Tượng Bác Hồ giữa lòng thủ đô Mexico lịch sử và văn hoá.

Thật là xúc động và vui mừng khi mà đề án “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá kiệt xuất, ở nước ngoài” vừa được Bộ Ngoại giao phát động trong năm “Ngoại giao văn hóa 2009” thì từ miền đất xa phía Tây bán cầu, tại Trung tâm Lịch sử của Thủ đô Mexico, đất nước của nhiều nền văn hóa cổ, đã tiến hành trang trọng và ấm cúng Lễ khánh thành tượng đài Hồ Chí Minh và Công viên “Tự do cho các dân tộc”.

Đại sứ Việt Nam tại Mexico Phạm Văn Quế (bên phải), Thị trưởng Mexico Marcelo Ebrand cùng các cháu thiếu nhi tại Lễ khách thành Tượng Bác, ngày 16/1 tại Thủ đô Mexico.

Đó là bức tượng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh phỏng theo bức ảnh Bác bên bộ bàn ghế mây giản dị, đọc báo trong vườn Chủ tịch Phủ được nhiếp ảnh gia Đinh Đăng Định ghi lại năm 1960. Đằng sau và bên trên bức tượng là hàng chữ vàng quen thuộc “Không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng tiếng Tây Ban Nha với chữ ký của Bác rực rỡ trên bức tường thành bán nguyệt ốp đá trắng ngọc, soi bóng trên mặt gương nước lung linh, cùng những cánh bèo xanh và đóa hoa súng hồng rung rinh, làm ấm lòng hàng trăm vị quan khách đến với ngày hội tôn vinh Hồ Chí Minh.Ngày 16 tháng 1 năm 2009 “ngày thiên hỷ” theo lịch cổ Việt Nam, trong cái rét ngọt và dưới làn mưa xuân lất phất như đón Bác về chúc Tết, mừng xuân năm nào, hàng trăm bạn bè, dân chúng thủ đô và quan chức Mexico cùng hàng chục người con Việt Nam đang sinh sống xa Tổ quốc đã tận mắt chứng kiến ông thị trưởng thành phố Mexico, Marcelo Ebrad và Đại sứ Việt Nam tại Mexico, Phạm Văn Quế vén tấm lụa hồng, chính thức khánh thành Công viên và Tượng Bác trong tiếng vỗ tay và hò reo không ngớt “Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh”. Hàng chục phóng viên, nhà nhiếp ảnh, quay phim chuyên nghiệp và nghiệp dư của cả hai nước đã xúc động ghi lại những giây phút thiêng liêng, nhất là cảnh nhiều lượt người chen nhau len vào chỗ đặt tượng Bác bởi người nào cũng muốn tranh thủ lưu lại bên Người ít giây phút để có được những tấm hình lưu niệm đẹp nhất. Chúng tôi, những người con Việt Nam xa xứ hoàn toàn ấn tượng và bị cuốn hút bởi tình cảm mà người dân Mexico dành cho Việt Nam nói chung và Bác Hồ nói riêng. Ai ai cũng thầm cám ơn nghệ sĩ tạc tượng trẻ tài ba Ponzanelli, người đã khắc họa hình tượng Bác rất có thần thái, ở đó toát lên những đức tính cao quý của một nhà hiền triết, một vĩ nhân, người cha già dân tộc giản dị, nhân ái và gần gũi thân quen.

Phát biểu trong buổi lễ, ông Thị trưởng Marcelo Ebrard đã khẳng định những chiến công lẫy lừng của dân Việt Nam thắng quân xâm lược trong thế kỷ 20 đã đi vào lịch sử nhân loại như những trang chói lọi nhất. Việt Nam, Hồ Chí Minh là những biểu tượng sống đã thôi thúc các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh, giành độc lập tự do. Hồ Chí Minh xứng danh là lãnh tụ thế giới… Tượng đài Hồ Chí Minh ở đây là dành cho tất cả các dân tộc đã và đang đấu tranh vì độc lập tự do của mình.

Đại sứ Phạm Văn Quế đã cám ơn Ngài Thị trưởng và nhân dân Thủ đô Mexico, với những tình cảm tốt đẹp và sự ngưỡng mộ đối với nhân dân Việt Nam và cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã cho xây dựng công viên “Tự do cho các dân tộc” và đặt tượng đài Hồ Chí Minh tại Thủ đô bằng chính kinh phí của mình. Đại sứ cũng nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là chiến sĩ lỗi lạc đấu tranh vì độc lâp, tự do cho các dân tộc, mà Người còn là nhà văn hóa lớn được UNESCO công nhận trên toàn thế giới. Câu nói bất hủ của Người “Không có gì quý hơn độc lập tự do” vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay.

Ông Virgilio Caballero, Chủ tịch Hội Hữu nghị và hợp tác Mexico – Việt Nam, người đã chọn bức ảnh Bác làm đề tài để nghệ nhân tạc tượng Mexico sáng tác, với mái tóc bạc trắng đã không ít lần nghẹn ngào bày tỏ: thật là tuyệt vời! Thế hệ chúng tôi xuống đường những năm 60 để phản đối chiến tranh Việt Nam đâu nghĩ tới có ngày được tạc và đặt tượng Bác Hồ giữa lòng Thủ đô Mexico; giấc mơ bấy lâu chờ mong nay đã thành hiện thực! Bác ngồi đó dung dị trong lòng bạn bè quốc tế và nhân dân chứ không cao xa, cách biệt trên bệ cao quyền lực.

Công viên “Tự do cho các dân tộc” với kiến trúc chủ đạo mang đậm nét Việt Nam là kết quả của sự vận động, phối hợp và hợp tác chặt chẽ giữa tập thể cán bộ nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Mexico, đứng đầu là kiến trúc sư – Đại sứ Phạm Văn Quế cùng với Viện Hữu nghị và hợp tác Mixico – Việt Nam và các cơ quan chức năng của thành phố Mexico. Rất khẩn trương và quyết tâm, chỉ trong vòng hơn hai tháng làm việc liên tục và miệt mài, từ một khu vườn um tùm và tối bụi, các bạn Mexico đã cải biến thành một công viên tươi xanh với hệ thống chiếu sáng hiện đại, đậm nét á đông, nhất là với các cây trồng Việt Nam quen thuộc như tre, trúc, sả, sen, bèo, muống cạn và nhiều cây thảo dược nhiệt đới… và giữa thiên nhiên tuyệt vời ấy, nổi lên hình ảnh Bác Hồ rất đời thường, đang thư thái làm việc.

Tượng đài Hồ Chủ tịch trong công viên “Tự do cho các dân tộc” thực sự là biểu tượng cao quý của tình đoàn kết hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân hai thủ đô và hai nước Việt Nam – Mexico, một không gian độc đáo giữa thành phố Mexico cổ kính. Đây là một công trình văn hóa và công cộng nằm trong khu Trung tâm lịch sử của Thủ đô mà bạn đã quy hoạch dài lâu để hướng tới những hoạt động thiết thực cho lễ kỷ niệm 200 năm ngày phát động cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc vào năm 2010.

Từ nay trở đi, bất kỳ người con Việt nào khi đặt chân lên miền đất của các nền văn hóa cổ lớn là Azteca và Maya, quê hương của những vũ điệu trữ tình Mariachi và của những vị anh hùng đã chiến đấu vì độc lập tự do của Mexico như Miguel Hidalgo, Benito Juarez, … đều có thể tự hào và vinh dự đến thăm công viên “Tự do cho các dân tộc”, ngắm tượng Bác Hồ và thậm chí ngồi bên Bác, lâng lâng trong tình cảm bao la của bạn bè quốc tế.

Năm nay mùa xuân như đến sớm hơn với cộng đồng Việt Nam nhỏ bé nhưng gắn kết tại Mexico. Bác ơi, thế là tết này chúng con đã có thể dâng lên Bác những cành đào hồng thắm, bánh chưng xanh, chút mứt sen và ấm trà thơm thắm đậm tình quê và thắp cho Người nén hương trong khuôn viên Việt giữa trời đất Mexico để cầu chúc cho dân tộc Việt Nam mãi trường tồn, mãi hạnh phúc, an khang và thịnh vượng. Tượng đài Hồ Chí Minh giữa Trung tâm lịch sử của Thủ đô Mexico thực sự là món quà sớm của năm “Ngoại giao Văn hóa 2009”.

Thành phố Mexico. 17/1/2009
Ngô Tiến Dũng, Tham tán công sứ
Đại Sứ quán Việt Nam tại Mexico.

lamdong.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh tin dùng tri thức

Bác HồSau tuyên ngôn Độc lập, ngày 3-9-1945 Chính phủ họp để cụ thể hóa chương trình hành động 6 điểm, nhiệm vụ hàng đầu diệt giặc đói, giặc dốt, còn nguy hiểm hơn giặc ngọai xâm. Tháng 10-1946, nói chuyện với đông đảo giới trí thức cả nước, Bác Hồ nhắc lại: Đói, dốt còn nguy hiểm hơn giặc ngọai xâm, đói không đánh giặc được, dốt thì mất nước, kiến thiết nước nhà cho dân giàu nước mạnh càng cần trí thức…

Luật sư Phan Anh, nguyên Bộ trưởng Bộ Thanh Niên trong Chính phủ Bảo Đại- Trần Trọng Kim, sau Cách mạng tháng tám được cử làm Bộ trưởng Quốc phòng, rồi Bộ trưởng Ngoại thương mà không phải đảng viên cộng sản. Ông Phan trả lời người bạn Na Uy rằng: Mấu chốt là Hồ Chí Minh áp dụng chính sách tín nhiệm đối với trí thức. Tính ra có hơn một năm trời mà có 4 lần thay đổi trong Chính phủ.

Lần đầu, từ Ủy ban Dân tộc giải phóng do Quốc dân đại hội ở Tân Trào cử ra ngày 25-8-1945 về Hà Nội mở rộng thành phần mang tên Chính phủ Lâm thời ra mắt ngày 2-9-1945, có 15 bộ trưởng thì 9 bộ trưởng thuộc tầng lớp gọi là trí thức tiểu tư sản.

Lần hai, 20 vạn quân lính Tàu Tưởng vượt biên giới vào Việt Nam theo quyết định của Hội nghị Postdam (7-1945), để giải giáp quân đội Nhật. Chúng kéo cả vợ con nhếch nhác, cả các tổ chức đảng phái phản động để chống phá cách mạng nước ta với mục tiêu trước mắt: “Diệt cộng, cầm Hồ”. Rủi cho chúng, Việt Nam đã có chủ, Chính phủ cụ Hồ ra mắt và tuyên bố độc lập trước thế giới ngày 2-9 rồi. Trong tình huống “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chính Minh đã tỏ rõ bản lĩnh “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của mình. Thực tài tình và bất ngờ khi người mời thủ lĩnh Việt Cách (Việt Nam Cách mạng đồng minh) Nguyễn Hải Thần chuyên nghề xem bói bốc thuốc bên Vân Nam vào ghế Phó Chủ tịch Chính phủ liên hiệp Lâm thời ngày 1-1-1946.

Lần ba, để “danh chính ngôn thuận” khẳng định chủ quyền độc lập, trong muôn vàn khó khăn, lần đầu tiên nước ta tổ chức tổng tuyển cử vào ngày 6-1-1946. Thực hiện sách lược “Tạm hòa với Tưởng” Hồ Chủ tịch đề nghị Quốc hội dành cho tổ chức Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân đảng) và Việt Cách 70 ghế, chấp nhận 2 ghế quan trọng giao cho người không phải đảng phái – Bộ Nội vụ do Cụ Huỳnh Thúc Kháng giữ chức bộ trưởng (Bác đã tính trước, mời cụ từ Quảng Ngãi ra Hà Nội). Bộ Quốc phòng do ông Phan Anh giữ chức. Cựu hoàng Bảo Đại được mời giữ chức cố vấn tối cao. Mặc dù sau đó, một số thành viên trong chính phủ đã tự đào thải mình, chạy theo quân Tưởng về nước như “Phó chủ tịch” Nguyễn Hải Thần, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam…

Lần bốn, ngày 3-11-1946 tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I, Bác Hồ tuyên bố thành phần chính phủ đoàn kết, toàn dân, tập hợp nhân tài, không phân biệt đảng phái, đó là Chính phủ Liên hiệp quốc dân. Các nhân sỹ trí thức được giữ trọng trách trong Chính phủ gồm các Bộ: Nội vụ – Huỳnh Thúc Kháng, Giáo dục – Nguyễn Văn Huyên, Giao thông công chính – Trần Đăng Khoa, Y tế – Hoàng Tích Trí, Tư pháp – Vũ Đình Hòe, Canh nông – Ngô Tấn Nhơn, Cứu tế – Chu Bá Phượng… Hầu hết những người được “chọn mặt gửi vàng” sau này đều xứng đáng với sự tin cậy của Bác.

