Hình tượng Bác Hồ trong thơ của người nước ngoài

Untitled

Chân dung Nguyễn Ái Quốc do Eric Johanson vẽ ngày 19/9/1924, dòng chữ Việt và chữ Hán là do Người tự ghi (là bức vợ ông Johanson gửi tặng qua Đại sứ quán Việt Nam)

Người là vị Lãnh tụ kính yêu của dân tộc, là ngôi sao sáng dẫn đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa. Người còn là một nhà thơ, một nhà văn hoá lớn của thế giới. Người vĩ đại nhưng rất giản dị và gần gũi với con người, trong mắt các nhà thơ thế giới Người hiện lên như một viên ngọc sáng lung linh về nhân cách, một người cộng sản mẫu mực về đạo đức, giản dị trong cách sống, như một nhà thơ thế giới nhận xét “Người giản dị tự nhiên như là hoa thơm trái ngọt” và nhà thơ Batumga (Mông Cổ) viết về Bác:

Sắc đẹp hoa sen cùng với nhân dân
Cây tươi thắm qua trăm nghìn thế hệ
Hồ Chí Minh bóng cả.

Trong quan niệm của người Á Đông, hoa sen là tượng trưng cho sự thuần khiết, là hình ảnh của người quân tử. Bác hiện lên với một vẻ đẹp ngời sáng. Nhà thơ Brazil Ixmalugômétbraga viết về cuộc đời giản dị của Bác trong một bài thơ đã ví vẻ đẹp của Bác như: “Vẻ đẹp trắng trong của bông Huệ Châu Mỹ La tinh”:

Cuộc đời người như bông huệ trắng
Gương mặt càng ngắm càng trong
Người trắng trong bông huệ Mỹ La tinh.

Cũng viết về nét đẹp tâm hồn của Người, nhà thơ Rô-Nêdêpextrô của đất nước Haiti bằng con mắt nhạy cảm của mình đã nhìn ra nét đẹp giản dị, thanh cao một nền đạo đức đủ sức lay động mọi linh hồn của Bác bằng những câu thơ chân tình:

Các bạn hãy nhìn lên trên ngọn cây Ô liu trên núi
Các bạn hãy nhìn vào biển cả lấp loáng từ xa
Các bạn hãy nhìn vào những hàng cây và quả non chi chít
Và con sông Va rền rĩ ở xa
Rồi bạn hãy lặng yên
Với vẻ đẹp của Bác Hồ.

Nhà thơ Inđônêxia M.Đagiô với bài thơ “Vẻ bên trong của viên ngọc” đã ca ngợi cái sự giản dị cách mạng, nhân cách trong sáng của Người hiện lên như một vẻ đẹp ngời sáng ẩn chứa sự lấp lánh bên trong viên ngọc với những câu thơ:

Người không mang danh dự ghế suy tôn

Ngồi vào đấy với Người không có nghĩa

Khi đức độ đã ngời như ngọc quý

Thì có nghĩa gì chiếc ghế phủ nhung êm

Tờ báo Ánh điện của Ấn Độ ra ngày 13/9/1969 đã nhận xét về Bác: “Hồ Chí Minh là nhân vật lỗi lạc nhất Châu Á. Cuộc đời Cụ không đi theo một con đường đơn giản trong một bản đồ đã chỉ, leo một cách vững chắc hết đỉnh cao này đến đỉnh cao khác. Cụ kết hợp giữa sự tao nhã cao quý với tác phong dễ gần gũi, rất dân chủ, một sự kết hợp nhịp nhàng giữa sự tự do không nghi thức, thoải mái và tự nguyện với một thái độ đường hoàng và thận trọng. Cụ là hiện thân của sự bất khuất”.

Bác Hồ kính yêu, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc trong mắt mọi người dân, Người là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, sự cao quý và lòng dũng cảm. Khi viết về Người nhà thơ Nikôlai Kunaep (Liên Xô) đã nói ý chí của Người là niềm tin và sức mạnh là chân lý, là mùa xuân của sự sống, là nguồn tinh thần cao đẹp nuôi dưỡng mọi người, là sự bất chấp mọi thời gian.

Hồ Chí Minh

Người là hiện thân sức mạnh niềm tin

Trong nụ cười của Người có tất cả những mùa xuân

Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh

Người là con người bất chấp thời gian.

Chân dung Nguyễn Ái Quốc đăng ở Báo Phụ nữ Xô Viết số 10 năm 1979.
Nguyễn Ái Quốc ghi tên mình bằng chữ Việt và chữ Hán ở phía dưới,
chữ ký của chính họa sĩ thì ở sát ve áo của Người.

         Ý chí của Người đủ sức lay động mọi tâm hồn, thức tỉnh một dân tộc đứng lên đấu tranh giành lại hoà bình, độc lập, sự tự do. Một đất nước đi từ bùn lầy của sự tối tăm nô lệ đến ánh sáng của hạnh phúc:

Một đội ngũ tốt

Từ năm tháng tối tăm máu trào, nước mắt

Họ đã vùng lên như một giấc mơ

(Môni Đrarây)

Tất cả đều đến từ niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng vào lý tưởng cách mạng cao quý của Người. Đạo đức của Người là bóng cây rợp mát cho cả dân tộc soi chung:

Từ cách nhìn

Từ trái tim dân tộc

Bác Hồ

Người đã viết nên cái tên:

Cách mạng,

Nhân phẩm,

Tự do,

Tiến bộ.

(Xtêphan Plucốpki, Ba Lan)

Người là hiện thân của lịch sử; trong suốt gần nửa thế kỷ nhân dân Việt Nam cầm vũ khí đứng lên làm cuộc kháng chiến cực kỳ gian khổ, nhiều mất mát hy sinh đã đi đến thắng lợi hoàn toàn đã phản ánh đầy đủ tinh thần, tư tưởng thời đại Hồ Chí Minh, linh hồn và trí tuệ của Người. Người là hiện thân của cả dân tộc như nhà thơ Xecgiô Atane (Pháp) đã viết:

Cả dân tộc yêu người

Vì sao một con đường bị phá

Tức khắc ba con đường khác mọc lên thay

Vì sao người chiến sỹ hy sinh trong tiếng hát

Vì sao chiếc cầu bị sập

Tức khắc ba chiếc cầu khác được bắt lên ngay

Vì sao luá vẫn mọc xanh mặc cho chất độc

Và vì sao người ta có thể ngã xuống

Với một tiếng hát nằm trong lỗ đạn trong tim.

Bác đã đi xa nhưng trong lòng nhân dân Việt Nam, nhân dân thế giới vẫn thể hiện niềm nhớ thương vô hạn đến Người, vị Lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

Trong mỗi trái tim, Người vẫn mỉm cười

Sống trong lòng những đồng chí đang giữ gìn Tổ quốc

Sống trong lòng những cụ già canh gác cho thế hệ mai sau

Sống ở những giấc mơ của lứa tuổi thanh xuân có thể trở thành sự thật

(Haouốc PácXơn, Mỹ)

Ngày nay, mọi người chúng ta vẫn đang cố gắng thực hiện ước mơ của Bác xây dựng một xã hội ấm no, công bằng, văn minh, tiến bộ. Sức mạnh trong nhân cách, đạo đức vẫn đủ sức lan toả đến tất cả mọi người. Việc học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh luôn là việc làm cần thiết và bổ ích. Bác hiện lên trong lòng nhân dân thế giới cao đẹp biết bao. Cảm ơn các thi sỹ, các nhà văn hoá thế giới đã cất lên những tiếng nói trữ tình từ trái tim nhân hậu cổ vũ cho chúng ta đi tiếp trên con đường vinh quang mà Bác Hồ kính yêu đã vạch ra cho cách mạng Việt Nam.

Nguồn: Bác Hồ trong mắt các nhà thơ thế giới 
Lâm Ngọc Tường Nguyên
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Dân chủ, nhân quyền – những điều không thể áp đặt

(ĐCSVN) – Dân chủ và nhân quyền là những vấn đề lớn trong lịch sử nhân loại, trong đời sống xã hội của mỗi quốc gia và đã trở thành một nội dung cơ bản trong quan hệ quốc tế. Ngày nay, dân chủ và nhân quyền còn là những vấn đề chính trị nhạy cảm phức tạp, nhất là khi Mỹ tự cho mình quyền lãnh đạo thế giới, đem các giá trị về dân chủ và nhân quyền của mình đi áp đặt và can thiệp vào nội bộ các nước khác. 

