Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Thư gửi Trung đội du kích Kim Thành (3-1948)

Cảm ơn các chú đã gửi biếu tôi 1 cái áo mưa lấy của giặc. Quý hơn nữa, là các chú hứa: luôn luôn cố gắng lấy vũ khí của địch giết địch.

Nay là dịp tốt cho quân du kích, cũng như cho Vệ quốc quân thi đua nhau giết cho nhiều giặc, cướp cho nhiều súng để giật giải thưởng trong cuộc vận động Luyện quân lập công. Các chú phải cố gắng lên.

Một điều nữa các chú phải luôn luôn nhớ: Du kích là như cá, nhân dân là như nước.

Muốn giết địch thắng trận, thì phải có đồng bào giúp mọi mặt. Muốn được đồng bào vui lòng giúp, thì ta phải giúp đỡ đồng bào, kính trọng đồng bào. Đó là con đường thắng lợi.

Chúc các chú ra sức tranh đấu và nhiều thắng lợi.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Quân du kích,
số 2 và 3, ngày 15-4-1948.
cpv.org.vn

Trả lời điện của một nhà báo nước ngoài (3-1948)

Hỏi:

Thưa Chủ tịch,

Tôi kính trọng chúc Chủ tịch nǎm mới muôn sự tốt lành và rất cảm ơn Chủ tịch trả lời câu hỏi sau đây:

1. Kết quả nǎm đầu của cuộc kháng chiến thế nào. Và triển vọng nǎm nay sẽ thế nào? Trong nǎm nay có thể đi đến hoà bình không?

2. Theo tin Pháp, ông Bôlae có nói rằng: Ông Bảo Đại chịu nhận điều kiện quân đội Việt Nam sẽ ở dưới quyền chỉ huy của Pháp. Tin ấy có thực không?

Nếu Chủ tịch vui lòng cho biết vấn đề gì thêm thì tôi rất cảm ơn.

Trả lời:

Tôi cảm ơn ngài về lời chúc nǎm mới. Và tôi xin chúc ngài một nǎm mới tốt đẹp.

1. Trong nǎm kháng chiến vừa qua, quân đội Pháp đã mất hơn 60.000 người chết và bị thương với một số phi cơ, tàu thuỷ và võ khí. Quân đội Việt Nam mất 1/6 số đó, vì chúng tôi đánh theo lối du kích.

Kết quả quân Pháp chiếm đóng những thành phố như Huế, Hà Nội, Hải Phòng và một vài nơi khác. Nhưng 95% lãnh thổ Việt Nam vẫn ở dưới quyền Chính phủ Việt Nam.

Triển vọng nǎm nay là cuộc chiến tranh có thể gay go hơn. Song dù phải hy sinh và cực khổ mấy, Chính phủ và nhân dân Việt Nam cũng quyết kháng chiến đến cùng để tranh kỳ được thống nhất và độc lập thực sự.

Thực dân Pháp thường phao ra những tin không đích xác. Ông Bôlae muốn nói gì thì nói. Song ông Vĩnh Thuỵ là Cố vấn của Chính phủ Việt Nam. Ông ấy không thể đàm phán hoặc hành động gì trước khi Chính phủ Việt Nam đồng ý. Vả chǎng nếu quân đội và ngoại giao Việt Nam ở dưới quyền Pháp tức là Việt Nam chưa được độc lập hẳn và vẫn là thuộc địa của Pháp. Điều kiện như thế thì ngoài bọn phản quốc ra, không có một người Việt Nam chịu nhận, Cố vấn Vĩnh Thuỵ cũng vậy.

Hơn 80 nǎm dưới quyền thống trị của Pháp, nhân dân Việt Nam đã nếm đủ sỉ nhục và đau khổ. Nhân dân Việt Nam quyết không chịu làm nô lệ lần nữa.

2. Tôi chỉ thêm ý kiến này: Trong cuộc Thế giới đại chiến lần thứ hai, các nước dân chủ đã hy sinh hàng triệu người để giữ tự do dân chủ cho thế giới.

Trong Hiến chương Đại Tây Dương, các nước đã trịnh trọng tuyên bố thừa nhận các dân tộc độc lập. Hiến pháp của nước Pháp cũng tuyên bố rằng: Nước Pháp sẽ không dùng vũ lực với các dân tộc khác.

