Đảng và mùa xuân dân tộc!

Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời!

83 năm đã qua, Đảng vĩ đại, anh hùng đã gắn bó với nhân dân làm nên Mùa Xuân đất nước.

83 năm dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Việt Nam đã viết thêm vào lịch sử dân tộc những trang hào hùng nhất, rực rỡ nhất của thời đại Hồ Chí Minh. Trong cuộc hành quân thế kỷ ấy, nhân dân ta đã phải trải qua 30 năm chiến đấu gian khổ, đánh thắng những kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn mình, để hôm nay đất nước hoà bình, độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội và hoà nhập cùng thế giới. Câu nói ngắn gọn ấy, nhưng là mục tiêu vĩ đại, là con đường quang vinh mà gần thế kỷ qua dân tộc ta dưới ngọn cờ đại đoàn kết của Đảng đã tiến lên giành nhiều thắng lợi.

Những con người và những sự kiện lớn, càng lớn lên với khoảng cách thời gian. Lịch sử diễn ra và tiến về phía trước, càng làm nổi bật tầm cao và chiều sâu của sự nghiệp vĩ đại mà Đảng cùng với nhân dân ta đã thực hiện.

Biết bao Mùa Xuân đã trôi qua, nhưng một Mùa Xuân thực sự, một Mùa Xuân khởi đầu, đặt nền móng cho hạnh phúc của chúng ta hôm nay lại chính là Mùa Xuân thành lập Đảng – Mùa Xuân Canh Ngọ năm 1930. Hôm nay nhớ lại thời dựng Đảng, chúng ta càng thấy Đảng ta thật là vĩ đại.

Cuối năm 1929, nhận được liên lạc của Đảng, Bác Hồ của chúng ta đã từ một vùng quê ở Thái Lan, đáp xe lửa đi Băng Cốc, rồi từ đó đi tàu thuỷ đến Singapo. Tại đây Người chuyển sang một con tàu khác đi Hồng Công. Các đồng chí Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn đã ra tận cảng biển đón Bác. Và Bác đã quyết định họp Hội nghị thành lập Đảng vào đúng dịp Tết Nguyên đán. Ở Trung Quốc cũng như Việt Nam, Tết Nguyên đán là ngày Tết lớn nhất trong năm và thường kéo dài nhiều ngày liền. Đó chính là dịp để những đại biểu tham gia Hội nghị có thể đi khỏi đất nước mà không ai để ý. Còn ở Cửu Long thì một cuộc họp mặt như vậy cũng sẽ có nhiều thuận lợi.

Mãi mãi niềm tin theo Đảng.Mãi mãi niềm tin theo Đảng.

Và thế là ngày 3-2-1930, đúng ngày mồng 5 Tết Canh Ngọ, Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp tại Cửu Long (Trung Quốc) dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Đảng ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của Cách mạng Việt Nam. Ngày 7-2-1930 ngày cuối cùng của Hội nghị, Bác Hồ tổ chức một bữa liên hoan nhỏ ngay tại phòng ở của mình. Khi các đại biểu đã ngồi xung quanh bàn, Người xúc động nói:

“Các đồng chí, hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Lê-nin vĩ đại đã nói, chỉ có đảng nào có được một lý luận tiền phong mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ, chúng ta đã có một Đảng như thế rồi – đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nhân dân ta từ xưa có truyền thống đấu tranh anh dũng, nhưng suốt những năm ấy, Nhân dân ta thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này, và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt Nhân dân ta đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành Độc lập, Tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

Như vậy là ngay trong những ngày đầu tiên thành lập Đảng, trong lời phát biểu ngắn gọn ấy, Bác đã ba lần nhắc đến nhân dân ta.

Năm 1960, kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người Cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại… Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng là trí tuệ, là phẩm chất của cả dân tộc, kế thừa tinh hoa của hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Sức mạnh của Đảng chính là sự gắn bó máu thịt với nhân dân, là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Và Bác Hồ đã nói: “Nhiệm vụ của Đảng ta có thể nói gọn trong 8 chữ: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Và chính Người là đỉnh cao của đạo đức và văn minh đó. Người là hình ảnh tuyệt đẹp về mối liên hệ thân thiết, gắn bó giữa lãnh tụ với nhân dân, và Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên ta phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ với nhân dân.

Liên hệ và gắn bó chặt chẽ với nhân dân, là điều Bác Hồ đã nói với chúng ta rất nhiều lần. Bác đã nhiều lần nhấn mạnh:

“Đảng phải liên hệ với quần chúng như chân tay ruột thịt… Đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng. Tức là hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân. Học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối”.

Chưa ở đâu mà tình cảm giữa lãnh tụ với quần chúng lại thân thiết, gần gũi và được kính trọng, tin tưởng như Hồ Chủ tịch với nhân dân ta. Một nhà văn nước ngoài đã viết: “Bác Hồ – cách xưng hô quen thuộc của Việt Nam, chứa đựng cả sự kính trọng sâu sắc và sự ngưỡng mộ của cả một dân tộc đối với một người cha. Không có một từ nào có thể diễn tả được một cách trong sáng và đẹp đẽ như hai tiếng đó!”.

Hồ Chủ tịch nói: Dân là gốc của nước, Dân là gốc của cách mạng, do đó Dân cũng là người tham gia xây dựng Đảng.

“Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền Nhân dân”

Người nói thế, và suốt đời Người luôn luôn gương mẫu làm đúng, làm hơn cả những điều mình nói… Người luôn luôn đặt đời sống của mình trong đời sống của nhân dân. Trong Di chúc của mình, Người dặn dò: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

Trong bản Di chúc của mình, Bác đã 17 lần nhắc đến chữ “Nhân dân”. Và trong Di chúc của Người những chữ “Nhân dân” Bác đều gạch dưới.

Đồng chí Nguyễn Thọ Chân kể lại, hồi còn làm Phó Bí thư Thành uỷ Hà Nội, một lần vào làm việc với Bác, đồng chí đã đề nghị Bác cho xây dựng trụ sở của Trung ương Đảng tại Hà Nội cho có bề thế.

Bác im lặng, rồi trả lời:

– Trụ sở bề thế của Đảng ta, phải xây dựng ở trong lòng dân ấy, chú ạ!

*

Một nhà văn lớn đã nói: “Lịch sử không đơn thuần là chiếc cầu thang thuận tiện hướng thẳng tới tương lai. Và con đường của nhân loại ít khi chạy trên con đường bằng, mà thường là vắt qua những núi non hiểm trở”. Cách mạng Việt Nam cũng thế, cũng đã từng trải qua muôn vàn khó khăn, thử thách. Nhưng Bác Hồ đã viết: Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững, thuyền mới chạy đúng hướng. Trong mỗi bước gian lao đó, có Đảng sáng suốt dẫn đường, dân tộc ta đã đoàn kết tiến lên giành thắng lợi.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự nghiệp đổi mới của nước ta đã được đẩy mạnh trên mọi lĩnh vực. Việt Nam đã hội nhập với thế giới, trong nước thì chính trị xã hội ổn định, kinh tế phát triển, an sinh xã hội được chăm lo, quốc phòng và an ninh được tăng cường, chủ quyền và lãnh thổ được giữ vững.

Mùa xuân này, mỗi người Việt Nam trong cuộc sống mới của mình, ai cũng có thể trực tiếp cảm nhận thấy những gì mà Đảng đã đem lại cho gia đình mình, cho đất nước mình, và cho mỗi người chúng ta.
Nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Ngày biết Đảng, mắt ta còn ngơ ngác
Mà nay dưới chân mình,
một thế giới đã đi qua
Ai ngờ ngọn cờ búa liềm trên
những cành đa
Màu son ấy thổi dậy hồn non nước
Rồi ta sống những năm dài hạnh phúc
Mà trống đồng nhịp với giọng thơ ta!”

Trong Di chúc của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:

“Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ, phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Trong đoạn văn ngắn này, Bác Hồ đã viết bốn chữ Thật: Thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Mùa Xuân này, đọc lại những lời căn dặn của Bác, chúng ta càng thấm thía và suy nghĩ về những chữ Thật ấy của Bác!

Đảng ta thành lập đúng vào ngày 5 Tết Canh Ngọ năm 1930!

Ra đời vào Mùa Xuân. Và Đảng đã cùng với nhân dân ta làm nên Mùa Xuân đất nước.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, và công cuộc Xây dựng chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 của Đảng càng làm cho chúng ta thêm tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta./.

Thanh Bình
baonamdinh.com.vn

Bác Hồ với nông dân!

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến vấn đề nông dân – một lực lượng to lớn của cách mạng.

Ngày 10-10-1923, Đại hội Quốc tế Nông dân đầu tiên, khai mạc tại gian phòng lớn An-đrây-ep-xki ở Điện Krem-li. Ngày 12-10, dưới đầu đề “Tại Đại hội Nông dân toàn thế giới”, báo Pra-vđa đưa tin: “Tại phiên họp thứ hai, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt Đông Dương phát biểu ý kiến. Diễn giả chỉ ra rằng nông dân Đông Dương bị hai tầng áp bức, một là với tư cách nông dân nói chung, hai là với tư cách nông dân một nước thuộc địa”.

Trong bài phát biểu tại một phiên họp của đại hội, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ: “Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một quốc tế thật sự khi mà không những nông dân phương Tây, mà cả nông dân ở phương Đông, nhất là nông dân ở các thuộc địa là những người bị bóc lột và bị áp bức nhiều hơn các đồng chí, đều tham gia…”. Cả đại hội đã sôi nổi vỗ tay, tán thành ý kiến của Người.

Bác Hồ dùng thử máy cấy tại trại thí nghiệm lúa thuộc Sở Nông lâm Hà Nội, năm 1960Bác Hồ dùng thử máy cấy tại trại thí nghiệm lúa
thuộc Sở Nông lâm Hà Nội, năm 1960
.

Và chính trong Đại hội này, đã tiến hành bầu các cơ quan lãnh đạo của Quốc tế Nông dân. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc một nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng, thay mặt nông dân châu Á đã được bầu vào đoàn chủ tịch. Lúc đó Bác của chúng ta 33 tuổi.

Năm 1927, khi viết cuốn “Đường Kách mệnh”, ở mục “Ai là những người Kách mệnh” Bác Hồ viết:

“Vì bị áp bức mà sinh ra cách mệnh, cho nên ai mà bị áp bức càng nặng thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết. Khi trước tư bản bị phong kiến áp bức cho nên nó cách mệnh. Bây giờ tư bản lại đi áp bức công nông, cho nên công nông là người chủ cách mệnh”…

Mùa Xuân Tân Tỵ năm 1941, Bác Hồ của chúng ta đã trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu tiên ấy, Bác đã sống với những người nông dân miền núi và giác ngộ họ làm cách mạng. Đồng thời những người nông dân nghèo khổ và bị áp bức ấy đã chở che, giúp đỡ Bác và các đồng chí của mình. Pác-Bó, Cao Bằng đã vinh dự trở thành “Đại bản doanh” đầu tiên của cách mạng nước ta.

