Lễ báo công dâng Bác của Đại hội đại biểu Hội Nông dân thành phố Hà Nội lần thứ VIII

Nhân dịp kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, 38 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc và chào mừng Đại hội đại biểu Hội Nông dân thành phố Hà Nội lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2013-2018, chiều ngày 15/4/2013, 350 đại biểu dự Đại hội đại biểu Hội Nông dân thành phố Hà Nội lần thứ VIII đã vinh dự tổ chức lễ báo công dâng Bác, báo cáo với Bác những thành tích xuất sắc của tổ chức Hội và giai cấp nông dân Hà Nội trong những năm qua.

Lễ báo công dâng Bác1
Buổi lễ báo công diễn ra trang nghiêm trên Quảng trường Ba Đình

Trong thư gửi Hội nghị cán bộ nông dân toàn quốc (họp từ 28/11 – 7/12/1949), Bác viết:  Nông vận phải là:

– Tổ chức nông dân phải chặt chẽ.

          – Đoàn kết nông dân thật khăng khít.

          – Huấn luyện nông dân thật giác ngộ.

          – Lãnh đạo nông dân hăng hái đấu tranh cho lợi ích của nông dân, của Tổ quốc.

Người còn nhấn mạnh: “Vận động nông dân là phải vận động thế nào cho toàn thể nông dân đông, nghĩa là: Làm cho nông dân hiểu rõ quyền lợi của dân tộc và của giai cấp mình. Muốn thế thì cán bộ làm công tác vận động nông dân phải tránh bệnh chủ quan, bệnh hình thức, bệnh giấy tờ, cán bộ tỉnh phải đến tận các huyện, các xã, các thôn, cán bộ phải chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc nghĩ để thiết thực điều tra giúp đỡ, kiểm soát rút kinh nghiệm giúp đỡ nông dân và học hỏi dân”.

Thấm nhuần những lời dạy của Người, trong những năm qua, toàn thể cán bộ, hội viên Hội Nông dân thành phố Hà Nội đã không ngừng ra sức thi đua, đoàn kết, phấn đấu trưởng thành, vượt qua nhiều khó khăn thử thách như thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh trên người và gia súc. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Thành uỷ Hà Nội; sự giúp đỡ, tạo điều kiện có hiệu quả của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân;  sự phối hợp chặt chẽ của Mặt trận Tổ quốc, các đơn vị, doanh nghiệp… công tác Hội và phong trào nông dân Hà Nội trong những năm qua đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội của Thủ đô. Công tác xây dựng tổ chức Hội đổi mới; các phong trào thi đua cụ thể, thiết thực, hiệu quả, thực sự giữ vai trò nòng cốt trong các phong trào ở nông thôn; đội ngũ cán bộ Hội đoàn kết, từng bước trưởng thành đáp ứng được yêu cầu; vai trò, vị thế, uy tín của Hội được khẳng định và nâng cao trong xã hội, đồng thời góp phần quan trọng vào sự ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển Thủ đô giàu đẹp, văn minh, hiện đại. Những lời căn dặn của Bác với cán bộ, hội viên Hội Nông dân là nguồn động viên, định hướng trên con đường xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong công cuộc xây dựng nông thôn mới của Thủ đô Hà Nội.

Lễ báo công dâng Bác2
Kết thúc buổi lễ, Hội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh  kính yêu

Trước anh linh của Người, cán bộ, hội viên Hội Nông dân Hà Nội xin hứa: Sẽ ra sức thi đua, tập trung xây dựng tổ chức Hội vững mạnh toàn diện; nâng cao hiệu quả, chất lượng các phong trào thi đua, các cuộc vận động; chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nông dân; tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền; chủ động tham gia xây dựng nông thôn mới góp phần đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển Thủ đô giàu đẹp, văn minh, hiện đại, giữ vững phẩm chất chính trị vững vàng của người cán bộ Hội, hết lòng, hết sức với nông dân./.

Vân Phương
bqllang.gov.vn

Sức lan tỏa từ giá trị của các công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trong nước

Hội thảo với chủ đề “Bảo tồn và phát huy giá trị các công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trong nước” do Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) tỉnh Nghệ An tổ chức từ ngày 8-9/4/2013 tại thành phố Vinh. Tham gia Hội thảo có gần 200 đại biểu đến từ Bảo tàng của các tỉnh, các Khu Di tích lịch sử, Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cả nước.

hoi-thao-khoa-hoc1
Tiến sỹ Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh phát biểu
tại Hội thảo khoa học

 Sinh ra và lớn lên từ quê hương Nam Đàn, Nghệ An, Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã sớm có chí đánh đuổi thực dân, phong kiến. Tuổi thơ của Người gắn bó với những hoạt động yêu nước của cha anh và lớp lớp sỹ phu, công nhân lao động khắp các tỉnh miền Trung, miền Nam trước khi ra đi tìm đường cứu nước.

Năm 1941, Người về Pắc Bó – Cao Bằng trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục cùng Trung ương Đảng lãnh đạo sự nghiệp giữ vững chính quyền cách mạng, tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước. Dấu ấn hoạt động của Người, cùng với những lần đi kiểm tra, làm việc trải dài, rộng khắp ở nhiều tỉnh, thành, địa phương trong cả nước. Sau khi Người qua đời, với lòng thành kính và biết ơn Hồ Chủ tịch, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người, xây Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội và hệ thống các bảo tàng, các di tích lịch sử lưu niệm về Người trong cả nước để lưu giữ, bảo quản, tôn tạo và phát huy giá trị của những tài liệu, hiện vật, hình ảnh về Người.

Bên cạnh những công trình lớn ấy, với lòng kính yêu, biết ơn, tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã sáng tạo ra nhiều hình thức tưởng niệm phong phú, đa dạng như: Tượng, Tượng đài, Nhà bia, Đền thờ, Quảng trường, Thờ phối trong các đền, chùa, lấy tên của Bác đặt cho thành phố, trường học….. Gần nửa thế kỷ qua, những công trình tưởng niệm và mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện tình cảm thiêng liêng mà còn là niềm tự hào, động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhân dân ta tích cực thực hiện lời dạy của Người là xây dựng một nước Việt Nam: Hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Theo thống kê của cơ quan chức năng, hiện nay trên cả nước có gần 400 công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang phát huy tác dụng, đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp giáo dục, tuyên truyền về thân thế, cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong không khí sôi nổi của cuộc Hội thảo, các đại biểu đã trao đổi và phát biểu những ý kiến hết sức sâu sắc và kinh nghiệm về quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị các công trình tưởng niệm Bác Hồ. Ông Nguyễn Bá Hòe, Giám đốc Khu Di tích Kim Liên cho biết:“Khu Di tích Kim Liên là nơi lưu giữ những tài liệu, hiện vật vô giá về Chủ tịch Hồ Chí Minh và gia đình của Người.Thông qua những tư liệu, hiện vật, người xem sẽ hiểu được hoàn cảnh sống của gia đình Bác Hồ, đó là lòng yêu nước thiết tha, chí căm thù giặc, tấm lòng bao dung, đức hy sinh cao cả… Những năm qua, Khu Di tích thường xuyên mở cửa đón khách tham quan tất cả các ngày trong năm, kể cả ngày lễ, ngày chủ nhật, có khi ngoài giờ hành chính.