Thực dân phản động Pháp gây nên cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam tức là chúng đã phá hoại Hiến chương Đại Tây Dương. Chúng đã phá hoại Hiến pháp của nước Pháp. Nhân dân Việt Nam bất đắc dĩ phải kháng chiến để tranh thống nhất và độc lập. Thế là nhân dân Việt Nam tôn trọng Hiến chương Đại Tây Dương, theo một tôn chỉ cùng các nước dân chủ.

ở các nước Âu Mỹ cũng như ở các nước khác vẫn có những người dân chủ lên tiếng bênh vực Việt Nam. Song những tiếng đó vẫn còn thưa thớt. Tôi mong rằng những đoàn thể dân chủ ở các nước cũng như ở Pháp sẽ ủng hộ Việt Nam một cách thiết thực hơn.

Nước Mỹ và nước Anh thừa nhận Phi Luật Tân và ấn Độ, Diến Điện độc lập. Hai cường quốc đó đã cho nước Pháp một bài học chính trị rất khéo và quang minh. Nếu thực dân Pháp vẫn khư khư giữ chặt tham vọng cũ thì chúng sẽ thất bại. Chính nghĩa bao giờ cũng thắng.

Chào ngài
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Tài liệu lưu tại Lưu trữ Bộ Ngoại giao.
Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, t.5, tr. 69-71
cpv.org.vn

Thư gửi các vị thân hào, thân sĩ và đồng bào thôn Hải Lạng, xã Vĩnh Thành (3-1948)

(Nhờ UBKCHC tỉnh chuyển)

Tôi xem báo Công dân thấy rằng: Các vị thân hào, thân sĩ, và đồng bào Hải Lạng, sau khi đã tự phá nhà cửa để tản cư, còn góp nhau 2000 đồng và đem cờ xí trong đền may thành áo trấn thủ để giúp chiến sĩ mùa đông.

Cử chỉ ấy đã chứng minh rằng: Do các vị thân hào, thân sĩ kêu gọi đồng bào Hải Lạng đã tỏ rõ cái chí kiên quyết kháng chiến, và tấm lòng vì nước quên nhà.

Tôi xin thay mặt Chính phủ khen ngợi đồng bào, và thay mặt chiến sĩ cảm ơn đồng bào. Và sẽ nêu cái gương yêu nước và hy sinh của đồng bào Hải Lạng cho quốc dân đều biết.

Có nước thì sẽ có nhà, chúng ta kiên quyết phá hoại để đánh giặc. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, thống nhất và độc lập thành công, chúng ta sẽ cùng nhau xây đắp nhà cửa, những phố làng đường hoàng và đẹp đẽ hơn, xứng đáng với đời sống mới của nhân dân Việt Nam mới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, độc lập, tự do, hạnh phúc.

Chúng ta phá hoại được, chúng ta nhất định kiến thiết được.

Tôi chúc đồng bào khoẻ mạnh và cố gắng.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 878, ngày 29-3-1948.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào An Phú và Vǎn Giáo (Nghĩa Hưng) (3-1948)

Tôi được biết rằng đồng bào đã bỏ sự ǎn uống hàng nǎm, đem ruộng hậu và huê điền đấu giá được 3000 đồng giúp quỹ Mùa đông binh sĩ.

Tôi thay mặt Chính phủ khen ngợi đồng bào và thay mặt chiến sĩ cảm ơn đồng bào.

Đồng bào đã bỏ sự ǎn uống hoang phí, thế là thực hành chữ Kiệm, thực hành đời sống mới. Lại đem số tiền tiết kiệm được, giúp chiến sĩ, thế là thiết thực ủng hộ kháng chiến.

Tôi mong rằng: từ đây, đồng bào sẽ hǎng hái thi đua tham gia các công việc kháng chiến, như tǎng gia sản xuất, giúp đỡ bộ đội, phát triển bình dân học vụ, v.v..

