“Đại đoàn kết”, “Đại thành công” trong thơ chúc Tết của Bác Hồ

Đoàn kết vốn là truyền thống quý báu trong lịch sử giữ nước của nhân dân ta. Ngay trong tác phẩm “Đường cách mệnh” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc được “Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức” xuất bản mùa xuân năm Đinh Mão 1927 tại Quảng Châu, Người đã khẳng định:

“Đoàn kết là nhân tố đảm bảo thắng lợi của cách mạng. Đoàn kết công nông Việt Nam với công nhân Pháp cùng làm cách mạng thì mau thành công”.

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”.

Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, khẩu hiệu 14 chữ “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công” đầy ý nghĩa chiến lược đã được các thế hệ của 54 dân tộc anh em thuộc lòng và làm theo.

Có một chuyện thật ngoài đời, bây giờ được nghe, nhiều người coi như huyền thoại của lịch sử: Sau Tết Đinh Hợi năm 1947, cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra trong phạm vi cả nước, các cơ quan Trung ương đã chuyển lên A.T.K Việt Bắc làm việc ở lán trong rừng, cán bộ, bộ đội sống xen với bà con dân tộc, ngôn ngữ bất đồng, phong tục tập quán chẳng giống nhau, đôi khi phát sinh một số va chạm nhỏ.

Để giáo dục cán bộ, bộ đội, công nhân và cả bà con từ tứ phương tản cư đến, trong vườn rau của Bác, Người đã trồng một giàn bầu, bí cùng “leo chung một giàn”, dây nào cũng đơm hoa, kết trái, ai đi qua cũng thích mắt, dừng chân ngắm nhìn. Một cán bộ nông vận thấy lạ, mạnh dạn hỏi Bác tại sao Bác không trồng mỗi loại cây ở một giàn khác nhau? Bác mỉm cười nói: “Chú có nhớ câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng/Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” không? Bác trồng như thế để mọi người phải nhớ “đoàn kết” với nhau mà làm việc, ai cũng phải đoàn kết dân tộc, đoàn kết ngược xuôi, đoàn kết công nông, quân dân đoàn kết tạo nên sức mạnh vô địch để vừa kháng chiến, vừa kiến quốc thành công”.

Không lâu sau đó, lời dạy bất hủ của Hồ Chủ tịch qua giàn bầu bí chung sống một giàn lan truyền khắp nơi, mọi người thấm thía, thi đua làm theo lời dạy của Bác Hồ.

Vấn đề “đoàn kết” không chỉ được Bác nêu ra trong các hội nghị, trên các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Chính phủ mà trong nhiều bài thơ chúc mừng tân xuân, Bác cũng đề cập vấn đề có ý nghĩa sống còn này.

Bài thơ chúc Tết Nhâm Ngọ 1942 ở căn cứ địa Cao Bằng, Người viết: “… Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong/Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi/ Chúc đồng bào ta “đoàn kết” mau/Chúc Việt Minh ta càng tiến tới/Chúc toàn quân ta trong năm này/Cờ đỏ ngôi sao bay phấp phới/Năm này là năm ăn Tết vẻ vang/Cách mệnh thành công khắp thế giới”.

Mừng Xuân Mậu Tý 1948, sau chiến thắng Việt Bắc ít lâu, Bác viết:

“Gửi lời chúc đồng bào.
Kháng chiến được thắng lợi.
Toàn dân “Đại đoàn kết”, cả nước dốc một lòng.
Thống nhất chắc chắn được.
Độc lập quyết thành công”.

Năm năm sau, chiến dịch giải phóng Tây Bắc kết thúc thắng lợi, chuẩn bị giảm tô và cải cách ruộng đất, Bác viết trong thơ mừng Xuân Quý Tỵ 1953: “Mừng năm Thìn vừa qua/Mừng năm Tỵ vừa tới/Mừng phát động nông dân/Mừng hậu phương phấn khởi/Mừng tiền tuyến toàn quân/Thi đua chiến thắng mới/Mừng toàn dân “Kết đoàn”/Mừng kháng chiến thắng lợi…”.

Năm Giáp Ngọ 1954, ta mở chiến dịch Điện Biên, giai cấp địa chủ bước đầu bị đánh đổ, Bác chúc quân dân cả nước một bài dài:

“Năm mới, quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành
Đẩy mạnh kháng chiến để giành độc lập tự do,
Cải cách ruộng đất là công việc rất to,
Dần dần làm cho người cày có ruộng khỏi lo nghèo nàn,
Quân và dân ta nhất trí “Kết đoàn”
Kháng chiến kiến quốc nhất định hoàn toàn thành công…”.

Đón Xuân Bính Thân 1956, Bác đã chúc: “Toàn dân “Đoàn kết” một lòng/Miền Bắc thi đua xây dựng/Miền Nam giữ vững thành đồng…”.

Năm Kỷ Hợi 1959, miền Bắc đang sôi nổi thực hiện công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế sau chiến tranh, thơ chúc Tết năm ấy ngắn gọn 4 câu, 24 chữ, Bác đã viết: “Chúc mừng đồng bào năm mới/“Đoàn kết” thi đua tiến tới/Hoàn thành kế hoạch ba năm/Thống nhất nước nhà thắng lợi”.

Năm Canh Tý 1960, năm nhà nước 15 xuân xanh, Đảng 30 tuổi trẻ, cả nước tràn ngập niềm vui mừng xuân và đón nghe, đọc thơ chúc Tết của Người:

“Mừng nhà nước ta 15 xuân xanh,
Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ,
Chúc đồng bào ta “Đoàn kết” thi đua,
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa,
Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh,
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ,
Cả nước một lòng hăng hái tiến lên,
Thống nhất nước nhà Bắc Nam vui vẻ”.

Qua năm Tân Sửu 1961, cả nước triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm đầu tiên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội III của Đảng họp lần đầu tiên ở thủ đô Hà Nội, Bác chúc: “Miền Bắc hăng hái thi đua/Chúc miền Nam “Đoàn kết” tiến tới/Chúc hòa bình thống nhất thành công/Chúc chủ nghĩa xã hội thắng lợi”.

Sang năm Bính Ngọ 1966, quân viễn chinh Mỹ đã rải khắp miền Nam, cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân ngày càng ác liệt, trong thơ chúc Tết năm ấy Bác đã viết:

“… Mừng miền Nam rực rỡ chiến công. Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng/Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng/Đồng bào cả nước “Đoàn kết” một lòng/Tiền tuyến, hậu phương toàn dân cố gắng. Thi đua sản xuất chiến đấu xung phong/Chống Mỹ, cứu nước ta nhất định thắng”.

Thơ chúc Tết các năm khác, tuy Người không nói “Đoàn kết, kết đoàn”, nhưng Người đã nêu những thực tế của lịch sử cách mạng chỉ có kết đoàn, đoàn kết mới có được, như thơ chúc Tết Mậu Thân 1968: “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta”. Bác khẳng định như thế là có cơ sở, và thực tế đã chứng minh rằng nhờ “Đoàn kết” mà chúng ta đã phát huy được sức mạnh toàn dân chiến đấu.

Đoàn kết là truyền thống vĩnh cửu trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc ta, giúp dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, thôn tính sau một thiên niên kỷ “Bắc thuộc”. Trong thời đại Hồ Chí Minh, cũng chính nhờ chiến lược đoàn kết kháng chiến của Đảng, Bác Hồ đề ra mà chúng ta đã đánh thắng hai đế quốc là Pháp và Mỹ.

Thái Sơn
baotintuc.vn

Xuân về nhớ Bác Hồ

Lời của Bác - Lời của non sông(NTO) Mùa xuân là khoảng thời gian khởi đầu của một năm, thiên nhiên giao hòa sinh sôi nảy nở trong không gian ngọt ngào, ấm áp và lòng người cũng rạo rực những niềm vui, chứa chan bao ước mơ, hy vọng. Đối với dân tộc Việt Nam ta, mùa xuân về lại càng thiêng liêng, ý nghĩa hơn bởi chúng ta có Bác. Bác đã mang về những mùa xuân ấm no, hạnh phúc cho Đảng, cho dân và chính Người cũng là mùa xuân trường tồn tươi đẹp nhất trong trái tim dân tộc.

Mùa xuân năm 1930, ngày 3 tháng 2 (tức ngày mùng 5 tết Canh Ngọ), hoa Mộc Miên đua nhau khoe sắc, đỏ rực cả thành phố Cửu Long – Hương Cảng- Trung Quốc. Trong ngôi nhà cũ nhỏ bé của một đồng chí công nhân, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước ta để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chiều ngày cuối cùng của hội nghị, Bác tổ chức một bữa liên hoan nhỏ ngay tại phòng ở của Người. Khi các đại biểu đã ngồi chung quanh bàn, Bác xúc động nói: “Các đồng chí, hôm nay, ngày lịch sử của chúng ta! Lê-nin vĩ đại đã nói, chỉ có đảng nào có được một lý luận tiên phong mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ chúng ta đã có một đảng như thế rồi. Nhân dân ta từ xưa đã có truyền thống đấu tranh anh dũng nhưng suốt những năm ấy, nhân dân ta thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây, Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đi đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

Mùa xuân năm 1930, đối với Bác là “mùa xuân sung sướng nhất của cuộc đời”, riêng với dân tộc ta, còn một mùa xuân kỳ diệu nữa đó ngày Người trở về Tổ quốc sau ba mươi năm xa cách mang theo sắc xuân bất diệt cho đất nước Việt Nam:

“Ôi, sáng xuân nay, xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về. Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”

                                                 (Tố Hữu)

Mùng 2 Tết Tân Tỵ ( ngày 28 tháng 1 năm 1941), sau ba mươi năm đón xuân nơi “đất khách, quê người”, Bác Hồ đã về đến Tổ quốc thân yêu. Sáng hôm đó, sau khi đi thăm, tặng quà và chúc tết bà con hai thôn Nậm Quang, Nậm Tẩy (Trung Quốc), Người lên đường về nước. Đến cột mốc biên giới 108, Bác dừng lại cúi đọc những dòng chữ khắc sâu trên đá rồi đứng lặng hồi lâu hướng tầm mắt nhìn về phía dải đất Tổ quốc điệp trùng. Đất trời đang vào xuân, hoa nở thắm núi rừng. Đất nước trải qua bao đau thương mà vẫn đẹp một cách kỳ lạ, vẫn hồng hào sức sống bất diệt của hàng ngàn năm lịch sử.

Và cũng chính mùa xuân đầu tiên ấy, từ nơi đầu nguồn thiêng liêng, Người đã cho ra đời bài thơ xuân tuyệt tác:

Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lê-nin kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Đúng như lời khẳng định của Người, chỉ hơn bốn năm sau, giang sơn Tổ quốc đã thu về một mối. Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và Người chính là vị Chủ tịch nước đầu tiên. Mùa xuân năm 1946- xuân Bính Tuất là mùa xuân độc lập đầu tiên của toàn dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên nhân dân Hà Nội, nhân dân cả nước được hưởng một mùa xuân mới mẻ, trọn vẹn và ý nghĩa. Khắp mọi nơi người dân đều nghĩ đến Tết sớm hơn mọi năm. Đối với Bác, mặc dù bận trăm công nghìn việc của Chính phủ mới, nhưng Người vẫn không quên lo Tết cho đồng bào, chiến sĩ.