Hiện nay, vấn đề dân chủ và nhân quyền đang được Mỹ và một số nước phương Tây triển khai như cuộc chơi lớn trên cấp độ quốc tế. Cái cách thức mà họ đang đẩy tới cuộc tấn công về dân chủ, nhân quyền làm cho không ít người lo ngại rằng trận địa này sẽ trở thành một “điểm nóng xung đột” gay gắt nhất về tư tưởng và văn hóa trong tương lai. Đối với những người đang tự trao cho mình sứ mệnh vạch chương trình nghị sự cho cả thế giới, thì dân chủ, nhân quyền không chỉ là những chủ trương có tính nhất thời, mà là một quốc sách lâu dài. Nó không chỉ là một mắt xích trong một chiến lược, mà bản thân nó là một chiến lược để áp đặt các giá trị Mỹ, giá trị phương Tây cho toàn thể nhân loại. Mỹ và một số nước phương tây mặc nhiên coi những giá trị dân chủ, nhân quyền của mình là giá trị chung của nhân loại. Hễ ở đâu, quốc gia nào làm điều gì trái với ý họ là họ lên giọng phán xét ngay đó là “sự vi phạm dân chủ, nhân quyền”. Trong canh bạc dân chủ, nhân quyền của họ, bao giờ cũng thấy thấp thoáng, ẩn chứa những toan tính chính trị.

Thực tế sau chiến tranh cho thấy, Irắc vẫn tiếp tục bị nhấn chìm trong những vụ bạo loạn đẫm máu. Vũ khí Mỹ có thể lật đổ một chính quyền nhưng không thể xây dựng được quan niệm, giá trị và văn hóa theo kiểu Mỹ trên mảnh đất Babilon cổ kính. Những va đập giữa lối tư duy truyền thống của các cộng đồng sắc tộc Irắc, với thực tế “Tây hóa” đang ngày một dữ dội hơn, khiến mọi sự ở quốc gia này trở nên thêm rối lẫn. Những thủ lĩnh chống đối cực đoan nhờ thế mà tập hợp được nhiều hơn những lực lượng không đồng tâm, đồng tính, đồng tình với Chính phủ ở Baghdad và liên tục lớn tiếng đe dọa gây nên những vụ bạo lực kinh hoàng hơn.

Một bức tranh tương tự cũng đang diễn ra ở Afghanistan. Cuộc bầu cử Quốc hội mới đây ở Afghanistan được coi như thành công, nhưng không có dấu hiệu về sự hòa hoãn của Taliban với chính quyền Kabul do Mỹ và phương Tây hậu thuẫn. Thậm chí còn có nguy cơ các thủ lĩnh Taliban sẽ lọt được vào các cơ cấu chính quyền địa phương và dần dà tranh thủ lòng dân bằng mọi cách. Từ đầu năm 2005 đến nay đã có tới 1000 người trong đó có 7 cứng cử viên và 6 nhân viên bầu cử thiệt mạng. Nói một cách thẳng thắn, trên mảnh đất Afghanistan rất khó gieo những “hạt giống chính trị” xa lạ với truyền thống Hồi giáo lâu đời. Mỹ có lẽ không phải là nước đầu tiên và cuối cùng sẽ phải đối mặt với kết cục u ám đó.

Các cuộc “cách mạng sắc mầu” vừa xảy ra ở Grudia, Cưrơgưxtan Ukraina cho thấy không thể khờ khạo tin rằng, những phong trào xã hội gọi là đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền, được sự trợ giúp của các trung tâm tiền bạc phương Tây, lại thực sự hoạt động ích nước lợi nhà, chứ không phải vì quyền lợi trước mắt và lâu dài của những kẻ cung cấp tài chính cho họ. Thực tế lại thêm một lần nữa cho thấy đến hôm nay các quốc gia này vẫn chưa thoát khỏi những rối loạn nội bộ đến mức chẳng thể nào an cư được chứ nói chi đến chuyện phát triển. Vì vậy những thể chế hình thành theo những công thức đã được định sẵn từ hải ngoại, không biết cất tiếng theo giọng nói của chính mình rất khó đi tới những triển vọng sáng sủa.

Từ thực tiễn sinh động của nền chính trị thế giới hiện nay cho chúng ta nhận thức chung rằng, dân chủ và nhân quyền là tổ hợp những vấn đề tế nhị và nhạy cảm, vì các căn nguyên sâu xa của nó bắt rễ trong phong cách sống cũng như nấc thang giá trị của từng dân tộc. Các vấn đề đó cần phải được bồi đắp và gây dựng từ từ theo từng giai đoạn phù hợp với trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Dân chủ, nhân quyền không phải là thứ có thể đem “xuất khẩu” áp đặt cho bất cứ quốc gia nào. Không còn là hiện tượng hiếm hoi khi tại nhiều nước nghèo, đưa dân chủ vô hạn độ vào đồng nghĩa với vô chính phủ, dẫn đến tranh chấp, xung đột, nghèo đói. Mọi luận điệu cho rằng: “dân chủ”, “nhân quyền” cao hơn chủ quyền đều là những lập luận ngụy biện cho chính sách cường quyền muốn can thiệp, xâm lược các quốc gia độc lập có chủ quyền mà thôi.

Thế giới mà chúng ta đang sống vừa thống nhất vừa đa dạng, phức tạp với bản sắc riêng của từng dân tộc. Tuy rất đặc thù, nhưng dân chủ và nhân quyền, cũng như các lĩnh vực khác đã và đang dần trở thành một bộ phận của đời sống quốc tế. Vì thế, thay vì áp đặt theo kiểu “sen đầm quốc tế về dân chủ và nhân quyền” nên đưa nó vào trong tiến trình của các cuộc đối thoại quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền của các quốc gia./.

TS. Thái Văn Long
Viện QHQT – Học viện CTQGHCM
dangcongsan.vn

Nhớ lời Bác, tôi học tập suốt đời

QĐND – Cách đây hơn 50 năm ở Leng Su Sìn (huyện Mường Nhé, Điện Biên), cô gái Chu Chà Me – người phụ nữ Hà Nhì đầu tiên đã dũng cảm rời ngã ba biên giới để đi tìm con chữ và cũng là người Hà Nhì đầu tiên vinh dự hai lần được gặp Bác Hồ. Dù năm nay đã ngoài 70 tuổi nhưng với bà Me, kỷ niệm về hai lần được gặp Bác, từng lời Bác dạy bà vẫn khắc cốt ghi tâm.

Ấn tượng đầu tiên khi chúng tôi gặp bà Chu Chà Me là khuôn mặt thật hiền từ phúc hậu, đôi mắt sáng và mái tóc vẫn còn đen nhánh như hồi con gái. Trò chuyện với chúng tôi, những ký ức của bà về hai lần được gặp Bác Hồ được tái hiện thật sống động như một thước phim quay chậm với niềm vinh dự và tự hào.

Bà Chu Chà Me trong bộ trang phục truyền thống của người Hà Nhì.

Đầu năm 1959, ở tuổi 17, cô gái Chu Chà Me được sự động viên của các cán bộ Đồn Biên phòng Leng Su Sìn đã chia tay bạn bè và bản làng yêu quý, xa người mẹ hiền đi học cái chữ Bác Hồ để có thể về Thủ đô hoặc đi bất cứ nơi đâu trên khắp mọi miền Tổ quốc.

Ngày 6-5-1959, khi Chu Chà Me cùng các bạn học sinh Trường Dân tộc khu tự trị Thái Mèo (sau này đổi tên thành Trường Dân tộc khu tự trị Tây Bắc) dọn vệ sinh, treo khẩu hiệu cùng toàn khu Tây Bắc nô nức mừng Ngày giải phóng Điện Biên thì có 2 xe con đưa Bác Hồ tới thăm. Kể đến đây, bà Me nở nụ cười tươi không giấu được niềm hạnh phúc. Bà chia sẻ:

– Mọi người mặc quần áo của dân tộc mình, hồ hởi kéo về Ủy ban Khu cách trường mấy trăm mét. Mấy chị dân tộc Thái hô to “Páu Hồ xem pi” (Bác Hồ muôn năm). Bác trò chuyện với tôi và nói “Cháu còn trẻ, tương lai còn rộng mở. Cháu cố gắng học tập cho tốt và chuyển lời của Bác tới các thanh niên quê cháu phải đi học, có văn hóa mới làm chủ được quê hương mình…”. Nhớ lời Bác dặn, tôi đã không ngừng học tập suốt đời.