Như thế là đồng bào giúp sức để làm cho trường kỳ kháng chiến chóng thắng lợi, thống nhất độc lập chóng thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1958, t.1, tr.248.
cpv.org.vn

Tư cách người công an cách mệnh (3-1948)

Tháng 3 nǎm 1948

Gửi đồng chí Hoàng Mai (1) ,

Bác đã nhận được thư và báo cháu gửi tặng Bác. Bác thấy có sự cố gắng, đáng hoan nghênh. Nhưng báo theo cháu nói, từ 24 đến 32 trang thì dài quá. Cần làm ngắn lại và viết những vấn đề thật thiết thực, mọi người đọc đều có thể hiểu và làm được. Như thế mới có tác dụng giúp đẩy mạnh công tác, đẩy mạnh thi đua. Trên báo, cần thường xuyên làm cho anh chị em công an nhận rõ công an của ta là công an nhân dân, vì dân mà phục vụ và dựa vào nhân dân mà làm việc.

Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng mấy chục triệu tai mắt, tay, chân. Nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong.

Trên tờ báo phải luôn luôn nhắc nhở anh em rèn luyện tư cách đạo đức. Tư cách người công an cách mệnh là:

Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.

Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.

Đối với công việc, phải tận tuỵ.

Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo.

Nói tóm lại là những đạo đức và tư cách mà người công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng. Những điều đó, chẳng những nên luôn luôn nêu trên báo mà lại nên viết thành ca dao cho mọi người công an học thuộc, nên viết thành khẩu hiệu dán tại những nơi các anh em công an thường đến (bàn giấy, nhà ǎn, phòng ngủ, v.v.).

Ngoài ra, công an thường phải kiểm soát nhân viên và công việc của mình. Mỗi công an viên đóng chỗ nào thì cần dạy cho dân quân, tự vệ nơi đó cách điều tra, xét giấy, phòng gian, v.v.. Dạy cho dân ở nơi đó giữ bí mật. Và tự mình phải luôn luôn giữ lễ phép. Tránh hách dịch, v.v..

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Tài liệu lưu tại Bộ Nội vụ.
Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, t.5, tr.75-76.
cpv.org.vn

————————

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Nhớ Bác khôn nguôi

Tôi  may mắn được gặp Bác Hồ nhiều lần, đó là những giây phút thiêng liêng, đã đi theo tôi suốt những năm tháng từ trung niên cho tới nay, khi đã qua cái tuổi “xưa nay hiếm”. Bác có tấm lòng nhân từ thân ái với cả những người làm bảo vệ và phục vụ như chúng tôi. Bác lại dành tình cảm rất đặc biệt, vừa thân thương, vừa ấm áp, lại rất thiêng liêng cho chúng tôi – những người lính cận vệ.

nho Bac khon nguoiBác Hồ đứng giữa hai đồng chí Võ Nguyên Giáp và Trần Văn Trà tại Việt Bắc cùng vớiTiểu đội võ trang bảo vệ phái đoàn Nam Bộ

Xuất thân từ một gia đình rất nghèo ở xã Thành Triệu, huyện Sóc Sải (nay thuộc huyện Châu Thành), tỉnh Bến Tre, tuổi thơ tôi đã trải qua những ngày tháng, cơm không đủ ăn, áo không có để mặc, ngủ chỉ có một chiếc  nóp; không được học hành, cách mạng đã đổi đời tôi.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, tôi tham gia Ðội Thanh niên Tiền phong. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, chúng đưa quân chiếm tỉnh lỵ Bến Tre, lấn chiếm đóng đồn tại huyện Sóc Sải, tôi bị bắt. Tên chỉ huy nói: “Mày là Việt Minh theo Hồ Chí Minh phải không?”. Tôi nghe mà không biết Hồ Chí Minh là ai. Bọn chúng tra khảo tôi rất dã man, sau đó tiếp tục hỏi: “Mày chỉ ai làm Việt Minh ở địa phương mày, tao thả, nếu mày không chỉ, sẽ bị xử bắn”. Tôi kiên quyết không nói một lời, nên bị chúng trói và bịt mắt đưa ra chợ Sóc Sải để xử bắn. Lúc đó, chợ họp rất đông. Tôi yêu cầu, trước khi bắn, cứ mở trói và không bịt mắt. Không ngờ, chúng đồng ý. Ðợi khi chúng vừa mở trói và mở bịt mắt là tôi liền phóng nhanh vào đám đông người đang họp chợ. Ðịch rượt theo, chúng bắn chỉ thiên tứ tung, may là nhờ bà con chạy tán loạn lên để che chở cho tôi chạy thoát.

