Ý nghĩa cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 với xây dựng chiến tranh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 mãi mãi khắc sâu vào lịch sử dân tộc như một bản anh hùng ca bất diệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đồng thời để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật quân sự để vận dụng, phát triển trong điều kiện mới của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Bản anh hùng ca bất diệt

Đúng đêm giao thừa Tết Mậu Thân 1968 (ngày 30 và 31-1-1968), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta đồng loạt nổ ra trên toàn chiến trường miền Nam, đặc biệt ở Sài Gòn, Huế và nhiều thị xã, thị trấn, các căn cứ quân sự của Mỹ – ngụy. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy diễn ra trong bối cảnh quân Mỹ – ngụy và các nước đồng minh của chúng tham chiến với một lực lượng quân sự lớn lên tới trên một triệu quân, có vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại, được phòng thủ vững chắc. Nhưng bằng cuộc tiến công táo bạo, bất ngờ, ta đã đánh thẳng vào các vị trí quan trọng nhất của địch như: Đại sứ quán Mỹ, Dinh Tổng thống ngụy, Bộ Tổng Tham mưu, Nha cảnh sát, Đài phát thanh Sài Gòn, tiến công làm chủ thành phố Huế và hầu khắp các vùng nông thôn rộng lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá huỷ một khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch.

Vì thế, xét cả về quy mô cũng như tính chất đồng loạt, tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã sáng tạo ra một hình thức tiến công chiến lược mới với hiệu lực chiến đấu cao, làm lung lay ý chí xâm lược của một siêu cường, làm cho chính quyền Mỹ sững sờ, choáng váng. Chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ, toàn bộ hậu phương an toàn nhất của kẻ địch, bao gồm tất cả các thành phố, tỉnh lỵ đều bị tấn công đồng loạt. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 không chỉ diễn ra một đợt mà diễn ra nhiều đợt, không chỉ tiến công tuần tự từ ngoài vào mà còn kết hợp từ trong ra, khiến địch đã bất ngờ càng bất ngờ hơn.

Đây là một sự kiện lớn, đánh dấu mốc quan trọng có ý nghĩa chiến lược trong cuộc chiến tranh nhân dân tổng lực của ta, giáng một đòn quyết định, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, làm rung chuyển nước Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, rút dần quân viễn chinh ra khỏi miền Nam, chấp nhận thương lượng để có thể kết thúc chiến tranh trong danh dự.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, chúng ta đã huy động tổng lực từ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đến đặc công, biệt động, pháo binh…, được nhân dân hết lòng ủng hộ, tích cực phối hợp tham gia chiến đấu; kết hợp chặt chẽ giữa sự nổi dậy rộng khắp của quần chúng, sự chuẩn bị rất công phu của các lực lượng, giữ được bí mật tuyệt đối của các cấp, các địa phương, đơn vị, sự hy sinh to lớn của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta để làm nên một kỳ tích “có một không hai” trong chiến tranh giải phóng dân tộc. Ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp giữa lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang ba thứ quân; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao; đánh địch trên cả ba vùng chiến lược, bằng ba mũi giáp công; kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh lớn, đánh vừa và nhỏ; thể hiện nghệ thuật đánh địch bằng mưu cao, kế hiểm. Đánh giá về thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đó là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn và sức mạnh của toàn dân đoàn kết quyết chiến, quyết thắng giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc”(1). Bộ Chính trị đánh giá: “Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất bại của chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường, phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pa-ri, chấm dứt ném bóm không điều kiện, chủ trương phi Mỹ hoá chiến tranh, mở đầu thời kỳ xuống thang chiến tranh”(2).

Đúc rút và vận dụng những bài học kinh nghiệm vào chiến tranh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã để lại cho các thế hệ hiện nay và mai sau niềm tự hào sâu sắc. Ý nghĩa của cuộc Tổng tiến công vẫn còn nguyên giá trị:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nắm chắc tình hình; có các chủ trương, đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo phù hợp với thực tiễn phát triển của chiến tranh cách mạng trong điều kiện mới của Việt Nam.

Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, trước hết, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nền quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh. Bài học kinh nghiệm của cuộc Tổng tiến công càng cho thấy, Đảng phải có đường lối đúng đắn, sáng tạo, trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xác định rõ mục tiêu cách mạng, phát triển học thuyết quân sự Việt Nam; xuất phát từ thực tiễn, phân tích tình hình cụ thể để tìm ra quy luật và hành động theo quy luật, nhất là quy luật chiến tranh kiểu mới của địch – chiến tranh vũ khí công nghệ cao.

Cách mạng nước ta hiện nay bên cạnh những nhân tố thuận lợi thúc đẩy quá trình đối mới đất nước, giành nhiều thành tựu quan trọng (đặc biệt khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và được bầu làm ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng nâng cao), chúng ta cũng đang phải vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, nhất là việc các thế lực thù địch chống phá bằng chiến lược “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn, lật đổ, âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, tạo cớ can thiệp dưới các hình thức. Vì vậy, đòi hỏi việc phát triển chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc cần có những bước phát triển mới, cả về quy mô, tính chất, yêu cầu các cấp, các ngành phải nhạy bén, sáng tạo, thường xuyên nắm chắc tình hình, xử lý tốt những tình huống phức tạp xảy ra, không để đất nước bị động, bất ngờ về chiến lược. Thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, tạo môi trường hoà bình, thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.

Hai là, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và yếu tố chính trị – tinh thần.

Xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng tạo nên sức mạnh vô địch trong chiến tranh cũng như trong hoà bình xây dựng, phát triển đất nước. Do đó, cần chăm lo khối đại đại đoàn kết ngay từ thời bình, để “lo giữ nước khi nước còn chưa nguy” theo kinh nghiệm truyền thống của cha ông. Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Đảng ta luôn coi vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta… là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(3) .

Xây dựng, phát huy tốt yếu tố chính trị – tinh thần của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là nhân tố làm chuyển hoá so sánh lực lượng để “lấy ít địch nhiều”, “lấy nhỏ thắng lớn”, là nét độc đáo của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam cần nhân lên trong điều kiện mới. Phát huy yếu tố chính trị – tinh thần trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, khơi dậy tinh thần yêu nước, quả cảm, ý chí quyết tâm chiến đấu, trí thông minh, sáng tạo, truyền thống chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Ba là, xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc, làm nền tảng của thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Thực tiễn sự kiện lịch sử này cho thấy, vai trò quan trọng của lực lượng tại chỗ, của thế trận chiến tranh nhân dân. Do đó, ngay từ thời bình phải chăm lo xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố thành thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc, bảo đảm tính toàn diện, nhưng có trọng tâm, trọng điểm, trong đó tập trung xây dựng vững mạnh về chính trị, phát triển vững chắc về kinh tế, ổn định về xã hội. Trên cơ sở tạo thế bố trí chiến lược chung của cả nước, chú trọng vào các khu vực phòng thủ then chốt, các địa bàn chiến lược, vùng biên giới, biển, đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng và quốc phòng với kinh tế ngay trong từng dự án cũng như trong quy hoạch của từng địa phương và tổng thể cả nước. Chăm lo bảo đảm tốt đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ, nhất là dân chủ ở cơ sở, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Đồng thời, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí nhằm củng cố vững chắc niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, phát triển tiềm lực quốc phòng, quân sự.

Phát triển tiềm lực quốc phòng, quân sự tạo ra khả năng về vật chất và tinh thần có thể huy động được cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững hoà bình, ngăn ngừa mọi âm mưu, hành động gây chiến tranh của các thế lực thù địch, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược ở mọi quy mô, nếu xảy ra. Sức mạnh của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp, vì vậy, xây dựng tiềm lực quốc phòng, quân sự phải nhằm góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp, chủ động chuẩn bị, gắn liền với mỗi bước tăng trưởng, phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Hiện nay, cần tận dụng những thời cơ thuận lợi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế để mở rộng quan hệ hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm, nhất là về khoa học – kỹ thuật hiện đại, nhằm đi tắt đón đầu, phục vụ sự phát triển công nghiệp quốc phòng, công tác nghiên cứu khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Năm là, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong sạch, vững mạnh làm nòng cốt của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là quân đội nhân dân và công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng – an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân, các lực lượng và cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang ba thứ quân đóng vai trò chủ đạo. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định: “Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thật sự là lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin cậy, yếu mến”(4). Theo đó, chúng ta phải thường xuyên xây dựng quân đội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có số lượng và cơ cấu hợp lý, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong quá trình xây dựng quân đội phải coi trọng cả lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu ngày càng cao của cách mạng.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t10, tr 731
(2) Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (khoá III)
(3) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 116
(4) Văn kiện, Sđd, tr 110

Phạm Xuân Hùng
tapchicongsan.org.vn

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 – Một mốc son có ý nghĩa chính trị và quân sự to lớn

Lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới cũng như ở Việt Nam, theo nghệ thuật “truyền thống” thì giai đoạn kết thúc chiến tranh, thông thường một trong các bên tham chiến thực hiện đòn đánh tiêu diệt chiến dịch lớn hoặc đánh tiêu diệt chiến lược lực lượng quân sự, chính trị đối phương, buộc chúng phải chịu thua. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 được ghi vào lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta như là một mốc son tiêu biểu, một bước ngoặt quyết định – đòn tấn công chiến lược, bất ngờ với quy mô lớn vào sào huyệt của đối phương ở các thành phố, thị xã lớn trên toàn miền Nam, làm lung lay ý chí quyết tâm xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri năm 1968.

Vào đầu năm 1965, sau thất bại của “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ quyết định đưa quân Mỹ và quân đội một số nước “đồng minh” của Mỹ (Nam Triều Tiên, Ô-xtrây-li-a, Niu-di-lân, Thái Lan, Phi-lip-pin…) cùng một khối lượng lớn vũ khí, thiết bị chiến tranh hiện đại, đô la… ồ ạt vào miền Nam Việt Nam, thời điểm cao nhất là nửa triệu quân Mỹ trực tiếp tham chiến, thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam; dùng không quân, hải quân mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhằm uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Giới cầm quyền Mỹ từng hò hét “đánh gãy xương sống Việt cộng” ở miền Nam, “đẩy lùi miền Bắc về thời kỳ đồ đá”, đưa biên giới nước Mỹ đến vĩ tuyến 17 của Việt Nam, buộc Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà phải ngồi vào bàn đàm phán theo những điều kiện áp đặt của Mỹ. Chính quyền Giôn-xơn chủ trương đưa quân Mỹ vào nhanh và rút ra nhanh, giành thắng lợi quyết định trong một thời gian ngắn, đè bẹp ý chí giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam!

Song, sau ba năm trực tiếp tham chiến, quân đội Mỹ tuy ngăn chặn được sự sụp đổ Việt Nam cộng hòa nhưng không thể bình định được miền Nam Việt Nam. Trái lại, nước Mỹ ngày càng sa lầy vào cuộc chiến tranh “tiến thoái lưỡng nan” ở Việt Nam và chưa biết bao giờ kết thúc. Vì vậy, chính phủ Mỹ không còn cách nào khác ngoài việc tiếp tục tăng quân, tăng chi phí quân sự để thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Cuối 1967, quân chiến đấu Mỹ có mặt ở miền Nam Việt Nam lên tới 480.000 quân và 68.800 quân của các nước phụ thuộc Mỹ. Và, nếu chi phí cho cuộc chiến tranh Việt Nam 1965-1966 là 4,7 tỉ đô-la, thì năm 1967 đã tăng lên 30 tỉ, gấp 1,5 lần Mỹ đã chi cho cuộc chiến tranh Triều Tiên. Chi phí này đã ảnh hưởng lớn đến nước Mỹ. Nền kinh tế Mỹ bắt đầu suy thoái, thâm hụt ngân sách 4 tỉ đôla, giá cả tăng vọt, lạm phát không kiểm soát được. Tại Oasinhtơn, khoảng 40.000 người, có cả những cựu chiến binh Mỹ từng tham tranh ở Việt Nam tham gia biểu tình phản đối cuộc chiến tranh của chính phủ Mỹ. Nhiều cuộc biểu tình của nhân dân Mỹ chống chiến tranh lan rộng toàn nước Mỹ đòi chăm lo cuộc sống cho người nghèo và chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Chính phủ Mỹ phải lo đối phó với những khó khăn lớn về quân sự, chính trị và tài chính không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả trong nước Mỹ (1). Nhiều nghị sĩ ở Thượng nghị viện và Hạ nghị viện Mỹ đã nhận thấy “tương lai không thể lường được của một cuộc chiến tranh hiện đang có tác động làm rã rời ý chí nhân dân  Mỹ (2).

Nắm được điểm yếu của Mỹ là quân đội của họ đã bị sa lầy không thể rút quân về nước, đồng thời dư luận của cả nhân dân và chính giới tại Mỹ ngày càng trở nên thiếu kiên nhẫn và  phong trào phản chiến ngày càng lên mạnh khi quân đội tham chiến quá lâu tại nước ngoài, Bộ Chính trị đã hoạch định một trận đánh nhằm gây tiếng vang lớn “Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị”, tạo đột phá cho chiến tranh, nhằm buộc  Hoa Kỳ xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.