PHÚC KHÁNH (ST)
xaydungdang.org.vn

Bình đẳng dân tộc đặt nền móng cho đại đoàn kết

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã để lại cho Đảng, nhân dân, dân tộc ta nhiều di sản tư tưởng, văn hóa có ý nghĩa giá trị nhân văn sâu sắc.

Nhân dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2010) và 20 năm Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam (1990 – 2010), Vietnam+ xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc một số bài viết trong cuốn Kỷ yếu của Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” diễn ra trong hai ngày 12-13/5, tại Hà Nội.

Dưới đây, xin trích đăng bài viết của bà Hà Thị Khiết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương:

Một trong những di sản quý mà Hồ Chủ tịch đã để lại cho nhân dân Việt Nam chính là tư tưởng của Người về bình đẳng dân tộc. Tư tưởng này đã đặt nền móng cho việc củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bình đẳng dân tộc trong quan niệm của Hồ Chí Minh khác xa bình đẳng dân tộc của giai cấp tư sản. Hồ Chí Minh cho rằng, bình đẳng dân tộc không chỉ cụ thể hóa về mặt pháp lý, mà quan trọng hơn là phải được thực hiện trên thực tế. Và chính Người đã thực hiện điều đó.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khẳng định, các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều bình đẳng và Chính phủ sẽ hết sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số về mọi mặt.

Trong kháng chiến chống Pháp, Đảng ta tiếp tục đề ra những chính sách nhằm thực hiện bình đẳng dân tộc. Tháng 8-1952, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về dân tộc. Tiếp đó, tháng 6-1953, Chính phủ đã ban hành chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam với tinh thần cơ bản là đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ lẫn nhau. Hiến pháp của nước ta cũng khẳng định quyền bình đẳng của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và được cụ thể hoá bằng chính sách dân tộc qua các thời kỳ của cách mạng.

Bình đẳng dân tộc và độc lập dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ và có sự tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, độc lập dân tộc là nền tảng để thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc.

Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã chứng minh điều đó. Khi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, chúng đã thi hành những chính sách đi ngược lại với nguyện vọng và quyền của các dân tộc ở Việt Nam. Đó là chính sách “chia để trị”, “dùng người Việt đánh người Việt”, dùng người dân tộc này đánh người dân tộc khác, nhằm chia rẽ các dân tộc, phục vụ cho mưu đồ thống trị của chúng.

Vì vậy, có giành được độc lập dân tộc, mới có điều kiện để chăm lo cho đồng bào các dân tộc về kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nhất là sau khi miền Bắc được giải phóng, Đảng và Chính phủ đã có những kế hoạch và hành động cụ thể để thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, từng bước mang lại cuộc sống mới cho đồng bào.

Mặt khác, thực hiện bình đẳng dân tộc cũng là nhân tố quyết định để củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Khi một dân tộc này chà đạp, ép buộc các dân tộc khác thì sớm hay muộn cũng tạo nên sự chia rẽ, ly khai dân tộc. Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy điều đó khi cho rằng để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc thì phải thực hiện bình đẳng dân tộc, đại đoàn kết dân tộc không những phải dựa trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, mà còn phải thực hiện đoàn kết các dân tộc.

Cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc là bình đẳng dân tộc, vì lợi ích của tất cả các dân tộc trong một quốc gia. Khi các dân tộc được đối xử bình đẳng, cả về nghĩa vụ và quyền lợi, sẽ tạo ra tiếng nói chung và tạo nên sự đồng thuận giữa các dân tộc và ngược lại.

Vì thế, nếu không đảm bảo và không có những chính sách và hành động cụ thể để thực hiện bình đẳng dân tộc, làm cho bình đẳng dân tộc ngày càng trở thành hiện thực thì khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị lung lay, làm ảnh hưởng đến sự tập hợp lực lượng của cách mạng.

Để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, cần phải có một xã hội mà ở đó quyền bình dẳng giữa các dân tộc có điều kiện và cơ sở để thực hiện. Xã hội đó, không thể khác là xã hội xã hội chủ nghĩa. Kết luận trên của Hồ Chí Minh được Người rút ra trong quá trình khảo nghiệm các con đường cứu nước và trong quá trình khảo sát các xã hội tư bản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong quan hệ giữa dân tộc đa số có trình độ phát triển cao hơn với các dân tộc thiếu số có trình độ thấp hơn rất dễ nảy sinh tư tưởng kỳ thị dân tộc, và thường có hai thái cực: một là người dân tộc lớn dễ mắc bệnh kiêu ngạo, và hai là cán bộ địa phương, nhân dân địa phương lại dễ cho mình là dân tộc nhỏ bé, tự ti, cái gì cũng cho là mình không làm được, rồi không cố gắng.

Người cho rằng, cần phải khắc phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi và tự ti dân tộc. Trong nhiều hội nghị, trong nhiều bài viết, bài nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng những từ rất thân mật, ruột thịt để nói về tình đoàn kết giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, như “anh em một nhà”, “giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”… Người nhấn mạnh rằng, đồng bào miền xuôi với trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật phát triển hơn phải giúp đỡ đồng bào thiểu số, để cùng tiến bộ.

Người cũng đã khẳng định nhiệm vụ của Trung ương, Chính phủ và cấp ủy đảng là phải làm sao nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của đồng bào các dân tộc, phải giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số về mọi mặt.

Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc chung sống, trong đó, dân tộc Kinh chiếm đa số, còn lại 53 dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 13,8% dân số cả nước. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước tạo nên một dân tộc Việt Nam thống nhất.

Các dân tộc ở nước ta sinh sống gắn bó với nhau từ lâu đời, đã sớm có ý thức đoàn kết, giúp nhau trong chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước. Sự đoàn kết gắn bó giữa các cộng đồng dân tộc đã tạo nên một quốc gia đa dân tộc bền vững, thống nhất.

Ngày nay, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc là nhất quán, theo nguyên tắc: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

Bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc, chính sách dân tộc của Đảng đã được thể hiện ở các nghị quyết của Đảng.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá IX về công tác dân tộc đã khẳng định chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay là: “Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế – xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái, phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.”

Nghị quyết Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ….”

Để đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc và miền núi, nâng cao dần mức sống của đồng bào các dân tộc, trong những năm qua và nhất là giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương chính sách ưu tiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số một cách đồng bộ và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.

Song song đó, Đảng và Nhà nước đã triển khai thực hiện nhiều chương trình, dự án đầu tư phát triển trên địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc như: Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng; Chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa. Trong số đó, Chương trình 135 – giai đoạn 2, đang đầu tư cho 1.841 xã và 3.149 thôn, bản đặc biệt khó khăn với tổng vốn đầu tư gần 13 nghìn tỷ đồng; quyết định số 134/2004 về chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số và tập trung giúp đỡ 62 huyện khó khăn nhất; thực hiện sâu rộng Chương trình xoá đói giảm nghèo và chăm lo các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội, người có công với cách mạng.

Nhờ vậy, cuộc sống của đồng bào các dân tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa từng bước được cải thiện rõ rệt, quyền của các dân tộc thiểu số được bảo đảm đầy đủ và toàn diện; đồng bào các dân tộc luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, tích cực phát huy truyền thống cách mạng, yêu nước, tinh thần đoàn kết để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc, như Bác Hồ hằng mong muốn./.

Hà Thị Khiết (Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương)
vietnamplus.vn

Nguyễn Ái Quốc và văn học Pháp ngữ

Nguyễn Ái Quốc“Nguyễn Ái Quốc được coi là một trong những nhà văn Pháp ngữ Việt Nam không những sớm nhất mà còn thành công nhất “- Đó là đánh giá của giáo sư Alain Guillemin, chuyên gia hàng đầu của Pháp về Văn học Pháp ngữ Việt Nam.

Văn học Việt Nam, ngoài bộ phận viết bằng tiếng Việt (dùng chữ Nôm hoặc chữ Quốc ngữ), và bộ phận viết bằng chữ Hán, còn có một bộ phận ít được biết đến: văn học viết bằng tiếng Pháp.

Cho đến nay, chỉ có một cuốn sách viết riêng về để tài này là cuốn The Vietnamese Novel in French: A Literary Response to Colonalims (Tiểu thuyết Pháp ngữ Việt Nam: Văn chương đáp lại Chủ nghĩa thực dân) của giáo sư Mỹ Jack A. Yeager 1, dựa trên luận án tiến sĩ của ông. Ngoài ra, còn có một luận án tiến sĩ khác, cũng ở Mỹ, viết về Phạm Văn Ký 2.

Giáo sư Alain Guillemin, chuyên gia hàng đầu của Pháp về lĩnh vực này, trong La Littéature Vietnamienne Francophone: Entre Colonisalisme et Nationalisme (Văn học Pháp ngữ Việt Nam: Giữa chủ nghĩa thực dân và Chủ nghĩa dân tộc) cho biết rằng từ năm 1913, thời điểm xuất bản tập thơ “Mes heures perdues” (Những giờ khắc tôi đã mất) của Nguyễn Văn Xiêm, cho đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ, đã thu thập được khoảng một trăm tác phẩm của 47 tác giả, bao gồm 62 tác phẩm văn xuôi (34 tiểu thuyết, 18 tập truyện kể, 8 tập tiểu sử tự thuật, 2 tập truyện ngắn), 31 tập thơ, và 6 vở kịch.

Phạm Văn Ký, tác giả của 10 tiểu thuyết và tập truyện ngắn, 4 tập thơ, 3 vở kịch, do các nhà xuất bản lớn ở Paris như Fasquelle, Le Seuil, Grasset, Gallimard, NRF phát hành, đoạt Giải thườn Lớn của Viện Hàn lâm Pháp năm 1961 3 có lẽ là tác giả hội nhập sâu sắc nhất vào xã hội Pháp.

Bên cạnh đó, theo tôi, Nguyễn ái Quốc cũng phải được coi là một trong những nhà văn Pháp ngữ Việt Nam không những sớm nhất mà còn thành công nhất.

Theo Yeager, tập văn xuôi Pháp ngữ đầu tiên của Việt Nam là Contes et Légendes du Pays d’Annam (Truyện cổ và thần thoại nước An Nam, 1913). Nhưng cuốn tiểu thuyết, và có lẽ cũng là tác phẩm văn xuôi hư cấu đầu tiên, Mademoiselle Lys (Cô Huệ) của Nguyễn Phan Long, mãi đến năm 1921 mới xuất bản.

Theo Alain Guillemin, trước năm 1945, ảnh hưởng của văn học Pháp ngữ Việt Nam chỉ đóng khung ở địa phương, vì trong 44 tác phẩm, 32 in tại Hà Nội và Sài Gòn, và trong số 25 tác phẩm văn xuôi, chỉ có 3 in ở Pháp. Tuy nhiên, Alain Guillemin khi cho rằng có lẽ mảng chuyện ngắn đã bị đánh giá chưa đúng mức, bởi lẽ đó mới chỉ là các tuyển tập, vì thế “cần khảo sát các báo và tạp chí Pháp ngữ xuất hiện trong thời thuộc địa 4”.

Điều đó rất đúng với trường hợp Nguyễn ái Quốc. Như chúng ta đều biết, Nguyễn ái Quốc đến sống tại Pháp vào khoảng cuối năm 1917. Chàng trai Việt Nam hai mươi bảy tuổi kết thân với nhiều nhà hoạt động cách mạnh quốc tế, và nhanh chóng trở thành một cây bút quan trọng của báo chí các nhóm cách mạng thuộc địa hoạt động ở Paris.

Giáo sư Hayes Edwards (Rutgers University), trong bài The Shadow of Shadows5, khi so sánh sự tương đồng giữa Nguyễn ái Quốc và nhà hoạt động cách mạng Senegal Lamine Senghor, có viết: “Trong bài này, tôi sẽ tập trung vào tác phẩm của Nguyễn ái Quốc, ông là cây bút quan trọng và kỳ lạ nhất trong các nhóm cách mạng ở Paris trong nửa đầu thập kỷ 1920, người ta đã cho đăng cả một cơn lũ bài viết thuộc nhiều thể loại không chỉ trên tờ Le Paria, mà cả trên L’Humanité, Le Journal du Peuple, La Voix ouvrière, Le Libétaire, Clarté, và L’action Colonialé 6”.

Riêng với tờ Le Paria, Nguyễn ái Quốc vừa là người phụ trách, người biên tập, vừa là cây bút chính, nhiều khi phải viết bài thay cho những tác giả không viết kịp.

Không chỉ viết báo, tiểu luận, Nguyễn ái Quốc còn viết truyện. Giáo sư Hayes Edwards gọi nhiều bài viết của Nguyễn ái Quốc là những “Kiệt tác nhỏ về thể văn nhại và tiểu luận (“There are a number of little masterpieces of parody, essays”) và đánh giá cao những cách tân văn chương của Nguyễn ái Quốc mà ông coi là đóng vai trò không thể thiếu trong sự phát triển tư duy chính trị của các chiến sĩ cách mạng thuộc địa7.