Một lần, Ban Tuyên truyền lưu động Khu 8 do đồng chí Bảo Ðịnh Giang làm Giám đốc, đến biểu diễn văn nghệ tại chợ Sóc Sải, tôi đi xem, thấy có một anh thanh niên hát bài ca về Hồ Chí Minh say sưa, lúc đó, tôi mới biết Bác Hồ là vị lãnh tụ kính yêu của đất nước. Từ đó, trong tôi dấy lên niềm yêu quý và ao ước được gặp Bác… Ngày 15-3-1948, đồng chí Trần Văn Trà, Tư lệnh Khu VIII nhắc chúng tôi rèn luyện sức khỏe để sẵn sàng bảo vệ phái đoàn Nam Bộ ra chiến khu Việt Bắc, báo cáo với Trung ương và Bác Hồ về tình hình kháng chiến ở miền Nam. Tôi sung sướng như được nhận phần thưởng.

Tháng 4-1948, Ðoàn đại biểu Nam Bộ gồm 20 người, trong đó có tám đại biểu, 11 bảo vệ, một y sĩ. Ðồng chí Trần Văn Trà làm Trưởng đoàn, đồng chí Trần Bửu Kiếm làm Phó đoàn. Ðoàn rời Ðồng Tháp Mười ngày 15-4-1948, ròng rã mấy tháng trời, đến ngày 5-10-1948, mới tới chiến khu Việt Bắc.

Có thể nói, trong suốt hành trình dài hàng ngàn dặm từ miền Nam ra Việt Bắc, nguồn động viên tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi chính là ước muốn mau được gặp Bác Hồ kính yêu. Chỉ nghĩ đến giây phút đó thôi, chúng tôi đã vơi hết mệt nhọc đường trường.

Và, giây phút chờ đợi ấy đã đến. Gặp được Bác, chúng tôi chạy ùa vào Bác như những đứa con đi xa lâu ngày sà vào ôm người cha kính yêu, đầy thương nhớ, trông chờ, rối rít, nghẹn ngào không nói nên lời. Chúng tôi quấn quýt quanh Bác, xúc động sờ lên bộ bà ba nâu của Bác, thổn thức nắm bàn tay ấm của Bác.

Khi ấy, tóc Bác bạc chưa nhiều. Bác bình dị từ trong cách ăn mặc đến cử chỉ, lời nói. Những cảm xúc của chúng tôi lúc ấy thật khó có thể diễn tả được. Cả tiểu đội vũ trang chúng tôi quây quần quanh Bác, Bác ân cần hỏi thăm từng người về gia cảnh, quê quán, đơn vị, những chiến công lẫn những gian khổ. Bác không chỉ quan tâm chuyện quốc gia đại sự mà còn quan tâm đến tình cảm riêng tư của chúng tôi. Rồi Bác bảo mọi người chụp ảnh với Bác để kỷ niệm.

Lần đó, Bác nói với chúng tôi: Giặc Pháp muốn bám rễ ở Nam Bộ để thôn tính nước ta. Chúng nó hoàn toàn ảo tưởng. Ðồng bào Nam Bộ đã chặn chân chúng. Bác mong các cháu phải tin tưởng mà công tác và chiến đấu cho thắng lợi độc lập. Rồi Bác ân cần nhắc nhở, đại thể: “Thời tiết ở đây thay đổi bất thường, không như thời tiết ở Nam Bộ, các cháu phải giữ gìn sức khỏe để làm nhiệm vụ và học tập những kinh nghiệm tốt nhằm phục vụ đồng bào”. Sau đó, đồng chí Trần Văn Trà phân công người đi làm nhiệm vụ, người đi học.

Khoảng tháng 2-1949, chúng tôi về Nam. Bác dặn: Nhớ báo cáo với đồng bào chiến sĩ rằng, Đoàn đã gặp Bác, Bác vẫn mạnh khỏe. Bác chuyển lời hỏi thăm sức khỏe đến toàn thể đồng bào, chiến sĩ miền Nam, động viên mọi người cố gắng chịu đựng gian khổ để đánh giặc. Bác và Trung ương luôn nhớ đến đồng bào, chiến sĩ. Sau đó, Bác bắt tay từng người một, có người cảm động ôm Bác khóc nức nở.