Tháng 9-1959, sau khi học hết lớp 2, Chu Chà Me được nhận về công tác tại Huyện đoàn Mường Tè, Lai Châu. Dù đi học hay làm công tác xã hội, Chu Chà Me luôn nhớ lời Người, không ngừng tự học, vươn lên để xây dựng quê hương. Chính những hoạt động sôi nổi khi làm công tác đoàn mà năm 1960 bà vinh dự là một trong 75 phụ nữ tiêu biểu của Tây Bắc về thủ đô Hà Nội dự Quốc khánh 2-9. Sáng 4-9, Bác Hồ tới thăm đoàn phụ nữ Việt Bắc và Tây Bắc ở nhà khách của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà Me xúc động nhớ lại:

– Bác tiến lại gần xoa đầu và gọi tên tôi. Bác hỏi “Cháu Chà Me à! Các cháu thanh thiếu niên dân tộc Hà Nhì đã đi học nhiều chưa? Cháu có chuyển lời Bác dặn tới các thanh niên quê mình không?” Rồi Bác khen tôi cố gắng có tiến bộ nhưng phải tích cực hơn nữa. Tôi không ngờ, vị lãnh tụ của dân tộc bận trăm công nghìn việc nhưng vẫn nhớ tới những việc tưởng chừng nhỏ bé ấy.

Những lời Bác dặn, bà ghi tạc trong lòng và là kim chỉ nam để làm theo. Từ một cô gái 17 tuổi mới học hết lớp vỡ lòng, bà đã quyết tâm học lên Trung cấp, rồi học tiếp Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc. Từ làm giáo viên Trường Dân tộc nội trú Lai Châu đến làm phát thanh viên Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh Lai Châu… bà đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Xuân này, bà Me sẽ bước sang tuổi 74. Bà tâm sự với chúng tôi rằng hai lần gặp Bác Hồ là hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời mình.

Bài và ảnh: Minh Mạnh
qdnd.vn

“Câu chuyện cái đồng hồ” – Bài học về sự đoàn kết

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969)

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969)

“Năm 1954, các cán bộ tham gia cải cách ruộng đất đang dự hội nghị tổng kết ở Hiệp Hòa (Hà Bắc) để rút kinh nghiệm làm tốt đợt mới ở vùng giải phóng, thì có lệnh Trung ương rút bớy một số người đi học lớp tiếp quản thủ đô. Ai nấy đều háo hức muốn đi. Nhất là những người quê Hà Nội. Bao năm xa nhà, nhớ Thủ Đô, nay được dịp về công tác, anh em bàn tán rất sôi nổi. Nhiều người đề nghị cấp trên chiếu cố nỗi niềm riêng đó và cho được toại nguyện. Tư tưởng cán bộ dự hội nghị có chiều phân tán… Ban lãnh đạo ít nhiều thấy khó xử.

Giữa lúc đó thì Bác Hồ đến thăm hội nghị. Hôm đó giữa mùa thu, nhưng trời vẫn còn nóng. Bác bước lên diễn đàn, mồ hôi ướt đầm hai bên vai áo nâu của Bác…Khi tiếng vỗ tay đã ngớt, Bác hiền từ nhìn khắp hội trường và nói chuyện về tình hình thời sự. Nói đến nhiệm vụ của toàn Đảng trong lúc này, Bác bỗng rút trong túi áo giơ ra một chiếc đồng hồ quả quýt và hỏi:

– Các chú có trông thấy cái gì đây không ?

Mọi người đồng thanh:

– Cái đồng hồ ạ.

– Thế trên mặt đồng hồ có những chữ gì ?

– Có những chữ số ạ.

– Những cái kim ngắn, kim dài để làm gì ?

– Để chỉ giờ, chỉ phút ạ.

– Cái máy bên trong dùng để làm gì ?

– Để điều khiển cái kim chạy ạ.

Bác mỉm cười, hỏi tiếp:

– Thế trong cái đồng hồ, bộ phận nào là quan trọng ?

Mọi người còn đang suy nghĩ thì Bác lại hỏi:

– Trong cái đồng hồ, bỏ một bộ phận đi có được không ?

– Thưa không được ạ.

Nghe mọi người trả lời, Bác bèn giơ cao chiếc đồng hồ lên và kết luận:

– Các chú ạ, các bộ phận của một chiếc đồng hồ cũng ví như các cơ quan của một Nhà nước, như các nhiệm vụ của cách mạng. Đã là nhiệm vụ của cách mạng thì đều là quan trọng, điều cần phải làm. Các chú thử nghĩ xem: trong một chiếc đồng hồ mà anh kim đòi làm anh chữ số, anh máy lại đòi ra ngoài làm cái mặt đồng hồ…cứ tranh nhau chỗ đứng như thế thì có còn là cái đồng hồ được không ?

Chỉ trong ít phút ngắn ngủi, câu chuyện chiếc đồng hồ của Bác đã khiến cho ai nấy đều thấm thía, tự đánh tan được những suy nghĩ riêng tư vô lý”.

(trích trong tác phẩm BÁC HỒ KÍNH YÊU, Nhà xuất bản Kim Đồng, năm 1980)


Qua mẩu chuyện trên, ta có thể rút ra được rất nhiều điều có ý nghĩa:

1/ Trong mỗi cơ quan, đơn vị: mỗi cá nhân được phân công một nhiệm vụ và có bổn phận làm tròn trức trách, nhiệm vụ được giao, có như vậy thì mới tạo nên hiệu quả chung của cả tập thể cơ quan, đơn vị. Cần phải hiểu rằng việc phân cấp các chức danh, chức vụ trong cơ quan, đơn vị nhằm phân biệt nhiệm vụ, quyền hạn mà bản thân mỗi cá nhân phải thực hiện khi đảm nhận chức trách đó.

Việc suy bì, tính toán hơn thiệt về quyền lợi, trách nhiệm trong khi thực hiện nhiệm vụ, hoặc hành vi lánh nặng tìm nhẹ, suy nghĩ quan liêu, cục bộ… sẽ dễ dẫn đến sự mất đoàn kết trong nội bộ, từ đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ chung của cả đơn vị. Ngược lại nếu các cá nhân trong một tập thể nhận thức được vai trò, chức trách của mình và cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công, bất kể là ở vị trí Thủ trưởng hay nhân viên, tất cả đều nhắm tới một mục tiêu chung của đơn vị thì hiệu quả công tác chắc chắn đạt tỷ lệ cao.

2/ Trong xã hội: Bằng những đặc điểm riêng của mình mà các ngành, các cấp… khác nhau tạo nên một bức tranh xã hội phong phú. Hãy thử tưởng tượng nếu tất cả mọi người đều đi làm công nhân hết thì lấy đâu ra người nông dân để trồng trọt, chăn nuôi tạo ra lương thực, thực phẩm nuôi sống xã hội, nếu ai cũng muốn làm kỹ sư thì lấy đâu ra thợ để thực hiện những việc thủ công… Những nét riêng đó kết lại với nhau tạo thành một xã hội hoàn chỉnh.

3/ Trong công tác Mặt trận: các giai tầng, các ngành, các giới, các dân tộc – tôn giáo trong xã hội đều có đặc điểm riêng. Người làm công tác Mặt trận cũng giống như người thợ sửa đồng hồ, phải biết gắn kết những đặc điểm riêng lại để tạo nên một khối thống nhất thực hiện nhiệm vụ chính trị thông qua các phong trào hành động cách mạng tại đơn vị, địa phương. Có như vậy thì “cái đồng hồ” do Mặt trận làm ra sẽ chạy tốt, phục vụ cho xã hội một cách có hiệu quả nhất.

