Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Thư gửi các cháu nhi đồng (19-10-1949)

Nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh Độc lập, chắc các cháu đều mong nghe Bác nói chuyện. Vậy Bác kể tóm tắt cho các cháu nghe.

Hơn tám mươi nǎm qua, giặc Pháp cướp nước ta. Rồi chúng cùng bọn vua chúa đè nén bóc lột đồng bào ta, tù đày chém giết những người cách mạng ta, ngǎn trở hạn chế nhi đồng ta học hành.

Nhiều lần đồng bào ta nổi lên chống giặc Pháp. Nhưng đến tháng Tám nǎm 1945, vì đồng bào ta từ già đến trẻ đều đoàn kết thành một khối, cho nên Cách mạng đã thành công. Đuổi hết giặc thực dân, đánh đổ bọn vua chúa, lập nên nước Việt Nam độc lập, Dân chủ Cộng hoà. Nhân dân đều được tự do hạnh phúc. Nhi đồng được tự do học hành.

Nước ta vừa độc lập, thì giặc Pháp trở lại đánh ta, mong cướp nước ta một lần nữa.

Vì vậy ta phải đánh giặc Pháp để giữ lấy độc lập của ta. Nhờ Vệ quốc quân và dân quân du kích ta dũng cảm, nhờ đồng bào ta đoàn kết, mà không bao lâu nữa, ta sẽ đánh tan giặc Pháp và bù nhìn, tranh lại thống nhất và độc lập thật sự.

Trong những nǎm kháng chiến, các cháu cực khổ, nhưng các cháu cũng tiến bộ khá nhiều. Cháu nào cũng hǎng hái thi đua học hành, giúp đỡ các công việc, ủng hộ quân đội ta, cháu nào cũng biết yêu nước, ghét giặc Pháp và bù nhìn. Cháu nào cũng ngoan.

Các cháu biết rằng: nay các anh, các chị, các chú, các bác đang hy sinh chiến đấu, là cốt để cho các cháu khỏi phải làm nô lệ, được no ấm và tự do.

Ngày nay, người lớn kháng chiến để tranh lại độc lập thì mai sau các cháu phải giữ vững nền độc lập của ta. Vì vậy, các cháu phải cố gắng thi đua học tập và làm việc hơn nữa.

Chắc các cháu đều gắng làm được như lời Bác dặn nhỉ.
Bác hôn các cháu và cùng các cháu hô to:

Nhi đồng Việt Nam thi đua yêu nước và học tập!
Kháng chiến nhất định thắng lợi!
Việt Nam thống nhất và độc lập muôn nǎm!

Ngày 19 tháng 8 nǎm 1949
CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 310-311.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi đồng bào bán gạo khao quân nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh 2-9-1949 (20-8-1949)

Thưa các cụ phụ lão,

Các vị thân sĩ,

Nam nữ đồng bào,

Nhân ngày kỷ niệm Độc lập Ngày 2-9, tôi có ý muốn khao thưởng bộ đội ta, là những người đang chiến đấu anh dũng để giữ gìn quyền độc lập mà nhân dân ta đã đấu tranh được.

Nhưng lấy gì mà khao thưởng ?

Thánh hiền có nói:

“Thực túc, binh cường”.

Vậy thì lấy lương thực mà khao thưởng là giản đơn nhất, thiết thực nhất.

Song tôi không có thóc gạo.

Vậy tôi lấy danh nghĩa cá nhân mà nhờ đồng bào giùm tôi việc đó. Tôi muốn nhờ đồng bào mỗi gia đình bán cho tôi 10 kilô gạo với những điều kiện sau đây:

– Định giá 1 kilô là 50 đồng.

– Những gia đình nghèo thì thôi.

– Những đồng bào có thể bán giúp nhiều thì càng hay.

– Đồng bào bán giúp thì phải nhận đủ tiền, vì tôi không muốn để đồng bào thiệt thòi nhiều quá.

Cách lấy gạo và trả tiền thế nào, Uỷ ban kháng chiến hành chính xã phụ trách.