Những truyện ngắn đầu tiên của Nguyễn ái Quốc như Lời than văn của bà Trưng Trắc (Les lamentations de Trung – Trac), Paris (Trích Những bức thư gửi cô em họ – extrait de Letters à ma cousine), Con người biết mùi hun khói (“enfumé”) đều in trên tờ L’Humanité trong năm 1922, như vậy chỉ một năm sau Mademoiselle Lys (Cô Huệ) của Nguyễn Phan Long.

Truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc khá độc đáo và hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh đầu thập niên 1920, nghĩa là mấy năm trước Tố Tâm và hàng chục năm trước Tự Lực Văn Đoàn.

Văn xuôi của Nguyễn ái Quốc, cũng như của Hồ Chí Minh sau này, rất đa dạng tùy theo đối tượng bạn đọc và các yêu cầu cụ thể: khi khá cầu kỳ, như trong Paris (1922), khi lại mộc mạc, như trong Giấc ngủ mười năm (1949). Truyện Con rùa (1925) đầy chất trào lộng mà sau này ta sẽ gặp lại ở Nguyễn Công Hoan, còn Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922) lại đầy chất mộng mị, ma quái mà ta có thể nhận thấy rất rõ dù đã qua dịch thuật: “Đó chính là lúc Thiên tử nằm mơ. Ngài mơ thấy những con rồng chạm trên tủ, bàn bỗng biến động, hóa thành những con rắn gớm ghiếc, mở thao láo những con mắt đỏ ngầu tia máu. Còn những con phụng hoàng, giống chim tượng trưng cho uy quyền vua chúa, thì vươn chiếc cổ dài ngoẵng tua tủa lông, quệt mỏ xoè cánh, y hệt đám gà trống cáu kỉnh, đáng ghét. Mọi vật bằng ngọc thạch, bằng châu báu, đều xỉn đi, xám xịt lại. Tất cả cứ từ từ quay tròn, và tan dần, tan dần. Rồi một bóng ma trùm khăn, trăng trắng hiện lên. Nhà vua kinh hoàng run lên lập cập, vì không phải vua chúa nào cũng đều can đảm như Hămlét, và thông minh như thế thì lại càng không. Ngài muốn kéo chiếu che mặt mà không được 8”.

Con người biết mùi hun khói, đúng như Hayes Edwards nhận định, là một truyện ngắn đặc sắc về nhiều mặt. Trước hết là tính quốc tế – tác phẩm của một người Việt Nam được bắt đầu bằng lời đề tặng một người Algeria bị một sĩ quan pháp tên là Vidart giết hại: “Xin tặng Nahông, người đã bị quân phiệt thực dân ám hại, bài viết này”. Lời đề tặng này lại được đặt trong sự tương phản với đoạn trích lời Albert Sarrault, bộ trưởng bộ thuộc địa: “Chính cuộc chinh phục hệ thống thuộc địa đã rèn luyện tài năng chiến đấu của số đông những nhà chỉ huy quân sự lớn của ta, những con người đã đưa ta đến chiến thắng, đã được dư luận Pháp ca ngợi vinh quang và chiến công ngay khi mang lá cờ nước ta đến dưới những bầu trời châu Phi hay châu Á”.

Nhưng độc đáo nhất là tính viễn tưởng, Sáng tác năm 1922, nhưng bối cảnh câu chuyện lại diễn ra vào năm 1998, nghĩa là sau đó 75 năm. Hãy đọc đoạn mở đầu:

“Thành phố Haoussas cờ xí tưng bừng. Tưởng đâu như một vị chúa xuân đã gõ cây đũa thần lên gỗ ván khô khốc ở các bao lơn và các cửa sổ, làm mọc ra muôn vàn tấm lá đỏ phấp phới yêu kiều trước gió. Đây là lễ kỷ niệm lần thứ năm mươi ngày thành lập Cộng Hòa Liên Hiệp Phi. Chưa bao giờ dân chúng lại tham gia với mức độ ấy những hội hè loại này. Từ sáng sớm, các đường phố, các quảng trường y như một dòng sông người. Từng đoàn học sinh, giương cờ đi đầu, vừa diễu qua các phố vừa hát Quốc tế ca, được dân chúng vỗ tay hoan nghênh. Trên quảng trường Xô viết, một cụ già hô hào đám đông. Đó là cố Kimengo, mệnh danh là Con người biết mùi hun khói”.

Trong cảnh lễ hội đó, cố Kimengo kể lại câu  chuyện xưa: những người dân thuộc địa Pháp nghèo khổ không có tiền nộp thuế, phải bỏ trốn vào hang. Bọn thực dân hun khói làm những người trong hang chết ngạt. Riêng cố Kimengo may mắn ở gần một kẽ nứt, đào một cái ngách, thoát ra được và trở thành “chiến sĩ của quân đội cách mạng, một trong những người sáng lập Cộng hòa da đen”. Cụ Kimengo “không những đã ra sức thức tỉnh anh em cùng màu da ra khỏi giấc ngủ mê say của con người nô lệ, mà còn cố gắng phá tan mọi thành kiến dân tộc và chủng tộc, tập hợp những người bị bóc lột thuộc các màu da trong cuộc đấu tranh chung”.

Con người biết mùi hun khói của Nguyễn ái Quốc có lẽ là tác phẩm đầu tiên thuộc thể loại viễn tưởng ở Việt Nam. Đặc biệt hơn, nếu lưu ý rằng lễ kỷ niệm lần thứ 50 ngày thành lập Cộng hòa liên hiệp Phi trong truyện diễn ra vào năm 1998, ta sẽ thấy Nguyễn ái Quốc đã tiên đoán rất chính xác sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa cuối thập kỷ 1940.

Nhân đây, cũng xin nói thêm rằng sau này Hồ Chủ tịch còn trở lại với thể loại viễn tưởng trong Giấc ngủ mười năm (1949). Nông Văn Minh, nhân vật trong truyện, là người Nùng, vào Vệ Quốc quân đánh Tây. Trong trận đánh đèo Bông Lau, Minh bị thương vào đầu, ngất đi, khi tỉnh lại, thấy mình đang nằm trong bệnh viện. Một cô gái trẻ ôm chầm lấy anh hôn lấy hôn để làm Minh ngượng nghịu. Mãi lúc đó Minh mới sửng sốt nhìn thấy tờ lịch đề ngày 15 tháng 8 năm 1958. Cô gái chính là con gái anh, nay đã lớn, đang học đại học y khoa, ngồi kể cho bố nghe về những đổi thay trên quê hương đã hoàn toàn độc lập.

Xin trở lại với những tác phẩm Pháp ngữ của Nguyễn ái Quốc. Theo Hayes Edwards, sáng tác của nhà cách mạng trẻ tuổi Việt Nam còn âm vang nhiều năm sau khi anh rời Paris đi Moskva năm 1923. ảnh hưởng của Nguyễn ái Quốc có thể thấy rất rõ trong sáng tác của Lamine Senghor (Sénégal).

Chẳng hạn, một câu trong tác phẩm Con người biết mùi hun khói, “cụ Kimengo đã ra sức thức tỉnh anh em cùng màu da ra khỏi  giấc ngủ mê say của con người nô lệ”, dường như vọng lại trong đoạn kết bài diễn văn Lamine Senghor đọc tại Đại Hội Phản Đế tại Bruxelles. Cũng theo Hayes Edwards, giọng văn châm biếm, cũng như việc sử dụng hình minh họa trong La violation d’un pays (ức hiếp một dân tộc) có lẽ cũng được Lamine Senghor học theo gương Nguyễn.

——————-

1. J.A.Yeager, The Vietnamese Novel in French: a literary Response to Colonialism, Hanover, New Hampshire University Press, 1990.

2. Nguyen Hon Nhiem Lucy, L’échiquier et l’antinomie: Je/moi comme singe et substance du conflit Occident-Extrême-Orient dans les oeuvres de Pham Van Ky, University of Massachussets Amhers, 1992 (Chú thích của Alain Guillemin).

3. Giáo sư Alain Guillemin, hiện làm việc tại Viện nghiên cứu Đông Nam á (Institut de Reserche sủ le Sudét Asiatique, Marseille). Bài La Littérature Vietnamienne Francophone: Entre Colonisalisme et Nationalisme được ông gửi riêng cho tôi.

4. “II est probable que le poids des nouvelles est-sous – estimé car, surtout en ce qui concerne les récits  courts édités au Vietnam, il ne s’agit que de publications en volume. Une enquête dans les nombreux journaux et revues francopohnes parus pendant la période coloniale serait nécessaire”.

5. Hayes, Brent Edwards, The Shadow of Shadow, Xin xem bản trên internet: <http://muse.jhu.edu/journals/positions/v011/11.1edwards.html>

6. “I will concentrate here oarticularly on the work of Nguyen Ai Quoc, who may well stand as the most important and prodigious writer in radical circles in Paris during the first part of the 1920s, publishing a torrent of wide-ranging articles not only in Le Paria but also in L’Humanité, Le Journal du Peuple, La Voix Ouvrière, Le Libétaire, Clarté, and L’Action Coloniale”.

7. “It is even more surprising that literary innovation-and efforts in fiction in particular-play an indispensable role in the development of a number of anticolonial militants’ sense of politics”.

8. Tìm hiểu truyện và ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sở Văn hoá Thông tin Đồng Tháp, 1985.

Nhà văn Ngô Tự Lập (từ Hoa Kỳ)
tienphong.vn

Bác Hồ với Tết Mậu Thân 1968

QĐND Online – Giữa năm 1967, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta xuất hiện tình thế mới, có lợi cho ta. Ngày 28-12-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Bộ Chính trị (Khóa III) họp quyết định một chủ trương hết sức quan trọng: Mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968 nhằm giáng đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Ngay sau đó, công tác chuẩn bị được tiến hành chu đáo, công phu, tỉ mỉ và hoàn toàn bí mật. Tháng 1-1968, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (Khóa III) thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967, khẳng định quyết tâm, mục tiêu và hướng tiến công chiến lược. Ở miền Nam, các binh đoàn chủ lực, theo kế hoạch đang bí mật áp sát vào bàn đạp tiến công. Chỉ thị cụ thể của Bác Hồ cho các chiến trường là:

Kế hoạch phải thật tỉ mỉ
Hợp đồng phải thật ăn khớp
Bí mật phải thật tuyệt đối
Hành động phải thật kiên quyết
Cán bộ phải thật gương mẫu.

Bác Hồ cùng các uỷ viên Bộ Chính trị họp bàn chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ – Thư ký riêng của Bác thì Người đã chuẩn bị thư chúc Tết Mậu Thân 1968 từ độ ba tháng trước đó. Sáng chủ nhật ngày 31-12-1967, Bác ra Phủ Chủ tịch để đọc ghi âm thư chúc Tết. Chị Trần Thị Tuyết ngâm bài thơ chúc Tết vừa để Bác nghe vừa để ghi âm phát lúc giao thừa. Sáng ngày 1-1-1968, Bác gửi Thư Chúc mừng năm mới tới toàn thể cán bộ và đảng viên cả nước. Trong thư, Bác gửi lời chúc mừng đến các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta; chúc kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới cố gắng mới, tiến bộ mới! Đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước, Bác chúc:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

Cũng theo đồng chí Vũ Kỳ, chiều 29 Tết, Bác Hồ nhận điện của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng chúc tết Bác. Tối đêm giao thừa nơi Bắc Kinh xa xôi, hai Bác cháu ngồi im lặng trong phòng, mở Đài Tiếng nói Việt Nam nghe tin tức, ca nhạc và ngâm thơ Tết, chờ đón giao thừa. Từ khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng (năm 1941), đây là lần đầu tiên Bác đón giao thừa ở nước ngoài. Thời gian trôi đi chầm chậm. Rồi, bên ngoài, tiếng pháo nổ vang, tiễn Đinh Mùi và đón mừng Mậu Thân, từ chiếc đài bán dẫn, tiếng nói của Bác Hồ vang lên:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

Lời thơ chúc Tết của Bác đồng thời cũng là hiệu lệnh mở đầu cuộc tiến công và nổi dậy và truyền đi khắp mọi miền đất nước mà trọng điểm là 3 thành phố lớn: Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế. Tại Sài Gòn, quân ta đã đánh thẳng vào Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, Đài Phát thanh và rất nhiều mục tiêu chiến lược của địch khác…. Khi đài phát xong câu cuối “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”, Bác nói khẽ: “Giờ này, miền Nam đang nổ súng!”.

Trưa mồng một Tết, Bác Hồ rất vui khi nhận được tin chiến thắng : “Đánh khắp miền!”. Mồng 6 Tết, nhằm ngày 3-2-1968, kỷ niệm 38 năm Ngày thành lập Đảng, mới 6 giờ sáng, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ chuẩn bị giấy bút. Bác ngồi cạnh cửa sổ, nhìn ra ngoài trời đầy tuyết trắng, đọc cho đồng chí Vũ Kỳ ghi bài thơ khai bút đầu năm:

Đã lâu chưa làm bài thơ nào
Nay lại thử làm xem sao
Lục khắp giấy tờ vần chẳng thấy
Bỗng nghe vần THẮNG vút lên cao!

