Bác Hồ với mùa Xuân Hà Giang

Mùa Xuân như có một cái gì đó định mệnh gắn liền với Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Có thể bắt đầu từ mùa Xuân năm 1930, khi cách mạng thế giới có những bước phát triển thuận lợi, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại biểu của Quốc tế Cộng sản, ngày 3.2.1930, Người đã sáp nhập ba tổ chức Cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), tại Hương Cảng, Trung Quốc, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại, mở ra một thời kỳ mới của cách mạng vô sản theo học thuyết Mác.

5.a1
Ảnh Tư liệu

Những năm tháng hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác luôn hướng về Tổ quốc, cùng Đảng tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đứng lên từng bước đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc. Để rồi từ Bến Cảng Sài Gòn năm 1911, Bác ra đi tìm đường cứu nước, đúng vào mùa Xuân năm 1941, khi thời cơ cách mạng đã đến, Người từ Trung Quốc trở về Tổ quốc ngày 28.1.1941 tại vùng biên giới tỉnh Cao Bằng, trực tiếp cùng Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Con đường đi làm cách mạng của Người là cả một chặng đường lịch sử gắn với vận mệnh dân tộc. Có một nhà thơ đã viết: Cuối trời Bác đi ngàn sóng tiễn/ Ngày về hoa nở thắm vùng biên/ Ba mươi năm thức tìm chân lý/ Lập nước Việt Nam sáng vạn niên.

Mùa Xuân này Bác đã đi xa 44 năm. Với Hà Giang, kể từ mùa Xuân 1961 Người lên thăm Đảng bộ và đồng bào các dân tộc tỉnh nhà, đến nay đã 52 năm. Vậy là hơn nửa thế kỷ, trong trái tim đồng bào 22 dân tộc Hà Giang, hình ảnh Bác Hồ vẫn in đậm trong trái tim mỗi người dân như cơm ăn nước uống hàng ngày… Nhớ lại những tháng năm ấy, giữa lúc miền Bắc đang đẩy mạnh hàn gắn vết thương chiến tranh,kiến thiết đất nước tiến lên xây dựng XHCN, nửa nước – miền Nam vẫn còn dưới ách cai trị của đế quốc Mỹ xâm lược. Mặc dù bận trăm công ngàn việc, Bác Hồ đã lên thăm Hà Giang – một tỉnh biên cương cực Bắc của Tổ quốc, thể hiện tình cảm, trách nhiệm của Đảng, Chính phủ, của Người với đồng bào các dân tộc. Ngày lên thăm Hà Giang, trước Lễ đài tại sân vận động Người căn dặn: “Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh phải đoàn kết, ra sức tăng gia, sản xuất, phát triển chăn nuôi, khai thác lâm thổ sản, giữ gìn vệ sinh và cố gắng xóa mù chữ. Các dân tộc từ huyện đến khu cần phải ra sức giúp đỡ đồng bào rẻo cao…”. Thực hiện lời dạy của Người, những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, được sự giúp đỡ trách nhiệm của các bộ, ngành Trung ương, trực tiếp là Đảng bộ Hà Giang, 22 dân tộc anh em trong tỉnh luôn đoàn kết bên nhau, vượt qua nhiều khó khăn gian khổ, thách thức, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng… đã từng bước đưa Hà Giang vươn lên xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng – an ninh, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, luôn xứng đáng là một tỉnh phên giậu vững chắc biên cương của Tổ quốc. Từ một tỉnh sau tái lập thuộc diện nghèo nhất nước, sau 21 năm chia tách, Hà Giang đã vươn lên trở thành tỉnh có nền kinh tế tốc độ tăng trưởng luôn cao, năm 2012 đạt 10,78%; thu nhập bình quân đầu người đạt 11, 1 triệu đồng/năm; thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 1.200 tỷ đồng, tăng cao so các năm trước. Đặc biệt tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 98%; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 30,06%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,76%; tỷ lệ che phủ rừng đạt 55,6%; tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch 64, 5%v.v… Đến nay 100% các xã có đường ô tô trải nhựa đến trụ sở, nhiều xã có đường ô tô xuống thôn. Chương trình: Điện, đường, trường, trạm của tỉnh từ đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIII đã làm thay đổi diện mạo nông thôn, đặc biệt ở vùng sâu, xa, biên giới nâng lên rõ nét. 100% các xã có trụ sở làm việc của UBND, nhà trạm xá xã, trường học cao tầng, điện về xã, có nhiều nơi đến thôn… Chương trình bể nước, mái nhà, con bò ở 4 huyện vùng cao nguyên đá Đồng Văn đã cơ bản giúp cho gần 20 vạn đồng bào thoát khỏi cảnh thiếu nước trầm trọng vào mùa đông. Kinh tế thị trường đã tỏa sâu vào tận xóm thôn, làng bản, đồng bào các dân tộc thiểu số không còn xa lạ với từ kinh tế hàng hóa. Bà con ở vùng cao phía Bắc hay phía Tây… của tỉnh đã biết trồng cỏ để phát triển chăn nuôi bò hàng hóa, từ đó hình thành chợ bò ở huyện Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh… Trong lao động sản xuất, XĐGN đã xuất hiện hàng ngàn hộ đồng bào thiểu số lao động giỏi, XĐGN nhanh… Các chương trình đưa báo chí như: PT-TH đến với bà con đạt từ 92 đến 98%; báo Hà Giang và các loại báo ngành trung ương đã đến tận thôn, bản, trường học… không ngừng nâng cao dân trí cho đồng bào… Đặc biệt chương trình xây dựng nông thôn mới do Đảng ta lãnh đạo, hơn 2 năm qua bộ mặt nông thôn Hà Giang như một công trường xây dựng, được gắn với các chương trình, dự án đã nâng cao hiệu quả đầu tư, cộng sự đóng góp của nông dân bước đầu tạo cho nông thôn ở miền núi, biên giới vùng sâu, xa một nền tảng vững chắc để đồng bào xây dựng cuộc sống mới.

Mùa xuân mới lại về trên quê hương Hà Giang. Thị xã Hà Giang ngày Bác lên thăm nay đã thành thành phố khang trang, xanh, sạch, đẹp… Đồng bào các dân tộc Hà Giang đang phấn khởi đón xuân về, trong những cành đào, mận, lê trắng muốt… rộ nở khắp núi rừng, bà con các dân tộc như thấy Bác đang về thăm Hà Giang cùng mùa xuân. Hà Giang đang từng bước thực hiện rất tốt lời căn dặn của Người.

Theo Báo Hà Giang
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Kỷ vật và kỷ niệm với Bác Hồ

Câu chuyện đã qua tròn nửa thế kỷ nhưng ông vẫn nhớ rành rọt lắm. Nhất là mỗi lần ngắm nhìn chiếc phù hiệu, thẻ ra vào và giấy giới thiệu là ông lại rưng rưng nhớ tới kỷ niệm với Bác Hồ kính yêu…

Vào cuối năm 1961, Bác Hồ về thăm quê hương Nghệ An lần thứ hai từ ngày 8 đến ngày 10-12-1961. Để phục vụ cho chuyến đi của Bác Hồ về Nghệ An và sau đó thăm tỉnh Thanh Hóa bảo đảm an toàn, Cục Không quân đã cử Thiếu úy Hoàng Ngọc Mạnh, lúc ấy đang là Trợ lý Điều phái Chỉ huy Sở – Ban Tác chiến – Cục Không quân đi trước đến hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa để liên hệ công tác làm nhiệm vụ xác định vị trí, chọn địa điểm để máy bay trực thăng chở Bác có thể cất cánh và hạ cánh an toàn. Trước khi đi công tác, Thiếu úy Hoàng Ngọc Mạnh được Cục Không quân cấp giấy giới thiệu số 845 ngày 6-12-1961 (hạn đến ngày 16-12-1961). Khi đến tỉnh Nghệ An đồng chí được Công an tỉnh Nghệ An cấp phù hiệu ngày 7-12-1961 có dòng chữ “Lam – Trà nổi sóng”. Nghĩa của dòng chữ này xuất phát từ năm 1960, tại Nghệ An có phát động phong trào An – Ngãi quật khởi, “Lam – Trà nổi sóng” vừa là phong trào, vừa thể hiện tấm lòng của Nghệ An đối với miền Nam tiền tuyến lớn anh hùng mà cụ thể là với tỉnh Quảng Ngãi kết nghĩa. Phù hiệu chỉ cấp trong nội bộ và được ra vào bí mật. Ngày 11-12-1961 khi ra tới Thanh Hóa, Hoàng Ngọc Mạnh còn được Công an tỉnh Thanh Hóa cấp tiếp một thẻ ra vào. Ông đã sử dụng giấy giới thiệu, phù hiệu, thẻ để ra vào Tỉnh ủy, Tỉnh đội, Công an tỉnh, Ủy ban Hành chính của hai tỉnh Thanh Hóa – Nghệ An thực hiện nhiệm vụ trong suốt quá trình công tác của mình từ ngày 7 đến ngày 12-12-1961.

3. ky vatGiấy giới thiệu, phù hiệu của CCB Hoàng Ngọc Mạnh.

 Trong chuyến công tác này, có một kỷ niệm sâu sắc với Bác Hồ mà Hoàng Ngọc Mạnh không bao giờ quên. Ông nhớ lại: “Vào lúc 23 giờ đêm 10-12-1961, sau khi liên hoan, xem biểu diễn văn nghệ chia tay quê hương Nghệ An để sáng hôm sau Bác Hồ ra thăm tỉnh Thanh Hóa, Tỉnh ủy Nghệ An đã tổ chức cuộc họp đột xuất thống nhất kế hoạch để sáng hôm sau Bác Hồ ra thăm Thanh Hóa. Cuộc họp có sự tham gia của đồng chí Phạm Kiệt, Thứ trưởng Bộ Công an cùng các cán bộ chủ chốt của tỉnh Nghệ An và đại diện một số ban, ngành liên quan. Đang họp thì Bác trở về, đi qua phòng họp của Tỉnh ủy. Bác vào phòng và hỏi:

– Các đồng chí đang làm gì ở đây?

Đồng chí Phạm Kiệt đứng lên trả lời Bác:

– Thưa Bác, chúng cháu đang họp chuẩn bị kế hoạch để sáng mai Bác ra thăm Thanh Hóa.

– Tình hình máy bay ngày mai thế nào? Xăng dầu có đủ không? Bác hỏi.

Đồng chí Phạm Kiệt bảo tôi trả lời Bác. Tôi nói:

– Thưa Bác! Máy bay tốt, xăng dầu đủ và còn thừa ạ.

– Thế các anh em phi công ăn, ngủ ở đâu?

– Dạ thưa Bác, anh em phi công ăn ngủ ở giao tế ạ (giao tế là nơi đón tiếp, nghỉ ngơi của nhiều Đoàn khách cán bộ cao cấp trong nước và bạn bè quốc tế).

Bác lại hỏi:

– Giao tế ở đâu? Cách đây bao xa? Bác muốn qua thăm anh em.

Vì đã khuya, ngoài trời rất lạnh và muốn Bác về ngủ giữ sức khỏe để mai còn lên đường nên tôi đã trả lời:

– Dạ thưa Bác xa lắm, cách đây khoảng hơn 400m ạ.

Bác cười:

– Cách đây có hơn 400m mà đồng chí bảo xa.

Tôi suy nghĩ rất nhanh rồi trả lời:

– Thưa Bác, bây giờ đã là 11 giờ, để bảo đảm sức khỏe các đồng chí trong tổ bay đã đi ngủ từ lúc 8-9 giờ tối.