Tôi chắc rằng đồng bào sẵn lòng giúp tôi việc đó. Tôi cảm ơn trước đồng bào, và tôi sẽ gửi thư riêng cảm ơn những đồng bào bán giúp nhiều nhất trong xã, trong huyện, và trong tỉnh.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 20 tháng 8 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân dân,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1962, tr.76-77.
cpv.org.vn

Gặp lại cô bé quàng khăn đỏ cho Bác Hồ

Cô nữ sinh người Dao 14 tuổi năm ấy được gặp Bác Hồ 2 lần trong ngày, được che ô, quàng khăn quàng đỏ lên cổ Bác…

Được gặp Bác 2 lần 

Bac Ho tro chuyen voi cac hoc sinhTấm ảnh ghi lại buổi Bác Hồ trò chuyện với các học sinh Trường Thiếu nhi rẻo cao
khu tự trị Việt Bắc, cô nữ sinh Triệu Thị Kim Tặng (đứng sau vai trái của Bác)
đang hát vang bài ca kết đoàn.

Ngày ấy, cô nữ sinh Triệu Thị Kim Tặng tròn 14 tuổi, cô là một trong ba nữ sinh được cử đi đón Bác Hồ khi Bác lên thăm nhân dân tỉnh Thái Nguyên (năm 1960).

“Sáng hôm đó (13/3/1960) tôi cùng 2 người bạn là Chi Thị Khẩn dân tộc Lô Lô, Đào Thị Lý dân tộc Mông được cử đi đón Bác Hồ ở ngoài sân vận động Thái Nguyên – nơi Bác về trò chuyện với bà con các dân tộc Việt Bắc. Tôi là người được giao nhiệm vụ cầm ô che cho Bác nên được đứng ngay bên cạnh Bác.”

“Tôi còn nhớ rất rõ Bác mặc bộ quần áo “kiểu Tôn Trung Sơn” màu ghi, đằng sau vai áo bên phải có một miếng vá nhưng trong mắt tôi Bác mặc bộ đồ đó rất đẹp, rất giản dị, gần gũi với những người dân ở đây, gần gũi với chúng tôi…”.

Sau khi nhận những bông hoa tươi thắm từ tay các học sinh Trường Thiếu nhi rẻo cao khu tự trị Việt Bắc, Bác Hồ vui vẻ và nhanh nhẹn bước lên khán đài trò chuyện với bà con, “nhìn Bác rất hồng hào” – cô bé che ô cho Bác nhớ lại.

Cô nữ sinh Triệu Thị Kim Tặng không chỉ vinh dự được gặp Bác 1 lần mà ngay chiều hôm đó, Bác vào thăm Trường Thiếu nhi vùng cao, khu tự trị Việt Bắc nơi cô học, cô lại vinh dự được giao nhiệm vụ quàng lên cổ Bác chiếc khăn quàng đỏ.

“Bác hỏi chúng tôi: Các cháu có nhớ nhà không? Có được ăn no không? Bác còn dặn: Các cháu là con em tiêu biểu của các dân tộc nên phải cố gắng chăm học, ngoan ngoãn, nghe lời thầy cô giáo, rèn luyện tốt để thành cháu ngoan Bác Hồ, để sau này làm cán bộ phục vụ cho dân tộc mình”.

Sau đó, “Bác Hồ cũng trò chuyện với các thầy cô giáo và nhân viên trong trường. Rồi Bác bắt nhịp cho chúng tôi hát bài Kết đoàn, rồi Bác rời hội trường trong khi chúng tôi vẫn đang hát…”

Bà Tặng kể, chính lần gặp Bác Hồ đó đã tiếp thêm nghị lực cho cô nữ sinh trẻ vượt qua khó khăn để tiếp tục xây ước mơ trở thành cán bộ phục vụ dân tộc, quê hương mình.

13 tuổi (năm 1959), cô bé Tặng dời bản Dao nghèo Nà Lẹng (ruộng cạn) nằm chon von nơi đỉnh đèo Gió (xã Sỹ Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Thái – nay là Bắc Kạn) về theo học tại Trường Thiếu nhi vùng cao, khu tự trị Việt Bắc (Thái Nguyên).