Sáng 20-1-1946, Bác viết thư kêu gọi đồng bào nhân dịp Tết sắp đến. “ Dân ta là một dân tộc giàu tình bác ái. Trong lúc này, toàn Tổ quốc, đồng bào ta, từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ăn tết mừng xuân. Tôi kêu gọi đồng bào và các đoàn thể làm thế nào để chia sẻ cuộc vui Xuân mừng Tết với những chiến sĩ oanh liệt ở trước mặt trận, những gia quyến các chiến sĩ, những đồng bào nghèo nàn, sao cho mọi người đều được hưởng các thú vui về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập”.

Chiều hôm đó, Bác lại viết thư gửi các thanh niên và nhi đồng toàn quốc- những mầm non của Đảng, chủ nhân tương lai của đất nước. Bức thư ngắn gọn nhưng phơi phới sắc xuân, căng tràn sức trẻ :”Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội… Năm mới, chúng ta thực hành đời sống mới để trở nên những công dân mới, xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

Đêm 30 Tết, ngày 1-2-1946, khi đồng bào thủ đô quây quần đoàn tụ bên gia đình chuẩn bị đón giao thừa thì Bác kính yêu của chúng ta cũng “bí mật” đi đón tết với nhân dân. Người đã cùng các đồng chí cán bộ đến từng con phố, ngõ hẻm ở phố Sinh Từ, Hàng Lọng, Hàng Vải… để thăm và chúc tết đồng bào. Cũng chính trong đêm ba mươi đó Bác đã tận mắt chứng kiến cảnh một người đạp xích lô ngoại tỉnh không có tiền về quê ăn tết, trên bàn thờ chỉ có duy nhất một nén nhang đang cháy dở còn chủ nhà thì đắp chiếu nằm rên vì sốt cao mê mệt. Người lặng lẽ kéo chăn đắp cho anh, lau nước mắt và khẽ đóng cửa bước ra. Trên đường đi, Bác khẽ nói “Ba mươi Tết mà không có tết” như để tự nhắc nhở mình về trách nhiệm chăm lo tết cho những người nghèo. Người còn dặn đồng chí Vũ Kỳ nhớ ghi địa chỉ để ngày mai mang thuốc và quà tết đến thăm hỏi người bệnh.

Cũng chính trong thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới của Tết Độc lập đầu tiên ấy, có ai ngờ rằng khi Đài tiếng nói Việt Nam trang trọng truyền đi khắp đất nước lời chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì chính Người lại đang vui xuân cùng nhân dân ở đền Ngọc Sơn, trong vai một cụ già cùng cháu đi hái lộc.

Kể từ năm 1946 cho đến khi qua đời, trong suốt 24 năm giữ cương vị là người đứng đầu Đảng và Chính phủ, không một phút nào Người không nghĩ đến dân tộc, đến nhân dân. Người suốt ngày làm việc, suốt đời làm việc vì độc lập của dân tộc và hạnh phúc của đồng bào. Kể cả trong những ngày Tết, Bác cũng không ngơi nghỉ. Thường thì trước Tết ba tháng, Bác đã nhắc nhở các cơ quan, ban, ngành chuẩn bị Tết cho nhân dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc: tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới; nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp “Chúc mừng năm mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo và cán bộ công tác ở nước ngoài, và cuối cùng là một chương trình đi thăm hỏi, chúc tết nhân dân, các cơ quan, đơn vị, một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

Đối với Bác, việc đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sĩ là một lẽ tự nhiên bởi Người luôn quan niệm nước Việt Nam là đại gia đình của Người. Người về với nhân dân cũng là về với gia đình ruột thịt của mình. Không chỉ có vậy, Bác còn luôn xác định việc đón tết cùng với đồng bào sẽ là cơ hội tốt để Người tận mắt chứng kiến những niềm vui, nỗi buồn cũng như trực tiếp lắng nghe những tâm tư, tình cảm, ước mơ, khát vọng của nhân dân trước thềm năm mới. Đó là một niềm vui, niềm hạnh phúc lớn của Người.

Có rất nhiều những câu chuyện cảm động kể việc niềm vui bất ngờ của những gia đình nghèo khổ khi được đón Bác đến vui xuân. Trong đó có câu chuyện của gia đình chị Tín, một người gánh nước thuê ở ngõ 16 phố Lý Thái Tổ, Hà Nội. Năm đó là tết Nhâm Dần (1962). Chồng chị mất sớm, một mình chị Tín gánh nước thuê lấy tiền nuôi bốn con còn nhỏ. Chính vì thế dù trong đêm 30 mưa phùn gió rét chị vẫn chưa được nghỉ. Với đôi thùng trên vai, chị vừa ra đến ngõ thì gặp Bác. Quá bất ngờ trước sự xuất hiện của Người, đôi thùng trên vai chị rơi xuống đất. Tay chị run run trong bàn tay ấm áp của Bác, chị nói trong tiếng nấc nghẹn ngào:“Có bao giờ Chủ tịch nước lại đến thăm mẹ con cháu!”.Bác cười hiền từ an ủi chị:“Bác không đến thăm những người như mẹ con cô thì còn thăm ai”.

Không chỉ đón tết cùng với các gia đình, Bác còn đến với các cơ quan, đơn vị vừa là để thăm hỏi, động viên, đồng thời Người cũng chỉ ra phương hướng, kế hoạch hành động, tiếp thêm sức mạnh, niềm tin cho một năm mới phát triển và thắng lợi. Những chuyến viếng thăm của Bác thường là không báo trước, có khi Người ghé thăm công nhân nhà máy điện Yên Phụ, nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, Dệt kim Đông Xuân; có lúc lại về vui tết cùng nông dân các Hợp tác xã Nông nghiệp vùng ngoại thành Hà Nội, Văn Phú (Hà Tây), hay vịnh thơ xuân cùng cán bộ và chiến sỹ bộ đội phòng không và không quân ở sân bay Bạch Mai…

Tết Kỷ Dậu (1969), có lẽ linh cảm đây là cái Tết cuối cùng của mình nên dù sức khỏe giảm sút nhiều, Bác Hồ vẫn đặt chương trình đi thăm, chúc Tết nhiều nơi và đi trồng cây. Để không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của Bác, các đồng chí ở văn phòng phục vụ Bác đã khéo sắp xếp theo mong muốn của Người. Sáng ngày 16-2-1969 (tức ngày mùng 1 Tết Kỷ Dậu), Bác đi thăm bộ đội Quân chủng Phòng không – Không quân ở Bạch Mai. Tiếp đó, Người về thăm và trồng một cây đa ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Tây. Những người trực tiếp phục vụ Bác Hồ có kể lại rằng, hôm ấy, trồng cây xong đã gần trưa, đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã đã xin mời bác ăn bữa cơm Tết cùng địa phương. Nhưng Bác bảo, Bác cảm ơn, vì những người giúp việc đã chuẩn bị cơm cho Bác rồi. Và Bác mời đồng chí Bí thư, Chủ tịch, chị Phó Chủ tịch xã sang ăn cơm cùng Bác. Đây cũng là lần cuối cùng và là cây cuối cùng Bác trồng để gieo mầm cho sự sống đời sau.

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, cũng đã hơn 40 cái tết, đồng bào và chiến sĩ cả nước không được nghe thơ xuân của Bác, không được đón Bác đến thăm và chúc Tết. Nhưng trong trái tim và khối óc của triệu triệu người dân Việt Nam, lời nói trầm lắng, ánh mắt dịu hiền, nụ cười nhân hậu và những việc làm đầy ý nghĩa của Người từ những mùa xuân lịch sử vẫn sáng mãi, ấm mãi đến hôm nay và mãi mãi mai sau, tiếp thêm sức mạnh, nghị lực, niềm tin để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước trên con đường xây dựng đất nước văn minh, giàu mạnh.

Bùi Thị Thủy
laodong.com.vn

Xuân về trên quê hương những người mang họ Bác Hồ

A Lưới không những nổi tiếng là vùng chiến khu cách mạng của Thừa Thiên – Huế, mà nơi đây còn ghi dấu ấn của các dân tộc thiểu số như Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu, Pa Hy… một lòng sắt son với Đảng, với Bác Hồ.

Người là niềm tin tất thắng

Nhớ lại thời kỳ đầu mới giải phóng, được cử đi công tác ở A Lưới ai cũng ái ngại. Còn ấn tượng đối với A Lưới hôm nay là tuyến đường Hồ Chí Minh – con đường huyền thoại – chạy dọc theo huyện lỵ A Lưới, kéo theo đời sống đồng bào không ngừng phát triển, đi lên…

Nhớ mãi, năm 1969, khi nghe tin Bác Hồ mất, đồng bào ở nơi đây đã đồng loạt lấy họ Hồ của Bác làm họ cho chính mình. Ngày đó, vùng miền Tây Thừa Thiên – Huế ai cũng xúc động khi “muối Cụ Hồ, rựa Cụ Hồ, gạo Cụ Hồ” đến với đồng bào trong những năm tháng chiến tranh ác liệt. Cũng chính từ ngày có Bác Hồ giúp gạo, muối, áo quần, được cán bộ Cụ Hồ dạy cái chữ, đồng bào đã thoát u mê tăm tối. Vì vậy, đồng bào nguyện một lòng đi theo ánh sáng cách mạng, phục vụ chiến đấu. Nhiều gia đình cả vợ, chồng và các con đều đi vận chuyển lương thực, vũ khí ra tiền tuyến đánh Mỹ. Gia đình Hồ A Nun, Hồ Dục thường xuyên gùi hàng, vũ khí vượt mưa bom bão đạn ra tiền tuyến, đã được Nhà nước phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đất nước thống nhất, hiện tính ra ở A Lưới có hơn 11.800 đồng bào thiểu số mang họ Hồ và thực sự đổi đời theo sự đi lên của dân tộc. Con em của họ trước đây chỉ biết lên nương, rẫy nay đã được học hành. Những cử nhân đại học, kỹ sư nông nghiệp người Pa Cô, Tà Ôi… hiện không còn là điều hiếm. Đến nay, đã có 12 Phó Chủ tịch UBND xã ở huyện A Lưới là người dân tộc, họ đang từng ngày từng giờ phấn đấu đổi thay mảnh đất A Lưới. Điển hình là Kê Sửu, người dân tộc đầu tiên ở A Lưới bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, hiện chị là Trưởng ban Dân tộc tỉnh.

Những năm trước đây, lên A Lưới phải đi vòng qua Đăckrông (Quảng Trị) trên quãng đường dài tới 220 km, gần hai ngày ngồi ô tô mới đến nơi. Nay, từ Huế đi A Lưới theo đường mới mở chỉ với 70 km, mất khoảng gần 2 giờ đồng hồ thì đến nơi. Ấn tượng đối với A Lưới hôm nay là tuyến đường Hồ Chí Minh – con đường huyền thoại – chạy dọc theo huyện lỵ A Lưới dài đến đâu, nhà cửa, phố xá kéo theo đến đó. Đêm đêm, nhà cửa, phố xá đèn điện sáng trưng, không còn cảm giác đó là thị trấn của một huyện vùng cao. Càng bất ngờ hơn khi đến xã Nhâm, phần đông đồng bào các dân tộc ở đây được thu nhận vào làm công nhân nông trường, đi chăm sóc cà phê bằng xe máy. Mới đưa vào trồng thử từ năm 1996, năm nay A Lưới dự tính phát triển thêm 1.000 ha, nâng tổng diện tích cà phê toàn huyện lên khoảng 1.800 ha. Quá trình chăm sóc, người dân còn được nông trường đầu tư phân bón và hoàn trả tiền đầu tư sau khi có sản phẩm thu hoạch, nên nhận được dân đồng tình và hưởng ứng cao. Ngoài diện tích cà phê nông hộ của mình, hiện có hơn 1.000 hộ nhận khoán, chăm sóc và hưởng lợi trên toàn bộ diện tích của nông trường theo thoả thuận với người lao động. Huyện tiếp tục phối hợp với các cơ quan chuyên môn tổ chức tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ thuật chăm sóc cây cà phê cho đồng bào các dân tộc, phấn đấu đưa năng suất khoảng từ 4-5 tấn/ha như hiện nay lên hơn 10 tấn/ha.