Suốt 2 tháng đầu năm Mậu Thân 1968, trên toàn chiến trường miền Nam không lúc nào ngớt tiếng súng. Mục tiêu lớn của chiến dịch đã đạt được, ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền của chúng, làm giảm ý chí chiến tranh của những kẻ hiếu chiến trong giới lãnh đạo Mỹ. Vần “THẮNG” của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom và đánh phá miền Bắc, thừa nhận chính thức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán tại Paris để giải quyết chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 là tiền đề quan trọng cho thắng lợi hoàn toàn mùa Xuân năm 1975.

HÀ VY (sưu tầm)
qdnd.vn

Những ngày giải phóng quận lỵ Hướng Hóa

Kỷ niệm 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

QĐND – Đã 45 năm trôi qua, nhưng với Trung tướng Nguyễn Ân, những kỷ niệm khi trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 chỉ huy đơn vị lần đầu tiên vào chiến trường miền Nam chiến đấu tại Mặt trận Đường 9 thời điểm Tết Mậu Thân năm 1968 vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí về một thời trận mạc… Ông bồi hồi nhớ lại:

Cuối năm 1967, sau hai mùa khô đọ sức quyết liệt với quân viễn chinh Mỹ, ta đã tích lũy nhiều kinh nghiệm, thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng vững chắc. Trên các địa bàn quân và dân ta đã đánh bại một bước cuộc chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ, dồn chúng vào thế “tiến thoái lưỡng nan” và bắt đầu tụt hạng ở chiến trường. Về thế trận, cho phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới. Trên cơ sở đó, tháng 12-1967, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết lãnh đạo sáng tạo và kiên quyết, xác định: “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng lên một bước phát triển mới, bằng phương pháp tổng công kích-tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định”.

Trung tướng Nguyễn Ân (bên phải) và đồng đội cũ chụp ảnh lưu niệm.

Để thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, tại mặt trận Đường 9, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã quyết định tăng cường cho Bộ tư lệnh B5, cử Thiếu tướng Trần Quý Hai, Phó tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy và đưa thêm các Sư đoàn 320, 304, cùng một số binh chủng vào chiến đấu. Trung đoàn 66 do tôi làm Trung đoàn trưởng, trong đội hình Sư đoàn 304 được lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam và được giao nhiệm vụ tác chiến trên chiến trường chiến lược Đường 9 – Bắc Quảng Trị, tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của Mỹ-ngụy, chủ yếu là quân Mỹ; thu hút giam chân địch; hiệp đồng chặt chẽ với chiến trường toàn miền Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho Trị Thiên-Huế nổi dậy…

Đảng ủy Mặt trận B5 chủ trương tổ chức, sử dụng lực lượng làm hai hướng: Hướng phía Tây, mục tiêu chủ yếu là Khe Sanh, cụm phòng ngự liên hoàn kiên cố nhất của Mỹ-ngụy ở Tây Đường 9 được xác định là hướng chủ yếu, do Sư đoàn 304 và Sư đoàn 325 đảm nhiệm. Hướng phía Đông gồm hệ thống căn cứ hành quân, hỏa lực, hậu cần của địch từ Cửa Việt, Đông Hà đến tận Cù Tu là hướng quan trọng do Sư đoàn 320 và Sư đoàn 324 đảm nhiệm. Lực lượng pháo binh có Trung đoàn 675 và Trung đoàn 45 pháo binh dự bị chiến lược của Bộ tham gia. Về thiết giáp có Tiểu đoàn 198 xe tăng được tăng cường cho hướng trọng điểm Khe Sanh. Đây là lần đầu tiên xe tăng của ta có mặt ở chiến trường miền Nam. Thời gian mở đợt tấn công trên mặt trận Đường 9 xác định vào khoảng cuối tháng 2-1968. Trong thời điểm đối phương tăng cường lực lượng lớn, có lúc lên tới 50 vạn quân Mỹ và chư hầu, chưa kể lực lượng ngụy quân. Việc mở chiến dịch lớn tại Tây Nam giới tuyến quân sự tạm thời, trên địa bàn rộng buộc địch phải điều động lực lượng, trang bị lớn để đánh trả là đòn tấn công chiến lược, tạo điều kiện cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta.

Sau khi nhận nhiệm vụ ở mặt trận đêm 14-1-1968. Lúc này ta dự định nổ súng mở màn chiến dịch vào ngày 20-1-1968, sớm hơn so với kế hoạch một tháng. Công tác chuẩn bị chiến đấu hết sức khẩn trương do thời gian chuẩn bị chỉ có 4 đến 5 ngày là rất gấp. Sư đoàn 304 được tăng cường Tiểu đoàn Xe tăng 198, một trung đoàn cao xạ, có nhiệm vụ mở màn chiến dịch giải phóng đoạn từ Khe Sanh đến Lao Bảo. Quyết tâm của Sư đoàn sử dụng Trung đoàn 24 và một số xe tăng đánh chiếm Huội San, sau đó phát triển về tấn công Làng Vây; Trung đoàn 9 sẵn sàng đánh viện; Trung đoàn 66 của chúng tôi có nhiệm vụ đánh chiếm quận lỵ Hướng Hóa. Đây là một thử thách khắc nghiệt ngay từ trận đầu đối với sư đoàn vì trong một thời điểm phải triển khai hai trận đánh công sự vững chắc, với yêu cầu phải bảo đảm thắng lợi để mở màn cuộc tấn công lịch sử.

Nhiệm vụ Trung đoàn 66 là nhanh chóng đưa bộ đội vào tiến công mở màn, trước hết tiêu diệt chi khu quân sự và quận lỵ Hướng Hóa, sau đó chốt giữ không cho địch chiếm lại. Trước khi nổ súng phải có lực lượng chiếm giữ Ku Bốc và Cao điểm 471, sử dụng một tiểu đoàn bám đường 9 chuẩn bị đánh viện. Triển khai nhiệm vụ, 14 giờ ngày 18-1-1968, Đảng ủy, chỉ huy trung đoàn hạ quyết tâm: Sử dụng Tiểu đoàn 7 được tăng cường Đại đội ĐKZ 82, cùng một trung đội vận tải, một trung đội đặc công có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở quận lỵ Hướng Hóa. Tiểu đoàn 9 đưa một đại đội chốt ở đồi Ku Bốc, lực lượng còn lại chuẩn bị đánh địch ở Đông Nam đồi Ku Bốc. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66, lần đầu vào chiến trường miền Nam đánh Mỹ, vào ngay khu vực gần giới tuyến giữa miền Nam và miền Bắc, là cửa ngõ đường tiếp tế của quân ta từ Bắc vào Nam; khu vực Khe Sanh – Đường 9, Mỹ-ngụy tăng cường lực lượng phòng thủ chặt chẽ, xa căn cứ thì chúng dùng máy bay B-52 hoặc máy bay chiến thuật rải bom, hoặc dùng pháo tầm gần, tầm xa bắn phá. Ngay ngày đầu đơn vị vào vị trí tập kết đã bị B-52 rải thảm và pháo của chúng kết hợp với nhau bắn phá kéo dài 15-20 phút. Khi bị B-52 rải thảm, lúc đầu chúng tôi còn tranh luận nhau là B-52 rải thảm hay là pháo chúng bắn, vì sau B-52 rải thảm, là pháo của chúng bắn trùm lên…

Mọi công tác chuẩn bị cho trận mở màn, từ khâu nắm địch tới việc điều động lực lượng, kế hoạch chi tiết của từng bộ phận đảm bảo bí mật. Đúng 14 giờ, ngày 20-1-1968, đơn vị vừa nhô ra khỏi công sự thì bị B-52 rải thảm, may không có ai hy sinh, vài người bị thương nhẹ. Do chưa có kinh nghiệm chuẩn bị đường xuất kích, chỉ chuẩn một đường nên khi B-52 rải thảm và pháo bắn, cây cối đổ ngổn ngang lấp hết đường đi, bộ đội mang vác nặng không sao đi nhanh được, trong khi máy bay OV10 bay liệng và pháo sáng liên tục. Nhưng đúng 5 giờ ngày 21-1-1968 theo hiệp đồng đơn vị đã tiếp cận được mục tiêu. Trời vừa sáng, địch đã phát hiện ra ta tiếp cận vị trí của chúng. Tình thế hết sức khẩn trương, tâm trạng chúng tôi lúc này rất căng thẳng, thì bất ngờ pháo binh của ta đồng loạt thực hiện một trận bão lửa mãnh liệt vào sân bay, sở chỉ huy, các trận địa pháo của địch ở Tà Cơn, Hướng Hóa, các điểm cao 832, 471….

Đúng 5 giờ 10 phút, tôi ra lệnh nổ súng, các loại hỏa lực dồn dập chế áp hỏa điểm địch, yểm trợ cho bộc phá viên lên mở cửa. Trung đội bộc phá mở được 4 hàng rào, còn một hàng rào sát lô cốt có một khẩu đại liên bắn ra rất mãnh liệt. Đồng chí Tiểu đoàn trưởng và bộc phá viên bị hy sinh ngay sát hàng rào. Lúc 5 giờ 40 phút, tôi lên quan sát và lệnh cho ĐKZ cơ động vào cửa mở diệt hỏa điểm của địch. Bất ngờ một loạt đạn của địch từ trong bắn ra, một viên trúng vào chiếc mũ sắt của tôi đang đội trên đầu, khiến cho chiếc mũ xoay 180 độ về sau. Tôi choáng váng ngồi xuống và chợt nhớ ra hôm trước khi trinh sát chúng tôi phát hiện có một cửa ngách bên khu gia binh thông vào đồn, không có người canh gác. Tôi quyết định để một bộ phận kiềm chế địch, còn phần lớn lực lượng chuyển hướng sang khu gia binh để đột nhập vào qua cửa ngách, ở đó địch mỏng yếu. Quân ta nhanh chóng tiến công vào bên trong, phát triển chiến đấu rất nhanh, chiếm lĩnh các vị trí khiến cho địch không kịp đối phó.

Cũng thời gian này, đúng như ta đã dự kiến, khi ta tiến công Hướng Hóa, địch điều ngay Đại đội 258 địa phương đổ bộ đường không xuống Ku Bốc. Đại đội 11, Tiểu đoàn 9 của trung đoàn tôi bố trí phục sẵn ở đó, giữ được bí mật, khi máy bay địch lượn khắp cũng không phát hiện ra, nên khi đổ quân xuống liền bị ta tiêu diệt gọn, sau gần 50 phút chiến đấu. Phân đội súng máy 12,7mm của ta còn bắn rơi tại chỗ 3 chiếc trực thăng. Khi bắt được tù binh chúng khai: “Chúng tôi thấy thấp thoáng có lính đội mũ sắt nhưng cho rằng, Việt cộng làm gì có mũ sắt, thế là chúng tôi cứ đổ quân xuống…”. Thật là bất ngờ thú vị, vì lần đầu tiên bộ đội chủ lực miền Bắc được Liên Xô trang bị mũ sắt và nhờ đó ta đã giữ được bí mật tại đây.

Bước vào chiến dịch, chỉ trong 18 ngày, Trung đoàn 66 cùng với các đơn vị trong Sư đoàn 304 đã đánh 3 trận diệt địch trong công sự vững chắc, diệt 3 cứ điểm quan trọng của địch ở Huội San, Hướng Hóa và Làng Vây. Cụm cứ điểm Tà Cơn do quân Mỹ chiếm đóng bị cô lập ở giữa lòng chảo Khe Sanh. Sư đoàn 304 và Sư đoàn 325 được Bộ tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ chuyển sang bao vây đánh lấn Tà Cơn. Đến ngày 10-2-1968, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 cùng Trung đoàn 95C và Trung đoàn 101Đ của Sư đoàn 325 và bộ đội địa phương Hướng Hóa đã tổ chức được 13 trận vây lấn xung quanh Tà Cơn. Từ hướng Bắc, Tây và Tây Bắc, Trung đoàn 95C và Trung đoàn 101Đ cũng tiến vào vây lấn Tà Cơn. Những trận đánh liên tiếp của các trung đoàn của ta đã trở thành những mũi tiến công sắc nhọn ngày càng cắm sâu vào căn cứ địch. Mỹ đã dùng máy bay chiến lược B-52 thả gần 60.000 tấn bom, bắn hàng chục vạn quả đạn pháo, nhưng các trận địa vây lấn của ta vẫn đứng vững. Báo chí phương Tây và dư luận đã phải nói đến hình ảnh một Điện Biên Phủ mới. Tổng thống Giôn-xơn khi đó yêu cầu tham mưu liên quân “ký bản cam kết rằng Khe Sanh sẽ được giữ vững”.