Ngoài ra Khu Di tích còn còn tích cực đổi mới, sáng tạo trong các hoạt động tuyên truyền của mình như: Báo cáo chuyên đề về Bác Hồ, tổ chức triển lãm, tọa đàm khoa học… Đội ngũ cán bộ, hướng dẫn viên của Khu Di tích với niềm vinh dự, tự hào là những người con quê hương Bác Hồ, bằng tinh thần trách nhiệm, tinh thần thái độ phục vụ hòa nhã, văn minh, lịch sự đã đón tiếp và hướng dẫn tận tình chu đáo đồng bào và khách quốc tế tới thăm Khu Di tích  đồng thời để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách”.

Theo con số thống kê của Khu Di tích, đến nay đã có trên 30 triệu lượt khách tới tham quan, bình quân hàng năm đón từ 1,6 đến 2 triệu lượt người. Năm có số lượng khách tham quan lớn nhất là năm 1990 – kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu Di tích đã đón 4,3 triệu lượt khách.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoa Xinh, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, các thiết chế, công trình tưởng niệm Bác Hồ ở thành phố Hồ Chí Minh đã phát huy giá trị, ý nghĩa chính trị là giáo dục, tuyên truyền về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân của thành phố. Hiện nay trên thành phố Hồ Chí Minh chỉ có hai cụm công trình tưởng niệm Bác Hồ, đó là: Tượng đài Bác Hồ với thiếu nhi và Tượng Nguyễn Tất Thành tại Bến cảng Sài Gòn nhưng đây là những công trình có ý nghĩa đặc biệt đối với nhân dân thành phố. Tất cả các sinh hoạt chính trị, các buổi đặt hoa, dâng hương, báo công đều được tổ chức trang trọng ở nơi đây, và các cụm công trình này thực sự là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của nhân dân đối với Bác Hồ kính yêu.

hoi-thao-khoa-hoc2
Quang cảnh buổi Hội thảo khoa học

Đến từ tỉnh cực nam Trung bộ, đại biểu của Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Bình Thuận trong tham luận của mình đã đề cập đến tính hiệu quả trong các hoạt động tuyên truyền giáo dục tại Khu Di tích Dục Thanh – Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Bình Thuận, một công trình tưởng niệm của nhân dân Bình Thuận đối với Bác Hồ kính yêu và là một trong những điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Bình Thuận được khởi công xây dựng năm 1986, thể theo ý chí, nguyện vọng và lòng kính yêu sâu sắc của nhân dân Bình Thuận đối với Bác. Những năm qua, một trong những hoạt động thu hút khách đến với bảo tàng là hoạt động tưởng niệm, hoạt động này từ lâu đã trở thành một nghi lễ không thể thiếu đối với các đoàn khách mỗi khi đến với Dục Thanh. Tại gian trang trọng của bảo tàng, hàng ngàn buổi lễ tưởng niệm, dâng hoa, dâng hương, báo công… được tổ chức, tạo ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách.

Trong giây phút thiêng liêng đứng trước chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, tất cả như được trở về với cội nguồn dân tộc, luôn cảm thấy thanh thản lạ thường. Ánh mắt bao dung, đôn hậu và tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác đã tiếp thêm sức mạnh to lớn, để mỗi cá nhân tự hứa với lòng mình sẽ thực hiện tốt hơn những lời Bác dạy. Tất cả mọi người, từ các cụ già đến các cháu nhỏ khi đến với Bảo tàng đều có những ấn tượng sâu sắc, thông qua những dòng lưu niệm được ghi lại: “… Tôi đã được xem Bảo tàng về Bác ở nhiều nơi, nhưng Bảo tàng Bác Hồ ở Bình Thuận rất đẹp, nội dung cô đọng, rõ ràng, có tác dụng giáo dục rất mạnh nên đã gây nhiều cảm xúc trong tôi, đặc biệt là gian tưởng niệm Bác Hồ” (Cụ Nguyễn Hữu Quý – Câu lạc bộ Hội người cao tuổi Thủ đô Hà Nội, ngày 08/5/2010), “Hôm nay được dẫn đoàn học sinh Trường THCS và THPT Phạm Ngũ Lão  Quận Gò Vấp  Tp Hồ Chí Minh đến dâng hương tưởng niệm Bác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh Bình Thuận và vinh dự tổ chức lế kết nạp Đoàn cho thanh niên của trường, tôi cảm thấy thật vinh dự và hạnh phúc. Đây sẽ mãi là nơi giáo dục truyền thống được giới trẻ tôn kính và tưởng nhớ”, (Nguyễn Thị Thanh Thảo – giáo viên Văn A, ngày 21/3/2013).

Lúc sinh thời, do hoàn cảnh đất nước còn trong chiến tranh, Bác Hồ chưa có dịp vào thăm Tây Nguyên, nhưng đồng bào Tây Nguyên luôn kính yêu và biết ơn vô hạn đối với Người và ngược lại, Bác cũng dành vô vàn tình yêu thương đối với đồng bào Tây Nguyên.

Tới tham dự Hội thảo, trong tham luận của mình, đại biểu Huỳnh Văn Kính – Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum cho chúng tôi biết một thông tin quý giá về một hiện vật đặc biệt hiện đang được lưu giữ trong bảo tàng: Đó là bức tượng Bác Hồ được đúc bằng đồng cao 12,5cm. Về sự ra đời của Bức tượng này, theo lời kể của một số lão thành cách mạng, vào giữa những năm 60 của thế kỷ trước, một người dân tộc Jrai ở xã Ia Lang, huyện Đức Cơ đã bí mật đúc thủ công một bức tượng Bác Hồ bằng đồng  tặng cho chi bộ xã. Bức tượng chỉ cao 12,5cm nhưng luôn được đặt trang trọng trong lễ kết nạp đảng viên mới và được truyền từ chi bộ này đến chi bộ khác. Sau đó, tượng Bác được truyền tay đến những chiến sĩ cộng sản. Họ truyền tay nhau, người ngã xuống truyền cho đồng đội với lời căn dặn: “Các đồng chí dù có phải hy sinh cũng quyết giữ lấy tượng Bác để làm cách mạng”. Cứ thế bức tượng luôn được giữ cẩn thận qua bao trận càn quét của địch. Bức tượng Bác được xem là chứng nhân của lịch sử, hiện nay đang được lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum.

Lòng dân Tây Nguyên với Bác đặc biệt còn khắc ghi qua câu chuyện góp gỗ xây Lăng Bác ở Hà Nội. Những cây gỗ quý giá hàng trăm năm tuổi ở rừng nguyên sinh Kon Hà Nừng đã hòa quyện vào tình cảm, trái tim của đồng bào Tây Nguyên để xây dựng Công trình Lăng Bác. Sức mạnh nào, nếu không phải là tình yêu, lòng kính trọng liệu có thể thực hiện công việc khó khăn đến thế khi phải vượt đường xa, suối sâu, bom đạn của chiến tranh để đưa gỗ ra tới Thủ đô. Hiện nay, ở Gia Lai có 3 công trình tưởng niệm Bác Hồ, đó là: Bảo tàng Hồ Chí  Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum, Tượng đài “Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên” tại Quảng trường Đại Đoàn Kết và địa điểm đón thư Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku năm 1946. Trong đó, Công trình Tượng đài “Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên” được khánh thành ngày 09/12/2012 thực sự là niềm tự hào của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, một công trình lịch sử – văn hóa, có giá trị to lớn. Như tâm sự của ông Huỳnh Minh Kính: Điều quan trọng nhất với công trình này là niềm mơ ước bấy lâu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nay đã trở thành hiện thực. Có Bác về bên cạnh, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tin tưởng chắc chắn rằng, “trời Tây Nguyên thêm xanh” hơn.