N.Q.T (quận 12) – ảnh PXL
ubmttq.hochiminhcity.gov.vn

Bác Hồ đến với các cháu mồ côi ở Trại Kim Đồng

Sáng thứ 2,ngày 11/6/2012, đại diện Chi bộ Hành chính sự nghiệp đã kể một câu chuyện về tấm gương và đạo đức của Bác với chủ đề: “Bác Hồ đến với các cháu mồ côi ở Trại Kim Đồng”.

Một sáng đẹp trời, Bác Hồ đã đến với các cháu ở trại Kim Đồng. Ngay từ phút đặt chân đến cổng trại nhìn bờ rào dăng dây thép gai, trong mắt Bác hiện lên sự nhức nhối. Nói với các cán bộ phụ trách giọng Bác nhẹ nhàng, nhưng vô cùng thấm thía:

– Đây là nơi nuôi dạy các cháu mồ côi, được mang tên liệt sĩ Kim Đồng, sao các cô, các chú lại rào dây thép gai như một nhà tù thế này?

Chú Thuận thưa:

– Dạ thưa Bác, cơ ngơi của thời đại cũ để lại đấy ạ!

Bác lắc đầu: Các cô, các chú phảI tháo gỡ đám dây thép gai ngay. Chế độ cũ nhóm các cháu vào đây, chúng ta tiếp tục nuôi dạy vì tương lai của các cháu.

Bác đi vào từng căn phòng ở, phòng ăn, phòng học, nơi các cháu vui hơi. Bác khen: “Được cái gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ, nhưng còn – Bác hỏi cán bộ phụ trách trại – còn thế nào, các cô, các chú biết không?

Mọi người nhìn Bác, vừa xúc động vừa lúng túng. Rồi chú Thuận mạnh dạn đáp:

– Thưa Bác, các cháu ở trại còn chật chội ạ.

Bác Hồ mỉm cười:

– Chú nói mới đúng một phần nhỏ thôi. Đối với các cháu mồ côi, điều lớn nhất là phải bù đắp tình thương. Các cháu đã không còn bố mẹ, thì các cô, các chú ở đây là bố, là mẹ của các cháu. Các cô, các chú nuôi dạy các cháu thì phải đem cả tấm lòng làm mẹ, làm cha mà cư xử, mà săn sóc, mà dạy bảo. Bác thấy ở đây, đối với các cháu, còn cái vẻ “trại lính”, thiếu cái ấm cúng của gia đình. Dạy cho các cháu vào khuôn phép, sống có kỷ luật, trật tự là đúng. Nhưng không được để các cháu mất cái hồn nhiên, mất cái vui tươi, thoải mái. Đừng biến các cháu thành các “ông cụ non”. Các cô, các chú phảI làm sao cho các cháu thấy trại Kim Đồng là gia đình của các cháu, đi xa các cháu nhớ, lúc ở nhà các cháu vui. Được như vậy thì cần gì phải rào dây thép gai, phải canh phòng nghiêm ngặt với các cháu?

Bác lại hỏi:

– Những cháu kém có nhiều không?

– Thưa Bác, còn nhiều lắm ạ.

– Nhiều là bao nhiêu?

Đồng chí phụ trách hơi bối rối. Bác nói ngay:

– Quản lý các cháu thì cần biết cụ thể từng cháu một, biết chắc chắn cái dở, cái hay của mỗi đứa. Có như vậy thì dạy mới có kết quả tốt.

Bác bảo chú Thuận đứng lên:

– Cho Bác gặp cháu nào kém nhất trại.

Em Quốc đứng khoanh tay trước mặt Bác, Bác cúi xuống vuốt ve nhè nhẹ tóc em. Bác hỏI:

– Tên cháu là gì?

– Thưa Bác tên cháu là Quốc lủi ạ!

Bác nhìn em, ái ngại:

– Ai đặt cho cháu cái tên ấy?

– Dạ thưa, các bạn gọi cháu thế ạ.

– Vì sao các bạn gọi cháu là Quốc lủi?

– Thưa Bác… Cháu… Cháu hay trốn trại. Cháu chui qua hàng rào, lủi vào các ngõ phố ạ.

Sao cháu không chịu ở trong trại mà lại trốn ra bên ngoài?

– Thưa Bác… ở trong trại khổ cực lắm ạ.

– Khổ cực như thế nào?

– Dạ chúng cháu bị gò bó đủ thứ ạ.

– Cháu nói rõ sự gò bó cho Bác nghe nào?

– Thưa Bác…

Quốc nhìn Bác Hồ mà nước mắt trào ra, nghẹn ngào không nói lên lời. Bác xoa đầu em, Bác đã hiểu thấu tất cả, dù em chưa nói ra được những điều muốn thưa với Bác. Bác khuyên Quốc: “Từ nay cháu phải phấn đấu bỏ cái tên “lủi”, giữ lại cái tên Quốc…”. Nước mắt càng giàn giụa trên hai má Quốc.

Bác Hồ cầm tay em Quốc đi ra chỗ cả trại đang tập hợp đón đợi Bác. Bác thân mật kể cho các em nghe một số gương tốt của thiếu nhi trong kháng chiến chống Pháp, gương tốt của thiếu nhi ở Liên Xô và các nước bạn. Các em đã không cầm được nước mắt khi nghe Bác kể về thời niên thiếu của Bác, Bác đã từng thèm một cái đồ chơi, ước ao một bộ quần áo mới để mặc Tết. Bác cũng đã mồ côi mẹ từ năm lên chín, lên mười. Bác đã phải bế em trèo trẹo bên hông đi xin sữa cho em sau ngày mẹ qua đời.

Bác căn dặn các em như ông dặn cháu:

– Các cháu phải vâng lời các cô, các chú phụ trách. Thiếu nhi thì phải ngoan, phải thật thà, lễ phép với người lớn, kính trọng người già, giúp đỡ người tàn tật yếu đau. Các cháu ở trong tập thể với nhau càng phảI thương yêu nhau như anh chị em ruột thịt. Và phải dũng cảm sửa chữa những khuyết điểm, những thói hư tật xấu để lớn lên làm người chủ của đất nước, đừng để mình là cái gánh nặng của xã hội…

Rồi Bác bảo:

– Các cháu có hứa làm được điều Bác căn dặn không nào?

Một tiếng “có” vang lên, đều khắp và sôi nổi. Bác còn dặn thêm các em là noi gương dũng cảm của liệt sĩ Kim Đồng trong học tập và rèn luyện, em nào đạt kết quả tốt, được ban phụ trách báo lên Bác, Bác sẽ gửi phần thưởng. Và Bác thân mật hẹn: “Nếu cả trại cùng tiến bộ vượt bậc, Bác sẽ còn về thăm các cháu nhiều lần nữa”.

Ngày hôm ấy, Bác đã để lại rất nhiều quà để chia cho các em. Nhận phần quà của Bác cho, nhiều em đã không ăn, cất làm kỷ niệm.

Từ hôm đó trong từng đôi mắt của các em, ngời lên niềm vui nhận quà Bác. Em Quốc không lủi ra ngoài trại nữa mà giữ gìn mình như giữ gìn kỷ niệm của Bác trong trái tim.

Theo website Thành Đoàn TP. Hồ Chí Minh
tcvg.hochiminhcity.gov.vn

Những sinh nhật giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Để tránh tổ chức, tiếp đón linh đình, dịp sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đi thăm chùa, đi công tác hay làm thơ tự trào…

‘Người bạn Pháp của Việt Nam’ kể chuyện Hồ Chí MinhHồ Chủ tịch qua lời kể của nữ văn công xứ Nghệ

Nhà sử học Dương Trung Quốc vừa xuất bản cuốn “Hồ Chí Minh – Ngày này năm xưa” với mục đích tập trung phản ánh các sự kiện, công việc thường ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Theo ông Quốc, trong “Ngày này năm xưa“, việc sắp xếp sinh nhật của Hồ Chủ tịch theo trình tự thời gian đã giúp người đọc thấy rõ được cách ứng xử rất giản dị, đời thường, tránh hình thức linh đình của người đứng đầu nước. Trong dịp sinh nhật, Hồ Chủ tịch cũng hay làm thơ với giọng tự trào để mọi người coi đây là việc bình thường.