Ba Trieu Kim Minh Tang Bà Triệu Thị Kim Tặng với tấm hình chụp ảnh Bác Hồ (Ảnh Minh Thúy)

Ôm con đi “xóa mù” ở vùng cao

Bà Tặng theo học ngành sư phạm bởi bà nghĩ ngành này giúp bà mang kiến thức đến cho con em đồng bào dân tộc vùng cao – như nơi bà sinh ra và sống thời thơ ấu. Ngay sau khi ra tốt nghiệp Trường Trung cấp sư phạm Việt Bắc (nay là Đại học Sư phạm Thái Nguyên, năm 1965), bà Tặng về giảng dạy ở trường học của xã Lam Vĩ (huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên).

Bà nhớ đó là những ngày tháng đầy khó khăn, vất vả bởi bà đang mang thai người con đầu lòng, chồng bà (ông Đặng Văn Lâm, nguyên là Hiệu Trưởng Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên, cũng là bạn học cùng Trường Thiếu nhi vùng cao với bà) lại đang theo học tận Trung Quốc nên bà phải nỗ lực thực hiện tốt nhất công việc của người giáo viên “cắm bản”.

Không chỉ dạy cái chữ cho bà con, bà Tặng cũng tuyên truyền vận động bà con loại bỏ các hủ tục trong cưới xin, ma chay, mê tín dị đoan…

“Cắm bản” ở các xã vùng sâu, vùng xa gần 20 năm, đến  năm 1984, bà Tặng chuyển về công tác tại Phòng Bổ túc văn hoá, Sở Giáo dục – Đào tạo Thái Nguyên, phụ trách mảng xoá mù chữ bậc tiểu học.

Với công việc này, bà đi khắp các bản làng xa xôi của tỉnh, có những lúc đi bộ cả 2 ngày trời, rồi cuộc sống đầy khó khăn, cái bụng chưa no nên nhiều người không muốn học cái chữ – khiến người giáo viên xóa mù chữ như bà Tặng có lúc cảm thấy mệt mỏi. Nhưng chính những lúc mệt mỏi đó, bà Tặng nhớ lời dặn dò của Bác Hồ, bà lại bước tiếp.

Có những thời gian chồng đi xa, một nách 2 con nhỏ, bà Tặng vẫn “cắp con” đi “xóa mù” cùng, những vùng cao ở Đồng Hỷ, Chợ Đồn, Na Rì, Bạch Thông… đều in dấu chân mẹ con cô giáo Tặng. Có những lúc cô giáo Tặng phải ở lại với bà con, ngày đi làm cùng họ, tối về vận động họ học chữ, cách làm này của cô giáo Tặng sau này đã được nhân rộng tại địa phương.

Năm 2001, cô giáo Tặng nghỉ hưu, nhưng “hưu” mà chẳng “nghỉ”, bà Tặng được bầu làm Chi hội trưởng Chi hội phụ nữ Tổ dân phố 13, phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Thái Nguyên. Năm 2002, bà vào Ban Chi ủy phụ trách công tác Mặt trận của phố Gia Bảy. Năm 2003, bà làm Bí thư Chi bộ… Đến năm 2006, bà được bầu làm tổ Trưởng Tổ dân phố 13.

Bà quyết tâm góp phần làm thay đổi bộ mặt khu phố, từ chỗ đi lại trong tổ dân phố trên những lối mòn đất đỏ bà vận động bà con làm đường bê tông, rồi làm đường dẫn nước sạch, làm luôn đường điện áp. Quá trình làm nhiều người ủng hộ, nhiều người… chửi nhưng bà vẫn kiên trì. Và vì đó, bà Tặng cũng được bà con dân phố “phong tặng” danh hiệu “người chịu đựng nhất khu phố”.

Nhờ làm được hạ tầng tốt, giờ đây khu phố của bà Tặng đã thay đổi bộ mặt, xóa hẳn được nhà lá, 100% là nhà xây cao tầng. “Tôi luôn tậm niệm lời Bác dạy suốt chặng đường tôi đi, suốt những việc tôi làm và tôi thấy thành công” – bà Tặng nói với giọng rất nhẹ nhàng, nụ cười tươi cả trong ánh mắt.

Nguồn: vtc.vn
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Thư gửi nữ du kích Bùi Thị Cúc, xã Ba Trại, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (8-1949)

(Nhờ UBKCHC Sơn Tây chuyển)

Tôi thay mặt Chính phủ gửi lời khen ngợi dân quân du kích xã Ba Trại đã anh dũng diệt giặc trong trận 16-2-1949.