Đã hơn 40 năm ngày Bác Hồ đi xa, nhưng tấm lòng của mỗi người dân đất Việt đều hướng về Người với tình cảm đặc biệt. Ngày nối ngày, trên Quảng trường Ba Đình nơi Bác Hồ đang yên nghỉ hay tại các Di tích, Công trình tưởng niệm về Người trên khắp cả nước, hàng vạn lượt nhân dân và khách quốc tế thành kính đến với Người bằng tình cảm sâu nặng. Đã từ lâu rối, mọi người dân Việt Nam đến với Bác như một nhu cầu tinh thần, một phong tục tập quán, một đời sống văn hóa tâm linh. Một nén nhang thơm, một phút tưởng niệm trước tượng đài, phòng thờ của Người chính là tâm nguyện, là niềm tin mãnh liệt của người dân Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Có thể khẳng định rằng, trong nhiều năm qua hoạt động của các Di tích và các Công trình tưởng niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước đã phát huy giá trị, đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp giáo dục và phát huy truyền thống cách mạng của Đảng và nhân dân, động viên các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, trong phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, các Di tích, Công trình tưởng niệm về Người sẽ tiếp tục là điểm đến hấp dẫn và là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của nhân dân; để mỗi người đến với Bác tự thấy lòng mình bình yên, thanh thản, biết sợ hãi khi làm điều xấu, thấy hạnh phúc khi làm điều tốt lành. Mỗi người sống tốt lành cả xã hội sẽ tốt lành, đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc./.

Trần Duy Hưng
bqllang.gov.vn

Tượng đài Bác Hồ trên quê hương Nghệ An

Quảng trường Hồ Chí Minh và Tượng đài Bác Hồ tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An là một công trình văn hóa đặc biệt, là một tác phẩm có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, thể hiện tấm lòng kính yêu của nhân dân tỉnh Nghệ An và nhân dân cả nước đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đây không chỉ là một trong những biểu tượng văn hóa của nhân dân Nghệ An, nơi tổ chức các hoạt động văn hóa-xã hội mà còn là một địa chỉ đỏ, nơi tìm hiểu về lịch sử truyền thống, về Chủ tịch Hồ Chí Minh của du khách khi hành hương về quê Bác.

tuong-dai-Bac-Ho1Ông Cao Đăng Vĩnh, Giám đốc Sở VHTT&DL Nghệ An phát biểu tại Lễ kỷ niệm 10 năm phát huy giá trị công trình Quảng trường Hồ Chí Minh và Tượng đài Bác Hồ (2003- 2013)

Quảng trường Hồ Chí Minh và tượng đài Bác Hồ là nơi hội tụ sắc trời của thành Vinh, là điểm nhấn của không gian, kiến trúc và ấn tượng cho du khách mỗi khi đi trên con đường thiên lý Bắc –Nam. Hòa vào dòng người hành hương về xứ Nghệ trong những ngày này, đi trên Quảng trường Hồ Chí Minh lộng gió, trong tôi trào dâng một cảm xúc bồi hồi, một cảm giác thấy là lạ mà thân quen. Nơi đây cũng có một không gian khoáng đạt mà thật giống với Quảng trường Ba Đình, nơi có Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cũng những hàng vạn tuế đứng hai bên, những ô cỏ vuông vắn và hệ thống tưới phun và hàng trăm loài cây, hoa của khắp mọi miền Tổ quốc cùng hội tụ về đây đua nhau khoe sắc thắm. Chính giữa Quảng trường là Tượng đài Bác Hồ uy nghi mà giản dị, vẫn phong thái ung dung tự tại, đôi dép cao su quen thuộc như ngày nào Bác về thăm quê. Toàn bộ Tượng đài Bác Hồ được làm bằng chất liệu đá granit được lấy từ Bình Định dựng theo mẫu của nhà điêu khắc Đỗ Như Cẩn (Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh) cao 18 mét (phần thân tượng cao 12 mét), nặng 150 tấn. Tượng Bác dựa vào thế núi mô phỏng theo núi Chung ở Làng Sen quê của Người, một địa danh đã gắn bó với Bác từ thuở ấu thơ. Núi được đắp hình chữ “Vương” , đỉnh cao nhất là 11m, thấp nhất là 9m và có đường lên núi tham quan thuận tiện. Mặt trước của núi có trồng cây xanh tạo phông cho Tượng đài Bác, phía sau núi Chung tạo rừng nguyên sinh phục vụ hoạt động vui chơi, nghỉ ngơi cho nhân dân và du khách đến thăm. Phía trước Tượng Bác là khoảng không gian của Quảng trường gồm 99 ô cỏ xanh mướt, rộng 11ha. Đây chính là nơi diễn ra các sinh hoạt văn hóa- chính trị vào mỗi dịp lễ quan trọng và là nơi nhân dân Nghệ An, du khách tham quan hàng ngày.

Tìm hiểu về quá trình xây dựng Tượng đài Bác Hồ và Quảng trường Hồ Chí Minh, ông Cao Đăng Vĩnh, Giám đốc Sở VHTT&DL tỉnh Nghệ An cho biết: “Công trình được khởi công xây dựng ngày 19/5/2000 nhân dịp kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và khánh thành ngày 18/5/2003. Quảng trường Hồ Chí Minh và Tượng đài Bác Hồ là một công trình văn hóa có giá trị đặc biệt và ý nghĩa chính trị quan trọng. Để có được một công trình văn hóa này là cả một quá trình về ý tưởng, về lựa chọn địa điểm, mẫu sáng tác phác thảo và quá trình thi công… Tất cả ở đó là kết tinh tình cảm, trí tuệ, lòng biết ơn sâu sắc đối với Bác Hồ kính yêu của mọi người, từ các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý, các nhà văn hóa, các nhà điêu khắc đến các tầng lớp nhân dân ở mọi miền đất nước”.

Song song với việc xây dựng Quảng trường và Tượng đài Bác Hồ, ngày 10/4/2003, UBND tỉnh Nghệ An đã ra quyết định thành lập Ban Quản lý Quảng trường Hồ Chí Minh và Tượng đài Bác Hồ, với chức năng, nhiệm vụ chính: Tổ chức bảo vệ, gìn giữ và phát huy giá trị công trình Quảng trường Hồ Chí Minh và tượng đài Bác Hồ. Sau tròn 10 năm đi vào hoạt động, Ban Quản lý Quảng trường Hồ Chí Minh và Tượng đài Bác Hồ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, góp phần vào công tác giáo dục, tuyên truyền về Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đến với mọi tầng lớp nhân dân và khách quốc tế. Ông Trương Hải Linh, Trưởng Ban Quản lý Quảng trường Hồ Chí Minh và Tượng đài Bác Hồ phấn khởi cho biết: “Xác định rõ tầm quan trọng của công trình có ý nghĩa chính trị- văn hóa mang tầm cỡ quốc gia nên Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ, viên chức và người lao động Ban Quản lý Quảng trường Hồ Chí Minh và Tượng đài Bác Hồ nỗ lực hết mình, không quản ngày đêm để bảo vệ, gìn giữ và phát huy giá trị công trình. Kể từ ngày khánh thành công trình tới nay, Quảng trường đã tổ chức đón tiếp và làm tốt công tác dâng hoa tưởng niệm trước Tượng đài Bác Hồ và trồng cây lưu niệm cho đoàn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, các bộ, ban ngành Trung ương, lãnh đạo tỉnh Nghệ An và các đoàn khách quốc tế, đồng bào trong và ngoài nước, du khách các nước tham quan, học tập, nghiên cứu. Ngoài ra, Ban quản lý còn phối hợp với các đơn vị tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch trong các ngày lễ, ngày kỷ niệm trọng đại của đất nước”