Ảnh tư liệu.Bác Hồ và đại biểu phụ nữ dân tộc ít người tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ III, tháng 3/1961. Ảnh tư liệu.

VnExpress.net trích đăng cuốn sách “Hồ Chí Minh – Ngày này năm xưa:

Lần đầu tiên, ngày sinh nhật của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công bố vào năm 1946, do vậy, ngày 19/5/1946 cũng là lần đầu tiên một hình thức mừng sinh nhật được tổ chức như để biểu thị khối đoàn kết của nhân dân quanh vị nguyên thủ của một quốc gia non trẻ đang đương đầu với những thử thách to lớn liên quan đến vận mệnh quốc gia hơn là một sự sùng bái đối với một lãnh tụ.

Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ghi lại hình ảnh các cháu thiếu nhi nội ngoại thành thủ đô vốn là trẻ bán báo hay trẻ mồ côi tại ngôi trường Bác đã từng đến thăm… đánh trống ếch mang theo những huy hiệu là các con chữ “i tờ” của phong trào diệt dốt đến tặng Chủ tịch nước và hát những bài ca cách mạng. Tiếp đó là đoàn đại biểu các chiến sĩ Nam bộ từ chiến trường ra công tác và đoàn đại biểu Văn hóa Cứu quốc đến chúc thọ người khởi xướng và lãnh đạo cuộc Cách mạng Giải phóng Dân tộc.

Đáp lại tình cảm của mọi người, Bác nói với các chiến sĩ Nam bộ: “Thật ra, các báo ở đây làm to cái ngày sinh nhật của tôi, chứ tuổi năm mươi sáu chưa có gì đáng được chúc thọ, cũng hãy còn như là thanh niên cả, mà trước các anh, các chị, trước cảnh êm vui ở Bắc đây, tôi thật lấy làm xấu hổ vì trong Nam chưa được thái bình”.

Còn với các chiến sĩ văn hóa đến xin khẩu hiệu cho phong trào “Đời sống mới”, Bác đề xuất câu: “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” và giải thích: “Hàng ngày ta phải ăn cơm, uống nước, phải thở khí trời mà sống. Những việc đó ngày xưa ông cha ta phải làm, bây giờ chúng ta phải làm, con cháu ta sau này cũng phải làm. Vậy ăn cơm, uống nước và thở khí trời để đem lại cuộc sống cho con người thì đó là những việc không khi nào trở thành cũ cả. “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” đối với đời sống mới cũng vậy”.

Ngày 19/5/1947, giữa lúc chiến tranh lan rộng ra cả nước, sinh nhật Bác diễn ra tại một địa điểm bí mật trên chiến khu ở Sơn Dương (Tuyên Quang) chỉ với một bó hoa rừng của những người thân cận đang bảo vệ người đứng đầu cuộc kháng chiến. Nhưng Bác đã dành bó hoa ấy để đi viếng người cấp dưỡng của mình vừa qua đời vì sốt rét.

Đáp lại những lời chúc mừng sinh nhật vào năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cảm ơn Quốc hội, Chính phủ, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân. Thư có đoạn: “Đồng bào yêu mến chúc thọ tôi, tôi biết lấy gì, nói gì để báo đáp lại lòng thân ái ấy? Tôi chỉ có một cách báo đáp là kiên quyết cùng đồng bào chịu cực, chịu khổ, quyết cùng đồng bào kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, quyết cùng đồng bào tranh lại thống nhất và độc lập thật sự cho Tổ quốc, quyết cùng đồng bào làm thế nào cho con cháu chúng ta và muôn đời về sau được sung sướng và tự do”.

Bác Hồ đến thăm hội nghị phổ biến máy cấy công cụ cải tiến ở Từ Liêm, Hà Nội, tháng 7-1960Bác Hồ đến thăm hội nghị phổ biến máy cấy công cụ cải tiến ở Từ Liêm, Hà Nội, tháng 7/1960. Ảnh tư liệu.

Vào dịp 19/5/1949, đáp lại đề nghị tổ chức lễ sinh nhật, Bác làm bài thơ “Không đề”: “Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà / Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già / Chờ cho kháng chiến thành công đã / Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta”. Sau ngày sinh nhật, Bác gửi thư cảm ơn các tầng lớp nhân dân đã mừng thọ và hẹn: “Đến ngày toàn quốc ăn mừng hoàn toàn thắng lợi, trong cuộc kỷ niệm to ấy, tôi sẽ vui vẻ tiếp đồng bào và chiến sĩ, kèm thêm một kỷ niệm nhỏ là Ngày sinh nhật của tôi”.

Ngày 19/5/1950, trong một cuộc họp cán bộ các cơ quan Trung ương ở Thác Dẫng (Tuyên Quang), đáp lại tình cảm của mọi người, Bác làm một bài thơ tự cảm về tuổi tác của mình: “Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán / So với ông Bành vẫn thiếu niên / Ăn khỏe ngủ ngon, làm việc khỏe / Trần mà như thế kém gì tiên!”.

Đến dịp 63 tuổi (19/5/1953), Bác làm bài thơ chữ Hán “Thất cửu”: “Nhân vị ngũ tuần thường thán lão / Ngã kim thất cửu chính khang cường / Tự cung thanh đạm, tinh thần sảng / Tố sự thung dung nhật nguyệt trường”. (Nhà thơ Xuân Thủy dịch: “Chưa năm mươi đã kêu già / Sáu ba, mình vẫn nghĩ là đang trai / Sống quen thanh đạm nhẹ người / Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung”).

Ngày 19/5/1954, lễ mừng sinh nhật hòa chung với không khí đón mừng chiến thắng Điện Biên Phủ bằng cuộc gặp gỡ của Bác với đại biểu là những chiến sĩ có thành tích tiêu biểu từ chiến trường trở về chiến khu. Bác đã gắn huy hiệu cho chiến sĩ trẻ bắt sống tướng De Castries. Và trong cuộc gặp còn có một vị khách đặc biệt là nhà điện ảnh Xô viết Roman Karmen, người đang thực hiện những bộ phim về Điện Biên Phủ và cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Sau ngày hòa bình, Bác thường vắng mặt ở nhà để tránh những cuộc tiếp mừng sinh nhật. Ngày 19/5/1958, Bác đi thăm chùa Hương; Dịp sinh nhật năm 1959, Bác đi thăm chùa Tây Phương.

Bác Hồ và các cháu thiếu nhi vui liên hoan văn nghệ nhân ngày Quốc tế thiếu nhi, tháng 5-1969Bác Hồ và các cháu thiếu nhi vui liên hoan văn nghệ nhân ngày Quốc tế thiếu nhi, tháng 5/1969. Ảnh tư liệu.

Từ năm 1960 đến 1967, vào trung tuần tháng 5, Bác thường sang Trung Quốc để làm công tác ngoại giao, tranh thủ nước bạn ủng hộ cuộc kháng chiến đang diễn ra ngày càng ác liệt ở trong nước.

Riêng ngày 19/5/1965, trong dịp sang Trung Quốc, Bác thăm Khúc Phụ, quê hương của Khổng Tử và làm bài thơ “Phỏng Khúc Phụ”: “Ngũ nguyệt thập cửu phỏng Khúc Phụ / Cổ tùng cổ miếu lương y hy / Khổng gia thế lực kim hà tại / Chỉ thặng tà dương chiếu cổ bi”. (Đặng Thai Mai dịch: “Mười chín tháng năm thăm Khúc Phụ / Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa / Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ? / Lấp loáng bia xưa chút ánh tà”).

Ngày 19/5 của 2 năm cuối cùng (1968 và 1969), vào khoảng thời gian từ 9 đến 10h sáng, Bác đều dành để xem và sửa lại “Di chúc”, sau đó tiếp chị Phan Thị Quyên (vợ liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi) và chị Nguyễn Thị Châu (cán bộ Hội Liên hiệp Thanh niên và Sinh viên giải phóng khu Sài Gòn – Gia Định). Dường như vào thời điểm chiến tranh còn gian khổ và nước nhà chưa thống nhất, những tình cảm sâu nặng nhất Bác luôn muốn dành cho miền Nam ruột thịt.