Tháng 6-1952, anh Ba Lê Duẩn được Bác Hồ gọi ra chiến khu Việt Bắc báo cáo tình hình miền Nam. Tôi lại theo Ðoàn công tác của anh Ba đi bộ dọc dãy Trường Sơn suốt mấy tháng ròng mới ra tới chiến khu Việt Bắc, đến ngày 20-11-1952.

Biết tin, Bác Hồ đến thăm đoàn ngay, Bác bắt tay và ôm hôn anh Ba Lê Duẩn. Tôi vô cùng xúc động khi Bác vẫn nhận ra tôi trong lần gặp trước đây, lúc đi với đoàn anh Trần Văn Trà.

Từ cuối năm 1952, cho đến đầu năm 1954, anh Ba Lê Duẩn làm việc tại Văn phòng Trung ương Ðảng ở chiến khu Việt Bắc. Hàng ngày, anh Ba làm việc với Bác Tôn và anh Trường Chinh, anh Phạm Văn Ðồng, anh Lê Văn Lương, anh Tố Hữu, anh Võ Nguyên Giáp và một số đồng chí khác. Suốt mấy tháng liền, anh Ba cũng thường xuyên vượt đèo De qua nhà Bác Hồ ở Tân Trào, làm việc.

Cuối năm 1953, anh Ba sang nhà Bác làm việc đến khuya, phải ngủ lại đêm. Khoảng một giờ đêm nghe tiếng máy bay địch, tôi giật mình thức dậy, đã thấy Bác Hồ và anh bảo vệ cầm cái chăn chiên căng ra theo hướng máy bay địch. Tôi bối rối: “Sao Bác không gọi cháu?”. Bác nói: “Ðể cháu ngủ, mai còn làm việc”. Tôi cảm động đến mức không thể nào chợp mắt được, cứ nằm thao thức chờ trời sáng.

Ðầu năm 1954, Bác Hồ gọi anh Ba sang làm việc với Bác và Bộ Chính trị, bàn bạc công việc từ sáng đến gần nửa đêm. Ðã khuya, Bác bảo anh Ba và mọi người ngủ lại, sáng về. Sáng sớm tinh mơ, mọi người vẫn còn ngủ, thì Bác đã thức dậy trước, sau đó, mọi người thức dậy cùng Bác tập thể dục.

Khi chia tay, Bác Hồ ôm hôn anh Ba, rồi các đồng chí ở Bộ Chính trị cũng ôm hôn anh Ba và chúc sức khỏe. Tôi ngạc nhiên về cử chỉ thân mật khác ngày thường này. Tôi đến thưa Bác, Bác bắt tay và dặn tôi: “Cháu nhớ giữ gìn sức khỏe để đi đến nơi về đến chốn”.

Sau này khi anh Ba ra Hà Nội làm việc lâu dài bên Bác và Bộ Chính trị, tôi nhớ khoảng một giờ chiều, vào một ngày tháng 2-1961, Bác Hồ đến nhà số 6 đường Hoàng Diệu, Hà Nội để làm việc với anh Ba Lê Duẩn. Lúc ấy anh Ba còn đang nghỉ trưa. Bác Hồ nói nhỏ với chúng tôi: “Cứ để chú ấy nghỉ thêm chút nữa, các cháu đừng gọi chú ấy dậy, Bác cháu ta ngồi đây nói chuyện”. Bác hướng về phía tôi hỏi: “Cháu lâu nay vẫn đi theo chú Duẩn à?”. Tôi hơi giật mình vì đã hơn bảy năm rồi mà Bác vẫn còn nhớ. Tôi thưa Bác: “Dạ, từ cuối năm 1952 ở Việt Bắc cho đến nay, cháu vẫn theo phục vụ anh Ba”.

Bác nói chuyện với chúng tôi một lúc thì anh Ba đi từ trên lầu xuống chào Bác. Bác nói: “Ðể chú nghỉ một lúc nữa, sao cháu nào gọi dậy?”. Anh Ba mời Bác lên lầu làm việc cho đến ba giờ chiều.

Ngày 19-5-1966, dịp sinh nhật lần thứ 76, Bác Hồ lên nghỉ tại nhà khách Hồ Tây. Bác Hồ cho gọi chủ nhiệm nhà khách lên gặp. Bác nói liền: “Cháu lên đây rồi à!” – “Thưa Bác, được sự đồng ý của anh Ba Duẩn, Văn phòng Trung ương Ðảng điều cháu lên làm chủ nhiệm nhà khách Hồ Tây ạ”. Hôm đó, Bác bảo tôi chuẩn bị bữa cơm để Bác mời thư ký, bác sĩ, bảo vệ, lái xe, phục vụ và ban chủ nhiệm nhà khách. Bác còn dặn thêm “… nhớ làm cơm ngon nhưng đừng lãng phí”.

