Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Lời phát biểu trong buổi khai mạc Kỳ họp thứ tám Quốc hội khoá I (18) (16-4-1958)

Thưa Đoàn Chủ tịch,

Thưa các vị đại biểu,

Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, tôi xin thân ái chào mừng Quốc hội, các vị đại biểu và chúc khoá họp Quốc hội lần thứ tám thành công tốt đẹp.

Quốc hội họp kỳ này trong lúc tình hình thế giới cũng như trong nước có những biến chuyển quan trọng.

– Trên thế giới thì lực lượng của phe hoà bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa đã mạnh hơn hẳn lực lượng phe đế quốc gây chiến. Việc Liên Xô thành công trong việc chế tạo tên lửa xuyên qua các lục địa và phóng vệ tinh nhân tạo càng củng cố ưu thế của phe ta. Hai cuộc Hội nghị của các đảng cộng sản và công nhân thế giới họp vào tháng 11 nǎm 1957 ở Mátxcơva càng chứng tỏ sự đoàn kết nhất trí và sự hùng mạnh của phe xã hội chủ nghĩa và của phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Bản Tuyên bố chung của 12 đảng cộng sản và đảng công nhân các nước xã hội chủ nghĩa và bản Tuyên ngôn hoà bình của Hội nghị 64 đảng cộng sản và công nhân thế giới là những vǎn kiện lịch sử soi sáng đường lối đấu tranh của phong trào hoà bình dân chủ, độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa thế giới. Tôi chắc rằng Quốc hội ta nhiệt liệt hoan nghênh hai vǎn kiện vĩ đại ấy và nhân dân ta càng nâng cao tình đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em do Liên Xô lãnh đạo.

Phong trào chống chủ nghĩa thực dân ở châu á, châu Phi và châu Mỹ latinh cũng đang phát triển mạnh. Hội nghị nhân dân á – Phi họp ở Thủ đô Ai Cập vừa rồi đã củng cố sự đoàn kết và tǎng cường lực lượng của các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giữ gìn hoà bình và độc lập dân tộc.

Ở Việt Nam ta cũng như ở khắp nơi trên thế giới, đang sôi nổi phong trào tỏ tình ủng hộ cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân Angiêri anh em và lên án đế quốc can thiệp vào công việc nội bộ của nhân dân Inđônêxia.

Hiện nay trên thế giới đang sôi nổi phong trào đấu tranh để củng cố hoà bình, đòi đình chỉ thử vũ khí nguyên tử và khinh khí, đòi họp hội nghị những người đứng đầu các nước. Vừa rồi Xôviết tối cao Liên Xô đã quyết định Liên Xô tự mình chủ động ngừng thử vũ khí nguyên tử và khinh khí và yêu cầu Anh, Mỹ cũng sẽ theo gương Liên Xô mà chấm dứt việc thử vũ khí nguyên tử và khinh khí. Đó là một quyết định có ý nghĩa lịch sử to lớn, góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình thế giới.

Tôi tin chắc rằng Quốc hội ta, nhân dân ta sẽ cùng với nhân dân thế giới nhiệt liệt hoan nghênh và ủng hộ sáng kiến đó của Liên Xô. Chúng ta thành thực biết ơn Liên Xô vĩ đại vì sự sống còn chung của loài người, đã đề ra sáng kiến đó. Chúng ta yêu cầu các Chính phủ Mỹ, Anh cùng noi theo gương Liên Xô mà đình chỉ việc thử vũ khí nguyên tử và khinh khí. Chúng ta yêu cầu các nước mau thoả thuận họp hội nghị những người đứng đầu các nước để đi tới cải thiện tình hình thế giới, thiết thực bảo vệ hoà bình.

– Trong nước ta, sau ba nǎm hoà bình, chúng ta đã hoàn thành thắng lợi công cuộc khôi phục kinh tế ở miền Bắc. Công tác cải cách ruộng đất, kể cả sửa sai, đã cǎn bản kết thúc tốt. Các cơ sở sản xuất cũ đã được khôi phục, nhiều nhà máy mới được xây dựng lên, mức sản xuất của nhiều ngành đã đạt mức trước chiến tranh. Lương thực đã vượt xa mức đó. Hoạt động kinh tế trong nước đã trở lại bình thường, hoạt động vǎn hoá cũng đã bước đầu được phát triển, đời sống nhân dân cũng đã được cải thiện bước đầu.

Mặc dù kinh tế nước ta lạc hậu, lại bị chiến tranh kéo dài tàn phá nặng nề, mặc dù công tác xây dựng kinh tế, phát triển vǎn hoá đối với chúng ta còn mới mẻ, gặp nhiều khó khǎn và không tránh khỏi những khuyết điểm, nhưng việc hoàn thành khôi phục kinh tế là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta. Nó chứng tỏ đường lối của Đảng và Chính phủ được Quốc hội thông qua là đúng, chứng tỏ sự cố gắng của nhân dân, bộ đội và cán bộ ta trong mọi ngành và mọi công tác.

Về công việc đấu tranh giành thống nhất nước nhà, trong ba nǎm qua, Chính phủ và nhân dân ta đã không ngừng cố gắng. Phong trào đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam được giữ vững và hiện đang phát triển. Phong trào đòi hiệp thương tổng tuyển cử, đúng như Hiệp định Giơnevơ đã quy định, đòi lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền, đang tiếp tục. Đặc biệt là hiện nay, nhân dân ta từ Nam đến Bắc đang sôi nổi hưởng ứng Công hàm ngày 7 tháng 3 nǎm 1958 của Chính phủ ta 19 và chống can thiệp của đế quốc Mỹ vào miền Nam. Tôi đề nghị Quốc hội nhiệt liệt hoan nghênh tinh thần anh dũng của đồng bào miền Nam và tinh thần của đồng bào cả nước đoàn kết đấu tranh giành thống nhất nước nhà.

Nhân dịp này, tôi xin thay mặt Chính phủ ta tỏ lời hoan nghênh Uỷ ban Quốc tế do ấn Độ làm Chủ tịch đã có những cố gắng trong công việc giữ gìn hoà bình ở Việt Nam.

Như các vị đều biết, Đảng và Chính phủ ta đã nhận định rằng từ ngày hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta đã từ cách mạng dân tộc – dân chủ nhân dân chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ trước mắt của toàn dân ta là ra sức xây dựng và củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Nhận định đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cách mạng chuyển biến đòi hỏi phải có một sự chuyển biến sâu sắc về tư tưởng và nhận thức, đòi hỏi phải có những chính sách, những biện pháp về công tác tổ chức phù hợp với tình hình mới.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhằm xoá bỏ mọi chế độ người bóc lột người ở nước ta, nhằm đưa lại đời sống no ấm cho toàn dân ta. Đó là một cuộc cách mạng vĩ đại và vẻ vang nhất trong lịch sử loài người, nhưng đồng thời cũng là một cuộc cách mạng gay go, phức tạp và khó khǎn nhất. Mỗi người chúng ta phải chuẩn bị tư tưởng và nghị lực để vượt qua mọi thử thách và hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng này.

Sau khi hoàn thành khôi phục kinh tế và bước đầu phát triển vǎn hoá, chúng ta bước vào thời kỳ phát triển kinh tế và vǎn hoá theo kế hoạch dài hạn. Quốc hội sẽ nghe và thảo luận bản báo cáo của Chính phủ, kiểm điểm mọi mặt công tác ba nǎm qua và đề ra những nhiệm vụ lớn và công tác lớn sắp tới. Quốc hội sẽ thảo luận và thông qua kế hoạch 1958.

Việc thông qua kế hoạch 1958 có một ý nghĩa quan trọng, vì nó là nǎm đầu của kế hoạch dài hạn. Tôi tin rằng kế hoạch được Quốc hội thông qua sẽ gây tinh thần tin tưởng và phấn khởi trong cả nước, sẽ động viên mọi tầng lớp nhân dân ta hǎng hái hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch, làm cho nền kinh tế và vǎn hoá nước ta phát triển thêm lên và để cải thiện dần dần đời sống của nhân dân, bộ đội và cán bộ ta.

Quốc hội sẽ nghe báo cáo về vấn đề đấu tranh thống nhất nước nhà. Cuộc đấu tranh giành thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình trên cơ sở độc lập và dân chủ là một cuộc cách mạng lâu dài, khó khǎn, phức tạp. Đế quốc Mỹ và tay sai không đếm xỉa đến nguyện vọng tha thiết nhất của nhân dân ta, trắng trợn vi phạm các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, âm mưu đưa miền Nam vào khối xâm lược Đông – Nam á để gây lại chiến tranh. Nhưng âm mưu thâm độc của chúng nhất định sẽ thất bại. Tình hình thế giới hiện nay không cho phép bọn đế quốc tự ý muốn làm gió làm mưa. Lực lượng hoà bình và cách mạng thế giới đang tiến lên mạnh mẽ, lực lượng đế quốc đang đi vào con đường suy đồi, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cũng như phong trào cách mạng ở miền Nam ngày càng phát triển thuận lợi, cho nên nhân dân ta nhất định thành công trong sự nghiệp thống nhất nước nhà.