Tiến Dũng ghi
vnexpress.net

‘Người bạn Pháp của Việt Nam’ kể chuyện Hồ Chí Minh

“Khi Người lưu lại gia đình tôi, nhiều người bạn hỏi phải chăng Hồ Chí Minh đến ở nhà tôi để giải trí? Không phải vậy, Người ở đó để tranh thủ thời gian tìm hiểu về đời sống người dân Pháp”, ông Raymond Aubrac nhớ lại.

Đại biểu từ hơn 20 quốc gia dự hội thảo Hồ Chí MinhGiới thiệu 14 ấn phẩm mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân dịp 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 5/2010, ông Aubrac đã cùng con gái Elisabeth trở lại thăm Việt Nam. Đã 96 tuổi, nhưng hễ nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Raymond Aubrac lại trở nên phấn chấn lạ thường. “Tôi có cơ may được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhờ vào cuộc kháng chiến chống phát xít Đức của nhân dân Pháp”, ông chậm rãi mở đầu câu chuyện.

Ông kể, giữa năm 1946, sau cuộc đàm phán với Pháp không có kết quả, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp với danh nghĩa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Cũng thời gian này ở Pháp có Hội nghị Fontainebleau. Đoàn Việt Nam tham dự do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó cũng ở Paris, nhưng không tham gia hội nghị. Sau khi hội nghị kết thúc, đoàn Việt Nam về nước, còn Người ở lại để cùng với Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ Hải ngoại, đại diện Chính phủ Pháp ký bản Tạm ước với hy vọng cứu vãn hoà bình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh bế con gái đỡ đầu Elizabeth. Bên cạnh là bà Lucie Aubrac. Ảnh tư liệu.

Ngày 27/7/1946, Việt kiều ở Pháp tổ chức tiệc chiêu đãi tại Vườn Hồng Bagatelle ở Paris để chào mừng Chủ tịch. Ông Raymond Aubrac cũng có mặt trong buổi chiêu đãi. Trò chuyện trong buổi gặp gỡ đầu tiên, “người bạn Pháp” cảm nhận và chia sẻ sự gắn kết gần gũi về lý tưởng đấu tranh cách mạng với Hồ Chí Minh.

“Đó là mối quan hệ giữa cuộc kháng chiến của lực lượng yêu nước Pháp và sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam”, ông Raymond Aubrac kể lại. Ngay khi đó, ông đã nảy ý định mời Chủ tịch Hồ Chí Minh đến ở nhà riêng của mình ở Soisy-sous-Montmorency, ngoại ô Paris, dù Chính phủ Pháp dành cho Người một tầng trong ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn.

Ông Aubrac kể, khi ông làm đại diện Chính phủ Pháp tại Marseille năm 1944-1945, ở đó có rất nhiều lính thợ Việt Nam được Chính phủ Pháp tuyển mộ sang Pháp từ năm 1939 để thay thế cho thanh niên Pháp nhập ngũ. Phát hiện tại các trại này anh em bị côn đồ đàn áp, ông đã giải tán Ban chỉ huy, thay bằng những người tốt và cho anh em tự bầu ra một Ban tư vấn bên cạnh Ban chỉ huy. Từ đó anh em biết ơn ông và năm nào đến dịp lễ Tết đều mời ông dự.

“Có lẽ vì thế mà tôi được mời dự cuộc chiêu đãi ở Bagatelle và được giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và ngày hôm đó đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời tôi”, ông Aubrac nói.

6 tuần Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nhà ông là khoảng thời gian đáng nhớ nhất với gia đình ông Aubrac. Lúc đó gia đình ông Aubrac có hai vợ chồng, hai con nhỏ, mẹ vợ và một người giúp việc.

“Khi Người lưu lại gia đình tôi, nhiều người bạn Pháp hỏi phải chăng Hồ Chí Minh đến ở nhà tôi để giải trí. Không phải vậy, Người ở đó để tranh thủ thời gian tìm hiểu về đời sống của người dân Pháp, hoàn cảnh nước Pháp… Chủ tịch nói chuyện với mẹ tôi, qua đó so sánh với điều kiện sống của dân Việt Nam”, ông Aubrac nhớ lại.

Mỗi buổi sáng, người nhà ông Aubrac mang đến cho Bác sách báo tiếng Pháp, tiếng Anh, Đức, Nga… Bác thường đọc báo ngay trên thảm cỏ hàng giờ liền. Chính phủ Pháp dành cho Bác một tầng trong một ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn, nhưng Bác thường không vào Paris tiếp khách, mà mời về nhà ông Aubrac. Ở đây Bác tiếp và chiêu đãi nhiều nhân vật thuộc các khuynh hướng chính trị khác nhau, các nhà văn, nhà báo…

Ông kể lại rằng, ngày 31/7/1946, nhân ngày sinh của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm, một trí thức Việt kiều yêu nước. Bức tranh tả một bà mẹ mới sinh con, đang vươn cánh tay dài với những ngón tay mảnh dẻ vuốt đầu cháu bé. Ít lâu sau, vợ ông sinh người con gái thứ ba, Elizabeth, Người đã đến nhà hộ sinh thăm, tặng hoa và nhận là người đỡ đầu.

“Đó là ngày 15/8/1946. Từ đó trở đi, cả trong thời gian chiến tranh, chúng tôi luôn nhận được một món quà hay một cử chỉ nào đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho con gái tôi”, ông Aubrac bồi hồi.

9 năm sau kể từ năm 1946, ông Aubrac mới có cơ hội gặp lại Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1955 khi công tác tại Bắc Kinh, ông Aubrac vô tình đọc được trên tờ báo Bắc Kinh bằng tiếng Anh dòng chữ rất to “Chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm nước CHND Trung Hoa”. Ngay lập tức, ông gọi điện đến Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc nhờ gửi đến Chủ tịch Hồ Chí Minh lời chào của người bạn sau 9 năm chưa gặp lại. 15 phút sau, điện thoại đổ chuông, một người nói với ông “Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông 6 giờ sáng mai đến ăn sáng”.

Ông Raymond Aubrac (phải) nhận được tình cảm nồng nhiệt từ những người bạn Việt Nam. Trong ảnh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng thân mật bắt tay và trò chuyện với ông bên lề Hội thảo quốc tế Di sản Hồ Chí Minh giữa tháng 5. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Sáng hôm sau, lái xe đón ông đến gặp Bác Hồ. Vừa gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh ôm hôn ông và hỏi thăm tình hình gia đình, các con của ông Aubrac. Khi biết ông Aubrac đến Bắc Kinh để đàm phán về một hiệp định thương mại Pháp – Trung, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị ông giúp đỡ trong việc đàm phán hiệp định thương mại đầu tiên giữa Pháp và Việt Nam.

“Hồ Chủ tịch nói nếu như tôi ở Hà Nội thì có thể giúp Việt Nam được việc này vì hai phái đoàn Pháp – Việt đều biết tôi. Tôi đã trả lời rất vui nếu được giúp nối lại cuộc đàm phán này. Ngay sau đó tôi sang Hà Nội”, ông Aubrac kể.

Ông Aubrac đã vượt quãng đường dài 5 ngày 4 đêm từ Bắc Kinh qua cửa khẩu Lạng Sơn bằng tàu hỏa đến Việt Nam lần đầu tiên. Đến Hà Nội, ông Aubrac đã gặp ông Phạm Văn Đồng và đại diện đoàn Pháp. Trong vòng 5 phút sau khi ông Aubrac đưa ra ý kiến trọng tài về cuộc đàm phán này, hai bên đã ký Hiệp định thương mại đầu tiên. Sau đó, ông lại bắt tàu hỏa từ Lạng Sơn về Bắc Kinh.

“Thế là tôi đi mất 10 ngày, 8 đêm chỉ để làm việc 5 phút”, ông nói vui khi nhớ lại.

Năm 1967 cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam đang ở giai đoạn khốc liệt. Dư luận thế giới bày tỏ sự lo lắng, trong số đó có Pugwash, Tổ chức chống chiến tranh hạt nhân gồm nhiều nhà khoa học nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực chế tạo bom nguyên tử. Hội nghị ở Paris năm đó có bàn về vấn đề Việt Nam và nhất trí cử hai nhà khoa học Pháp làm “sứ giả” giữa Washington và Hà Nội. Mục tiêu là tiến tới sự gặp gỡ giữa người đại diện có thẩm quyền của hai Chính phủ để bàn về việc ngừng leo thang chiến tranh.