Tôi đặc biệt khen ngợi cháu Cúc đã tiêu diệt được 8 tên giặc để lập chiến công vẻ vang trong trận ấy.

Tôi mong rằng toàn thể nam nữ du kích trong tỉnh sẽ hǎng hái thi đua diệt giặc lập công.

Tôi sẽ có giải thưởng đặc biệt, gọi là giải thưởng “Chuẩn bị tổng phản công” cho chiến sĩ nào và đội du kích nào lập công to nhất từ nay đến cuối nǎm.

Cháu Cúc cố gắng lên, để giật giải thưởng ấy.
Bác thưởng cháu 1 chiếc khǎn tay.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 8 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào tỉnh Nghệ An (8-1949)

Cảm ơn đồng bào đã tặng tôi món quà quý báu trong dịp sinh nhật của tôi – là thành tích thi đua 4 tháng đầu nǎm 1949.

Sau đây, tôi có mấy lời thân ái nhắn khuyên đồng bào:

– Thi đua phải thiết thực, bền bỉ, rộng khắp.

– Dân quân phải tổ chức chặt chẽ, tập luyện hẳn hoi, vũ trang đầy đủ.

– Sáu huyện đã thanh toán nạn mù chữ. Thế là tốt lắm. Chính phủ sẽ gửi giấy khen. Phải giúp các huyện kia thanh toán cho xong nội trong nǎm nay.

– Tôi rất vui lòng rằng xã nào cũng có phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân. Phụ nữ phải tham gia chính quyền nhiều hơn và thiết thực hơn nữa. 64 xã, tức là một phần ba trong tỉnh đã làm được đoàn kết chặt chẽ, chính quyền củng cố, dân quân vững vàng thì 2 phần 3 kia phải thi đua làm được như thế.

– Phải phát triển và củng cố phong trào hợp tác xã và tập đoàn đổi công. Những người phụ trách phải tháo vát và trong sạch. Đời sống mới trong thôn quê phải phát triển hơn.

– Tỉnh ta đã có đà khá vững để tiến bộ mọi mặt. Mong đồng bào tiếp tục thi đua và giúp nhau thi đua làm cho Nghệ An thành một tỉnh kiểu mẫu trong mọi công việc kháng chiến và kiến quốc.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 8 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Sách Bác Hồ với quê hương Nghệ Tĩnh,
Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh, 1977, tr.38-39.
cpv.org.vn

Thư gửi cụ Nguyễn Ban, xã An Tường huyện Thǎng Bình, Quảng Nam (8-1949)

Cụ gửi thư cho tôi biết rằng cụ đã học xong chữ quốc ngữ. Đọc bức thư cụ, tôi rất lấy làm vui sướng, cụ đã 77 tuổi mà còn gắng học trong 3 tháng đã được thành công như vậy là cụ chẳng những làm kiểu mẫu siêng nǎng cho con cháu mà lại còn tỏ cái ý chí hùng mạnh của dân tộc Việt Nam. Noi gương cụ, con cháu cụ, đồng bào Việt Nam từ 7 tuổi đến 70 tuổi ai mà nỡ lòng làm biếng, ai mà chẳng cố gắng học hành. Đời xưa bên Trung Quốc có ông Tô Lão Tuyền 72 tuổi mới bắt đầu học, tiếng thơm còn để đến ngày nay.

Bây giờ ở nước Việt Nam ta cụ 77 tuổi mới đi học, chắc tiếng thơm sẽ truyền khắp cả nước. Cụ thật xứng đáng bốn chữ “lão đương ích tráng” 1 . Cụ là một tượng trưng phúc đức của nước nhà. Đó là một thành công to lớn và ý nghĩa sâu xa.

Các anh chị em bình dân học vụ có thể tự hào rằng mình đã có công với dân tộc.

Tôi cảm ơn cụ, tôi cũng cảm ơn anh chị em.
Kính chúc cụ luôn luôn mạnh khoẻ.

Tháng 8 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 314.
cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Praxa Thipatay (Thái Lan) (2-9-1949)

1. Hỏi: Quân đội Việt Nam sẽ đổi chiến lược, chuyển sang thế công, Ngài có thể cho chúng tôi biết một cách thành thực là quân đội của Ngài đã được nước thứ ba nào viện trợ về khí giới không?