Người dân ở A Lưới còn tham gia làm công nhân ở công trường Thủy điện A Lưới. Ngày chặn dòng, nhiều già làng, gái trai các bản làng vui như ngày hội, thức trắng đêm chứng kiến dòng sông A Sáp, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn đại ngàn hùng vĩ phải khuất phục. Cán bộ và nhân dân A Lưới hiểu rằng, nay mai nguồn điện từ A Lưới sẽ thắp sáng ước mơ, biến vùng đất nghèo khó này cùng Thừa Thiên – Huế đi lên. Chính điều đó lý giải vì sao có 1.066 hộ dân trong vùng lòng hồ phải di chuyển đến nơi ở mới để phục vụ cho việc thi công công trình, nhưng mọi việc diễn ra hết sức thuận lợi, bà con đều tự nguyện chuyển đến nơi ở mới, nhường chỗ cho công trình. Công trình thuỷ điện A Lưới có tổng vốn đầu tư là 3.234 tỷ đồng, với công suất lắp máy 170MW (2 x 85MW), sản lượng điện bình quân sau khi đưa vào sử dụng đạt 686,5 triệu KWh/năm. Được khởi công từ tháng 6-2007, đến nay, công trình thuỷ điện A Lưới đang đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, phấn đấu đưa tổ máy số 1 vào phát điện vào tháng 12-2011.

Đến với bản làng vùng cao Hồng Hạ, nơi có 5 dân tộc anh em, gồm: Ka Tu, Pa Cô, Tà Ôi, Pa Hy và dân tộc Kinh sinh sống, bà con biết chung sức trồng mới, bảo vệ làm cho một vùng rừng vốn bị tàn phá trong chiến tranh nay xanh tốt. Đến nay, Hồng Hạ đã trồng được 1.070ha rừng phòng hộ, dẫn đầu các xã trong toàn huyện. Xã tổ chức phát triển kinh tế trang trại, tận dụng nguồn đất bãi bồi đầu nguồn sông Bồ trồng được 50ha cao su tiểu điền, 10ha cây ăn quả, hơn 2.000 hố tiêu. Đời sống nhân dân nâng cao nhờ kinh tế rừng phát triển, toàn xã sắm được 57 chiếc xe máy, 65% số hộ có ti vi, 100% hộ có rađiô. Đối với người Tà Ôi ở A Roàng, còn được cán bộ khuyến nông, khuyến lâm xã, huyện hướng dẫn lập vườn rừng, vườn đồi, vườn nhà để định cư, phát triển chăn nuôi. Nay, toàn xã đã có đàn trâu 249 con, đàn bò 308 con, đàn lợn 300 con, nuôi 60 con dê. Nay, A Roàng không còn hộ phá rừng, bà con đã nhận chăm sóc 500ha rừng đầu nguồn, trồng được 200ha cây bản địa, 200ha cây quế để làm giàu ngay trên chính mảnh đất quê hương mình.

Ngày xuân bên ché rượu nồng, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh – Kê Sửu cho biết: Nếu ai có dịp lên vùng núi phía Tây Thừa Thiên – Huế sẽ cảm nhận được vẻ mặt rạng rỡ đến diệu kỳ của con người nơi đây. Bởi, dòng chữ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” ngày càng ngấm vào máu thịt của họ khiến họ hành động để xứng đáng là con cháu Bác Hồ, con Rồng cháu Tiên. Các em nhỏ không còn lạ với cái chữ; các cụ già được ủ ấm với áo cơm; các chị các mẹ được bồi dưỡng kiến thức, hạch toán kinh tế bên cạnh biết lo toan việc bếp núc, rẫy nương. Các chú, các anh phần nào đã biết chia sẻ công việc gia đình với người phụ nữ… ; và nhiều gia đình nông dân đã vượt qua đói nghèo, vươn lên làm giàu bằng chính bàn tay, khối óc của mình cùng với sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật. Sự tiến triển này được đánh dấu qua kết quả giảm tỷ lệ hộ nghèo năm sau thấp hơn năm trước. Ở A Lưới, nếu tỷ lệ hộ nghèo năm 2005 đến 48,47%, thì nay chỉ còn 17,6%… Môi trường sống xen kẽ, hòa đồng giữa người Kinh và người Thượng trên cùng địa bàn xã, thôn, tổ dân cư ngày càng phát triển. Đó cũng chính là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh và xóa đói giảm nghèo.

Mùa xuân đến, đồng bào dân tộc thiểu số ở đây càng tri ân Đảng, Nhà nước, tổ chức và cá nhân từ thiện đã luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với người vùng cao, vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt khó khăn. Ngoài ngân sách trung ương (7,450 tỷ đồng), năm nay tỉnh đã huy động kinh phí 13,983 tỷ đồng (Trong đó, ngân sách tỉnh 11,519 tỷ đồng; ngân sách các huyện, thị xã, thành phố 264 triệu đồng; nguồn từ mặt trận, đoàn thể và các tổ chức từ thiện 2,2 tỷ đồng) để tặng quà và hỗ trợ cho 93.005 người thuộc đối tượng chính sách, trợ cấp xã hội và hộ nghèo, cận nghèo vui tết, đón xuân.

Mùa xuân mới ở vùng cao A Lưới, Tết no ấm, an lành trong tiếng cồng chiêng của lễ hội Aya (tết truyền thống của các dân tộc thiểu số) vang lên khắp mọi miền, làm cho không khí càng thêm Xuân…

Quốc Việt
congly.com.vn

Bộ mặt thật của “những tổ chức đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam”

Một số phần tử ở trong nước và tổ chức phản động nước ngoài đang lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Chiêu bài đó được một số thế lực thù địch ở nước ngoài phụ họa. Đây là việc làm sai trái cần đấu tranh, phê phán và vạch mặt kịp thời để mọi người thấy được bản chất xấu xa, bộ mặt thật của họ, nhằm góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Gần đây, một số người đã nhen nhóm tổ chức ra những cái gọi là “Đảng Dân chủ nhân dân”, “Đảng Thăng tiến”, Tổ chức 8406, Hội kêu oan, Hội nối vòng tay lớn…, ra Tuyên ngôn tự do, dân chủ cho Việt Nam, v.v và v.v..

Vậy họ là ai? Đó là một số người có quan điểm chính trị cơ hội một cách rõ ràng, hệ thống, có tham vọng chính trị lớn, trong đó có cả những kẻ đội lốt tôn giáo; một số người bất mãn, dao động về chính trị; một số người có nhận thức mơ hồ, không phân biệt được phải trái, đúng sai, bị kích động, lôi kéo, ngày càng lún sâu vào con đường lầm lạc.

Nhìn chung, mục tiêu chủ yếu của họ vẫn là những hoạt động nhằm phủ định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tấn công vào Cương lĩnh, đường lối đổi mới trong xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng ta. Họ tìm mọi cách bóp méo, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta; bôi nhọ quá khứ cách mạng, xuyên tạc lịch sử, hòng chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng với Nhà nước; cô lập, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang; kích động một số trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, học sinh nhẹ dạ cả tin; kích động một số người từng tham gia hoạt động cách mạng trước đây có tâm trạng bất mãn; chia rẽ tôn giáo, dân tộc, chia rẽ miền Bắc với miền Nam… hòng phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mục đích cơ bản của họ là làm suy yếu Đảng, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội; thực hiện đa nguyên, đa đảng, lập các đảng phái phản động nhằm đưa đất nước đi theo con đường khác.

Để đạt mục tiêu đó, họ thực hiện sự kết hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nước, nhưng hướng chính là khơi dậy từ bên trong, tiến tới xây dựng lực lượng chống đối từ trong nước, tạo dựng ngọn cờ, chờ thời cơ để thành lập các tổ chức phản động, công khai đối lập với Đảng Cộng sản. Họ chủ trương tiến dần từng bước: từ nhen nhóm hoạt động bí mật chuyển dần sang hoạt động công khai, từ hoạt động bất hợp pháp chuyển dần sang hoạt động nửa hợp pháp rồi hợp pháp. Họ tạo dựng mối liên hệ giữa các nhóm phản động trong nước, cũng như giữa các nhóm này với những tổ chức phản động của một số người Việt Nam lưu vong và các thế lực thù địch ở nước ngoài để vừa phát triển lực lượng, vừa phối hợp hành động, vừa tạo thêm thanh thế, vừa có thêm viện trợ tài chính, vừa để bảo vệ lẫn nhau.

Gần đây nhất, họ tìm mọi cách phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân, dân tộc ta qua 20 năm đổi mới, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen bức tranh xã hội, hòng gây tâm lý hoang mang, mất niềm tin trong nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Họ đặt ra những điều kỳ quặc như: “Có bao giờ nhân dân Việt Nam lại sống trong cảnh tủi nhục, đau thương như hiện nay không?”. “Có bao giờ dân tộc Việt Nam lại bị chia rẽ, nghi kỵ nhau, hận thù nhau sau những năm tháng cai trị của một chế độ như bây giờ không”? Từ đó, họ đưa ra những điều xuyên tạc, vu cáo trắng trợn: “Hơn nửa thế kỷ áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên đất nước ta, Đảng Cộng sản đã thực hiện chính sách cai trị bằng thủ đoạn và bạo lực. Nhân dân chỉ được phép cúi đầu sợ hãi và sống trong mòn mỏi, tuyệt vọng”. Họ nhắm mắt nói bừa rằng, tất cả những quyền thiêng liêng của dân tộc được nói trong “Tuyên ngôn độc lập” “đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên!”

Họ đã lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để nhen nhóm tổ chức ra những đảng phái; thảo ra những “điều lệ”, “tuyên ngôn”, “cương lĩnh” và đề ra những hình thức, phương pháp hoạt động, hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chống phá Nhà nước, chế độ, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đó chính là bộ mặt thật của cái gọi là “những tổ chức đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam” và đó cũng chính là những hành động vi phạm pháp luật. Việc xét xử nghiêm minh những người vi phạm pháp luật là việc làm bình thường, theo đúng quy định của pháp luật Nhà nước Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế.

Một số thế lực thù địch ở nước ngoài tìm cách tiếp tay, kích động những phần tử chống phá cách mạng Việt Nam, chống phá Nhà nước và chế độ ta. Khi các phần tử này bị xử lý theo pháp luật thì họ kêu la, hò hét rằng, Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, vi phạm tự do tín ngưỡng, đàn áp tôn giáo, đàn áp những người bất đồng chính kiến. Đó là sự xuyên tạc thô bạo, đổi trắng thay đen nhằm che giấu những âm mưu đen tối của họ.