Những ngày cuối tháng 3-1968, các trận vây lấn của ta khép chặt vòng vây. Trong 50 ngày đêm, các đơn vị tiêu diệt 3000 tên địch, bắt sống 217 tên, bắn rơi và bắn cháy tại sân bay 279 máy bay các loại, phá hủy rất nhiều vũ khí, kho tàng của địch. Tình hình Khe Sanh làm cho bọn hiếu chiến ở Nhà trắng và Lầu Năm Góc đau đầu. Tại Quốc hội Mỹ đã nổ ra cuộc tranh luận rất gay gắt về việc giữ hay không giữ Khe Sanh. Ngày 26-6-1968, địch buộc phải tuyên bố rút khỏi Khe Sanh. Ngày 9-7-1968, cờ giải phóng đã cắm trên cột cờ sân bay Tà Cơn….

45 năm nhìn lại tôi càng thấy rõ hơn tầm chiến lược của Đảng. Thắng lợi trên các chiến trường cùng với thắng lợi của cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã làm cho địch “xuống thang”, tạo bước phát triển mới của cuộc chiến tranh, là tiền đề, động lực để quân và dân ta giành những thắng lợi to lớn hơn, tiến tới ngày toàn thắng…

Trung tướng NGUYỄN ÂN (kể) – Xuân Dân (ghi)
qdnd.vn

Sáng tạo độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam

Kỷ niệm 45 năm cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

QĐND – Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đúng lúc Giao thừa Tết Mậu Thân 1968, toàn quân và toàn dân ta ở miền Nam đã mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy, đồng loạt đánh vào hầu hết các thành phố lớn, đặc biệt là Sài Gòn và Huế, các thị xã, thị trấn, chi khu, quận lỵ, các sân bay và căn cứ hậu cần của Mỹ, quân đội Sài Gòn trên toàn chiến trường miền Nam Việt Nam.

Cuộc tiến công táo bạo bất ngờ đã tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực cấp cao của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đánh chiếm những mục tiêu hiểm yếu như Đài phát thanh, Tòa đại sứ Mỹ, đánh vào Bộ Tổng tham mưu, Tổng nha Cảnh sát ngụy ở Sài Gòn, đánh vào nội thành và làm chủ trong một thời gian dài ở Cố đô Huế, phá hủy một khối lượng quan trọng các phương tiện chiến tranh và cơ sở hậu cần-kỹ thuật hiện đại nhất của Mỹ và chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ.

Đây là thắng lợi tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến, làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải bắt đầu xuống thang chiến tranh, là một sáng tạo độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Bộ đội ta tiếp cận mục tiêu tiến công thị xã Bến Tre trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Ngay từ đầu năm 1965, trước sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, xuất con chủ bài quân viễn chinh Mỹ, đưa ồ ạt quân Mỹ vào tham chiến trên quy mô lớn ở miền Nam, với tham vọng bẻ gãy xương sống Việt Cộng và chụp bắt cơ quan đầu não kháng chiến của ta, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc nước ta. Tham vọng của Mỹ khi tiến hành chiến tranh cục bộ là đánh bại cách mạng miền Nam Việt Nam trong vòng từ 25 đến 30 tháng, với kế hoạch 3 giai đoạn, hai cuộc phản công chiến lược, mà giai đoạn 3 được dự tính là hoàn thành việc tiêu diệt khối chủ lực ta, tiếp tục bình định miền Nam, rút quân Mỹ về nước vào cuối năm 1967.

Trước âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã đánh giá đúng tình hình chiến lược, tạo sự nhất trí cao trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Giữa lúc đế quốc Mỹ ở thế ngập ngừng về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ dao động và trong thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu cử tổng thống Mỹ, Đảng ta quyết định phải giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ, bằng cách chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, tạo ra một bước ngoặt lớn, làm thay đổi cơ bản cục diện chiến tranh có lợi cho ta, đưa cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam chuyển sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định.

Sự sáng tạo về nghệ thuật quân sự của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là ở cách đánh chưa từng diễn ra trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và cả trong lịch sử chiến tranh trên thế giới, khiến cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn bị động, bất ngờ.

Đó là sự sáng tạo của phương châm ba vùng chiến lược. Nếu không có ba vùng chiến lược được xây dựng từ nhiều năm với những cơ sở vững mạnh và quần chúng đông đảo ủng hộ thì không thể có chiến tranh ở thành thị, nhất là ở các thành phố trọng điểm Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng là những trung tâm chính trị, quân sự. Đánh vào đây là đánh vào các cơ quan đầu não, các trung tâm chỉ huy, đánh vào sinh lực cao nhất của địch, chỗ hiểm yếu, dễ chấn động và nhạy cảm nhất của chúng.

Đó là sự sáng tạo của việc vận dụng hai lực lượng chính trị và quân sự để giành thắng lợi cả chính trị và quân sự, sáng tạo về hình thức tiến công đồng loạt để tạo hiệu lực như một đòn sét đánh. Để đồng loạt tiến công ở 41 thành phố và thị xã thì phải có một thời gian chuẩn bị dài, phải dự trữ một khối lượng vật chất lớn, đặc biệt là phải giữ được bí mật. Chỉ khi nhân dân có giác ngộ chính trị cao, có lòng nồng nàn yêu nước mới sáng tạo ra trăm phương nghìn kế để tạo ra chỗ giấu quân, để đưa hàng trăm tấn vũ khí, đạn dược vào ngay sào huyệt của địch; sẵn sàng hy sinh cả tính mạng và của cải để bảo vệ các lực lượng cách mạng, để tiếp sức cho các LLVT chiến đấu trong thành phố. Mục tiêu cao nhất của cuộc tổng tiến công là đánh vào ý chí của địch, làm cho chúng lung lay tận gốc, làm nản chí cả những kẻ hiếu chiến nhất, làm náo động cả nước Mỹ, đẩy cuộc chiến tranh ngay trong lòng nước Mỹ lên một bước mới. Trong khi đó, ta tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Đó còn là sự sáng tạo trong lựa chọn thời cơ chiến lược. Ta tiến hành tổng tiến công và nổi dậy vào lúc số lượng quân Mỹ đông nhất, sau gần 3 năm thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ, đang ở vào thế “tiến thoái lưỡng nan”. Ta chọn thời cơ vào năm bầu cử tổng thống Mỹ, tình hình nước Mỹ rất nhạy cảm về chính trị, áp lực quân sự vào thời điểm này có thể tạo ra hiệu lực lớn. Đây là thời cơ ta lựa chọn đúng lúc, đạt hiệu quả cao. Hai tháng sau cuộc tổng tiến công của ta, ngày 31-3, tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố đơn phương ngừng bắn phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri, không ra ứng cử nhiệm kỳ thứ hai. Trên thực tế, Mỹ đã mặc nhiên thừa nhận một cách đầy đủ sự phá sản của chiến lược chiến tranh cục bộ, tạo ra bước ngoặt mới của cách mạng nước ta.

Đại tá, PGS, TS TRẦN NAM CHUÂN
qdnd.vn

Vừa hành quân, vừa đánh địch

QĐND – Chiều 29-1-1968 (tức ngày 30 Tết), Tiểu đoàn 52 Tỉnh đội Bình Định nhận được lệnh của trên hành quân đến rìa núi xã Phước Long thuộc huyện Tuy Phước nhận nhiệm vụ chiến đấu và khẩn trương làm công tác chuẩn bị để hành quân đến vị trí tập kết đúng giờ quy định.

Đêm 30 Tết, trời tối như bưng, Tiểu đoàn hành quân băng rừng trong ánh đuốc lồ ô. Khi Giao thừa đến, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 52 cho bộ đội dừng lại khoảng 5 phút nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc Tết. Giọng Bác Hồ ấm áp như tiếp thêm sức mạnh để cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn tiếp tục hành quân vào trận đánh.

Đến vị trí tập kết ở xã Phước Long, Tiểu đoàn 52 được giao nhiệm vụ đánh địch ở vòng ngoài, kìm chân địch, uy hiếp cửa ngõ chính vào thành phố Quy Nhơn để các đơn vị bạn tiến công địch trong thành phố. Dù chưa kịp chuẩn bị, nhưng do thông thạo địa bàn, sáng ngày 31-1-1968 (Mồng Một Tết Mậu Thân), tiểu đoàn nổ súng đánh địch ở xã Phước Long. Bị đánh bất ngờ, lực lượng địch đồn trú ở khu vực ga Diêu Trì nhanh chóng bị tiêu diệt, tiểu đoàn làm chủ đoạn đường sắt đi qua khu vực này. Khoảng 9 giờ sáng, địch huy động một tiểu đoàn lính Nam Hàn phản kích, Tiểu đoàn 52 bám trụ đánh địch, đến 16 giờ, ta mới rút về dãy núi Phước Long để củng cố lực lượng.

Trong đêm Mồng Một và sáng Mồng Hai Tết Mậu Thân, địch tăng cường lực lượng, chặn ven rìa núi đánh chặn quân ta. Ban chỉ huy Tiểu đoàn 52 tổ chức lực lượng đánh địch, vượt qua tuyến ngăn chặn của quân Nam Hàn, tập kích tiêu diệt một đại đội địch ở thôn Lập Lễ (xã Phước Long), khẩn trương xây dựng công sự trụ lại đánh địch. Các chốt của tiểu đoàn đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch, tạo điều kiện cho các đơn vị của ta đánh vào thành phố Quy Nhơn.

Khi các đơn vị bạn rút khỏi thị xã Quy Nhơn, Tiểu đoàn 52 được lệnh rút về khu vực núi Mun (Phú Tài). Trên đường về vị trí tập kết, Tiểu đoàn tổ chức tập kích một đại đội bảo an của địch ở Tây Định, sau đó tiến công bọn lính Tân Tây Lan đánh thuê cho Mỹ đóng quân ở Lộc Trung (Phước Sơn), gây cho địch nhiều tổn thất.

Vừa hành quân vừa phối hợp với các đơn vị bạn chiến đấu, Tiểu đoàn 52 đã đánh nhiều trận, tiêu diệt hai đại đội bảo an địch và hàng chục tên lính Nam Hàn, Tân Tây Lan đánh thuê cho Mỹ, góp phần vào thắng lợi của cuộc tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968 ở Bình Định.

QUANG PHÁT
qdnd.vn

Tết Mậu Thân diệt đồn Giồng Ông Đôn

QĐND Online – “Đặc khu rừng Sác”, cái tên đã đi vào lịch sử dân tộc như một bản hùng ca gắn liền với những chiến công oanh liệt của Đoàn 10 trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Người được mệnh danh là “pho sử sống”, từng là “linh hồn” của đặc công rừng Sác chính là Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Lê Bá Ước (bảy Ước) nguyên Trung đoàn trưởng, kiêm Chính ủy Đoàn 10. Trong hàng nghìn trận đánh của đặc công rừng Sác thì trận tiêu diệt đồn Giồng Ông Đôn, thuộc xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch (Đồng Nai) diễn ra đúng vào đêm mùng Một Tết Mậu Thân năm 1968, thể hiện rõ bản lĩnh, tài thao lược của vị chỉ huy huyền thoại này.

Trong căn nhà ấm cúng của Đại tá Lê Bá Ước ở phường Quyết Thắng, TP Biên Hòa một ngày giáp Tết Quý Tỵ, chúng tôi có dịp được nghe ông kể về trận đánh năm xưa.

– Trước Tết Mậu Thân mấy ngày, trung đoàn tôi được lệnh của Bộ chỉ huy Miền tổ chức đánh địch theo chỉ đạo tổng tiến công. Vốn là đơn vị đặc công chuyên sử dụng thuốc nổ với kỹ thuật cá nhân là chính, anh em rất ít khi chạm tới súng hay cuốc, xẻng bộ binh. Hơn nữa, chúng tôi hầu như không được trang bị các loại vũ khí và dụng cụ này. Nhưng với tinh thần tổng tiến công, tôi và đồng chí Tám Sơn (lúc bấy giờ là Trung đoàn trưởng) đã bàn bạc, thống nhất tiêu diệt đồn Giồng Ông Đôn, nơi có một đại đội bảo an đóng giữ, thường xuyên đàn áp nhân dân xã Phú Hữu. Sau khi triển khai kế hoạch công đồn, tinh thần bộ đội phấn khởi và đầy khí thế quyết tâm. Có lẽ bởi lính đặc công quen đánh bí mật, nhỏ lẻ, tác chiến độc lập nên khi được đánh trực diện với quân địch anh em háo hức lắm! Các đơn vị từ Cần Giờ, Nhơn Trạch đến Cát Lái đều bám sát ấp chiến lược quên cả ngày Tết, luôn trong tư thế sẵn sàng đợi lệnh. Mặc dù thời gian gấp, chưa điều nghiên kỹ về địch, nhưng với khí thế hừng hực chúng tôi vẫn xốc lại lực lượng, lựa chọn một bộ phận khẩn trương thực thi phương án. Ngày mùng Một Tết, tôi bí mật vào trong dân tìm hiểu thêm tình hình. Bà con Phú Hữu thông báo rõ quy luật hoạt động của tụi bảo an và cho biết chỉ huy đồn Giồng Ông Đôn là tên chuẩn úy Sáu, quê ở Bến Tre. Đột nhiên, tôi nảy ra sáng kiến, ngay đêm hôm đó, trong khi đơn vị triển khai đội hình, tôi nhờ một cụ già ở địa phương dẫn đường đưa tới gần phía trước đồn địch. Lựa chỗ có địa hình thuận lợi, tôi bắc loa kêu gọi dõng dạc: “Chuẩn úy Sáu, tôi biết rõ anh quê ở Bến Tre và đang chỉ huy lực lượng bảo an ở đây. Ngày Tết cổ truyền, cha mẹ, vợ con anh đang mong đợi. Hiện nay, cách mạng đang tổng tiến công mãnh liệt ở mọi nơi, anh hãy buông súng và đưa lính ra đầu hàng ngay thì chúng tôi không tiến công đồn. Bằng không, tất cả sẽ bị tiêu diệt”. Tôi gọi loa mấy lần liên tiếp, trong đêm tối nghe vọng tận tâm can.