Rồi trong những năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Định Hoá (Thái Nguyên), Tân Trào, Chiêm Hoá (Tuyên Quang) đã trở thành an toàn khu của cách mạng. Những người nông dân đã che chở, bảo vệ, nuôi dưỡng lực lượng kháng chiến, cũng như hàng chục triệu người nông dân trong cả nước vừa đánh giặc vừa góp gạo nuôi quân, góp phần làm nên chiến thắng.

Tháng 11-1949, trong Thư gửi Hội nghị cán bộ Nông dân cứu quốc toàn quốc, Bác viết:
“Nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân. Muốn kháng chiến kiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thực sự ắt phải dựa vào lực lượng của nông dân. Đồng bào nông dân sẵn có lực lượng to lớn, sẵn có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn có chí khí kiên quyết đấu tranh và hy sinh”.

Trong Di chúc của mình Bác dặn dò:

“Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.     

*

Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ kể lại: Tết Kỷ Dậu 1969 – Cái Tết cuối cùng của Bác, Bác vẫn bảo tổ chức cho Bác đi thăm nông dân. Bác hỏi:

– Chú Kỳ! Các chú đã chuẩn bị cho Bác đi thăm những đâu? Mồng 1 Tết này, chúng ta xuất hành phương nào?

Thấy Bác hỏi, tôi rất lo lắng vì năm ấy Bác đã 79 tuổi, lần khám sức khỏe gần nhất Hội đồng bác sĩ đã nói Bác cần tránh đi lại nhiều và tránh những xúc động mạnh. Bác lại hỏi:

– Chú có nhớ Bác phát động Tết trồng cây năm nay là năm thứ mấy rồi không?

– Thưa Bác, năm thứ 10 ạ!

– Đúng! Nhân dịp kỷ niệm 10 năm Tết trồng cây, các chú bố trí cho Bác đi trồng cây ở một địa phương có nhiều thành tích…

Mặc dù biết sức khỏe của Bác không được tốt, nhưng chúng tôi cũng không ngăn được lòng mong muốn của Bác đến với nông dân. Và Tết năm ấy, sau khi đi thăm bộ đội phòng không, không quân, khoảng 11 giờ trưa Bác mới đến được xã Vật Lại, Ba Vì. Trồng cây đa xong, Bác vui vẻ cùng mọi người quây quần dưới tán bạch đàn. Bác rất vui, trò chuyện với bà con nông dân, với các cụ phụ lão và các cháu thiếu nhi. Bác dặn đồng chí nữ bí thư đảng ủy xã: Phải dân chủ với dân, phải để cho dân phê bình cán bộ, đảng viên.

Thật là cảm động khi nhìn thấy Bác Hồ vui vẻ ngồi giữa những người nông dân như một cụ già trồng cây hiền từ ngồi cùng con cháu. Và chúng ta còn cảm động hơn nữa, khi biết lúc ấy trong Di chúc của mình Bác Hồ đã viết:

“Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho các Hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

Nhà báo Mỹ Đa-vit Han-bớt-stem đã viết:

“Ông Hồ thường mặc bộ quần áo đơn giản… Địa vị càng cao, ông càng giản dị, trong sạch hơn. Ông luôn giữ được những giá trị vĩnh viễn của người Việt Nam”.

Mùa xuân này, khi đời sống của những người nông dân đã đổi mới khác xưa. Nước Việt Nam đã trở thành một nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới. Nhiều con cái của những người nông dân đã trở thành những giáo sư, tiến sĩ, những cán bộ lãnh đạo đất nước. Trong niềm vui ấy, lòng chúng ta càng nhớ đến Bác kính yêu – Người xây dựng nên nước Việt Nam mới, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và của dân tộc, người suốt đời quan tâm, gần gũi với nông dân và nông thôn Việt Nam./.

Vũ Thái
baonamdinh.com.vn

Nhớ lời Bác dặn về Đảng cầm quyền

Đến xuân này, sau một năm triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng là dịp chúng ta suy ngẫm những lời căn dặn của Bác về Đảng cầm quyền để thấm nhuần và vận dụng tốt hơn vào việc thực thi nhiệm vụ chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn mới của sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước.

Đảng phải chăm lo phát triển kinh tế để không ngừng nâng cao đời sống nhân dân

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Trong bản Di chúc lịch sử, điều đầu tiên Bác nói về Đảng và khẳng định: Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Người căn dặn Đảng ta những việc cần phải làm để tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta hoàn thành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thống nhất Tổ quốc, hàn gắn các vết thương chiến tranh, xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế… Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là Đảng Cộng sản cầm quyền, Đảng ta phải hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân.

Yêu dân, trọng dân là tình cảm và tư tưởng của Bác muốn giáo dục và truyền lại cho Đảng ta phải tiếp tục phát huy trong mọi thời kỳ để sự nghiệp cách mạng đi lên vững chắc.

Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong DI CHÚC, thể hiện tình cảm thương dân, tự hào vô hạn về nhân dân ta và trách nhiệm nặng nề của Đảng với nhân dân: Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Đồng chí Nguyễn Khắc Hưng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh. Ảnh: Xuân ThuĐồng chí Nguyễn Khắc Hưng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh. Ảnh: Xuân Thu

Hơn bốn mươi bốn năm qua, thực hiện Di chúc của Bác, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo nhân dân ta làm tốt nhiều điều căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hàn gắn các vết thương chiến tranh, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Từ năm 1986, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tiến hành công cuộc đổi mới, đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi khủng hoảng, thực hiện CNH-HĐH đất nước, mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế thế giới, xã hội ổn định, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên.

Nhờ có đường lối đổi mới và các chính sách kinh tế phù hợp, được sự ủng hộ và thực hiện sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, từ một nước nghèo, chậm phát triển, trong mấy chục năm qua Việt Nam đã vượt lên thoát khỏi nước nghèo, có tốc độ phát triển kinh tế khá cao ở châu Á. Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp đã có những thành tựu to lớn, nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu ở tốp các nước hàng đầu thế giới. Kinh tế phát triển gắn liền với thực hiện các chính sách xã hội, chăm lo cho con người mà Bác Hồ căn dặn. Công tác xoá đói giảm nghèo đạt những thành tựu to lớn được thế giới đánh giá cao. Các đối tượng chính sách được hưởng chế độ đãi ngộ ngày càng nâng cao, bảo đảm ngang bằng và cao hơn mức sống trung bình của người dân. Đời sống của đại đa số nhân dân có mức tăng trưởng, ngày càng cải thiện. Trong công cuộc đổi mới, nhiều phong trào thi đua phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hoá đã lan toả và phát triển mạnh mẽ tạo ra những thay đổi nhanh chóng trên mọi vùng, miền của đất nước.

Những năm gần đây, trước những khó khăn mới do tình hình suy giảm kinh tế toàn cầu và những yếu kém trong quản lý nền kinh tế đất nước, trong quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, dù có nhiều cố gắng của Đảng, Nhà nước và nhân dân song chúng ta nhận thấy việc thực hiện tâm nguyện và lời dặn của Bác về phát triển kinh tế và văn hoá để không ngừng nâng cao đời sống nhân dân vẫn còn phải tiếp tục lâu dài. Đặc biệt cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu phải được đẩy mạnh hơn. Những khuyết điểm, sai phạm trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước cần phải được sửa chữa, xử lý theo tinh thần của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Ra sức giữ gìn truyền thống đoàn kết của Đảng

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đoàn kết trở thành chiến lược lớn nhất được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân ta “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Để tập hợp, xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng, vấn đề hết sức quan trọng là phải nhận thức và giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân – tập thể. Trong giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý tới lợi ích cá nhân và coi đó là động lực trực tiếp để kích thích tính tích cực, sáng tạo của mỗi cá nhân. Hồ Chí Minh chỉ ra: trong cuộc sống, mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình. Nếu lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là cái xấu… Đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh yêu cầu: Mỗi người trong Đảng phải hiểu rằng, lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài. Người nhấn mạnh: Nếu gặp lợi ích nói chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng. Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người căn dặn: Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình; mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Hiện nay, trong bối cảnh quốc tế, mở cửa, hội nhập, toàn cầu hoá, đoàn kết toàn dân và xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất là xuất phát từ nhu cầu khách quan, việc xử lý những mâu thuẫn xã hội, các nhóm người có quyền lợi khác nhau cần theo hướng phát triển cộng đồng, có lợi cho quần chúng nhân dân lao động, tránh đẩy tới mâu thuẫn đối kháng, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chia rẽ. Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng Cộng sản là hạt nhân lãnh đạo và là linh hồn. Đoàn kết nội bộ Đảng là chỗ dựa, là cơ sở để đoàn kết dân tộc và khối đại đoàn kết dân tộc chỉ có thể xây dựng được khi đường lối cách mạng có mục tiêu, phương pháp phù hợp với nguyện vọng, quyền lợi của đại đa số nhân dân. Trong tiến trình hội nhập quốc tế rất đa dạng và phức tạp, chứa đựng những vấn đề thống nhất và đối lập, cơ hội và thách thức đan xen, cần thực hiện một nguyên tắc trong quan hệ quốc tế được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ngắn gọn “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” để giữ vững độc lập tự chủ, bình đẳng và cùng có lợi, vì hoà bình, hữu nghị và phát triển, tranh thủ những thời cơ và vận hội trong quá trình xây dựng đất nước, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.

Tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh có ý nghĩa lâu dài, mãi mãi, là sức mạnh của chúng ta. Sự đoàn kết nhất trí của Đảng cầm quyền vì thế là nhân tố đặc biệt để lãnh đạo nhân dân, lãnh đạo xã hội để xây dựng đất nước vì trong xu thế toàn cầu hoá về kinh tế, khi nhân loại tiến đến nền kinh tế tri thức, cuộc cách mạng thông tin, điện tử và sinh học… bùng nổ, Việt Nam tiến hành hội nhập kinh tế, quan hệ hợp tác quốc tế sâu rộng hơn, bên cạnh những thuận lợi cũng có nhiều thách thức, khó khăn mới. Đó cũng là bài học lớn của tiến trình đổi mới phải bảo đảm và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, ra sức phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, sức sáng tạo của nhân dân làm nên lịch sử. Đổi mới trước hết phải phát huy yếu tố năng động nhất của lực lượng sản xuất là nhân tố con người, mà căn bản nhất là giải phóng năng lực trí tuệ con người, giải phóng mọi tiềm năng xã hội để phát triển con người và phục vụ con người, đem lại cuộc sống xứng đáng với lao động và cống hiến của mỗi người.