Khi đó, ông Aubrac đang làm việc cho Tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc (FAO) ở Rome (Italy). Ông nhận được yêu cầu trở về Pháp và cùng giáo sư người Pháp Herbert Marcovich thực hiện nhiệm vụ này. Hai ông phải dừng chân tại Phnom Penh (Campuchia) để xin visa vào Hà Nội vì khi đó Việt Nam chưa có đại diện ngoại giao ở châu Âu.

Sau khi tới Hà Nội, ông đã tới nhà sàn gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vừa gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi thăm bà Lucie Aubrac và các cháu, nhất là Elisabeth. Sau câu chuyện hàn huyên, ông Aubrac nói về cuộc họp của Pugwash ở Paris và nói ông có nhiệm vụ chuyển tới Chủ tịch một “bức thông điệp miệng” của Tổ chức này nhằm tìm một giải pháp cho vấn đề chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

Chủ tịch nói: “Không thể chấp nhận được, trừ khi Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá Việt Nam”. Trước khi về nhà sàn nghỉ, Bác Hồ chuyển cho ông một tấm lụa và nói: “Đây là quà tôi gửi cho Elisabeth” rồi ôm hôn ông thắm thiết.

Sau đó, trong vai trò sứ giả ông Aubrac nhiều lần tiếp xúc với đại diện Mỹ và Việt Nam ở Paris. Tháng 8/1967, Nhà Trắng gửi cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa công hàm bày tỏ sẵn sàng ngừng ném bom miền Bắc với điều kiện “việc làm này không bị lợi dụng và đưa đến những cuộc thảo luận có kết quả”.

Lần gặp năm 1967 là lần cuối cùng ông gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên đó không phải lần cuối cùng ông đến Việt Nam. Đến nay ông đã sang Việt Nam 16 lần. Vào ngày 30/4/1975, ông cũng có mặt tại Hà Nội để chứng kiến thời khắc lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Gắn bó với Việt Nam từ năm 1946, khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Paris, Raymond Aubrac là người đã giúp đỡ ký kết Bản thỏa thuận thương mại đầu tiên giữa Việt Nam và Pháp (năm 1955); trao đổi thông điệp giữa Hà Nội và Washington để xác định chấm dứt vô điều kiện việc Mỹ ném bom xuống Việt Nam (năm 1967); kêu gọi và góp phần làm chấm dứt ném bom xuống các đê sông Hồng (năm 1972).

Nguyễn Hưng
vnexpress.net

Hồ Chủ tịch qua lời kể của nữ văn công xứ Nghệ

“Đúng 7h tối, có tiếng còi ô tô, “Bác đến”, một thành viên kêu lạc cả giọng. Cả đoàn như nín thở sau cánh gà nhìn dồn vào cửa hội trường. Thật bất ngờ”, bà cụ Vinh, nữ văn công Nghệ An năm xưa nhớ lại.

Những sinh nhật giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong hai lần Hồ Chủ tịch về thăm quê (năm 1957 và 1961), có một người phụ nữ đã hát dân ca Nghệ Tĩnh cho Người nghe. Sau đó cô được ra tận Phủ Chủ tịch để cất lên những lời ca ngọt ngào xứ Nghệ. Gần 48 năm qua kể từ lần cuối được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị Lệ Vinh nguyên là cán bộ nhà văn hóa Trung tâm thành phố Huế, ngày nay vẫn nhớ như in những kỷ niệm về Bác.

Bà Vinh quê ở Thanh Hóa, trước kia làm trong đoàn văn công Nghệ An, cho biết, trong những ngày tháng công tác đã qua, bà rất vinh dự được gặp Hồ Chủ tịch 3 lần, mà 2 lần lại đúng vào lúc Người về thăm quê ở Nghệ An. Bà xúc động: “Đó là những giờ phút hạnh phúc nhất của đời tôi, để lại trong tâm hồn tôi những ấn tượng không thể phai nhòa đối với vị cha già dân tộc.”

Người phụ nữ 79 tuổi nhớ lại, cuối hè năm 1957, tin Hồ Chủ tịch về thăm quê lần đầu tiên sau bao nhiêu năm bôn ba tìm đường cứu nước đã tạo nên niềm vui to lớn trong lòng nhân dân xứ Nghệ. Mọi người tập trung tại sân vận động thành Vinh để chào đón và nghe cụ Hồ nói chuyện. Giữa cái nắng gay gắt của mùa hè, cả biển người im phăng phắc, tất cả đang hướng về phía Người, lắng nghe lời dạy: “Cán bộ phải chí công vô tư, phải đặt lợi ích của nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, phải đoàn kết, gương mẫu…”

“Đang nói, Người bỗng xin phép cởi áo ngoài cho mát. Tất cả mọi người đều rộ lên cưòi thoải mái. Thật tự nhiên cởi mở, thân mật như cha nói với con”, bà cụ trầm ngâm nhớ lại.

Ngày hôm sau, Hồ Chủ tịch về thăm quê ở Kim Liên. Khi trở về thành Vinh, Người đi xe mui trần, nhân dân lại được dịp chiêm ngưỡng vị lãnh tụ cách mạng. “May mắn làm sao, lúc đó tôi đang bế cháu nhỏ đứng gần xe Người. Cụ mặc quần áo kaki giản dị, mái tóc trắng bạc, nước da hồng hào, đứng thẳng dậy giơ tay chào đồng bào, mắt sáng long lanh và hiền từ. Mọi người nhìn Người hoan hô không ngớt.”, bà Vinh kể lại.

Hồ Chủ tịch phát kẹo cho đoàn văn công Nghệ An cuối năm 1961 sau khi xem biểu diễn. Ảnh tư liệu của bà Nguyễn Thị Lệ Vinh: Tường Vi

Cuối năm 1961, Hồ Chủ tịch lại về thăm quê lần thứ hai. Hôm ấy, đoàn văn công Nghệ An đang luyện tập thì nhận được chỉ thị của tỉnh ủy: Văn công sẽ biểu diễn phục vụ vị lãnh đạo và Người muốn nghe dân ca Nghệ Tĩnh. Cả đoàn đều reo mừng, sung sướng. Lúc bấy giờ đoàn văn công Nghệ An chỉ chủ yếu hát chèo, hát mới, diễn kịch nói chứ không có tiết mục dân ca. Diễn viên hầu hết đều là lớp trẻ mới lên nên chưa ai biết hát dân ca. Bà Vinh nói: “Ơn lãnh tụ đối với mỗi người như trời biển, vậy mà chúng tôi những người làm công tác văn nghệ lại không đáp ứng được một nhu cầu nhỏ của Người. Thật là một điều thiếu sót.”

Dòng suy tư ấy đưa bà Vinh về lại những năm tháng chống Pháp phải sơ tán lên Nam Đàn, cạnh bờ sông Lam. Nơi đó, man mác những chuyến đò dọc ngang mang đầy tiếng hát âm vang của hàng chục cô gái kéo sợi và tiếng hát đò đưa, ví dặm, ví phường vải, ru con ấy… Vậy là cô gái văn công khi ấy đánh bạo xung phong hát dân ca Nghệ cho Hồ Chí Minh nghe.

Bà kể lại: “Tôi thử hát nhẩm cho đoàn nghe, một đồng chí lớn tuổi trong đoàn bảo tôi hát đúng và nghe cũng được. Tôi sung sướng quá”. Trong lúc đó Ty văn hóa cũng mời được một “cây” hát dân ca. “Một chị ở Nam Hồng, Nam Đàn được mời về. Nhưng được biết cái vinh dự lớn quá, sợ mình không tự chủ được nên chị nhận giúp tôi luyện giọng”, bà Vinh kể tiếp.

Đến ngày diễn, lúc đó đã 4h chiều, bà Vinh đang bận rộn với một bài thơ lục bát khá dài. Tâm trạng bà lúc này rất khó tả: “Tôi hồi hộp lắm, học và tập đến quên ăn, quên ngủ, nhưng vẩn chưa dám tin ở mình”. 6h30 tối xe đưa đoàn văn công đến hội trường công an vũ trang tỉnh để chuẩn bị hóa, phục trang.