Vừa qua, Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra bản phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền tại các nước trên thế giới năm 2006. Bản phúc trình đề cập đến việc thực thi nhân quyền cũng như những hạn chế của nó tại 196 quốc gia. Đánh giá chung về tình hình nhân quyền ở Việt Nam năm 2006, bản phúc trình đưa ra nhận định mơ hồ, vô văn cứ: “Thành tích nhân quyền của Chính phủ Việt Nam vẫn chưa đạt yêu cầu”. Rằng, “vẫn có việc bắt giữ người vì hoạt động chính trị và đánh đập các nghi phạm”.

Ngày 5-4-2007 vừa qua, đi cùng đoàn Hạ nghị sĩ Mỹ đến thăm Việt Nam có bà L.Xan-chét. Bà ta đã diễn màn kịch về nhân quyền do một nhóm người Việt Nam lưu vong quá khích, lỗi thời trong cái gọi là Đảng Việt Tân dàn dựng trước. Những lời nói và việc làm của bà ta nhằm “kích động” các phần tử đang chống đối lại nhân dân Việt Nam. Phó Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, bà Tôn Nữ Thị Ninh, người trực tiếp tham gia đoàn Quốc hội Việt Nam làm việc với đoàn Hạ nghị sĩ Mỹ, phê phán việc làm này như sau: bà L. Xan-chét đến Việt Nam không phải để tìm hiểu và trao đổi ý kiến, mà để thực hiện một chương trình “can dự” riêng, theo sự xúi giục của một nhóm cử tri cực đoan tại bang Ca-li-phoóc-ni-a (Mỹ) vẫn đang chìm đắm trong quá khứ. Bà ta đã trở thành con tin của nhóm cử tri lỗi thời.

Để tiếp tay cho việc làm thiếu thiện chí của bà L. Xan-chét, trong phiên điều trần về vấn đề nhân quyền của Tiểu ban Tài chính Hạ viện Mỹ vừa qua, dân biểu F.U-ôn-tơ đã đặt câu hỏi: Vì sao ông Đại sứ M. Mơ-rin không lên tiếng về tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, cụ thể là vụ bắt giữ và xét xử cha Lý?

Phải chăng vì những sức ép trên mà ngài Đại sứ Mỹ tại Việt Nam M. Mơ-rin mới lên tiếng kêu gọi Nhà nước ta cởi mở hệ thống chính trị độc đảng và trả tự do cho những người bất đồng chính kiến, trong đó có linh mục Công giáo Nguyễn Văn Lý? Ông ta còn lên giọng kẻ cả rằng: “Vì sự hội nhập quốc tế và phát triển sâu rộng hơn của Việt Nam, Chính phủ Việt Nam cần trả tự do cho những người này và các cá nhân khác ngay…”. Tiếp đó, ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế của Mỹ khuyến nghị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ C. Rai-xơ đưa Việt Nam trở lại danh sách “những quốc gia đặc biệt quan tâm về tôn giáo” (CPC). Quả là những đòi hỏi ngang ngược và phi lý. Thử hỏi, nếu có những kẻ nhen nhóm tổ chức ra những lực lượng chống lại cái gọi là “dân chủ” như ở nước Mỹ, gây mất ổn định chính trị – xã hội, hòng lật đổ chế độ đương thời, thì liệu Chính phủ Mỹ có chịu ngồi yên?

Chúng ta đều biết, bất cứ một nền dân chủ nào cũng gắn với kỷ cương, pháp luật của Nhà nước. Bất cứ sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nào của mỗi công dân trong một xã hội tự do, dân chủ đều không được làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị – xã hội và quyền tự do, dân chủ của những công dân khác cũng như của cộng đồng. Do đó, mọi người phải sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; tất cả những hành động vi phạm pháp luật đều phải bị xét xử. Trong những nơi lưu giữ phạm nhân ở nước ta hiện nay, có người nguyên là tu sĩ, chức sắc tôn giáo và cũng có những người vốn không phải là tu sĩ, tín đồ nào, thậm chí có những người trước đây là cán bộ, đảng viên, nhưng tất cả đều bị xử lý theo pháp luật, vì họ là những người phạm pháp, chứ không phải vì lý do nào khác.

Thật ra, chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tôn giáo được một số thế lực chính trị ở Mỹ sử dụng từ lâu. Muốn trấn áp một dân tộc, quốc gia không chịu khuất phục trước quyền uy của mình, họ thường quy chụp cho cái mũ “vi phạm dân chủ, nhân quyền, tôn giáo” để tạo cớ gây khó dễ mà thôi.

Có thể nói, tôn giáo là một hiện tượng xã hội rất tế nhị, nhạy cảm, bám rễ sâu trong đời sống tư tưởng, tình cảm của nhiều dân tộc và của nhiều thế hệ. Tôn giáo không chỉ quan hệ đến “việc đạo mà cả việc đời”, không chỉ liên quan đến “thế giới bên kia”, mà còn liên quan trực tiếp đến đời sống hiện thực. Trong điều kiện lịch sử hiện nay, sự tồn tại của tôn giáo trong đời sống xã hội vẫn còn là một tất yếu. Tôn trọng niềm tin tôn giáo là tôn trọng quyền con người, quyền công dân của đồng bào tôn giáo. Song, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng phải gắn với việc chống lại những kẻ lợi dụng quyền ấy vào mục đích phi tôn giáo. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng là tôn trọng niềm tin, nghi thức thờ phụng, những sinh hoạt tôn giáo phù hợp với giáo lý kinh thánh, với truyền thống văn hóa dân tộc, góp phần nâng cao đạo đức, nhân cách của con người, chứ không thể chấp nhận những hành vi lợi dụng, đội lốt tôn giáo để làm những điều phi pháp, phản văn hóa, phi nhân tính, đi ngược lại những lời răn dạy của Chúa và những yêu cầu chính đáng của đồng bào tôn giáo, mà điển hình là những việc làm của cha Nguyễn Văn Lý vừa qua. Mỗi tín đồ tôn giáo vừa là thành viên của cộng đồng, vừa là công dân của đất nước, được hưởng quyền tự do tín ngưỡng chính đáng của mình, đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng và chấp hành pháp luật, làm tròn trách nhiệm của công dân đối với Nhà nước, thực hiện sống “tốt đời đẹp đạo”. Đây là điều mà mỗi công dân, mỗi tín đồ tôn giáo ở nước ta đều ý thức rõ, nên đã và đang thực hiện tốt trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng và trong sự nghiệp đổi mới đất nước.

Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đều hiểu rằng, chúng ta còn phải cố gắng nhiều hơn nữa để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, để nhân dân phát huy quyền dân chủ của mình trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Song, về thực chất, nước ta đã thực hiện và bảo vệ dân chủ, nhân quyền tốt hơn hẳn một số nước vẫn rao giảng về dân chủ, nhân quyền.

Từ một nước thuộc địa, dân bị nô lệ, chúng ta đã giành được cái nhân quyền lớn nhất là quyền tự quyết định vận mệnh của mình. Từ một nước nghèo, lạc hậu, chúng ta đã phấn đấu xóa đói, giảm nghèo, nâng trình độ phát triển kinh tế lên ngày một khá hơn. Từ một nước có mặt bằng dân trí thấp, Việt Nam đã là một quốc gia có trình độ văn hóa phổ thông cao hơn mức trung bình của thế giới và là quốc gia đạt chỉ số phát triển con người (HDI) vào hàng cao so với nhiều quốc gia khác. Bên cạnh đó, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững; vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Rõ ràng, sức mạnh tổng hợp của đất nước đã tăng lên nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục phát triển đi lên với triển vọng tốt đẹp.

Gần đây, báo chí nước ngoài đã phản ánh nhiều điều “mắt thấy tai nghe” của du khách quốc tế sau khi tới Việt Nam: Việt Nam ngày nay không chỉ đã khắc phục được những tàn tích của chiến tranh, mà còn chứng tỏ là một quốc gia thiên đường cho du khách quốc tế. Sẽ là hết sức sai lầm nếu ai đó luôn gắn hình ảnh Việt Nam với chiến tranh và sự nghèo đói, mất tự do, dân chủ. Ngược lại, có đến mới biết Việt Nam xinh đẹp và trù phú ra sao. Du lịch chính là cầu nối sự hiểu biết cho những ai vẫn tồn tại quan điểm lệch lạc về Việt Nam. AON, một trong những công ty bảo hiểm lớn nhất toàn cầu, đã xếp Việt Nam vào danh sách những quốc gia có địa điểm du lịch an toàn nhất thế giới. Chính vì vậy, hằng năm số lượng người Việt Nam sống xa Tổ quốc về thăm đất nước luôn luôn tăng; số lượng người nước ngoài đến Việt Nam tham quan, du lịch và ký kết hợp tác làm ăn cũng ngày càng nhiều, thậm chí có không ít người đến hẳn Việt Nam sinh sống và làm việc. Điều đó chứng tỏ, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam luôn được tôn trọng. Mọi người có đủ quyền tự do, dân chủ để cảm thấy mình thoải mái khi sống ở Việt Nam.

Như vậy, nhân quyền không phải là một khái niệm trừu tượng, lại càng không phải là một khái niệm theo hình mẫu áp đặt của ai đó. Chúng ta không tuyệt đối hóa những gì chúng ta đã đạt được, nhưng chúng ta có quyền tự hào chính đáng về sự phát triển vừa lớn lao, vừa cơ bản trong tiến trình đi lên của dân tộc. Điều này ngày càng có nhiều người Mỹ thừa nhận, trong đó có cả những người bình thường, những học giả, có cả những chính khách. Do đó, sự nhận xét sai lệch về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam của một số Hạ nghị sĩ Mỹ không thể đại diện cho tiếng nói của một nước Mỹ chân chính.

Đến nay, quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ đã đạt được những tiến bộ quan trọng theo hướng xây dựng khuôn khổ quan hệ đối tác hữu nghị, hợp tác nhiều mặt, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi. Vì vậy, điều cần làm hiện nay là hai bên cùng nhau đối thoại thẳng thắn, cởi mở về những vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo nhằm tăng cường hiểu biết giữa hai bên và không để những khác biệt làm ảnh hưởng đến sự phát triển của quan hệ hai nước trên các lĩnh vực. Mặt khác, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam.

Trần Duy Hương
xaydungdang.org.vn

Lật lại những câu chuyện lịch sử “nhạy cảm” trong chiến dịch Mậu Thân 1968

(Dân trí)- Đã có nhiều nguồn tin trái chiều về những cuộc thảm sát trả thù đẫm máu bên trong thành Huế sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được cố đô. Chính sự đẫm máu thảm khốc, trong một thời gian dài, người ta né tránh nhắc đến chiến dịch Mậu Thân năm 1968.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy dịp Tết Mậu Thân năm 1968 của quân và dân ta đã đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc chiến với Mỹ. Vào thời điểm ấy, quân đội Mỹ đã hoàn toàn sa lầy trong cuộc chiến tranh với Việt Nam. Quân đội Mỹ không thể bình định được miền Nam Việt Nam, cũng không thể rút quân về nước. Trong tình hình đó, dư luận thế giới, dư luận của chính nội bộ nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh tại Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, quyết liệt. Nắm lấy thời cơ này, Bộ Chính trị đã quyết định đánh một trận gây tiếng vang lớn, “Một cú đập lớn để tung tóe ra các khả năng chính trị” (Lê Duẩn). Chiến dịch Mậu Thân năm 1968 đã bất thần được quyết định như thế để tạo bước ngoặt lớn trong chiến tranh, buộc Mỹ phải xuống thang, đi tới đàm phán.