Thưa Đoàn Chủ tịch,

Thưa các vị đại biểu,

Từ ngày bầu cử đến nay, Quốc hội ta đã luôn luôn phát huy truyền thống đoàn kết nhất trí của toàn dân ta, trong mọi công tác kháng chiến cũng như kiến quốc đều nhất trí với những nhận định của Đảng và Chính phủ. Nhờ vậy, mà mọi công tác của chúng ta do Quốc hội thông qua đều được thực hiện tốt đẹp. Đó là một truyền thống quý báu của Quốc hội ta, một ưu điểm cǎn bản của chế độ ta.

Tôi tin rằng trong khoá họp Quốc hội lần thứ tám này, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi, Quốc hội sẽ tập hợp được những ý kiến dồi dào của các đại biểu, của nhân dân, sẽ quyết định một cách sáng suốt các công việc quan hệ tới quốc kế dân sinh mà Chính phủ sẽ trình để Quốc hội xét.

Tôi tin rằng, với truyền thống đoàn kết nhất trí của chúng ta, Quốc hội và Chính phủ sẽ nhất trí trong các vấn đề thảo luận.

Một lần nữa, xin chúc các đại biểu mạnh khoẻ, chúc khoá họp Quốc hội thành công.

————————————

Phát biểu ngày 16-4-1958.
Báo Nhân dân, số 1497, ngày 17-4-1958.

(18) Kỳ họp thứ tám Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá I: Họp từ ngày 16 đến ngày 29-4-1958, tại Hà Nội. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã thảo luận và thông qua kế hoạch 3 nǎm cải tạo và phát triển nền kinh tế quốc dân (1958-1960), quyết định thành lập một số cơ quan Nhà nước như Toà án Nhân dân Tối cao, Viện Công tố, Uỷ ban Khoa học Nhà nước; nâng Ban Dân tộc thành Uỷ ban Dân tộc; tách Bộ Thương nghiệp thành hai bộ: Nội thương và Ngoại thương, Bộ Thuỷ lợi – Kiến trúc thành hai bộ: Thuỷ lợi và Kiến trúc. Quốc hội cũng đã thông qua hai đạo luật quan trọng là Luật tổ chức chính quyền địa phương và Luật quy định chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội. Tr.154.

cpv.org.vn

Vị lãnh tụ bình dị

Sau chặng đường dài, hơn ba mươi nǎm, dấu chân Người in trên 25 quốc gia của thế giới đầy biến động trong những nǎm đầu của thế kỷ 20.

Ngày 28/01/1941, Bác Hồ dừng chân bên cột mốc 108, lòng bồi hồi xúc động, nhìn về phía trước, nơi đó là Tổ quốc, là đất mẹ. Từ giờ phút lịch sử dó, Người sẽ cùng cả dân tộc Việt Nam hướng về tương lai, sắp xếp lại trật tự xã hội với một ý chí mãnh liệt: Dân tộc Việt Nam phải được hồi sinh, phải trở về chính mình như ông cha đã từng gìn giữ trong suốt 4000 nǎm lịch sử.

Thật là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, nơi Bác chọn dừng chân đầu tiên khi trở về Tổ quốc là nơi đầu nguồn, tiếng Tày là Cốc Bó, từ đây như dòng nước mát tuôn chảy mãi về xuôi, đem về sự sống trường tồn.

Những ngày đầu vất vả gian truân với cảnh tĩnh mịch ẩm ướt của núi rừng, Bác vận động anh em, dọn dẹp sửa sang nơi ở cho thoáng mát. Nơi hoang sơ của núi rừng mà Bác như thấy một giang sơn hùng vĩ nên thơ.

“Đại bản doanh” đầu tiên được bố trí thật giản dị, phía trong hang là chỗ ngủ kê mấy thanh gỗ ghép lại, đêm nằm vừa đau lưng, vừa lạnh, phải đốt lửa để bớt đi giá lạnh và ẩm ướt. Những ngày đầu Bác làm việc trong hang nhờ ánh sáng yếu ớt chiếu từ khoang trống nhỏ trên đỉnh hang. Đêm đêm để xua đi nỗi vất vả, thiếu thốn, Bác thường kể chuyện cho anh em nghe về lịch sử các thời kỳ ông cha dựng nước và giữ nước, cũng nếm mật nằm gai mưu cầu nghiệp lớn. Bác kể chuyện thế giới, chuyện chiến tranh, chuyện cổ tích và cả chuyện tiếu lâm, để trong hang có tiếng cười vui. Ǎn uống kham khổ, rau rừng nấu cháo ngô, bắp chuối chấm với muối trắng. Những bữa “cải thiện” là khi bắt được con cá, sǎn được con thú về kho muối mặn ǎn dần.

Khi phía ngoài hang được dọn dẹp sạch sẽ gọn gàng, ban ngày Bác thường ra phiến đá phía ngoài làm việc, sau giờ làm việc Bác ra ngồi câu cá cạnh gốc cây si bên bờ suối. Để bảo đảm tuyệt đối bí mật chỗ ở, Bác cho làm thêm một cơ sở khác cách đó không xa, nơi có mái núi đá. Bác thường nói vui là một vườn Bách thú, vì ở đây có nhiều rắn rết, bọ rừng. Rồi sau đó Bác còn cho làm tiếp mấy lán nhỏ nữa ở Khuổi Nậm, để đề phòng khi có động. Dẫu ở hang, ở mái đá hay ở lán, Bác cũng luôn sắp xếp nơi ở gọn gàng, sạch sẽ và bí mật. Khi rời đi không để lại dấu vết. Bác tự bố trí nơi nghỉ, nơi làm việc, Bác nhặt từng phiến đá nhỏ xếp thành từng bậc cạnh chỗ nằm, trên các bậc đó Bác để sách, tài liệu, giấy viết, bút mực, máy chữ… mỗi loại quy định chỗ để riêng, ngǎn nắp, gọn gàng, khi cần với tay có thể lấy được, lúc đầu anh em ở với Bác chưa có thói quen gọn gàng nên khi có việc là lúng túng, lộn xộn. Bác luyện dần thành thói quen cho anh em.

Buổi sáng Bác thường dậy sớm hơn tập thể dục, trước cửa hang Bác chọn một nền phẳng nhỏ vừa chỗ đứng tập thể dục, dụng cụ tập đơn giản với hai hòn cuội trắng Bác thường bóp để luyện gân bàn tay (sau này khi đọc sách Bác cũng thường bóp hai hòn cuội). Bác dùng hai hòn “tạ” to nhỏ bằng đá, thay đổi khi tập. Sau mấy phút tập cho ấm người, Bác tắm suối hoặc leo núi. Bác tập leo núi nhiều nên Bác có một sức chịu đựng dẻo dai, khi leo núi anh em trẻ cũng khó mà theo kịp Bác. Buổi sáng Bác vận động anh em tập thể dục để có sức khoẻ chống lại bệnh tật nơi rừng núi hang động ẩm ướt.

Trong bộ quần áo Chàm, quần xắn cao, Bác cùng anh em kiếm củi, hái rau rừng, tǎng gia trồng rau trồng hoa bên bờ suối. Cạnh hang có dòng suối nước chảy trong mát Bác cùng anh em tạo cảnh hòn non bộ, có đá tai bèo, có cây có nước, Bác lấy cây lau làm một chiếc cầu nhỏ, bên cầu có con thuyền gọt bằng thân gỗ trắng, đang cắm sào đứng đợi trông thật sinh động. Có đồng chí khéo tay lấy hòn đá gan gà đẽo con cò đặt cạnh hồ nước như đang mò tép, in bóng xuống mặt nước trông thật nên thơ. Một thế giới sinh vật cảnh nơi núi rừng hoang vu, thiếu thốn, tạo nên cảm giác thanh tao, mãn nguyện, như để quên đi cái đói cái rét của thực tại mà hướng về công việc cho tương lai, bình sinh của cuộc đời mới.

Trong hang có khối thạch nhũ cao quá đầu người Bác dùng dao đẽo, gọt, tạo dáng hình người rồi lấy mực nho vẽ mắt và miệng, ai cũng bảo trông giống ông Tây, Bác bảo đấy là tượng Các Mác. Bác hỏi anh em địa phương tên dòng suối, được biết là suối Giàng, còn ngọn núi cao có tên là núi Khỉ, vì ở đây khỉ rất nhiều, hay còn gọi là núi Đào vì có tích là Tiên Cô đã xuống đây.
Bác cười vui và nói:

– Xưa có tiên cô xuống, nay có tiên cậu, tiên ông đến thật là hay. Rồi Bác nói tiếp – Cụ Các Mác là người muốn tất cả loài người thành tiên, nay ta đặt tên cho núi là núi Các Mác. Cụ Lênin là người thực hiện chủ trương của Cụ Các Mác nên ta đổi tên suối Giàng thành suối Lênin. Từ đó hai địa danh đã đi vào lịch sử của dân tộc.

Từ hang Cốc Bò, mái đá Lũng Lãn hay dưới những mái lán dọc dòng Khuổi Nậm, từ khu Lam Sơn (Nguyên Bình) về Lũng Cát hay chuyển về hang Pác Tẻng, nơi đâu Bác cũng tạo nên một không khí bình thản, tự tại, một cuộc sống đầm ấm mang nặng tình đồng chí để vượt qua thử thách, gian nan thiếu thốn của buổi đầu dựng nước. Từ nǎm tháng đời thường toát lên một sức mạnh tiềm ẩn mãnh liệt, nơi đây Bác đã triệu tập Hội nghị Trung ương Tám, thành lập Mặt trận Việt minh, ra báo “Việt Nam Độc lập”, huấn luyện cán bộ toả ra trǎm ngả đường của đất nước để chỉ đạo cách mạng… Bác dịch sách, viết báo, làm thơ, ngày cũng như đêm, mưa cũng như nắng, lúc ở hang động hay dưới tán lá cây rừng, ánh sáng bắt nguồn từ Bác – từ Pắc Bó nơi thánh địa của cách mạng, nơi xuất phát cuộc hành trình cách mạng của cả dân tộc trên đường Thiên lý hướng về tương lai.

