảo tàng Gia Lai, Bảo tàng Cổ vật Gia Lai, tượng Anh hùng Núp. Bao quanh quảng trường và tượng đài là một vườn Bách thảo với hàng trăm loại cây cỏ của Tây Nguyên và nhiều vùng miền trên đất nước. Nhiều cây thông cổ thụ, cùng với nhiều cây khác được trồng trước đây được giữ gìn nguyên trạng cùng với các loại cây cổ thụ từ các huyện chuyển về trồng và các loại cây khác được trồng mới, đã tạo nên một không gian xanh cho quảng trường, tạo bóng mát cho du khách và cũng là nơi giúp du khách có thêm cơ hội để tìm hiểu về các loại thực vật đặc hữu của đất nước. Ngoài ra các nhà thiết kế quy hoạch còn dành nhiều không gian rộng để có thể tổ chức các hoạt động lễ hội, hội chợ, thể thao, cắm trại,… Đặc biệt, không gian quảng trường không đặt các ghế ngồi như ở các quảng trường khác mà kết hợp thiết kế bệ bao quanh các bồn hoa, hồ sen, cây và những khối đá ba zan được cắt ngắn, xếp đặt tạo thành hàng ngàn chỗ ngồi khắp quảng trường. Cùng với đó là những ki-ốt thấp thoáng trong các vườn cây làm chỗ bán hàng lưu niệm, giải khát phục vụ du khách tham quan.

Có thể nói, công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên và Quảng trường Đại đoàn kết là một quần thể kiến trúc có bố cục tốt, được các nghệ sĩ tạo hình, kiến trúc sư sáng tạo hoàn chỉnh và được các công ty tổ chức thực hiện với tinh thần trách nhiệm và chất lượng cao. Để có công trình hoàn chỉnh cho đến ngày khai mạc, (được nhân dân Gia Lai đánh giá là “niềm tự hào của người Gia Lai”) chúng tôi đánh giá cao sự chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo, tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân và các Sở ban ngành của tỉnh Gia Lai và đặc biệt là đồng chí Phạm Thế Dũng – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật đã biết tập hợp và trân trọng các ý kiến đóng góp của Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam, của các nhà điêu khắc, kiến trúc thuộc hai Hội; không nệ vào bản vẽ đã được phê duyệt, lấy không gian thực để điều chỉnh trong quá trình thực hiện dự án. Qua đó đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, không ngại một số thay đổi chi tiết phát sinh mới nhưng vẫn đảm bảo tiến độ, kỹ thuật, mỹ thuật với chất lượng cao nhất. Công ty này thuộc về công ty TNHH một thành viên Bảo tồn Di sản Văn hoá trực thuộc Hội Di sản Văn hoá Việt Nam do ông Nguyễn Văn Mạc – giám đốc công ty trực tiếp chỉ đạo. Có thành công như hôm nay, còn có sự đóng góp to lớn của lãnh đạo Sở Văn hoá, Sở Xây dựng và các Sở ban ngành, các cán bộ được tỉnh giao theo dõi và thực hiện dự án.

Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên thực sự là một công trình nghệ thuật kiến trúc có chất lượng nghệ thuật cao, là một bài học cho việc tổ chức xây dựng các tượng đài sau này ở Việt Nam.

Mùa xuân này, Bác Hồ đến với các đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Cây ở quảng trường xanh lá, nở hoa. Lòng người Tây Nguyên rạo rực trong niềm vui Mừng Đảng, Mừng Xuân, Mừng Bác Hồ với một công trình văn hoá có ý nghĩa lịch sử và nhân văn tiêu biểu của đồng bào dân tộc Tây Nguyên… và là niềm vui chung của những người đã tham gia xây dựng công trình và là niềm tự hào của tất cả chúng ta.

Trần Khánh Chương
vietnamfineart.com.vn

Mùa Xuân đầu tiên Bác Hồ trở về Pác Bó

(PL&XH) – Sau 30 năm xa Tổ quốc, ngày 28-1-1941 (mùng 2 Tết Nguyên đán năm Tân Tỵ), Bác Hồ qua cột mốc 108 biên giới Việt – Trung về Việt Nam. Nơi đây thuộc dãy núi cao được Bác đặt tên là núi Các Mác.

Dưới chân núi có hồ nước lớn trong xanh, nơi bắt đầu dòng suối chảy uốn quanh đổ xuống đồng bằng của bản Khuổi Nậm, Bác đặt tên là suối Lê-nin. Cột mốc 108 nằm trên núi cao cách chân núi chừng nghìn mét thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ngay trong tiết xuân ấm áp của ngày đầu trở về Tổ quốc, Bác đã có cảm hứng với cảnh vật nơi này nên làm bài thơ đầu tiên tựa đề “Pác Bó hùng vĩ”:

Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Ở lưng chừng núi gần cột mốc 108 là hang Pác Bó, nơi Bác chọn làm chỗ ở  ngay sau khi trở về nước. Dưới chân núi có chiếc bàn đá làm việc của Bác nằm bên cạnh đầu nguồn của suối Lê-nin. Chiếc bàn đá và cửa hang trên sườn núi nhìn xuống hồ nước trong xanh, thấy cá lội và bóng cây rừng, núi đá.