Gần 3 thập kỷ qua, công cuộc đổi mới ở nước ta được tiến hành từng bước vững chắc và toàn diện là nhờ có đường lối ĐỔI MỚI đúng đắn và sự đoàn kết chặt chẽ của Đảng. Đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, chăm lo xây dựng đời sống văn hoá mới là ba trụ cột của xã hội. Cùng với cải cách, đổi mới kinh tế là đổi mới hệ thống chính trị, phát huy dân chủ trong Đảng và dân chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền vì dân, làm lành mạnh hoá xã hội, chống tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm và các tệ nạn xã hội khác. Nhờ đó mà thế và lực của nước ta ngày càng lớn mạnh và có vị thế mới trên trường quốc tế.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng, những điều Người căn dặn về Đảng cầm quyền là di sản tinh thần thiêng liêng, tài sản quý giá của Đảng và nhân dân ta. Đó là cội nguồn sức mạnh cho Đảng, để Đảng ta luôn luôn xứng đáng là Đảng của dân tộc Việt Nam, Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện và xây dựng./.

TS Phạm Văn Khánh
baonamdinh.com.vn

Nhớ lời Bác Hồ dặn khi Tết đến

Bác Hồ của chúng ta lúc sinh thời có viết tác phẩm “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào ?”. Trong tác phẩm, Người căn dặn: “Suốt năm chúng ta thi đua lao động, sản xuất, những ngày Tết Nguyên đán chúng ta vui chơi một hôm để chào xuân, việc đó cũng đúng thôi… Chúng ta mừng xuân một cách vui vẻ và lành mạnh. Nếu có bao nhiêu tiền bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là mừng xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không xuân”.

Vào những dịp Tết hàng năm, Bác dành thời gian đi chúc Tết không những các cơ quan, xí nghiệp mà còn đến thăm một số gia đình khó khăn, lam lũ làm ăn.

Chúng ta còn nhớ, qua những mẩu chuyện Bác đi chúc Tết đã được ghi lại. Cảm động nhất là Bác đến thăm chị Nguyễn Thị Tín, một người gánh nước thuê ở ngõ 16 Lý Thái Tổ trong đêm 30 giá rét và mưa phùn của Tết Nhâm Dần năm 1962. Với đôi thùng trên vai, chị vừa ra đến ngõ thì gặp Bác. Quá bất ngờ trước sự xuất hiện của Bác, đôi thùng trên vai chị rơi xuống đất. Tay chị run run nắm lấy tay Bác và nói trong sự xúc động chen lẫn tiếng nấc nghẹn ngào: “Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm”. Bác vỗ vai an ủi chị: “Bác không đến thăm những gia đình như thím thì thăm ai…”.

Dịp Tết năm 1965, Bác đi thăm các cơ quan, đoàn thể ở Hà Nội, sau đó lên thăm công trường ở Việt Trì, nơi có chuyên gia và cán bộ, công nhân các nước bạn đang giúp ta, Bác nhắc nhở lãnh đạo đơn vị đại ý là phải chú ý chăm lo sinh hoạt của anh chị em trong ngày Tết. Đối với các đồng chí xa nhà trong dịp Tết Nguyên đán này, càng chú ý chăm sóc, các anh em công nhân người Âu, Phi lâu nay đã quen với phong vị Tết Việt Nam, nên làm sao cái Tết được vui vẻ hơn so với những năm trong kháng chiến… Tình cảm của Bác không chỉ dành riêng cho nhân dân mình mà còn cho bè bạn năm châu, thật là xúc động biết bao!

Không chỉ vậy, Bác còn căn dặn chúng ta phải hết sức tiết kiệm và chống lãng phí. Trong lúc đất nước đang khó khăn, việc cần, kiệm để xây dựng Tổ quốc là một nhiệm vụ, không ai được phép quên. Bác chê trách khi phát hiện có những nơi làm không đúng, gây lãng phí tiền của, công sức của nhân dân và Người từng nói:

“Mừng xuân mừng cả thế gian
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân”.

Nhân dịp Tết Kỷ Dậu – 1969, đúng ngày mồng Một, Bác Hồ đến trồng cây ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây nay thuộc TP. Hà Nội. (Ảnh TL, TNN st)

Tết Nguyên đán Quý Tỵ – 2013 lại đến, cả nước ta tưng bừng đón chào năm mới. Mỗi chúng ta cùng khắc ghi lời Bác Hồ căn dặn. Đón Tết, vui Xuân mới với tấm lòng biết ơn Người, chúng ta nguyện quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và nhất là tinh thần Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, để xây dựng Đảng ta luôn trong sạch vững mạnh, xứng đáng là người đầy tớ, là người lãnh đạo trung thành của nhân dân.

LÊ THANH SƠN
binhthanh.hochiminhcity.gov.vn

Bác Hồ và hạnh phúc của dân

Tại sao dân ta ai cũng gọi Hồ Chủ tịch là Bác Hồ, kể cả ngay từ sau Cách Mạng Tháng Tám, nghĩa là khi bác mới có 55 tuổi.

Một nhà văn cho biết: Lần đầu tiên Hồ Chí Minh xưng bác và gọi cháu là trong “Trả lời thư chúc mừng của Hội Nhi đồng Công giáo khu Thượng Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Đông” ngày 10/5/1947. Bác viết: “Bác cảm ơn các cháu. Bác khuyên các cháu: Biết giữ kỉ luật, siêng học siêng làm, yêu Chúa yêu nước. Bác hôn các cháu”. Và ký với Hồ Chí Minh, chứ không với Bác Hồ. Ba tháng sau, trong “Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân kỉ niệm Cách mạng Tháng Tám, năm 1947″, danh xưng Bác Hồ xuất hiện và từ đó được sử dụng. Song phải nhấn mạnh: Hồ Chí Minh chỉ xưng bác trong hai trường hợp quan hệ. Thứ nhất, trường hợp bác – cháu, với nhi đồng. Điều này không có gì là chướng.

Ở tuổi 55 khi lên làm Chủ tịch nước, đối với người Việt thuở đó Hồ Chí Minh đã là một người già. Phóng viên báo chí thường gọi là Cụ Chủ tịch, cũng như Chủ tịch gọi những người trạc tuổi mình là cụ. Trong bối cảnh ấy, xưng hô bác – cháu của Hồ Chí Minh với nhi đồng là tự nhiên… Cuối thư gửi nhi đồng, Hồ Chí Minh thường hôn các cháu. Trong một bức thư, còn hôn các cháu rõ kêu, một cử chỉ rất Tây được diễn đạt rất Việt. Trường hợp xưng bác thứ hai của Hồ Chí Minh là trong quan hệ với những người kém tuổi mình. Bác ở đây không phải là bác – cháu, mà là bác – cô/chú”.

Như vậy việc toàn dân gọi Bác Hồ không phải là chủ ý của Bác mà chính là từ lòng thật sự kính yêu Bác của tuyệt đại đa số nhân dân, từ các bậc trí thức cao niên cho đến các cháu bé ở vùng núi cao. Bác tôn trọng mọi người trên tinh thần Đại đoàn kết toàn dân tộc, nhưng diều đặc biệt là Bác thực sự quan tâm đến những người nghèo khổ nhất trong xã hội.

Đồng chí Vũ Kỳ kể rằng: Trong cuộc “vi hành” đêm Ba mươi Tết của mùa Xuân độc lập đầu tiên, Bác Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình một người đạp xích lô “Tết mà không có Tết” ngoài một nén hương đang cháy dở trên bàn, còn chủ nhà thì đang đắp chiếu nằm mê mệt vì ốm. Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, lặng lẽ bước ra khỏi nhà, bảo đồng chí thư ký ghi lại địa chỉ để hôm sau báo cáo cho đồng chí Chủ tịch Hà Nội biết… Kể từ mùa Xuân đầu tiên đó, suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, mỗi lần Tết đến, Xuân về, Bác lại nghĩ đến dân, lo sao cho dân có một mùa xuân ấm no, hạnh phúc.

Thường thì trước Tết ba tháng, Bác đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc. Tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới, nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp “Chúc Mừng Năm Mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo xa xôi và cán bộ công tác ở nước ngoài. Và cuối cùng là một chương trình đi thăm dân không thể thiếu đối với Bác, một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

Tối Ba mươi Tết năm 1960, Bác đến thăm gia đình mẹ con chị Tín, một lao động nghèo ở phố Hàng Chĩnh, Hà Nội… Nếu Bác chỉ đến thăm các gia đình theo chương trình của các cơ quan đã bố trí thì làm sao Chủ tịch nước biết được gần đến giao thừa rồi mà chị Tín vẫn còn phải đi gánh nước thuê đổi gạo để sáng mai mùng một Tết có cơm ăn cho bốn đứa con của mình. Gặp Bác, chị Tín xúc động để rơi cả đôi thùng gánh nước xuống đất, run run cầm lấy bàn tay của Bác: – Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm… Chỉ nói được vậy, chị đã òa lên khóc nức nở. Vị Chủ tịch nước đã an ủi chị: – Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai… Và Bác đã vào nhà thăm hỏi khá lâu năm mẹ con chị Tín. Gọi là nhà nhưng đâu có phải là nhà mà là một cái chái như một túp lều. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến Phà Đen đã mất cách đó bốn năm, còn chị thì cho đến lúc này vẫn chưa có việc làm ổn định. Cảnh nghèo của gia đình đã phũ phàng hiện ra trước mắt Bác. Trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một gói kẹo. Đúng là “Ba mươi Tết mà không có Tết”.

Cách đó 15 năm, Tết độc lập đầu tiên, Bác đã đau lòng chứng kiến cảnh một gia đình “Tết mà không có Tết” ở ngõ hẻm Sinh Từ. Đó là khi đất nước mới thoát khỏi vòng nô lệ. Còn bây giờ, kháng chiến đã thắng lợi, hòa bình đã sáu năm, mà lại còn cái cảnh này sao? Không phải ở đâu xa mà ở ngay Thủ đô Hà Nội… Vậy còn bao nhiêu gia đình như thế này ở khắp mọi miền đất nước? Cứ ngồi nghe báo cáo thì đâu cũng là no ấm, tươi vui…

Đêm ấy, trên đường về, ngồi trên xe, Bác Hồ trầm ngâm suy nghĩ. Vẻ đăm chiêu thoáng hiện trên gương mặt của Người. Bác đã từng tâm sự với các đồng chí phục vụ: “Một ngày dân chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, các cháu chưa được học hành, mọi người còn khổ thì Bác ăn không ngon, ngủ không yên”. Về đến nhà, các đồng chí Bộ Chính trị đang chờ Bác để chúc mừng năm mới. Mọi người băn khoăn khi thấy Bác không vui. Bác kể lại hoàn cảnh gia đình chị Tín cho mọi người nghe. Cuối câu chuyện Bác nói: “Ta có chính quyền trong tay, nhưng chính quyền đó chưa thực sự là do dân, vì dân. Một số lãnh đạo các địa phương còn quan liêu và nặng về hình thức. Họ không chịu đi sâu, đi sát quần chúng, nên phục vụ quần chúng chưa tốt. Nếu chúng ta chỉ nghe báo cáo của họ thì sẽ không bao giờ nắm được chính xác tình hình để có chủ trương, nghị quyết đúng đắn. Đảng quan liêu, chính quyền quan liêu, thực sự là một nguy cơ đối với đất nước chúng ta” (Thư ký Bác Hồ kể chuyện, NXB Chính trị quốc gia, 2008).