Cách mạng phát triển nhanh chóng, thời cơ đã đến, Bác chuyển về lán Nà Lừa, lấy Tân Trào triệu tập Quốc dân đại hội, phát lệnh Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền trong cả nước. Trên đường về Hà Nội, Bác ghé làng Gạ rồi về 48 Hàng Ngang viết bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Cách mạng thành công nhưng khó khăn trǎm bề, thù trong giặc ngoài, thế nước “nghìn cân treo sợi tóc”, Bác phải chuyển chỗ ở nhiều nơi để tránh nguy hiểm, luôn luôn cải trang, lúc đi sớm khi về tối lúc ở số 8 Lê Thái Tổ, khi ở Bắc Bộ Phủ, lúc ngủ ở Quần Ngựa khi về Bưởi… Nhiều nơi đã để lại những kỷ niệm không quên về Bác, trong buổi đầu cách mạng gian nan, vất vả, hiểm nguy. Kháng chiến bùng nổ, Bác lại lên đường mở cuộc trường chinh. Bác về Vạn Phúc viết lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, về Chùa Trầm chúc Tết Quý Hợi 1947, vai đeo balô lên núi rừng Việt Bắc đi kháng chiến, dưới mái lán lá rừng vách nứa bên Làng Sảo, Bác triệu tập Hội nghị Trung ương chỉ đạo đường lối trường kỳ kháng chiến, rồi đến Khuổi Tấu viết “Việt Bắc anh dũng” về trận thắng Pháp đầu tiên trong cuộc kháng chiến; có phút thư giãn về huyện lỵ Sơn Dương “Đi thuyền sông Đáy” làm thơ; hay về hang Bòng chỉ đạo chiến dịch Biên giới; trở lại Kim Bình dự Đại hội Đảng lần thứ 2; đến Khuôn Điền cùng Trung ương chỉ đạo chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử – trận quyết chiến cuối cùng chấm dứt chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới. Hơn 3000 ngày hành quân đi kháng chiến, vượt qua bao gian khổ khó khǎn, lãnh đạo toàn Đảng toàn dân làm nên trận thắng oanh liệt ghi mãi nghìn nǎm và chứng minh cho thế giới một chân lý: một dân tộc dù nhỏ bé nếu biết đoàn kết có thể chiến thắng một đế quốc to, mạnh hơn nhiều lần về vũ khí.

Cuộc sống đời thường đạm bạc nơi chiến khu Việt Bắc, theo Bác suốt ngàn ngày kháng chiến là mái lán đơn sơ của cây rừng Việt Nam. Đồng chí Lê Vǎn Nhương (Bác đặt tên cho là Cần) tham gia trong đội dân công hoả tuyến Nghệ An, khéo tay, biết nghề mộc, được cùng một đồng chí nữa chuyên làm lán cho Bác ở, kể lại rằng: Bác yêu cầu tìm chỗ ở cho Bác, nơi yên tĩnh, bí mật, nơi có bóng cây thoáng mát và có đất để tǎng gia, gần nguồn nước, phía sau có núi để dễ làm hầm trú ẩn, thuận lợi cho liên lạc dễ dàng di chuyển khi có động. Làm lán cho Bác không to quá, diện tích bằng khoảng hai chiếc chiếu, đủ cho Bác kê chiếc bàn nhỏ làm việc và nơi nghỉ. Lán cao vừa tầm Bác, không cao quá 2m. Làm không cầu kỳ mà giản di, vật liệu sẵn có xung quanh, 3 phía có vách nứa, lán đặt trên 4 cọc tre, lối lên lán làm một cái thang bằng tre khoảng 3 bậc, mặt lán không cao quá, cách mặt đất khoảng nửa mét, tuỳ theo địa hình. Phên vách, sàn làm bằng tre, luồng hoặc nứa. Đồ dùng bày biện phía trong lán lại càng đơn giản hơn. Bố trí một bàn, một ghế bằng gỗ tạp đủ để cái máy chữ nhỏ, một ít sách, tài liệu cần thiết, những thứ đồ dùng vặt như bút giấy, hai hòn sỏi bóp luyện tay… để cạnh. Một hòm nhỏ đựng tư trang để phía dưới. Chân giường đóng thẳng xuống đất cho chắc chắn, trên vách treo cái quạt bằng lá cây rừng. Cái tẩu thuốc, Bác thường nói vui đấy là điện thoại của Bác, khi cần Bác gõ vào cột tre theo tín hiệu quy định là người giúp việc có mặt. Thời gian rỗi Bác cùng anh em trong cơ quan chơi bóng chuyền, tập thể thao, tǎng gia sản xuất, trồng bí trồng bầu, nuôi gà, nuôi bò. Bác bảo các đồng chí, giao bò cho dân địa phương nuôi, khi bò phát triển thì một phần để lại cho nhân dân còn một phần cho tập thể. Trồng được nhiều bí, cả một bãi rộng dày đặc quả, khi thu hoạch anh em kiểm số lượng quả vì nhiều nên bị lẫn liên tục. Bác bày cho cách, đếm xong quả nào cắm một que tre khi cắm hết chỉ cần gom số que là ra số quả tǎng gia được và giao cho người quản lý.

Kháng chiến thắng lợi, Bác về Thủ đô Hà Nội, lúc đầu Trung ương có ý định mời Bác về ở trong ngôi nhà Toàn quyền cũ, vì ở đấy có đủ tiện nghi sinh hoạt, bảo đảm tốt cho sức khoẻ của Bác, tiện việc tiếp khách và mọi công việc của một vị lãnh tụ, nhưng Bác không chịu. Bác bảo, Bác chứ không phải viên Toàn quyền, không phải vua, Chủ tịch một nước còn nghèo, chưa có quyền hưởng thụ quá mức trung bình của người dân, nên Bác quyết định chọn cho mình ngôi nhà của người thợ điện ngày trước, một ngôi nhà bình dị như bao ngôi nhà khác, mái ngói, nền đất, nơi mà mùa nóng thì nhiệt độ cao hơn hẳn xung quanh, ngày thiếu ánh sáng phải thắp đèn. Chỉ có điều tiện duy nhất là gần với anh em phục vụ trong không khí ấm cúng gia đình.

Nǎm 1958, Trung ương quyết định xây nhà cho Bác, nhưng Bác chỉ nhất trí khi làm theo ý Bác. Bác cho gọi kiến trúc sư Nguyễn Vǎn Ninh để trao đổi việc làm nhà. Bác dặn kiến trúc sư làm theo kiểu nhà sàn của đồng bào Việt Bắc, nơi Bác đã từng sống trong sự đùm bọc, bảo vệ của đồng bào các dân tộc trong những ngày đầu kháng chiến. Ngôi nhà sàn dưới bóng cây cạnh hồ nước, xung quanh có vườn hoa cây cảnh vừa đẹp lại vừa mát là môi trường tốt cho sức khoẻ, lại thuận lợi cho công việc, vừa không tốn nhiều tiền của nhân dân. Bác dặn gỗ dùng làm nhà cho Bác, chỉ dùng loại gỗ như đồng bào thường dùng. Tầng dưới bố trí một chiếc bàn lớn và mười một chiếc ghế (số ghế đủ cho các đồng chí trong Bộ Chính trị lúc bấy giờ) xung quanh nhà xây một bờ tường thấp, trên lát gỗ làm ghế cho các cháu thiếu nhi ngồi khi các cháu vào với Bác. Xung quanh nhà làm một dãy hành lang vừa phải để khi Bác ngồi đọc sách có ai qua lại không bị ảnh hưởng, vừa nói Bác vừa bê chiếc ghế mây ra, Bác ngồi giơ tay làm cữ, áng chừng độ rộng của hành lang cho đồng chí kiến trúc sư biết. Bác dặn đi dặn lại là phải hết sức tiết kiệm. Khi Bác đi thǎm một số nước về thì nhà sàn đã làm xong Bác lấy tiền riêng của mình tổ chức bữa liên hoan ngọt, Bác gọi là “tiệc liên hoan khánh thành công trình”. Bác mời đồng chí Ninh và những anh em công nhân tham gia làm nhà sàn cho Bác, đến dự liên hoan. Buổi liên hoan vui vẻ, Bác đi đến chỗ đồng chí Ninh và khen công trình làm nhanh, tốt, rồi ân cần phê bình nhẹ. Bác nói chân tình, nước ta chưa giàu, dân ta còn chưa có đủ nhà ở cần phải tiết kiệm. Khi chụp ảnh lưu niệm, Bác vẫy tay gọi đồng chí Ninh:
– Ông “Kiến…” đến đứng gần đây.

Tất cả cười vui vẻ, Bác gọi “ông Kiến” bớt đi hai chữ “trúc sư” vừa vui lại vừa nhắc nhở kiến trúc sư phải tiết kiệm, mà nghĩa đen “kiến” là con vật hay leo, như đồng chí Ninh đã leo thang trong việc làm nhà sàn cho Bác.