Khi nghe xong câu trả lời của tôi, Bác nói:

– Đồng chí nói thế thì mới đúng, chứ cách đây có hơn 400m mà bảo xa thì không xa.

Bác mỉm cười rồi nói tiếp:

– Các đồng chí tiếp tục làm việc đi, Bác về phòng đi ngủ.

Câu chuyện và kỷ niệm gắn với chuyến công tác phục vụ Bác Hồ về thăm hai tỉnh Nghệ An – Thanh Hóa 50 năm trước vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức người lính không quân năm xưa. Cựu chiến binh Hoàng Ngọc Mạnh đã cất giữ cẩn thận giấy giới thiệu, phù hiệu và thẻ ra vào như một kỷ vật quý của mình và gia đình. Ngày 8-8-2011 vừa qua, ông đã trao tặng cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam…

Theo qdnd.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Khẳng định vai trò của Hiến pháp năm 1992

Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”

QĐND – Hiến pháp có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật và đời sống chính trị của mỗi quốc gia. Hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của Nhà nước. Các quy định của Hiến pháp là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Ở Việt Nam, kể từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, chúng ta đã có 4 bản Hiến pháp, đó là Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm l980 và Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi bổ sung vào năm 2001). Các bản Hiến pháp sau đều có sự kế thừa và phát triển của các bản Hiến pháp trước. Để chuẩn bị cho việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, hiện nay toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang tiến hành tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992. Trên cơ sở đánh giá khách quan, đúng đắn về vai trò, sứ mệnh của Hiến pháp, đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của các tầng lớp nhân dân gửi đến Ủy ban dự thảo sửa Hiến pháp, các cơ quan chức năng, các cơ quan thông tin đại chúng đánh giá những mặt tích cực, những hạn chế của Hiến pháp năm 1992. Từ đó xác định những tư tưởng, nội dung của Hiến pháp cần tiếp tục kế thừa; những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung trong Hiến pháp để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước phù hợp với tình hình mới. Tuy nhiên, gần đây đã xuất hiện một số ý kiến lạc lõng phát biểu trên blog và báo điện tử nước ngoài cho rằng, “chẳng cần phải tổng kết việc thi hành Hiến pháp”, “không nên kế thừa Hiến pháp năm 1992”, “phải xây dựng một bản Hiến pháp hoàn toàn mới”…

Trước hết, phải khẳng định rằng, trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất của dân tộc và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam. Thế nhưng, phải đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời chúng ta mới tổ chức xây dựng được bản Hiến pháp đầu tiên vào năm 1946.

Hiến pháp năm 1992 được xây dựng trên cơ sở sửa đổi Hiến pháp năm 1980 một cách cơ bản và toàn diện, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới – giai đoạn đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng từ năm 1986 và đến năm 1992 đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng.

So với Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, nhất là phần sửa đổi, bổ sung năm 2001 đã có rất nhiều đổi mới và phát triển, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Điều 2 và Điều 3 của Hiến pháp khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

“Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”.

Trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhà nước được quy định trong Hiến pháp, bộ máy Nhà nước ta tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện. Hiến pháp năm 1992 là cơ sở pháp lý cho việc xóa bỏ các quan hệ kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, hội nhập quốc tế. Sự đổi mới điều chỉnh quan trọng trong Hiến pháp năm 1992 là lập lại chế định Chủ tịch nước là cá nhân một người và thành lập Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội; lập Hội đồng Quốc phòng và An ninh do Chủ tịch nước làm Chủ tịch. Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm có Chủ tịch Quốc hội, các Phó chủ tịch Quốc hội và các ủy viên. Thành viên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể đồng thời là thành viên Chính phủ. Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện 12 nhiệm vụ, quyền hạn, trong đó có quyền công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội; tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội; giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; ra pháp lệnh về những vấn đề Quốc hội giao…

Hiến pháp năm 1992 quy định Quốc hội bầu Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội và lần đầu tiên quy định “mỗi ủy ban có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách”.

Hiến pháp năm 1992 là nền tảng chính trị – pháp lý cho việc đề cao và phát huy nhân tố con người trong đời sống Nhà nước và xã hội. Các quyền con người, quyền công dân mà Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) ghi nhận đã từng bước được thể chế hóa qua hoạt động lập pháp của Quốc hội, tạo thành một hệ thống các quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người và công dân Việt Nam… Điều 8 của Hiến pháp khẳng định: “Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”.

Đặc biệt, Hiến pháp năm 1992 đã thể chế hóa đường lối đổi mới về kinh tế của Đảng. Những quy định của Hiến pháp đã tạo nền tảng cho sự đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, góp phần tạo lập được một trật tự các quan hệ kinh tế mới làm chỗ dựa vững chắc cho đổi mới các yếu tố của thượng tầng kiến trúc, đưa đất nước ra khỏi tình trạng khó khăn về kinh tế, giữ vững ổn định và phát triển xã hội, góp phần xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước trong 20 năm qua.

Như vậy, không thể phủ nhận vai trò của Hiến pháp năm 1992.

Tuy nhiên, do đặc thù của Hiến pháp năm 1992 là Hiến pháp của thời kỳ đầu đổi mới và đến nay, đất nước ta đã có nhiều thay đổi trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020, Báo cáo chính trị của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và lý luận 25 năm đổi mới, đã xác định rõ mục tiêu, định hướng phát triển toàn diện, bền vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới nhằm xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, cần phải nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 cho phù hợp với yêu cầu tình hình mới. Nhưng việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 phải dựa trên cơ sở tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và các đạo luật có liên quan; tiếp tục kế thừa những quy định của Hiến pháp năm 1992 và các Hiến pháp của nước ta trước đây còn phù hợp; chỉ sửa đổi, bổ sung những vấn đề thực sự cần thiết, thiết thực, phù hợp với tình hình mới. Hiện nay, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp đang tổ chức tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Theo kế hoạch, bản dự thảo này sẽ được công bố rộng rãi để lấy ý kiến góp ý của toàn thể nhân dân trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua.

Hằng Nga
qdnd.vn

Nhất tề xông lên trừng trị quân xâm lược và tay sai bán nước

QĐND Online – Đó là lời kêu gọi đồng bào, cán bộ, chiến sĩ đứng lên tiêu diệt quân Mỹ, ngụy trong cái Tết của 45 năm trước, được thể hiện trong Mệnh lệnh Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Mệnh lệnh quan trọng ấy được đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, thay mặt Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, ký ngày 30-1-1968, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (28A, Điện Biên Phủ, Hà Nội).

Với nội dung được đề cập trong Mệnh lệnh, khách tham quan tại bảo tàng có thể hiểu được bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, khi cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân miền Nam thu được nhiều thắng lợi liên tiếp; quân Mỹ đang bị động, thất bại, sa lầy nghiêm trọng và ngụy quân đang trên đã rệu rã.

Tết Nguyên đán Mậu Thân 1968, thể theo nguyện vọng của toàn thể đồng bào, theo phong tục cổ truyền của dân tộc, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra lệnh cho các lực lượng của ta ngừng tiến công quân sự trong 7 ngày để mọi người được yên ổn, vui vẻ ăn Tết.

Mệnh lệnh Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

“Để che lấp dã tâm đen tối của bọn chúng, bọn Mỹ và Thiệu, Kỳ cũng phải nói đến ngừng bắn và chúng chỉ nói ngừng bắn trong 48 giờ. Nhưng rồi chúng lại tráo trở rút xuống còn 36 giờ….Cuối cùng, hồi 14 giờ ngày 30-1, chúng đã thủ tiêu hoàn toàn lệnh ngừng bắn gian trá của chúng”, Mệnh lệnh ghi rõ.

Tiếp đó, địch đã sử dụng máy bay, pháo binh bắn phá các nơi dân cư đông đúc; cấm trại 100% nhân viên và binh sĩ ngụy. Và như vậy, địch đã không để cho đồng bào ta và ngay cả ngụy quân, ngụy quyền yên ổn vui Tết.

Mệnh lệnh nêu rõ: “Trước tình hình như vậy, Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận hạ lệnh cho tất cả các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng, các lực lượng đấu tranh chính trị, toàn thể hội viên các hội giải phóng hãy sát cánh cùng các lực lượng yêu nước khác và toàn thể đồng bào nhất tề xông lên quyết trừng trị đích đáng quân Mỹ xâm lược và bọn Thiệu, Kỳ tay sai bán nước”.

Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chúng ta đã giáng cho quân Mỹ, ngụy những đòn bất ngờ và choáng váng, góp phần làm thay đổi tương quan lực lượng và cục diện trên chiến trường. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã góp phần quan trọng vào công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nhất Tổ quốc của dân tộc ta.

Bài, ảnh: PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

Mỏ neo trong “Tết Mậu Thân – 1968”

Bình luận viên W.Cron-kai-tơ:

QĐND – Được đánh giá là chiếc mỏ neo của truyền thông Mỹ, W.Cron-kai-tơ (1916-2009) đã làm việc suốt hai thập kỷ (1962-1981) trên buổi phát tin tối của kênh CBS. Ở thời hoàng kim (1960-1970) của kênh truyền hình này, ông được xem là “người đáng tin cậy nhất nước Mỹ”. Sinh thời, ông đã tường thuật nhiều sự kiện lớn nhất trong thế kỷ 20 của nước Mỹ như Thế chiến II, tòa án Nu-rem-béc (Nuremberg) xử tội phạm phát xít, cuộc chiến tranh Việt Nam, các chương trình chinh phục vũ trụ của Mỹ, vụ ám sát Tổng thống Giôn Ken-nơ-đi (John Kennedy)…

Thả chệch neo tại “Vịnh Bắc Bộ”

Ngày 12-8-2004, nhân kỷ niệm 40 năm sự kiện Vịnh Bắc Bộ, W.Cron-kai-tơ (Walter Cronkite) có bài bình luận trên Đài Phát thanh quốc gia Hoa Kỳ NPR nhan đề Cuộc tiến công của những con ma trên Vịnh Bắc Bộ: Sai sót tình báo góp phần dẫn đến quyết định đánh Việt Cộng (Gulf of Tonkin’s Phantom Attack: Faulty Intelligence Played Role in Decision to Engage Viet Cong). Qua bài này, Cron-kai-tơ muốn tự bào chữa cho truyền thông Mỹ và bản thân ông vào năm 1964 đã bị “nhử” vào dàn đồng ca về “vụ Vịnh Bắc Bộ” của chính quyền Giôn-xơn (Johnson), chỉ vì “đã quá tin vào các báo cáo chính thức”.

Những diễn biến tiếp theo của cuộc chiến tranh cục bộ ở Việt Nam hẳn đã làm con người có lương tri Cron-kai-tơ tìm kiếm cơ hội “phản pháo”, hoàn trả cho mô hình “súng và bơ” bộ mặt thật của nó. Sang Nam Việt Nam về sau khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân nổ ra, Cron-kai-tơ đã đăng đàn phát biểu trên CBS News ngày 27-2-1968, khi cao điểm đợt 1 các “làn sóng tiến công của Việt Cộng” dâng tràn trên các kênh truyền thông Mỹ.

Tết 1968: Lời nói đọi máu

Phong trào chống chiến tranh ở Mỹ hôm nay vẫn nhớ những lời bình luận quả cảm của Cron-kai-tơ trong đêm 27-2-1968. Sau khi ông kết bài bình luận bằng câu: “Đây là Cron-kai-tơ. Chúc ngủ ngon”, thì lương tri Mỹ bắt đầu những đêm mất ngủ, sẽ kéo dài suốt 7 năm sau.