Ðúng 11 giờ 30 phút hôm ấy mấy Bác cháu cùng dùng cơm. Trước khi ăn, Bác đi qua một lượt xem các món ăn, và dặn “mọi người nên ăn cho hết”. Hôm đó, tôi vinh dự được đại diện anh em chúc mừng sinh nhật lần thứ 76 của Bác. Viết bài này, tôi xin thắp nén tâm nhang để hứa với Bác suốt đời học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người.

Theo Nguyễn Văn Hoành (Tư Hoành)
Nguyên Phó Cục trưởng T.78 thuộc Văn phòng Trung ương Ðảng
Huyền Trang (st)/nhandan.com.vn

Điện vǎn gửi linh mục Lê Vǎn Yên (Bắc Ninh) (3-1948)

Thưa ngài,

Tôi rất vui lòng được UBKC Khu XII báo cáo rằng: Ngoài sự làm tròn nhiệm vụ một uỷ viên trong UBKC tỉnh Bắc Ninh, ngài đã luôn luôn ra sức củng cố tinh thần đại đoàn kết giữa đồng bào lương và giáo. Ngài luôn luôn tận tâm sǎn sóc các anh em thương binh. Ngài lại không nhận lương phụ cấp.

Như thế là ngài đã nêu cao cái gương Cần, Kiệm, Liêm, Chính cho mọi người. Ngài đã và đang giúp một cách đắc lực vào công cuộc kháng chiến cứu nước.

Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ khen ngợi ngài. Tôi chắc chắn rằng với những người đại biểu hy sinh kiên nhẫn như ngài thì trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất độc lập nhất định thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, chi nhánh
số 6, số 907, ngày 22-4-1948.
cpv.org.vn

6 điều không nên và 6 điều nên làm (5-4-1948)

Nước lấy dân làm gốc.

Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân, vậy tất cả anh chị em các bộ đội, cơ quan Chính phủ và các đoàn thể, trong khi tiếp xúc hoặc sống chung với nhân dân, ai ai cũng phải nhớ và thực hành 12 điều sau đây:

6 điều không nên:

1. Không nên làm điều gì có thể thiệt đến nương vườn, hoa màu, hoặc làm bẩn, làm hư nhà cửa, đồ đạc của dân.
2. Không nên nǎn nỉ quá hoặc mượn cho bằng được những đồ vật người ta không muốn bán hoặc cho mượn.
3. Không nên đưa gà còn sống vào nhà đồng bào miền ngược.
4. Không bao giờ sai lời hứa.
5. Không nên xúc phạm đến tín ngưỡng phong tục của dân (như nằm trước bàn thờ, giơ chân lên bếp, đánh đàn trong nhà, v.v.).
6. Không nên làm hoặc nói gì có thể làm cho dân hiểu lầm rằng mình xem khinh họ.

6 điều nên làm:

1. Giúp công việc thực tế hàng ngày cho đồng bào (như việc gặt hái, lấy củi, nước, vá may, v.v.).
2. Tuỳ khả nǎng mà mua giùm những đồ cần dùng cho những người ở xa chợ búa (như dao, muối, kim, chỉ, bút, giấy, v.v.).
3. Nhân những lúc rảnh, kể cho đồng bào nghe những chuyện vui ngắn, giản dị có ích lợi cho tinh thần kháng chiến mà không lộ bí mật.
4. Dạy dân chữ quốc ngữ và những điều vệ sinh thường thức.
5. Nghiên cứu cho hiểu rõ phong tục mọi nơi, trước là để gây cảm tình và sau để dần dần giải thích cho dân bớt mê tín.
6. Làm cho dân nhận thấy mình là người đứng đắn, chǎm công việc, trọng kỷ luật.

Bài thơ cổ động
Mười hai điều trên,
Ai làm chả được.
Hễ người yêu nước,
Nhất quyết không quên.
Tập thành thói quen,
Muôn người như một.
Quân tốt dân tốt,
Muôn sự đều nên.
Gốc có vững cây mới bền,
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân.