Bác ở nhà sàn với thời gian dài nhất trong quãng đời còn lại của Bác. Trong nhà sàn bố trí đơn giản, chỉ có những đồ dùng rất gần gũi với Bác. Một chiếc giường đơn trải chiếu cói, cái tủ nhỏ, bộ bàn ghế, trên bàn để đèn, lọ hoa, cái máy thu thanh, cái quạt nan, mấy quyển sách cần thiết hàng ngày. Chiếc bàn nhỏ và chiếc ghế mây ở cuối hành lang là nơi Bác ngồi làm việc những buổi chiều hè. Bác thường ngồi đọc báo ở đây, dưới tán lá cây vú sữa rì rào trước gió như tiếng nói của đồng bào miền Nam bên Bác. Những vật bình thường đã ở bên Bác đến suốt cuộc đời và sẽ ở mãi với nhà sàn cùng non sông đất nước như một huyền thoại về một con người.

Cuộc đời Bác gắn liền với những nơi ở thật bình dị bình dị như con người Bác. Từ ngày dựng nước gian lao vất vả đến khi làm Chủ tịch nước Bác vẫn giữ lối sống bình dị, không đòi hỏi một sự ưu tiên, một vinh hoa cho riêng mình. Bác là vậy tư tưởng tác phong của Bác là gần dân, luôn luôn giữ mức sống như của người dân. Gần dân là cuộc sống đời thường hàng ngày của Bác, là ý tưởng vĩnh cửu của tư tưởng Bác.

Theo camau.gov.vn
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Báo cáo công tác của Ban sửa đổi Hiến pháp tại Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Khoá I, Kỳ họp thứ tám (18-4-1958)

Thưa các vị đại biểu,

Hôm nay tôi xin thay mặt Ban sửa đổi Hiến pháp báo cáo những việc chúng tôi đã làm được từ khoá họp Quốc hội lần trước tới nay.

Bản Hiến pháp sửa đổi sẽ dựa vào Hiến pháp 1946. Nhưng bản Hiến pháp sửa đổi của ta lại sẽ được thi hành trong lúc đất nước còn bị tạm chia làm hai miền: miền Bắc đương tiến dần lên chủ nghĩa xã hội và miền Nam thì như một thuộc địa của đế quốc Mỹ. Những nét đặc biệt ấy tất nhiên phải phản ánh vào bản Hiến pháp sửa đổi của ta, cũng như bản Hiến pháp ấy phải cǎn cứ vào tình hình thực tế nước nhà và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện tại.

Cho tới nay, Ban sửa đổi Hiến pháp đã họp 18 lần, đã thảo luận và thông qua 9 bản thuyết trình lớn, gồm những vấn đề như: Tính chất và nội dung của bản Hiến pháp mới. Tính chất và nhiệm vụ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Chế độ kinh tế xã hội. Quyền lợi và nghĩa vụ công dân, chế độ tuyển cử. Tổ chức nhà nước, cơ quan chính quyền địa phương, toà án và viện kiểm sát, v.v..

Nhờ sự cố gắng của Ban thư ký và sự tận tuỵ của anh chị em cán bộ, chúng tôi đã hoàn thành bước đầu bản sơ thảo Hiến pháp sửa đổi. Sau khoá họp Quốc hội này, chúng tôi sẽ chuyển sang bước thứ hai là Trưng cầu ý kiến của nhân dân, mà trước tiên là ý kiến của các chính đảng, các đoàn thể nhân dân và các cơ quan.

Thưa các vị đại biểu,

Trong khi tiến hành xây dựng bản sơ thảo Hiến pháp sửa đổi, chúng tôi có nhận được một số ý kiến của mấy vị đại biểu Quốc hội, chúng tôi rất hoan nghênh sự sốt sắng đóng góp đó và đã nghiên cứu kỹ những ý kiến ấy. Hiện nay, việc xây dựng bản Hiến pháp sửa đổi sắp bước sang bước hai, chúng tôi chờ đón những ý kiến của đồng bào và của các vị đại biểu Quốc hội.

Chúng tôi xin hứa với Quốc hội rằng chúng tôi sẽ tiếp tục cố gắng hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ quan trọng mà Quốc hội đã trao cho và làm cho nước ta có một bản Hiến pháp xứng đáng với những thắng lợi và những tiến bộ vẻ vang của nhân dân ta.

————————————

Đọc ngày 18-4-1958.
Tài liệu lưu tại Vǎn phòng Quốc hội.
cpv.org.vn

Điện mừng Chủ tịch Titô (22-4-1958)

Kính gửi đồng chí Titô, Chủ tịch nước Cộng hoà

Nhân dân Liên bang Nam Tư ,

Nhân dịp đồng chí được bầu lại làm Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Liên bang Nam Tư, thay mặt nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tôi xin gửi đồng chí lời chúc mừng nhiệt liệt.

Kính chúc đồng chí thu được nhiều thành tích mới trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Ngày 22 tháng 4 nǎm 1958
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

————————-

Báo Nhân dân, số 1503, ngày 23-4-1958.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi nhân ngày Quốc tế lao động 1-5 (1-5-1958)

Thưa đồng bào yêu quý,

Từ ngày 1 tháng 5 nǎm ngoái đến ngày 1 tháng 5 nǎm nay, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển tốt.

Trên thế giới, từ hai cuộc hội nghị lịch sử của các đảng cộng sản và đảng công nhân ở Mátxcơva, phe xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô càng thêm đoàn kết nhất trí; lực lượng hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới càng thêm mạnh mẽ.

Việc Liên Xô đề nghị họp hội nghị những người đứng đầu các nước và việc Liên Xô tự mình chủ động đình chỉ thử vũ khí nguyên tử và khinh khí được nhân dân thế giới nhiệt liệt ủng hộ và đang đẩy mạnh phong trào hoà bình thế giới chống bọn đế quốc hiếu chiến.

Ở các nước xã hội chủ nghĩa, kinh tế ngày càng phồn vinh và đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Trái lại, kinh tế Mỹ bắt đầu khủng hoảng, đã ảnh hưởng không tốt đến nhiều nước trong hệ thống tư bản chủ nghĩa. Phong trào chống Mỹ ở các nước ngày càng lên cao.

Hội nghị đoàn kết nhân dân các nước á – Phi cuối nǎm ngoái và Hội nghị các nước độc lập ở châu Phi mới đây 20 là những việc quan trọng chứng tỏ thêm sự lớn mạnh nhanh chóng của các lực lượng dân tộc độc lập và sự tan rã của chủ nghĩa thực dân.

Ởtrong nước, do sức lao động cần cù của nhân dân ta và sự giúp đỡ hết lòng của các nước anh em, chúng ta đã kết thúc thắng lợi thời kỳ khôi phục kinh tế. Trong ba nǎm qua chúng ta đã thu được những thành tích to lớn về mọi mặt kinh tế, chính trị, vǎn hoá, xã hội. Đời sống của nhân dân ta đã được cải thiện bước đầu.

Thành phần kinh tế quốc doanh không ngừng củng cố và phát triển ngày càng phát huy tác dụng lãnh đạo toàn bộ kinh tế quốc dân.

Công tác sửa sai hoàn thành tốt đã phát huy những thắng lợi của cải cách ruộng đất, đoàn kết nông thôn, đẩy mạnh sản xuất, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho việc củng cố và mở rộng các tổ đổi công, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp.

Trong ba nǎm qua, chúng ta đã mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất, tǎng cường đoàn kết các dân tộc đa số và thiểu số, đồng bào trong nước và kiều bào ở nước ngoài.

Công tác củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, củng cố quốc phòng, giữ vững trật tự an ninh, nói chung đã thu được những thành tích tốt.

Về vấn đề đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, đồng bào ta từ Bắc chí Nam đoàn kết một lòng chống đế quốc Mỹ can thiệp hòng biến miền Nam nước ta thành thuộc địa và cǎn cứ quân sự của chúng. Hiện nay, phong trào ủng hộ bức Công hàm ngày 7 tháng 3 nǎm 1958 của Chính phủ ta đang lên mạnh.

Về quan hệ quốc tế, chúng ta không ngừng tǎng cường đoàn kết với Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em khác, phát triển quan hệ hữu nghị với các nước á – Phi, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình ở các nước và góp phần bảo vệ hoà bình thế giới.

Hôm nay, cùng nhân dân lao động thế giới, chúng ta nhiệt liệt chào mừng Ngày 1 tháng 5 trong lòng đầy tin tưởng và phấn khởi, quyết tâm vượt mọi khó khǎn, tiến lên làm tròn những nhiệm vụ mới.

*

*     *

Từ ngày hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta đã chuyển sang thời kỳ quá độ tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Sau khi hoàn thành khôi phục kinh tế, chúng ta bước sang thời kỳ xây dựng kinh tế có kế hoạch. Nǎm nay chúng ta đi vào thực hiện kế hoạch 3 nǎm bước đầu phát triển kinh tế và vǎn hoá, bước đầu cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ trung tâm trong nǎm nay là hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước nǎm 1958. Cho nên nhân dân ta, đặc biệt là công nhân và nông dân ta, phải hǎng hái thi đua yêu nước, thực hiện khẩu hiệu: làm nhiều, nhanh, tốt, rẻ.