Sáng sớm ngày 31/1/1968, trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Thân, quân ta đã đồng loạt tấn công bất ngờ vào nhiều thành phố, trong đó có những thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế… Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 được đánh giá là một thắng lợi có tầm vóc lớn về chiến thuật của quân ta, tạo tiền đề quan trọng để Mỹ xuống thang chiến tranh, đi đến đàm phán tại Hội nghị Paris năm 1973.

Quân ta trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968Quân ta trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968

Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài, nhiều nguồn thông tin nhiễu loạn đã khiến chiến dịch Mậu Thân năm 1968 trở thành câu chuyện lịch sử nhạy cảm, ít được nhắc đến. Những thông tin về các ngôi mộ tập thể được tìm thấy ở Huế, thông tin về những cuộc thảm sát đẫm máu mang tính trả thù cá nhân sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được thành Huế… được lan truyền một cách ẩn ức trong dư luận suốt một thời gian.

Khi câu chuyện về chiến dịch Mậu Thân năm 1968 vẫn tồn tại như một câu chuyện lịch sử nhiều bí ẩn, một nữ đạo diễn Việt Nam đã âm thầm chuẩn bị tài liệu trong suốt 10 năm để lật lại, để truy tìm sự thật, để nói đến tận cùng về những câu chuyện “nhạy cảm” năm 1968.

Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.

Lý do của 10 năm đổ công sức, tiền bạc đi tìm tài liệu, đi tìm nhân chứng về cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 của nữ đạo diễn Lê Phong Lan khiến người viết thực sự cảm động. Chị nói, “Có một động lực vô hình nào đó thôi thúc tôi đi tìm hiểu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Trong quá trình đi tìm tài liệu, đi tìm những nhân vật là chứng nhân lịch sử của cả hai chiến tuyến, tôi đã nhìn thấy những tấm ảnh tư liệu ghi lại hình ảnh chiến sỹ giải phóng của ta hy sinh như thế nào, đổ xương đổ máu ra sao… Tôi không tin những người lính ấy lại có thể tạo ra những cuộc thảm sát”.

Theo đạo diễn Lê Phong Lan, “Lịch sử đã trải qua 45 năm, thời gian đã có đủ độ lùi để chúng ta nhìn nhận lại về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Thời thế đã đổi thay. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nói chuyện với nhau thật thẳng thắn về tất cả những câu chuyện xảy ra từ 45 năm trước. Trong 10 năm ròng, tôi đã đi, đã tìm kiếm, đã gặp gỡ, phỏng vấn, để xây cất nên 12 tập phim tài liệu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Tôi gặp gỡ cả những người lính ở hai chiến tuyến, tôi gặp gỡ hỏi chuyện cả những người chỉ huy ở cả hai chiến tuyến. Ở cấp chỉ huy, ở cấp lính, mỗi người đều có cái nhìn khác nhau về cuộc chiến. Suốt 10 năm tôi đi và đi, phỏng vấn và phỏng vấn… Và tôi nghĩ, 12 tập phim tài liệu xây cất trong 10 năm ròng của tôi sẽ giúp khán giả giải mã được sự thật còn gây tranh cãi của chiến dịch Mậu Thân năm 1968”.

Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.Nữ đạo diễn Lê Phong Lan và nhà báo, nhà sử học Mỹ Stanley Karnow trong quá trình thực hiện bộ phim tài liệu 12 tập “Mậu Thân- 1968”

12 tập phim tài liệu với tựa đề “Mậu Thân- 1968” là sự nhìn nhận, đánh giá của chính những người trong cuộc sau độ lùi 45 năm thời gian. Tính đến thời điểm hiện tại, 2/3 số nhân vật được phỏng vấn trong 12 tập phim tài liệu của đạo diễn Lê Phong Lan đã ra đi. 10 năm không mệt mỏi để một nữ đạo diễn bươn chải, tìm cho bằng được những sự thật về “Mậu Thân-1968”.

Và với những gì tìm được, nữ đạo diễn trả lời, “Tôi đã gặp những nhà báo Mỹ, những người lính bên kia chiến tuyến, họ đã nói, tất cả những thông tin về vụ thảm sát năm 1968 tại Huế chỉ là sự vu cáo của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa đổ lên đầu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Để khỏa lấp cho sự thất bại nặng nề, phía Mỹ và Việt Nam cộng hòa đã phát động những tin đồn nhảm gây nhiễu loạn như một cuộc chiến tranh tâm lý, và nó đã kéo dài trong một thời gian. Nhưng sự thật là sự thật. Chiến dịch Mậu Thân trải qua thời gian càng khẳng định là bản anh hùng ca vĩ đại của quân dân Việt Nam”.

Nước Mỹ đã khủng hoảng niềm tin sau Chiến dịch Mậu Thân 1968Nước Mỹ đã “khủng hoảng niềm tin” sau Chiến dịch Mậu Thân 1968

“Tôi chỉ có một câu hỏi, “Tại sao cha ông chúng ta, thế hệ những người trẻ như tôi, như bạn thời ấy lại có thể sẵn sàng hy sinh mạng sống, hy sinh gia đình của mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc? Vậy, độc lập, tự do là gì? Tại sao người ta có thể hy sinh ghê gớm đến thế vì độc lập, tự do. Nếu các bạn cũng như tôi, đã đọc, đã tìm hiểu, đã nhìn tận mắt những hình ảnh về chiến tranh Việt Nam, các bạn sẽ thấy đó là một huyền thoại. Lịch sử Việt Nam đã được viết bằng những huyền thoại”- Đạo diễn Lê Phong Lan chia sẻ sự xúc động.

Nữ đạo diễn tin rằng, thế hệ trẻ bây giờ thờ ơ với lịch sử là vì họ không hiểu lịch sử, họ gần như không biết gì về lịch sử với những bài học giản đơn ở trường lớp. Nếu đã hiểu, họ cũng sẽ yêu vô cùng những huyền thoại đã được viết bằng máu của đất nước mình.

Máu đã viết nên huyền thoại về đất nước, nếu ai đã lắng nghe, đã thấu hiểu, cũng sẽ cúi đầu trước những huyền thoại ấy.

Trích dẫn lời của một trong những nhân vật của 12 tập phim tài liệu- “Mậu Thân- 1968”:

Ông Larry Berman- GS. Sử học Mỹ “Tết Mậu Thân là một bước chuyển mang tính quyết định, chấm dứt leo thang chiến tranh Việt Nam. Người Mỹ sử dụng cụm từ “khủng hoảng lòng tin”. Cuộc tấn công bộc lộ cho người Mỹ thấy rằng, toàn bộ cuộc chiến này dựa trên cơ sở của một lời dối trá”.

Cũng trong nhiều tài liệu nghiên cứu sử học của Mỹ đã phải thừa nhận, những thông tin về vụ thảm sát tại Huế sau khi Quân giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được cố đô là hoàn toàn vu cáo./.

Hiền Hương
dantri.com.vn

Phim Mậu Thân 1968: Lật lại hồ sơ tuyệt mật

VTV phát sóng phim Mậu Thân 1968
> Tin thêm về việc phát hiện 670 hài cốt tại Hội An

TP – Với độ lùi 45 năm, nhiều tình tiết và câu chuyện liên quan đến sự kiện Mậu Thân 1968 đã dần được giải mã qua 12 tập phim tài liệu mang tên Mậu Thân 1968 đang phát sóng trên đài truyền hình Việt Nam.

Cảnh trong phim “Mậu Thân 1968”Cảnh trong phim “Mậu Thân 1968”.

Dù có một vai trò và vị trí quan trọng trong lịch sử chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam, thế nhưng, sự kiện Mậu Thân 1968 trong suốt thời gian dài lại là chủ đề nhạy cảm, gây nhiều tranh cãi và người ta thường tránh không nhắc đến.

Bộ phim tài liệu lịch sử với chủ đề Mậu Thân 1968 của đạo diễn Lê Phong Lan có độ dài 12 tập, thời lượng 30 phút/1 tập, thông qua những số liệu và dữ kiện lịch sử, cùng với lời kể của các nhân chứng và sự phân tích của các học giả, sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Hành trình lật lại hồ sơ tuyệt mật

Bộ phim bắt đầu từ việc đi tìm câu trả lời tại sao Mỹ, một cường quốc với tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kĩ thuật gấp 800 lần Việt Nam lại can dự vào công việc nội bộ của một quốc gia nhỏ bé và lạc hậu ở cách xa nửa vòng trái đất, để rồi tạo nên một trong những cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất trong thế kỷ XX. Tiếp đến, là hành trình lật lại hồ sơ tư liệu về một kế hoạch tuyệt mật đã không được thực hiện từ thời chiến lược chiến tranh đặc biệt.

Đạo diễn Phong Lan phỏng vấn Nhà báo, Nhà nghiên cứu lịch sử Staley Kanow tại nhà riêng, Washington DC, 6-2009Đạo diễn Phong Lan phỏng vấn Nhà báo, Nhà nghiên cứu lịch sử Staley Kanow tại nhà riêng, Washington DC, 6-2009.

Các nhà làm phim đã đi vào lý giải tại sao người Mỹ lại cho rằng Khe Sanh là hướng chiến trường chính, nơi sẽ diễn ra một trận “Điện Biên Phủ thứ hai” và họ đã tập trung phần lớn lực lượng tinh nhuệ và hỏa lực cực mạnh để giữ lấy khu vực này.

Tết Mậu Thân là một bước chuyển mang tính quyết định, dẫn đến việc chấm dứt leo thang chiến tranh Việt Nam. Người Mỹ sử dụng cụm từ “sự khủng hoảng lòng tin”. Cuộc tấn công này cho người dân Mỹ thấy rằng, toàn bộ cuộc chiến này dựa trên cơ sở của một lời dối trá.

Ông Larry Berman – Giáo sư, tiến sĩ sử học Mỹ

Trong khi thực chất, đây chỉ là mặt trận nghi binh và các đô thị mới là hướng chiến trường chính. Bộ phim cũng đi vào phân tích bối cảnh, tình hình và tại sao lại có đợt 2, đợt 3 của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy trong mùa hè và mùa thu năm 1968…

Cuối cùng, trong bộ phim tài liệu đặc biệt này, các sử gia, nhà nghiên cứu và những người trong cuộc, sẽ từ nhiều góc độ khác nhau, bày tỏ những quan điểm thẳng thắn của mình về những được – mất của cách mạng Việt Nam trong sự kiện Mậu Thân 1968, và tại sao sự kiện này lại gây nhiều tranh cãi trong suốt thời gian dài như thế.

Tất cả họ đều gặp nhau ở một nhận định quan trọng. Đó là: Mậu Thân 1968 là một sự kiện lịch sử vĩ đại, đã mở ra bước ngoặt của cuộc chiến tranh, chấm dứt sự leo thang chiến tranh của Mỹ và mở đường đi đến thắng lợi vào trưa ngày 30-4-1975 lịch sử.

8 năm cho 12 tập phim

“Có điều gì đó luôn thôi thúc tôi phải làm về Mậu Thân 1968. Tôi đã làm trong 8 năm, đã sang Mỹ để gặp các nhân chứng và tìm những tư liệu liên quan đến sự kiện”, đạo diễn Lê Phong Lan chia sẻ.