Tháng 6-1967, Bộ Chính trị chủ trương:“Nhân lúc đế quốc Mỹ đang đứng trước thế tiến lui đều khó, lại phải tập trung vào cuộc vận động bầu cử Tổng thống Mỹ, ta cần chuẩn bị đánh một đòn quyết định tạo chuyển biến nhảy vọt cho cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam, buộc Mỹ phải thua” và “phải tìm cách đánh khác để đập tan ý chí tiếp tục chiến tranh của Mỹ, làm cho Mỹ hiểu rằng không thể thắng được dân tộc Việt Nam bằng vũ khí và bom đạn  (3)Vì vậy, Cục Tác chiến  Bộ Tổng tham mưu đã bắt tay xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược cho năm 1968 theo tinh thần Nghị quyết Bộ Chính trị và chỉ thị của Quân uỷ Trung ương. Đồng chí Văn Tiến Dũng -Tổng Tham mưu trưởng gợi ý cho “Tổ kế hoạch”: nên nghĩ đến kế hoạch và cách đánh khác cách đánh “truyền thống” mà lâu nay quân giải phóng vẫn làm, thì mới có thể giành thắng lợi quyết định. Trong khi “Tổ kế hoạch” còn đang suy nghĩ tìm cách đánh mới, thì đồng chí Lê Duẩn, khi trao đổi với Quân uỷ Trung ương về kế hoạch chiến lược năm 1968 đã đề xuất giải pháp đánh thẳng vào sào huyệt địch trong các thành phố, thị xã. Ý kiến của đồng chí Lê Duẩn được Quân uỷ Trung ương và Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng tán thành và trở thành ý định quyết tâm chiến lược năm 1968: chuyển hướng tiến công chiến lược chủ yếu từ rừng núi, nông thôn vào đô thị – nhất là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Tổng bí thư Lê Duẩn nhấn mạnh: “Mỹ không còn con đường nào khác là phát huy sức mạnh quân sự. Đối phó với âm mưu này của Mỹ, ta phải đưa hoạt động quân sự lên một bước mới, đến mức Mỹ không chịu nổi và phải chấp nhận thất bại về quân sự, cô lập về chính trị. Nếu ta thực hiện được, Mỹ sẽ phải rút khỏi miền Nam” (4).

Song, so sánh tương quan lực lượng quân giải phóng và quân Mỹ về quân số, vũ khí trang bị, sức cơ động và tính hiện đại thì ta đều thua kém nhiều lần, nên việc đánh tiêu diệt chiến dịch, chiến lược đối với quân viễn chinh Mỹ là điều gần như không thể thực hiện được. Bộ Chính trị chủ trương: “Phải tìm cách đánh mới khác cách đánh truyền thống là đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ bằng phương pháp tổng tiến công đồng loạt đánh vào các trung tâm đầu não chính trị, quân sự ở các thành phố, thị xã. Tiến công vào các thành phố, thị xã sẽ tạo ra bất ngờ lớn đối với địch, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng, làm rung chuyển nước Mỹ. Qua đó, ta chứng minh cho Mỹ thấy chúng không thể thắng trong cuộc chiến tranh này, chúng đang đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, do đó phải tìm giải pháp chấm dứt cuộc chiến trang xâm lược,rút ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam” (5).

Từ nhận định trên và thực tiễn diễn ra trên chiến trường, chiến lược dần dần hình thành, từng bước trở thành quyết sách: Tổng tiến công và nổi dậy, đánh thẳng vào sào huyệt của địch trong các thành phố và thị xã. Đây chính là cơ sở, nền tảng vững chắc để Hội nghị lần thứ 14 BCHTW (khoá III) quyết định: chuyển cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định (6). Sau khi thảo luận kỹ khả năng đánh vào thành phố của lực lượng vũ trang và khả năng nổi dậy của quần chúng, Bộ Chính trị thông qua phương án tổng công kích, tổng khởi nghĩa do Bộ Tổng tham mưu soạn thảo đã được Quân uỷ Trung ương nhất trí. Phương án xác định chiến trường trọng điểm là Sài Gòn – Gia Định, Huế, Đà Nẵng, hướng phối hợp chiến lược quan trọng là Đường 9 – Khe Sanh. Cụ thể là: cùng với đòn tiến công của bộ đội chủ lực ở hướng phối hợp chiến lược đặc biệt quan trọng là Đường 9 – Khe Sanh nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến lược của địch, một đòn tiến công chiến lược đánh vào thành phố, thị xã quy mô trên toàn miền Nam, kết hợp với nổi dậy của quần chúng các đô thị và nông thôn, mở đầu cho tổng công kích, tổng khởi nghĩa, lấy chiến trường chính là Sài Gòn – Gia Định, Đà Nẵng, Huế, trọng điểm là Sài Gòn – Gia Định, Huế, Đà Nẵng và các thành phố lớn. Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, trước Tết Mậu Thân 10 ngày, quân Giải phóng sẽ nổ súng tiến công vào tập đoàn cứ điểm Khe Sanh để buộc Mỹ phải chú ý tập trung điều lực lượng chủ lực ra phía bắc đối phó, tạo điều kiện để giữ bí mật hướng trọng điểm và tiếp tục chuẩn bị (7).

Quán triệt phương án tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào chiến trường trọng điểm  Sài Gòn – Gia Định, Huế, Đà Nẵng, trước đó 10 ngày, hai sư đoàn của ta đánh nghi binh, nhằm “đánh lạc hướng” đối phương bằng cuộc tấn công vào căn cứ của lính thuỷ đánh bộ Mỹ tại Khe Sanh, gây sự chú ý của Mỹ, làm cho Bộ Chỉ huy Mỹ tập trung tâm trí và binh lực lên miền núi Quảng Trị để tránh một trận Điện Biên Phủ mới, sau đó quân ta sẽ tiếp ứng thẩm thấu vào thành phố, tiếp quản các mục tiêu và tham gia chiến đấu. Cuộc tấn công của ta vào căn cứ Khe Sanh được giới chuyên môn Mỹ đánh giá như tấn công vào Oasinhtơn – gây chấn động cả nước Mỹ. Mỹ, nguỵ bị thu hút vào Khe Sanh, bất ngờ, đêm ngày 30 rạng ngày 31-1-1968 (Tết Mậu Thân), quân và dân miền Nam đã đồng loạt tiến công và nổi dậy ở 4 thành phố lớn, trọng tâm là Sài Gòn – Gia Định và Huế, Đà Nẵng, 37 thị xã và hàng trăm quận lỵ, thị trấn, tập trung đánh vào nội thành và cơ quan đầu não: Dinh Độc lập, toà Đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, Hải quân, Tổng nha cảnh sát, Đài phát thanh Sài Gòn, các căn cứ hậu cần, sân bay, bến cảng, nhiều sở chỉ huy cấp quân khu, quân đoàn, sư đoàn của Mỹ ngụy… Bất ngờ về mục tiêu và thời điểm tiến công, Mỹ, nguỵ đã “trở tay không kịp”, sĩ quan và binh lính đã không hề lường trước sự kiện quân giải phóng tấn công vào tận sào huyệt của chúng (kể cả Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đang về quê nghỉ Tết Nguyên đán) cũng hoàn toàn bất ngờ, đã vội vàng trở về Sài Gòn để chỉ đạo cuộc chiến. Cùng với cuộc tiến công đồng loạt vào các thành phố, thị xã, trên địa bàn nông thôn, được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nhân dân ta đã nổi dậy giành quyền làm chủ, đập tan bộ máy chính quyền của địch ở nhiều nơi. Tổng tiến công và nổi dậy diễn ra trên một không gian rộng lớn ở cả ba vùng chiến lược, nông thôn – đồng bằng, đô thị và miền núi đã phát huy cao độ ưu thế và sức mạnh của chiến tranh nhân dân, quân và dân với quyết tâm sắt đá, nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, không sợ hy sinh, gian khổ với nghị lực phi thường đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, cán bộ, chiến sỹ các đơn vị lực lượng vũ trang của ta đã khắc phục mọi khó khăn, đặc biệt là những khó khăn về sự gấp rút về thời gian chuẩn bị, về yêu cầu bảo đảm bí mật, đã thực hiện tốt việc quán triệt tư tưởng chỉ đạo tác chiến bất ngờ, thọc sâu, đánh hiểm, bảo đảm cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi. Những tấm gương chiến đấu dũng cảm, những cách đánh có hiệu suất cao, phá hủy nhiều mục tiêu quan trọng, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá huỷ nhiều cơ sở vật chất và phương tiện chiến tranh của địch, những hành động quên mình trong chiến đấu của cán bộ, chiến sỹ và nhân dân ta xuất hiện ngày càng nhiều trên khắp các mặt trận, các chiến trường thể hiện sâu sắc tinh thần cách mạng tiến công, ý chí quyết tâm giành thắng lợi của quân dân ta. Sau gần hai tháng tiến công và nổi dậy, quân dân ta đã làm tan rã 150.000 địch, phá huỷ khoảng 34% vật tư và phương tiện chiến tranh của quân Mỹ và quân nguỵ Sài Gòn, đưa chiến tranh cách mạng vào trung tâm đầu não kẻ thù, làm rối loạn hậu phương địch.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân không chỉ gây bất ngờ lớn cho Mỹ mà còn làm cho dư luận Mỹ thấy rằng việc đưa quân tham chiến với nỗ lực cao không chỉ làm căng thẳng trong xã hội Mỹ, phúc lợi giảm sút, gây nhiều hệ luỵ xấu cho xã hội… mà vẫn không dứt điểm được quân đối phương, và trong tương lai chiến tranh không biết đến bao giờ kết thúc! Điều này đưa đến kết luận là Mỹ không thể thắng được trong cuộc chiến ở Việt Nam. Các chính trị gia trong Quôc hội Mỹ gây sức ép lên chính phủ đòi xem xét lại cam kết chiến tranh, đòi huỷ bỏ uỷ quyền cho chính phủ tiến hành chiến tranh không cần phê chuẩn, thúc ép giải quyết chiến tranh bằng thương lượng. Quy mô của cuộc tiến công làm dư luận Hoa Kỳ mất kiên nhẫn và sự tin tưởng với giới quân sự, họ đòi chấm dứt chiến tranh và rút quân về nước. Một mặt họ thiếu niềm tin vào hiệu quả của quân đội, mặt khác, các hành động bạo liệt mất nhân tính được trình chiếu trên tivi đánh vào lương tâm công chúng. Họ đòi hỏi phải chấm dứt chiến tranh ngay lập tức. Họ coi chiến tranh là bẩn thỉu. Ngay các nhà lãnh đạo chính phủ Hoa Kỳ cũng chia rẽ trong quan điểm sẽ làm gì tiếp theo. Với sức ép của Tết Mậu Thân, cùng với việc thay Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng thống Mỹ còn cách chức William Westmosreland – Tổng chỉ huy quân Mỹ ở Việt Nam, đưa Abram lên thay. Ngày 31-1-1968, Tổng thống Giôn-Sơn tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, sẵn sàng đàm phán để chấm dứt chiến tranh, không tăng thêm quân theo yêu cầu của Bộ Chỉ huy chiến trường và từ chối ra tranh cử nhiệm kỳ tới. Trong hồi ký, ông viết: Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là “một sự choáng váng đối với tất cả người Mỹ”,“cố gắng của đối phương đã gây ra một hậu quả tác động xấu đến một số người trong và ngoài Chính phủ”, nhân dân Mỹ và một số nhân vật trong chính quyền bắt đầu nghĩ rằng chúng ta đã thất bại”. Thắng lợi này đã góp phần làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm cho “quân đội Mỹ còn nguyên vẹn về thể xác nhưng tinh thần dao động hết rồi”(8).

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1968 là thắng lợi có ý nghĩa chính trị và quân sự to lớn. Quân và dân miền Nam đã giành thắng lợi quan trọng, đánh bại cố gắng lớn về quân sự của Mỹ, giáng một đòn quyết định, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, rút dần quân về nước, chấm dứt ném bom bắn phá miền Bắc và chấp nhận đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri (1968-1973): Tết Mậu Thân thắng rất lớn, không phải chỉ ở chiến thuật mà nhất là đã đánh bại được ý chí xâm lược của Mỹ, tạo nên bước ngoặt quyết định của chiến tranh… (9), mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm” trên thực tế. Từ đây, sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trở nên chặt chẽ và hiệu quả hơn, tạo bước ngoặt mới cho sự phát triển của cách mạng miền Nam.

Sau “Đồng khởi” năm 1960, Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân năm 1968 làm rung chuyển nước Mỹ là một trong những mốc son lịch sử, sự kiện mở đầu cho chuỗi thắng lợi liên tiếp của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và cuộc chiến đấu đập tan trận tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng đã lần lượt làm thất bại các chiến lược chiến tranh kiểu mới của Mỹ, buộc chúng phải ký vào Hiệp định Pa-ri năm 1973, tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Tết Mậu Thân 1968 không chỉ là đòn quyết định buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán mà còn là cuộc tổng diễn tập lớn cho Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân vào mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Phạm Thị Nhung
Trường sĩ quan Lục quân 2
xaydungdang.org.vn

———————————–

1. Lịch sử quân sự Việt Nam, t.11, Nxb CTQG, H. 2005, tr.205-207. 2. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về chiến tranh Việt Nam, t.2, Việt Nam thông tấn xã phát hành, H.1971, tr.1263. Sđd4. Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000. 5. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 – 1975, t.5: Tổng tiến công và nổi dậy 1968, Nxb CTQG, H.2001, tr. 45. 6. Nghị quyết Trung ương lần thứ 14. 7. Http://vov.vn/Home/Phan-II-Cuoc-tien-cong-va-noi-day-Tet-Mau-Than-1968/200081/77799.vov. 8. Mai-cơn Mác-lia, Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, Nxb Sự thật, H.1990, tr.172. 9. Kết luận của Bộ Chính trị họp ngày 23-4-1994, số 215 – BBK/BCT.

Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 qua đánh giá của nước ngoài

TCCSĐT – Cách đây vừa tròn 45 năm, vào Tết Mậu Thân năm 1968, quân và dân Việt Nam đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào 4/6 thành phố, 37/46 thị xã và hàng trăm thị trấn trên toàn miền Nam. Đây là một cuộc tiến công đồng loạt, đều khắp và rộng lớn, có tác động to lớn đối với toàn bộ cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của nhân dân ta.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 với hiệu lực chiến đấu “cộng hưởng” lớn lao chưa từng có, đã làm rung chuyển cả Nhà Trắng và Lầu Năm góc, gây chấn động dữ dội trong dư luận không chỉ ở nước Mỹ mà trên toàn thế giới. Sự chấn động ấy được thể hiện qua một số sách báo xuất bản lúc đó và cả sau này.

Nhà sử học Mỹ Ga-bri-en Côn-cô (Gabriel Kolko) trong tác phẩm Giải phẫu một cuộc chiến tranh, xuất bản tại Niu Oóc (New York) năm 1985, đánh giá: “Cuộc tiến công Tết là sự kiện quan trọng nhất và phức tạp nhất của chiến tranh Việt Nam”. Theo nhà sử học này, với Mậu Thân 1968, “Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh nước ngoài đầu tiên của Mỹ kể từ năm 1882 đã gây ra cuộc khủng hoảng xã hội, nội bộ sâu sắc và một sự phân hóa về chính trị”.

Còn tướng Mắc-xoen Tay-lơ (Maxwell D. Taylor) – cựu Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, sau khi từ chức (tháng 6-1965) về làm cố vấn đặc biệt của Tổng thống Lin-đơn Giôn-xơn (Lyndon B.Johnson), trong hồi ký Thanh gươm và lưỡi cày – xuất bản tại Niu Oóc năm 1972, đã thừa nhận: “Ngày 31-1-1968, quân địch (tức quân giải phóng – người viết) tiến công và chỉ trong vòng 2 ngày, họ đã tiến vào 5 đô thị lớn, 39 tỉnh lỵ và nhiều thành phố. Những trận tiến công của họ đã được báo chí Mỹ tường thuật dưới dạng những hàng tít lớn được chiếu trên màn ảnh vô tuyến truyền hình và đã làm cho phần lớn dân chúng Mỹ và một số quan chức kinh hoàng. Phải rất lâu họ mới hoàn hồn và trong một số trường hợp, sự hoàn hồn đó mãi mãi không bao giờ được khôi phục lại hoàn toàn”.

M.Tay-lơ còn nói: “Những điều bất ngờ thực sự mà cuộc tiến công Tết 1968 đã gây cho tôi không phải là việc đối phương đã mở được một cuộc tiến công lớn mà chính là việc họ đã mở cùng một lúc nhiều trận tiến công mãnh liệt đến như thế”.

Tướng W.C. Oét-mo-len (W.C.Westmoreland) – nguyên Tư lệnh Bộ Chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam viết trong Một quân nhân tường trình, xuất bản ở Niu Oóc năm 1976: “Việt Cộng đã đưa chiến tranh đến các thành phố, các đô thị, đã gây thương vong thiệt hại và nền kinh tế bị phá hoại… các trung tâm huấn luyện bị đóng cửa… Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta (Mỹ) phải công nhận, đối phương đã giáng cho Chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề”. W.C. Oét-mo-len còn nhận xét một cách bi quan rằng: “Chiến tranh đã trở thành một vấn đề chính trị với triển vọng địch (tức quân giải phóng – người viết) có thể thắng ở Oa-sinh-tơn như họ đã thắng ở Giơ-ne-vơ năm 1954. Ý chí của các chính khách Mỹ đang suy giảm”.

Ngày 27-3-1968, chưa đầy 2 tháng sau khi ta mở cuộc tiến công, cựu Tổng thống Mỹ D. Ai-xen-hao (D. Eisenhower), đã phải than thở: “… Chưa bao giờ gặp phải tình trạng đáng buồn như tình cảnh hiện nay của nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc về chiến tranh”.

Ngay đương kim Tổng thống L. Giôn-xơn lúc bấy giờ cũng tỏ ra chán nản, dao động. Trong hai ngày 25 và 26-3-1968, ông ta đã triệu tập một cuộc họp “những nhân vật am hiểu tình hình nhất”. Phiên họp kéo dài với những thành viên hội nghị gồm những người nắm những địa vị then chốt nhất trong Chính phủ Mỹ, L. Giôn-xơn đã hỏi quan điểm từng người một. Và, “Tổng thống đã nhận được những câu trả lời vô cùng bi quan của những người từ trước đến nay vẫn được xem là loại cứng rắn… Cuối cùng, Tổng thống quyết định rời khỏi sân khấu chính trị với hy vọng thống nhất lại một quốc gia đang bị chia rẽ ngay trong những người thân cận nhất của Tổng thống”. Sau đó, ngày 8-6-1969, R. Ních-xơn (Richard M.Nixon) gặp Nguyễn Văn Thiệu tại đảo Mít-uây (Midway) để bàn về việc Mỹ sẽ rút quân khỏi Việt Nam. Hen-ry Kít-xinh-giơ (H.Kissinger), cựu Ngoại trưởng Mỹ nhận xét: “Việc Tổng thống chúng ta chỉ có thể gặp người lãnh đạo một nước mà hơn 30.000 người Mỹ đã chết vì nó trên một hòn đảo hiu quạnh trong một khung cảnh đẹp trời của Thái Bình Dương chứng minh tình hình rối như tơ vò mà chiến tranh Việt Nam đã dìm xã hội chúng ta vào”.

Đó là lời của các nhân vật chóp bu trong giới cầm quyền Mỹ. Còn báo chí Mỹ thì sao?

Tờ Tin tức Oa-sinh-tơn ngày 31-1-1968 đã viết: “Các cuộc tiến công ồ ạt, táo bạo của cộng sản ngày 31-1 vào Sài Gòn, 8 tỉnh lỵ và 30 thị trấn nhỏ hơn là một điều đáng kinh ngạc. Cảnh sát quân sự Mỹ đã phải đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống nóc nhà sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trong khói đạn để giành lại ngôi nhà được coi là “chống du kích” nhưng lại bị cộng sản chiếm trong 6 giờ liền. Chỉ riêng cảnh tượng đó cũng đủ để buộc Chính phủ Giôn-xơn dẹp đi, coi là không có giá trị những nhận định lạc quan của mình”.

Thời báo Niu Oóc, tờ báo lớn nhất của Mỹ số ra ngày 1-2-1968 bình luận: “Cuộc tiến công của đối phương đột nhập cả đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn cho thấy thêm những bằng chứng đau xót về sức mạnh có hạn của Mỹ ở châu Á. Bằng chứng cuộc tiến công táo bạo vào những thành phố chính ở miền Nam Việt Nam và bằng sự tập trung quân ở Khe Sanh, cộng sản đã làm tiêu tan niềm lạc quan bao trùm lên Oa-sinh-tơn và Sài Gòn trong mấy tháng qua. Đây rõ ràng không phải là hành động của một đối thủ đang yếu dần như các nhà quân sự Mỹ đã khẳng định hồi tháng 11 năm 1967”.

Cũng tờ báo này, trong số ra ngày hôm sau 2-1-1968 có đoạn: “Chiến thắng của Việt Cộng chứng minh sự suy yếu của cơ cấu chính trị mà Mỹ dùng làm chỗ dựa trong cố gắng chiến tranh và đe dọa thủ tiêu hoàn toàn các cơ cấu chính trị đang suy  yếu”. Tác giả bài báo tỏ ý lo ngại rằng: “Hậu quả chính trị do thắng lợi đáng kinh ngạc của Việt Cộng gây ra lần này mới là nguy hại nhất”.

Không chỉ báo chí Mỹ, các báo phương Tây và các nước trên thế giới đều đưa tin và bình luận về sự kiện lịch sử này.

Hãng thông tấn Roi-tơ (Anh) ngày 3-2-1968 nói: “Quy mô và tính chất ác liệt của các trận tấn công phối hợp ở Sài Gòn và ở các trung tâm chủ chốt khác tại Nam Việt Nam làm cho Mỹ và các nước đồng minh rất đỗi ngạc nhiên”. Kế đó, ngày 5-2-1968 hãng này thống kê: “Mỹ có đến nửa triệu quân ở Nam Việt Nam, đã mất 13 năm và đã tiêu mỗi ngày 60 triệu đô-la mà vẫn không bảo vệ được một tấc đất vuông nào ở miền Nam Việt Nam cả”. Trong khi đó, báo Người quan sát (Anh) tỏ ra ngạc nhiên khi than rằng: “Người ta không thể tin là một tình hình như thế lại có thể xảy ra”.

Báo Thế giới (Pháp) ngày 1-2-1968 mỉa mai: “Người Mỹ đã từng khẳng định dân chúng Nam Việt Nam chịu đựng hơn là ủng hộ Mặt trận Dân tộc giải phóng, giờ đây liệu họ còn có thể nêu lên những lý lẽ như thế nữa không sau khi đã xảy ra một cuộc biểu dương đáng khâm phục về sức mạnh và lòng dũng cảm của Việt Cộng như vậy”. Báo Chiến đấu ngày 1-2-1968 khẳng định: “Điều hiển nhiên là người Mỹ đã thua đứt về mặt chính trị trong cuộc chiến tranh này rồi. Những gì xảy ra ở Sài Gòn cũng đủ cho thấy Mặt trận Dân tộc giải phóng đã nắm được các tầng lớp dân chúng ở miền Nam Việt Nam trong mức độ lớn biết nhường nào”.

Tờ Le Figaro (Pháp) ngày 2-2-1968 ca ngợi: “Cuộc tiến công lừng danh của Việt Cộng cho ta thấy trước hết cái tài tình của những người chỉ huy trong việc hướng dẫn cuộc chiến tranh vừa quân sự, vừa chính trị này. Về mặt đối nội – họ vừa thu được một thắng lợi lớn; họ chứng tỏ cho nhân dân Việt Nam thấy rằng họ có thể đánh nơi nào và lúc nào cũng được hết. Họ làm cho chính phủ Sài Gòn và quân đội của chính phủ này trở thành một trò cười. Họ tăng cường sự kiểm soát của họ, và do đó, làm giảm bớt sự kiểm soát của chế độ Sài Gòn đối với dân thường, những người dân thường này thì đầy lòng kính nể và khâm phục đối với Mặt trận Dân tộc giải phóng”.

Nhiều báo của các tổ chức đảng cộng sản và công nhân ở các nước tư bản đều tỏ thái độ khâm phục đối với cuộc chiến đấu chống Mỹ của nhân dân ta qua sự kiện Tết. Báo Nhân đạo – cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp ngày 1-2-1968 đã ca ngợi: “Đây là cuộc tiến công lớn nhất của các lực lượng vũ trang giải phóng. Những người yêu nước miền Nam Việt Nam đã chứng tỏ rằng ở khắp nơi, quyền chủ động đang thuộc về họ, họ có thể quyết định địa điểm, thời gian của các cuộc tiến công làm cho bộ chỉ huy Mỹ luôn luôn bở hơi tai”.

Các nước trong phe xã hội chủ nghĩa lúc đó thì vui mừng. Hầu như báo của nước nào trong ngày 31-1-1968 và ngày 1-2-1968 cũng đăng bài biểu lộ niềm hân hoan trước thắng lợi của nhân dân ta. Tiêu biểu là tờ Diễn đàn nhân dân Ba Lan, có đoạn: “Các trận đánh táo bạo được chuẩn bị tốt của những người yêu nước miền Nam Việt Nam là sự phát triển của các cuộc tiến công trên một quy mô rộng lớn mà Quân giải phóng đã mở đầu trong tháng Giêng năm nay vào những lúc, ở những nơi và với hình thức mà họ lựa chọn. Quân giải phóng trên thực tế đã trói chân, khóa tay tất cả các lực lượng chiến đấu của quân thù trong khắp các tỉnh”.

Qua một số sách báo Mỹ và nước ngoài nói về sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 có thể nhận thấy, dù ở góc độ nào, dưới con mắt của các nhà khoa học quân sự, nhà chính trị, nhà sử học hay nhà báo, từ người dân bình thường đến các tướng lĩnh cao cấp, thậm chí cả Tổng thống đương nhiệm của nước Mỹ lúc bấy giờ đều phải thừa nhận tác động to lớn của sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 đối với toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Điều này chứng tỏ tầm vóc và ý nghĩa sâu sắc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968 của quân và dân ta ở miền Nam. Nó đập tan những luận điểm sai trái và xua đi những nghi ngờ về thắng lợi của ta trong lịch sử Tết Mậu Thân năm 1968./.

Trần Nam Chuân
Đại tá, PGS, TS, Viện Chiến lược quốc phòng, Bộ Quốc phòng
tapchicongsan.org.vn

Mậu Thân 1968 – Còn mãi ký ức hào hùng

NDĐT – 0 giờ đêm Giao thừa Tết Mậu Thân 1968, tiếng súng đầu tiên đã báo hiệu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đánh vào các trung tâm đầu não, các thành phố, thị xã, thị trấn, các căn cứ quân sự lớn, sân bay, quân cảng, kho tàng, quận lỵ…trên toàn miền Nam.

Đại tướng Phạm Văn TràĐại tướng Phạm Văn Trà

Cuộc Tổng tiến công diễn ra trong hơn 300 ngày đêm là một sáng tạo độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, tạo điều kiện để quân dân ta thực hiện tiến trình vĩ đại giải phóng hoàn toàn Tổ quốc khỏi ách ngoại xâm‏.

Kỷ niệm 45 năm Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, NDĐT xin giới thiệu với bạn đọc nguồn cảm xúc không thể nào quên của những người trực tiếp cầm súng chiến đấu trên các chiến trường khi đó.

Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Ủy viên Bộ chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng:

Ấn tượng với tôi là ba mũi giáp công chính trị, quân sự, binh vận

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã trở thành sự kiện gây chấn động lớn trên thế giới về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy có ý nghĩa rất lớn lao về mặt ngoại giao. Nếu không có Mậu Thân 1968, chưa chắc Mỹ đã chịu ngồi vào đàm phán ở hội nghị Pa-ri… Đây là một thắng lợi rất lớn trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, tiến tới thống nhất đất nước của quân và dân ta, là tiền đề để thực hiện lời huấn thị của Bác Hồ trước khi chiến dịch diễn ra là “Đánh cho Mỹ cút/ Đánh cho ngụy nhào”.

Khi đó, Thượng nghị sĩ Mỹ Robert Kennedy đã phải thốt lên rằng: Tại sao mà nửa triệu lính Mỹ và hơn 70 vạn lính Nam Việt Nam cộng tác, có ưu thế hoàn toàn trên không và ngoài biển, được cung cấp quá đầy đủ và được trang bị những vũ khí hiện đại nhất…, lại không có khả năng bảo vệ được thành phố khỏi bị đối phương tấn công.

Nhận xét đó của một chính khách Mỹ như thế cũng đủ cho thấy rằng, trong Tổng tiến công Mậu Thân 1968, chúng ta đã có nhiều cách đánh địch hiệu quả. Trong đó, ấn tượng với tôi có lẽ là ba mũi giáp công chính trị, quân sự, binh vận.

Khi Tiểu đoàn 309, Trung đoàn U Minh, Quân khu 9 của chúng tôi tiến đánh Cần Thơ, quân địch đã bị rối loạn bởi nhân dân ta ở khắp nơi biểu tình đấu tranh chính trị, kêu gọi địch đầu hàng. Điều đó tạo điều kiện rất thuận lợi cho Tiểu đoàn đánh chiếm gần hết TP Cần Thơ.

Viện sĩ, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng:

Bài học xây dựng nghệ thuật chiến tranh Việt Nam

Khi đó, Trung đoàn 27, đơn vị tôi đánh địch trên vùng rộng lớn khu vực phía bắc Quảng Trị. Địch đánh phá điên cuồng hòng cắt đứt đường chi viện của ta cho chiến trường miền Nam. Đây là thời gian quan trọng để đơn vị và bản thân tôi đúc kết được nhiều kinh nghiệm trong cách đánh địch. Từ cách đánh nhỏ, đánh vừa, đánh tiêu hao sinh lực địch đến cách đánh lớn, đánh tập trung, đánh tiêu diệt lực lượng lớn của địch. Chúng ta phải chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn, đối đầu với một lực lượng lớn hơn ta nhiều lần, được trang bị vũ khí hiện đại, trong khi đó quân ta thiếu vũ khí, thiếu lương thực trầm trọng. Nhưng với nghệ thuật chiến tranh nhân dân, với thế đánh cài răng lược…, cùng với các chiến trường khác, chúng ta đã duy trì thành quả chiến thắng về mặt quân sự để tạo điều kiện cho thành công trên mặt trận ngoại giao.

Chiến thắng trong Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 khẳng định sự tài tình trong điều hành chiến tranh của Đảng ta, trong đó có sự dự báo tình hình chính xác, từ đó đưa ra chiến lược đúng đắn. Đây cũng chính là bài học quan trọng để chúng ta tiếp tục đúc kết kinh nghiệm, xây dựng nghệ thuật chiến tranh Việt Nam, đặc biệt để áp dụng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trong bảo vệ biên giới, bầu trời và đặc biệt là chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Thiếu tướng Lê Huy Mai, nguyên Phó Chánh thanh tra Bộ Quốc phòng:

Sự tin yêu và ủng hộ của nhân dân giúp chúng tôi bám trụ

Trong Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, chủ yếu quân chủ lực của ta từ phía núi đánh xuống đồng bằng thì Trung đoàn 803, đơn vị của tôi được lệnh luồn sâu vào lòng địch, cụ thể là luồn vào vùng bờ biển Thừa Thiên – Huế để đánh chặn đường tiếp quân của địch từ phía biển vào Huế. Đây là địa bàn hoàn toàn lạ lẫm đối với quân giải phóng. Trải qua quá trình hành quân không ít hy sinh, chúng tôi đã đến được bờ biển Vinh Xuân, Huế.

Điều bất ngờ với tôi và mọi người trong đơn vị là người dân trong lòng địch lần đầu tiên gặp quân giải phóng và họ “bị chiếm làng”, nhưng lại ủng hộ cách mạng đến vậy. Đêm đến, trong làng còn có người già tìm gặp quân giải phóng để xem có đúng như tuyên truyền “là những đứa hung ác, ăn lông ở lỗ, bốn đứa trèo lên mà không gãy nổi một cành cây đu đủ”. Sự tin yêu và ủng hộ của nhân dân nơi đây đã giúp đơn vị chúng tôi bám trụ trên chiến trường gần ba trăm ngày đêm cho đến khi có lệnh rút quân lên núi.

Còn nhớ nửa sau năm 1968, địch rêu rao “tát nước bắt cá” khi chúng lùng sục càn quét quân ta. Vậy nhưng, những chiến sĩ quân giải phóng vẫn ém mình trong đồng ruộng, trong bờ tre, trong sự đổ nát của làng mạc để đêm đêm lại đánh cho địch những đòn choáng váng.

Ông Đặng Xuân Tẻo, Đội trưởng Đặc công Biệt động 4 Sài Gòn:

Đội 11 người, chỉ còn lại mình tôi

Mũi tấn công đánh vào Đài Phát thanh Sài Gòn là mũi tấn công mà báo chí nước ngoài mô tả là một trận chiến bi hùng nhất trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968. Theo chỉ thị cấp trên, Tôi chỉ huy Đội 4, Phân khu 6, Biệt động Sài Gòn, đánh chiếm và giữ Đài phát thanh trong một tiếng đồng hồ để bàn giao lại cho Tiểu đoàn 4 Thủ Đức và Đài phát thanh Mặt trận giải phóng Miền Nam Việt Nam.

Thời điểm ấy, chúng tôi nhận định, chiếm Đài phát thanh thì dễ, nhưng để giữ được lâu dài là rất khó, cho nên tôi đã tính phương án phải mang theo khối bộc phá từ 20-30kg phòng khi kế hoạch không thành sẽ cho phá hủy Đài phát thanh. Đồng thời cương quyết không để bị bắt, tức là anh em sẽ nổ luôn cùng trái bộc phá.

Tuy nhiên, chỉ thị cấp trên là tuyệt đối không được phá hủy Đài phát thanh. Chiếm được Đài phát thanh, 11 người chúng tôi đã phải chống lại trực thăng trên không và Lữ đoàn tăng thiết giáp cùng lính dù dưới mặt đất.

Đến 5 giờ sáng, đội chỉ còn bốn người. Vũ khí đã hết, không có tiếp viện. Tôi phải mở đường máu trở ra ngoài để xin ý kiến chỉ huy cho anh em giữ đài hay phá để thoát ra. Nhưng… đã không kịp quay trở lại.

7 giờ sang, một tiếng bộc phá nổ lớn. Lúc đó, tôi nói với anh em vòng ngoài: “Rồi! Anh em mình giờ đã giật nụ xòe cho bộc phá nổ, hy sinh theo lời thề”

11 anh em chiến đấu hy sinh mất 10, còn lại duy nhất mình tôi.

Tôi biết rằng đồng đội của tôi đã cảm tử để không bị sa vào tay quân thù. Và Quân lệnh vẫn được giữ nguyên: Đài Phát thanh không bị phá hủy.

nhandan.com.vn

Huyền thoại “Mậu Thân 1968” được kể từ những vật đời thường

(Dân trí)- Những câu chuyện giản dị đời thường đã kể lại 26 ngày đêm đẫm máu ở Huế trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968…

 >> Lật lại những câu chuyện lịch sử “nhạy cảm” trong chiến dịch Mậu Thân 1968

Những kỷ vật bình dị nhưng chứa đầy cả một lịch sử bi thương – hào hùng của quân, dân Thừa Thiên Huế trong chiến dịch giải phóng xuân Mậu Thân 1968

B40- khẩu súng thô sơ và kỳ tích

Khẩu B40 là một loại súng chống tăng không giật dùng cá nhân, thông dụng trong thời kỳ quân dân ta đấu tranh chống Mỹ cứu nước, nhất là trong thời kỳ khó khăn nhất, vào thập niên 1960. Ngày đó, B40 là khẩu súng chủ lực để diệt xe và công sự địch. Vì nước ta lúc bấy giờ còn khó khăn nên việc sử dụng vũ khí thế nào vừa hiệu quả, vừa tiết kiệm luôn được đề cao. Vì vậy, mỗi chiến sĩ khi được cầm súng đánh giặc luôn là những người biết đặt tài năng và trách nhiệm với Tổ quốc của mình trong từng viên đạn. Những chiến thắng đầu tiên tại Ấp Bắc, Vạn Tường đã thể hiện tính năng của súng: khẩu súng của đội quân nghèo, mang nhẹ, ít lực lượng nhưng lại đánh thắng địch đông và nhiều xe pháo.

Những khẩu súng B40 cùng súng trường được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử- Cách mạng Thừa Thiên Huế.

Cũng với khẩu súng này năm xưa, chị Phạm Thị Liên, Đội trưởng đội 11 cô gái du kích Sông Hương (đã hy sinh trước giải phóng đất nước 1975) đã đánh lùi nhiều đợt phản kích của địch trong chiến dịch mùa xuân Mậu Thân năm 1968 tại Huế. Thành quả này đã đánh dấu một mốc son cho sự hiệu quả trong việc sử dụng B40 ở mặt trận Trị Thiên Huế. Bên cạnh B40, các loại súng cối 60 ly, các- bin, khẩu đội DKZ cũng dần được sử dụng rộng rãi và được thiết kế ngày một phù hợp hơn với quân dân Việt Nam, chứng tỏ sức sáng tạo không ngừng trong những lúc nước sôi lửa bỏng của trí tuệ Việt.

Đốm lửa của bình minh

Đó chính là chiếc đèn pin của đồng chí Diệp Văn Phùng, một chiến sĩ cách mạng. Trong đêm 31/01/1968, khi quân ta tấn công vào Thành Nội Huế trong chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy năm Mậu Thân 1968, để làm tín hiệu mở cửa Thượng Tứ- một điểm chốt quan trọng trong chiến dịch, chiếc đèn pin “cồng kềnh” này đã góp công vào việc chỉ lối để giúp bộ đội ta đi đúng đường và tiết kiệm thời gian, làm nên chiến thắng thần tốc không cho giặc Mỹ kịp trở tay.

Chiếc đèn pin lịch sử năm xưaChiếc đèn pin lịch sử năm xưa

Chiếc đèn pin thô sơ bám bụi đất ấy lúc bấy giờ như ngọn hải đăng trên cạn xóa tan bóng tối, mở ra con đường đi của cách mạng: con đường của niềm tin vào ngày mai.

Lạc quan đi liền sáng tạo

Thành quả của những năm tháng hoạt động ở Hương Thủy của đồng chí Nguyễn Vạn, Ủy viên Khu ủy Trị Thiên Huế chính là một chiếc quạt. Chiếc quạt ấy, nhìn qua thì cũng rất bình thường nhưng thực ra, nó được làm từ vải quần áo của giặc Mỹ. Chất liệu vải rất tốt, khó thấm nước, qua bàn tay khéo léo của người Việt Nam mình đã trở thành chiếc quạt rất đẹp. Chiếc quạt màu xanh rằn ri được may bằng chỉ trắng, thêu hoa vàng ở giữa và dòng chữ nổi cách điệu “Kính Tặng Thu” màu đỏ. Đằng sau dòng chữ ấy chắc hẳn cũng là một chuyện tình đẹp…

Chiếc quạt là kỷ vật của sự sáng tạo và kiên nhẫn.Chiếc quạt là kỷ vật của sự sáng tạo và kiên nhẫn.

Nước mắt + máu = tình yêu

Khăn tang của mẹ Bếp, 72 tuổi ở xã Quảng Lộc, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế đã được kết tinh như thế. Trong những tháng ngày kháng chiến ác liệt, cũng như bao người mẹ Việt Nam khác, mẹ Bếp đã tiễn người con trai của mình ra mặt trận để rồi nhận về trên đầu một chiếc khăn tang. Không có nỗi đau nào hơn khi người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, khi người con của mẹ đã vì hai tiếng thiêng liêng Tổ quốc mà hy sinh.

Chiếc khăn tang “gói” tình thương của mẹChiếc khăn tang “gói” tình thương của mẹ

Khi nhìn thấy một chiến sĩ quân giải phóng bị thương trong chiến dịch mùa xuân năm 1968, chính tay mẹ đã lấy chiếc khăn tang của mình băng vết thương của người chiến sĩ ấy để cầm máu. Một biểu tượng của tình yêu. Mẹ Bếp đã lấy nỗi đau của mình để đè lên nỗi đau của người chiến sĩ, lấy sự mất mát của mình khỏa lấp, cưu mang lấy một người con xa lạ nhưng cũng rất đỗi anh hùng. Chiếc khăn tang trở thành chiếc băng cứu thương, điều đó cũng đồng nghĩa rằng nước mắt không có chỗ trong chiến tranh mà chỉ có hành động.