Theo con số thống kê của Ban Quản lý: Mỗi năm đơn vị đã đón tiếp gần 4 triệu lượt khách tham quan, vui chơi giải trí; Tổ chức dâng hoa, báo công, sinh hoạt chính trị cho 250 đoàn, trong đó có nhiều đoàn đến từ các nước như: Lào, Thái Lan, Trung Quốc, Australia, Camphuchia, Mỹ, Hàn Quốc…; Tổ chức tuyên truyền bằng pano, áp phích, cờ vui, cờ phướn, thăm hoa logo chữ mỗi năm 7-8 đợt tạo thành điểm nhấn tuyên truyền, trang trí rực rỡ trên địa bàn thành phố Vinh. Hàng ngày, tổ chức tuyên truyền trên hệ thống loa phóng thanh, các tin bài viết, bài hát ca ngợi Đảng, Bác Hồ, quê hương, đất nước, con người xứ Nghệ. Mỗi năm Ban Quản lý còn tổ chức xây dựng mới và triển lãm ảnh chuyên đề tại Quảng trường Hồ Chí Minh 2-3 đợt, thu hút hàng chục nghìn người tham gia…. Để đa dạng hóa các hoạt động phục vụ du khách và nhân dân tại Quảng trường, đơn vị đã phối hợp với các đơn vị, tổ chức, cá nhân tổ chức nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật ngay trên Quảng trường. Được biết  Ban Quản lý cũng đang tích cực làm công tác chuẩn bị để xây dựng và hoàn thiện trang tin điện tử, xuất bản các ấn phẩm, phim phóng sự về quá trình xây dựng, trưởng thành của Ban Quản lý Quảng trường Hồ Chí Minh và Tượng đài Bác Hồ.

Là một công trình của tỉnh Nghệ An, thể hiện tình cảm của người dân Nghệ An nói riêng và của cả nước nói chung đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, công trình Quảng trường Hồ Chí Minh và Tượng đài Bác Hồ có vị trí quan trọng trong lòng nhân dân và khách quốc tế, đã và đang phát huy tác dụng to lớn trong công tác bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng của Người thấm sâu, lan rộng trong mọi tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế.

Duy Hưng
bqllang.gov.vn

Lấy phiếu tín nhiệm không thể bất chấp nguyên tắc

Câu chuyện Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (ĐHKTQD) dường như chưa thể có hồi kết. Trong khi quyết định xử lý kỷ luật mức cảnh cáo ông Nguyễn Văn Nam, Hiệu trưởng Trường ĐHKTQD vẫn còn đang gây bức xúc dư luận vì không thỏa đáng, thì những ngày gần đây, ở trường này lại diễn ra trò mới. Đó là một cuộc “chạy đua” không đẹp mắt của một số ứng viên đang được nhắm vào vị trí Hiệu trưởng mới; đồng thời Hiệu trưởng đương nhiệm Nguyễn Văn Nam vẫn có nhiều động thái không minh bạch.

Ngày 10/4/2013, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ký Văn bản số 2370/BGDĐT-TCCB về việc tổ chức lấy phiếu tín nhiệm để bổ nhiệm Hiệu trưởng mới Trường ĐHKTQD (nhiệm kỳ 2013-2018). Cuộc bỏ phiếu này sẽ tiến hành vào ngày 25/4/2013. Ngày 17/4/2013, Hiệu trưởng Nguyễn Văn Nam ký ban hành Quyết định số 197/QĐ- ĐHKTQD-TCCB “về việc thành lập Tổ công tác phối hợp thực hiện quy trình để đề nghị cấp có thẩm quyền bổ nhiệm nhân sự giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường ĐHKTQD nhiệm kỳ 2013-2018”.

Theo quyết định này, tổ công tác có 11 thành viên, trong đó ông Nguyễn Văn Nam, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng, người vừa bị kỷ luật cảnh cáo lại là Tổ trưởng và ông Nguyễn Đức Hiển, Trưởng phòng Tổ chức cán bộ được giao làm Ủy viên thường trực.

Trong bức thư đề ngày 18/4 của GS.TSKH Lê Du Phong, nguyên quyền Hiệu trưởng (2002-2003) gửi Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận đã nhấn mạnh: “Về quyết định lấy phiếu tín nhiệm Hiệu trưởng mới của trường do Bộ trưởng ký (thành lập tổ công tác) ngày 10/4/2013 cũng vậy, Hiệu trưởng và Trưởng phòng Tổ chức cán bộ cũng giữ kín không cho ai biết (ngay cả một số Phó Hiệu trưởng – Thường vụ Đảng ủy). Thế rồi Hiệu trưởng ra quyết định thành lập tổ công tác giúp Bộ thực hiện việc này. Xin báo cáo với GS Bộ trưởng là tổ công tác này toàn những người thân cận của GS Nam (nếu làm nghiêm túc thì một vài người trong đó đã bị kỷ luật nặng như Nguyễn Đức Hiển chẳng hạn). Vì thế tôi rất lo ngại sự minh bạch, sự công tâm của tổ này trong việc giúp tổ công tác của Bộ, nhất là trong việc kiểm phiếu”.

Trong khi “tổ công tác với 11 thành viên” này đang gây nhiều mối nghi ngờ, khó hiểu với cán bộ, công nhân viên nhà trường, thì tối 18/4, một vị ứng cử viên để ngồi ghế Hiệu trưởng mới đã mở tiệc chiêu đãi thịnh soạn tại nhà hàng Quán Gió, Công viên Thống Nhất, Hà Nội. Vị này còn công khai tặng hàng trăm suất quà cho hầu hết số người thuộc diện được đi bỏ phiếu ngày 25/4…

Theo GS Nguyễn Văn Thường, nguyên Hiệu trưởng và GS Nguyễn Thành Độ, nguyên Phó Hiệu trưởng của ĐH KTQD thì việc làm của vị này là trục lợi, động cơ không trong sáng và không hay chút nào vào thời điểm nhạy cảm này.

Theo thông tin của Báo CAND, do nắm bắt được tâm tư của đông đảo cán bộ giáo viên của ĐH KTQD phản đối việc ông Nam và ông Hiển là thành viên tổ công tác bổ nhiệm Hiệu trưởng mới, chiều 22/4, Bộ GD&ĐT đã triệu tập, chỉ đạo và yêu cầu ông Nam, ông Hiển ra khỏi danh sách tổ công tác.

Thay vào đó là GS.TS Phan Công Nghĩa, Phó Hiệu trưởng Thường trực làm Tổ trưởng và ông Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy, Giám đốc Trung tâm Đào tạo liên tục thay ông Nguyễn Đức Hiển. Đồng thời tổ công tác của Bộ sẽ trực tiếp kiểm phiếu ngay tại chỗ có sự giám sát của Đảng ủy và các Giáo sư Phan Công Nghĩa, Nguyễn Viết Lâm.