Trả lời : Khí giới chúng tôi tự chế tạo, 3/4 chúng tôi lấy được của quân đội Pháp.

2. Hỏi: Ngoài việc kháng chiến bằng quân sự để giành độc lập, Ngài có ý định liên lạc với Liên hợp quốc để đạt được độc lập bằng cách ôn hoà không? Vì lẽ gì?

Trả lời : Hiến chương của Liên hợp quốc là các nước phải tôn trọng quyền độc lập của nước khác. Trách nhiệm của Liên hợp quốc là thực hiện Hiến chương ấy. Chúng tôi mong Liên hợp quốc làm tròn nhiệm vụ, buộc quân đội thực dân Pháp rút khỏi Việt Nam, thì hoà bình sẽ trở lại ngay.

3. Hỏi: Hiện nay có tin nói rằng Ngài và Mao Trạch Đông, lãnh tụ Trung Cộng đã liên lạc mật thiết với nhau, và có tin phao đồn khắp nơi rằng Ngài chủ trương cộng sản theo kiểu Mạc Tư Khoa. Vậy sự thực như thế nào?

Trả lời : Đó là tuyên truyền xảo trá của thực dân Pháp, không có gì lạ. Chỉ lạ rằng, nhiều người ngoại quốc thông minh cũng tin lời xảo trá ấy.

4. Hỏi: Sau khi hoàn toàn thắng lợi, trong chính sách chính trị, kinh tế, Chính phủ có chủ trương sẽ chia tư hữu tài sản không?

Trả lời: Hiến pháp của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã nói rõ rằng tôn trọng tư hữu tài sản.

5. Hỏi: Đối với nước Thái về các mặt quân sự, chính trị và kinh tế, Ngài có ý định như thế nào sau khi nước Ngài đã được hoàn toàn độc lập?

Trả lời : Bao giờ Việt Nam cũng cần thân thiện với nước Thái, và nước Thái thân thiện với Việt Nam, vì chúng ta là bà con láng giềng.

6. Hỏi: Ngài cho biết rõ đồng bào Ngài hiện cư trú ở Thái ủng hộ chính sách Ngài hay chính sách của Bảo Đại?

Trả lời : Kiều bào chúng tôi ở quý quốc chỉ ủng hộ quyền thống nhất và độc lập thật sự của Tổ quốc.

7. Hỏi: Giữa hai cường quốc Mỹ và Liên Xô, Ngài sẽ hợp tác với nước nào là nước Ngài coi là đại diện cho chủ trương giữ vững hoà bình thế giới? Về vấn đề này, tôi không mong một câu trả lời nói rằng Việt Nam sẽ trung lập, vì đó là một việc khó lòng làm được?

Trả lời : Việt Nam sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam. Một nước rất có thể trung lập giữa hai cường quốc, thí dụ nước Thuỵ Sĩ.

8. Hỏi: Yêu cầu Ngài cho biết ý kiến Ngài đối với việc vận động ký kết khối Thái Bình Dương hiện nay do Phi Luật Tân đóng vai chủ động.

Trả lời : Việt Nam phải kháng chiến tranh lại thống nhất và độc lập thật sự đã, sau mới có thể bàn đến việc khác. Đức Khổng Tử có dạy rằng: Quốc trị, thiên hạ mới bình.

Nhân dịp này, tôi nhờ quý báo chuyển lời cảm ơn của chúng tôi đối với Chính phủ và nhân dân quý quốc đã giúp đỡ kiều bào của chúng tôi.

Tôi gửi lời chào ông và quý báo.
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1375,
ngày 19-10-1949.
cpv.org.vn

Thư gửi Hội nghị Trung du (19-9-1949)

Ngày 19 tháng 9 nǎm 1949

Gửi Hội nghị Trung du

Các đồng chí,

Nhân dịp Hội nghị Trung du, tôi gửi lời thân ái hỏi thǎm các đồng chí.

Vì sao có cuộc Hội nghị Trung du?

Vì Trung du là rất quan trọng. Quan trọng về quân sự cũng như về kinh tế. Và chiến tranh ở trung du sẽ rất gay go, rất ác liệt.