“Huế là một trong những bài thơ hùng tráng chống Mỹ cứu nước. Trên ngực phía trái của bản đồ Tổ quốc, Huế nổi lên như một bông hoa đỏ thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Sông Hương nổi sóng, núi Ngự chuyển mình trong cuộc tiến công vùng dậy lịch sử”. 26 ngày đêm đẫm máu ở Huế là bản anh hùng ca bất tận, muôn đời.

Ngọc Bích – Đại Dương
dantri.com.vn

Mùa xuân, suy nghĩ về minh triết Hồ Chí Minh

Lời của Bác - Lời của non sông(NTO) Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới. Người đi xa, nhưng để lại cho dân tộc ta một kho tàng tư tưởng đồ sộ – tư tưởng Hồ Chí Minh. Gần đây, giới học thuật đã không dừng lại ở việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh mà đã xuất hiện những công trình nghiên cứu mới về “Minh triết Hồ Chí Minh”.

Minh triết, hiểu một cách chung nhất là sự sáng láng, mẫn tiệp, thông tuệ của trí tuệ mang tính cách phương Đông. Đó là những tư tưởng thuộc về nhân sinh, đạo lý, đi vào lối sống, là những đúc kết thành châm ngôn, gắn với đời sống, rất gần với thực tiễn và nó trở thành những chỉ dẫn về lối sống cho con người.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi của Bác, có thể kể ra hàng ngàn những câu chuyện về tấm gương đạo đức của Bác, mà đó có thể coi là những minh triết- minh triết Hồ Chí Minh.

Chuyện kể rằng tấm áo Bác mặc đã cũ, sờn. Các đồng chí giúp việc thương Bác quá, cứ năn nỉ đề nghị Bác thay bộ quần áo mới. Bác bảo không sao cả, Bác mặc được, cứ để Bác mặc, đỡ tốn kém. Mỗi đồng tiền, bát gạo mà chúng ta tiêu dùng đều là mồ hôi nước mắt của dân. Thương dân thì phải tiết kiệm. Lãng phí là không thương dân. Tham ô, ăn cắp của dân là có tội với dân, với cách mạng. Bác nói với các đồng chí phục vụ và ngay cả trong các phiên họp Trung ương là “Chủ tịch nước mà biết mặc áo vá là có phúc cho dân”. Đó chính là một tư tưởng minh triết. Trong điều kiện đất nước Việt Nam vừa giành được độc lập, vừa thoát khỏi trăm năm đô hộ của thực dân phong kiến, lại trải qua chín năm kháng chiến trường kỳ để bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được, đời sống nhân dân còn gặp muôn vàn khó khăn, vất vả thì quan điểm, tư tưởng đó của Bác thật là thiết thực, gần gũi đời thường mà mấy người có được.

Khi bàn về chân lý, chúng ta đều hiểu một cách chung nhất chân lý là tri thức lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu, tri thức phù hợp với khách quan. Nhưng Bác nói chân lý là cái gì tốt cho nhân dân, cái gì lợi cho nhân dân và cái gì đúng với nhân dân thì cái đó là chân lý. Đó cũng là một tư tưởng minh triết. Bác cũng nói là người có đạo đức thì tiếp thu chân lý dễ hơn. Như vậy, Bác đã soi vào chân lý từ góc độ đạo đức học. Luận điểm này của Bác rất sâu sắc, thâm thúy, tức là người có đạo đức thì dễ phục thiện hơn, dễ thừa nhận sự thật hơn, dễ thừa nhận đạo lý hơn. Và do vậy, trong khoa học có cả đạo đức. Đó là bệ đỡ tinh thần cho con người trong cuộc hành trình đi tìm chân lý.

Một chuyện nữa về Bác cũng rất đời thường. Có lần Bác mời một đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đi tát nước với Bác. Ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, khi lấy nước vào các chân ruộng cao phải tát nước bằng gàu dai. Khi tát nước phải có hai người phối hợp nhịp nhàng mới tát nước được. Vào tát nước với Bác, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cứ lúng túng không tát được làm nước bắn tung tóe lên cả râu, lên cả áo Bác, vì cả đời có tát nước bao giờ đâu. Trong khi đó Bác tát nước thành thạo như một lão nông tri điền. Bác hỏi chú chưa tát nước bao giờ à? Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy thưa với Bác là chưa ạ!. Bác bảo không sao cả, Bác sẽ huấn luyện cho chú biết tát nước. Sau đó Bác nói một câu là một minh triết: “Chú làm Bí thư một tỉnh nông nghiệp thì chú phải biết tát nước”. Tức là làm bí thư tỉnh ủy thì phải gắn với nhân dân, phải thấu hiểu cách nghĩ của nhân dân và sống trong cuộc sống của nhân dân thì mới lãnh đạo nhân dân được. Suy rộng ra, khi làm bất kể một công việc gì cũng cần phải sâu sát, phải thấu hiểu công việc mình làm thì mới có thể thành công. Làm người cán bộ trong bộ máy công quyền là nhằm phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội thì cần phải hiểu nhân dân, hiểu xã hội. Trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của người cán bộ thì người cán bộ cần phải hiểu chức trách, nhiệm vụ của mình, và thực hiện chức trách, nhiệm vụ đó phải phù hợp với điều kiện cuộc sống, tránh quan liêu bàn giấy, tránh lý luận suông mù quáng.

Chính những quan điểm, tư tưởng của Bác rất đời thường, rất dung dị và hòa với cách nghĩ, lối sống của nhân dân nhưng lại bao hàm những tư tưởng nhân sinh rộng lớn, là những tư tưởng minh triết nên ai cũng có thể hiểu Bác, ai cũng có thể học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác được, miễn là người đó có tâm, miễn là người đó quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác để cho “…đời ta trong sáng hơn”.

Thiết nghĩ, mỗi cán bộ, đảng viên thường xuyên học tập, rèn luyện và mỗi tổ chức cơ sở Đảng, mỗi cơ quan, đơn vị phải tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Đảng ta phát động, tạo thêm động lực mạnh mẽ, có sức lan tỏa rộng lớn, góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” ở nước ta trong điều kiện hiện nay.

Trương Tiến Hưng
Phó Giám đốc Sở Tư pháp
laodong.com.vn

Thiên nhiên và mùa xuân trong thơ văn của Bác

Không chỉ trong các tác phẩm văn chương nghệ thuật và những trước tác Người để lại, mà trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thiên nhiên và mùa xuân đất nước luôn gắn bó mật thiết, rất gần gũi, thân quen và là đối tượng khơi nguồn cảm hứng, góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng trong tư tưởng và tình cảm của Người.

Thiên nhiên và mùa xuân đất nước qua thơ văn của Bác

Tách mình ra khỏi tự nhiên nguyên khởi là một nỗ lực và là bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển của loài người, kể từ khi con người biết chế tác ra công cụ lao động và sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp rất hữu hiệu. Điều này đã được F. Engel nói rất rõ trong tác phẩm nổi tiếng: “Biện chứng của tự nhiên”. Thế nhưng, chủ động hoà đồng trở lại với tự nhiên như một phẩm chất mang tính nhân văn sâu sắc lại chỉ có ở một số người với tư cách là nhà sáng lập ra các học thuyết tư tưởng, các nghệ sỹ lớn mà tác phẩm của họ có ảnh hưởng sâu rộng đến tiến trình phát triển của nhân loại. Trong tư tưởng và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh dường như có cả hai phẩm chất đó: Nhà tư tưởng và nhà nghệ sỹ.

Có thể nói thiên nhiên dưới con mắt của Bác rất sống động, phong phú và đa dạng. Nó không chỉ là đối tượng để khai thác, miêu tả, là tác nhân nâng đà cho xúc cảm thẩm mỹ bay cao và vươn xa đối với quá trình sáng tạo thi ca, hơn thế nữa, nó còn tạo nên những giá trị thẩm mỹ tự nhiên cho tác phẩm nghệ thuật, tạo nên cốt cách của một thi sỹ- nhà hiền triết phương Đông Hồ Chí Minh rất độc đáo. Chính vì thế, thiên nhiên và mùa xuân đất nước trong tình cảm của Bác không còn là “Cái Tự nhiên tự nó” mà đã trở thành “Cái Tự nhiên cho ta” (ý của Hegel).

Ngay từ những ngày ở trong lao tù của Tưởng Giới Thạch, thiên nhiên đã ùa vào tình cảm của Bác hay là chính Người đã tìm đến với thiên nhiên. Có lẽ là cả hai:

Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ

(Ngắm trăng)

Hay là:

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.
Cô em xóm núi xay ngôi tối
Xay hết, lò than đã rực hồng

(Chiều tối)

Hoặc:

Núi ấp ôm mây, mây ấp núi
Lòng sông gương sáng, bụi không mờ
Bồi hồi dạo bước Tây phong lĩnh
Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa

(Mới ra tù tập leo núi)

Trở về nước sau một thời gian bôn ba ở hải ngoại, hình bóng quê hương, đất nước thân yêu như càng trở nên thiêng liêng hơn bao giờ hết đối với Bác. Người đã ôm hôn nắm đất quê hương khi mới đặt chân lên mảnh đất Cao Bằng, nơi địa đầu của Tổ quốc. Và trong thời gian lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc, mặc dù bận trăm công nghìn việc, nhưng xúc cảm về thiên nhiên và mùa xuân đất nước vẫn không hề vơi cạn trong tâm tưởng của Người:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi.
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.
Giữa dòng bàn bạc việc quân.
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

(Rằm tháng giêng)

Tố Hữu trong một lần tháp tùng Bác Hồ về thăm Pác Bó (năm 1961) (ảnh vnca.com.vn)

Và qua những việc làm cụ thể

Tuy nhiên, tình yêu thiên nhiên, đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện ở trong các tác phẩm thơ ca, như là những sáng tạo nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân, mà nó còn được thể hiện trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Vì thế chúng ta có thể thấy những nơi Bác chọn làm chỗ ở và làm việc đều là những địa danh vừa đảm bảo sự bí mật thiết yếu về mặt an ninh, quốc phòng, vừa gần gũi với thiên nhiên, đất nước. Những địa danh đó chính là suối Lê Nin, núi Các Mác ở Pắc Bó, Cao Bằng, lán Nà Lừa ở Tân Trào, Tuyên Quang, khu Đá Chông ở Ba Vì, Hà Tây (cũ) và ngôi nhà sàn xung quanh có vườn cây, ao cá ở giữa thủ đô Hà Nội.

Tình yêu thiên nhiên, đất nước ở Bác đã vượt lên trên việc ngắm cảnh hay ngâm vịnh, mà quan trọng hơn là tình yêu ấy đã được thể hiện thành những việc làm rất cụ thể, thiết thực trong việc bảo vệ, giữ gìn tài sản vô giá của quốc gia, dân tộc.

Sau khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc, trong dịp nói chuyện với Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An, ngày 8/12/1961, Bác đã nói: “Trồng cây gây rừng là rất quan trọng. Bây giờ dân chưa thấy đâu. Có khi các chú cũng chưa thấy”. Có lần Bác đã giải thích một cách giản dị về tầm quan trọng của việc trồng cây gây rừng: “Nếu rừng cạn kiệt thì không còn gỗ và mất nguồn nước thì ruộng nương mất mầu, gây ra lụt lội và hạn hán… Nếu cứ để tình trạng đồng bào phá một ít, nông trường phá một ít, công nhân  phá một ít, thậm chí đoàn thăm dò địa chất cũng phá một ít thì rất tai hại… Phá rừng thì dễ, nhưng gây lại rừng phải mất hàng chục năm. Phá rừng nhiều như vậy sẽ ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống”. Và Người xem việc phá rừng không có kế hoạch là hành vi “đem vàng đổ xuống biển”.

Trước tình trạng phá rừng thiếu ý thức của một số người dân và một bộ phận cán bộ, Bác thấy cần phải phát động một phong trào Trồng cây gây rừng vào mùa xuân. Và phong trào do Bác khởi xướng trên khắp đất nước cho đến hôm nay và chắc là mãi về sau vẫn được toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta duy trì, phát triển thành một phong trào rộng khắp trong mọi tầng lớp xã hội. Mỗi khi tết đến, xuân về, hẳn nhiều người trong chúng ta còn nhớ mãi hai câu thơ của Người về Tết trồng cây:

Mùa xuân là tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân.

Có lẽ cho đến nay, ít có một lãnh tụ, một nguyên thủ quốc gia nào như Chủ tịch Hồ Chí Minh có hành động độc đáo đến như vậy.

Trước khi đi xa, trong Di chúc, Bác có bày tỏ nguyện vọng của mình mong muốn rằng sau khi qua đời thi hài được hoả táng và an táng trên một ngọn đồi nào đó gần núi Tam Đảo hay Ba Vì. Người còn nhắc nhở Đảng và Nhà nước “nên có kế hoạch trồng cây trên và xung quanh đồi. Ai đến thăm cũng trồng thêm một cây làm kỷ niệm. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp”.

Như vậy có thể thấy cảnh vật thiên nhiên và hình bóng mùa xuân đất nước luôn có mặt trong đời sống tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính thiên nhiên đã khơi nguồn cho nhiều tác phẩm thơ ca nổi tiếng và góp phần nâng vị thế danh nhân văn hoá thế giới của Người lên một tầm cao mới. Nhưng điều cần thiết phải nhấn mạnh ở đây là từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây những kiệt tác văn chư­ơng về thiên nhiên và đất nước th­ường là sản phẩm vô giá của những nhà văn, nhà thơ lỗi lạc và đồng thời cũng là những ngư­ời có tư tư­ởng, tình cảm xuất chúng như­ Trương Kế, Thôi Hiệu, Đỗ Phủ, Lý Bạch, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Tagor, Puskin…

Còn đối với Bác những tư tưởng, tình cảm về thiên nhiên và mùa xuân đất nước không chỉ dừng lại ở những điều chỉ giáo trong các văn bản hay tác phẩm nghệ thuật, mà hơn thế nó đã trở thành những hành động sống trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Sinh thời Bác đã từng cùng các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bà con nông dân và các cháu thiếu nhi tham gia Tết trồng cây ở một số địa phương miền Bắc như Hà Nội, Hà Tây (cũ)… mỗi khi xuân về và hàng ngày Bác vẫn thường cho cá ăn và chăm sóc vườn cây quanh khu nhà ở Phủ Chủ tịch.