Sáng 24/4, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Bùi Văn Ga đã có buổi làm việc “khẩn cấp” với nhà trường về quy trình lấy phiếu tín nhiệm, bổ nhiệm Hiệu trưởng mới. Thứ trưởng cho biết, tổ công tác của Bộ thực hiện theo đúng quy định của Ban Tổ chức TW Đảng để đảm bảo sự công khai minh bạch. Tổ công tác của Bộ sẽ tham gia kiểm phiếu, còn việc nhân sự sẽ do Đảng ủy và quần chúng trong trường giới thiệu, Bộ không can thiệp vào nhân sự…

Thiết nghĩ, chuyện lấy phiếu tín nhiệm là một hoạt động thường xuyên ở bất cứ cơ quan, tổ chức nào. Nhưng “lấy phiếu tín nhiệm” như cách làm của Trường ĐH KTQD, đến mức mà Bộ GD&ĐT phải can thiệp, rút bớt thành viên ra khỏi tổ công tác thì là điều khó chấp nhận ở một trường ĐH lớn như ĐH KTQD. Hy vọng, với sự giám sát chặt chẽ của Bộ GD&ĐT, quy trình lấy phiếu tín nhiệm bầu Hiệu trưởng mới của ĐH KTQD sẽ đảm bảo sự minh bạch, dân chủ, chọn được người thực tâm, thực tài giúp đoàn kết nội bộ, phát huy được sức mạnh tập thể, giúp lập lại kỷ cương ở một trường đại học lớn

PV
cand.com.vn

Bộ Chính trị quyết định tổng tấn công trong thời gian sớm nhất

Sáng 31-3, Bộ Chính trị họp mở rộng. Đây là cuộc họp lịch sử bàn về đòn chiến lược thứ ba, đòn cuối cùng của cuộc tổng tiến công và nổi dậy.

Đến thời điểm này, quân và dân ta đã tiêu diệt và làm tan rã 2 quân đoàn chủ lực của ngụy, 40% binh chủng kỹ thuật hiện đại, thu và phá hủy 40% cơ sở vật chất và hậu cần của chúng, giải phóng 12 tỉnh với gần nửa số dân của miền Nam. Âm mưu co cụm của địch bị thất bại.

Tuy vậy, địch vẫn ngoan cố lập tuyến phòng thủ từ Phan Rang trở vào. Chúng hy vọng ngăn chặn và đẩy lùi cuộc tiến công của ta, giữ thế cầm cự cho tới mùa mưa, sau đó củng cố lực lượng phản kích, tái chiếm lại những vùng đã mất.

Hội nghị nhất trí nhận định: Ta hơn hẳn địch cả về thế chiến lược lẫn lực lượng quân sự, chính trị. Dù Mỹ có tăng viện cũng không thể cứu vãn sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn. Bộ Chính trị khẳng định quyết tâm thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất. Tốt nhất kết thúc trong tháng 4 năm 1975. Phải hành động “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ”.

Với quyết định trên, các cánh quân của ta thần tốc đổ vào chiến trường trọng điểm. Từ hậu phương lớn miền Bắc, Quân đoàn 1 tiến vào miền Nam không kể ngày đêm. Hậu phương miền Bắc huy động tối đa sức người sức của cho trận đấu cuối cùng- tấn công đầu não quân ngụy, giải phóng Sài Gòn.

N.T.H.H. tổng hợp
sggp.org.vn

This entry was posted on Tháng Năm 3, 2013, in 30.04.1975.

Máu và hoa

KÝ ỨC 30-4:

(GD&TĐ) – Cuộc chiến tranh kết thúc, đất nước sạch bóng thù, non sông liền một dải, dân tộc Việt Nam lại chung lòng xây dựng cuộc sống mới. 38 năm sau đất nước đã có những bước chuyển quan trọng, với nhiều thành tựu trong xây dựng hòa bình. Nhưng ký ức về cuộc chiến tranh thần thánh thì vẫn mãi mãi đi cùng mỗi người Việt Nam… 

Ngày mới trên chiến khu xưa

Năm 1951, Trung ương Cục miền Nam ra đời, thay cho Xứ ủy Nam bộ có từ năm 1946. Trong những năm tháng chiến tranh, Trung ương Đảng đã xác định vai trò to lớn của T.Ư Cục miền Nam, nên đã tập trung ở đây rất nhiều lãnh đạo tài giỏi, cả trên mặt trận chính trị, quân sự lẫn ngoại giao. T.Ư Cục miền Nam thực sự là “bộ não” của cách mạng miền Nam, dưới sự chỉ đạo thống nhất của Ban Chấp hành T.Ư. Các cá nhân từng công tác tại T.Ư Cục miền Nam đều có những đóng góp to lớn, sau khi hòa bình lập lại đều nắm những cương vị chủ chốt của Đảng, Chính phủ.

Cầu Hiền Lương (Vĩnh Linh, Quảng Trị)

T.Ư Cục miền Nam từng có nhiều giai đoạn đứng chân trên đất Tây Ninh. Nhất là ở vùng Tân Biên, nơi có những khu rừng già âm u và cũng giáp biên giới Campuchia (qua vùng Xa Mát). Tây Ninh từng bị địch chà đi xát lại, sau hòa bình kinh tế gặp nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, ai đến Tây Ninh vào thời điểm này đều ngỡ ngàng trước sự vươn lên hết sức mạnh mẽ. Suốt những chặng đường dài vài chục cây số bám theo đường lớn, là những cánh rừng cao su bạt ngàn. Cao su Tây Ninh diện tích lớn nhất nước và cũng đem lại giá trị kinh tế cao nhất nước ở loại cây công nghiệp này. Giáp Campuchia, Tây Ninh có nhiều cửa khẩu. Xa Mát đã có quyết định đầu tư cho đến năm 2020 sẽ trở thành cửa khẩu quốc tế quan trọng. Còn hiện thời, Mộc Bài là cửa khẩu quốc tế đường bộ lớn nhất phía Nam trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam – Campuchia. Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài gồm: Khu thương mại công nghiệp (phi thuế quan), Khu quản lý hành chính, Khu quản lý và kiểm soát cửa khẩu quốc tế, Khu đô thị và dân cư, Khu du lịch – dịch vụ, Khu vực phát triển nông – lâm nghiệp với tổng diện tích 21.284 ha bao gồm các xã Long Thuận, Tiên Thuận, Lợi Thuận, An Thạnh thuộc huyện Bến Cầu và các xã Phước Lưu, Bình Thạnh, Phước Chỉ thuộc huyện Trảng Bàng. Đặc biệt, nằm trên đường xuyên Á tại đây có 3 cửa khẩu, gồm Cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và hai cửa khẩu phụ Phước Chỉ, Long Thuận, phục vụ cho các hoạt động giao lưu kinh tế giữa Việt Nam với Campuchia và các nước trong khối ASEAN. Mộc Bài chỉ cách TP Hồ Chí Minh 70 km và thủ đô Phnom Penh của Campuchia 170 km. Vì thế, nếu trong chiến tranh nơi đây là căn cứ địa cách mạng, thì nay đã trở thành giao điểm quan trọng giữa hệ thống đường quốc tế và đường quốc gia ở phía Nam đất nước.

Du khách nước ngoài thăm địa đạo Củ Chi (TPHCM)

Máu và hoa

Gần 40 năm. Cỏ cây đã phủ xanh những vùng đất lở loét đạn bom nhưng hôm nay đi đâu trên dải đất này người ta cũng lại nhớ về những năm tháng vô cùng ác liệt. Này đây địa đạo Vịnh Mốc, nơi người dân “Lũy thép Vĩnh Linh” tự vùi mình trong lòng đất để bám trụ nơi bom đạn khốc liệt, cái chết có thể đến với mỗi con người bất cứ lúc nào.