Một mặt, chúng ta phải ra sức cải tiến quản lý kinh tế, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tǎng cường kỷ luật lao động, kiên quyết chống lãng phí, tham ô; ra sức học tập để nâng cao trình độ chính trị, vǎn hoá và kỹ thuật; khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm tiên tiến của các nước anh em.

Mặt khác, chúng ta cần nâng cao cảnh giác, ngǎn ngừa bọn phá hoại, kiên quyết giữ vững trật tự an ninh; tiếp tục chống đầu cơ tích trữ, ổn định thị trường, ổn định tiền tệ hơn nữa. Đồng thời, chúng ta phải thực hiện chuyển thêm lực lượng về mặt trận sản xuất, sửa lại chế độ tiền lương để cải thiện dần dần đời sống cho công nhân, cán bộ, bộ đội và nhân viên ta.

Chúng ta luôn luôn giương cao ngọn cờ hoà bình thống nhất, đoàn kết toàn dân, kiên quyết và bền bỉ đấu tranh chống đế quốc Mỹ là trở lực chính đang ngǎn cản sự nghiệp thống nhất nước nhà trên cơ sở Hiệp định Giơnevơ. Nhân dân ta kiên quyết đòi hiệp thương giữa hai miền để bàn về những đề nghị hợp tình hợp lý và rất thiết thực của Chính phủ ta. Chúng ta sẵn sàng gặp đại biểu chính quyền miền Nam nhằm đi đến thoả thuận với nhau về những vấn đề có lợi cho sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.

*

*     *

Thưa đồng bào yêu quý,

Những nhiệm vụ trên đây đã đượcQuốc hội (khoá họp thứ tám) thông qua; chúng ta phải đoàn kết phấn đấu, ra sức thực hiện đầy đủ.

Ngày 1 tháng 5 nǎm nay là một ngày đoàn kết, đấu tranh, tin tưởng và phấn khởi. Nhân dịp này, tôi xin thay mặt Đảng và Chính phủ, thân ái:

– Chào mừng và khen ngợi các anh hùng và chiến sĩ thi đua yêu nước, tiêu biểu cho tinh thần lao động sáng tạo và anh dũng phấn đấu của nhân dân ta;

– Khen ngợi anh chị em công nhân đang hǎng hái thi đua thực hiện kế hoạch Nhà nước nǎm 1958;

– Khen ngợi đồng bào nông dân đang ra sức đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, phát triển phong trào đổi công và hợp tác xã;

– Khen ngợi anh chị em lao động trí óc đang ra sức góp tài nǎng vào công cuộc phát triển kinh tế và vǎn hoá, khen ngợi các chiến sĩ bình dân học vụ đang xung phong diệt giặc dốt;

– Khen ngợi bộ đội và công an đang ra sức học tập và canh phòng để bảo bệ Tổ quốc, bảo vệ lao động hoà bình của nhân dân ta;

– Khen ngợi cán bộ, công chức và nhân viên đang một lòng một dạ phục vụ nhân dân;

– Khen ngợi đồng bào miền Nam đang đấu tranh anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai, đòi tự do dân chủ và cải thiện đời sống, đòi hiệp thương và đặt lại quan hệ bình thường giữa hai miền nhằm thống nhất Tổ quốc;

– Hỏi thǎm kiều bào ở nước ngoài luôn luôn hướng về Tổ quốc và hưởng ứng mọi chính sách của Chính phủ ta.

Tôi cũng xin thay mặt Đảng và Chính phủ thân ái gửi lời chúc mừng nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em, chúc mừng nhân dân lao động các nước láng giềng và các nước khác trên toàn thế giới.

Tinh thần Ngày 1 tháng 5 muôn nǎm!

Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh muôn nǎm!

Hoà bình thế giới muôn nǎm!

HỒ CHÍ MINH

———————————-

Báo Nhân dân, số 1511, ngày 1-5-1958.

(20) Hội nghị các nước độc lập ở châu Phi: Họp tại Acra (Gana), ngày 22-4-1958. Tham gia hội nghị có 8 nước độc lập ở châu Phi. Hội nghị đã thông qua các quyết định về việc công nhận quyền độc lập và tự quyết của nhân dân Angiêri, đòi Pháp rút khỏi Angiêri; việc bảo vệ nền độc lập của các nước châu Phi, đấu tranh làm thất bại âm mưu áp đặt và duy trì ách thống trị của Mỹ ở châu Phi; việc giữ gìn hoà bình thế giới, lên án chính sách phân biệt chủng tộc và ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân các nước, v.v..

Hội nghị Acra thể hiện tinh thần đoàn kết chặt chẽ của tất cả các dân tộc châu Phi trong cuộc đấu tranh để giải phóng châu Phi khỏi chủ nghĩa thực dân và bảo vệ hoà bình thế giới. Tr.162.

cpv.org.vn

Angiêri anh dũng (6-5-1958)

Cách đây bốn nǎm rưỡi chỉ có mấy nhóm du kích bé nhỏ chống lại thực dân Pháp. Ngày nay, những đội du kích lẻ tẻ ấy đã trở nên đội quân giải phóng hùng mạnh.

Sau cuộc thất bại nhục nhã ở Việt Nam, thực dân Pháp không rút được bài học nào. Chúng vẫn dùng chiến thuật “tốc chiến tốc quyết” hòng đập tan phong trào yêu nước của nhân dân Angiêri, chúng không hiểu rằng một dân tộc đã đoàn kết nhất trí, chiến đấu anh dũng để giành lại tự do, độc lập cho Tổ quốc mình, thì không lực lượng gì thắng được họ.

Cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân Angiêri ngày càng lan rộng, càng mạnh mẽ. Nó đã làm cho Pháp chết người, hại của rất nhiều, làm cho Chính phủ Pháp lập lên đổ xuống mãi, làm cho giai cấp thống trị Pháp ngày càng bị lệ thuộc vào đế quốc Mỹ.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Pháp, giai cấp công nhân và những người tiến bộ Pháp đều kiên quyết chống lại cuộc chiến tranh bẩn thỉu của thực dân.

Cuộc kháng chiến Angiêri thì được nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới ủng hộ nhiệt liệt. Trong phong trào ủng hộ Angiêri, chỉ kể ở miền Bắc Việt Nam ta đã có nhiều cuộc mít tinh, biểu tình rầm rộ. Nhân dân ta (có cả các em học sinh, các em bé tý hon) đã quyên góp hơn 76 triệu đồng. Số tiền tuy còn ít, nhưng tình nghĩa rất sâu xa.

Hôm 23-4, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp tuyên bố rằng: Từ tháng 11-1954 đến nay, Quân giải phóng Angiêri đã mất 62.000 binh sĩ chết, quân thực dân Pháp thì chết 6.000 tên.

Nhiều vị Bộ trưởng Pháp có thói quen nói dối, nhất là về con số. Ví dụ:

– Trong thời kỳ kháng chiến ở Việt Nam ta, nếu cộng các con số do Bộ Quốc phòng Pháp đưa ra, thì ta mất hàng triệu chiến sĩ hy sinh và suốt tám, chín nǎm chiến tranh quân đội thực dân Pháp chỉ mất độ vài nghìn tên thôi.

– Hồi tháng 3 vừa rồi, khi sang Sài Gòn để tâng bốc tổng Ngô, Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Pinô (đảng viên Đảng Xã hội Pháp) nói rằng: Quân đội nhân dân ta có 25 vạn binh sĩ và 20 vạn dân quân. Không biết Pinô moi con số ấy ở đâu ra và dụng ý thổi phồng con số để làm gì? Một điều chắc chắn là chính quyền miền Nam cũng nhai lại con số giả dối ấy để từ chối việc giảm quân số do Chính phủ ta đề nghị.

Theo lời Bộ trưởng Quốc phòng Pháp thì Quân giải phóng Angiêri chỉ vẻn vẹn có 23.500 người. Mà thực dân Pháp phải dùng hơn nửa triệu binh sĩ với vũ khí tối tân của Mỹ để chống lại, tức là hơn 21 binh sĩ Pháp chống lại một chiến sĩ Angiêri. Như thế là Bộ trưởng Pháp đã phải thừa nhận sự anh dũng vượt bực của Quân giải phóng Angiêri và sự hèn yếu của quân đội thực dân Pháp.

Sự thật là toàn dân Angiêri đã đứng dậy chống thực dân Pháp. Hai việc sau đây chứng tỏ thêm điều đó:

– Có mười người Angiêri đá bóng giỏi nổi tiếng được các tổ chức thể thao ở Pháp rất chiều chuộng, trả tiền nhiều … Trung tuần tháng 4 vừa rồi, nghe lời kêu gọi của Tổ quốc, mười người ấy đã bỏ hết của cải, tiền bạc, bí mật trốn về Angiêri để tham gia kháng chiến.

– Cũng trong thời gian đó, mười thanh niên tư sản Angiêri vừa thi đỗ lớp sĩ quan ở Pháp (một quan ba và chín quan một) đã cùng nhau trốn về nước để đi theo Quân giải phóng.

Xem những hiện tượng trên đây, chúng ta có thể đoán chắc rằng thực dân Pháp sẽ thua, nhân dân Angiêri nhất định thắng.