Chưa có ai bảo Bác kê khai tài sản nhưng Bác là vị lãnh tụ hiếm hoi công khai tài sản. Tất cả tài sản ấy nhân dân ta và cả các khách quốc tế đều biết rõ khi viếng thăm ngôi nhà sàn của Bác.

Trong bốn đức được Bác Hồ nhiều lần nhấn mạnh Cần Kiệm Liêm Chính, Bác đã giải thích chữ Liêm như sau: “Liêm là trong sạch, không tham lam… Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM. Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư… Cụ Khổng Tử nói: “Người mà không Liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử nói: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”… Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân… Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Mỗi người phải nhận rằng tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân”. (Hồ Chí Minh toàn tập, T.5, tr.640-641).

Bác để lại những câu nói nổi tiếng về tự do cho nhân dân: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.8, tr.216); “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.4, tr.56).

Chúng ta đang bàn chuyện sửa đổi Hiến pháp. Phải chăng không nên thiếu các quyền tự do được ghi trong điều 10 Hiến pháp 1946 mà Bác Hồ là người đã đích thân chỉ đạo.

NGUYỄN LÂN DŨNG
nongnghiep.vn

Nhờ thế trận lòng dân

QĐND – Sau khi tiêu diệt cứ điểm Tà Mây, Đại đội tăng 3 (Tiểu đoàn 198) được lệnh quay về tập kết ở vị trí cũ, tại khu vực Cha-ki Phìn. Cả 11 xe tăng của đại đội về vị trí tập kết an toàn, chuẩn bị bước vào trận đánh cứ điểm Làng Vây, một trong những cứ điểm mạnh trong hệ thống phòng thủ Đường 9 của Mỹ và ngụy quân Sài Gòn, đồng thời là cửa ngõ bảo vệ Tà Cơn, án ngữ một vùng biên giới Việt-Lào.

Cùng thời gian này, Đại đội tăng 9 (Tiểu đoàn 198) đã vào tới vị trí tập kết tại Pê-sai bằng đường sông Sê-pôn, nhưng trận đánh bị hoãn lại so với kế hoạch. Toàn đội hình xe tăng nằm cách căn cứ Làng Vây của địch khoảng 3km, nên việc giữ gìn bí mật được đặt ra hết sức nghiêm ngặt. Quá trình chuẩn bị chiến đấu và hành quân vào chiếm lĩnh trận địa, các đơn vị xe tăng và bộ đội ta được đồng bào các dân tộc huyện Hướng Hóa giúp đỡ, che chở. Bà con góp lương thực, thực phẩm giúp bộ đội và còn tham gia ngụy trang, xóa dấu vết xích xe tăng trên đoạn đường hàng chục cây số; tham gia gùi đạn, vật tư kỹ thuật để bảo đảm sửa chữa xe tăng…

Trong số bà con các dân tộc Hướng Hóa, có một cán bộ tên là Khăm-tày Xi-vy-lây thường xuyên đi theo để giúp đỡ bộ đội. Anh thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình địch, thông thuộc địa hình, nên đã chỉ dẫn cho bộ đội xe tăng những nơi cần phải tránh địch và giúp bộ đội nắm được phong tục, tập quán của đồng bào, vận động người dân tham gia giúp đỡ, giữ bí mật cho bộ đội. Nhờ lòng dân đùm bọc, chở che đã góp phần giúp bộ đội ta, đặc biệt là lực lượng xe tăng giữ bí mật, an toàn, hoàn thành tốt nhiệm vụ, lập nên chiến thắng trận Làng Vây ngày 7-2-1968.

ĐỨC GIANG
qdnd.vn

Tìm đánh máy bay trong sào huyệt của địch

QĐND – Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta, nhằm giành lại ưu thế, địch truy xét gắt gao các cơ sở của ta và đàn áp nhân dân. Để mở rộng vùng giải phóng trên đất bạn Lào, giúp đỡ xây dựng lực lượng vũ trang cho bạn và tập kết, bảo vệ an toàn cho lực lượng của ta, Quân khu Nam Lào quyết định mở mặt trận A – Nam Lào.

Nhằm tăng cường bảo vệ phòng không cho mặt trận, Đoàn 559 điều động Đại đội phòng không 18 cho Quân khu Nam Lào. Đại đội 18 trang bị chủ yếu súng máy phòng không 12,7mm. Nhiệm vụ của đại đội là phải bắn rơi máy bay địch tại sân bay A-ta-pơ nhằm xây dựng niềm tin cho nhân dân các bộ tộc Lào và tạo điều kiện thuận lợi khi làm công tác dân vận.

Sau khi tiến hành trinh sát thực địa tại sân bay, đại đội nhận thấy đây là một sân bay do quân ngụy Lào nắm giữ, nhưng chủ yếu là máy bay của Mỹ với các loại như L19, OV10, AD6, DC4, C47 có nhiệm vụ là vận chuyển hàng hóa, vũ khí, lương thực thực phẩm cho ngụy Lào, cũng như chiến trường Đông Dương của Mỹ. Sân bay được bảo vệ bằng trận địa hỏa lực pháo cối, ĐKZ… Đại đội xác định, vị trí để bắn máy bay là đầu đường băng, nơi địch ít chú ý hơn. Tuy nhiên lực lượng tiếp cận để đánh không thể đông người vì dễ bị lộ. Do vậy đơn vị quyết định sử dụng lực lượng nhỏ đánh nhanh rồi rút, mục tiêu là máy bay vận tải. Điểm ngắm được xác định là bắn theo vật chuẩn chứ không theo cách thông thường của súng 12,7mm.

Cuối tháng 2-1968, Tổ phòng không tầm thấp của đại đội với 2 khẩu đội 12,7mm vào chiếm lĩnh trận địa. Súng được ngụy trang bằng vải dù, cành cây; người ban ngày chỉ có cách nằm im, ban đêm lực lượng tiếp tế của ta mới đưa lương thực vào. Sau hai ngày nằm tại vị trí mà chưa có cơ hội nổ súng vì máy bay chủ yếu là các loại máy bay trinh sát chưa đúng ý định của cấp trên, cơ hội thành công là không cao. Đến ngày thứ ba, khoảng 8 giờ, một chiếc máy bay DC4 hạ cánh xuống và lúc 10 giờ chuẩn bị cất cánh. Toàn tổ được lệnh nổ súng. Khi chiếc máy bay cất cánh bay lên ở độ cao khoảng 50m với vật chuẩn là ngọn cây, cả 2 khẩu đội cùng khai hỏa. Chiếc máy bay DC4 bị trúng đạn chao đảo, phụt khói đen và rơi xuống. Cả 2 khẩu đội khẩn trương rút khỏi trận địa ẩn nấp tại hầm ếch ở khe một con suối cạn.

Bị tiến công bất ngờ, một lúc sau, địch mới dùng hỏa lực bắn dồn dập về vị trí có tiếng súng nhằm tiêu diệt lực lượng của ta. Song chúng đã bắn vào trận địa trống, toàn tổ phòng không đã rút về đơn vị an toàn. Trận đánh táo bạo, vào tận nơi để tiêu diệt máy bay địch đã tạo niềm tin cho nhân dân.

LÊ HỒNG PHI

Ông cha ta đánh giặc

* Liên lạc viên “đặc biệt”

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ở mặt trận Thừa Thiên-Huế, cơ quan thông tin Bộ chỉ huy chiến dịch đã tổ chức một phân đội thông tin liên lạc cơ động làm nhiệm vụ triển khai hệ thống thông tin ở Sở chỉ huy tiền phương. Ngoài tổ chức sử dụng hệ thống vô tuyến điện sóng ngắn, hữu tuyến điện và thông tin truyền đạt, để giữ liên lạc với Trung đoàn 6 và các lực lượng của ta tiến công vào thành phố Huế, cơ quan thông tin còn đặt một máy thông tin vô tuyến điện sóng ngắn loại PRC-25 làm nhiệm vụ canh và tiếp chuyển thông tin liên lạc từ Sở chỉ huy chiến dịch đến các đơn vị.

Tuy nhiên, sau khi tiến hành tổng tiến công và nổi dậy ở Thừa Thiên và thành phố Huế, tình hình chiến sự phát triển rất nhanh. Lực lượng thông tin liên lạc phải chia thành nhiều tổ, đội bảo đảm, song chưa đáp ứng yêu cầu khẩn trương của chiến dịch. Bộ chỉ huy chiến dịch trên mặt trận Thừa Thiên-Huế lúc này phải sử dụng lực lượng liên lạc viên là những cơ sở cách mạng, cán bộ Đảng, kể cả Bí thư Huyện ủy dẫn đường cho bộ đội vào tác chiến ở thành phố Huế, các huyện và xã, phường, thị trấn. Nhờ lực lượng liên lạc viên “đặc biệt”, sự giúp đỡ tích cực của cán bộ địa phương, hệ thống giao liên của Đảng, nên Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ huy được thông suốt, các đơn vị chiến đấu giành thắng lợi, làm chủ thành phố Huế gần một tháng.

QUANG PHÁT

“Tương kế, tựu kế” phá thủ đoạn phục lót

Sau cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968, lợi dụng khó khăn tạm thời của ta, quân đội chính quyền Sài Gòn và chư hầu sử dụng thủ đoạn phục kích, lót sẵn (bộ đội ta gọi là phục lót) rất lì lợm và nham hiểm nhằm đánh phá, ngăn chặn tiếp xúc giữa cán bộ với quần chúng; chặt đứt hành lang giao thông, đảm bảo hậu cần từ đồng bằng lên các căn cứ, thực hiện bao vây, cô lập “tát nước, bắt cá”… gây cho ta một số tổn thất nhất định.