Này đây cây cầu Hiền Lương lịch sử, là nơi “nước sông chia đôi sơn hà” với vĩ tuyến 17 như một nhát chém xẻ chia đất nước. “Bên kia cầu Hiền Lương, chiều nay ra đứng trông về, mắt đượm tình quê…” Bên này sông là ta, bên kia sông là địch, và cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng là để đến một ngày “Anh đứng chờ em giữa cầu Hiền Lương”.

Này đây Làng Vây, nơi xe tăng bộ đội cụ Hồ lần đầu tiên xung trận trên chiến trường miền Nam.

Này đây một thị xã Quảng Trị đổ nát, chỉ duy nhất còn lại một ngôi nhà hai tầng sau những trận chiến ác liệt năm 1972.

Ngày 30/4 là dịp để chúng ta nhìn lại cuộc chiến, suy ngẫm về những gì được mất để từ đó thêm quyết tâm, thêm năng lượng đóng góp cho sự phát triển của đất nước, không phụ máu xương của những người đã khuất.

Này đây Khe Sanh, này đây Đường Chín…, biết bao con người đã ngã xuống vì nền độc lập dân tộc, trước khi từ giã cõi đời vẫn mong đến ngày nước nhà thống nhất.

Quảng Trị, “bãi chiến trường xưa nay đã thành thương trường”. Điều đó đúng với Khu kinh tế – thương mại Lao Bảo. Cửa khẩu Lao Bảo (huyện Hướng Hóa, Quảng Trị, đối diện với cửa khẩu Den Savanh của Lào), là nút quan trọng trên Hành lang kinh tế Đông – Tây.  Năm 2008, Chính phủ tiếp tục phê duyệt quy hoạch chung các khu kinh tế cửa khẩu tại Việt Nam đến năm 2020. Theo đó, Khu kinh tế – Thương mại đặc biệt Lao Bảo là một trong 9 khu kinh tế cửa khẩu được quan tâm xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng, quy chế, biện pháp và chính sách.

Như vậy là Lao Bảo – Khe Sanh nói riêng và Quảng Trị đất lửa nói chung không chỉ là vùng đất máu lửa mà là vùng đất đến nay đã nở hoa. Hoa nở trên điêu tàn của cuộc chiến. Hoa nở trong cuộc sống bình dị của mỗi người dân Quảng Trị, từng chịu đựng biết bao hy sinh mất mát. Quảng Trị, mảnh đất máu và hoa đang vươn mình, vững bước đi tới tương lai.

Chiến thắng 30/4/1975 đi vào lịch sử dân tộc như  một trang vàng chói lọi. Cả dân tộc đã làm cuộc trường kỳ kháng chiến ròng rã 21 năm trời, với biết bao xương máu để giành cho được độc lập dân tộc, thống nhất nước nhà. Trong những ngày cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ leo thang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Dù có phải đốt cháy dãy Trường Sơn thì chúng ta cũng quyết giành bằng được độc lập dân tộc”. Quyết tâm của Người, ý chí của Người cũng là quyết tâm, ý chí của tất cả những người Việt Nam yêu nước.

Chiến Thắng
gdtd.vn

Đột phá Buôn Ma Thuột, trận mở màn then chốt

(GD&TĐ) – Trong cuộc Tổng tiến công chiến lược  mùa xuân năm 1975, quân ta đã đánh vào nơi hiểm yếu nhất của địch, theo hướng từ Đông sang Tây, mà không theo hướng từ Bắc xuống Nam, đã mở ra thế chia cắt làm đôi thế trận phòng ngự chiến lược toàn miền Nam của quân ngụy Sài Gòn, cô lập số quân còn lại của chúng ở phía Bắc Quân khu II và uy hiếp lực lượng của chúng ở Quân khu III. Và, thị xã Buôn Ma Thuột ở Nam Tây Nguyên đã được xác định. Tại sao vậy?

1. Vì Buôn Ma Thuột, tỉnh lỵ tỉnh Đắk Lắk, là một thị xã lớn, có diện tích khoảng 25 km2, nơi đặt căn cứ của Sư đoàn 23 ngụy nhưng lại nằm sâu trong vùng hậu phương địch, không trực tiếp đối mặt với trận tuyến của ta, nên địch không đề phòng mà số quân đồn  trú ở đây cũng không nhiều. Hơn nữa, đột phá Buôn Ma Thuột, nơi địch sơ hở, nơi hiểm yếu của khâu yếu nhất trong hệ thống phòng ngự của địch, một vị trí chiến lược rất cơ động, nên từ đấy, ta sẽ tạo đà nhanh chóng phát triển lực lượng ra các hướng chủ yếu khác, nhất là tiến thẳng xuống đồng bằng Nam Trung Bộ và có thể đi xa hơn, tới miền Đông Nam Bộ. Nhìn lên bản đồ, chúng ta thấy Buôn Ma Thuột giữ một khoảng cách khá đều với Bắc Tây Nguyên, đồng bằng Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ – Sài Gòn. Đó là một vị trí trung tâm của chiến trường, vượt ra ngoài phạm vi Tây Nguyên, hướng tới toàn cục. Một đầu mối giao thông, nằm giữa những con đường rất tốt và rất thuận tiện. Từ trận đánh Buôn Ma Thuột, sức chấn động mạnh mẽ sẽ đến ngay cơ quan Tổng hành dinh quân ngụy.

Cho đến đầu năm 1974, thế bố trí của quân ngụy Sài Gòn là yếu ở giữa và mạnh hai đầu. Do đó, hướng đột phá chiến lược của cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa xuân 1975, dĩ nhiên phải là Tây Nguyên. Nhưng vấn đề cụ thể đặt ra là Bắc hay Nam Tây Nguyên?

Đến trước Hiệp định Paris, tháng 1/1973, các chiến dịch Tây Nguyên thường được tổ chức ở phía Bắc. Sáu, bảy đợt hoạt động quân sự có tính chất chiến dịch đều diễn ra ở đây.

Những đàn voi vận chuyển vũ khí và lương thực phục vụ chiến dịch trên đường 14 (Tây Nguyên)  Ảnh: TL

2. Trên thực tế, cũng đã có một chiến dịch cho Nam Tây Nguyên – chiến dịch Bu Prăng – Đức Lập – vào thời kỳ khó khăn – năm 1969 – nhưng đã không thực hiện được vì không đủ khả năng bảo đảm công tác hậu cần.

Từ năm 1973, tuy khả năng bảo đảm hậu cần chiến dịch đã tốt hơn rất nhiều thì trái lại, việc bảo đảm vận chuyển chiến lược Bắc – Nam đi qua khu vực này, lại càng phức tạp hơn khiến cho việc thực hiện một chiến dịch tiến công ở Nam Tây Nguyên lại càng trở nên cấp thiết. Vì hành lang vận chuyển Bắc – Nam, cho đến thời kỳ này, khi đi qua phía Bắc Đức Lập (Nam Tây Nguyên) – nơi có địa hình độc đạo, rất hiểm nghèo mà địch chiếm giữ – chúng ta vẫn phải đi chệch một chút sang vùng đất phía Đông Campuchia, trước khi vào đến Nam Bộ. Lực lượng Khơme đỏ đã lợi dụng điều này, nhất là trên đoạn đường tiếp giáp với Nam Bộ, đã nhiều lần tung binh lính ra ngăn chặn xe vận tải của ta, giết người, cướp hàng, đồng thời luôn luôn đưa ra yêu sách đòi ta rút bỏ con đường. Xuất phát từ những nguyên nhân ấy, các cơ quan chiến lược đã nhìn thấy vấn đề, trước hết là cần phải có ngay một chiến dịch tiến công ở Nam Tây Nguyên, nhằm nắn con đường vận tải chiến lược trở lại đất Việt Nam.