Sau khi nghiên cứu sự kiện và phác họa ý tưởng thực hiện, để hoàn thành bộ phim tài liệu lịch sử với chủ đề “Mậu Thân 1968”, đạo diễn Lê Phong Lan và êkip đã mất gần 10 năm để thu thập tư liệu, phỏng vấn các nhân chứng, những học giả uy tín trong và ngoài nước.

Đạo diễn và êkip thực hiện cũng rất kỳ công trong việc chuyển tải thông tin về sự kiện có ý nghĩa hết sức đặc biệt này.

Đánh giá về bộ phim tài liệu này, ông Nguyễn Hà Nam, Trưởng Ban Thư ký biên tập, Đài THVN cho rằng: “Bộ phim tài liệu Mậu Thân 1968 đã tái hiện vô cùng sinh động sự kiện có ý nghĩa bước ngoặt to lớn trong lịch sử dân tộc. 12 tập phim là một khối tư liệu vô cùng đồ sộ mà êkip thực hiện đã rất kỳ công tìm hiểu, tập hợp trong hành trình thực hiện hết sức nghiêm túc của mình”.

Kim Nhật
tienphong.vn

Mậu Thân 1968: Không có nhân chứng nào nói dối

TT – 12 tập phim mang tên Mậu Thân 1968 của nữ đạo diễn phim tài liệu chiến tranh Phong Lan sẽ được khởi chiếu trên VTV1 từ tối 25-1.

Ðạo diễn Phong Lan (thứ ba từ trái sang) phỏng vấn nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử Stanley Karnow tại nhà riêng ở Mỹ tháng 6-2009 – Ảnh: Ðoàn phim cung cấp

Dù có vai trò và vị trí quan trọng trong lịch sử chống Mỹ cứu nước của dân tộc VN, sự kiện Mậu Thân 1968 trong suốt thời gian dài lại từng là chủ đề nhạy cảm, gây nhiều tranh cãi.

Với độ lùi 45 năm, nhiều tình tiết và câu chuyện liên quan đến sự kiện Mậu Thân 1968 đã dần được giải mã. Cách nhìn nhận về sự kiện này đã cởi mở và thẳng thắn hơn từ phía những người trong cuộc. Trong bầu không khí đó, đạo diễn Lê Phong Lan đã mất gần 10 năm để thu thập tư liệu, phỏng vấn các nhân chứng, những học giả uy tín trong và ngoài nước để hoàn thành bộ phim tài liệu lịch sử với chủ đề Mậu Thân 1968. Bộ phim có độ dài 12 tập (30 phút/tập), thông qua những số liệu và dữ kiện lịch sử cùng với lời kể của các nhân chứng và sự phân tích của các học giả sẽ lần lượt tái hiện sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Nữ đạo diễn Phong Lan – người vừa thực hiện bộ phim tài liệu năm tập Hiệp định Paris – cho biết: “Tôi là một đạo diễn tự do của một hãng phim tư nhân do tôi lập ra, mang tên Bản Sắc Việt, nhưng tôi tự đặt cho mình nhiệm vụ phải đi đến tận cùng của những sự thật lịch sử mà lâu nay vì lý do nào đó chúng ta còn e ngại. Ðến Mỹ lần đầu tiên vào tám năm trước và đã trở lại thêm bốn lần nữa, tôi đã phỏng vấn tất cả những ai liên quan đến chiến tranh VN mà tôi có thể gặp, từ tổng thanh tra quốc phòng Mỹ đến nhà sử học Stanley Karnow và những cựu binh bị hội chứng VN, tôi đã đặt câu hỏi sòng phẳng khiến họ không thể chối từ. Tất nhiên, chúng tôi cũng lật lại từng trang hồ sơ của cuộc chiến ở VN, gặp từng nhân vật. Chúng tôi ngược dòng thời gian cố gắng tìm gặp lại tất cả, tìm hiểu tất cả thông tin với lòng khao khát sự thật. Không có nhân chứng nào có thể nói dối trong những cuộc phỏng vấn này”.

Bộ phim bắt đầu từ việc đi tìm câu trả lời tại sao Mỹ – một cường quốc với tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật gấp 800 lần VN – lại can dự vào công việc nội bộ của một quốc gia nhỏ bé và lạc hậu ở cách xa nửa vòng Trái đất, để rồi tạo nên một trong những cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất trong thế kỷ 20. Tiếp đến là hành trình lật lại hồ sơ tư liệu về một kế hoạch tuyệt mật đã không được thực hiện từ thời chiến lược chiến tranh đặc biệt. Nó chính là nguồn gốc để hình thành và phát triển nên kế hoạch tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Ðồng thời, lý giải tại sao thời cơ chiến lược lại rơi đúng vào dịp Tết Mậu Thân 1968…

12 tập phim, với hàng ngàn cuộc phỏng vấn, đạo diễn Phong Lan đã gom góp vốn liếng 10 năm tìm kiếm tư liệu, đi và sống của mình để có được những thước phim cảm động và chân thật.

TH.H.
tuoitre.vn

Đại sứ Mỹ và Mậu Thân 1968

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 luôn được đánh giá như một bước ngoặt đối với cuộc chiến tranh Việt Nam từ năm 1954 – 1975.Trong đó, việc các chiến sĩ biệt động cách mạng Việt Nam tiến công chiếm giữ Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn đã trở thành sự kiện chấn động toàn cầu. Trước đó, gần như các đại sứ quán, đóng vai trò biểu tượng của Washington tại nước ngoài, chưa bao giờ bị chiếm giữ ngoạn mục như thế. Nhất là khi Mỹ đang đồn trú hàng trăm ngàn binh sĩ cùng một lực lượng vũ khí hùng hậu tại miền nam Việt Nam.

Biệt động đã bắn thủng tường Đại sứ quán Mỹ để tấn công vào trong – Ảnh: David Halberstam

Đại sứ Bunker (phải) – Ảnh: The Washington Post

Tại cổng ra vào của Đại sứ quán Mỹ lúc sáng 31.1.1968 – Ảnh: T.L

Đòn bất ngờ

“Lúc đó có lẽ vào khoảng 1 – 3 giờ sáng (ngày 31.1.1968 – NV), khi tôi đang ngủ thì cuộc tiến công bắt đầu. Một lính thủy đánh bộ đánh thức tôi và thông báo Sài Gòn bị tiến công. Tôi được dẫn ra một chiếc xe bọc thép để đến địa điểm an toàn. Tại nhà an toàn, tôi liên lạc với tướng Westmoreland (tướng William Westmoreland là Tổng tư lệnh quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam từ năm 1964 – 1968) để nắm tình hình”. Đó là lời kể lại của ông Ellsworth Bunker, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa từ năm 1967 – 1973, được trích dẫn trong tài liệu thuộc Thư viện Tổng thống Mỹ Lyndon B.Johnson.

Chúng tôi chưa bao giờ trải qua một cuộc chiến như vậy trước đó. Đó vừa là chiến tranh quy ước vừa là chiến tranh du kích. Đó là một cuộc chiến mà đối phương sở hữu nơi ẩn náu có thể rút lui, củng cố, tái trang bị khí tài và chờ thời cơ… Đó là cuộc chiến tranh chính trị mà cũng là chiến tranh tâm lý

Đến khoảng 10 giờ sáng cùng ngày, ông Bunker mới quay về đại sứ quán sau khi nhận được sự đảm bảo từ cánh quân đội. Đó cũng là lúc Ellsworth Bunker bắt đầu liên lạc trở lại với Washington. Ông kể: “Trong suốt cuộc vây hãm, tôi không thực hiện một báo cáo cá nhân nào cho Washington. Tôi nhớ là mình rời khỏi nhà an toàn vào khoảng 9 – 10 giờ sáng. Khi trở lại nhà của mình, tôi nhìn thấy mù mịt khí ga”. Sau gần 7 giờ đồng hồ, ông mới nhận được chỉ thị trực tiếp từ Washington.

Thực sự, cuộc tổng tiến công là một đòn táo bạo và đầy bất ngờ đối với quân đội Mỹ. Đại sứ Bunker phải đồng ý điều này và ông thừa nhận rằng mình chỉ biết khi sự việc đã bắt đầu. Theo Ellsworth Bunker, trước đó, lực lượng tình báo cung cấp thông tin rất mơ hồ về kế hoạch tấn công. Ông cho biết: “Chúng tôi được cảnh báo rằng đối phương chuẩn bị thực hiện một cuộc tiến công nhưng chẳng thể xác định thời điểm. Chúng tôi chuẩn bị ứng phó mà chẳng có thông tin gì nhiều. Thế nhưng, chúng tôi vẫn tin cuộc tiến công sẽ xảy đến nên thực hiện một số biện pháp ứng phó, đặc biệt là tại Quân đoàn 3. Tướng Frederick Weyand chỉ huy lực lượng tại đây đã điều động binh sĩ củng cố khả năng phòng thủ cho Sài Gòn, đây có lẽ là điều rất may mắn mà ông ấy đã làm”.

Bước ngoặt cuộc chiến

Không chỉ mơ hồ về thông tin tình báo, Mỹ còn bất ngờ về khả năng phối hợp tác chiến trên quy mô lớn của lực lượng cách mạng Việt Nam. Đại sứ Bunker thừa nhận sự ngạc nhiên này không chỉ riêng mình mà cả Tổng tư lệnh Westmoreland lẫn Tổng thống Johnson đều như thế. Ông Bunker cho biết: “Chắc chắn tôi ngạc nhiên. Tôi nghĩ tất cả chúng tôi đều như vậy. Tôi nghĩ chẳng ai trong chúng tôi trước đó hình dung ra quy mô của cuộc tiến công. Chúng tôi nghĩ rằng đối phương chỉ tập trung đánh vào các thành phố. Nhưng thực sự thì quy mô vượt ra khỏi các thành phố, cuộc tiến công diễn ra cả ở những vùng nông thôn, thậm chí là thôn xóm. Điều đó quá những gì chúng tôi lường trước”. Ông nói thêm: “Ảnh hưởng của cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân khiến quân nhân Mỹ nhận ra rằng khó khăn lớn hơn nhiều so với những gì chúng tôi dự đoán. Rõ ràng là (chúng tôi – NV) phải hứng chịu nhiều tổn thất trên khắp chiến trường này.”

Vì thế, ngay sau khi cuộc tổng tiến công diễn ra, tướng Westmoreland đã lên tiếng đề nghị Washinton tăng thêm binh sĩ. Đại sứ Bunker kể lại: “Vào thời điểm trên, ông ấy (tướng Westmoreland – NV) muốn bổ sung quân, tôi không nhớ rõ nhưng hình như con số vào khoảng 12.000 quân và tôi đã ủng hộ. Thế nhưng, tôi không ủng hộ đề nghị sau đó của ông ấy về việc tăng thêm một lực lượng rất lớn. (…) Tướng Westmoreland cảm nhận rằng với yêu cầu tăng thêm binh sĩ – tôi nghĩ con số có thể lên đến 200.000 – sẽ giúp ông ấy kết thúc cuộc chiến nhanh hơn. Tôi đã không ủng hộ”. Thực tế, giới lãnh đạo chóp bu ở Washington cũng không ủng hộ đề nghị của vị tổng tư lệnh chiến trường.