Đại tá Lê Bá Ước đang giới thiệu kỷ vật là chiếc đế giầy còn lại của phi công Mỹ sau khi bị cá sấu rừng Sác ăn thịt

– Tụi chúng có phản ứng gì không, thưa chú? – Tôi sốt sắng hỏi chen ngang. Ông Ước cười:

– Lúc đầu tụi chúng im phăng phắc. Dường như lời kêu gọi của tôi đã làm nao núng tinh thần phần đông tụi lính nên chỉ ít phút sau một số thằng bỏ chạy ra bờ ruộng, một số chạy thục mạng về sau, trong đó có cả tên chuẩn úy Sáu.

– Vậy là các chú chưa đánh mà địch đã tự rút khỏi đồn. Tên chỉ huy cũng trốn chạy thì tụi lính còn tâm trạng đâu mà chống đỡ! – Tôi nói như để chia sẻ cùng ông. Đại tá Ước lắc đầu:

– Trong đồn còn thằng chỉ huy phó cùng mấy đứa ác ôn hô nhau bám trụ chống trả. Chúng bắn xối xả về phía tiếng loa. Tôi liền rút nhanh khỏi đó. Đồng chí Tám Sơn ra lệnh cho đơn vị tiến công. ĐKZ 75 và súng máy 12,7 ly của trung đoàn đồng loạt nổ giòn giã. Đặc công xé hàng rào áp sát đồn địch, tiêu diệt mấy lô cốt xung quanh và quá nửa số lính của đại đội bảo an. Nhưng do nắm địch không kỹ địch nên chúng tôi không phát hiện được vị trí khẩu đại liên của chúng. Đến lúc này mới thấy hỏa lực của nó nguy hiểm. Khẩu ĐKZ duy nhất của đơn vị lại hết đạn, 12 ly 7 cũng bị trục trặc. Xung kích 1 đã phát triển vào bên trong, xung kích 2 gặp khó khăn bởi khẩu đại liên bắn quá dữ. Đồng chí Tám Sơn bò tới chỗ tôi, nói: “Anh Bảy, cho xung kích 3 lên thôi”. Tôi lưỡng lự suy tính. Vừa lúc đó tôi nhận được báo cáo, có 2 trường hợp hy sinh sau khi cắt hàng rào lô cốt, trong đó có đồng chí Nguyễn Văn Nở là Chủ nhiệm trinh sát trung đoàn. Cái tin ấy làm tôi thêm dứt khoát, quyết đoán. Tôi nói với đồng chí Trung đoàn trưởng: “Không nên đưa xung kích 3 vào nữa mà tổ chức rút quân ngay bởi bộ đội ta ít kinh nghiệm công đồn theo kiểu bộ binh. Nếu tiếp tục kéo dài sẽ bất lợi, nhất định bọn chúng sẽ gọi hỏa lực chi viện. Nhưng trước khi rút, phải cử người bí mật tiếp cận, dùng lựu đạn tiêu diệt cho được khẩu đại liên bên trong rồi rút về căn cứ”. Đồng chí Tám Sơn nhất trí, hạ lệnh lui quân. Lúc đó là 4 giờ sáng ngày mùng 2 Tết. Đúng như dự tính của tôi, khoảng 30 phút sau, tụi Mỹ cho pháo kích dữ dội xung quanh khu vực đồn rồi ồ ạt đổ quân xuống ứng cứu. Ngồi trên xuồng về cứ, Tám Sơn gật gù: Anh Bảy liệu việc hay dữ!

– Còn khẩu đại liên, các chú có diệt được không? – Tôi băn khoăn hỏi. Ánh mắt vị thủ lĩnh đặc công rừng Sác vụt sáng lên:

– Diệt được chứ, đặc công mà! Tôi xuống xuồng ngồi đợi, chừng hơn chục phút sau thì nghe tiếng lựu đạn nổ. Ngay lập tức tiếng đại liên im bặt, thế là biết nó bị “hạ” rồi. Cho dù chúng có ngụy trang kín đến mấy nhưng khi đã bắn là sẽ lộ mục tiêu. Chỉ cần thế thôi, lính của tôi sẽ có cách bịt miệng nó ngay.

Vậy là, trận tiến công đồn Giồng Ông Đôn, mặc dù đánh không đúng sở trường, nhưng Đoàn 10 đặc công rừng Sác vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ, tiêu diệt và làm mất sức chiến đấu của gần 1 đại đội bảo an. Cũng trong thời điểm ấy, các đơn vị của Đoàn đồng loạt triển khai tiến công ở nhiều nơi trên địa bàn giáp ranh Sài Gòn. Cả đặc khu rừng Sác hừng hực khí thế tổng tiến công đánh vào những mục tiêu trọng yếu làm lung lay tinh thần quân địch, mở đường cho thắng lợi cuối cùng.

Trước khi chia tay, Đại tá Lê Bá Ước bảo tôi: “Trận thắng đầu xuân Mậu Thân 1968 đã tạo đà cho chúng tôi mở rộng địa bàn hoạt động, vận dụng nhiều cách đánh thích hợp để tiêu diệt quân thù. Đây là dấu ấn quan trọng trong nghệ thuật quân sự độc đáo của bộ đội đặc công”. Nói rồi, ông nở nụ cười mãn nguyện nồng nàn hơi ấm mùa xuân.

Bài và ảnh: HOÀNG THÀNH
qdnd.vn

Nhớ lời Bác Hồ căn dặn tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II

(TCTG)- Từ tuổi trẻ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu và đồng cảm với thanh niên sinh viên – đó là lớp người trẻ tuổi đang chuẩn bị bước vào đời, khát khao lý tưởng, có nhiều hoài bão. Là những người ham hiểu biết, khám phá, cũng ham hành động, lại nhiều xúc cảm, dễ chịu tác động của tập thể và đặc biệt là đó mới chỉ là lớp người đang trưởng thành, chứ chưa phải là những người trưởng thành nên họ rất dễ vấp ngã, nản lòng. Từ đó, Người khuyên sinh viên hãy thực hiện “6 cái yêu”. Theo Người, 6 điều đó, vừa thể hiện rõ tinh thần và quyết tâm của tuổi trẻ, vừa là cái đích để mỗi sinh viên hướng tới và phấn đấu.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo đến thế hệ trẻ, trong đó sinh viên là những “người lao động trí óc trẻ” được Bác chú trọng nhiều. Người thư­ờng xuyên thăm hỏi, động viên họ, khuyến khích họ miệt mài học tập và không ngừng tu dưỡng đạo đức cách mạng, để trở thành những người có đức, có tài, đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong hành trình tìm đ­ường cứu n­ước, tìm con đường giải phóng dân tộc, đem lại tự do hạnh phúc cho đồng bào, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm đến “bộ phận quan trọng” này của dân tộc. Người đã cổ vũ, cuốn hút những thanh niên, sinh viên Việt Nam, đưa họ đến với cách mạng bằng chính những năm tháng tuổi trẻ đầy nhiệt huyết cách mạng và khát khao đấu tranh ginàh độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào của mình. Khi nước nhà chưa giành được độc lập, từ điều kiện cụ thể của Việt Nam, một đất nư­ớc với hơn 90% dân số là nông dân, đa phần là mù chữ, Người đã bằng những hoạt động thiết thực của mình, tuyên truyền, khuyến khích và tạo điều kiện giúp họ được học hành để góp sức cho cách mạng.

Sau khi cách mạng thành công, tin yêu và hy vọng ở thanh niên, sinh viên, những con ng­ười như­ Lênin nói: Nhiệm vụ thật sự xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa chính là của thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thanh niên là người chủ tư­ơng lai của nư­ớc nhà. Thật vậy, nư­ớc nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”[1]. Để thanh niên có thể trở thành những ng­ười chủ xứng đáng, những con ngư­ời đủ đức, đủ tài, gánh vác đư­ợc những trọng trách mà cách mạng giao phó, bên cạnh việc tự bản thân họ phải rèn luyện, tu d­ưỡng đạo đức, năng lực chuyên môn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã luôn tạo điều kiện để họ được học tập, được sinh hoạt trong tổ chức và hư­ớng dẫn họ tập dư­ợt làm việc, để họ ngày một trưởng thành và đảm đương tốt những nhiệm vụ đ­ược giao.

Không chỉ dừng lại ở việc hoạch định một chiến lược đào tạo con người, đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp cách mạng lâu dài, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thông qua những bức thư, những bài phát biểu thể hiện rõ sự quan tâm của mình đối với thanh niên. Đến thăm và nói chuyện với các sinh viên Việt Nam tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II (5-7/5/1958), Người nói: Hồi Người còn đồng tuổi với các sinh viên, những người đang được hưởng sự chăm lo, giáo dục của chế độ xã hội mới, được Đảng và Chính phủ nâng niu giúp đỡ, thì Người không có điều kiện được học hành như họ, mà phải “đi rửa bát hoặc làm nhiều công việc khác để lấy tiền mà đi học”. Hơn nữa, khi đó đất nước đang đắm chìm trong đêm trường nô lệ, người dân thuộc địa không có một chút tự do dân chủ nào, nên không được học hành “cho đến nơi đến chốn”, và càng không thể “phát triển hết khả năng của mình”. Tuy nhiên, đánh giá đúng vị trí và vai trò của thanh niên (sinh viên) trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước sau này, ngay từ những ngày cách mạng còn trong thời kỳ trứng nước, cùng với việc tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Hồ Chí Minh khi đó với tầm nhìn chiến lược cảu một vị lãnh tụ, đã kịp gửi những thanh niên Việt Nam đi đào tạo ở trường Quân sự Hoàng Phố, ở trường Đại học phương Đông Mátxcơva, trường Không quân Mátxcơva, v.v..

Và sau 9 năm kháng chiến, miền Bắc đã được giải phóng. Sau những năm dài chiến tranh, một kỷ nguyên mới với những nhiệm vụ mới, nhằm hướng đích Độc lập tự do và CNXH đang đòi hỏi sự cố gắng phấn đấu về mọi mặt của thanh niên, đặc biệt là những sinh viên- “những người đang được đào tạo dưới mái trường XHCN”. Nhấn mạnh điều này, Hồ Chí Minh khẳng định: họ là những người không chỉ tiếp sức cho thế hệ già, mà còn có trách nhiệm dìu dắt các em nhỏ và chính họ là thế hệ, là lớp người kế cận, tiếp tục tực hiện con đường mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn, trong hành trình đấu tranh vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, tự do và CNXH.

Đề cao nhiệm vụ đào tạo và phát triển con người Việt Nam mới XHCN “vừa hồng vừa chuyên”, Người từng nhiều lần nhấn mạnh: thanh niên phải có cả đức và tài mới hoàn thành được nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân tin tưởng giao phó. Người quan niệm “Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người”[2]. Mặc dù nhấn mạnh: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang”[3], song được sinh ra và lớn lên từ trong lòng chế độ xã hội cũ, họ ít nhiều còn mang trong mình những tàn dư của tầng lớp tiểu tư sản, nên để xứng đáng với vị trí, vai trò và nhiệm vụ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: bản thân mỗi người phải “tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng mình”, cải tạo tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. Bởi rằng, từ cá nhân chủ nghĩa sẽ “đẻ ra tư tưởng danh lợi”, ham chuộng địa vị, quyền chức, từ đó lại sinh ra căn bệnh sợ khó nhọc và sợ khổ, “coi khinh lao động chân tay”, “coi khinh người lao động chân tay”.