Thật ra, Bộ Tư lệnh Tây Nguyên cũng đã tính đến một chiến dịch như thế vào cuối năm 1973. Nhưng muốn thế, phải có đủ lực lượng, thậm chí còn phải có nhiều lực lượng. Còn muốn giải phóng ngay Buôn Ma Thuột, thì cần phải có ngay hai sư đoàn. Khả năng này nếu có được, không những sẽ bảo đảm vững chắc cho sự thông suốt của hành lang Bắc – Nam, là mục đích của chiến dịch lúc ấy mà còn tạo được địa bàn chiến lược rất cơ động, hướng tới các ngả. Nếu được như thế, chiến dịch rõ ràng sẽ mang một mục đích và ý nghĩa khác hẳn. Tuy thế, vấn đề ở đây, cố nhiên vẫn là lực lượng. Ở Tây Nguyên lúc bấy giờ chỉ có hai sư đoàn, đang phải ôm lấy mặt trận chính là hướng Bắc Pleiku, Kon Tum và một số trung đoàn độc lập, hoạt động ở hướng khác. Vậy cơ sở đâu để hạ quyết tâm? Chính là chiến lược, khi những người vạch kế hoạch ở cơ quan Tổng hành dinh, đã nắm được lực lượng trong tay. Những dự kiến về một chiến dịch ở Nam Tây Nguyên của các nhà chỉ huy quân sự cũng chính là bắt nguồn từ sự gợi ý và chỉ đạo của chiến lược. Mục đích của chiến dịch bao giờ cũng gắn chặt và chịu sự chi phối sát sao từ mục đích của chiến lược. Còn lại là vấn đề thời cơ. Nghĩa là khi nào thì có thể thực hiện được? Đó là thời cơ tăng thêm cho Tây Nguyên 2 sư đoàn – sư đoàn 968 và sư đoàn 316. Việc làm này sau khi được thực hiện đã xem như là “cái nút” của cuộc chiến. Lực lượng ở Tây Nguyên bỗng chốc trở thành một tập đoàn chiến lược mạnh, với 1 Quân đoàn, gồm 4 sư đoàn và một số trung đoàn độc lập, cùng pháo mặt đất, pháo cao xạ, xe tăng, xe thiết giáp, công binh, vận tải… được tăng cường, dày dạn chiến đấu, có phối hợp với sư đoàn 3 Sao Vàng và ba thứ quân của Quân khu V, cùng hành động vào thời điểm lịch sử mà mọi người đều đã biết, khi các điều kiện khác cũng đã chín muồi cho việc hạ quyết tâm.

Trên thực tế, từ kết quả của những hoạt động quân sự ở Bắc Tây Nguyên, về phía ta, đến tháng 10/1974, vùng giải phóng Tây Nguyên đã được mở rộng và nối liền, thành một vùng căn cứ tương đối hoàn chỉnh, từ Bắc Kon Tum đến Nam Gia Lai. Đặc biệt, sau hai năm 1973 và 1974, hành lang chiến lược từ miền Bắc, đã có thể vào đến tận chiến trường Nam Bộ, theo đó là đường ống dẫn xăng dầu, lực lượng, binh khí – kỹ thuật… đã được đưa vào.

Tuy vậy, cho đến đầu tháng 12/1974, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, cũng như quan thầy Mỹ, vẫn không nắm được và đánh giá đúng thế mới và lực mới của đối phương.

Chúng cho rằng, đầu năm 1975, hướng tiến công chính của ta sẽ nhằm vào Quân khu III, chủ yếu là Tây Ninh. Thời gian ta tiến công có thể là trước hoặc sau Tết, và cho đến tháng 6/1975 là cùng, tức là phải dừng lại trước mùa mưa. Với nhận định ấy, các tướng lĩnh quân ngụy được lệnh phải ra đòn trước để phá kế hoạch của ta. Các quân khu, tiểu khu bị đốc thúc phải mở chiến dịch “bình định cấp tốc” trong ba tháng, kể từ ngày 1/1/1975 để “ngăn chặn chiến dịch Đông – Xuân của Việt Cộng”. Và chúng vẫn giữ nguyên thế bố trí chiến lược “mạnh hai đầu” mà không tăng thêm lực lượng ở giữa cho Quân khu II và Tây Nguyên.

3. Thế nhưng, vào thời điểm đầu năm 1975, hướng đột phá chiến lược của ta, tuy vẫn là Tây Nguyên nhưng không thể là phía Bắc. Bởi lẽ, vùng đất này luôn luôn là nơi đối đầu, nơi tập trung lực lượng mạnh của ta và của địch. Hãy lấy Kon Tum, Pleiku làm thí dụ.

Nếu tiến công vào Kon Tum thì không thể phát triển được thế chiến thắng. Năm 1972, ta đã đánh Kon Tum nhưng không thu được kết quả. Vì căn cứ này gần miền Bắc hơn nên địch đề phòng rất kỹ và cũng ở gần Pleiku hơn nên dễ được Pleiku phản kích chiếm lại hoặc tăng cường lực lượng để Kon Tum có đủ khả năng chống đỡ. Còn ở Pleiku, địch rất mạnh. Đây là căn cứ đầu não của Quân khu II, nơi khống chế đường 19 mạch máu (mà theo quan niệm của quân nguỵ “làm chủ đường 19 là làm chủ Tây Nguyên”). Vì vậy, khi biết tin ta đánh Tây Nguyên, chúng một mực tin rằng ta sẽ đánh vào phía bắc mà cụ thể là Kon Tum, Pleiku.

Chúng cũng lập luận nếu ta đánh vào phía Nam Tây Nguyên thì cũng chỉ là đánh vào những thị xã, thị trấn nhỏ, không đáng kể, như Gia Nghĩa, Đức Lập, nhằm mục đích thông thường. Chúng không quan niệm được rằng, về mặt địa – quân sự, Nam Tây Nguyên là một địa bàn có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc đánh tiêu diệt lớn, nhất là vùng chung quanh Buôn Ma Thuột. Nhưng cho đến cuối năm 1974 – đầu năm 1975, trên thực tế, việc bảo đảm hậu cần hiện vẫn còn là khâu yếu, chưa khắc phục được. Chính cái nguyên nhân ấy khiến cho các chiến dịch không thể tiến hành được ở Nam Tây Nguyên.

Cho nên, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vẫn đinh ninh rằng việc ta tiến công vào Nam Tây Nguyên trong chiến cục mùa xuân 1975 là điều khó có thể xảy ra. Từ suy nghĩ đó, địch cho rằng, ta không đủ sức đánh vào Buôn Ma Thuột vì không thể bảo đảm nổi vật chất hậu cần và đưa lực lượng vào nên chúng ít phòng bị. Bởi thế, Buôn Ma Thuột là trận đánh then chốt quyết định, một đòn đánh hiểm, đánh vào nơi xung yếu mà lại là nơi sơ hở nhất và hết sức bất ngờ đối với quân ngụy.