TRẦN LỰC

—————————–

Báo Nhân dân, số 1515, ngày 6-5-1958.
cpv.org.vn

Về viếng Bác Hồ để tiếp thêm nghị lực cho ngày mai

Chiến sỹ Đoàn H75 giúp đỡ những người khuyết tật vào Lăng viếng Bác

Vào những ngày cuối tháng tư này, lượng khách về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày một đông. Mỗi ngày trung bình có từ 10 ngàn đến 12 ngàn lượt người, vào ngày Thứ Bảy, Chủ nhật lượng người về Lăng viếng Bác tăng lên từ 13 ngàn đến 15 ngàn lượt người. Trong dòng người về viếng Bác ngày Chủ Nhật (22/4/2012), có 9 người con khuyết tật ở thành phố Hải Phòng lần đầu tiên được về viếng Bác.

Cảm thông, chia sẻ với những người khi sinh ra đã bị thiệt thòi, khuyết tật, những cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho họ những tình cảm đặc biệt. Đồng chí Thiếu tá Trần Tiên Long, cán bộ Ban Đón tiếp, Cơ quan Văn phòng Ban Quản lý Lăng cho biết: Các đoàn đến đặt hoa, sinh hoạt chính trị, văn hóa tại Lăng Bác đều đăng ký trước với Ban Tổ chức. Đồng bào, khách quốc tế về Lăng viếng Bác đều xếp hàng thứ tự từ cổng Số 17 phố Ngọc Hà, quận Ba Đình. Riêng những đồng chí thương binh nặng, người khuyết tật đi lại khó khăn được ưu tiên viếng Bác trước, được Ban Tổ chức bố trí ngồi trên xe lăn, có nhân viên, chiến sỹ giúp đỡ trong suốt quá trình vào Lăng viếng Bác, tham quan Nhà sàn Bác Hồ và Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Cả dòng người đang xếp hàng chuẩn bị vào viếng Bác trên suốt dọc đường Hùng Vương hôm đó ngỡ ngàng khi thấy hai hàng chiến sỹ danh dự, lễ phục chỉnh tề, xếp thẳng tắp, xen giữa là rất nhiều người khuyết tật, ngồi trên những chiếc xe lăn. Nhìn thấy cử chỉ nâng xe, hạ xe qua các bậc tam cấp, cầu thang lên, cầu thang xuống suốt dọc đường vào Lăng giúp đỡ người khuyết tật của các chiến sỹ danh dự thật nhẹ nhàng, tình cảm. Trao đổi với Trung tá Lê Văn Bảy, Phó Tham mưu trưởng Đoàn H75, tôi được biết: Trung bình mỗi ngày có từ 3 đến 5 đồng chí thương binh nặng hoặc người khuyết tật cả trong nước và người nước ngoài đến viếng Bác. Dù bất kỳ ai chúng tôi đều cảm phục họ và phục vụ tận tình, chu đáo. Riêng hôm nay có tới 9 vị khách đặc biệt, đơn vị đã bố trí 36 đồng chí chiến sỹ danh dự để phục vụ. Sau mỗi lần phục vụ, chúng tôi đều cảm nhận được tình cảm mà các đồng chí thương binh nặng, người khuyết tật đã dành cho Bác thật đặc biệt. Có những thương binh nặng dẫu hỏng cả hai mắt, nhưng sau khi viếng xong đã trả lời: “Mắt tôi không nhìn thấy Bác, nhưng Bác Hồ luôn ở trong trái tim tôi”.

Cảm động trước những tình cảm mà những chiến sỹ danh dự đã dành cho Đoàn, cụ Bùi Thị Thọ đã xúc động nói: “Tôi năm nay đã 84 tuổi đời, 62 năm tuổi Đảng. Hiện nay mắt mờ, chân chậm, đi lại rất khó khăn, chẳng còn hy vọng gì nữa. Nhưng hôm nay là ngày thật đặc biệt: Lần đầu tiên được về Lăng viếng Bác Hồ. Đúng là cả đời mong ước, đến cuối đời tôi mới được toại nguyện”.

Sinh ra không được may mắn, nhưng bà Lê Thị Phượng, 61 tuổi ở phường An Biên, quận Lê Chân đã chia sẻ: “Chúng tôi cũng coi lời Bác căn dặn thương binh “tàn nhưng không phế” như là phương châm sống của những người khuyết tật. Mặc dù đôi chân từ thuở lọt lòng đã không lành lặn, không đi lại được. Nhưng tôi luôn cố gắng vươn lên bằng chính nghị lực của chính mình. Hiện nay tôi đang làm ở Hợp tác xã Đan len Hoa phượng đỏ của thành phố Hải Phòng. Thu nhập tuy không cao, nhưng cũng đủ để phục vụ trang trải cho cuộc sống, đủ để tự lập cho chính bản thân mình. Về viếng Bác hôm nay, là để chúng tôi thêm nghị lực sống cho ngày mai”.

Mặc dù đã có sự chia sẻ, giúp đỡ của các cấp, các ngành, sự chia sẻ, cảm thông của mọi người, nhưng những người khuyết tật còn biết bao điều khó khăn vất vả. Chị Nguyễn Tạ Thị Hồng Hạnh, Phó Trưởng ban vận động Hội người khuyết tật thành phố Hải Phòng cho biết: “Những người khuyết tật như chúng tôi thiệt thòi lắm. Công ăn, việc làm, đi lại, sinh hoạt đều gặp muôn vàn khó khăn. Nhưng hôm nay về viếng Bác, được cán bộ, chiến sỹ Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp đỡ thật tận tình, chu đáo, nâng giấc mỗi chúng tôi như những người thân ruột thịt của mình. Để cảm nhận được rằng cuộc sống quanh chúng tôi còn biết bao điều tốt đẹp”.

Theo thống kê tại Ban Quản lý Lăng, trong tổng số hơn 45 triệu lượt đồng bào, khách quốc tế về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh 37 năm qua, có rất nhiều các đồng chí thương binh nặng và người khuyết tật. Vào những dịp kỷ niệm Ngày sinh của Bác 19/5, Ngày Thương binh, Liệt sỹ 27/7 và Quốc khánh 2/9 hàng năm, số lượng đoàn thương binh nặng, người khuyết tật tăng lên nhiều. Đặc biệt, Đoàn đại biểu những người khuyết tật thuộc “Trung tâm Sống độc lập Hà Nội” đã nhiều lần vào Lăng viếng Bác Hồ. Những đồng chí thương binh nặng, người khuyết tật mỗi khi về Lăng viếng Bác, tham dự các sinh hoạt chính trị, văn hóa ở khu vực Lăng đều được giúp đỡ, được chăm sóc tận tình, chu đáo. Đó cũng là những việc làm thiết thực, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, giúp đỡ người khuyết tật cùng “hòa nhập” với cộng đồng./.

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn

Điện Biên Phủ (7-5-1958)

Ba chữ Điện Biên Phủ đã làm cho tiếng tǎm dân tộc Việt Nam ta lừng lẫy khắp nǎm châu.

Cuối nǎm 1946, thực dân Pháp hòng đặt ách nô lệ lên vai nhân dân ta một lần nữa. Chúng cố gây ra chiến tranh.

Trước tình hình ấy, nhân dân ta chỉ có thể chọn một con đường: Hoặc nhượng bộ cho địch để rồi làm thân trâu ngựa; đó là con đường dễ dàng, như lǎn xuống dốc. Hoặc quyết tâm kháng chiến để giữ lấy độc lập, tự do; con đường này rất gian khổ, như trèo núi cao. Nhân dân ta đã chọn con đường khó và quyết tâm kháng chiến.

Đánh giặc, trước hết phải có vũ khí, mà vũ khí đầu tiên của ta là gậy tầm vông. Ta dùng gậy tầm vông để chống lại máy bay, xe tǎng, đại bác và tàu chiến của Pháp, Mỹ. Chúng ta đều nhớ rằng ngay trong thời kỳ kháng chiến, đế quốc Mỹ đã ra sức giúp thực dân Pháp để kéo dài chiến tranh.

Mặc dù thiếu thốn mọi bề, khó khǎn đủ thứ, nhưng toàn thể đồng bào ta từ Bắc đến Nam đã tin tưởng nghe theo lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ, đoàn kết một lòng, kháng chiến cứu nước.

Đảng nói: “Kháng chiến phải trường kỳ gian khổ, song nhất định thắng lợi”. Kết quả là lời nói của Đảng đã thực hiện, nhân dân ta đã thắng, thực dân Pháp đã thua.

Từ ngày 19-12-1946 đến 7-5-1954, bộ đội và du kích ta đã đánh quân địch chết và bị thương hơn 466.000 binh sĩ.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội ta đã tiêu diệt hoặc bắt

làm tù binh 16.200 tên địch, trong số đó có một thiếu tướng, 16 quan nǎm, 353 tên từ quan một đến quan tư và 1.396 hạ sĩ quan.

Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, một đế quốc hùng mạnh đã bị nhân dân một nước thuộc địa đánh cho tan tành tả tơi, và phải cút về nước.

Đồng bào ta luôn luôn nhớ ơn quân đội ta đã dũng cảm chiến đấu để giữ gìn nền độc lập cho Tổ quốc và quyền tự do cho nhân dân.

Trong lúc toàn dân ra sức kháng chiến, thì “chí sĩ Ngô Đình Diệm” ngao du ở nước Hoa Kỳ. Thế mà ngày nay, những người cầm quyền miền Nam dám to mồm nói họ đã đuổi thực dân Pháp và giải phóng đất nước Việt Nam!

Ngoài việc đánh đuổi thực dân, kinh nghiệm kháng chiến thắng lợi nói chung và Điện Biên Phủ nói riêng, có hai ý nghĩa to lớn:

– Nó đã khuyến khích các nhân dân bị áp bức ở á – Phi nổi dậy chống chủ nghĩa thực dân, giành giải phóng dân tộc.