Bình luận của Cron-kai-tơ có tựa đề gây chấn động: “Chúng ta đang ngập vào vũng lầy không lối thoát”. Ông bắt đầu như sau:

“Hôm nay, trở lại với không gian quen thuộc quanh Niu Y-oóc, chúng tôi muốn tóm tắt những gì đã tai nghe mắt thấy ở Việt Nam, trong một phân tích có tính suy đoán, riêng biệt, tự cảm nhận. Ai thắng, ai thua trong cuộc tiến công đại quy mô các thành phố? Tôi không biết. Việt Cộng đã không thắng được nhờ một đòn nốc ao, nhưng chúng ta cũng vậy. Lịch sử sẽ phán xét và sẽ rút ra bài học…”.

Một câu trong bình luận, được dẫn rất nhiều trong sách báo phương Tây:

“Chúng ta đã quá thường xuyên phải thất vọng bởi sự lạc quan của các nhà lãnh đạo nước Mỹ, ở cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ, đến mức khó có thể tiếp tục tin vào những an ủi giữa cơn bĩ cực mà họ vẫn tìm thấy trong những đám mây đen tối nhất”.

W.Cron-kai-tơ trầm ngâm giữa đường phố Hà Nội, đầu năm 1973.

Tổng thống Giôn-xơn than thở sau buổi phát hình ngày 29-2-1968 của Cron-kai-tơ: “Mất Cron-kai-tơ, có nghĩa là tôi mất tầng lớp trung gian ủng hộ chính quyền. Ba tuần sau, Giôn-xơn lên truyền hình tuyên bố sẽ không tìm cách tái cử tổng thống một nhiệm kỳ nữa và quyết tìm giải pháp cho chiến tranh qua đàm phán với đối phương.

1968: Năm bạo lực và chia rẽ ở Mỹ

Sau những phát súng của Tết Mậu Thân “như nổ trên đường phố Hoa Kỳ” và tuyên bố “làm thế giới sửng sốt” của Tổng thống Giôn-xơn (31-3) là cuộc ám sát Lu-thơ Kinh (Luther King), lãnh tụ phong trào đòi bình quyền của người da đen (4-4), dẫn đến loạt bạo động trên khắp nước Mỹ, cuộc ám sát ứng cử viên hòa bình Đảng Dân chủ Rô-bớt Ken-nơ-đi (Robert Kennedy) (5-5)… Trong thời gian Hội nghị Đảng Dân chủ đề cử ứng cử viên tổng thống cuối tháng 8-1968, Đảng này chia tách thành hai phái: Ủng hộ và phản đối chiến tranh. Từ 26 đến 29-8 những người biểu tình ủng hộ ứng viên hòa bình Mắc Ca-thi (McCarthy) tuần hành một cách ôn hòa trên các đường phố chính của Chi-ca-gô (Chicago), nơi diễn ra hội nghị Đảng Dân chủ. Nhưng ở cao điểm, chiều 27-8, nhiều người biểu tình “chiếm” ngọn đồi trong Công viên Lớn (Grand Park), phất cờ của Mặt trận giải phóng và “Bắc Việt Nam”. Thống đốc Chi-ca-gô thuộc phe chủ chiến trong Đảng Dân chủ, điều cảnh sát và 6000 vệ binh quốc gia tới đàn áp cuộc biểu tình. Toàn nước Mỹ xem tường thuật trực tiếp cuộc động loạn này, chia sẻ với bình luận của Cron-kai-tơ trên kênh CBS, sự căm phẫn với chính sách thẳng tay đàn áp của nhà cầm quyền…

Sinh viên Mỹ giương cờ Việt Nam dân chủ cộng hòa và cờ Mặt trận dân tộc giải phóng tại Công viên Lớn, Chi-ca-gô, tháng 8-1968. Ảnh tư liệu

Hàng trăm người biểu tình và hơn 100 cảnh sát bị thương. Trong số 700 người bị bắt có những người đấu tranh vì hòa bình nổi tiếng và là khách thường xuyên của Hà Nội như: Đê-vít Đen-linh-gơ (David Dellinger), Tôm Hay-đơn (Tom Hayden)…

Truyền thông Mỹ cũng nhắc nhở rằng, chính lúc này Ních-xơn đã lợi dụng sự chia rẽ của nước Mỹ và cả trong Đảng Dân chủ đối lập, đưa ra những chiêu bài chính trị để “đánh lộn sòng”, theo đuổi đường lối chiến tranh trong gần hai nhiệm kỳ nữa.

Thuật ngữ quân sự mới

Cuối bình luận trên kênh CBS đêm 27-2-1968, Cron-kai-tơ kêu gọi Nhà Trắng hãy đàm phán với Hà Nội và “Việt Cộng” hơn là đánh ra miền Bắc, hay dùng vũ khí hạt nhân, hay đưa thêm 100.000, 200.000 hay 300.000 quân Mỹ nữa sang Việt Nam. Ông đưa ra một khái niệm mới cho nền chính trị của chiến tranh và can thiệp quân sự: “Hiện đã rõ ràng hơn bao giờ hết là sự trải nghiệm bằng máu của Mỹ ở Việt Nam đang mắc kẹt trong tình thế không lối thoát”.

Trước Tết Mậu Thân, người Mỹ chỉ nhìn nhận hoạt động chiến tranh trong hai khái niệm thắng – thua, biểu thị bằng con số: Đếm được nhiều xác “địch” hơn, kiểm soát được nhiều lãnh thổ hơn. Từ sau 27-2-1968, trong từ điển quân sự Mỹ xuất hiện một từ mới: Stalemate, có nghĩa là thế bí, là tiến thoái lưỡng nan, bó tay, lạc nước… Còn một thuật ngữ nữa hình thành trong thời kỳ cuối 1967 – đầu 1968 là “Việt Nam-cuộc chiến trên truyền hình”.

Tháng 6-2011, đã xuất bản cuốn Không có chiến thắng rõ ràng: Đo đếm hiệu lực và tiến bộ của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Tác giả G.Đát-đi (G.Daddis) đã dùng thuật ngữ của Cron-kai-tơ, đặt tên cho Chương 6 của sách là Năm của cuộc tiến công Tết: Thắng lợi, Thất bại, hay Bế tắc? Theo G.Đát-đi, Mỹ thất bại ở Việt Nam vì thứ nhất, các nhà chiến lược chỉ chú trọng thu thập dữ liệu mà không tập trung vào phân tích dữ liệu, đồng thời, quân đội Mỹ sản xuất tới 14.000 pound (gần 7 tấn) báo cáo trong một ngày, một số lượng quá lớn để có thể phân tích hiệu quả; thứ hai, do quân Mỹ đã đo lường sai các chỉ tiêu thắng lợi và do nhầm lẫn về… thuật ngữ, chẳng hạn, khái niệm tiến triển (progress) và hiệu quả (effectiveness) là khác nhau.

Quên mình dẫn dắt nhận thức

Một phóng sự truyền hình của Cron-kai-tơ trên kênh CBS được nhiều người Mỹ ghi nhớ là “Danh dự, nghĩa vụ và một cuộc chiến tranh được gọi là Việt Nam”, được ông thực hiện ở Hà Nội năm 1985 về bài học chiến tranh Việt Nam đối với nước Mỹ. Tờ Thời báo Niu Y-oóc có nhận xét rằng, các bức ảnh về “người đáng tin cậy nhất nước Mỹ” ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh 10 năm sau khi chiến tranh kết thúc cho thấy ông thật trầm tư mặc tưởng.

Thời báo Niu Y-oóc nhận thấy, các bài về chiến tranh Việt Nam của CBS, thường do Cron-kai-tơ không hẳn nói về chiến tranh, mà nói đến cảm nhận về nó, rằng các phóng sự Việt Nam của ông thường “nghiêm trang”, thậm chí nhuốm màu “tang tóc”. Và tờ báo cũng nhắc lại rằng, Cron-kai-tơ nhiều lần nói nước Mỹ đã thua, rằng Việt Nam là “thất bại quân sự duy nhất của nước Mỹ”. Bài viết này được xuất bản năm 1985, nhận xét rằng, Cron-kai-tơ luôn mong người Mỹ nuôi hy vọng rằng sẽ không còn một (chiến tranh) Việt Nam nữa, rằng ông muốn Chính phủ Mỹ phải hỏi ý kiến dân trước khi đưa lính Mỹ dấn vào các cuộc viễn chinh.

Nhưng vẫn còn những phái “diều hâu” tới nay vẫn chưa vỡ lẽ tại sao quân đông tướng mạnh mà chính quyền Giôn-xơn phải đề xuất thương lượng để cầu hòa. Vẫn còn những khẳng định Mỹ “thắng về quân sự”, cụ thể về “đếm xác”, về số chiến dịch được tiến hành, số đạn pháo được bắn, số trận phục kích được thực hiện… Vì thế, từ đầu thiên niên kỷ mới, đã xuất hiện những cuộc chiến của Mỹ ở Áp-ga-ni-xtan và I-rắc. Chúng nhanh chóng trở nên không có lời giải và truyền thông Mỹ đã phải “chế” thêm những thuật ngữ mới, như VietIstan, hay AfganisNam, IraqiNam… đồng nghĩa với từ sa lầy, bó tay mà Cron-kai-tơ đã đưa ra từ thời Tết Mậu Thân.

Lê Thành
qdnd.vn

Tết Mậu Thân 1968 – 2013: Mùa xuân năm ấy

(Dân trí) – Kết thúc chiến dịch X2, tôi được cấp trên tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng 3 và được tập thể đơn vị chọn đi báo cáo điển hình ở Đại hội chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Đà.

Đại hội xong, tôi mới vừa về đến đơn vị Đặc công tiểu đoàn 489, thì được cấp trên điều sang nhận nhiệm vụ đặc biệt, với chức vụ Đại đội trưởng đại đội Đặc công biệt động (Lê Độ) vào Đà Nẵng hoạt động đơn tuyến hợp pháp, nhiệm vụ được giao là điều tra một số cơ quan đầu não của Mỹ – Ngụy ở Quảng Nam – Đà Nẵng.

Hoạt động được một thời gian, tôi trở ra vùng giải phóng gặp đồng chí Phạm Như Hiền (Kim) quận đội trưởng quận 2 Đà Nẵng để báo cáo kết quả những việc đã làm và nhận lệnh khẩn trương chuẩn bị cho chiến dịch mùa xuân Kỷ Dậu.

Báo cáo và nhận lệnh xong, với giấy thông hành hợp pháp, tôi về lại Đà Nẵng vào những ngày thời gian sắp gõ cửa nàng xuân. Hoa mai vàng cùng với các loài hoa khác nở rộ, khoe sắc, đua màu như để đón chào một mùa xuân mới.

Năm đó, lần đầu tiên trong quãng đời binh nghiệp của mình, tôi phải ăn tết xa đồng đội: ở nơi đô thành hoa lệ, nơi sào huyệt của quân thù ở vùng I chiến thuật, nơi mà bọn chúng từng rêu rao “bất khả xâm phạm” đối với “Việt cộng”.

Nhưng chính nơi này, chúng đã kinh hồn, khiếp vía, phải chui rúc, náu mình vào các hầm ngầm cố thủ. Vì những tiếng súng của quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng, cùng với tiếng súng của quân và dân toàn miền Nam trong đợt tổng tiến công nổi dậy đêm giao thừa của Tết Mậu Thân 1968 và các chiến dịch kế tiếp. Nên tết này, chúng ra sức bố phòng rất nghiêm ngặt, sợ Việt cộng lặp lại mùa xuân năm trước.