Những hành động ấy, ngoài ý nghĩa giáo dục, còn ẩn chứa bên trong Bác là một người yêu thiên nhiên và đất nước đến khôn cùng. Thiên nhiên và đất nước trong đời sống tinh thần của Bác không đơn giản chỉ là một thái độ ứng xử tích cực của con người đối với cuộc sống xung quanh, hơn thế sự quan tâm, bảo vệ và hoà đồng với thiên nhiên và đất nước đã trở thành một phần máu thịt, gắn quện với nhân sinh quan và thế giới quan của một chiến sỹ cộng sản lỗi lạc, thể hiện tầm độ nhận thức cực kỳ sâu sắc của Bác đối với thế giới tự nhiên và vai trò chủ động, tích cực của con người trong tiến trình biến “Cái Tự nhiên tự nó” thành “Cái Tự nhiên cho ta”. Đấy vừa là một tình cảm cao quí, vừa là một bài học lịch sử vô giá mà trước lúc đi xa Người muốn để lại cho con cháu mai sau.

Đỗ Ngọc Yên
chinhphu.vn

Bác Hồ và mùa xuân thành lập Đảng

Người là niềm tin tất thắngNguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu từng nói: “Hằng năm chúng ta kỷ niệm ngày thành lập Đảng trùng với mỗi độ xuân về. Mùa xuân tiếp thêm sức sống cho con người và cảnh vật. Mùa xuân cũng là dịp để chúng ta ôn lại những chặng đường lịch sử vinh quang của Đảng, của dân tộc, cảm thấy lớn lên và vững vàng thêm bởi sức mạnh cội nguồn”. Mùa xuân năm nay, Đảng ta bước sang tuổi 81, nhân dịp này, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lại có dịp ôn lại chặng đường lịch sử vẻ vảng của Đảng và cách mạng Việt Nam.

Tháng 12 năm 1927, đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô đi Brúc-xen dự khóa họp của Đại hội đồng Liên đoàn chống đế quốc. Đây là tổ chức chống đế quốc rộng rãi đầu tiên trong mặt trận thống nhất giữa giai cấp công nhân thế giới và trí thức tiến bộ thế giới. Sau khóa họp, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi Pháp, rồi sang Đức, qua Thụy Sỹ, Italia, rồi Người đáp tàu Nhật Bản về Xiêm (Thái Lan), ở đây, Người vận động cách mạng trong bà con Việt Kiều và lập nên Hội Thân ái.

Một hôm nhận được liên lạc từ Hồng Kông chuyển đến, báo tin: phong trào cách mạng ở trong nước đang có những chuyển biến tốt. Cần có một đảng cộng sản thống nhất, có đường lối chính trị đúng để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Từ một vùng quê ở Thái Lan, Bác Hồ của chúng ta đáp xe lửa đi Băng Cốc, rồi từ Băng Cốc đi tàu thủy đến Singapo. Tại đây Người xuống tàu đi Hồng Kông.

Đến nơi, các đồng chí Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn ra tận cảng biển, bí mật đón Bác. Hai người đưa Bác về chỗ nghỉ và chuyển cho Bác bức thư của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Trong thư có đoạn viết: “Việc không có một đảng cộng sản thống nhất trong lúc phong trào quần chúng công nông lên cao là một nguy cơ lớn cho cách mạng ở Đông Dương sau này… Nhiệm vụ quan trọng và vô cùng cấp bách đối với tất cả những người cộng sản Đông Dương này là thành lập một đảng cách mạng của giai cấp vô sản”.

Sau đó mọi người cùng bắt tay chuẩn bị cho hội nghị hợp nhất. Bác tìm gặp và liên lạc với các đồng chí cũ, quen biết trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, để tạo điều kiện an toàn cho hội nghị. Cuộc họp quyết định tiến hành trong dịp tết. Vì ngày tết theo truyền thống phương Đông, mọi người đi lại rất đông, các đại biểu dự họp có thể đi khỏi đất nước dễ dàng hơn. Và ở Cửu Long, một cuộc họp như vậy cũng đảm bảo an toàn hơn.

Hội nghị bắt đầu làm việc từ ngày mồng 3 tháng 2 năm 1930. Phiên họp đầu tiên được khai mạc trong một căn buồng khách sạn loại hai, nơi phần lớn các đại biểu đang ở trọ. Trên bàn để sẵn một bộ súc sắc, để nếu có ai nghi ngờ, thì tưởng đấy là nơi tụ tập của những người ham mê cờ bạc trong dịp Tết.

Nhờ uy tín và sự phân tích của Bác, tất cả những vấn đề đã được giải quyết. Các đại biểu đã nhất trí thông qua nghị quyết về việc hợp nhất các tổ chức cộng sản trong cả nước thành một đảng cộng sản thống nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua chính cương vắn tắt và sách lược vắn tắt của Đảng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và sau đó bầu ra Ban Chấp hành Trung ương lâm thời để lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Để phòng xa, có ngày cuộc họp lại được chuyển đến một khán đài sân vận động ở Cửu Long, nhân một trận bóng đá. Chiều ngày cuối cùng của hội nghị, Bác tổ chức một bữa liên hoan nhỏ ngay tại phòng ở của mình. Vẫn 7 đồng chí: Hai đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng, hai đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng, các đồng chí Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu thay mặt cho tổ chức Đảng ở nước ngoài và Bác – Nguyễn Ái Quốc đại diện cho Quốc tế Cộng sản.

Khi các đại biểu đã ngồi chung quanh bàn, Bác xúc động nói: “Các đồng chí, hôm nay ngày lịch sử của chúng ta! Lê – nin vĩ đại đã nói, chỉ có Đảng nào có được một lý luận tiên phong, mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sỹ tiên phong. Bây giờ chúng ta đã có một Đảng như thế rồi. Nhân dân ta từ xưa đã có truyền thống đấu tranh anh dũng, nhưng suốt năm ấy, nhân dân ta thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây, Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đi đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

Trong giờ phút trọng đại của ngày thành lập Đảng ấy và trong câu nói ngắn ngủi ấy, Bác đã ba lần nhắc đến “nhân dân ta”. Mục đích của Đảng cũng là vì dân! Sức mạnh của Đảng cũng là từ dân! Có thể nói hình ảnh đẹp đẽ nhất trong tâm trí của Người, chính là nhân dân, là Tổ quốc!

Trong niềm vui của mùa xuân này, chúng ta càng nhớ đến Bác – Người sáng lập Đảng ta, lãnh tụ vĩ đại của nhân dân ta, nhưng cũng là người Bác thân thiết, gần gũi trong mỗi trái tim Việt Nam! Đúng như một người bạn nước ngoài đến thăm Việt Nam đã nói: “ở đất nước này đi đến đâu ta cũng cảm thấy sự hiện diện của tinh thần Hồ Chí Minh!”.

Bác vẫn ở cùng chúng ta, trong sắc xuân tràn đầy hy vọng!

Hồng Nguyên (ST)
thanhtravietnam.vn

Đảng, Bác Hồ Xuân Tân Tỵ và Quý Tỵ không thể nào quên

Mùa xuân Tân Tỵ năm 1941, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Ngày 28-1-1941, tức mùng 2 Tết, Người về tới cột mốc 108 biên giới Việt – Trung thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ngày 8-2-1941, Người đến ở trong hang Cốc Bó thuộc địa phận làng Pác Pó, xã Trường Hà. Nơi ở có con suối và ngọn núi, Người đặt tên là suối Lênin và núi Các Mác. Người sáng tác hai bài thơ: Pác Bó hùng vĩ và Tức cảnh Pác Bó.

Pác Bó hùng vĩ

Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là.
Đây suối Lênin, kia núi Mác,
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Tức cảnh Pác Bó

Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Đồng chí Dương Đại Lâm kể lại sinh hoạt của Bác trong thời gian ở Pác Bó: “Người sống rất giản dị và kham khổ. Nước lá ổi thay chè, và cải xoang là thức ăn chủ yếu. Ngày ấy đồng bào quanh vùng ăn độn bắp, mọi người trong cơ quan cũng ăn độn bắp. Riêng “đồng chí già” tuổi cao, sức yếu, chúng tôi mua gạo nấu riêng cho Người ăn, nhưng Người không đồng ý. Có lần bắp non xay để lâu mới ăn đến, bị chua, chúng tôi lại đề nghị Người ăn cơm gạo không, Người vẫn không nghe… Câu thơ cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng chính là ra đời trong thời kỳ này, gian khổ nhưng đầy lạc quan”.

Từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941, Bác Hồ chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông Dương: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Theo đề nghị của Bác, Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) nhằm đoàn kết tất cả các giới đồng bào yêu nước để giành lại độc lập dân tộc. Hội nghị cũng đã bầu Ban Chấp hành Trung ương mới và cử đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư của Đảng.

Mùa xuân Tân Tỵ năm 1941, tư duy độc lập sáng tạo của Bác Hồ, đặt cách mạng giải phóng dân tộc lên hàng đầu là tiền đề quyết định thành công của cách mạng mùa Thu tháng Tám 1945.

Mùa xuân Quý Tỵ 1953, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đã bước vào năm thứ tám. Nhân dịp Tết Dương lịch, ngày 1 tháng 1 năm 1953, Bác Hồ gửi Thơ chúc Tết đến đồng bào và chiến sĩ cả nước:

Thơ chúc Tết

Toàn thể chiến sĩ thi đua giết giặc,
Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng.
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi,
Độc lập thống nhất, nhất định thành công.

                                                Ngày 1 tháng 1 năm 1953
                                                Hồ Chí Minh

Cũng trong ngày này, Bác tiếp tục dự phiên họp Hội đồng Chính phủ. Tổng kết cuộc họp, Người nêu: Phải có chính sách cán bộ, phấn đấu nâng cao mức sống của cán bộ và các tầng lớp nhân dân. Phải triệt để chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Cán bộ phải gương mẫu đi trước; có thưởng, có phạt.

Ngày đầu năm dương lịch, Bác tiếp và chụp ảnh với đồng chí La Quý Ba cùng các đồng chí nữ trong Đoàn cố vấn Trung Quốc đến chúc mừng Người nhân dịp năm mới.

Hơn một tháng sau, đến Tết cổ truyền của dân tộc, Bác Hồ cũng có Thơ chúc Tết đăng trên Báo Nhân dân số 95 (ngày 11 đến ngày 15-2-1953):

Thơ chúc Tết xuân Quý Tỵ 1953

Mừng năm Thìn vừa qua,
Mừng xuân Tỵ đã tới.
Mừng phát động nông dân,
Mừng hậu phương phấn khởi.
Mừng tiền tuyến toàn quân
Thi đua chiến thắng mới.
Mừng toàn dân kết đoàn,
Mừng kháng chiến thắng lợi.
Mừng năm mới, nhiệm vụ mới,
Lực lượng mới, thành công mới.
Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,
Mừng phe dân chủ hòa bình thế giới.

                                                Hồ Chí Minh

Nhân dân ta đón Tết Quý Tỵ 1953 khi Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa 2) vừa kết thúc thắng lợi. Hội nghị đánh giá tình hình thế giới và trong nước năm 1952 và đề ra nhiệm vụ năm 1953 mà trọng tâm là: lãnh đạo kháng chiến và chính sách quân sự, xây dựng một quân đội nhân dân thật vững mạnh và luôn luôn tiến bộ; phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức để tiến đến cải cách ruộng đất.

Nói về tầm quan trọng và ý nghĩa của cải cách ruộng đất, Bác nhấn mạnh: “… Ngày nay, kháng chiến đã 7 năm, đồng bào nông dân hy sinh cho Tổ quốc, đóng góp cho kháng chiến đã nhiều và vẫn sẵn sàng hy sinh, đóng góp nữa. Song họ vẫn là lớp người nghèo khổ hơn hết, vì thiếu ruộng hoặc không có ruộng cày. Đó là một điều rất không hợp lý. Muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, dân chủ nhân dân thật thà thực hiện thì phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân”. Trên thực tế, dù có một số sai lầm lệch lạc được Bác Hồ kịp thời ngăn chặn, cải cách ruộng đất đã thu được kết quả to lớn. Hàng triệu nông dân có ruộng, đời sống được cải thiện, kháng chiến có thêm sức mạnh.

Đồng thời, từ đầu năm 1953, với bút danh Đ.X, Bác viết một loạt 50 bài thường thức về chính trị đăng trên Báo Cứu Quốc. Nội dung các bài viết là những vấn đề lý luận chính trị cơ bản, đi sâu chủ đề công tác xây dựng Đảng, xây dựng lý tưởng và niềm tin cho cán bộ, đảng viên để vượt qua gian khổ, hy sinh nhằm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Trước Tết, quân ta đã kết thúc thắng lợi chiến dịch Tây Bắc: Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá tan âm mưu lập “xứ Thái tự trị” của Pháp, giải phóng một phần đất đai, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Rồi sau Tết ba tháng, liên quân Lào – Việt mở chiến dịch Thượng Lào, giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phong Xa Lỳ. Nhờ vậy, căn cứ kháng chiến Thượng Lào nối liền với vùng Tây Bắc, tạo một thế mạnh uy hiếp quân Pháp.