Sự kiện Bác Hồ trở về nước vào đầu năm 1941 là sự kiện lớn của lịch sử đấu tranh cách mạng của đất nước và dân tộc Việt Nam, đã làm thay đổi tình hình cách mạng trong nước. Đây là mốc lịch sử quan trọng dẫn tới cuộc cách mạng tháng Tám 1945 và ngày 2-9-1945, Bác đọc Tuyên ngôn độc lập tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa .

Bác Hồ về thăm lại Pác Bó (Cao Bằng – 1961)

Theo biên niên sử Hồ Chí Minh, từ ngày 11-11-1924, Bác Hồ từ Mát-xcơ-va (Nga) về tới Quảng Châu (Trung Quốc) lần đầu. Khoảng thời gian 1925-1927, Người mở lớp huấn luyện chính trị cho các thanh niên yêu nước từ trong nước tới đây với giáo trình là sách “Đường kách mệnh” và thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam). Do Sở Mật thám Anh truy lùng, Bác phải trở lại Nga. Ngày 25-4-1928, Người được Quốc tế cộng sản cử trở về Đông Dương theo nguyện vọng. Người tới Thái Lan ở một thời gian rồi về lại Hồng Kông (Trung Quốc) tiến hành thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 3-2-1930.

Năm 1931, Người trở lại Mát-xcơ-va và năm 1938 về lại Quảng Châu. Trong năm 1939, Người di chuyển tới các thành phố Quế Lâm, Liễu Châu, Nam Ninh, Long Châu, Quý Dương, Côn Minh nằm dọc theo cuộc trường chinh vĩ đại của Đảng và đoàn quân giải phóng Trung Quốc từ Nam lên Bắc.

Đầu năm 1940, Bác Hồ gặp các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp ở Côn Minh từ Việt Nam sang. Sau ngày 20-6-1940, được tin Paris (Thủ đô Pháp) bị quân Đức chiếm, Bác  triệu tập cuộc họp Ban hải ngoại của Đảng, phân tích: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Đầu tháng 1-1940, tại Tĩnh Tây (tỉnh Quảng Tây) cách biên giới Trung Quốc – Việt Nam 50km, Bác cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp tổ chức lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị gần một tháng rồi cùng các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp và Hoàng Văn Lộc lên đường về nước.

Lớp huấn luyện cấp tốc này dành cho những cán bộ cách mạng và người yêu nước từ trong nước sang để chuẩn bị cơ sở “nhân hòa” cho “thời cơ” và “địa lợi” cách mạng mới. Đây là thời kỳ sau ngày khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ, vừa là thời cơ, đồng thời là thách thức vì cuộc nổi dậy của nhân dân đã có sự lãnh đạo của Đảng.

Lúc ấy, Bác còn nói: “Trước tình hình mới, vấn đề đoàn kết dân tộc càng quan trọng, ta phải nghĩ đến việc lập một Mặt trận rộng rãi, có hình thức và tên gọi cho thật thích hợp. Việt Nam giải phóng đồng minh? Hay Việt Nam độc lập đồng minh? Theo ý Bác, nên lấy tên Việt Nam độc lập đồng minh”.  Ý kiến đó của Bác được đem ra thảo luận trong Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ 8 của Đảng ngày 19-5-1941 và tên chính thức của Mặt trận được gọi tắt là Việt Minh.

Đối với Bác, đó là ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời làm cách mạng của mình. Sau đó, Bác đi tìm một chỗ ở kín đáo hơn. Đó chính là hang Pác Bó (Cốc Bó) nằm ở lưng chừng sườn núi Các Mác. Hôm Bác rời về ở trong hang là 8-2-1941, tức đúng 12 ngày sau ngày về nước.

Bước chân đầu tiên về đất mẹ cũng là giây phút Người lắng nghe sự sống của sinh thể đất nước đang phôi thai. Nhà thơ Chế Lan Viên đã diễn tả lại hình ảnh ấy bằng những câu thơ đầy xúc động:

“Kìa! Bóng Bác đang hôn lên hòn đất.
Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai”.

Bác về nước đúng vào mùa xuân, mùa tươi đẹp nhất của đất trời, mùa của trăm hoa đua nở, mùa của lộc biếc chồi xanh, vạn vật như khoác lên mình sắc áo mới hứa hẹn một tương lai tươi sáng ở phía trước. Người về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cả thiên nhiên đất trời như reo vui:

“Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt.
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ.
Bác về… im lặng. Con chim hót.
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”.

                                (Theo chân Bác của Tố Hữu)

Chỉ hơn bốn năm sau, ngày 2-9-1945, sơn hà của Tổ quốc đã được thu về một mối, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau. Hồ Chí Minh trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và mùa Xuân độc lập đầu tiên, Xuân Bính Tuất năm 1946 đã trở về trên toàn cõi đất nước ta.