Chiều 30 Tết, tôi xuất hiện trên đường phố Đà Nẵng với bộ binh phục rằn ri của lính biệt động, mang lon thiếu uý, đi honda trong thành phố, qua các nơi: khách sạn Đà Nẵng, nơi có nhiều lính Mỹ đồn trú, Nha cảnh sát Trung phần, Ty cảnh sát Gia Long để quan sát, kiểm tra về cách bố phòng của chúng trong dịp Tết.

Sau đó tôi chạy thẳng đến chợ Vườn Hoa, chọn mua một cành hoa mai, chạy ra đường Thống Nhất (nay là Lê Duẩn) vào nhà ông Võ Xuân Định và bà Lê Thị Dưa (cháu của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn) ở số 90B, là cơ sở cách mạng. Chủ nhà nhận cành mai đặt ở phòng khách ngày Tết, cài lên cành mai vàng những thiếp Cung chúc Tân Xuân.

Bữa cơm chiều 30 đón ông bà xong, chủ nhà dẫn tôi lên tầng 2 đưa cho tôi một chiếc radio nhỏ. Tắt điện, rồi bước nhanh xuống tầng dưới, tôi nằm áp sát máy vào tai, lắng nghe những bài hát ngợi ca Đảng, ngợi ca mùa xuân bất tận, mà lòng nao nao, mong sao chóng đến giờ giao thừa, để nghe Bác Hồ chúc tết.

Bỗng tiếng chuông đồng hồ ở phòng dưới reo lên như “tiễn chân” năm cũ. Tiếng Bác Hồ ấm áp vang xa:

Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến ắt càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào
Tiến lên chiến sĩ, đồng bào
Bắc – Nam sum họp xuân nào vui hơn.

Tôi không cầm được nước mắt, vì quá xúc động với những lời thơ chúc tết của Bác Hồ. Đó là mệnh lệnh, tiếng kèn xông trận trên khắp các chiến trường miền Nam, là niềm tin tất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

Tôi càng thấy trách nhiệm của mình rất nặng nề, phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của trận tuyến ngầm mà cấp trên đã giao phó để góp phần nhỏ bé của mình vào cuộc kháng chiến vĩ đại của toàn dân, sớm đón Bác vào thăm miền Nam. Nhưng có ngờ đâu, lần chúc tết năm đó cũng là tết cuối cùng của Bác trước lúc đi xa…

Sáng ngày mùng 1 tết, tôi mặc bộ veston thẳng tắp, với giấy thông hành là thương gia, giả đi chúc tết một số gia đình bà con tộc họ, nhưng thực ra là đi kiểm tra cơ sở, vũ khí và quân đã chuyển vào đến đâu, để đảm bảo cho trận đánh thắng lợi, khi có lệnh.

Sau khi cưỡi honda chạy quanh thành phố một vòng, soát xét lại toàn bộ tình hình địch, tối mùng 1 tết, tôi nhận được mật lệnh từ vùng giải phóng giao nhiệm vụ tiếp theo, tôi hợp pháp ra vùng giải phóng ở thôn 1, xã Điện Ngọc, gặp anh Phạm Như Hiền để báo cáo kế hoạch và kết quả công tác chuẩn bị.

Anh Hiền phê duyệt phương án tác chiến do tôi trình bày, rồi giao từng nhiệm vụ cụ thể, bổ sung thêm một số chi tiết trong phương án tác chiến và quy định giờ hợp đồng nổ súng. Chia tay anh, tôi trở lại Đà Nẵng.

Sáng mùng 5 tết, không khí vui tết, đón xuân vẫn còn ấm cúng trong mỗi gia đình, trầm hương nghi ngút trên bàn thờ tổ tiên, nhưng ngoài đường thì người đi vãn cảnh, du xuân rất ít. Vì khắp các nẻo đường, góc phố, ở đâu cũng có trạm kiểm soát giấy tờ và lục soát khi có nghi vấn của bọn cảnh sát dã chiến, làm cho không khí ngày xuân lắng xuống rất nhanh.

Trước giờ G (23 giờ) là giờ các chiến sĩ đặc công biệt động nổ súng, thì lúc 21 giờ, tôi chẳng may sa vào tay giặc, vì một tên phản bội chỉ điểm. Chúng đưa tôi vào giam ở sở an ninh quân đội để khai thác suốt một tuần, rồi chuyển tôi về giam ở Trung tâm thẩm vấn Thanh Bình.

Tên Lê Văn Tiến trưởng phòng thẩm vấn trực tiếp tra khảo, khai thác tôi. Dùng đủ ngón nghề ác độc, hòng bắt tôi phải khai ra những cơ sở cách mạng trong thành phố và kế hoạch hoạt động của ta trong mùa xuân này, nhưng tôi cắn răng chịu đựng những cực hình đòn roi thiếu sống, thừa chết.

Chúng không moi được lời nào của tôi ngay từ khi mới bị bắt, nên giờ G, các điểm nằm trong kế hoạch tác chiến đồng loạt nổ súng, làm cho kẻ địch bất ngờ với lối đánh “xuất quỷ, nhập thần” của đặc công biệt động.

Sau mấy ngày giam cầm, tên Tiến lại tra hỏi tiếp: Đêm giao thừa, mày có nghe thơ chúc tết của ông Hồ không?

Sao lại không – Tôi sảng giọng – Đối với những người cách mạng thì đó là mệnh lệnh, là niềm tin tất thắng để chiến đấu quét sạch bọn Mỹ xâm lược ra khỏi đất nước.

Nó lại hỏi tiếp: Mày tin à?

Sẽ có mùa xuân Bắc – Nam sum họp như lời thơ của Bác, chứ không như ông (tên phản bội) nên ông mới làm tay sai cho bọn Mỹ, can tâm bắt tôi tra tấn.

Nghe tôi trả lời vậy, tên Tiến nhột ý, vứt dùi cui xuống đất, kêu bọn cấp dưới đưa tôi về xà lim, rồi lần lượt đưa đi giam khắp các lao tù. Và cuối cùng mở phiên toà quân sự lưu động đặc biệt kết án tử hình.

Nhưng tôi kiên quyết đấu tranh với bọn chúng. Tôi nói: “Nều các ông xử tôi, thì lập tức các đồng đội của tôi sẽ bắt 2 tù binh Mỹ thế mạng”. Chắc chúng sợ quan thầy của chúng nên sau khi nghị án, chúng hạ mức tù xuống còn chung thân, đầy ra Côn Đảo “hưởng” trọn 5 “mùa xuân” tại phòng biệt giam cấm cố ở địa ngục trần gian.

Đến tháng 2/1974, theo Hiệp định Paris, tôi được chúng trao trả về với cách mạng, tham gia giải phóng thành phố Đà Nẵng trong mùa xuân đại thắng năm 1975.

Xuân Mậu Tý này là tròn 39 mùa xuân, nhân dân và tôi được hưởng những mùa xuân trong khung cảnh đất nước thành bình, tự do, không còn những mùa xuân u ám, súng nổ, bom rền của thời Mỹ – Ngụy nhưng tôi không làm sao quên được những kỷ niệm đẹp đẽ của đời mình trong mùa xuân năm ấy.

Phạm Thành Nghi
(Ghi theo lời Nguyễn Đình Tham kể)
dantri.com.vn

Cuộc chiến đấu giải phóng nhà lao Phủ Thừa

QĐND Online – Trong căn nhà nhỏ ở ngõ 365 phố Mai Dịch, Thiếu tướng Vũ Xuân Sinh, nguyên Chính ủy Trung đoàn 9, Chính ủy Quân đoàn 1, Hệ trưởng Hệ Quốc phòng (Học viện Quốc phòng) sau này, say sưa kể với tôi kỷ niệm đánh TP Huế hồi Tết Mậu Thân 1968. Ông tham gia đợt chiến đấu ấy với cương vị là Chính trị viên Đại đội 2 (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 9, Sư đoàn 968), lực lượng được Bộ điều động tăng cường cho K815 của Thành đội Huế.

22 dũng sĩ xóm Siêu Quần

Khoảng đầu tháng 10-1967, đơn vị chúng tôi gồm: Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3 đang đứng chân ở sông Hai Gánh, phía Tây của TP Huế thì được trên phổ biến, thời gian tới sẽ đánh vào TP Huế. Nghe phổ biến như vậy ai trong chúng tôi cũng vui. Những ngày sau đó, chúng tôi tích cực làm công tác chuẩn bị với khí thế rất cao. Chúng tôi đi xuống Hương Thủy để lấy gạo, đạn và vũ khí. Đơn vị tổ chức tập huấn quán triệt nhiệm vụ, đồng thời huấn luyện bổ sung các hình thức chiến đấu. Đội ngũ cán bộ được phổ biến kỹ về các mục tiêu tác chiến và các yêu cầu phối hợp thực hiện nhiệm vụ. Tiểu đoàn 1 của tôi được giao đảm nhiệm tiêu diệt khu vực Tam giác Huế, bao gồm các mục tiêu: Nhà ga, Tòa nhà quốc hội Trung phần (bây giờ là khách sạn Thuận Hóa), Dinh tỉnh trưởng và nhà lao Phủ Thừa, hỗ trợ cho quần chúng nhân dân nổi dậy.

Thiếu tướng Vũ Xuân Sinh say sưa kể chuyện

Chúng tôi vốn chẳng lạ kiểu tác chiến của bọn Mỹ, ngụy. Vì Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3 đã được điều động vào tăng cường cho K815 của Thành đội Huế từ tháng 12-1966. Từ lúc vào Huế cho đến khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 diễn ra, đơn vị chúng tôi ở cùng dân; cùng dân chống càn, chống bình định và nhổ chốt. Chúng tôi đã nhiều lần chạm chán với quân Mỹ, điển hình là trận đánh lại 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ có pháo binh, xe tăng, cơ giới yểm trợ càn vào làng Siêu Quần (xã Phong Hòa, huyện Phong Điền) của Trung đội 6, Đại đội 2 chúng tôi các ngày từ 20 đến 23-7-1967. Trung đội 6 lúc đó có 22 người mà đã đẩy lùi nhiều đợt tiến công của địch, thu nhiều vũ khí trang bị. Sau mỗi đợt tiến công không có kết quả, địch lại cho pháo kích dội xuống làng Siêu Quần. Trước đó, nhân cơ hội bộ binh địch rút ra ta cũng bí mật rút theo, nên khi địch bắn pháo ta không bị thương vong. Khi địch chuẩn bị tiến công, ta rút về trước củng cố công sự trận địa và đánh lại chúng. Đêm đến, khi địch cố thủ trong các các vị trí dã chiến, ta tổ chức lực lượng đánh tiêu diệt và lại nhanh chóng rút đi. Kết thúc 3 ngày chống càn, 22 cán bộ, chiến sĩ Trung đội 6 đã tiêu diệt nhiều xe tăng bọc thép của quân địch nhưng nhiều chiến sĩ đã bị thương và hy sinh. Sau này, Quân khu Trị Thiên tuyên dương công lao của Trung đội 6, phong họ là “22 dũng sĩ xóm Siêu Quần”.