Các chú là những cán bộ phụ trách lãnh đạo đồng bào đánh giặc ở đó, thắng giặc ở đó.

Đại đa số cán bộ, nhất là cán bộ Bắc Ninh, tinh thần vững chắc, tận tuỵ làm việc, hiểu các công tác, đi sát với dân. Cán bộ các đơn vị chủ lực cũng đã chỉ huy bộ đội chiến đấu anh dũng. Cho nên quân, dân, chính nhất trí, và bộ đội chủ lực cùng bộ đội địa phương và dân quân đã nhiều lần giết giặc lập công.

Nhưng nhiều nơi vẫn còn nhiều khuyết điểm.

– Chưa nhận rõ mặt trận Trung du là rất quan trọng. Thậm chí có một vài nơi, khi giặc đến thì hoang mang, bỏ chạy; thấy du kích đánh hǎng, mới dám trở về.

– Chưa hiểu rõ chiến tranh nhân dân là chiến tranh toàn diện, còn tưởng lầm rằng có du kích tức là chiến tranh nhân dân.

– Tin tức, tuyên truyền không thống nhất, không kịp thời.

– Chưa biết trao đổi kinh nghiệm bộ phận này với bộ phận khác, tỉnh này với tỉnh khác.

– Khuyết điểm nặng nhất là quân dân chính chưa hợp tác thực tế, thiết thực và hoàn toàn.

Địch mạnh chừng nào, ta cũng không sợ. Chỉ sợ cán bộ ta không đủ nghị lực để tẩy cho hết những khuyết điểm đó.

Các chú phải hứa sẽ kiên quyết tẩy trừ và giúp đồng chí mình tẩy trừ những khuyết điểm của ta, thế là ta đã thắng địch một phần lớn rồi.

Điều thứ hai là phải tổ chức du kích cho thật hẳn hoi, vũ trang cho đầy đủ. Giặc mò đến đâu ắt bị ta đánh đấy. Phải làm sao cho các tỉnh trung du thành một phòng tuyến kiên cố của ta, một nghĩa địa mênh mông của giặc. Thế là ta nhất định thắng lợi.

Đồng bào ta, gái cũng như trai, trẻ cũng như già, cho đến các cháu nhi đồng cỏn con ai cũng nồng nàn yêu nước, ai cũng hǎng hái kháng chiến, ai cũng cố gắng giết giặc. Nếu cán bộ khéo cơ động, tổ chức, lãnh đạo thì ngoài Vệ quốc quân anh dũng của chúng ta, chúng ta lại có những cái lưới sắt du kích rộng lớn và mạnh mẽ quét hết lũ giặc, không sót một tên nào.

Tôi chắc các chú sẽ cố gắng làm được như thế, sẽ thi đua hãy làm được như thế.

Từ đây đến tháng 12 nǎm nay, bộ đội nào, địa phương nào lập được nhiều công to nhất, sẽ được một giải thưởng đặc biệt.

Nhờ các đại biểu chuyển lời thân ái tôi hỏi thǎm đồng bào và các chiến sĩ các tỉnh.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Nhà lưu niệm Bác Hồ ở xã Cần Kiệm

Bác Hồ là niềm tự hào của dân tộc. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Bác đã nhiều lần về thăm, về ở và làm việc tại nhiều địa điểm thuộc tỉnh Hà Tây cũ, trong đó có 19 ngày đêm Bác ở và làm việc tại xóm Lài Cài, xã Cần Kiệm, Thạch Thất, Hà Nội.

nha luu niem Bac Ho o xa Can kiem
           Nhà lưu niệm Bác Hồ tại xóm Lài Cài, xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất, Hà Nội