Sự kiện Bác Hồ về nước mùa Xuân năm 1941 là một mùa xuân đặc biệt trong cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân của Người, vì đó là mùa xuân đầu tiên Bác Hồ trở về Tổ quốc, kết thúc chặng đường dài sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, hoạt động ở nước ngoài, để rồi từ đó trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và cùng Đảng ta đem lại những mùa xuân cho dân tộc, chấm dứt trăm năm nô lệ tăm tối. Đã bảy mươi hai mùa xuân trôi qua nhưng hình ảnh khi lần đầu tiên Bác trở về với Tổ quốc sau 30 năm xa cách ấy vẫn mãi không phai nhòa trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Mỗi chúng ta đều không khỏi bồi hồi xúc động và thành kính tưởng nhớ đến Bác Hồ kính yêu đã hy sinh trọn đời mình cho dân tộc, đã dành cả cuộc đời chăm lo cho hạnh phúc nhân dân mà không gợn chút riêng tư để đất nước hôm nay trọn niềm vui độc lập tự do và đổi mới phát triển.  Càng nhớ Bác Hồ, mỗi người chúng ta hôm nay càng phải thực hiện tốt Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, tạo thành nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cùng thi đua, phấn đấu thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong thời kì cách mạng mới, xứng đáng với lòng mong ước của Bác Hồ kính yêu “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Phong Anh (Biên soạn)
phapluatxahoi.vn

Từ “XUÂN” trong thơ Bác Hồ

Chúng ta đều biết từ XUÂN có nghĩa gốc (nghĩa đen) là mùa xuân. Nhưng từ nghĩa gốc đó, từ XUÂN còn được dùng với nghĩa rộng và nghĩa bóng. Hãy đọc thơ văn Bác Hồ để thấy Bác đã sáng tạo, biến hóa tài tình trong cách dùng từ XUÂN.

Trong thơ chúc Tết, từ XUÂN được Bác dùng để chỉ thời gian một năm:

Xuân này kháng chiến đã năm xuân
Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công

          (Thơ chúc Tết Tân Mão – 1951)

Thơ cổ thường dùng thu, đông để chỉ một năm (Ba thu dọn lại một ngày dài ghê – Truyện Kiều). ở đây, Bác lại dùng XUÂN, 5 xuân tức là 5 năm. Thật là mới mẻ, sáng tạo và phù hợp với không khí một bài thơ xuân.

Bác còn dùng XUÂN để chỉ tuổi – tuổi của Nước và của Đảng:

Mừng Nhà nước ta mười lăm xuân xanh!
Đảng chúng ta ba mươi tuổi trẻ!

(Thơ mừng năm mới- Xuân năm 1960)

Từ XUÂN được kết hợp với xanh thành xuân xanh để chỉ tuổi trẻ. Câu trên “mười lăm xuân xanh”, câu dưới “ba mươi tuổi trẻ” làm cho ý thơ khoẻ khoắn, phơi phới niềm tin, cảm hứng thơ xuân in rõ dấu ấn thời đại.

Trong thơ nói về tuổi già, từ XUÂN được Bác dùng như một tính từ đối lập với già là trẻ:

Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán,
So với ông Bành vẫn thiếu niên

(Sáu mươi tuổi – năm 1950)

Người viết câu thơ ấy phải trẻ trung và yêu đời biết bao! “Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười- Quên tuổi già tươi mãi tuổi đôi mươi” (Tố Hữu). Ngay cả khi sắp từ giã cuộc sống thì sự trẻ trung và yêu đời ấy vẫn thấm trong Di chúc, trong một từ XUÂN kỳ diệu: “Khi người ta đã “ngoài 70 xuân…” ( “ngoài 70 tuổi” gợi ý già nhưng “ngoài 70 xuân” thì lại đầy sức trẻ).

Từ XUÂN còn được Bác dùng để nói lên niềm vui và sự chiến thắng. Trong bài thơ cuối cùng trước lúc Bác đi xa, niềm vui ấy vẫn bừng sáng lên một sắc xuân chiến thắng:

Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn
Một năm là cả bốn mùa xuân

(Không đề – Khương Hữu Dụng dịch)

Trong nguyên văn: Một năm cả bốn mùa đều là xuân, có nghĩa là cả bốn mùa đều tràn đầy niềm vui và chiến thắng.

Những từ XUÂN nói trên Bác dùng thật tài tình, biến hoá. Nhưng sáng tạo nhất, hàm chứa nhiều ý nghĩa phong phú nhất, phải nói đến từ XUÂN trong câu thơ về Tết trồng cây Bác viết vào mùa xuân 1965:

Mùa Xuân là Tết trồng cây,
Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân.

XUÂN ở đây là tính từ, bao hàm nhiều nghĩa: Xanh tươi, trẻ, đẹp, trù phú, đầy sức sống, đầy sức phát triển… để nói lên đất nước trong mùa xuân vĩnh viễn mở ra một tương lai bát ngát bởi lòng người viết cũng tràn đầy sức XUÂN.

Xuân Nguyên
dostquangtri.gov.vn