Quyết tâm phá tan âm mưu, thủ đoạn của địch, Huyện ủy Tuy Hòa (Phú Yên) tập trung lãnh đạo đấu tranh bằng nhiều biện pháp, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân. Tổ chức Đảng các cấp, các đảng viên trung kiên kiên trì bám trụ, bám quần chúng và lãnh đạo các đoàn thể; bộ đội địa phương, du kích tập trung nghiên cứu thủ đoạn và quy luật “phục lót” của địch để đề ra biện pháp khắc chế; trinh sát vũ trang, du kích trừng trị những tên ác ôn có nhiều nợ máu để răn đe… Qua trinh sát, phân tích, ta phát hiện quy luật: Khi phát hiện lực lượng ta, địch sử dụng toán phục kích nhỏ, mỗi tên bí mật cõng một tên; bố trí trận địa phục kích nhiều vòng có chiều sâu nhằm nghi binh và đánh lạc hướng ta…

Đêm 12-8-1969, ta phát hiện 20 tên địch cõng nhau, phủ tăng che kín tổ chức hành quân đi phục lót. “Tương kế, tựu kế”, Huyện đội Tuy Hòa cơ động Đại đội 377 bộ đội địa phương bí mật, bố trí trận địa sẵn tại các địa điểm mà địch thường phục lót. Đúng như dự kiến của ta, tốp địch vừa lọt vào trận địa Bến Sách (Hòa Tân), đại đội bộ đội địa phương Tuy Hòa nổ súng, tiêu diệt tại chỗ 12 tên, 8 tên còn lại lợi dụng đêm tối tháo chạy. Sau trận này, địch hoang mang, không dám sử dụng thủ đoạn phục lót. Trận đánh phản phục lót thể hiện quyết tâm chiến đấu cao, nghiên cứu, nắm chắc tình hình địch; mưu trí, sáng tạo trong sử dụng lực lượng, bố trí trận địa và cách đánh, phá tan thủ đoạn của địch, thúc đẩy tiến trình cách mạng phát triển trong toàn huyện.

TRẦN VĂN
qdnd.vn

Biểu tượng của khí phách kiên cường và sức mạnh sáng tạo

Xã luận

QĐND – Hòa chung khí thế thi đua sôi nổi, hào hứng lập thành tích kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đón chào năm mới Quý Tỵ 2013, hôm nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn khởi, tự hào kỷ niệm 45 năm mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Nhìn lại cuộc Tổng tiến công và nổi dậy 45 năm trước chúng ta càng thấy rõ ý nghĩa và tầm vóc to lớn của nó trong lịch sử dân tộc.

Sau những thắng lợi lớn trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và mùa khô 1966-1967, quân và dân ta đã đánh bại một bước quan trọng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ trên cả hai miền Nam – Bắc. Mỹ và tay sai đã thất bại trong mục tiêu “tìm diệt” và “bình định”, quân và dân ta đã có những chuyển biến vượt bậc, mở ra nhiều khả năng tiến công trên nhiều mặt trận. Đặc biệt ta đang ở thế chủ động cho phép có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới, giành những thắng lợi quyết định.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nổ ra và giành thắng lợi là sự kiện có ý nghĩa và tầm vóc to lớn, là một trong những mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Thời gian càng lùi xa, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ngày càng được khẳng định, trở thành biểu tượng của ý chí quyết chiến quyết thắng, khí phách kiên cường và sức mạnh sáng tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Có nhiều yếu tố tạo nên chiến thắng, nhưng không thể không nói tới một mẫu mực tuyệt vời về nghệ thuật chỉ đạo tác chiến chiến lược, chiến dịch của Đảng ta. Không chỉ tạo ra sự bất ngờ về thời gian tiến hành cuộc tổng tiến công, ta còn tạo ra sự bất ngờ lớn đối với quân địch khi đưa cuộc kháng chiến vào đô thị – sào huyệt cuối cùng, làm cho chúng trở tay không kịp. Quân và dân ta cũng thành công trong nghệ thuật nghi binh, lừa địch. Bằng việc mở chiến dịch Khe Sanh vào ngày 20-1-1968, chúng ta đã thành công trong chiến thuật “điệu hổ ly sơn” khi thu hút hơn 90% lực lượng tinh nhuệ nhất của Mỹ lên vùng rừng núi, rồi sau đó tập trung binh hỏa lực đánh vào những nơi chúng không ngờ tới… Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là chiến thắng tiêu biểu của nghệ thuật vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm, đường lối quân sự của Đảng. Với đòn tiến công chiến lược ấy, chúng ta đã giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của Mỹ, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng. Tác động sâu rộng, mãnh liệt của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã buộc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn phải đơn phương tuyên bố chấm dứt vai trò trực tiếp của quân Mỹ trên chiến trường miền Nam, ngừng mọi hoạt động trên không, trên biển chống phá nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, chấm dứt ném bom miền Bắc từ Vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam. Có thể nói thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã tạo ra một bước ngoặt chiến lược, có ý nghĩa quyết định tới toàn bộ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý báu. Đặc biệt là bài học vận dụng linh hoạt, sáng tạo đường lối quân sự của Đảng trong chỉ đạo tác chiến chiến lược, chiến dịch. Trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay, công tác chỉ đạo chiến lược, chiến dịch phải quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối của Đảng, nhất là đường lối quân sự trong giai đoạn mới, đó là xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân… Để vận dụng linh hoạt, sáng tạo, có hiệu quả các quan điểm đó trong từng nhiệm vụ chúng ta phải chủ động nắm chắc tình hình, bám sát thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn để đề ra các chủ trương, giải pháp phù hợp. Trong khi chú trọng phát triển kinh tế, xã hội chúng ta không được chủ quan, lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phải luôn luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng đánh thắng mọi loại hình chiến tranh xâm lược của kẻ thù. Cùng với đó phải đánh giá đúng đối tượng chiến lược của cách mạng Việt Nam và đối tượng tác chiến chiến lược của các lực lượng vũ trang nhân dân ta, để từ đó, tích cực chuẩn bị các tiềm lực: Chính trị, tinh thần; kinh tế; quân sự, quốc phòng và an ninh; chuẩn bị hậu phương và căn cứ của cả nước; hậu phương, căn cứ trên từng chiến trường, từng khu vực phòng thủ trên từng hướng chiến lược; củng cố và chấn chỉnh lực lượng vũ trang… Với vai trò nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân, đòi hỏi Quân đội nhân dân Việt Nam phải được xây dựng vững mạnh cả về chất lượng chính trị và trình độ và khả năng SSCĐ, đặc biệt là khả năng làm chủ các loại vũ khí trang bị kỹ thuật mới, hiện đại. Mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải nhận thức rõ trọng trách của mình để không ngừng rèn luyện, phấn đấu nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật. Đi đôi với xây dựng bộ đội thường trực, chúng ta cần quan tâm đúng mức đến xây dựng, huấn luyện lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ… Các lực lượng vũ trang phải luôn đoàn kết xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Phía trước dẫu còn nhiều chông gai, thử thách nhưng chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 mãi mãi xứng đáng với tầm vóc lịch sử của dân tộc.

QĐND
qdnd.vn

Phối hợp chặt chẽ giữa tiến công với nổi dậy giành chính quyền của nhân dân

Cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968 ở Tây Nguyên

QĐND – Cuối tháng 12-1967, Tây Nguyên được phổ biến quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân 1968. Quán triệt chủ trương chiến lược của Trung ương, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đã thống nhất quyết tâm: Động viên toàn thể lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc nỗ lực vượt bậc, tiến công liên tục, toàn diện và triệt để vào quân địch, thực hiện bằng được quyết tâm chiến lược của Đảng, đồng thời phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường và sẵn sàng ứng phó một cách chủ động, mạnh mẽ nếu chiến tranh kéo dài.

Để thống nhất chỉ đạo và chỉ huy, phối hợp giữa hai lực lượng và ba thứ quân trên chiến trường, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận mở hội nghị liên tịch với lãnh đạo các địa phương, bàn bạc biện pháp phối hợp, hiệp đồng giữa các lực lượng. Mục tiêu chính được xác định là 3 thị xã: Buôn Ma Thuột, Plei-cu và Kon Tum. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận cũng thành lập Bộ chỉ huy tiền phương ở Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, có sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo địa phương.

Sau hội nghị, Bộ tư lệnh Mặt trận triển khai, điều động lực lượng trên các hướng, thành lập thêm một số đơn vị cần thiết để đảm bảo yêu cầu chiến đấu, bổ sung cho mỗi thị xã đủ một tiểu đoàn đặc công, một đại đội hỏa lực hỗn hợp, tăng cường cho Buôn Ma Thuột hai tiểu đoàn bộ binh, Plei-cu một tiểu đoàn, đưa sang Tân Cảnh một tiểu đoàn, củng cố và mở rộng các tuyến hành lang Đông Tây, đồng thời mở thêm Binh trạm 4 ở Đắc Lắc. Ngoài lực lượng bộ đội địa phương và các phân đội mũi nhọn của Mặt trận tăng cường, lúc này Kon Tum có Trung đoàn 24, Gia Lai có Trung đoàn 95, Đắc Lắc có Trung đoàn 33. Sư đoàn 1 (gồm các Trung đoàn 66, 174, 320) lực lượng cơ động của Mặt trận được tập trung trên hướng đường 18-Plei-cần để đón lõng quân Mỹ ra phản kích và sẵn sàng chuyển sang đánh Đắc Tô – Tân Cảnh.

Các địa phương cũng khẩn trương tiến hành các mặt chuẩn bị để phối hợp với đòn tiến công của bộ đội chủ lực. Cả ba tỉnh đều nhanh chóng tổ chức các đội công tác và phát động nhân dân chuẩn bị vùng lên giành chính quyền. Chiều 29-1-1968, hàng trăm cán bộ đảng và đội viên biệt động của ba tỉnh đã ém sẵn trong các thị xã, bí mật tổ chức quần chúng sẵn sàng nổi dậy đấu tranh chính trị, phối hợp cùng bộ đội chiến đấu. Tỉnh ủy Gia Lai còn huy động hàng nghìn quần chúng vào thị xã Plei-cu sắm hàng Tết rồi ở lại trong thị xã sẵn sàng chờ lệnh hành động.

Bộ đội ta hành quân vào chiếm lĩnh trận địa, chuẩn bị cho Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu

Giữa lúc cả Tây Nguyên đang bừng bừng khí thế cách mạng, chờ lệnh tiến công thì Bộ tư lệnh Mặt trận nhận được lệnh của trên hoãn thời gian nổ súng lại một ngày để phối hợp với toàn Miền. Tin đó được phổ biến xuống. Cả ba tỉnh đều nhất loạt báo về: Bộ đội đã sẵn sàng, quần chúng đã sẵn sàng, không còn cách nào hoãn được, đề nghị cho nổ súng như đã chuẩn bị. Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận kịp thời báo cáo xin cấp trên cho Tây Nguyên được nổ súng theo kế hoạch vào đêm 29 rạng sáng 30-1-1968. Ý kiến đề nghị đó được cấp trên đồng ý.