Đầu tháng 3 năm 1953, Bác Hồ chủ tọa phiên họp Hội đồng Chính phủ. Bác phát biểu tổng kết phiên họp, nhấn mạnh: Phiên họp đã giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng, nhất là chính sách ruộng đất. Song chúng ta không được chủ quan, phải có quyết tâm sửa chữa sai lầm, khuyết điểm nhằm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Trước khi bế mạc, đáp lại lời phát biểu tổng kết của Bác, luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Kinh tế, đọc mấy câu thơ:

Mấy lời Bác dạy sắt son
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua
Diệt thù giải phóng quê ta
Ấy là nghĩa nặng, ấy là tình sâu.

Cả hội trường vỗ tay, hoan hô nhiệt liệt. Bỗng Bác giơ tay ra hiệu cho mọi người yên lặng, rồi Người đọc tiếp thêm hai câu:

Đành lòng chờ đó ít lâu
Chầy ra thì một năm sau vội gì.

Tất cả mọi người reo hò nồng nhiệt. Nhưng chẳng ai nghĩ rằng đó là lời tiên tri của Bác về ngày thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp. Đúng vào tháng 3 năm sau, ngày 13-3-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn và kết thúc thắng lợi vẻ vang sau 55 ngày đêm chiến đấu anh dũng.

Đất nước lại vào xuân. Xuân Quý Tỵ 2013. Một năm đi qua có lúc gặp phải sóng to gió lớn. Nhưng con thuyền cách mạng vẫn vững vàng vượt lên phía trước ánh bình minh. Vầng dương ngày càng rực sáng. Xuân về, vườn thơ xuân của Bác Hồ lại khoe sắc và ngát hương. Lời thơ chúc Tết của Bác năm nào như vẫn đang vang vọng trong mỗi lòng người.

PHẠM MINH KHẢI
hagiang.vnpt.vn

Mùa xuân nhớ Bác, ơn Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào đúng dịp xuân về (vào ngày mùng 5 Tết Canh Ngọ, nhằm ngày 3/2/1930). Lúc đầu, khi mới ra đời, Đảng ta chỉ vỏn vẹn có mấy trăm người trong cảnh “nước đã mất, dân phải làm nô lệ”, những người yêu nước và cách mạng bị chính quyền thực dân, phong kiến truy lùng, bắt bớ, giam cầm, chém giết. Những người cộng sản phải hòa mình trong giai cấp cần lao, được nhân dân ta bao bọc, chở che, đã nhen nhóm và thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng để cứu dân, cứu nước. Đảng ta đã lãnh đạo, tổ chức nhân dân và cùng toàn dân không quản hy sinh, không nề gian khổ, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh, vượt qua mọi thử thách hiểm nghèo, dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

ImageBộ tem cờ đỏ búa liềm được phát hành năm 1960. (Ảnh tư liệu)

Cứ mỗi độ xuân về, chúng ta lại nhớ về Đảng, nhất là nhân kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”. Và Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng là trí tuệ, là niềm tin, là phẩm chất cao đẹp của dân tộc, kế thừa tinh hoa và được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta thuở mang gươm đi mở cõi. Sức mạnh của Đảng chính là đại đoàn kết toàn dân, là sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Chính vì thế mà Bác đã nói: “Nhiệm vụ của Đảng ta có thể nói gọn trong 8 chữ: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Và chính Người là đỉnh cao của đạo đức và văn minh đó, là hình ảnh tuyệt đẹp về mối liên hệ thân thiết, gắn bó giữa lãnh tụ với nhân dân, và Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên ta phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Sự liên hệ và gắn bó chặt chẽ với nhân dân là điều mà Bác đã nói với chúng ta rất nhiều lần. Bác thường xuyên nhắc nhở:“Đảng phải liên hệ với quần chúng như chân tay ruột thịt… Đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng  Đảng. Tức là hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành mộ khối”. Có thể nói chưa ở đâu mà lãnh tụ với quần chúng lại thân thiết, gần gũi và được kính trọng, tin tưởng như Bác Hồ với nhân dân ta.

Bác còn nói: “Đảng ta là một Đảng tiên phong, anh dũng. Để làm tròn nhiệm vụ nặng nề mà vẻ vang của Đảng thì toàn thể cán bộ và đảng viên từ trên đến dưới, bất kỳ ở địa vị nào, làm công việc gì, đều phải: Quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí”. Bác nói thế và suốt đời Bác luôn gương mẫu làm đúng, làm hơn cả những điều mình nói. Bác luôn luôn đặt đời sống của mình trong đời sống của nhân dân. Trong Di chúc của mình, Bác dặn dò: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

ImageBác Hồ nói chuyện với nông dân năm 1960. (Ảnh tư liệu)

Mùa xuân đến, ta không những phấn khởi, nô nức chào mừng kỷ niệm ngày thành lập Đảng ta, mà chúng ta lại càng nhớ nhiều đến Bác Hồ kính yêu, người đã sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng ta đã lãnh đạo, rèn luyện, lãnh đạo cách mạng nước ta 83 năm qua. Ngày thành lập Đảng 3/2 mãi mãi là mốc son chói lọi trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Từ mốc son ấy, mà cả dân tộc đã đoàn kết, bền lòng phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành lập Nhà nước công nông, Nhà nước của nhân dân lao động; tiến hành các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thu giang sơn về một mối và đưa cả nước tiến lên xây dựng CNXH.

Có thể khẳng định lịch sử đất nước ta từ khi Đảng ra đời năm 1930 đến nay vẫn luôn minh chứng lời Bác nói, Đảng ta luôn có tư duy trẻ, trí tuệ, năng động, sáng tạo, nhanh nhạy, bám sát thực tiễn, biết phát hiện vấn đề mới và quyết đoán. Đảng mãi mãi là niềm tin tất thắng sáng  ngời, là biểu tượng của ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Nhìn lại chặng đường dài từ mùa xuân 1930 đến nay, mọi người Việt Nam yêu nước đều ghi lòng tạc dạ công ơn của Đảng, của Bác như nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài thơ Một nhành xuân: “… Năm hai mươi của thế kỷ hai mươi, tôi sinh ra nhưng chưa được làm người, nước đã mất cha đã làm nô lệ, ôi ! nhớ ngày xưa mưa xứ Huế, mưa sao buồn vậy nỗi mưa ơi, ngẫng đầu lên không thấy ánh mặt trời, đất lai láng chỉ là nước mắt… Từ vô vọng mênh mông đêm tối, Người đã đến chói chang nắng dội, trong lòng tôi ôi Đảng thân yêu…”

Bởi vì nếu không có Đảng, không có Bác thì dân tộc ta không thể có ngày hôm nay, Đảng ta mãi là ngọn cờ đưa đường, chỉ lối mà giấy mực nào ghi hết được niềm tin yêu của nhân dân ta đối với Đảng ta, là một Đảng cách mạng duy nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng, luôn biết lãnh đạo đất nước vượt qua những khó khăn thách thức của lạm phát toàn cầu, vượt qua thiên tai, bão lũ. Đặc biệt, càng làm sáng lên ý chí đoàn kết, phát huy nội lực, tình cảm gắn bó “lá lành dùm lá rách”, chăm lo đến đời sống cho đồng bào ta; tổ chức rộng rãi cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, để càng làm cho chúng ta luôn nhớ tới lời dặn, lời dạy của Bác lúc sinh thời, mãi mãi nhớ tới công lao trời biển của Bác, người cộng sản Việt Nam đầu tiên tuyệt vời, đẹp nhất, vĩ đại nhất, danh nhân văn hóa thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, lãnh tụ thiên tài của Đảng ta, quân đội ta và điều quan trọng là Bác Hồ kính yêu vẫn sống mãi trong sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta.

ImageDi tích Cây Da Đôi, xã Tân Xuân, Ba Tri, nơi diễn ra cuộc míttinh sau khi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của Bến Tre. (Ảnh: Ngọc Thạch).

Đối với tỉnh ta, lịch sử hình thành và phát triển tự nhiên là vùng cù lao bốn bề sông nước, được các lưu dân vượt qua chặng đường dài suốt hàng thế kỷ, với biết bao nỗi nguy nan, cam go, vất vả, những hy sinh thầm lặng, nỗi ngậm ngùi, để chinh phục những rừng rậm hoang vu, đầm lầy đầy thú dữ, muỗi mòng, rắn rết, sơn lam chướng khí,… để biến vùng đất này thành tỉnh Bến Tre trù phú. Và như mạch suối ngầm âm thầm ngày đêm miệt mài chảy trong lòng đất, hòa vào cùng với cả nước ta, mảnh đất ba dải cù lao xứ dừa Bến Tre trở thành căn cứ địa cách mạng vững chắc, nuôi dưỡng và che chở cho hàng ngàn chiến sĩ cách mạng. Và Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của tỉnh Bến Tre ra đời vào cuối tháng 4/1930 tại nhà ông Nguyễn Văn Cung thuộc ấp Tân Hòa, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri. Sau khi thành lập, để tạo ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng, Chi bộ xã Tân Xuân đã tổ chức cuộc míttinh nhân kỷ niệm ngày Quốc tế lao động (1/5) tại Cây Da Đôi, sau đó biến thành cuộc biểu tình tuần hành thu hút trên 200 quần chúng trong xã và các xã lân cận tham gia. Đồng chí Trần Văn An – Bí thư Chi bộ Đảng đứng lên đọc lời hiệu triệu, vạch rõ tội ác của bọn thực dân xâm lược Pháp và bọn tay sai, vận động quần chúng đứng lên chống Pháp. Lá cờ đỏ búa liềm bay phất phới trên ngọn Cây Da Đôi. Cuộc míttinh sau đó trở thành cuộc biểu tình tuần hành biểu dương lực lượng. Đồng chí Trần Văn An cầm cờ đỏ búa liềm dẫn đầu đoàn biểu tình, theo sau là quần chúng cầm băng, cờ, biểu ngữ, trang bị vũ khí thô sơ, tuần hành qua các ấp trong xã, nổi trống mõ, hô vang khẩu hiệu rồi giải tán. Cuộc biểu tình đầu tiên do Chi bộ Đảng xã Tân Xuân tổ chức thành công tốt đẹp, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần cách mạng trong nhân dân, minh chứng đường lối của Đảng đúng đắn là phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Với truyền thống yêu nước bất khuất của người Bến Tre, được các thế hệ bền bỉ nối tiếp nhau kế thừa một cách xuất sắc ngay từ buổi đầu chống quân xâm lược, qua thời kỳ thành lập Đảng, rồi thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đặc biệt nhất là dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta dưới ánh sáng của Nghị quyết 15, Đảng bộ Bến Tre thời chống Mỹ đã lãnh đạo nhân dân xứ dừa nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt làm nên cuộc Đồng Khởi vào ngày 17/1/1960 long trời lở đất. Và cao trào Đồng Khởi Bến Tre như nước vỡ bờ lan rộng ra cả miền Nam, làm thay đổi cục diện ở miền Nam, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền cơ sở của địch.

Chiến tranh đã qua đi, lịch sử cũng đã sang trang, đất nước ta, quê hương ta bước sang một giai đoạn mới, nhưng ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam  3/2/1930 mãi mãi vẫn là điểm son của cách mạng Việt Nam. Và những thành tựu vô cùng to lớn trong 83 năm qua chứng tỏ Đảng ta luôn kiên định chủ nghĩa Mác–Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đó là đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từng lúc vượt qua khó khăn, thử thách của cả đất nước, cả dân tộc, cùng vượt qua thiên tai, bão lũ, những cơn bão tài chính, bão trong thực phẩm, bão dịch bệnh cho người và gia súc…. Tình hình là như vậy, khó khăn chồng chất như vậy, nhưng chính trong những ngày tháng khó khăn nhất, vất vả nhất, lại là dịp để Đảng ta thể hiện bản lĩnh lãnh đạo đất nước, lãnh đạo nhân dân vượt qua và khắc phục những khó khăn từng lúc.

Không những Đảng ta chỉ chăm lo cho nhân dân, phát động nhân dân trong nước đùm bọc nhau khi khó khăn hoạn nạn, mà khi nghe tin các nước bạn trên thế giới bị thiên tai tàn phá, Đảng ta cùng bà con ta cũng lại sẵn sàng “bát cơm sẻ nửa” để chi viện cho nước bạn anh em mà không hề kêu ca, phàn nàn. Tấm lòng cao cả đó không phải bỗng dưng mà có, mà chính là nhờ sự giáo dục, rèn luyện của Đảng ta ngay từ khi mới thành lập đã không ngừng nâng cao tinh thần quốc tế vô sản cho đảng viên, cho nhân dân.

Nhờ có Đảng ra đời và dưới sự lãnh đạo tài tình bằng đường lối cách mạng đúng đắn, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, mà Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên thắng lợi vẻ vang, làm nên sự nghiệp vĩ đại giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đảng ta sẽ luôn là ánh sáng ban mai, là một vườn hoa thơm ngào ngạt, là mùa xuân ấm áp mang nhiều niềm tin và hy vọng, là một rừng cây cao bóng mát, là Đảng của toàn dân tộc Việt Nam, là biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân.

Xuân 2013, chúng ta lại hân hoan, phấn khởi chào đón năm mới với bao niềm hy vọng, nhưng hạnh phúc nhất là chào mừng Đảng ta tròn 83 tuổi. Trên khắp mọi miền đất nước ta, đâu đâu cũng thấy những khẩu hiệu “Mừng đất mước đổi mới –  Mừng Đảng quang vinh – Mừng xuân Quý Tỵ!”. Với bao niềm hy vọng khi mỗi mùa xuân đến, chúng ta lại càng không quên những lời kêu gọi của một vị lãnh tụ thiên tài, kính yêu vô vàn của đất nước ta, dân tộc ta:

Dân ta xin nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.