– Nó chứng tỏ rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chính phủ ta và nhân dân ta đoàn kết nhất trí thì khó khǎn gì cũng khắc phục được, công việc to lớn mấy cũng làm được. Sự nghiệp cách mạng và kháng chiến như vậy, công cuộc xây dựng nước nhà tiến dần lên chủ nghĩa xã hội cũng như vậy.

L.T.

—————————————

Báo Nhân dân, số 1516, ngày 7-5-1958.
cpv.org.vn

Bài nói tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ hai (21) (7-5-1958)

Hồi Bác còn đồng tuổi với các cháu ở đây thì Bác phải đi rửa bát hoặc làm nhiều công việc khác để lấy tiền mà đi học. Vì lúc đó chưa có Đảng, chưa có Hội thanh niên hoặc sinh viên, mà lúc đó nói đến yêu nước là thực dân Pháp nó chặt đầu. Còn bây giờ các cháu có thể phát triển hết khả nǎng của mình.

Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người.

Các cháu ít hay nhiều cũng có mang cái dấu vết của xã hội cũ, cái tư tưởng tiểu tư sản. Tư tưởng tiểu tư sản là cái gì? Nó là cá nhân chủ nghĩa. Cá nhân chủ nghĩa nó đẻ ra cái tư tưởng danh lợi, chỉ muốn làm ông này ông khác, bà này bà khác. Rồi tư tưởng danh lợi lại đẻ ra con nó, rồi con nó lại đẻ ra cháu nó… tức là hai cái khinh là: khinh lao động chân tay và khinh người lao động chân tay và hai cái sợ là: sợ khó nhọc và sợ khổ.

Muốn sửa chữa cá nhân chủ nghĩa thì khi làm bất kỳ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào, đến toàn dân đã. Ta có câu nói: “Có khó nhọc thì mình nên đi trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; làm việc gì mình cũng nghĩ đến lợi ích chung trước và lợi ích riêng sau. Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi:

Học để làm gì?

Học để phục vụ ai?

Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng để sửa chữa khuyết điểm của mình.

Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì cần phải có cái gì?

Cần có lao động, lao động trí óc và lao động chân tay. Và ta cần lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có vǎn hoá, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại.

Lao động trí óc mà không lao động chân tay, chỉ biết lý luận mà không biết thực hành thì cũng là trí thức có một nửa. Vì vậy, cho nên các cháu trong lúc học lý luận cũng phải kết hợp với thực hành và tất cả các ngành khác đều phải: lý luận kết hợp với thực hành, học tập kết hợp với lao động.

Lao động trí óc phải kết hợp với lao động chân tay. Học lao động phải có quyết tâm; muốn có quyết tâm thì phải có tinh thần, phải có sáu cái yêu:

Yêu Tổ quốc: Yêu như thế nào? Yêu là phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu mạnh. Muốn cho Tổ quốc giàu mạnh thì phải ra sức lao động, ra sức tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Yêu nhân dân: Mình phải hiểu rõ sinh hoạt của nhân dân, biết nhân dân còn cực khổ như thế nào, biết chia sẻ những lo lắng, những vui buồn, những công tác nặng nhọc với nhân dân.

Yêu chủ nghĩa xã hội: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm.

Yêu lao động: Muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội thì phải yêu lao động, vì không có lao động thì chỉ là nói suông.

Yêu khoa học và kỷ luật: Bởi vì tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có khoa học và kỷ luật.

Thời đại chúng ta bây giờ là thời đại vệ tinh nhân tạo, nghĩa là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, thời đại xã hội chủ nghĩa, thời đại anh hùng; mỗi người lao động tốt đều có thể trở nên anh hùng (không phải là anh hùng cá nhân). Vậy mong các cháu cũng làm người thanh niên anh hùng trong thời đại anh hùng.

——————————-

Nói ngày 7-5-1958.
Sách Hồ Chủ tịch bàn về giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1962, tr.192-194.

(21) Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ hai: Họp từ ngày 5 đến ngày 7-5-1958, tại Hà Nội. Dự Đại hội có 243 đại biểu chính thức và 200 đại biểu dự thính thay mặt cho 4000 sinh viên các trường đại học trên miền Bắc. Đại hội đã kiểm điểm phong trào sinh viên Việt Nam trong 2 nǎm (1957-1958) về các mặt: học tập, tư tưởng, sinh hoạt và các hoạt động đoàn kết với sinh viên miền Nam và sinh viên thế giới. Đại hội đã thông qua Điều lệ của Hội liên hiệp sinh viên Việt Nam và phương hướng hoạt động của Hội. Trong buổi lễ bế mạc, Đại hội vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thǎm và nói chuyện. Tr.172.

cpv.org.vn

Trả lời những câu hỏi của cử tri Hà Nội (10-5-1958)

Hỏi: Cần phải thắt lưng buộc bụng để xây dựng chủ nghĩa xã hội – nói như thế có đúng không?

Đáp: Đúng. Xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như làm ruộng. Trước phải khó nhọc cày bừa, chân bùn tay lấm, làm cho lúa tốt, thì mới có gạo ǎn. Sau cách mạng thành công, nhân dân Liên Xô đã phải thắt lưng buộc bụng, phấn đấu xây dựng ngót 18 nǎm mới được sung sướng như ngày nay. Chúng ta có các nước anh em hết lòng giúp đỡ, nói chung đời sống đã được cải thiện bước đầu. Nhưng để xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phấn đấu mấy nǎm mới đạt được kết quả mọi người áo ấm cơm no.

Hỏi: Phải chǎng trong xã hội xã hội chủ nghĩa ai không lao động cũng có ǎn? Lại có người nói rằng không lao động thì không được ǎn, vậy thì những người già yếu sẽ thế nào?

Đáp: Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chǎm nom.

Hỏi: Thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội là mấy nǎm?

Đáp: Trước kia cũng có người hỏi: “Trường kỳ kháng chiến là mấy nǎm?” Đảng và Chính phủ đã trả lời: Trường kỳ có thể là nǎm nǎm, mười nǎm, hoặc mười lǎm nǎm. Chúng ta đoàn kết quyết tâm kháng chiến, đến chín nǎm ta đã thắng lợi. Việt Nam ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, công cuộc đổi xã hội cũ thành xã hội mới gian nan, phức tạp hơn việc đánh giặc. Thời kỳ quá độ của ta chắc sẽ đòi hỏi ba, bốn kế hoạch dài hạn. Nếu nhân dân ta mọi người cố gắng, phấn khởi thi đua xây dựng, thì thời kỳ quá độ có thể rút ngắn hơn.

Hỏi: Tiến lên chủ nghĩa xã hội, thì giai cấp tư sản và tương lai của con cái nhà tư sản như thế nào?

Đáp: Tiến lên chủ nghĩa xã hội thì giai cấp tư sản cũng được Đảng và Chính phủ giúp đỡ cải tạo, hoà mình trong nhân dân lao động, con em của các nhà tư sản cũng được đối đãi như thanh niên khác.

Hỏi: Tiến lên chủ nghĩa xã hội thì tôn giáo có bị hạn chế không?

Đáp: Không. ở các nước xã hội chủ nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự do. ở Việt Nam ta cũng vậy, ngày 30-10 nǎm kia, sau khi đi thǎm Trung Quốc, đoàn đại biểu công giáo Anh đã tuyên bố: “ở Trung Quốc tín ngưỡng hoàn toàn tự do. Đối với công giáo, chính quyền không có thành kiến gì hết”.

Hỏi: Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội có trở ngại gì đến công cuộc thống nhất nước nhà hay không?

Đáp: Không. Trái lại tiến lên chủ nghĩa xã hội, thì về mọi mặt chính trị, kinh tế, vǎn hoá, xã hội, miền Bắc đều sẽ hơn hẳn miền Nam. Điều đó càng khuyến khích và sẽ giúp mạnh hơn nữa đồng bào miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai để giành lại dân chủ và thống nhất. Tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Bắc càng thành hậu thuẫn vững mạnh cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình.

Hỏi : Phải chǎng kinh tế của phe xã hội chủ nghĩa mạnh hơn của phe đế quốc tư bản?

Đáp: Phải. Tốc độ phát triển kinh tế của phe xã hội chủ nghĩa ngày càng mạnh hơn. Đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa là Liên Xô. Đứng đầu phe đế quốc tư bản là nước Mỹ. Chúng ta hãy so sánh kinh tế của hai nước ấy thì rõ:

Sản xuất công nghiệp hai tháng đầu nǎm nay so với hai tháng đầu nǎm ngoái:

Liên Xô, tổng sản lượng công nghiệp tǎng 11%; nǎng suất lao động tǎng 7%.

Mỹ, sản xuất than giảm sút 20%; gang thép giảm sút 43%; xe hơi giảm sút 31%.

Liên Xô, không có kinh tế khủng hoảng, không có nạn thất nghiệp.

Mỹ, trong 30 nǎm (từ 1929 đến 1958) bị bốn lần kinh tế khủng hoảng. Thất nghiệp là một nạn thường xuyên ở Mỹ, gặp kinh tế khủng hoảng thì số công nhân thất nghiệp càng tǎng nhiều. Hiện nay ở Mỹ có nǎm triệu rưỡi công nhân hoàn toàn thất nghiệp. Đó là chưa kể mấy triệu công nhân nửa thất nghiệp, mỗi tuần chỉ có công việc làm mấy tiếng đồng hồ.