Xã Cần Kiệm (huyện Thạch Thất, Hà Nội) là một xã có truyền thống yêu nước và sớm có phong trào cách mạng. Tháng 3-1945, nơi đây đã hình thành tổ chức Việt Minh và hoạt động mạnh mẽ. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Cần Kiệm đã giành được chính quyền vào ngày 18-8 (trước Thủ đô Hà Nội 1 ngày). Là xã có nhiều phong trào hoạt động cách mạng, tinh thần cách mạng đã ăn sâu, bám rễ trong quần chúng từ lâu. Địa hình của xã được cấu thành bởi 36 quả đồi, âm u và có khả năng giữ được bí mật, đặc biệt xóm Lài Cài có đặc điểm là những quả đồi gắn liền nhau, rất lý tưởng cho những hoạt động cách mạng. Nhà lưu niệm Bác Hồ – nơi Bác ở khi đó, đường đi chỉ như đường bờ ruộng và đặc biệt là không có đường vào, nếu địch có phát hiện thì cũng khó bị tấn công.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và làm việc tại xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất từ ngày 13-1 đến ngày 2-2-1947 trong một lần rời Thủ đô Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc. Bác ở và làm việc trong ngôi nhà lá của cụ Nguyễn Đình Khuê (hay còn gọi là cụ Qụy Khuể) ở xóm Lài Cài, thôn Phú Đa, xã Cần Kiệm. Toàn bộ căn nhà được làm bằng tường tre, lợp mái cọ. Ngôi nhà khi đó đang được làm dở, nền đất cũng chưa được đập kỹ và chưa có người ở. Đây là ngôi nhà được cụ Khuê dựng để cho các con của mình và cũng không có đồ dùng gì đặc biệt.

 nha luu niem 2Khách tham quan nghe giới thiệu về Nhà lưu niệm Bác Hồ

Trong 19 ngày đêm Bác ở lại đây, Bác đã sửa, viết lại một số bản thảo tài liệu như “Phép dùng binh của ông Tôn Tử”, “Chiến thuật du kích”, bốn chữ đại từ bằng chữ Hán: “Cung chúc Tân Xuân”… do Bác viết tặng cụ chủ nhà nhân Tết Nguyên đán Đinh Hợi, Thư Bác gửi đồng chí Hoàng Hữu Nam về việc chuẩn bị họp Hội đồng Chính phủ vào ngày 26-1-2947. Ban ngày Bác làm vườn, ban đêm Bác ngồi viết bài, viết lại các cuốn sách cho dễ hiểu nên gia đình cụ Khuê và người dân nơi đây không hề biết đó là Bác Hồ vĩ đại. Dù địa điểm thay đổi nhưng thói quen làm việc đúng giờ của Bác vẫn không hề thay đổi. Ở đâu Bác cũng kê bàn làm việc sát giường và để dùng làm ghế ngồi luôn. Khi Bác ở Cần Kiệm là vào dịp Tết Đinh Hợi, nhưng bữa ăn của Bác vẫn chỉ có cơm độn sắn là chủ yếu. Tối 30 Tết, Bác đi họp Hội đồng Chính phủ ở Quốc Oai và chúc mừng năm mới các thành viên trong Chính phủ. Sau đó Bác rời Quốc Oai đến chùa Trầm (Chương Mỹ) để chúc Tết đồng bào cả nước qua Đài Tiếng nói Việt Nam. Bài thơ chúc Tết của Bác trong đêm 30Tết:

“Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng
Tiến lên chiến sĩ, tiến lên đồng bào
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập, nhất định thành công”.

Chiến tranh đã lùi xa, ngôi Nhà lưu niệm Bác Hồ tại xã Cần Kiệm hiện nay vẫn được giữ nguyên trạng so với trước kia, gian giữa là nơi đặt tượng Bác, đỉnh trầm, bát hương để người dân trong vùng và khách tham quan có thể thắp hương tưởng niệm Người. Các gian còn lại được dùng để trưng bày các tài liệu, kỷ vật lúc Bác đã từng ở, những bức ảnh chụp… Ngày 13-5-1993, Bộ Văn hoá – Thông tin đã cấp bằng công nhận Nhà lưu niệm Bác Hồ tại xã Cần Kiệm là di tích lịch sử cách mạng. Hiện Nhà lưu niệm Bác Hồ vẫn được bảo tồn để phục vụ nhân dân đến viếng thăm mỗi khi Tết đến hoặc kỷ niệm Ngày sinh của Bác.

Theo Nguyễn Minh – Văn Hinh/Báo Đại Đoàn kết
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Lời cảm ơn đồng bào (23-9-1949)

Thưa đồng bào,

Tôi cảm ơn đồng bào đã bán gạo rẻ giúp tôi, để khao thưởng bộ đội trong dịp Quốc khánh Độc lập.