Phá nhà lao Phủ Thừa

Chiều 31-1-1968, đơn vị tôi bí mật hành quân vượt sông Nguyễn Biểu (một nhánh của sông Hương) sau đó lại bí mật vòng tránh để vượt đồn Nam Giao, vượt cầu An Cựu và vào Lăng Gia Long (phía Tây Huế) trú quân. Rạng sáng ngày 1-2-1968, đơn vị chúng tôi nổ súng tiến công địch. Đến trưa cùng ngày, Đại đội 1 và 3 của Tiểu đoàn 1 chiếm được nhà ga Huế và Tòa nhà quốc hội Trung phần. 6 giờ ngày 1-2, Đại đội 2 của tôi đánh chiếm và cắm được cờ giải phóng trên nóc Dinh tỉnh trưởng, sau đó chúng tôi đột phá nhà lao Phủ Thừa, nhưng không thành công do ta chưa nắm chắc được nguyên tắc bố phòng của địch.

Theo cơ sở báo cho ta thì nhà lao Phủ Thừa là nơi giam giữ khoảng hơn 2.200 người và có khoảng 100 cai ngục, ác ôn, lính bảo vệ. Đặc biệt, chúng đã gài bọc phá khắp nhà lao, nếu bị đánh mạnh, chúng sẽ cho nổ, tiêu diệt toàn bộ tù nhân và phá hủy nhà lao. Nhà lao có nhiều lớp hàng rào kiên cố bao bọc xung quanh, có hệ thống bốt canh và đại liên từ trên cao đánh xuống, rất lợi hại. Đến tối ngày 1-2, chúng tôi đánh thăm dò một lần nữa, nhưng vẫn không có kết quả. Từ sáng ngày 2-2, chúng tôi đã nhiều lần nghiên cứu và bàn phương án tác chiến, nhưng chưa lựa được phương án khả thi. Tối ấy, vào khoảng 20 đến 21 giờ, chúng tôi quyết định cử 1 tổ trinh sát gồm 7 đồng chí, do Phó đại đội trưởng Phạm Văn Nhang chỉ huy bí mật đi trinh sát. Rất may, sau đó chúng tôi bắt được một tên lính ngụy từ trong nhà lao trốn ra ngoài. Sau khi khai thác, chúng tôi đã động viên được tên này dẫn đường vào trong nhà lao. Phương án là cho 1 tiểu đội, do đồng chí Nhang trực tiếp chỉ huy vượt tường rào vào trong nhà lao. Tiểu đội được chia làm 2 tổ, tổ 1 đánh chiếm khu chỉ huy nhà lao; tổ 2 đánh ra cổng chính, hỗ trợ lực lượng chủ yếu mở cổng và tiến vào giải phóng tù nhân. Hiệu lệnh hiệp đồng là tiếng nổ ở bên trong.

Khoảng 3 giờ sáng ngày 3-2, chúng tôi triển khai đội hình xong. Gần 4 giờ sáng, khi bộc phá do tổ 2 bí mật gài ở trong nổ, bộ binh ở bên ngoài đánh mạnh vào cổng chính. Khi mở được cổng chính chúng tôi tràn vào, phối hợp với lực lượng bên trong tiêu diệt bọn địch. 30 phút sau chúng tôi mở được cửa các phòng giam tù nhân trong nhà lao. Tại đây, sau nhiều lần kêu gọi, các tù nhân mới ngóc đầu dậy và chỉ khi nhìn thấy quần áo; cờ đỏ, xanh quấn ở cánh tay trên các chiến sĩ quân giải phóng thì các tù nhân mới dám đứng lên. Vì bọn địch quy định, khi nghe tiếng súng, tất cả các tù nhân phải nằm úp mặt xuống đất, nếu ai ngẩng đầu lên sẽ bị bắn. Toàn bộ tường của các phòng đã bị địch ốp thuốc nổ, nếu tù nhân ồn ào là chúng điểm hỏa, từ nhân sẽ bị giết hại. Sau khi được giải phóng, các tù nhân đi tìm lính canh, cai ngục và ác ôn để tiêu diệt, chúng tôi phải liên tục ngăn cản, tuyên truyền, giải thích gần 4 giờ đồng hồ rất mệt mỏi thì các tù nhân mới thông; thành ra nhiệm vụ của chúng tôi lúc này là bảo vệ bọn binh lính, cai ngục và ác ôn.

Đến sáng 3-2, lực lượng của Tiểu đoàn 1 và Thành đội Huế kéo đến, chúng tôi phải ghi tên, phân loại tù nhân; tuyên truyền chính sách của Mặt trận giải phóng; động viên họ phát hiện, tố cáo ác ôn và tham gia cùng lực lượng quân giải phóng chiến đấu. Có rất nhiều người tham gia vào các đơn vị phục vụ và trực tiếp làm nhiệm vụ chiến đấu, riêng Đại đội 2 của tôi tiếp nhận thêm khoảng 70 người. Từ ngày 4 -2 trở đi, địch bắt đầu tổ chức phản kích quyết liệt, chúng tôi đã chiến đấu ngoan cường, chống lại hỏa lực và lực lượng địch đông gấp nhiều lần trong điều kiện hết sức khó khăn, thiếu đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men và cả nước uống. Trong thời gian ấy, có nhiều tấm gương chiến đấu rất dũng cảm, như đồng chí Khiêm, chiến sĩ B40, có ngày bắn tới 9 quả đạn (vượt 4 – 5 quả so với quy định) đến độ ù tai, người ngơ ngác. Đến ngày 24 và 25-2, chúng tôi rút khỏi TP Huế, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trên giao.

Thiếu tướng VŨ XUÂN SINH (kể)MẠNH THẮNG (ghi)
qdnd.vn

Nghệ thuật tạo bất ngờ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968)

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) là một trong ba đòn Tiến công chiến lược của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nó đã gây cú “sốc đột ngột”, làm đảo lộn thế bố trí, phá vỡ kế hoạch tác chiến của Mỹ; làm rung chuyển không chỉ toàn bộ chiến trường miền Nam, mà còn gây chấn động Nhà trắng, Lầu năm góc và làm lay chuyển ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Tổng thống Mỹ Giôn-xơn phải cách chức Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam; đồng thời, xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam tại Pa-ri. Về cá nhân, Giôn-xơn tuyên bố không tham gia ứng cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ 2. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) về cơ bản đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, mở ra khả năng và cục diện mới cho quân và dân ta thực hiện quyết chiến chiến lược “đánh cho Mỹ cút”, tiến tới “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào mùa Xuân 1975. Thắng lợi đó có nhiều nguyên nhân và để lại nhiều bài học quý. Xét về lĩnh vực quân sự, đó là bài học nghệ thuật tạo bất ngờ trên cả ba phương diện: chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật.

Bộ đội hành quân trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. (Ảnh tư liệu)

Trước hết là sự chuẩn bị chu đáo về lực lượng và vũ khí trang bị. Đây là điều kiện tiên quyết để ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân với quy mô lớn trên toàn miền Nam, trong đó tập trung vào các thành phố, đô thị. Vì thế, yêu cầu đặt ra là phải có lực lượng quân sự tinh nhuệ, lực lượng đấu tranh chính trị hùng hậu, rộng khắp và khối lượng lớn vũ khí, trang thiết bị quân sự… Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, các sư đoàn chủ lực dự bị cơ động chiến lược (308, 304, 320, 312) được gấp rút kiện toàn về tổ chức, biên chế, trang bị, đẩy mạnh huấn luyện để sẵn sàng vào chiến trường khi có lệnh. Các trung đoàn, sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng từ nhiều nơi trên chiến trường miền Nam bí mật hành quân “ém sẵn” ở các địa bàn ven đô. Riêng khu vực Sài Gòn, Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn – Gia Định, thành lập “Khu trọng điểm” gồm nhiều phân khu (Tiểu đoàn mũi nhọn) được tổ chức và trang bị gọn nhẹ; trong đó, biên chế nhiều tổ, đội biệt động, đặc công, bảo đảm cho các lực lượng vừa có mũi nhọn, vừa có chiều sâu tiến công đồng loạt từ nhiều hướng vào Sài Gòn… Bên cạnh đó, việc đảm bảo lương thực, thực phẩm, vũ khí, trang bị kỹ thuật cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy (từ miền Bắc chuyển vào) được chuẩn bị hết sức chu đáo. Trong nội đô, nhiều tổ chức – cơ sở cách mạng của ta đã sử dụng các phương tiện vận tải (ô tô, xuồng máy) hợp pháp, đêm ngày bí mật chuyển lương thực, thuốc men ra vùng giải phóng và nhận súng đạn đưa về nội đô… Với chiến thuật “thiên biến vạn hóa” đó, chúng ta đã đưa một lực lượng bộ đội chủ lực cùng với khối lượng lớn vũ khí, trang bị quân sự vượt qua hệ thống trạm kiểm soát và mạng lưới mật vụ, biệt kích, thám báo chìm, nổi dày đặc của địch, vào “lót sẵn” trong nội đô. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình, táo bạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân (thậm chí có cả vợ, con của sĩ quan ngụy) trong các thành phố, thị xã đã nhiệt tình ủng hộ, che chở, đùm bọc lực lượng cách mạng. Họ bí mật đào những căn hầm chứa vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự ngay dưới nền nhà của mình; nhiều bà má, chị, em không quản gian khổ, hiểm nguy, hy sinh để vận chuyển vũ khí vào thành phố… Nhờ đó, các lực lượng của ta với đầy đủ vũ khí, trang bị đã “nằm sẵn” trong lòng thành phố, thị xã, quận lỵ sẵn sàng chờ lệnh nổ súng tiến công tiêu diệt địch. Những việc làm trên được khắc ghi trong sử sách là minh chứng sống động về nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, mà biểu hiện cụ thể của nó là tạo bất ngờ cả về thế và lực đối với địch.

Tạo bất ngờ về thời điểm tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Chọn dịp Tết Nguyên Đán và thời khắc giao thừa1 đồng loạt nổ súng mở màn là nét đặc sắc của nghệ thuật tạo bất ngờ; bởi đây là lúc địch sơ hở và chủ quan nhất. Cân nhắc, nghiên cứu và tính toán rất kỹ, cụ thể từng chi tiết, phong tục tập quán Tết cổ truyền của dân tộc trên đất phương Nam; việc “điều binh, khiển tướng” của Quân lực Việt Nam cộng hòa từ nhiều năm trước đó, sau khi có sự thống nhất giữa cơ quan chỉ đạo tối cao và chỉ huy các chiến trường, Bộ thống soái quyết định chọn thời điểm Giao thừa là “giờ G” làm hiệu lệnh nổ súng mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Với sự tính toán mưu lược chu tất như vậy, nên khi ta tiến công, địch hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp đối phó. Ngay sau khi sự kiện Tết Mậu Thân diễn ra, giới chỉ huy quân sự và học giả Mỹ cũng như phương Tây đã xác nhận: Vào những ngày Tết Mậu Thân, các đơn vị của Quân đội Việt Nam cộng hòa chỉ có một nửa quân số, khiến cho Bộ Chỉ huy Quân sự Mỹ ở Sài Gòn vô cùng lúng túng trong việc ứng phó. Từ thực tế đó, càng khẳng định: việc chọn thời điểm Tết Nguyên Đán mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân có ý nghĩa chiến lược, góp phần tạo bất ngờ về thời gian – yếu tố quan trọng làm nên thắng lợi của Xuân Mậu Thân. Vì thời gian là lực lượng.