Tháng 12 nǎm 1957, tờ Nhật báo phố Uôn, cơ quan ngôn luận của đại tư bản Mỹ, viết: “Sự suy sút kinh tế đã lan tràn khắp cả nước Mỹ, không gì ngǎn chặn được”.

Tờ báo Người hướng dẫn khoa học công giáo (Mỹ) viết: “Kinh tế Mỹ suy sút một cách nhanh chóng không thể tưởng tượng được. Không ai biết bao giờ sẽ cải thiện được tình trạng ấy”.

Bản báo cáo của Uỷ ban kinh tế trong Quốc hội Mỹ viết: “Một phần nǎm tổng số người Mỹ rất cực khổ. Trong số này có 830 vạn gia đình và 620 vạn cá nhân, 28 triệu người bị tàn tật và không có sức lao động. ở miền Nam nước Mỹ có một triệu rưởi gia đình nông dân nghèo khổ không thể tưởng tượng”.

Tờ Tạp chí công nghiệp (tháng 5 nǎm 1958) viết: “So với trước Chiến tranh thế giới thứ hai, thì nǎm 1957, sản xuất công nghiệp của các nước xã hội chủ nghĩa tǎng bốn lần rưỡi; của các nước tư bản chỉ tǎng hai lần rưỡi”.

Mấy ví dụ trên đây đủ tỏ rõ kinh tế của phe nào mạnh hơn.

Về mặt khoa học kỹ thuật, ai cũng biết rằng Liên Xô thành công trước Mỹ trong việc phóng vệ tinh nhân tạo; và vệ tinh thứ hai của Liên Xô to và nặng 508 cân 300, vệ tinh Mỹ chỉ nhỏ bằng quả bưởi và chỉ nặng 13 cân 365.

Các báo Mỹ đã phải nhận rằng trong mười nǎm (từ 1950 đến 1960), Liên Xô sẽ đào tạo được 120 vạn cán bộ khoa học kỹ thuật, Mỹ chỉ đào tạo được 90 vạn người.

Mỗi nǎm Liên Xô đào tạo được 15 vạn công trình sư, Mỹ chỉ đào tạo được 7 vạn người.

Hỏi: Các nước xã hội chủ nghĩa có đoàn kết nhất trí không? Các nước anh em giúp ta và Mỹ giúp bọn Ngô Đình Diệm khác nhau ở chỗ nào?

Đáp: Các nước xã hội chủ nghĩa rất đoàn kết nhất trí. Hai bản Tuyên ngôn ở Hội nghị Mátxcơva cuối nǎm ngoái đã chứng tỏ rõ rệt điều đó. Các nước anh em, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc, giúp ta máy móc, kỹ thuật, chuyên gia… để ta xây dựng và phát triển kinh tế. Việc giúp đỡ ấy là hoàn toàn vô tư. Các nước anh em chỉ đặt một điều kiện: Chúng ta phải cố gắng học nhanh, làm nhanh để tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Còn “viện trợ” Mỹ thế nào thì tờ báo Nhật Bản đã trả lời câu hỏi ấy như sau: “Viện trợ Mỹ nhằm mục đích bán hàng hoá thừa ế, lấy tiền lãi nặng, bán vũ khí và kèm theo những điều kiện chính trị và quân sự có lợi cho Mỹ”. Ví dụ: từ tháng 7 nǎm 1955 đến tháng 7 nǎm 1956, Mỹ giúp miền Nam và Miên, Lào 379 triệu đôla, trong số đó 330 triệu là bằng vũ khí.

Mỹ cho Ai Cập vay 400 triệu đôla, lãi mỗi nǎm 4%, trong 20 nǎm phải trả xong và trả bằng tiền mặt.

Liên Xô cho Ai Cập vay 600 triệu rúp, lãi mỗi nǎm 2%, hạn trả là 30 nǎm và có thể trả bằng bông hoặc bằng gạo mà Ai Cập có dư dật.

Theo Hãng thông tin ở Mỹ (7 tháng 5 nǎm 1958), Mỹ cho 42 nước phe Mỹ vay tiền, nhằm: một là để có công việc làm cho 60 vạn công nhân Mỹ đang thất nghiệp; hai là để nắm vững 250 cǎn cứ quân sự của Mỹ ở các nước ấy; ba là để duy trì nǎm triệu binh sĩ của các nước ấy đặng làm hậu thuẫn cho chính sách gây chiến của Mỹ.

Ngay ở miền Nam, “viện trợ” Mỹ mà phải chi tiêu 70% ngân sách vào quân sự.

Với những sự thật đó, đồng bào ta có thể nhận biết ai là vô tư, ai là vụ lợi.

——————————-

Trả lời ngày 10-5-1958.
Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1989, t.8, tr 130-135.
cpv.org.vn

Nói chuyện với cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết ở Hà Đông (10-5-1958)

Cán bộ và đồng bào miền Nam ra Bắc tập kết, hẳn ai cũng nhớ tới quê hương. Tình cảm ấy rất chính đáng. Nhưng mỗi người chúng ta có hai gia đình: gia đình riêng, nhỏ và đại gia đình là Tổ quốc. Cuộc đấu tranh giành thống nhất đất nước hiện nay của đồng bào miền Nam và miền Bắc cũng là để cho gia đình chúng ta sum họp. Muốn đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, phải ra sức thi đua sản xuất, thực hành tiết kiệm, xây dựng miền Bắc vững mạnh làm nền tảng cho cuộc đấu tranh chính trị, bằng đường lối hoà bình. Trong kháng chiến, có người đã hỏi: “Kháng chiến bao giờ thắng lợi? Trường kỳ đến mấy tháng, đến mấy nǎm?”. Vào lúc đó, quân địch thì có máy bay, tàu chiến, có súng lớn, xe tǎng, nhân dân ta chỉ có gậy tầm vông, con dao, cái thuổng, nhưng Đảng, Chính phủ ta nói rằng: “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”. Quả nhiên, cuộc kháng chiến của dân tộc ta đã thành công rực rỡ. Ngày nay, Đảng, Chính phủ ta lại nói rằng: đấu tranh giành thống nhất đất nước là cuộc đấu tranh lâu dài, gay go, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi.

Khóa họp Quốc hội lần thứ tám vừa qua đã quyết định xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

Anh chị em cán bộ phải thân ái đoàn kết với nhau, tuỳ khả nǎng

mình giúp đỡ đoàn kết với đồng bào địa phương, nhận rõ lao động, nhất là lao động chân tay là vẻ vang, hǎng hái tǎng gia sản xuất, thi đua tiết kiệm, chú ý học chính trị, vǎn hoá.

—————————-

Nói ngày 10-5-1958.
Báo Nhân dân, số 1520, ngày 11-5-1958.
cpv.org.vn

Thư chúc mừng Đại hội lần thứ VII Đảng Cộng sản Bungari (4-6-1958)

Kính gửi Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Bungari,

Thay mặt giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam xin gửi tới Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Bungari lời chào mừng thân ái và nhiệt liệt nhất.

Được rèn luyện lâu nǎm trong đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Bungari đã luôn luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa Mác – Lênin, đã giữ vững truyền thống anh dũng của đồng chí Đimitơrốp, đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân xây dựng và củng cố nước Cộng hoà Nhân dân Bungari thành một nước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh và nâng cao địa vị của mình trên trường quốc tế, góp phần tích cực trong cuộc đấu tranh gìn giữ hoà bình thế giới.

Nhân dân Việt Nam rất khâm phục tinh thần đấu tranh anh dũng và sức lao động sáng tạo của nhân dân Bungari.

Những thành tích của nhân dân Bungari trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, càng chứng tỏ thêm sức mạnh to lớn và tính chất ưu việt của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Đó là một sự cổ vũ mạnh mẽ đối với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Nhân dân, Chính phủ và Đảng chúng tôi rất biết ơn sự giúp đỡ của nhân dân, Chính phủ và Đảng Cộng sản Bungari.

Dưới ánh sáng nghị quyết của Hội nghị các đảng cộng sản và đảng công nhân trên thế giới họp ở Mátxcơva tháng 11 nǎm 1957, dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Bungari nhất định sẽ thu được nhiều kết quả tốt đẹp.

Chúng tôi tin chắc rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân dân Bungari sẽ thu được nhiều thắng lợi lớn hơn nữa trong việc thực hiện kế hoạch 5 nǎm lần thứ ba, nâng cao không ngừng mức sống vật chất và vǎn hoá của nhân dân Bungari.

Các đồng chí thân mến,

Đảng Lao động Việt Nam và nhân dân Việt Nam nhiệt liệt chúc Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Bungari thành công, nhiệt liệt chúc tình đoàn kết anh em theo tinh thần quốc tế vô sản giữa hai Đảng và hai nước chúng ta ngày càng bền vững.

Chủ nghĩa Mác – Lênin muôn nǎm!

Tình đoàn kết không gì lay chuyển nổi giữa các đảng cộng sản và đảng công nhân trên thế giới muôn nǎm!

Phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh đứng đầu là Liên Xô muôn nǎm!

Đảng Cộng sản Bungari muôn nǎm!

Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam
HỒ CHÍ MINH

—————————–

Báo Nhân dân, số 1544, ngày 4-6-1958.
cpv.org.vn