Nhiều nơi, số gạo mua được đã nhiều hơn số gạo định trước.

Đó là nhờ các cụ phụ lão, các vị thân sĩ và điền chủ đã hǎng hái xung phong. Mà đồng bào nghèo và đồng bào trong vùng tạm bị địch chiếm cũng tìm cách bán giúp. Điều đó làm tôi rất cảm động.

Cảm động hơn nữa, là nhiều nơi nhân viên các cơ quan và đoàn thể đã nhịn ǎn để bán giúp. Các cháu nhi đồng thì 5, 7 cháu gom góp lại để bán giúp.

Đồng bào nhiều nơi lại còn xung phong ký tên, hứa đến mùa lúa này sẽ bán nhiều hơn nữa, để giúp tôi khao thưởng bộ đội.

Thật là quý hoá!

Sự thực là đồng bào khao thưởng bộ đội, chứ không phải riêng tôi.

Một lần nữa nhân danh tôi và nhân danh bộ đội, tôi trân trọng cảm ơn đồng bào, và gửi đồng bào lời chào thân ái và quyết thắng.

HỒ CHÍ MINH

Báo Sự thật, số 119,
ngày 23-9-1949.
cpv.org.vn

Thư gửi các cháu nhi đồng nhân dịp tết trung thu (18-10-1949)

Các cháu yêu quý!

Nhân dịp Tết Trung thu, Bác gửi lời thân ái chúc các cháu vui vẻ. Lần này là Trung thu kháng chiến thứ ba của các cháu.

Vì chúng ta kháng chiến đã ba nǎm, thức gì cũng hơi thiếu thốn hơn trước, cho nên có lẽ Trung thu này các cháu cũng ít bánh quà hơn nǎm ngoái.

Nhưng Bác chắc các cháu vui hơn. Một là vì các cháu đều biết rằng càng khó khǎn là ta càng gần ngày thắng lợi. Hai là vì nǎm nay các cháu tiến bộ hơn nǎm ngoái, về mặt thi đua học hành cũng vậy, về mặt tham gia kháng chiến cũng vậy. Thí dụ: Có những cháu đã xung phong phá tàu bay của giặc như ở Trung Bộ. Có những cháu đã xung phong giật mìn giết giặc ở Trung du. Có cháu thi đua đóng đảm phụ kháng chiến như ở nhiều nơi, v.v..

Trung thu nǎm nay, Bác cũng chưa có quà gì biếu các cháu. Nhưng chắc rằng nǎm sau, các cháu sẽ có Tết Trung thu linh đình là Tết Trung thu kháng chiến hoàn toàn thắng lợi.

Bác gửi các cháu nhiều cái hôn.
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1374,
ngày 18-10-1949.
cpv.org.vn

Thư gửi các đồng chí Liên khu IV (9-1949)

Nhân dịp đồng chí Thanh (1) vào, tôi gửi lời thân ái hỏi thǎm các đồng chí.

Xem lại những công việc trong thời kỳ vừa qua, các đồng chí đã lượm được khá ưu điểm:

Như nội bộ đoàn kết hơn, Bình Trị Thiên được chấn chỉnh hơn, sự lãnh đạo của Đoàn thể tuy chưa được đều nhưng đã bao khoát hơn trước.

Nhưng vẫn còn nhiều khuyết điểm như:

– Còn nhiều xu hướng cá nhân, bản vị, địa phương.

– Sự lãnh đạo về chính quyền, nhất là về kinh tế, không được quán xuyến.

– Dân vận chưa được đầy đủ, Mặt trận chưa đoàn kết được tất cả thân sĩ, trí thức.

– Một số cán bộ chưa thực hiện Cần Kiệm Liêm Chính, thậm chí hủ hoá. Phần nhiều khuyết điểm do đó mà ra.

Chưa vận dụng được cả nhân lực, vật lực, tài lực để phụng sự kháng chiến, nhất là ở Thanh Hoá.

Tôi mong các đồng chí kiên quyết sửa chữa những khuyết điểm và phát triển những ưu điểm nói trên, thì mọi việc sẽ thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 9 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Cục lưu trữ Trung ương Đảng, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

——————–

(1)Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.