Đúng 0 giờ 30 phút ngày 30-1-1968 (tức đêm 29 rạng ngày 30 Tết Nguyên đán Mậu Thân), Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên phát lệnh nổ súng. Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 174, Sư đoàn 1 phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương nhanh chóng đánh chiếm và làm chủ hoàn toàn thị trấn Tân Cảnh. Tiếng súng ở Tân Cảnh được ghi vào lịch sử như tiếng súng khởi đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân Mậu Thân trên toàn chiến trường miền Nam.

Trên hướng Đắc Lắc, ta đã đánh chiếm được một số mục tiêu quan trọng trong thị xã Buôn Ma Thuột như Đài phát thanh, trụ sở Sư đoàn 23 Quân đội Sài Gòn, Tòa hành chính, Ty cảnh sát và bắn pháo dồn dập vào Trung đoàn 45, sân bay của địch. Sau đó, phát triển đánh chiếm khu cư xá Mỹ, khu cơ giới và pháo binh. Cùng với Quân Giải phóng, bà con trong các khu phố, “ấp chiến lược” cũng nổi mõ, gõ trống nổi dậy chặt rào, phá bốt, diệt ác ôn; học sinh, sinh viên chia nhau ra dẫn đường cho bộ đội chiến đấu. Hàng vạn đồng bào Kinh, Thượng từ các ngả kéo vào thị xã vây chặt căn cứ Trung đoàn 45 của địch, kêu gọi binh lính quay súng trở về với nhân dân. Ở hướng Gia Lai, các đơn vị đồng loạt tiến công các mục tiêu chủ yếu của địch khu vực thị xã Plei-cu. Bộ đội Đặc công cùng với các đơn vị bộ đội địa phương dũng cảm đánh địch. Mặc dù bị địch phản công ác liệt, quân ta vẫn bám trụ chiến đấu. Phối hợp với đòn tiến công của bộ đội, hơn 11.000 đồng bào ở thị xã và các huyện xung quanh xuống đường đấu tranh chính trị, dẫn đường, tiếp tế cơm nước cho bộ đội, cứu chữa, vận chuyển thương binh. Ở Kon Tum, các lực lượng của ta đánh vào các vị trí đã xác định, giải phóng một loạt 7 “ấp chiến lược” với hàng nghìn đồng bào được trở về làng cũ sinh sống…

Bằng sự chủ động, phối hợp chặt chẽ giữa tiến công với nổi dậy giành chính quyền của nhân dân, quân và dân Tây Nguyên đã đồng loạt đánh vào hầu hết cơ quan đầu não và căn cứ quan trọng của địch ở khắp ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, làm chủ nhiều vị trí quan trọng trong nhiều ngày, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận lớn lực lượng, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Chiến thắng đó đã đánh dấu bước chuyển biến nhảy vọt của chiến tranh nhân dân trên chiến trường Tây Nguyên, để lại nhiều bài học quý báu về phát huy sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Đại tá NGUYỄN HÙNG TẤN
qdnd.vn

Không có chuyện “thắng về chiến thuật, thua về chiến lược”

Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968:

QĐND Online – Sau sự kiện Tết Mậu Thân, một số nhà quân sự của Mỹ, điển hình là Đại tá Ha-ry G. Săm-mơ Jr (Harry G.Summers Jr), thuộc Viện nghiên cứu chiến lược, Trường chiến tranh quân đội Mỹ tự thừa nhận: Mỹ đã “thắng về chiến thuật, thua về chiến lược”. Nhân dịp kỷ niệm 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, phóng viên Báo QĐND Online đã có cuộc phỏng vấn Trung tướng Nguyễn Trung Thu, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Tư lệnh quân khu 5, một trong những nhân chứng tham gia trong chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Phóng viên (PV): Thưa đồng chí, Tết Mậu Thân 1968 là một sự kiện lịch sử đặc biệt; vậy đồng chí cho biết sự kiện lịch sử ấy đặc biệt như thế nào?

Trung tướng Nguyễn Trung Thu: Đồng chí nói đúng, Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là một sự kiện đặc biệt trong suốt chiều dài 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Đặc biệt là bởi vì đã tạo ra được một bước ngoặt, mở ra một hướng mới trong cuộc chiến tranh. Sự kiện ấy đã gây cho địch những đòn choáng váng, làm cho bộ máy cơ quan tham mưu, tình báo chỉ đạo, theo dõi và vận hành chiến tranh khổng lồ của Mỹ tại Nam Việt Nam bị dư luận đánh giá thấp về khả năng. Những bất ngờ về lực lượng, cách đánh, thời điểm tác chiến, phạm vi, mức độ của cuộc Tổng tấn công… đặc biệt là tinh thần chiến đấu ngoan cường của quân và dân ta trước một đối thủ có hỏa lực mạnh, sức cơ động cao đã làm bùng nổ phong trào phản chiến ở Mỹ, làm đau đầu giới quân sự Nhà Trắng. Nói về cái đặc biệt của Mậu Thân 1968 thì nhiều lắm, nhưng tôi chỉ khái quát những nét cơ bản như vậy thôi. Tôi chỉ nói thêm là, thời điểm đó mọi người hồ hởi lắm, khí thế lắm; chỗ nào cũng hừng hực, rộn ràng ra trận; bộ đội địa phương và quân chủ lực đều hăng hái làm công tác chuẩn bị vũ khí đạn dược, bổ sung quân số, huấn luyện chiến thuật… sẵn sàng cho trận đánh lớn. Lúc ấy tôi thấy mọi người đọc thơ: “Hãy xông lên với khí thế rời non lấp biển, với tinh thần quyết tử để Tổ quốc quyết sinh! Trút căm thù lên đầu lê mũi súng, trả thù nhà, đền nợ nước, kiên quyết diệt địch đến cùng… hay câu “Năm nay ăn Tết rừng xanh, sang năm ăn Tết đô thành Quảng Nam mà nhớ mãi đến tận bây giờ.

Trung tướng Nguyễn Trung Thu

PV: Xin đồng chí cho biết những nét chính về kế hoạch tiến công trên chiến trường Khu 5 trong Tết Mậu Thân 1968?

Trung tướng Nguyễn Trung Thu: Kế hoạch mà Quân khu 5 chuẩn bị lúc đó rất tỉ mỉ và chu đáo, bao gồm kế hoạch tiến công trên hướng chính, kế hoạch khởi nghĩa ở các thành thị… Chủ trương của Quân khu 5 lúc đó là: Phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng quân sự và lực lượng chính trị, đồng loạt Tổng tiến công và nổi dậy từ Đà Nẵng đến Khánh Hòa, từ đồng bằng ven biển lên miền núi, phối hợp nhịp nhàng với quân và dân toàn Miền giành thắng lợi quyết định. Trong kế hoạch tiến công quân sự, Quân khu 5 chia chiến trường ra làm 4 khu vực: Quảng Đà – Quảng Nam; Bình Định (An Khê, Gia Lai); Phú Yên, Khánh Hòa; Tây Nguyên. Mỗi khu vực có một nhiệm vụ khác nhau, trong đó coi chiến trường tại TP Đà Nẵng (gồm cả bắc Quảng Ngãi) là trọng điểm. Tại đây, dự kiến các đơn vị đặc công và bộ binh sẽ đánh chiếm hai khu vực điểm cao là núi Phước Tường và Non Nước, khống chế thành phố từ hướng Tây và Đông Nam, thọc sâu đánh thẳng vào sở chỉ huy quân đoàn 1 ngụy; pháo kích vào sân bay; biệt động Lê Độ và các cơ sở vũ trang trong thành phố, đánh chiếm các mục tiêu như Đài phát thanh, Tòa thị chính…; hỗ trợ cho quần chúng nhân dân trong thành phố và vùng ven tràn vào thành phố khởi nghĩa giành chính quyền. Các khu vực còn lại đều được giao tiêu diệt các mục tiêu cụ thể, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy giành chính quyền và sẵn sàng ngăn chặn, đánh địch tiếp viện. Ttôi chỉ xin khái quát một số nét như vậy về kế hoạch của Quân khu 5 chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân thôi. Cụ thể thế nào đã có sử sách ghi chép cả và cũng có nhiều phương tiện thông tin đăng tải rồi.

PV: Vậy diễn biến và kết quả của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở các khu vực trên chiến trường Khu 5 như thế nào, thưa đồng chí?

Trung tướng Nguyễn Trung Thu: Diễn biến dài lắm, tôi chỉ tóm tắt những thời điểm và các sự kiện chính cùng kết quả của nó thôi. Về diễn biến, tôi phải nói trước thế này, do thông tin liên lạc chậm nên việc phổ biến lại giờ đồng loạt nổ súng theo lệnh của trên không kịp, một số đơn vị vẫn nổ súng theo giờ quy định cũ, do vậy cuộc Tổng tiến công và nội dậy Tết Mậu Thân 1968 tại Quân khu 5 diễn ra không đồng loạt như ý định ban đầu. Vào lúc 23 giờ ngày 29-1-1968, lực lượng vũ trang tỉnh Khánh Hòa đã nổ súng đánh vào sân bay Nha Trang, mở đầu cho các đơn vị của Quân khu 5. Sau đó các lực lượng nhanh chóng đánh Đài phát thanh, tiểu khu, tỉnh đường, sở chỉ huy tiếp vận 5… Tiếp đó, rạng sáng ngày 30-1, quân và dân ta ở đồng bằng ven biển và Tây Nguyên đồng loạt tiến công và nổi dậy diệt địch, giành chính quyền. Rạng sáng ngày 31-1-1968, vào lúc 1 giờ 30 phút ta tiến công thị xã Tam Kỳ; 2 giờ 30 phút ta đánh thị xã Quảng Ngãi. Đòn tiến công táo bạo, bất ngờ và với quy mô rộng đã giáng cho địch những đòn chí mạng. Nhưng khi phát hiện ra ý đồ của ta thì địch dùng mọi cách, huy động mọi lực lượng, sử dụng hỏa lực cường độ mạnh và tàn khốc nhất để ngăn chặn. Đã có nhiều trận chiến đấu ác liệt giữa ta và địch diễn ra ở nhiều địa phương. Quân ta dựa vào các loại vật cản sẵn ở phố phường và các làng mạc để chiến đấu chống lại bom đạn Mỹ, ngụy và đẩy lùi nhiều cuộc phản kích của đối phương. Ta và địch giành nhau từng con phố, từng góc làng, từng vị trí. Ta đã gây cho địch nhiều tổn thấn, song cũng bị thiệt hại đáng kể. Từ tháng 3-1968, sức chiến đấu của quân và dân ta giảm dần, trước tình hình đó thì Bộ Tư lệnh Quân khu 5 chủ trương chỉ để lại một lực lượng nhỏ đặc công và biệt động trong thành thị để tiếp tục đánh địch, đại bộ phận lực lượng còn lại lui ra vùng nông thôn đồng bằng để giữ vững thế trận.