Đúng 7h tối, có tiếng còi ôtô. “Bác đến”, một thành viên trong đoàn kêu lạc cả giọng. Cả đoàn như nín thở sau cánh gà nhìn dồn vào cửa hội trường. Thật bất ngờ. Phút chốc cụ Hồ đã đến ngay bên cạnh cả đoàn văn công, nhẹ nhàng như một ông tiên có phép. Thì ra Người đã vào từ cửa sau. Cả đoàn văn công đứng sững như tượng. Rất thoải mái Hồ Chí Minh giơ tay chào, thăm hỏi sức khỏe từng người và dặn hóa trang cho đẹp, diễn cho tốt… Hành động của Người làm những lo lắng, hồi hộp của cả đoàn lắng xuống.

Cụ Hồ chụp ảnh với đoàn văn công Nghệ An tại Phủ Chủ tịch năm 1962. Ảnh tư liệu của bà Nguyễn Thị Lệ Vinh: Tường Vi

Trong toàn bộ buổi diễn có thể nói tiết mục dân ca được xem là then chốt, được xếp vào giữa chương trình để có thời gian chuẩn bị.

“Bước ra sân khấu, tôi cố lấy lại bình tĩnh, tự chủ hơn, tôi nhìn Bác, lại nhìn khán giả, tự nhiên cảm thấy một luồng động viên to lớn. Tôi bắt đầu hát, dường như tôi đã “mê” đi trong sự nhập vai, đồng thời cần phải “tỉnh” trong ý thức trách nhiệm nghệ thuật. Cái phần “tỉnh” của tôi đang đưa mắt nhận ra Người đang nhìn tôi chăm chú, còn phần “mê” đưa tôi sống cùng tâm tình của cô gái đưa tiễn người yêu”, người nữ văn công năm xưa nói và bắt đầu hát nhè nhẹ lời ca năm nào: “Ra về răng được mà về, bức thư chưa gửi lời thề chưa trao…”.

Tiết mục hát ví phường vải của cô làm Hồ Chí Minh xúc động. Người rút khăn tay chấm nước mắt khi nghe tiếng hát khơi gợi thời xa xưa của mình, sau đó nói với ông Nguyễn Sĩ Quế, Thường vụ tỉnh ủy Nghệ An bấy giờ: “Nên khen cháu gái hát dân ca, vì ngày xưa người ta chỉ hát ví ở sân nhà, ngoài đồng, trên sông. Nay cháu đã mạnh dạn đưa lên sân khấu mà lại hát có tình có ý, nghe hay, có sáng tạo”.

“Sau này Ty văn hóa Nghệ An đã gửi thư khen ngợi tôi có cố gắng hát dân ca phục vụ Người về thăm quê hương”, Bà Vinh với giọng tự hào kể lại.

Hôm ấy, sau khi buổi diễn kết thúc, cả đoàn văn công sung sướng ra sân khấu chào Hồ Chủ tịch. Người nhanh nhẹn bước lên sát sân khấu, giơ cao một chiếc lẵng mây, tươi cười: “Các cháu diễn tốt Bác thưởng kẹo, có thích ăn kẹo không?” cả đoàn đồng thanh: “Thưa Bác có ạ”. Người nhìn khắp lượt xem chưa phát kẹo cho ai. Nhà thơ Xuân Tiến, cán bộ Ty văn hóa đưa hai tay ra thưa: “Cháu xin Bác”. Đầy vẻ hóm hỉnh, vị cha già dân tộc thu lại lẵng kẹo và nói: “Chú có phải diễn viên đâu mà cho chú”. Mọi người bật cười vui vẻ.

Người nữ văn công năm xưa Nguyễn Thị Lệ Vinh với những bức ảnh chụp với Bác Hồ. Ảnh: Tường Vi

Chưa đầy một năm sau, mùa hè 1962, đoàn văn công Nghệ An ra Hà Nội tập huấn để dự hội toàn miền Bắc. Tại đây bà Vinh lại có cơ hội gặp được Hồ Chí Minh lần nữa. Lúc ấy toàn miền Bắc đang có phong trào tiết kiệm gạo ủng hộ miền Nam, mỗi bữa chỉ có 2 lạng gạo, thêm phần luyện tập căng thẳng, thời tiết thì nắng nóng. Vậy mà khi biết đoàn được biểu diễn phục vụ Hồ Chủ tịch với vở chèo “Cô gái sông Lam” thì tất cả mọi người như được uống thuốc tiên vậy. Không ai kêu ca, không thiết nhọc nhằn, mệt mỏi gì nữa. Tất cả đều hăng say luyện tập trông chờ ngày gặp Người.

Khoảng 5 ngày sau, xe đoàn văn công Nghệ An đến Phủ Chủ tịch. Đây là lần đầu mọi người đến đây, mọi thứ đều hết sức mới lạ. Khi các văn công vào hóa trang, lại một lần nữa vị lãnh tụ làm mọi người bất ngờ. “Người đến sớm hơn thường lệ, vào thăm chúng tôi trước giờ diễn, vui vẻ hỏi quê quán từng người. Không khí căng thẳng ban đầu đã bị hóa giải bởi những lời hỏi han, những câu đùa thân mật của cụ”, bà Vinh kể.

Người nữ văn công nhớ: Với anh Nghĩa, quê ở Nghi Lộc, Người nhại lại bằng tiếng địa phương: “Nghi Lộc à? Con méo! Con méo!” (con mèo). Đến anh Thái Quang Ngoạn, trưởng đoàn quê ở Thừa Thiên – Huế, Người giả bộ lắc đầu: “Rứa là không phải Nghệ An bầy choa”. Mọi người cười rộ lên. Bà Vinh nói: “Cụ quay sang hỏi tôi. Tôi trả lời: “ Cháu ở Vinh ạ”. Người nhìn tôi gật đầu, nhớ ra cô gái hát dân ca ngày nào. Lúc đó tôi đang bế cháu nhỏ, Cụ âu yếm hỏi đùa: “Cháu này cũng đi biểu diễn à?”. Rồi Người dặn dò chúng tôi diễn cho hay, Cụ sẽ ngồi xem đến hết”.

Sau buổi diễn, Người thưởng một huy hiệu Hồ Chí Minh cho ông Nguyễn Trung Phong, Trưởng phòng văn nghệ Ty Văn hóa là tác giả kịch bản. Cả đoàn lặng đi vì xúc động. Người chụp chung với đoàn văn công một bức ảnh làm kỷ niệm.

Sau đó Hồ Chủ tịch dặn các cán bộ phụ trách mời ăn bánh uống nước. Các đồng chí phụ trách chân tình trò chuyện: “Các cậu là sướng nhất. Trước tới nay, nhiều đoàn vào phục vụ, nhưng vì tuổi cao ít khi Bác xem quá một tiếng, thế mà hôm nay Người xem hơn 2 tiếng đồng hồ”. Chỉ từng ấy thôi đã khiến bao trái tim trong đoàn thổn thức, nhiều dòng nước mắt sung sướng và biết ơn dâng trào.

“Người đã giúp cho chúng tôi nhận thức đúng hơn về giá trị quan trọng của dân ca nói riêng và giá trị lớn lao của văn nghệ nói chung”, bà Vinh đúc kết.

* Nghe Lời Bác dặn trước lúc đi xa

Tường Vi
vnexpress.net

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 2: Bí mật kế hoạch X

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Thông qua những số liệu và dữ kiện lịch sử, cùng với lời kể của các nhân chứng và sự phân tích của các học giả, phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 2: Bí mật kế hoạch X.

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 3: Trước giờ G

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Thông qua những số liệu và dữ kiện lịch sử, cùng với lời kể của các nhân chứng và sự phân tích của các học giả, phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 3: “Trước giờ G”.

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 4: Nghi binh Khe Sanh

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 4: Nghi binh Khe Sanh.

Phim tài liệu Mậu Thân 1968 – Tập 5: Tết Mậu Thân 1968

Bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan, dài 12 tập do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất (thời lượng 30 phút/tập). Phim sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Mời quý vị và các bạn xem tập 5: Tết Mậu Thân 1968.