Nêu ra những căn bệnh vốn là tàn dư, là dấu vết của tầng lớp tiểu tư sản, Người cũng đồng thời chỉ ra biện pháp để sửa chữa những căn bệnh đó. Thấm nhuần lời dặn của cổ nhân, người cách mạng hãy “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, vị Chủ tịch nước chân tình nói với lớp cán bộ trí thức tương lai: “Muốn sửa chữa cá nhân chủ nghĩa thì khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào”, “làm việc gì mình cũng nghĩ đến lợi ích chung trước và lợi ích riêng sau”[4]. Trên tinh thần đó, Người nhấn mạnh: chừng nào mỗi người sinh viên tự hỏi và trả lời được 2 câu hỏi có ý nghĩa: đó là Học để làm gì ? và Học để phục vụ ai? thì chừng đó, trong tư tưởng của họ đã dứt khoát xác định rõ mục tiêu để học, để phấn đấu. Bởi rằng, tư tưởng thông suốt thì hành động sẽ đúng đắn.

Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II diễn ra trong bối cảnh miền Bắc đang tiến hành thực hiện kế hoạch 3 năm khôi phục và cải tạo kinh tế văn hoá xã hội để bước đầu xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH. Trước những khó khăn của thực tế và con đường đi lên CNXH đầy chông gai thử thách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với những sinh viên Việt Nam, những người trí thức XHCN là: Để xây dựng CNXH thì cần phải có “lao động trí óc và lao động chân tay”. Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể của nước nhà, Người nêu rõ: Chúng ta cần “lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có văn hoá, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại”[5]. Ngược lại, Người cũng khẳng định rằng: Lao động trí óc mà không có lao động chân tay, “chỉ biết lý luận mà không biết thực hành” thì cũng chỉ là “trí thức một nửa”.Vì vậy, sinh viên các cháu phải luôn nhớ rằng: “Trong lúc học lý luận cũng phải kết hợp với thực hành”, “học tập kết hợp với lao động”.

Từ tuổi trẻ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu và đồng cảm với thanh niên sinh viên – đó là lớp người trẻ tuổi đang chuẩn bị bước vào đời, khát khao lý tưởng, có nhiều hoài bão. Là những người ham hiểu biết, khám phá, cũng ham hành động, lại nhiều xúc cảm, dễ chịu tác động của tập thể và đặc biệt là đó mới chỉ là lớp người đang trưởng thành, chứ chưa phải là những người trưởng thành nên họ rất dễ vấp ngã, nản lòng. Từ đó, Người khuyên sinh viên hãy thực hiện “6 cái yêu”. Theo Người, 6 điều đó, vừa thể hiện rõ tinh thần và quyết tâm của tuổi trẻ, vừa là cái đích để mỗi sinh viên hướng tới và phấn đấu.

1. Đó là yêu Tổ quốc và “phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu mạnh”. Luận giải điều vĩ đại này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cắt nghĩa rất giản dị: để “Tổ quốc ta giàu mạnh thì phải ra sức lao động, ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”[6].

2. Đó là yêu nhân dân và muốn làm được như vậy, “phải hiểu rõ sinh hoạt của nhân dân, biết nhân dân còn cực khổ như thế nào, biết chia sẻ những lo lắng, những vui buồn, những công tác nặng nhọc với nhân dân”. Đây đồng thời cũng là thực hiện mối quan hệ gần dân, lắng nghe ý kiến của dân, gắn bó máu thịt với nhân dân.

3. Đó là yêu CNXH, vì chỉ “có tiến lên CNXH thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm”.

4. Đó là yêu lao động. Theo Người, “muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu CNXH thì phải yêu lao động”, vì lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là trách nhiệm của mỗi người. Một người trí thức nói yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu CNXH mà không yêu lao động, thì đó “chỉ là nói suông”.

5. Đó là yêu khoa học và kỷ luật, bởi “tiến lên CNXH thì phải có khoa học và kỷ luật”.

Cuối cùng, Người kết luận: Bây giờ là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, là thời đại của CNXH và là thời đại của anh hùng, vì vậy mà “mỗi người lao động tốt đều có thể trở thành anh hùng” và 6 là: “Mong các cháu cũng làm người thanh niên anh hùng trong thời đại anh hùng”.

Từ những chỉ dẫn tâm huyết, cụ thể và đầy ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh với sinh viên, từ những đòi hỏi cụ thể của sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và xây dựng CNXH ở miền Bắc, Người đã cùng Đảng, Chính phủ chú trọng đến sự nghiệp đào tạo, giáo dục thanh niên sinh viên, đồng thời sử dụng, tạo điều kiện để những trí thức XHCN phát huy mọi khả năng của mình trên mọi lĩnh vực. Mặt khác, Người cũng luôn lấy g­ương ng­ười tốt việc tốt để cổ vũ, động viên và khuyến khích thanh niên sinh viên, giúp họ định hướng tốt, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Hơn nửa thế kỷ đã qua đi kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự và căn dặn sinh viên Việt Nam, cùng với sự phát triển của cách mạng, thanh niên sinh viên ngày càng thể hiện rõ vai trò của mình. Họ thực sự là những người được đào tạo chuyên môn, nắm vững khoa học kỹ thuật, có đạo đức cách mạng, tinh thần giác ngộ XHCN và tinh thần quốc tế vô sản cao cả. Những phong trào Sinh viên tình nguyện, Tiếp ứng mùa thiVòng tay nhân ái, v,v..những sẻ chia của họ đối với nhau, đối với cộng đồng, những gương sáng Sinh viên nghèo vượt khó, những Sinh viên đạt giải cao tại các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế về học thuật, về âm nhạc,… trong những năm đất nước chuyển mình, thực hiện công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển, đã thực sự làm cho những mong mỏi, những tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh cách đây hoan 50 năm toả sáng trong thực tiễn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về với cõi vĩnh hằng, song những điều Người dặn, những việc Người đã làm, đặc biệt là tình cảm, sự quan tâm của Người đối với thanh niên, sinh viên Việt Nam thì vẫn luôn là nguồn động viên nội lực, là sức mạnh tinh thần, để mỗi thanh niên, sinh viên không ngừng phấn đấu vươn lên, trở thành những người “vừa hồng vừa chuyên”, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN./ .

Ths. Nguyễn Đoàn Phượng

Trung tâm bồi dưỡng cán bộ lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội
tuyengiao.vn


[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, t.5, tr.185

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.172

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.172

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.172

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.173

[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.173

Bác Hồ với thế hệ trẻ

Hỏi chuyện đồng chí Vũ Kỳ

– Làm thư ký cho Bác đã hai mươi bốn năm, có bao giờ anh thấy Bác tự cho mình là một “ông già” không? Và Bác đã làm gì để chống lại tâm lý “ông già” ấy? 

Như tất cả các cụ già Việt Nam, Bác cũng muốn có cái thú vui bình dị của tuổi già như Bác đã thể hiện trong thơ: Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau. Nhưng ở Bác, tôi không bao giờ thấy bộc lộ tâm lý mệt mỏi của một “ông già”. Chắc đồng chí còn nhớ bài thơ của Bác: 

Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm, 
Vẫn vững hai vai việc nước nhà. 
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn, 
Tiến bước, ta cùng con em ta!

Việt Nam - Hồ Chí MinhXuất xứ của bài thơ là thế này. Sáng 20 tháng 5 năm 1968, Bác dậy sớm hơn để chuẩn bị 6 giờ 15 tới dự kỳ họp khai mạc của Quốc hội. Vào hội trường, với tư thế trẻ trung và hóm hỉnh, Bác nói: Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm cho tôi như trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thì tôi thấy già đi. Vì vậy tôi có bài thơ này: “Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm…”. Cả hội trường sôi động hẳn lên. Các đại biểu Quốc hội ai cũng cảm thấy cùng trẻ lại với Bác.

Từ khi bước chân vào hoạt động cách mạng cho đến lúc từ giã cuộc đời, Bác luôn luôn quan tâm đến thế hệ trẻ. Năm 1925, Bác đã lo đào tạo nhân tài trẻ bằng cách gửi Lê Hồng Phong, Trương Văn Lễnh sang học trường quân sự Hoàng Phố, gửi Trần Phú và một số thanh niên khác sang học trường đại học Phương Đông ở Mát-xcơ-va. Các cháu thiếu niên, nhi đồng, Bác cũng chú ý nhiều. Đó là những cháu ở Trung Kỳ phải sống lưu lạc vì bố mẹ bị thực dân Pháp bắt bớ, tù đày, được Bác đưa từ Phi Chít (Thái Lan) sang Quảng Châu để tổ chức thành nhóm “Thiếu niên tiền phong Việt Nam”. Năm 1926, Bác đưa một số cháu sang học ở Liên Xô kèm theo bức thư gửi Uỷ ban Trung ương Đội Thiếu niên tiền phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Lê-nin: “… Khi chúng tôi nói cho các em nghe về Lênin, về các bạn, những học trò nhỏ Nga của Lê-nin, các em rất thích và muốn đến nước các bạn để gặp các bạn, sống với các bạn, học tập các bạn, và thật sự trở thành những học trò của Lê-nin như các bạn… Chúng tôi hy vọng rằng các đồng chí không từ chối nhận ba hoặc bốn đồng chí nhỏ tuổi Việt Nam chứ?” Thật là cảm động, Bác lo cho các cháu những điều rất nhỏ, được viết trong lá thư: “… Vào tháng mấy thì ở Mát-xcơ-va bắt đầu lạnh (vì các em thiếu niên này từ một nước nóng bức tới, phải chọn lúc thời tiết thích hợp cho các em đi)… Đến Mát-xcơ-va, các em tới địa chỉ nào?…” 

Khởi đầu lịch sử Đảng ta cũng là do lực lượng thanh niên được Bác dìu dắt. Hồi đó, Bác đã tổ chức “Thanh niên cách mạng đồng chí hội” và tự tay Bác soạn thảo cuốn “Đường kách mệnh” để giảng dạy. 

Năm 1961, trong Đại hội lần thứ ba của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, Bác vui mừng nói: “Từ chỗ chỉ có một Lý Tự Trọng đến ngày nay chúng ta có 78 vạn đoàn viên Đoàn thanh niên lao động hăng hái ra sức giúp Đảng xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Tiến bộ đó làm cho Bác rất vui sướng và trẻ lại. Nó làm cho lòng Bác phơi phới như hoa nở trong mùa xuân”. 

– Theo anh, trong tất cả các tổ chức của tuổi trẻ, Bác chú ý đến tổ chức nào nhất? 

Tất cả các hình thức tổ chức để tập hợp thanh niên, thiếu niên, nhi đồng nhằm phụng sự Tổ quốc, Bác đều chú ý, quan tâm giáo dục để tổ chức đó ngày càng vững mạnh. Trong đó tổ chức thanh niên xung phong được Bác đặc biệt quan tâm. Bài hát truyền thống của Thanh niên xung phong cũng là bài ca chính thức của Đoàn thanh niên bây giờ, được nhạc sĩ Hoàng Hà phổ nhạc bốn câu thơ của Bác: 

Không có việc gì khó 
Chỉ sợ lòng không bền, 
Đào núi và lấp biển 
Quyết chí ắt làm nên!

Trên đường đi chiến dịch Biên giới, ghé thăm một lán trại thanh niên xung phong làm đường, Bác trò chuyện thân mật rồi hỏi “Các cháu có thích nghe thơ không?”. Tất cả đồng thanh: “Chúng cháu thích nghe thơ ạ”. Thế là Bác ứng khẩu đọc bốn câu thơ này. Ngay sau đó, nhiều thanh niên xung phong và cả bộ đội Vệ quốc đoàn đều truyền cho nhau và học thuộc trong chiến dịch Biên giới. 

Về tổ chức thanh niên xung phong, Bác nói với tôi: “qúy hồ tinh, bất quý hồ đa, lựa tuyển cẩn thận để thanh niên xung phong thật sự là một trường đào tạo thanh niên bằng những công việc thiết thực”. Bác trực tiếp xem và sửa chữa bản điều lệ về nhiệm vụ và bổn phận của Đoàn thanh niên xung phong. 

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Bác theo dõi rất sát các hoạt động của thanh niên xung phong, kịp thời viết bài, nêu gương những điển hình tốt và gửi thư khen các đơn vị thanh niên xung phong có nhiều thành tích trong xây dựng và chiến đấu. 

Tháng 5 – 1968, trong phần viết thêm vào Di chúc, có đoạn: “Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. 

Như vậy, Bác xem tổ chức Thanh niên xung phong không chỉ để làm những việc cụ thể như đắp đường, xây cầu, khai hoang…, mà còn là một trường học để rèn luyện và đào tạo cán bộ tốt cho đất nước. Nếu không nhận thức đầy đủ như vậy tức là chưa thấu hiểu được lời dạy của Bác đối với thanh niên xung phong. 

– Là người được thường xuyên gần gũi Bác, chắc anh thấy rất rõ sự quan tâm bồi dưỡng và giáo dục thế hệ trẻ được thể hiện trong công việc và sinh hoạt thường ngày của Bác? 