Về kết quả, tính đến hết tháng 3-1968, trên chiến trường Quân khu 5 ta đã tiêu diệt trên 30.000 quân địch, phá hủy hơn 600 máy bay, hàng trăm đại bác và xe cơ giới; làm nổ tung 49 kho đạn, cắt đứt và làm tê liệt hầu hết các đường giao thông chiến lược. Ta đã phát triển được thế tiến công chiến lược áp đảo kẻ thù trên toàn Khu 5, làm sụp đổ phần lớn bộ máy kìm kẹp của địch ở nông thôn, đưa chiến tranh đến tận dinh lũy cuối cùng của địch.

PV: Sau sự kiện Tết Mậu Thân, một số nhà quân sự Mỹ mà điển hình là Đại tá Ha-ry G. Săm-mơ Jr (Harry G.Summers Jr), thuộc Viện nghiên cứu chiến lược, Trường chiến tranh quân đội Mỹ viết: Mỹ đã “thắng về chiến thuật, thua về chiến lược”, đồng chí có đồng tình với luận điểm này không?

Trung tướng Nguyễn Trung Thu: Đó là quan điểm riêng của họ và là cách nhìn của họ về cuộc chiến. Muốn xem xét thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 thì phải đặt nó trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước 21 năm của dân tộc ta thì mới thấy ý nghĩa, tầm vóc và giá trị lịch sử to lớn. Trong quan điểm của Ha-ry G. Săm-mơ Jr, tôi đồng ý với vế sau, Mỹ đã hoàn toàn tất bại về chiến lược. Bởi không thế thì làm sao sau Tết Mậu Thân 1968, chính quyền Giôn-xơn phải xuống thang chiến tranh, chịu ngồi đàm phán với ta ở Paris, đặc biệt là việc thay Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mắc-ra-na-ma, thay Tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam Oét-mo-len, đồng thời không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ hai. Còn nếu nói thắng về chiến thuật thì tôi không nhất trí đâu. Đồng chí biết đấy, bất kể một cuộc chiến nào cũng phục vụ mục đích chính trị. Muốn thắng về chính trị thì phải thắng về quân sự trước. Trong quân sự có một nguyên tắc là: chỉ khi nào thắng về chiến thuật mới thắng được về chiến dịch và đi tới thắng về chiến lược. Thực tế đã chứng minh, nếu ta không thắng được ở Điện Biên Phủ thì quân Pháp đâu dễ gì chịu thua. Hay từ khi Mỹ sử dụng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” đến trước khi xảy ra Tổng tiến công Mậu Thân 1968, lực lượng vũ trang của ta từng đánh thắng quân Mỹ, như các trận: Tháng 3-1965, một đại đội bộ đội địa phương Quân giải phóng đã tập kích đánh tan một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ ở Núi Thành (Quảng Nam). Tháng 8-1965, một trung đoàn chủ lực của Quân giải phóng đã tiến công và giành thắng lợi trước lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ với quân số lớn hơn tại Vạn Tường. Tháng 11-1965, ta chủ động mở chiến dịch Plây Me trên miền rừng núi Tây Nguyên, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn kỵ binh không vận số 1 của Mỹ. Còn trong lịch sử chiến tranh thế giới thì nhiều lắm, dẫn chứng không xuể đâu.

Nói về chiến thuật, trong tác chiến có thể có trận thắng, có thể có trận chưa đạt được mục đích, thậm chí phải lùi… Như vậy, tiến lùi để tạo thế, để tận dụng thời cơ, để phục vụ mục đích tác chiến lâu dài, phù hợp với cách đánh và nghệ thuật chiến tranh truyền thống của dân tộc là chuyện hết sức bình thường. Còn trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, nói ta thua về mặt chiến thuật là chẳng đúng chút nào. Tất cả các thành phố, đô thị, những nơi chính quyền và các vị trí trú quân của Mỹ, ngụy ở miền Nam Việt Nam đều bị đánh, có nơi bị đánh thiệt hại rất nặng, việc đó làm cho tinh thần binh lính địch suy sụp, rệu rã. Vậy thử hỏi, nếu không có những trận chiến đấu ấy thì làm sao có được kết quả thay đổi sau này. Như vậy, thì việc cho rằng ta thua về chiến thuật trong Tết Mậu Thân 1968 là phi lý và mang tính chất bảo thủ, không dám thừa nhận thất bại mà thôi.

PV: Xin trân trọng cảm ơn đồng chí

MẠNH THẰNG – DUY ĐÔNG (thực hiện)
qdnd.vn

Bác là Mùa xuân hay Mùa xuân là Bác?

Bác là Mùa xuân hay Mùa xuân là Bác?

Bác Hồ thăm Nhà máy Diêm Thống Nhất (8/1956)

Tính đến mùa xuân này là tròn 44 mùa xuân Bác Hồ mãi mãi ra đi. Và cũng có nghĩa là 44 giao thừa không còn có được sự hồi hộp chờ đợi giây phút thiêng liêng: Bác Hồ đọc thơ chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ở nước ngoài trên Đài tiếng nói Việt Nam.

CôngThương – Nhớ ngày Bác còn sống, cứ đúng thời khắc chuyển giao năm cũ sang năm mới, tất cả đất trời đang rộn rã tiếng pháo bỗng dưng im bặt. Trong mỗi căn nhà, mọi người như nín thở chờ đợi từ chiếc đài đường dây sau một hồi rẹt rẹt chợt lặng đi rồi bỗng cất lên tiếng cô phát thanh viên: Nhân dịp năm mới, mời đồng bào, chiến sĩ trong cả nước và kiều bào ở nước ngoài lắng nghe thơ chúc Tết của Hồ Chủ tịch. Sau đó là lời đầm ấm của Bác vang lên: Đồng bào, chiến sĩ và kiều bào ở nước ngoài thân mến! Các cháu thanh thiếu niên yêu quý…

Trong suốt cuộc đời mình, Bác đã làm tất cả 22 bài thơ chúc Tết. Có năm Bác đọc thơ sau lời chúc Tết nhưng cũng có năm Bác chúc Tết bằng thơ. Bài thơ đầu tiên là Thơ chúc Tết Xuân Nhâm Ngọ (1942), Bác đã viết: “Chúc đồng bào ta đoàn kết mau/Chúc Việt Minh ta càng tấn tới/Chúc toàn quốc ta trong năm này/Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!”. Bài cuối cùng Bác viết là vào năm Kỷ Dậu (1969): “Năm qua thắng lợi vẻ vang/Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/Vì độc lập, vì tự do/Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/Tiến lên chiến sĩ đồng bào/Bắc- Nam sum họp, xuân nào vui hơn!”.

Những bài thơ chúc Tết của Bác thường mộc mạc đã gửi gắm tình cảm của vị lãnh tụ kính yêu tới đồng bào cả nước cùng với những lời hiệu triệu và chiến lược hành động của đất nước.

Trong bài Thơ chúc Tết 1969, nếu hai câu đầu là tổng kết năm cũ: Năm qua thắng lợi vẻ vang – vạch ra mục tiêu cho năm mới: Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to, câu thứ ba: Vì độc lập, vì tự do, và câu thứ năm: Tiến lên chiến sĩ đồng bào – là lời hiệu triệu thì câu thứ tư không những là phương châm hành động mà còn là lời khẳng định: Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.

Sau này, lịch sử thống nhất đất nước đã diễn ra đúng như lời thơ của Bác. Đế quốc Mỹ rút quân về nước một thời gian đến lượt chế độ Việt Nam cộng hòa sụp đổ hoàn toàn. Và Mùa xuân 1975 là mùa xuân cả nước vỡ òa trong niềm vui thống nhất: “Bắc- Nam sum họp, xuân nào vui hơn!”.

Thêm một mùa xuân mới đã về và cũng là thêm một mùa xuân vắng Bác nhưng lý tưởng của Bác, tình cảm của Bác vẫn còn mãi với non sông, đất nước. Bác không chỉ “nằm trong lăng giấc ngủ bình yên” mà Bác đã, đang và mãi mãi đồng hành cùng dân tộc. Mỗi người dân không chỉ thấy hình bóng Bác trong cuộc vận động Học tập tấm gương đạo đức của Người mà còn như thấy Người đang cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4.

Mỗi mùa xuân đến, có lẽ trong tâm tưởng của rất nhiều người Việt Nam ở trong nước cũng như ở nước ngoài đều nhớ về Bác, và tôi tin nhiều người cũng như tôi đều bâng khuâng tự hỏi: Bác là Mùa xuân hay Mùa xuân là Bác?

Nguyễn Thiệu Hưng
laodong.com.vn

Từ tư tưởng, đạo đức của Bác Hồ – nghĩ về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânĐể học và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì trước hết mỗi chúng ta cần hiểu được cái gốc, cái cốt lõi trong đạo đức của Bác. Như vậy việc học Bác mới thiết thực, mới sâu, mới bền. Cũng nhờ vậy, việc thực hiện Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp theo tấm gương tư tưởng, đạo đức của Bác của mỗi cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp mới trở nên tự giác, nhuần nhị, tự nhiên như một điều thiết yếu cần phải có trong cuộc sống của mỗi chúng ta; là yêu cầu tự thân để hoàn thiện mình, tự làm cho mình trở lên tốt đẹp, hoàn thiện hơn, công tác hiệu quả hơn, từ đó xác định cho bản thân ý thức tự giác thực hiện, tự phấn đấu, vươn lên.

Bác Hồ của chúng ta là một nhà tư tưởng thiên tài, nhưng trước hết và trên hết Người là hiện thân của khát vọng giải phóng con người cần lao, của đạo đức sống, đấu tranh để đem lại hạnh phúc cho con người, vì con người.

Đạo đức của Bác xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân, từ khát vọng cứu nước, giải phóng dân tộc. Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, Bác đi từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến chủ nghĩa cộng sản. Trong đạo đức của Người, Bác đi từ đạo đức của người yêu nước đến đạo đức của người cộng sản.  Phẩm chất đạo đức trong con người của Bác là phẩm hạnh, tác phong, quy phạm cao đẹp, là phương hướng, phương thức đúng đắn nhất để Người thực hiện tư tưởng vì dân, vì nước, vì hạnh phúc của con người. Đạo đức của Bác là sự kết tụ, tỏa sáng cao nhất, tinh túy nhất tư tưởng của Bác. Ở Người, phẩm chất tư tưởng và phẩm chất đạo đức hòa quyện, thống nhất làm một và luôn được thể hiện mãnh liệt và nhất  quán – đó là phẩm chất người cộng sản.