Dương Xuân Đống (Nhà nghiên cứu văn hóa quân sự)
gdtd.vn

Trọn đời đồng đội tìm nhau

Trong một trận đánh không cân sức giữa 20 chiến sĩ ta và gần 200 lính Mỹ ở điểm cao 300 Đất (Quảng Trị), Trung đội trưởng Đào Văn Phê tổ chức lui quân thì thấy thiếu trinh sát Trần Văn Hải. Mặc cho pháo cầy, đạn xé, Đào Văn Phê quay lại trận địa tìm Trần Văn Hải. Lúc ấy, Hải bị thương đã được anh tìm thấy và chuyển về tuyến sau an toàn. Hòa bình lập lại, gần 35 năm Trần Văn Hải đi tìm người đã cứu mình mà không có thông tin gì ngoài cái tên: Đào Văn Phê.

Vượt đạn bom tìm cứu đồng đội

Đầu năm 1969, Tiểu đoàn K3-Tam Đảo chúng tôi tác chiến trên Mặt trận Quảng Trị. Chúng tôi triển khai lực lượng bám đánh địch ở khu vực điểm cao 300 Đất, 300 Đá Làng Tre, Đồi Hành, Đồi Hòm, 544 và 1008. Khoảng 16 giờ  ngày 19-3-1969, địch cho rất nhiều máy bay loại N19, VO10 quần đảo rồi bất ngờ phóng liền ba quả pháo khói xuống cao điểm 300 Đất. Lập tức từng tốp, từng tốp phản lực F4H lao xuống đánh bom dữ dội. Pháo của địch ở các căn cứ quanh đó cũng bắn dồn dập vào đây.

Trung đội 3, Đại đội 11 do Trung đội trưởng Đào Văn Phê đang ém quân gần đó nhận định: Địch đánh phá dọn bãi dữ dội thế này rất có thể bọn Mỹ sẽ đổ quân. Sau khi xin ý kiến và được sự đồng ý của Đại đội trưởng Đỗ Văn Mến, Trung đội 3 do trinh sát tiểu đoàn Trần Văn Hải dẫn đường, bí mật cơ động lực lượng áp sát cao điểm 300 Đất. Đúng như dự đoán, sau gần 30 phút đánh phá, khoảng một đại đội Mỹ được hơn 10 lần chiếc trực thăng H34 chở ồ ạt đổ quân xuống điểm cao 300 Đất. Quân Mỹ vừa tiếp đất, Trung đội trưởng Đào Văn Phê lệnh cho cả trung đội nổ súng. Hàng loạt lựu đạn, thủ pháo tới tấp ném vào đội hình địch. Bị đánh bất ngờ, đội hình địch rối loạn. Trận đánh diễn ra mau lẹ, nhiều tên địch bị tiêu diệt ngay tại trận địa. Do chênh lệch về lực lượng, Trung đội 3 lúc đó chỉ có 20 đồng chí kể cả trinh sát, trong khi quân Mỹ khoảng 200 tên, nên sau khi nổ súng tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, Trung đội trưởng Đào Văn Phê lệnh cho trung đội rời khỏi trận địa nhằm bảo toàn lực lượng.

Cựu chiến binh Trần Văn Hải và Đại tá Đào Văn Phê (bên phải) trong ngày gặp lại.

Về đến vị trí tập kết, điểm lại quân số, Đào Văn Phê phát hiện còn thiếu đồng chí trinh sát tiểu đoàn Trần Văn Hải. Lúc này, sau khi bị đánh bất ngờ, bọn Mỹ bắt đầu gọi pháo, máy bay đánh phá ác liệt xung quanh khu vực điểm cao 300 Đất. Bom, pháo của địch đánh ngay cả vào hậu cứ của Trung đội 3. Khói lửa ngút trời. Lau sậy cháy ngùn ngụt. Không một chút do dự, Trung đội trưởng Đào Văn Phê lập tức quay trở lại điểm cao 300 Đất dưới làn mưa bom, bão đạn của địch để tìm Trần Văn Hải. Sau một hồi tìm kiếm, Đào Văn Phê gặp Trần Văn Hải đang nằm bất tỉnh dưới một hố pháo, máu lênh láng mặt đất. Biết Hải bị thương vào lưng, anh Phê bình tĩnh lấy băng cá nhân băng tạm vết thương để cầm máu, rồi đưa Hải lên lưng mình băng qua bom đạn về cứ. Sau đó, Trần Văn Hải được chuyển tiếp qua các viện quân y điều trị, ra Bắc và về phục viên với tỷ lệ thương tật 4/4.

Gần 35 năm đi tìm ân nhân

Thời gian trôi đi, Trần Văn Hải về quê lấy vợ, sinh con, nhưng anh không thể quên trận đánh ngày 19-3-1969 ở điểm cao 300 Đất và Đào Văn Phê – người đồng đội đã băng qua lửa đạn cứu sống mình. Dù hoàn cảnh còn nhiều khó khăn, nhưng hàng năm cứ sau Tết Nguyên đán, anh Hải lại cơm đùm, cơm nắm đi tìm đồng đội, ân nhân dù việc này giống như mò kim đáy biển. Chỉ biết mỗi tên người cứu mình, anh Hải dò la được tin tức gì về Đào Văn Phê là lại khăn gói lên đường. Giáp Tết năm 2004, một người bạn cũ cho biết: hình như Đào Văn Phê quê ở Hải Hưng (?). Thế là ăn tết xong, Hải thuê xe ôm tiếp tục hành trình đi tìm ân nhân.

Trần Văn Hải quyết định đi tỉnh Hưng Yên trước. Một ngày rong ruổi khắp các nẻo đường lớn, nhỏ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, đến đâu, gặp ai anh cũng hỏi nhưng chẳng có manh mối gì. Thấm mệt sau một ngày “hành quân”, anh cùng người xe ôm đồng hành rẽ vào một quán ăn bên đường. Trong lúc trò chuyện, Trần Văn Hải vắn tắt kể cho bác chủ quán nghe chuyện đi tìm ân nhân. Nghe đến tên Trần Văn Phê, bác chủ quán cầm lấy tay anh Hải hỏi dồn dập: “Có phải Đào Văn Phê, trước khi nhập ngũ là công nhân mỏ than Khánh Hòa không?”. Trần Văn Hải nghe bác chủ quán nói mà mừng đến rơi lệ. “Ông Phê là chú tôi đấy! Hai bác đi qua xóm chú Phê hơn 10 cây rồi! Nhưng giờ chú tôi và các cháu đang ở trên Hà Nội. Hiện chú mang quân hàm đại tá. Tôi có địa chỉ của chú ấy đây”.

Thế là sau gần 35 năm, Trần Văn Hải mới tìm được địa chỉ của người đồng đội, ân nhân đã cứu sống mình trong trận đánh ở điểm cao 300 Đất. Sau đó ít ngày là cuộc gặp gỡ đầy cảm động tại gia đình Đại tá, cựu chiến binh Đào Văn Phê, nguyên Trưởng phòng Cán bộ, nguyên Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu khoa học Tổng cục 2 (Bộ Quốc phòng), ở số nhà 24 phố Tây Sơn, phường Yết Kiêu, quận Hà Đông. Gặp nhau trong niềm vui trào nước mắt, Trần Văn Hải lấy trong ba lô của mình ra tặng bạn một cân bột sắn dây của nhà trồng được và hai chiến lợi phẩm thu của Mỹ mà anh cất giữ bấy lâu: bộ lập là và bộ cạo râu cánh cụp cánh xòe.

Trần Văn Hải sinh năm 1947, quê ở xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam, nhập ngũ tháng 12-1967. Đào Văn Phê sinh năm 1948, quê ở xã Hùng An, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, nhập ngũ tháng 10- 1967.

Bài và ảnh: Nguyễn Văn Hợi
qdnd.vn