Về tổng thể cuộc chiến, Đại sứ Bunker nhận định rằng: “Chúng tôi chưa bao giờ trải qua một cuộc chiến như vậy trước đó. Đó vừa là chiến tranh quy ước vừa là chiến tranh du kích. Đó là một cuộc chiến mà đối phương sở hữu nơi ẩn náu có thể rút lui, củng cố, tái trang bị khí tài và chờ thời cơ. Họ có thể tăng giảm mức độ chiến sự để khi cần thì lắng xuống và quay trở lại vào thời điểm thích hợp. Đó là cuộc chiến tranh chính trị mà cũng là chiến tranh tâm lý”.

Ngô Minh Trí
thanhnien.com.vn

“Giải mã” Mậu Thân 1968

Mậu thân 1968 là bộ phim tài liệu đầu tiên của Việt Nam đề cập trực diện và đi sâu vào sự kiện lịch sử vốn gây nhiều tranh cãi và từng bị cho là nhạy cảm.

Trong hành trình làm rõ sự thật lịch sử về cuộc tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968, đạo diễn Lê Phong Lan đã phỏng vấn và đối chất với hàng trăm nhân chứng, trò chuyện với những chuyên gia lịch sử, các nhà báo trong nước và quốc tế.

Hình ảnh trong bộ phim Mậu Thân 1968, ảnh do VTV cung cấpHình ảnh trong bộ phim Mậu Thân 1968, ảnh do VTV cung cấp

Những sự thật trong sự kiện Mậu Thân 1968 là lý do thôi thúc đạo diễn Lê Phong Lan thực hiện bộ phim, nhất là sau khi chị được trò chuyện với thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn trong thời gian làm phim về ông. “Suốt một thời gian dài, đã có những thông tin sai về sự kiện Mậu Thân 1968. Trong khi chúng ta lại không hề lên tiếng”. Và bà đã bị thôi thúc đi tìm câu trả lời từ phía những người đã từng đứng phía bên kia chiến tuyến. Bà đã sang Mỹ nhiều lần, lặn lội khắp mọi nơi tìm nhân chứng, tư liệu. Rất nhiều người trong cuộc mà bà phỏng vấn nay đã ra đi, nhưng may mắn là sự thật lịch sử được ghi lại từ họ. Bộ phim Mậu Thân 1968 sẽ không tránh né những quan điểm thẳng thắn, những góc nhìn khác nhau của các nhà nghiên cứu lịch sử, những người trong cuộc về những điều được và mất của cách mạng Việt Nam trong sự kiện Mậu Thân 1968.

Nhiều câu chuyện lịch sử ít người biết được lật lại. Một trong số đó là sự kiện 26 ngày đêm tại Huế từng bị cho là “cuộc thảm sát đẫm máu” được mô tả trong cuốn sách Dải khăn sô cho Huế của nhà văn chế độ cũ – Nhã Ca. Những người làm phim đã phỏng vấn ông Lê Khả Phiêu – người chỉ huy một trung đội trong sự kiện Mậu Thân 1968 tại Huế, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, nhà báo Mỹ Stanley Karnow, cựu phóng viên tờ Washington Post Don Lux, GS sử học Larry Berman, và cả những người lính từ hai phía. Những dẫn chứng lịch sử cho thấy thông tin bị làm méo mó. Vào thời điểm đó, một số hãng thông tấn nước ngoài và các nhà báo độc lập đã tìm hiểu và xác định không tìm thấy hố chôn người tập thể như phía Việt Nam Cộng hòa đưa ra. Câu chuyện của những nhân chứng có thẩm quyền đã làm sáng rõ: cái gọi là “cuộc thảm sát đẫm máu” chỉ là đòn tâm lý chiến mà Mỹ dựng lên, thực tế Huế đã bị bom Mỹ phá hủy làm nhiều thường dân chết cùng với quân giải phóng và lính Mỹ.

Trước khi Ðài truyền hình Việt Nam mua bản quyền phát sóng, đạo diễn đã bỏ tiền túi để làm phim. Bà nói: “Tôi làm bộ phim một cách công bằng, khách quan trước hết vì danh dự nghề nghiệp của tôi, thứ hai là với góc nhìn của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam”.

Bộ phim tài liệu Mậu Thân 1968 (dài 12 tập) do Đài truyền hình Việt Nam phối hợp với Hãng phim truyền hình Bản sắc Việt sản xuất, phát sóng vào lúc 20 giờ trên kênh VTV1 bắt đầu từ ngày 25.1.

Minh Ngọc
thanhnien.com.vn

Bác Hồ với mùa xuân

Mùa xuân giữ vị trí quan trọng và đã trở thành một hình tượng xuyên suốt trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã góp phần tạo nên ở vị lãnh tụ kính yêu- nhà thi sĩ lớn của dân tộc Việt Nam một nét phong cách nghệ thuật hết sức độc đáo: Rất cổ điển mà vô cùng hiện đại.

Bác Hồ chúc Tết

Sự gặp gỡ giữa hai đối cực này đã làm cho thơ của Người, đặc biệt là những bài thơ xuân, thấm đẫm hồn dân tộc, đậm đà cốt cách Á Đông, phảng phất bóng dáng ung dung tự tại của những bậc tao nhân mặc khách, nhưng lại tràn trề sức thanh xuân và luôn toát ra một tinh thần lạc quan vô hạn, thể hiện bản lĩnh vô song của một nhà cách mạng vô sản lỗi lạc. Vì thế, mùa xuân trong thơ Bác thường lộng lẫy mà tĩnh lặng, thanh cao sang trọng, lịch lãm nhưng không hề xa cách với cuộc đời:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn mầu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

                                                              (Rằm tháng Giêng)

Có thể coi Rằm tháng Giêng là một kiệt tác về mùa xuân với cảnh xuân thật đẹp, tình xuân lai láng, hương xuân nồng nàn, sắc xuân rạng rỡ! Ở đó, tiểu vũ trụ-thi nhân và đại vũ trụ đất trời bao la tưởng như tan chẩy hòa nhập vào nhau, cộng cảm giao hòa cùng nhau, theo đúng thuyết Tam tài. Thi phẩm dường như đã đạt đến mức độ cổ điển.

Nhưng khác với cổ nhân, cũng không giống những nhà thơ mới, thơ xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng hề vương vấn nỗi yếm thế buồn sầu mà ngược lại, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào từ thơ Người, ta vẫn nghe vần thắng vút lên cao (Vô đề),vẫn thấy ngập tràn một niềm vui thắng lợi, thơ Bác sâu lắng mang vẻ đẹp tỏa sáng của một vị đại Nho thông thái đang ung dung.

Thơ của nhà hiền triết Hồ Chí Minh luôn là sự tích hợp giữa những giá trị tinh hoa của văn hóa bác học Đông Tây với sự minh triết và thông tuệ của dân gian nên mùa xuân thường mang ý nghĩa kép: đâu chỉ là mùa xuân của đất trời mà còn mang biểu tượng của hào khí dân tộc, của sự sống bất diệt, mang vẻ đẹp của tuổi trẻ và biểu tượng cho tương lai tươi sáng của cách mạng:

Với một trí tuệ vô cùng mẫn tiệp và khả năng nhìn xa trông rộng, nhà chiến lược Hồ Chí Minh đã trở thành người đi trước thời đại, nên ngay từ cách đây hơn nửa thế kỷ, vào mùa xuân 1960, Người đã trịnh trọng phát động phong trào toàn dân trồng cây gây rừng tạo nên ngày hội trồng cây mỗi khi tết đến xuân về – một mỹ tục mới nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ sự sống của nhân loại và góp phần làm cho đất nước bốn mùa là cả một mùa xuân:

Mùa xuân là tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân

Không những thế, vị lãnh tụ tài hoa Hồ Chí Minh còn sáng tạo được một phong tục đẹp khác là làm thơ mừng xuân để gửi tặng đồng bào, chiến sĩ. Từ năm 1942 đến năm 1969, Người đã để lại cho cháu con một di sản quý báu gồm 22 bài thơ chúc Tết với mong ước thiêng liêng: Năm mới thắng lợi mới, năm mới tiến bộ mới để đất nước luôn hưng thịnh, vững bền. Đó là chưa kể những bài thơ xuân Người viết cho bè bạn như thơ Tặng Bùi Công, Cảnh rừng Việt Bắc… hay viết cho chính mình với một niềm lạc quan vô hạn:

Sáu mươi tuổi vẫn còn xuân chán
So với ông Bành vẫn thiếu niên

Chúng đã thỏa nguyện được tâm lý yêu thơ, thích thưởng thức thơ vào dịp đầu năm mới và khát vọng về một cuộc sống bình yên của toàn thể con dân đất Việt. Hai mươi hai bài thơ chúc tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh mỗi bài một vẻ, trong đó có không ít bài được coi là tuyệt bút:

Xuân về xin có một bài ca
Gửi chúc đồng bào cả nước ta
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi
Tin Mừng thắng trận nở như hoa

                                                             (Mừng xuân 1967)

Những bài thơ chúc tết thấm đẫm hồn non nước của Người ngày đó đã được thiêng hóa và trở thành lời tiên đoán sáng suốt về vận mệnh của toàn dân tộc:

Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua
Thắng trận tin vui khắp mọi nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta.

                                                             (Mừng xuân 1968)

Mùa xuân chứa đựng bao nhiêu phong tục thiêng liêng: Nào tục khai bút đầu xuân của một đất nước trọng văn, nào những lời chúc tốt lành nhân dịp năm mới, nào tục lệ tổng kết thành tích vào dịp cuối năm để năm mới làm ăn tấn tới , nào thể thơ lục bát thuần Việt có nguồn gốc ngàn đời từ ca dao… Mùa xuân được Người phô diễn bằng cách cảm, cách nghĩ của dân gian, mang rất nhiều màu sắc dân gian và rất đậm chất xuân, ngập tràn không khí tết: Có hoa nở, cờ hồng, có cách gọi tên theo lối Âm lịch: Nhâm ngọ, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý, Kỷ sửu, Canh Dần, Tân Mão, Quý Tỵ, Nhâm Thìn….Nhờ thế mà những nội dung tư tưởng lớn lao, mang tính thời sự cao trong thời khắc trọng đại, đã dễ dàng đến với trái tim của mỗi người dân, làm cho vị lãnh tụ càng trở nên gần gũi và những vần thơ tuôn chảy từ trái tim nhà cách mạng của giai cấp vô sản bỗng trở thành những bức thông điệp mang tầm vóc của một lời sấm truyền với tính chất dự báo rất lớn. Rồi suốt mấy chục năm liền, việc Bác đọc thơ mỗi dịp xuân về đã trở thành một nét văn hóa đặc sắc, thiêng liêng như lời non nước.

Những vần thơ xuân đầy hào khí của vị lãnh tụ kính yêu đã trở thành phương châm hành động thôi thúc toàn thể nhân dân tin tưởng, cùng nhau đoàn kết, xốc tới giành thắng lợi:

Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào
Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!

Và chúng vẫn mãi mãi như những cánh hồng đào chỉ lối mùa xuân đến, góp phần khai thông con đường dân tộc Việt Nam đi lên hạnh phúc rộng thênh thênh.

T.S Trần Thị Trâm
baobacninh.com.vn

Nhớ lời Bác, thực hiện tốt Tết trồng cây

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cứ mỗi độ Tết đến xuân về, nhân dân cả nước lại nô nức ra quân thực hiện “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác”.

Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân

63 năm qua kể từ khi Bác chính thức phát động “Tết trồng cây” (năm 1960) trong toàn dân cùng với lời dạy “việc này ít tốn kém mà lợi ích nhiều” và “trong mười năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu sẽ hiền hòa hơn, cây gỗ sẽ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”, Tết trồng cây đã trở thành một phong tục tập quán mới, một truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

Ở Bắc Ninh nhiều năm qua, thực hiện lời dạy của Bác, Tết trồng cây đã luôn được duy trì và phát triển rộng khắp, không chỉ mở đầu cho việc thực hiện thắng lợi kế hoạch trồng cây gây rừng cả năm, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái mà còn mở đầu cho một năm mới với khí thế thi đua sôi nổi rộng khắp của các cấp, ngành, các địa phương, đơn vị phấn đấu cho việc hoàn thành thắng lợi kế hoạch cả năm ngay từ những ngày đầu xuân. Phát huy truyền thống đó, xuân Quý Tỵ này Bắc Ninh sẽ phát động Tết trồng cây ngay từ ngày làm việc đầu tiên (Mùng 9 Tết) với sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các ngành, các địa phương và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Đây là tiền đề, động lực quan trọng để tỉnh thực hiện thắng lợi mục tiêu trồng cây, trồng rừng cả năm 2013.

Tuy nhiên, do Tết Quý Tỵ năm nay được nghỉ dài ngày, lại trùng mùa lễ hội, các địa phương đang tập trung gieo cấy lúa xuân nên các ngành, các địa phương cần quán triệt nghiêm túc tinh thần chỉ đạo của tỉnh, chủ động, tích cực xây dựng và triển khai kế hoạch Tết trồng cây thật cụ thể, sát sao và có sự chỉ đạo quyết liệt nhằm tổ chức Tết trồng cây thực sự thiết thực, sâu rộng, hiệu quả và chất lượng. Trước hết, các ngành, các địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền ý nghĩa của Tết trồng cây, cũng như ý nghĩa, hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái của việc trồng cây, trồng rừng. Từ đó, tích cực vận động nhân dân tham gia trồng cây theo lời kêu gọi của Bác “người người trồng cây, nhà nhà trồng cây”.

Cần xây dựng những kế hoạch cụ thể, những công việc phù hợp, tận dụng triệt để quỹ đất để trồng cây xanh, bố trí những loài cây trồng bảo đảm hiệu quả lâu dài về kinh tế, bảo vệ môi trường và xây dựng cảnh quan… để mọi người dân, từ các cụ già đến các em học sinh, từ các cơ quan, đơn vị đến các tổ chức đoàn thể đều có thể tham gia trồng và chăm sóc cây hiệu quả. Khẩn trương thực hiện các bước chuẩn bị cho Tết trồng cây, từ việc khảo sát, thiết kế, chuẩn bị đầy đủ về vật tư phân bón, nhân lực… đến việc chuẩn bị tổ chức lễ phát động sao cho trang trọng, thiết thực, tiết kiệm và hiệu quả, tránh phô trương, hình thức hoặc qua loa, chiếu lệ, lãng phí. Đặc biệt cần có những cơ chế, chính sách và biện pháp mạnh để chăm sóc và bảo vệ cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, tránh mọi hiện tượng xâm lấn, phá hoại rừng và cây xanh trên địa bàn…

Trong bối cảnh hiện nay, việc thực hiện tốt Tết trồng cây và phong trào trồng cây gây rừng như lời Bác dạy, không chỉ có ý nghĩa tạo cảnh quan, mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu, tạo tiền đề cho tỉnh thực hiện thắng lợi công cuộc CNH, HĐH một cách bền vững. Đó cũng chính là những hành động, việc làm thiết thực để mỗi chúng ta “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Lê Thanh
baobacninh.com.vn

Cảm tưởng về hình ảnh Bác Hồ về nước vào mùa xuân năm 1941

Vào năm 1941, sau 30 năm bôn ba đi tìm đường cứu nước cho dân tộc, vượt qua biết bao khó khăn, trở ngại tưởng chừng không thể vượt qua nổi, mong ước được trở về nước cùng đồng bào đấu tranh của Bác Hồ đã trở thành hiện thực. Và khi vừa đặt chân lên mảnh đất quê hương, Người đã lặng đi bên cột mốc 108 biên giới Việt – Trung, mặt hướng về Tổ quốc, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp Cao Bằng – mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, rồi Người cúi xuống cầm nắm đất Tổ quốc lên hôn mà đôi mắt rưng rưng.

Bác Hồ về nước xuân Tân Tỵ

Tổ quốc – tiếng gọi thiêng liêng, luôn trong trái tim mỗi người dân. Đối với một con người không có tình cảm nào cao hơn, lớn hơn, thiêng liêng hơn tình yêu Tổ quốc. Lòng yêu nước, yêu Tổ quốc là cốt lõi trong tính cách và bản chất của dân tộc ta, nó là cội nguồn tạo nên sức mạnh, là máu chảy trong huyết quản mỗi người Việt Nam. Lòng yêu nước, yêu Tổ quốc càng sáng ngời qua tấm gương cuộc đời của Bác – một con người với tầm tư tưởng lớn, quyết ra đi tìm đường cứu nước, cả cuộc đời Người dành cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bác đã từng nói “Tôi luôn luôn là một người yêu nước, tranh đấu cho độc lập và thống nhất thật sự của Tổ quốc tôi ”“Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi ”. Giữa lúc kế sách cứu nước của những nhà cách mạng tiền bối còn mờ mịt chưa có đường ra thì Bác đã làm ra điều kỳ diệu. Chỉ với hai bàn tay lao động và ý chí cứu nước mãnh liệt, giấu trong lòng nỗi đau xót, sự quyến luyến, Bác quyết ra đi cho một ngày trở lại. Chính từ nỗi đau dân nước, tình thương nhân loại là động lực bên trong thôi thúc Bác tìm đến lý tưởng cách mạng nhân đạo và khoa học của Mác – Lênin. Có thể thấy trong hành trình đi tìm một con đường mới cho dân tộc, Người đã chèo lái con thuyền sức mạnh của mình bằng tình yêu đất nước tha thiết. Trong cuộc hành trình đó, Người đã phải trải qua biết bao nhiêucông việc cực nhọc như làm bồi bàn, lao công quét tuyết, phụ bếp cho khách sạn… vất vả là vậy nhưng Người chưa bao giờ thôi nghĩ đến vận mệnh của đất nước. Trong tâm trí Người luôn luôn cháy bỏng tình yêu Tổ quốc đến tha thiết, hình bóng quê hương chẳng lúc nào phai mờ. Càng xa quê hương Người càng thấm thía nỗi khổ đau mà đồng bào đang phải gánh chịu.Người ăn không ngon, ngủ không yên mỗi khi nghĩ về Tổ quốc đang chịu nhiều thương đau. Trái tim giàu lòng yêu nước của Người cùng đau với nỗi đau của dân tộc trong cảnh nước mất, nhà tan. Có thấu hiểu tình yêu lớn lao mà Bác dành cho đồng bào, cho Tổ quốc, có đặt mình vào trong hoàn cảnh của Bác lúc bấy giờ mới thật sự hiểu hết tâm trạng bồi hồi, niềm xúc động của Người sau 30 năm xa sứ sở, chịu biết bao gian truân, khổ ải mới được đặt chân về với đất mẹ. Niềm vui ấy không thể nói hết bằng lời. Khi đặt bước chân đầu tiên lên dải đất quê hương, lòng bồi hồi, xúc động Người lặng đi trong phút giây thiêng liêng được về với Tổ quốc, với đồng bào. Phút giây đó, sau này được Người kể lại rằng“Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động”. Có niềm xúc động nào hơn niềm xúc động của một người con xa quê, xa đất nước mình hàng chục năm trời lại được trở về trong không khí của ngày Tết cổ truyền của dân tộc, khi tất cả những kỷ niệm, những thương nhớ và những giá trị truyền thống của dân tộc dường như đang sống lại, đang ùa về trong lòng.

Không quan cách, xa hoa, rộn rã, ồn ào, Bác trở về trong hình ảnh rất đời thường, bình dị, vĩ đại mà gần gũi thân thương, toả sáng mà ấm áp hiền hoà. Lúc ấy Bác mặc trang phục của người Nùng (một dân tộc sinh sống ở Cao Bằng), quần áo chàm, đầu thì đội mũ may bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn vừa che kín râu. Hành lý mà Bác mang theo chỉ vẻn vẹn có một chiếc vali bằng mây nhỏ cũ kỹ đựng quần áo và chiếc máy đánh chữ xách tay. Hình ảnh đơn sơ, giản dị ấy cùng với với tấm lòng, trái tim giàu lòng yêu nước của Bác đã làm cho ta, mỗi người con đất Việt càng thêm mến phục và kính yêu Bác nhiều hơn, cảm nhận được sự hy sinh cao cả của Bác, sự bình dị, gần gũi của Bác. Và cũng thật xúc động khi Bác cúi xuống cầm nắm đất Tổ quốc lên hôn. Đó quả là hình ảnh cảm động, Bác đã trân trọng, đã yêu quý từng tất đất của Tổ quốc đến nhường nào. Bước chân đầu tiên về đất mẹ cũng là giây phút Người lắng nghe sự sống của sinh thể đất nước đang phôi thai trong lòng mình. Nhà thơ Chế Lan Viên đã diễn tả lại hình ảnh ấy bằng những câu thơ đầy xúc động “Kìa! bóng Bác đang hôn lên hòn đất/ Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai”. Bác về nước đúng vào mùa xuân, mùa tươi đẹp nhất của đất trời, mùa của trăm hoa đua nở, mùa của lộc biếc chồi xanh, vạn vật như khoác lên mình sắc áo mới hứa hẹn một tương lai tươi sáng ở phía trước.Người về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cả thiên nhiên đất trời như reo vui Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt/Trắng rừng biên giới nở hoa mơ/Bác về… im lặng. Con chim hót/Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ (Thơ: Theo chân Bác của Tố Hữu). Sự kiện Bác Hồ về nước mùa Xuân năm 1941 là một mùa xuân đặc biệt trong cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân của Người, vì đó là mùa xuân đầu tiên Bác Hồ trở về Tổ quốc, kết thúc chặng đường dài sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, hoạt động ở nước ngoài, để rồi từ đó trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và cùng Đảng ta đem lại những mùa xuân cho dân tộc, chấm dứt trăm năm nô lệ tăm tối.

Đã bảy mươi hai mùa xuân trôi qua nhưng hình ảnh khi lần đầu tiên Bác trở về với Tổ quốc sau 30 năm xa cách ấy vẫn mãi không phai nhòa trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Mỗi chúng ta đều không khỏi bồi hồi xúc động và thành kính tưởng nhớ đến Bác Hồ kính yêu đã hy sinh trọn đời mình cho dân tộc, đã dành cả cuộc đời chăm lo cho hạnh phúc nhân dân mà không gợn chút riêng tư để đất nước hôm nay trọn niềm vui độc lập tự do và đổi mới phát triển. Công lao to lớn đó của Bác không có gì có thể so sánh được. Càng nhớ Bác Hồ, mỗi người chúng ta hôm nay càng phải thực hiện tốt hơn Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, tạo thành nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ toàn dân cùng thi đua, phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, xứng đáng với lòng mong ước của Bác Hồ kính yêu “Xây dựng một mước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”./.

Thu Hiền
sgtvt.gialai.gov.vn