Phẩm chất người cộng sản Hồ Chí Minh dựa trên nền tảng văn hoá dân tộc Việt: Đó là văn hoá vì nghĩa vì tình, văn hoá yêu nước thương nòi; đó là sự hiếu hoà, khoan dung, tâm công theo tinh thần nhân văn truyền thống ngàn năm của dân tộc. Cuộc đời của người cách mạng Hồ Chí Minh là cuộc đời của một nhân cách luận cách mạng mẫu mực, trong đường lối chính trị lấy đoàn kết làm nền tảng sách lược, cho nên, để quy tụ, dẫn dắt quần chúng không thuần túy bằng con đường kinh tế, con đường bạo lực dựa trên kỷ luật mà còn theo chính con đường nhân cách luận cách mạng – con đường nêu gương.

Vậy nên, cái gốc đạo đức, cốt lõi đạo đức của Bác là tấm lòng yêu nước, thương dân nồng nàn, sâu sắc, là tư tưởng suốt đời hy sinh phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, luôn luôn quên mình, hy sinh bản thân mình, không hề vướng bận mưu cầu danh lợi cá nhân. Khi ở vào đỉnh cao quyền lực, Người nói:“Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận vậy.

Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi sẽ làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi” 

Bác dạy :

Gốc có vững, cây mới bền
Xây lầu Cách mạng trên nền nhân dân.

Trong tư tưởng của Bác, nhân dân là lực lượng đồng thời cũng là gốc của sự nghiệp Cách mạng, quyết định đến sự thành bại của Cách mạng. Do đó, mọi chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và mọi thái độ, việc làm của cán bộ, đảng viên khi tham gia thực hiện các công việc của Đảng và Nhà nước đều phải xuất phát từ nhân dân và vì nhân dân. Bác luôn yêu cầu cán bộ đảng viên phải đặc biệt ý thức được mình là “người đầy tớ”, là công bộc của dân để làm tốt vai trò là người phục vụ nhân dân, bởi vì chỉ có làm tốt vai trò người đầy tớ, công bộc của dân thì mới có thể lãnh đạo được nhân dân – Đây chính là điểm then chốt, là hạt nhân để tạo nên phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Là những người đứng trong bộ máy của Đảng, của Nhà nước, càng trải nghiệm thực tế, càng nghĩ ta càng thấm thía lời dạy của Bác rằng: “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”.

Nói đến tính Liêm, Chính của người cán bộ cách mạng, Bác nêu một định nghĩa như là một điểm tựa cho phẩm giá của mỗi chúng ta: “ Liêm nghĩa là trong sạch, là luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công, của dân, không tham địa vị, không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ. Vì vậy mà quang minh chính đại” Như vậy theo Bác, cần có “liêm” là để có “chính”.

Là người đề ra và xây dựng nên những giá trị chuẩn mực đạo đức cao đẹp cho cán bộ, đảng viên hướng tới, rèn luyện, phấn đấu, đồng thời Bác Hồ với tư cách là một lãnh tụ tối cao của dân tộc luôn là người nêu gương thực hành, là tấm gương vô cùng trong sáng, mẫu mực về đạo đức suốt đời. Giá trị thực tiễn cao đẹp của tư tưởng của Bác là ở chỗ gắn bó chặt chẽ với cuộc sống, nói đi đôi với làm. Bác dạy : “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, “ Một tấm gương sống còn hơn vạn bài diễn thuyết” – Có như vậy cán bộ, đảng viên mới được nhân dân tin yêu, quý trọng.

Là con người vô cùng lỗi lạc, vĩ đại về tư tưởng, trí tuệ, nhân cách, sự nghiệp, đồng thời Bác cũng là con người hết sức bình dân, giản dị, hòa mình với muôn triệu người dân, luôn quên bản thân mình để yêu thương, quan tâm đến từng thân phận con người, từng gốc cây, ngọn lúa, bờ tre. Và càng bình dân, giản dị, quên mình, nên Bác càng trở nên vĩ đại và càng được mọi người kính yêu, ngưỡng mộ.

Trí tuệ thiên tài và tấm lòng bao la vì dân vì nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn có sức lay động tình cảm, con tim của bất kể những ai có dịp được gặp Bác, được ở gần bên Bác. Nhà thơ Tố Hữu đã nói giúp mỗi chúng ta sự cảm nhận kỳ diệu rằng: Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta/Ta bỗng lớn ở bên Người một chút”. Từ đạo làm người, Bác truyền cho chúng ta nguồn cảm hứng, tinh thần, khí thế để vươn tới những giá trị cao quý, vẻ vang của đạo làm cán bộ, bất kể những rào cản khó khăn, thử thách, chông gai trong cuộc sống. Có thể nói, học tư tưởng, đạo đức của Bác là học nhân cách luận, là học về cách làm người. Đó là: Phẩm chất hy sinh, quên mình vì nhân dân, vì tập thể, vì cái chung; là tính nhân văn, nhân ái, tình đồng chí yêu thương lẫn nhau trên cơ sở tình thương và lẽ phải; là sự đi đầu thực hiện để nêu gương cho mọi người.

 Trải qua các giai đoạn cách mạng của Đảng, của đất nước, dù chức năng, nhiệm vụ có sự thay đổi, nhưng với đặc trưng công tác của Bộ, của Ngành Tư pháp, có thể nói mỗi một cán bộ, công chức, viên chức của Ngành ở những vị trí công tác khác nhau, ở những góc độ, mức độ biểu hiện khác nhau đều là những nhà chính trị, nhà cách mạng có vai trò tham gia cải tạo xã hội, xây dựng những giá trị tiến bộ của xã hội. Vậy nên, trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc tháng 2/1948, Bác xác định với cán bộ của Ngành rằng: “Các bạn là bậc trí thức. Các bạn có trách nhiệm nặng nề và vẻ vang là làm gương cho dân trong mọi việc”

Tư tưởng tất cả vì nhân dân, vì con người, ở bình diện hẹp hơn, gần gũi hơn, đó chính là cơ sở có tính nền tảng thiết yếu để tạo nên và bảo đảm cho vị thế, uy tín, danh dự, hạnh phúc, hiện tại và tiền đồ của Bộ, Ngành Tư pháp, cụ thể hơn là của những cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp.

Tư tưởng tất cả vì nhân dân, vì con người càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi Đảng, Nhà nước ta đang sửa đổi Hiến pháp 1992, mà trong đó Bộ Tư pháp, Ngành Tư pháp đang đóng một vai trò nòng cốt.

 Với những ý nghĩa nêu trên, việc xây dựng và ban hành “Chuẩn mực đạo của cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp” là một sự kiện đặc biệt trong lịch sử xây dựng và phát triển của Ngành, đánh dấu một bước chuyển lớn của Ngành trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là lần đầu tiên Ngành ta có một bản Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp chung, toàn diện, thống nhất đối với cán bộ, công chức, viên chức của toàn Ngành, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi Đảng ta đang quyết tâm thực hiện đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ để tăng cường phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân; chức năng, nhiệm vụ của Bộ, Ngành Tư pháp đang không ngừng được mở rộng, tăng cường, đảm đương nhiều nhiệm vụ quan trọng, nặng nề trong công tác quản lý nhà nước. Vượt lên khỏi một văn bản hành chính, bản Chuẩn mực với sự thể hiện cô đọng, nổi bật, khái quát cao những lời dạy của Bác đối với Ngành – như là món quà tinh thần thiêng liêng mang tâm nguyện, tinh thần của toàn Ngành dâng lên Bác, báo cáo với Bác và hứa đinh ninh với Bác. Qua đó chúng ta như thấy Bác vẫn như dõi theo từng bước đi lên của Ngành, nhắc nhở mỗi cán bộ công chúc, viên chức của Ngành tự soi mình hàng ngày để xứng đáng với mong mỏi của Người.

5 chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của Ngành đều có một trục, một điểm hướng tâm, một tọa độ quy chiếu, đó là ý thức, là phẩm chất vì nước, vì dân của cán bộ, công chức, viên chức của Ngành. Lòng yêu nước, yêu nhân dân được thể hiện tiêu biểu, nhất quán bằng những việc làm cụ thể gắn bó mật thiết với công việc của Ngành. Chúng ta tuân thủ nguyên tắc, phương pháp thực hiện công tác tư pháp “Trách nhiệm, tận tụy, sáng tạo, kỷ cương, phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” hay thực hiện phẩm chất đạo đức đối với đồng nghiệp “Đoàn kết, thân ái,hợp tác, cùng tiến bộ”; thực hiện yêu cầu nêu gương đối với bản thân là “ Cần, kiệm, liêm, chính, thượng tôn pháp luật” thì trước hết và trên hết cũng là vì đất nước, vì nhân dân, cho nhân dân.

Hơn ai hết, mỗi cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp, đặc biệt là những đảng viên – những người đang đứng trong đội ngũ hành động vì công  lý, công bằng, dân chủ của con người, của  tiến bộ xã hội ý thức sâu sắc rằng, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác là niềm vinh dự, vẻ vang, là nguồn sức mạnh tinh thần vô địch giúp chúng ta luôn đứng vững trước mọi thử thách, gian nan để vươn tới trước.

Học nhân cách luận, học về cách làm người nhân văn, nhân ái trong tư tưởng, đạo đức của Bác, chúng ta ý thức sâu sắc rằng: Một trong những giải pháp quan trọng để có thể thực hiện tốt Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của Ngành là đồng thời với việc đề cao tính nêu gương, đi đầu thực hiện  của người đứng đầu cơ quan, đơn vị và sự cố gắng tự thân của mỗi người, rất cần sự quan tâm, hỗ trợ, nâng đỡ của tập thể để mỗi người tự vươn lên; tập thể phải là chỗ dựa, điểm tựa cho mỗi thành viên của mình; phải có tình đồng chí, đồng nghiệp yêu thương, đoàn kết.

 Phát biểu về định hướng, yêu cầu quán triệt và triển khai thực hiện “Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức viên chức Ngành Tư pháp” tại Hội nghị của Ngành vào ngày 08/12/2012, Thứ trưởng Lê Hồng Sơn nhấn mạnh: “Việc đưa Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của Ngành đi vào cuộc sống là thể hiện của sự tiếp nối, phát huy truyền thống quý báu của Ngành, là biểu hiện sinh động, sâu sắc nhất của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một trong những yếu tố có tính quyết định quan trọng đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của Ngành Tư pháp trong thời gian tới”.  Điều đó cũng là để góp phần thực hiện lời hứa thiêng liêng của toàn Ngành đã được khắc ghi trang trọng trên bia tưởng niệm tại Di tích lịch sử trụ sở cơ quan Bộ Tư pháp tại Tuyên Quang: “Cán bộ Tư pháp Việt Nam tri ân, ghi sâu công lao của các thế hệ đi trước, phát huy truyền thống của Ngành, trung thành, sáng tạo, tận tụy, đoàn kết phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.

Hoàng Hà – Văn phòng Bộ
moj.gov.vn