Tạo bất ngờ về hướng và mục tiêu tiến công chủ yếu. Vào thời điểm trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, địch còn rất mạnh cả về thế và lực, nên chúng ta không thể sử dụng toàn bộ lực lượng chủ lực để đánh vào các thành phố lớn. Do vậy, chủ trương của Đảng ta là căng, kéo, lừa địch trải lực lượng ra khắp chiến trường miền Nam, nhất là đến địa bàn có lợi để dùng những quả đấm mạnh đánh những đòn tiêu diệt lớn, bẻ gãy các cuộc hành quân “tìm diệt” của chúng. Thực hiện chủ trương đó, cuối năm 1967, Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch tiến công Đường 9 – Khe Sanh2, nhằm dụ quân Mỹ lên để giam chân và tiêu diệt chúng tại đó, tạo ra kẽ hở, điểm yếu ở các đô thị. Trong khi đó, giới chức chỉ huy quân sự Mỹ và Sài Gòn cho rằng bộ đội chủ lực ta có rất ít kinh nghiệm tác chiến trong thành phố, lực chưa đủ mạnh để tiến công vào các cơ quan đầu não của chúng; bởi, đây là những mục tiêu được canh phòng cẩn mật, với hệ thống thiết bị cảnh giới tinh vi, hỏa lực ngăn chặn mạnh và dày đặc nhiều tầng, nhiều lớp. Từ đánh giá sai về ta, lại “tuyệt đối hóa” sức mạnh của vũ khí, thiết bị chiến trường, nên từ chỉ huy đến binh sĩ của quân đội Mỹ cũng như quân đội ngụy chủ quan, mất cảnh giác. Do vậy, chọn đô thị là hướng tiến công chủ yếu là ta đã chọn đánh vào điểm yết hầu, hiểm yếu của kẻ thù. Đòn hiểm đó đã phơi bày sự thất bại về quân sự và sự yếu kém của Mỹ và chính quyền ngụy. Lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta đã đưa được chiến tranh vào đô thị, thực hiện một đòn đánh hiểm, đánh đau vào “trung tâm đầu não” của địch; đồng thời, khẳng định: với đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo của Đảng thì mọi điều đều có thể xảy ra, dù khó khăn, phức tạp đến mấy. Đó chính là tư duy chiến lược, chiến thuật của những bộ não chỉ huy và trực tiếp điều hành chiến tranh thời đại Hồ Chí Minh; sự sáng tạo, độc đáo, vượt trước của Đảng ta trong cuộc đấu mưu, đấu trí sinh tử với kẻ thù. Sau thảm bại trong Tết Mậu Thân, với tâm trạng hoang mang, dao động, nhiều giới chức quân sự và chính khách Mỹ đã tự hỏi: Tại sao nửa triệu lính Mỹ và hơn 70 vạn lính Nam Việt Nam cộng tác, có ưu thế hoàn toàn trên không và ngoài biển, được cung cấp quá đầy đủ và được trang bị những vũ khí hiện đại nhất lại không có khả năng bảo vệ được thành phố khỏi bị đối phương tấn công! Chính nội dung câu hỏi đã lộ rõ và thừa nhận về sự bị động và bất ngờ của quân Mỹ – lực lượng đóng vai trò chủ chốt trong chiến lược “chiến tranh cục bộ”.

Ngoài ra, nét độc đáo về nghệ thuật tạo bất ngờ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân còn được thể hiện ở cách thức phát hiệu lệnh tiến công. Để bảo đảm bí mật, bất ngờ tuyệt đối, hiệu lệnh khởi phát cuộc Tổng tiến công Tết của ta được ấn định vào thời điểm giao thừa, lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thơ chúc mừng năm mới trên Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, một phương tiện thông tin đại chúng, có độ lan tỏa rộng, nhanh và ít bị địch chế áp, theo dõi. Vì thế, Lời chúc Tết Mậu Thân của Bác trở thành một sự kiện gây bất ngờ đối với quân thù. Như vậy, hiệu lệnh của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân cũng thực sự là một hiện tượng thật đặc sắc, góp thêm một bất ngờ nữa đối với Mỹ và Quân đội Sài Gòn.

Tóm lại, nghệ thuật tạo bất ngờ đối với Mỹ và Quân đội Việt Nam cộng hòa thực sự là một trong những nhân tố đóng vai trò quyết định thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Đây là “sản phẩm đặc biệt” của tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh; nét đặc sắc đáng ghi nhớ nhất, hấp dẫn nhất của sự kiện Tết Mậu Thân đã diễn ra cách đây 45 năm, trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Bài học kinh nghiệm về nghệ thuật tạo bất ngờ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) nói riêng, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, vẫn mãi giữ nguyên giá trị để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Đại tá, TS. NGUYỄN HUY THỤC
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
tapchiqptd.vn

—————
1 – Đêm 30 rạng ngày 31-01-1968 – đêm giao thừa và ngày Mùng 1 Tết Mậu Thân.
2 – Chiến dịch bắt đầu từ ngày 20-01-1968.

Bước phát triển nghệ thuật tác chiến của xe tăng và chỉ huy tác chiến binh chủng hợp thành

Chiến thắng Tà Mây-Làng Vây

QĐND – Cách đây 45 năm, Bộ đội Tăng thiết giáp (TTG) đã lập chiến công kỳ diệu-đánh thắng trận đầu ở Tà Mây – Làng Vây.

Theo xu hướng phát triển của cách mạng, Trung đoàn xe tăng đầu tiên của quân đội ta (Trung đoàn 202) được thành lập và ngày 5-10-1959 trở thành ngày truyền thống của Binh chủng TTG. Thời gian huấn luyện, chuẩn bị, chờ đợi ở miền Bắc khá dài, nên cán bộ, chiến sĩ TTG rất mong được vào Nam chiến đấu. Đến cuối năm 1967, Binh chủng đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về tổ chức và lực lượng. Đầu năm 1968, khi ta mở chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, Bộ Tổng tham mưu quyết định sử dụng lực lượng TTG tham gia chiến dịch. Đảng ủy Binh chủng Thiết giáp thành lập Tiểu đoàn 198 xe tăng lội nước PT-76, gồm các Đại đội tăng 3 (Tiểu đoàn tăng 1) và Đại đội tăng 9 (Tiểu đoàn tăng 3) thực hiện nhiệm vụ vinh dự này. Đặc biệt, khi được giao nhiệm vụ tăng cường cho sư đoàn bộ binh tiến công địch tại các cứ điểm Tà Mây-Làng Vây, bộ đội TTG đã chuẩn bị rất chu đáo, nhằm bảo đảm đánh chắc thắng, đạt được các mục tiêu chiến dịch.

Qua hơn 50 ngày đêm hành quân, vượt chặng đường dài gần 1.500km (từ Lương Sơn, Hòa Bình), qua nhiều vùng dân cư và nhiều trọng điểm địch đánh phá ác liệt, Tiểu đoàn 198 đã tập kết chiến dịch tại Đường 9-Nam Lào. Địch không hề biết về sự có mặt của tiểu đoàn xe tăng đầu tiên trên chiến trường và không biết bằng cách nào ta có thể đưa được xe tăng vượt núi rừng Trường Sơn trùng điệp, hiểm trở, áp sát căn cứ địch.

Xe tăng 555 tham gia hiệu quả các trận đánh Tà Mây và Làng Vây. Ảnh tư liệu.

Đêm 23, rạng sáng 24-1-1968, Đại đội tăng 3 phối thuộc cho Trung đoàn bộ binh 24, Sư đoàn 304 tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Huội San, do một tiểu đoàn quân ngụy Lào chiếm giữ, trọng tâm là cứ điểm Tà Mây. Hỏa lực trên xe tăng đã bắn sập lô cốt và diệt các hỏa điểm địch, tạo điều kiện cho xe tăng cùng bộ binh, công binh xung phong đánh thẳng vào bên trong, nhanh chóng làm chủ trận địa. Tiếp đó, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định đưa Tiểu đoàn 198 vào tham gia chiến đấu cùng Trung đoàn bộ binh 24 (Sư đoàn 304) và một tiểu đoàn của Sư đoàn 325, thực hiện đánh trận then chốt, tiêu diệt cứ điểm Làng Vây – một cứ điểm mạnh, rất quan trọng trong hệ thống phòng thủ đường 9 của Mỹ-ngụy.

Đúng 17 giờ ngày 6-2-1968, trận tiến công cứ điểm Làng Vây bắt đầu. Trên hướng tiến công chủ yếu, Đại đội tăng 9 lợi dụng dòng sông Sê-pôn, tập kết bí mật ở làng Troài và bất ngờ tiến công cứ điểm Làng Vây. Trên hướng thứ yếu, Đại đội tăng 3 xuất kích theo đường 9, đánh thẳng vào các đại đội biệt kích 102 và 103 của quân ngụy. Sau 4 giờ chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, ta đã tiêu diệt gọn một tiểu đoàn ngụy. 3 giờ sáng 7-2-1968, xe tăng và bộ binh ta đã làm chủ cứ điểm Làng Vây.

Trong trận Làng Vây, bất ngờ lớn nhất đối với địch là hướng tiến công vì chúng cho rằng, xe tăng ta chỉ có thể vận động theo Đường 9 (từ hướng Tây), nên đã tập trung lực lượng đánh phá, ngăn chặn. Về phía ta, ngoài hướng tiến công từ phía Tây theo trục Đường 9, ta đã nghiên cứu lợi dụng sông Sê-pôn, bí mật đưa xe tăng vào hướng Nam căn cứ địch, đánh đòn hiểm, khiến địch hết sức bất ngờ, bị động, nhanh chóng bị phá vỡ thế trận. Sau 4 giờ chiến đấu, xe tăng cùng bộ binh đã tiêu diệt gọn một tiểu đoàn ngụy phòng ngự trong công sự vững chắc trên điểm cao, diệt và bắt sống gần 600 tên địch, thu toàn bộ vũ khí trang bị.

Tà Mây-Làng Vây là trận đánh đầu tiên hiệp đồng quân, binh chủng có xe tăng tham gia; hiệp đồng nhịp nhàng, ăn khớp giữa xe tăng với xe tăng, xe tăng với bộ binh, tiêu diệt từng cứ điểm địch; đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể giữa lực lượng TTG và các quân, binh chủng bạn. Nghệ thuật sử dụng TTG rất độc đáo, đó là lợi dụng dòng sông Sê-pôn để cơ động lực lượng và tạo bất ngờ lớn, chứng tỏ bước trưởng thành của bộ đội TTG về tổ chức chỉ huy và khả năng sử dụng VKTB hiện đại; khẳng định sức mạnh đột kích của xe tăng trên chiến trường. Qua trận Tà Mây-Làng Vây tạo cơ sở thực tiễn cho sự hình thành nghệ thuật sử dụng TTG trong chiến dịch, từ tổ chức hành quân đường dài, đến triển khai cơ động lực lượng, giữ bí mật bất ngờ, chọn mục tiêu, chọn hướng, cách đánh, tổ chức hiệp đồng bảo đảm; tiến hành công tác chính trị tư tưởng, hậu cần, kỹ thuật… Nghệ thuật chiến đấu của xe tăng trong trận Làng Vây là “bí mật, bất ngờ, chuẩn bị chu đáo, bảo đảm đầy đủ, mưu trí, sáng tạo, sử dụng tập trung, hiệp đồng chặt chẽ”. Ta đã vận dụng nguyên tắc sử dụng xe tăng tập trung trên hướng chủ yếu, mục tiêu chủ yếu, tham gia đánh trận then chốt chiến dịch, phát huy sức mạnh đột kích của xe tăng, phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với bộ binh, thực hành đột phá, thọc sâu, đánh thẳng vào trung tâm đầu não của địch, nhanh chóng phá vỡ thế phòng ngự của chúng.