Một lần, Bác đi công tác xa hơn một tháng, lúc trở về, Bác lại ngồi bên cầu ao vỗ tay gọi cá đến để cho ăn. Hôm ấy Bác không thấy con cá gáy vây đỏ đến ăn. Bác hỏi tôi. Tôi không biết trả lời thế nào. Tối, tôi hỏi anh em, được biết không ai câu cả. Khoảng mười ngày sau, ngồi bên Bác cho cá ăn, Bác bảo: “Kìa, chú coi, con cá gáy vây đỏ miệng đỏ đã đến rồi đấy”. Rồi Bác nói thêm: “Các chú ở nhà chắc không cho cá ăn đều và đúng giờ cho nên nó mới phải đi kiếm ăn lăng băng như thế”. Bác hạ giọng như tự nói với mình: “Đối với con người cũng thế, nhất là tuổi thanh niên, không quan tâm giữ nếp sống tốt thì cũng như thế”. Tôi nghe mà thấm thía sâu sắc làm sao! 

7 giờ sáng ngày 27 tháng 5 năm ấy, tức là trước ngày Thiếu nhi quốc tế 1-6, Bác gọi chị Thu Trà đến. Hồi đó chị Thu Trà làm chủ tịch Uỷ ban thiếu niên – nhi đồng. Bác hỏi về tình hình một số cháu học sinh miền Nam nghịch ngợm, Bác nói: ba má các cháu gửi các cháu ra miền Bắc để yên tâm công tác với niềm tin là được dạy dỗ tốt. Tại sao có tình trạng này? Lỗi các cháu một phần thì trách nhiệm của các cô các chú gấp mười phần… Bác căn dặn: vì các cháu xa nhà, thiếu tình cảm gia đình, cho nên phân trách nhiệm cho một số gia đình cán bộ chăm sóc các cháu như con em trong nhà. Bác cũng nhận chăm sóc con của đồng chí Nguyễn Hữu Thọ một cháu trai, hai cháu gái. 

Ngày 23 tháng 5 năm 1969, Bác tiếp ông Chủ tịch Thượng nghị viện Chi-lê X. Agienđê, sau này là Tổng thống. Sau đó, Agienđê đã ghi lại những ý nghĩ chân tình của mình trong một bài báo: “Chúng tôi ngồi quanh một cái bàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh mở chiếc phong bì lấy ra một tấm ảnh và nói với chúng tôi: “Đây là một kỷ niệm”. Chủ tịch lần lượt giới thiệu với chúng tôi những em thiếu nhi anh hùng miền Nam có nét mặt ngây thơ đang ngồi quây quần quanh Chủ tịch trong tấm ảnh. Chủ tịch nói: “Tôi rất vui lòng về các cháu thiếu nhi ngày nay… Hồi còn nhỏ, tôi không làm được những việc mà các cháu đã làm. Thiếu nhi thời tôi cũng vậy”. Sau đó, Chủ tịch mở một quyển vở cũ và với giọng dịu hiền, Chủ tịch đọc những con số chỉ rõ những thanh niên, thiếu nhi đã đạt được thành tích xuất sắc trong học tập, lao động và trong những việc làm anh hùng. Con số này ngày một tăng, nói lên sự nỗ lực của thanh niên”. Agienđê kết luận: “Chưa bao giờ một người khi nói với chúng tôi về các em nhỏ lại giáo dục chúng tôi nhiều như vậy”. 

Sự quan tâm và niềm tin của Bác Hồ đối với các thế hệ trẻ, người chủ của tương lai, một phần quan trọng đã được thể nghiệm trong chính thời thanh niên của Bác. Với hai bàn tay trắng, chàng trai xứ Nghệ Nguyễn Tất Thành 21 tuổi đã quyết tâm đi khắp năm châu bốn biển, tự kiếm sống, tự học tập để tìm đường cứu nước. Quyết tâm ấy, niềm tin ấy, Bác dồn tất cả cho các thế hệ trẻ, mùa xuân của xã hội.

Võ Văn Trực thực hiện

Tạp chí Tia sáng, số 5/2000

thanhdoanquynhon.org.

Nói thì phải làm – Đó là đạo đức của người cách mạng

Trong đời sống của dân tộc ta, từ xưa đến nay, những người chỉ nói mà không làm, hoặc nói nhiều mà làm ít, đều bị nhân dân chê trách, thậm chí khinh ghét và bị coi là hạng người không chính đáng. Trong ca dao, tục ngữ, tiếng nói của nhân dân, còn ghi lại biết bao những câu nói đáng để chúng ta suy ngẫm: “Một điều bất tín, vạn sự chẳng tin”, “Trăm voi không được bát nước sáo!”, hoặc “Nói chín thì phải làm mười/Nói mười làm chín, mọi người cười chê!”. Nghĩa là nhân dân mong muốn làm phải nhiều hơn nói.

Cũng phải nói một cách thẳng thắn rằng, có một số không ít cán bộ và đảng viên ta, trong số đó có cả những người lãnh đạo, đã nói nhưng không làm, hoặc làm không đến nơi đến chốn. Thậm chí có những điều đã hứa hẹn với dân, nhưng nói xong rồi lại quên ngay, khiến nhân dân mất lòng tin. Gần đây trong nhân dân có từ “chém gió”, để chỉ những cán bộ khi nói thì vung tay, mạnh mẽ, hứa hẹn đủ điều, nhưng lời nói rồi gió bay, chẳng có điều nào thành sự thật!.

Trong tác phẩm “Đường Kách Mệnh” viết từ năm 1927, cách đây vừa đúng 85 năm, khi nói về tư cách một người cách mạng, trong 23 điều thì điều thứ 10, Bác Hồ đã viết: “Nói thì phải làm”. Nói và làm đúng những điều mình nói, là một phẩm chất của người cách mạng. Chính điều này tạo ra niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta. Và cũng chính điều này, làm cho công tác cách mạng của chúng ta ngày càng phát triển mạnh mẽ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương lớn về “Nói thì phải làm”.

Ngay từ những ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước, Bác đã nói: Tôi muốn ra đi tìm hiểu thế giới, rồi sau đó trở về giúp đỡ đồng bào ta. Và Bác đã làm đúng như thế. Sau 30 năm bôn ba khắp các xứ người, chịu đựng biết bao gian khổ, tự kiếm sống, tự học, tham gia đấu tranh, hai lần vào tù, một án tử hình vắng mặt, ngày đêm viết báo lên án chủ nghĩa thực dân, rồi thành lập Đảng và năm 1941 Người đã trở về Tổ quốc, cùng với Đảng và nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám thành công, giành lại nền độc lập cho đất nước. Bác dạy chúng ta phải: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” và nói cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức của cách mạng. Và Bác đã làm đúng như thế. Cả cuộc đời của Bác, từ khi còn ở Pác Bó, Tân Trào… cho đến khi giành được chính quyền, trở về Thủ đô Hà Nội, Người vẫn sống một cuộc sống giản dị, thanh bạch, hoà vào đời sống của nhân dân.

Tìm hiểu thực tế sản xuất của nông dân xã Ái Quốc (Hải Hưng) năm 1958Bác Hồ đi tìm hiểu thực tế sản xuất của nông dân xã Ái Quốc (Hải Hưng)
năm 1958
. Ảnh:Internet

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nạn đói đang đe doạ, Bác vận động nhân dân ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Người còn viết bài “Xẻ cơm nhường áo” in trên Báo Cứu Quốc số 53, ngày 28-9-1945: “… Lúc chúng ta bưng bát cơm để ăn, nghĩ đến người đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa 1 bơ) để cứu dân nghèo. Như vậy thì những người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói…”. Và Bác đã cùng Văn phòng Chính phủ thực hiện đúng như vậy.

Một hôm, đúng vào ngày Văn phòng Chính phủ nhịn ăn, thì Bác được Trung tướng Tiêu Văn – một người chỉ huy của quân Tưởng – mời gặp. Sau đó lại chiêu đãi Bác. Để tranh thủ quân Tưởng, Bác đã nhận lời. Khi về, mặc dù đã được các đồng chí ở nhà báo cáo lại là đã góp một bơ gạo của Bác vào số gạo cứu đói. Nhưng Bác nói, hôm nay Bác vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ nhịn ăn như mọi người và ngày hôm sau Bác đã nhịn ăn một bữa.

Giáo sư Phan Ngọc đã viết: “Bác là một người không thay đổi. Khi gian khổ thế nào thì khi làm Chủ tịch nước Bác vẫn thế. Gian khổ ăn củ khoai lang như thế nào, thì khi làm Chủ tịch cũng ăn củ khoai lang như vậy. Bác không chấp nhận một cái gì đặc biệt cho mình hết. Không những không chấp nhận, mà còn ghét đặc quyền. Người ta nhịn thì mình cũng nhịn. Người ta ở cái lán thì mình cũng ở cái lán. Không có một người như vậy, thì không thể nào lôi cuốn được toàn dân”.

Cũng chính vì thế, chúng ta hiểu vì sao những lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh đi sâu vào lòng người mạnh mẽ và xúc động như vậy. “Bác bảo đi là đi, Bác bảo thắng là thắng…”. Toàn dân nhất tề xông lên, không ngại gian khổ hy sinh, vì nhân dân có niềm tin mãnh liệt ở người lãnh đạo của mình. Người lãnh đạo ấy vì mình, vì nhân dân chứ không phải chỉ vì bản thân họ, con cái họ. Người lãnh đạo ấy, ngày đêm lo lắng, ngày đêm làm việc cũng là vì mình, vì nhân dân. Do đó người lãnh đạo và nhân dân là một, và đó chính là sức mạnh của dân tộc ta để đánh thắng những kẻ thù to lớn hơn mình, không phải chỉ hôm nay mà còn trong cả lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc.

*

Nói đi đôi với làm, làm nhiều hơn nói, và nhiều khi chỉ làm mà không nói. Đó là phong cách Hồ Chí Minh!

Bác khuyên mọi người tiết kiệm, và chính Bác nêu gương tiết kiệm trước. Không phải chỉ ở trong nước, mà khi ra nước ngoài, ở nhà khách chính phủ nước bạn, thấy nhiều bóng điện sáng không cần thiết, Bác cũng tự tắt bớt đi.

Bác khuyên mọi người trồng cây thì năm nào Bác cũng đi tham gia trồng cây ở các địa phương. Rồi đến thăm, viết thư, động viên mọi người cùng trồng cây cho đất nước xanh tươi.

Bác khuyên mọi người “Chí công vô tư” thì khi đi dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô về, được Đảng bạn biếu một số tiền, Bác đã không nhập vào sổ tiết kiệm của riêng mình, mà nhập vào quỹ Đảng.

Cũng xin nói thêm, Bác có một sổ tiết kiệm cá nhân, nhờ một đồng chí ở văn phòng đứng tên gửi ở quỹ tiết kiệm phố Hàng Gai. Đây là số tiền nhuận bút mà các báo ở trong và ngoài nước gửi cho Bác. Năm Hà Nội đánh trả máy bay Mỹ, Bác đã bảo đồng chí Vũ Kỳ lấy tất cả số tiền tiết kiệm của Bác là 25 nghìn đồng (tương đương với 25 cây vàng lúc đó) để gửi cho Bộ Tư lệnh Phòng không mua nước ngọt cho các chiến sĩ bắn máy bay.

Chúng ta có kể cả ngày, cũng không hết những điều nói đi đôi với làm của Bác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng phê bình một số cán bộ chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, nhưng những công việc thiết thực thì không làm được. Người mong muốn cán bộ, đảng viên tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước.

Song nói và làm không phải chỉ là vấn đề quan trọng đối với từng cán bộ, đảng viên, kể cả những người lãnh đạo, mà lớn hơn còn là những chủ trương, đường lối, những nghị quyết của Đảng và Nhà nước đã ban hành có được thực hiện một cách đầy đủ không.

Người chỉ rõ: Đảng cũng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào? Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó không những hoá ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khoá XI về xây dựng Đảng, một lần nữa chúng ta lại cùng nhau học tập và làm theo Bác, nói đi đôi với làm, đã nói thì phải làm, làm nhiều hơn nói và luôn nhớ lời dạy của Bác: Nói thì phải làm, đó là đạo đức của người cách mạng.

*

Một nhà văn Đức, tác giả cuốn “Hồ Chí Minh một biên niên sử” đã viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn trung thành với lý tưởng của mình – Đó là quên mình. Dáng vẻ lãnh đạo, sự xa hoa, ưu đãi, huân chương và các hình thức vinh danh khác là những thứ người ta chỉ hoài công tìm ở Người. Đối với Người, sự gần gũi với nhân dân, với dân tộc là quan trọng hơn cả”. Một nhà văn khác lại viết: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Một con người huyền thoại, đã làm thay đổi số phận và tương lai của một dân tộc. Người suốt đời nói và làm là một, lý luận và hành động là một, lời nói và việc làm là một. Chính vì thế, niềm tin ở Việt Nam là Hồ Chí Minh!

Bùi Công Bính
baonamdinh.com.vn