Với niềm tự hào, niềm tin vững chắc vào Đảng quang vinh, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. Riêng với quê hương ta tiếp bước và phát huy truyền thống anh dũng, Đồng Khởi của các thế hệ cha, anh đã làm nên những chiến công oanh liệt và viết nên những trang sử vàng làm rạng danh quê hương Bến Tre Đồng Khởi anh hùng. Giờ đây trong niềm vui chung của đất nước ngày càng đổi mới, tiến lên xây dựng thành công CNXH, chúng ta hãy cùng tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân Bến Tre cùng đồng tâm, đồng lòng, hiệp lực tiếp tục nhiệm vụ cuộc “Đồng Khởi mới” là thực hiện thắng lợi Nghị Đại hội lần thứ XI của Đảng ta và Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Bến Tre lần thứ IX. Đặc biệt, là xây dựng quê hương Bến Tre ngày càng giàu đẹp, là xây dựng thành công xã nông thôn mới trên quê hương xứ dừa Bến Tre; tiếp tục cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, không chỉ là học tập mà quan trọng hơn hết là làm theo lời Bác, để luôn xứng đáng, luôn tự hào “dáng đứng Bến Tre”.

Chúng ta mãi mãi khắc ghi ơn Đảng, luôn tự hào Đảng đã làm nên nhiều kỳ tích vang dội khắp năm châu. Chúng ta luôn tạc dạ ghi lòng vì “Đảng đã cho ta một mùa xuân bao ước vọng…”, “Đảng đã cho ta sáng mắt, sáng lòng…” và Đảng đã cùng với nhân dân làm nên mùa xuân đất nước thanh bình.

(Tham khảo tư liệu lịch sử)

Hoàng Chương
bentre.gov.vn

Bác Hồ và những mùa xuân kỷ niệm

Mỗi dịp Tết cổ truyền dân tộc, bên cạnh cây nêu, cành hoa đào, mâm ngũ quả, nóc nhà mỗi gia đình Việt Nam có thêm lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới tượng trưng cho ánh sáng của nền độc lập. Cả cuộc đời mình, Bác Hồ hy sinh lặn lội đi khắp chân trời góc bể cũng chỉ vì mong cho cả dân tộc đón xuân trong độc lập, ấm no, hạnh phúc.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Hà Bắc khi Người về thăm và chúc Tết đồng bào và bộ đội, Tết Đinh Mùi (2.1967)

Nhớ mùa xuân của 81 năm về trước, xuân Canh Ngọ năm 1930, Bác Hồ khai xuân chính là khai hội thành lập Đảng. Xuân Canh Ngọ năm đó đối với Bác Hồ thật đặc biệt. Sau bao nhiêu năm cách mạng Việt Nam chìm trong bóng đêm nô lệ, các phong trào yêu nước lần lượt thất bại, bằng nhiệt huyết của tuổi trẻ, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước. Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và tìm thấy ở học thuyết khoa học cách mạng này con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Ngày 3.2.1930, Người đã triệu tập Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiệm vụ cách mạng được Người cụ thể hóa trong Chánh cương vắn tắt nhấn mạnh tới chủ trương chiến lược: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản… Làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được tự do…” Mùa xuân năm đó đi vào lịch sử của dân tộc.

Mùa xuân năm 1941, sau 30 năm bôn ba hoạt động cách mạng tìm con đường cứu nước cứu dân cho dân tộc Việt Nam, Người trở về Tổ quốc. Trở về đến cột mốc 108, Người không khỏi xúc động bồi hồi. Sau mấy chục năm xa Tổ quốc Bác lại được trở về lãnh đạo con thuyền cách mạng dân tộc vượt qua những cơn sóng gió đi đến những bến bờ hạnh phúc. Đặc biệt, tháng 5.1941, Bác Hồ đã chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ Tám của Đảng, phát triển hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

4 mùa xuân sau, Cách mạng tháng Tám thành công, sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Ước mơ độc lập, tự do cũng trở thành hiện thực, nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do và lịch sử vẫn nhắc đến mùa xuân đó là “Tết độc lập”. Tối 30 Tết năm đó, Bác Hồ bí mật đi thăm mấy gia đình ở phố Sinh Từ, Hà Nội. Bác đi không báo trước. Người muốn trực tiếp thấy đồng bào đón Tết. Bác đến một gia đình nghèo, khi mà không khí Tết đã rộn ràng khắp nơi thì gia đình đó chưa có Tết. Người suy nghĩ nhiều, nước nhà độc lập, dân còn nghèo thì độc lập đó dân chưa được hưởng trọn vẹn. Sáng hôm sau, mồng 1 Tết, Bác cho gọi Chủ tịch Ủy ban Hà Nội, đề nghị ủy ban cùng các đoàn thể vận động bà con san sẻ của ít lòng nhiều giúp đỡ những gia đình nghèo để mọi người ai ai cũng được hưởng Tết độc lập.

Đầu xuân Tết năm đó, khi trả lời phỏng vấn các nhà báo nước ngoài, Bác nói nguyện vọng thiết tha là mong sao “đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Mong muốn đầu xuân của Bác cũng là lời chúc năm mới của những người dân khi gặp nhau, cầu mong cho năm mới ấm no hạnh phúc, bởi vì cũng năm trước đó nạn đói đã cướp đi sinh mạng của 2 triệu người .

Xuân Tân Mão năm 1951 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng đã bầu Bác làm Chủ tịch Đảng. Sau 6 năm Đảng tuyên bố tự giải tán (11.11.1945), Đảng quyết định ra hoạt động công khai và lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Với Chính cương của Đảng Lao Động Việt Nam, lần đầu tiên, Đảng đã phát triển hoàn chỉnh lý luận cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, phấn đấu đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn.

Đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại độc lập tự do cho dân tộc, nhưng người nông dân vẫn nghèo khi họ chưa làm chủ ruộng đất. Trong thư chúc Tết đầu năm 1954. Bác mong sao cho “người cày có ruộng, khỏi lo nghèo nàn”. Đầu xuân năm 1958, khi tình hình xây dựng đất nước đang trên đà phát triển mạnh Bác căn dặn phải chú trọng “phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống của người dân, trước hết là của nhân dân lao động”.

Mùa xuân năm 1960 nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Bác Hồ kêu gọi “Tết trồng cây” cũng vì một mục đích làm cho dân giàu, nước mạnh. Tết trồng cây do Bác phát động cho đến hôm nay trở thành một truyền thống đẹp trong nhân dân những ngày đầu xuân. Nhớ kỷ niệm ngày đầu xuân, khi về Chu Mật – Sơn Tây, đứng trên đồi trọc, Bác nhắc nhở đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, đại ý Bác đã 3 lần đến đây, lần đầu cây còn tốt xum xuê, lần thứ 2 cây còn lưa thưa, lần này chỉ còn là đồi trọc. Vì vậy, Bác đề nghị tỉnh nhà phải phát động toàn dân trồng cây phủ xanh đồi trọc. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy hứa với Bác sẽ quyết tâm trồng cây để phủ xanh đất trống đồi trọc để lần sau được đón Bác tới thăm. Bác cười hiền từ và nói: “Quyết tâm trồng cây tốt, phủ xanh đồi là ích nước lợi dân, chứ đâu phải thành tích để Bác khen, Bác về thăm mới quyết tâm trồng cây”.

Trọn cuộc đời 79 mùa xuân, Bác lo cho dân, cho nước.

Hoa Đình Nghĩa
daibieunhandan.vn

Gặp người phổ nhạc thơ chúc Tết của Bác Hồ

Bác Hồ chúc Tết(Congannghean.vn)-Ca khúc mà Đại tá Huy Thục viết nhanh và hay nhất là tác phẩm mà ông phổ thơ Bác Hồ chúc xuân đồng bào chiến sĩ Xuân Mậu Thân 1968 và Xuân 1969; 2 mùa xuân cuối cùng trước khi Bác Hồ đi xa.

Nhạc sĩ Huy Thục là một trong những chiến sĩ lão thành của thế hệ nhạc sĩ quân đội trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông đã hầu như có mặt khắp mọi chiến trường miền Nam, có mặt trong mọi điểm chốt, chiến hào, lăn lộn cùng chiến sĩ để sáng tác và làm báo giải phóng.

Tác phẩm hay và nổi tiếng của ông là bản nhạc viết cho đàn bầu và dàn nhạc là “Vì miền Nam”. Song ca khúc mà Đại tá Huy Thục viết nhanh và hay nhất là tác phẩm mà ông phổ thơ Bác Hồ chúc xuân đồng bào chiến sĩ Xuân Mậu Thân 1968 và Xuân 1969; 2 mùa xuân cuối cùng trước khi Bác Hồ đi xa.

Trong một đợt đi tập huấn nghiệp vụ với tư cách là đoàn phó đoàn văn công Tỉnh đội Bình Trị Thiên ở Ba Vì – Hà Tây, tôi may mắn được nghe nhạc sĩ Huy Thục kể chuyện về kỷ niệm phổ nhạc thơ Bác. Ông kể, năm 1967 ông ở chiến trường Nam sông Thạch Hãn, Quảng Trị. Gian khổ, hy sinh ác liệt của bộ đội đã cho ông nhiều cảm xúc mãnh liệt để ra đời một số ca khúc về người lính.

Ngày 19/12/1967, qua máy 2 oát ông nhận được điện của Tổng cục Chính trị gửi từ Hà Nội kèm theo bài thơ chúc Tết năm Mậu Thân 1968 mà Bác Hồ sắp đọc trong dịp giao thừa. Tổng cục nhắc ông: “Sau khi Bác chúc Tết xong thì nhanh chóng phổ nhạc để khích lệ tinh thần đồng bào, chiến sĩ”. Tôi đọc bài thơ một lần mà xúc động đến nghẹt thở, tôi đọc cho các đồng chí ở Trung đoàn bộ E9F341 Quân khu 4 nghe ai cũng bồi hồi rưng rưng nước mắt như nuốt từng lời, từng câu thơ Bác:

“Xuân này hơn hẳn
mấy xuân qua
Thắng trận tin vui
khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua
đánh giặc Mỹ
Tiến lên toàn thắng ắt về ta”.

Tôi ngẫm từng ý thơ Người và nhanh chóng nhập tâm, thuộc lòng, tôi nhìn ra đường mòn chiến lược từng đoàn xe pháo, quân lương trùng trùng tiến vào Nam với khí thế cả nước lên đường xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Nguồn cảm hứng trong tôi đến bất ngờ và bật thành nhịp, phách đều đều.

“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua…”

Và thế là những vần thơ Bác lôi cuốn thức dậy tư duy âm nhạc của tôi đến cao trào, đỉnh điểm. Cứ thế cả tứ thơ thành bản nhạc ấm áp mà hùng hồn như nghe cả tiếng quân reo, xe chạy giữa bước chân thần tốc có cả cờ bay và khúc khải hoàn ca dân tộc trong mùa xuân chiến thắng.
Những nốt nhạc, tiết tấu bài hát đã có sự cộng hưởng với tần số rung động của Bác, của cả dân tộc, của triệu con tim người Việt Nam nên tôi mạnh dạn mở rộng khúc thức đoạn cuối: “Tiến lên toàn thắng ắt về ta”.

Có điệp khúc sáng tác xong tôi lại hát đi hát lại, sửa nhanh từ láy và từ hoa mỹ để phù hợp với lời thơ, ý thơ xuân của Bác. Tôi vui mừng quá và cầm bản nhạc sang hầm chỉ huy gửi 1 bản về Tổng cục và yêu cầu đoàn Văn công Tổng cục thể hiện, 1 bản tôi gửi cho đoàn văn công giải phóng đang đóng ở sông Ba Lòng. Tôi gọi anh em ở Trung đoàn bộ cùng nghe và cùng hát bài phổ thơ của tôi vài lần rồi ai cũng thuộc và nhanh chóng đi vào lòng, vào tâm thức các chiến sĩ Trường Sơn. Bài hát của tôi như tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sĩ ở mặt trận B4, B5…

Đến một thời gian sau đó có nhiều bạn lính cùng thời hỏi: Được biết nhiều nhạc sĩ phổ nhạc thơ Bác Xuân 1968 và 1969, sao ông lại thành danh nhất vậy?

Ông cười để lộ những nếp nhăn thời gian, thời binh nghiệp “Cả xuân này hơn hẳn mấy xuân qua” và “Năm qua thắng lợi vẻ vang”. Tôi sử dụng cả chất chèo Kinh Bắc có pha chút dân ca Nghệ Tĩnh, dân ca Nam Trung bộ. Bác thích, Bác yêu, Bác giản dị là thế, thơ Bác gần gũi đại chúng nên nhạc tôi cũng gần thực như hạt lúa, củ khoai nên đọc xong hát một lần thì ai cũng thuộc, nam, phụ lão, ấu là người Việt Nam ai cũng thích.

Có thể nói bài thơ phổ nhạc, thơ chúc Tết của Bác Hồ như một lời hịch tướng sĩ, là bản hùng ca thôi thúc quân và dân cả nước xông lên đánh cho Mỹ cút ngụy nhào. Mỗi lần nghe bài hát ta lại càng nhớ Bác khôn nguôi và cảm phục nhạc sĩ tài ba, nhạc sĩ Huy Thục.

(Theo lời kể của nhạc sĩ – Đại tá Huy Thục)

Thy Ngọc
chinhphu.vn