Chiến thắng Tà Mây-Làng Vây còn bắt nguồn từ thế trận lòng dân. Cấp ủy, chính quyền, nhân dân nhiều địa phương đã phối hợp chặt chẽ, bảo đảm bí mật, che dấu, dẫn đường cho xe tăng cơ động, chiến đấu thắng lợi. Chiến thắng Tà Mây-Làng Vây mở đầu cho truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng” của bộ đội TTG, không chỉ có giá trị về nghệ thuật quân sự, mà còn tạo động lực to lớn về mặt tinh thần, cổ vũ, động viên, tạo tiền đề để bộ đội TTG đánh những trận sau giành thắng lợi lớn hơn. Đây cũng là cơ sở thực tiễn đầu tiên về nghệ thuật tác chiến của xe tăng, của chỉ huy tác chiến binh chủng hợp thành có xe tăng tham gia, là bài học quý được vận dụng, phát triển trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và là nguyên tắc tác chiến cơ bản, xuyên suốt cho hành động chiến đấu và chỉ huy chiến đấu của bộ đội TTG sau này.

Thiếu tướng HOÀNG TRUNG KIÊNTư lệnh Binh chủng Tăng-Thiết giáp
qdnd.vn

Bảo đảm kỹ thuật góp phần quan trọng trong cuộc Tổng tiến công

Kỷ niệm 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

QĐND – Trước tình hình chuyển biến ngày càng có lợi cho ta, sau thắng lợi đánh bại hai cuộc phản công chiến lược của Mỹ trong các mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chủ trương tập trung lực lượng tiến công đồng loạt, bất ngờ vào các đô thị, hướng trọng điểm là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và sử dụng chủ lực kìm chế, thu hút địch ở các chiến trường rừng núi (Trị Thiên, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ)… Cùng với việc nâng cao khả năng tác chiến của bộ đội chủ lực, Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng tập trung chỉ đạo công tác bảo đảm kỹ thuật cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Để chuẩn bị lực lượng, cơ sở vật chất kỹ thuật cho cuộc Tổng tiến công, Quân ủy Trung ương quyết định đẩy mạnh việc vận tải cơ giới trên tuyến chi viện chiến lược, kéo dài thêm cung vận tải ô tô vào đến Chà Văn chuyển hàng cho Khu 5, đồng thời tăng thêm lực lượng cao xạ, công binh, thông tin, bổ sung thêm xe vận tải cho Đoàn 559 lên đến 5.372 xe, số đơn vị vận tải tăng lên 5 tiểu đoàn. Đoàn 559 thành lập 9 binh trạm, xây dựng 2.959km đường ô tô chính, 445km đường trục phụ, 882km đường trục ngang, 576km đường vòng tránh, 450km đường vào kho. Toàn tuyến bước vào kế hoạch vận tải mùa khô 1967-1968 với khối lượng trên giao là 61.000 tấn, tăng gấp hai lần so với mùa khô 1966-1967.

Dân công Chợ Gạo (Mỹ Tho) tải đạn phục vụ chiến trường trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Trên chiến trường Nam Bộ, Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn – Gia Định để thành lập các phân khu. Mỗi phân khu đều tổ chức Phòng Hậu cần có nhiệm vụ bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật, đạn dược cho các LLVT chiến đấu trên địa bàn. Đảng ủy Cục Hậu cần Miền động viên cao độ toàn bộ lực lượng, phương tiện để tập kết vũ khí trang bị đến các địa điểm, bảo đảm thời gian cho các đơn vị theo kế hoạch đã định và chỉ đạo các đoàn hậu cần tích cực tiếp nhận, vận chuyển vũ khí về những địa điểm quy định, để dự trữ. Hậu cần Miền thành lập 8 đại đội vận tải cơ giới với 139 xe ô tô, 10 tiểu đoàn và 10 đại đội vận tải thồ với 4.412 xe đạp, 8 đại đội công binh làm đường. Tại miền Đông Nam Bộ, ta đã xây dựng được 500km đường vận tải cơ giới, 280km đường thồ xe đạp và 350km luồng vận tải đường sông. Tuyến tải 50 giao cho Phân khu 1 được 300 tấn, Phân khu 5: 105 tấn, Đoàn 83: 144 tấn; Tuyến tải 60 giao cho Phân khu 5: 142 tấn, thị xã Biên Hòa: 212 tấn, Sư đoàn 5: 41,5 tấn, tỉnh Bà Rịa: 25 tấn, Đoàn 81: 11,5 tấn; Tuyến tải 70 giao Phân khu 5: 98 tấn, Trung đoàn miền Đông: 21 tấn và để tại kho Đoàn 50: 155 tấn, kho Đoàn 82: 103 tấn. Số lượng vũ khí trên đã bảo đảm biên chế trang bị cho mỗi sư đoàn có 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm, mỗi trung đoàn có 18 khẩu B41, các đại đội có 9 khẩu B40; mỗi tỉnh được trang bị 70 khẩu B40, các tiểu đoàn tỉnh được trang bị phổ biến là ĐKZ 75, cối 82mm, trọng liên 12,7mm. Hậu cần các phân khu, đặc biệt là Phân khu 6 bí mật đưa vũ khí vào cất giấu ở 25 địa điểm trong nội đô Sài Gòn – Gia Định; riêng đơn vị A10 đã đưa vào nội thành 450kg thuốc nổ, 150 súng K54, AK, 3 khẩu cối 81mm và 1 khẩu ĐKZ với 90 quả đạn bằng 20 chuyến xe bò. Đến trước ngày nổ súng, Bộ tư lệnh Miền và các đoàn hậu cần đã huy động 1.080 người tham gia phục vụ chiến đấu và chuẩn bị được 5.079 tấn vũ khí, đạn dược; các LLVT được bổ sung 50.000 súng bộ binh, nhiều súng chống tăng B40, B41, đạn cối 120mm, đạn hỏa tiễn ĐKB, H12.

Trên chiến trường Khu 5, lực lượng kỹ thuật tiến hành bảo đảm trang bị mới cho Trung đoàn 557 pháo hỏa tiễn ĐKB, Trung đoàn Đặc công 401 độc lập… Lực lượng vận tải hành lang cùng lực lượng vận tải các đơn vị trực tiếp nhận vũ khí đạn tại tuyến chiến lược đưa thẳng về đơn vị. Các mặt trận, địa phương, đơn vị đều có hệ thống kho dự trữ, vũ khí đạn, hệ thống xưởng quân giới sản xuất, sửa chữa vũ khí… Từ các binh trạm hậu cần triển khai trên các địa bàn trước đây, hậu cần chiến trường Tây Nguyên phối hợp chặt chẽ với các tỉnh, các trung đoàn chủ lực tại các địa phương tổ chức tiếp nhận, lập các kho dự trữ vũ khí đạn dược chuẩn bị cho các hướng đánh vào các thị xã, thị trấn. Ở chiến trường Trị – Thiên, được Đoàn 559 trực tiếp chi viện, hậu cần Quân khu 5 đã tổ chức tiếp nhận hàng vạn tấn vũ khí, đạn dược và lập các kho dự trữ ở A Sầu, A Túc, Động Cô Tiên… bảo đảm trang bị cho các đơn vị tham gia chiến đấu (riêng ở Huế trang bị được 8 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn ĐKB, 3 tiểu đoàn đặc công và các đơn vị khác).

Ngoài ra, lực lượng kỹ thuật còn tiến hành bảo đảm tốt vũ khí, đạn dược cho bộ đội mở chiến dịch Đắc Tô – Tân Cảnh, chiến dịch Lộc Ninh – Đường 13, bảo đảm cho Sư đoàn 2 mở chiến dịch Quế Sơn. Đặc biệt, Tổng cục Hậu cần tiền phương, Đoàn 559 thực hiện bảo đảm cho chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh được 6.800 tấn vũ khí, đạn dược và các loại vật chất trang bị khác.

Đêm Giao thừa Tết Mậu Thân (đêm 30 rạng ngày 31-1-1968) quân và dân miền Nam bất ngờ, đồng loạt tiến công kết hợp với nổi dậy ở 4 thành phố (trọng tâm là Sài Gòn – Gia Định và Huế), 37 thị xã và hàng trăm quận lỵ, thị trấn; tập trung đánh vào nội thành và các cơ quan đầu não, các căn cứ hậu cần, sân bay, bến cảng lớn, nhiều sở chỉ huy cấp quân khu, quân đoàn, sư đoàn của địch… Trong quá trình chiến đấu, lực lượng bảo đảm kỹ thuật dựa vào nhân dân, theo sát các đơn vị chiến đấu tổ chức tiếp tế vũ khí, đạn dược, nhất là lực lượng đặc công, biệt động chiến đấu nhiều ngày trong thành phố, thị xã.

Hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một đóng góp quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu cho các lực lượng vũ trang giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, buộc Mỹ phải chấp thuận đàm phán với ta ở hội nghị Pa-ri… Đồng thời để lại nhiều kinh nghiệm về tổ chức, bảo đảm kỹ thuật cho các chiến dịch sau này.

NGÔ NHẬT DƯƠNG
qdnd.vn

“Đoàn kết là cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh”

Ông Alain Ruscio và phóng viên TTXVN trong cuộc phỏng vấn. (Ảnh : Tiến Nhất)

Nhân kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phóng viên TTXVN tại Pháp đã phỏng vấn nhà nghiên cứu sử học người Pháp Alain Ruscio, Chủ tịch Trung tâm thông tin tư liệu Việt Nam tại Pháp, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề thuộc địa Pháp và Đông Dương.

Ông Alain Ruscio cũng là tác giả của nhiều cuốn sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh và lịch sử cận đại Việt Nam.

Với tư cách là nhà sử học, ông đánh giá như thế nào về di sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc Việt Nam?

Alain Ruscio: Khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một bản Di chúc không chỉ mang tính nhân văn mà còn có ý nghĩa chính trị to lớn. Có thể nói bản Di chúc này thâu tóm tất cả trong một mong muốn to lớn mà Người luôn ấp ủ: đó là sự đoàn kết.

Người kêu gọi sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam trong thời kỳ cao trào của cuộc chiến tranh. Nhớ lại thời điểm trước khi Người mất một năm, giai đoạn sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, quân Mỹ đã rút ở một số nơi nhưng vẫn tiếp tục ném bom ở nhiều nơi khác. Bác Hồ đã kêu gọi nhân dân Việt Nam luôn luôn đoàn kết: đó là chìa khóa dẫn đến chiến thắng sau này mà Người luôn tin tưởng.

Sự đoàn kết trong Đảng cũng là điều Người mong muốn. Ở vào thời điểm chủ nghĩa tư bản tấn công, đó không phải là lúc để tranh cãi nội bộ mà trước hết cần phải nghĩ đến lợi ích Cách mạng. Thông điệp này của Người mang một ý nghĩa rất to lớn.

Cuối cùng là mong muốn của Người về sự đoàn kết trong phong trào cộng sản quốc tế.

Có ý kiến cho rằng tinh thần đoàn kết mà Bác Hồ đề cao trong Di chúc vẫn giữ nguyên giá trị của nó cho đến tận ngày nay, khi mà cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc đã kết thúc và đất nước đã bước vào giai đoạn xây dựng và phát triển. Ông nghĩ như thế nào về quan điểm này? 

Alain Ruscio: Tôi cho rằng đúng, sự đoàn kết, điều mong muốn của Hồ Chủ tịch, vẫn luôn có giá trị đối với nhân dân của ông ngay cả bây giờ. Trên thực tế, hiện nay ở Việt Nam có những người làm ra tiền, nhưng cũng còn nhiều người sống trong cảnh nghèo nàn. Tôi cho rằng không nên để hố sâu ngăn cách xã hội này rộng thêm.

Cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là nhân dân, các nhà lãnh đạo và các chiến sĩ Cách mạng Việt Nam cần phải tạo thành một khối thống nhất. Khái niệm “Đại Đoàn kết dân tộc” đóng vai trò hàng đầu trong tư tưởng Hồ Chí Minh và tôi nghĩ rằng đó cũng là mục tiêu đồng thời là mong muốn mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang hướng tới.

Trong các câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, câu nào ông tâm đắc nhất?

Alain Ruscio: Đó chính là câu trả lời mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với Tổng thống Mỹ Nixon vào năm 1966: “Không có gì quý hơn độc lập và tự do!”. Đây cũng chính là hai cụm từ dẫn đường cho xã hội Việt Nam. Độc lập dân tộc, các bạn đã giành được, còn tự do hiện đang luôn tiến triển.

Là chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, ông đánh giá như thế nào về sự phát triển của đất nước hiện nay?

Alain Ruscio: Rất ấn tượng! Tôi biết Việt Nam từ hơn 30 năm nay. Tôi đến Việt Nam hai năm một lần, thậm chí hàng năm, tùy thuộc vào từng giai đoạn và tôi thấy được những biến đổi về mọi mặt của đất nước này. Đó là một dân tộc cần cù, rất năng động, một dân tộc dù phải chịu nhiều đau thương và nghèo đói, nhưng luôn có ý chí vươn lên.

Tuy nhiên, việc xuất hiện sự chênh lệch xã hội và một số khó khăn, cái nghèo dai dẳng và nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đang khiến cho Việt Nam bối rối. Tăng trưởng của Việt Nam không cao như những năm trước và xuất khẩu thì bị sụt giảm. Tuy những điều này có gây ảnh hưởng, nhưng tôi vẫn nhìn thấy ở đất nước này một dân tộc luôn phát triển./.

Nhà sử học Alain Ruscio là chuyên gia nghiên cứu các vấn đề thuộc địa và Đông Dương. Từng là phóng viên thường trú báo Nhân đạo (L’Humanité) của Pháp tại Việt Nam giai đoạn 1978-1980, ông Ruscio rất ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã viết nhiều cuốn sách về Người.

Từ nhiều năm nay, ông luôn gắn bó với đất nước, con người Việt Nam thông qua nghiên cứu lịch sử Việt Nam, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam và Hồ Chủ tịch, trong đó có các tác phẩm đã được xuất bản như “Hồ Chí Minh,” “Sống ở Việt Nam,” “Việt Nam, lịch sử, đất nước, con người”…

Hiện nay, ông Alain Ruscio là Chủ tịch Trung tâm thông tin tư liệu Việt Nam tại thành phố Montreuil (Pháp). Được thành lập từ năm 1985, Trung tâm này là nơi tập trung nhiều nhất ở châu Âu những tài liệu về Việt Nam. Trung tâm đã và đang góp phần không nhỏ trong việc giới thiệu và quảng bá hình ảnh của Việt Nam ra với thế giới.

Nguyễn Thu Hà/Paris (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Di chúc màu xanh!

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

“Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân”

Bác Hồ

Trong cuốn sách “Hồ Chí Minh – Vĩ đại một con Người”, Giáo sư Trần Văn Giàu viết: “Con người là tinh anh của thiên nhiên, thiên nhiên như cha mẹ của con người. Nhưng không phải mỗi ai đều biết yêu thiên nhiên, đều biết gắn thiên nhiên với cuộc sống chiến đấu của mình. Cụ Hồ đem hết nghị lực của mình cho đấu tranh xã hội, ấy vậy mà Cụ Hồ vẫn gắn bó với thiên nhiên đằm thắm. Ở Cụ Hồ thiên nhiên là bạn tri âm”.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh có hai người bạn đời luôn cùng sống là con người và thiên nhiên”.

Năm 1959 Bác Hồ phát động Tết trồng cây, và từ đó Người thường xuyên theo dõi, nhắc nhở, động viên phong trào trồng cây cho đất nước xanh tươi.

Nhưng không phải chỉ có mùa xuân, Bác Hồ đã viết: “Tết trồng cây là ngày mở đầu cho việc trồng cây suốt cả năm”.

Nhìn những tấm ảnh Bác Hồ trồng cây ở khắp nơi, chúng ta đều thấy ánh mắt trìu mến và vui tươi, thể hiện một tình yêu cây của Bác.

“Vượt trùng dương chát mặn bốn phương trời
Bác thương nhớ từng bụi sim cằn cỗi
Mỗi cành lá quê mình xanh tiếng gọi
Bác trở về đất Mẹ – Bác trồng cây”

Đặc biệt, lúc sinh thời Bác Hồ đã trồng sáu cây đa. Cây đa đầu tiên Bác trồng mở đầu cho Tết trồng cây là ở Công viên Thống Nhất, Hà Nội. Và cây đa cuối cùng là ở xã Vật Lại, Ba Vì. Xin kể lại một vài sự tích về những cây đa Bác trồng.

Sáng ngày 31 tháng 1 năm 1965, huyện Đông Anh tổ chức Tết trồng cây ở xã Đông Hội. Nhân dân đi trồng cây rất đông. Trong tiếng trống ếch rộn ràng của các cháu thiếu nhi, các cụ già hăng hái đào hố, đặt cây.

Đúng lúc đó thì Bác Hồ đến thăm! Mọi người chen nhau vòng quanh Bác. Bác vẫy tay cho các cháu thiếu nhi im lặng rồi nói vui:

– Các cụ, các chú trồng mười cây sống cả mười cây thì hơn, hay trồng sáu mươi cây chết cả sáu mươi?

– Thưa Bác, chúng cháu quyết trồng mười cây ăn cả mười ạ.

Bác khen như thế là tốt, rồi Bác xắn quần cùng mọi người đi lên gò. Ở đây, bà con đang đào một cái hố rộng. Mọi người mời Bác cùng các cụ già trồng một cây đa. Bác vui vẻ nhận lời. Xem lại cây đa cẩn thận, đặt cây cho thẳng, rồi Bác cùng mọi người xúc đất tốt đắp vào gốc cây.

Từ đấy, các cụ già làng Đông Hội thay nhau chăm sóc cây đa Bác trồng. Cây đa ngày càng lớn, bà con bảo nhau xây tường gạch bao quanh gò, có đường lên xây bậc rất dễ đi. Giờ đây cây đa lớn đã được 48 năm. Mọi người qua lại vẫn thường ngồi nghỉ dưới bóng mát của cây đa Bác Hồ.

Tết Kỷ Dậu 1969 – Cái Tết cuối cùng của Bác.

Hồi này sức khỏe của Bác đã yếu hơn trước. Bác sĩ dặn dò cần tránh để Bác đi lại nhiều. Gần Tết, Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ:

– Chú Kỳ, Tết này các chú đã chuẩn bị cho Bác đi thăm những đâu?

Rồi Bác bỗng hỏi thêm:

– Chú có nhớ Bác phát động Tết trồng cây năm nay là năm thứ mấy rồi không?
– Thưa Bác, năm thứ mười ạ.

– Đúng! Nhân dịp kỷ niệm mười năm Tết trồng cây, chú bố trí cho Bác đi trồng cây ở một địa phương có thành tích.

Rồi Bác nói tiếp:

– Chắc chú còn nhớ cách đây năm, sáu năm, khi đi thăm xã trồng cây khá nhất, chúng mình có ghé nghỉ ở gần Trung Hà. Nhìn phía đồi trọc trước mắt. Bác có dặn đồng chí bí thư và chủ tịch Hà Tây là cần động viên các cụ trồng cây. Bây giờ, nơi đó thành một đồi cây đẹp rồi! Cho nên Tết này ta phải đến thăm và chúc Tết đồng bào.

Nơi đó chính là xã Vật Lại, huyện Ba Vì.

Đồng chí Vũ Kỳ kể:

– Nhắc đến đó, tôi đã thấy lo lo vì đường sá hơi xa. Không ngờ Bác lại nói thêm, muốn vào thăm trại chăn nuôi của chú Hồ Giáo, thăm các cháu miền Nam, trường Nguyễn Văn Trỗi và một hợp tác xã nông nghiệp giỏi nữa. Sau đó, chúng tôi phải sang nhờ Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói hộ với Bác, và thế là Tết năm ấy Bác đã đi thăm bộ đội phòng không, không quân, rồi trưa về thăm xã Vật Lại.

Đến Vật Lại, chào hỏi bà con xong, Bác lên ngay trên đồi trồng một cây đa. Trước khi trồng, Bác hỏi đồng chí bí thư đảng ủy:

– Cây đa này có rễ không chú?

– Thưa Bác có rễ chứ ạ!

Chúng tôi chưa hiểu vì sao Bác lại hỏi thế, thì Bác đã giải thích luôn, có lần Bác cũng đi trồng cây thế này, nhưng các đồng chí ấy không chuẩn bị trước, nên chặt luôn một cành cây to cắm xuống, rồi mời Bác xúc đất trồng cây.

Nghe xong, Bác cháu đều cười vui vẻ!

Ngày nay cây đa cuối cùng Bác trồng ở Vật Lại đã hơn bốn mươi năm, cũng là hơn bốn mươi năm Bác đã đi xa! Cây Đa Vật Lại giờ đã to lớn, rễ phụ chằng chịt với hàng chục cành lớn, vươn cao tỏa bóng xanh tốt quanh năm. Mùa xuân này, khách du lịch từ bốn phương về thăm vùng đất cổ Ba Vì, ai cũng muốn dừng chân tại Đồi cây Bác Hồ, để tận hưởng bóng mát của Người.

Ngồi dưới bóng cây đa lớn Bác trồng, lại nhớ đến những câu thơ của Bác đã viết về Tết trồng cây:

“Muốn làm nhà cửa tốt

Phải ra sức trồng cây

Chúng ta chuẩn bị từ rày

Dăm năm sau, sẽ bắt tay dựng nhà”

Hình ảnh Bác Hồ – Người trồng cây vĩ đại đã là đề tài cho biết bao nhà thơ viết về Bác. Và trên đất nước ta đã có biết bao những cây đa xanh và những loài cây khác tỏa bóng theo lời kêu gọi trồng cây của Người. Thiên nhiên là người mẹ, là cái nôi xanh của sự sống và con người khôn ngoan phải biết gìn giữ thiên nhiên, biết sống hòa hợp với thiên nhiên. Những năm gần đây, lũ ống, lũ quét, lở đất… cùng nhiều nguy cơ tiềm ẩn của thiên tai, đều có nguyên nhân do nạn phá rừng nghiêm trọng của chính chúng ta. Tình yêu thiên nhiên là một trong những tình cảm lớn của con người và yêu nước là phải yêu chính những cánh rừng xanh của Tổ quốc!
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng Người đã để lại cho chúng ta bao thế hệ người, bao thế hệ cây, như nhiều nhà thơ đã viết:

“Trong công cuộc gieo trồng vĩ đại
Bác để lại cho chúng ta
Bao thế hệ người, bao thế hệ cây
Cho mùa Xuân tô điểm nước non này!”

“Bác để lại đây Di Chúc màu xanh
Mà rễ đã ăn sâu vào lòng đất
Bao thế hệ đi qua trong vòm bóng mát
Cho lẽ sống của Người thấm mãi trong ta”

“Tết trồng cây đem lại những Mùa Xuân
Tầng đá ong cũng thấy mình trẻ lại
Thấy cây mọc lại nhớ lời Bác dạy
Thấy màu xanh lại nhớ Bác khôn nguôi!”

Bùi Hải Bình
baotintuc.vn