Ngày 5 tháng 4 nǎm 1948

Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, t.5, tr.77-79.
cpv.org.vn

Thư gửi Hội nghị Tổng bộ Việt Minh (20-4-1948)

Kính gửi Tổng bộ Việt Minh,

Hôm nay, Tổng bộ khai Hội nghị tiếc tôi không đến được, tôi xin gửi lời kính chúc các đại biểu mạnh khoẻ và Hội nghị thành công.

Sau đây tôi xin nhắc lại một ít kinh nghiệm để các đại biểu rõ.

Việt Minh sở dĩ được một ít thành công là nhờ có chính sách đúng:

a) Từ lúc đầu chính sách đối nội của Việt Minh là đoàn kết toàn dân, tranh độc lập cho Tổ quốc.

Để đi đến mục đích đó, Việt Minh quyết định đánh cả Nhật, cả Pháp.

Trong lúc chỉ mới có một nhóm đồng chí và hai bàn tay trắng, trong lúc Nhật, Pháp liên hiệp để áp bức phong trào ái quốc, quyết định như thế có người cho là điên rồ. Nhưng kết quả đã tỏ rằng chính sách Việt Minh là đúng.

b) Đối ngoại, chính sách Việt Minh là đi với phe dân chủ.

Trong lúc phát xít Đức, ý, Nhật đang ngang trời dọc đất, đánh đâu thắng đó, trong lúc các nước dân chủ đang lâm vào những bước thất bại đau đớn, định chính sách như thế cũng có người cho là điên rồ. Nhưng Việt Minh lúc bấy giờ đã đoán trước rằng Đồng minh dân chủ nhất định sẽ thắng lợi. Kết quả cũng chứng tỏ rằng chính sách của Việt Minh là đúng.

c) Trong lúc Nhật và Pháp đang hợp tác chặt chẽ, Việt Minh đoán trước rằng chúng sẽ phản nhau, mà Nhật sẽ phản Pháp trước. Do sự đoán định đó, Việt Minh đã chuẩn bị kế hoạch để lợi dụng cơ hội đó. Kết quả cũng chứng tỏ rằng chính sách Việt Minh là đúng.

d) Việt Minh từ đầu đã chắc chắn tranh được độc lập cho Tổ quốc, cho nên định kế hoạch lập khu giải phóng chẳng những để làm cǎn cứ địa mà lại để huấn luyện cán bộ quân sự và hành chính sau này. Kết quả cũng chứng tỏ rằng chính sách Việt Minh là đúng.

e) Đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công, cướp được chính quyền, Việt Minh định tổ chức một Chính phủ rộng rãi, gồm tất cả các nhân tài trong nước để gánh vác việc quốc gia. Lúc đó có người nghĩ rằng các nhân sĩ có danh vọng chưa chắc vui lòng hợp tác với Việt Minh. Song vì Việt Minh đặt quyền lợi Tổ quốc và dân tộc lên trên hết, và lấy lòng chí công vô tư mà làm việc, cho nên các bậc có tài đức danh vọng đều vui lòng hợp tác trong Chính phủ.

g) Đến thời kỳ cần phải phát triển sự đoàn kết toàn dân hơn nữa, Việt Minh đã kịp đề ra và giúp đỡ sự tổ chức Liên Việt phát triển rất nhanh chóng và rộng rãi, và do đó Việt Minh vẫn phát triển và củng cố.

h) Chính sách Việt Minh là cốt giữ hoà bình, song đến ngày kháng chiến, Việt Minh ra sức ủng hộ chính sách trường kỳ kháng chiến của Chính phủ. Trong cuộc kháng chiến này, Việt Minh đoán chắc rằng sẽ thắng lợi và nhất định sẽ thắng lợi: “Đã tin lần trước, ắt nhằm lời sau”.

Nói tóm lại, từ ngày tổ chức đến ngày nay, kinh nghiệm đã tỏ rằng chính sách Việt Minh đều đúng, đó là những điều cần phát triển và nêu cao.

Tuy vậy Việt Minh có một khuyết điểm là: phát triển chóng quá, thành thử không kịp huấn luyện cán bộ cho khắp, vì vậy mà nhiều nơi cán bộ làm sai chính sách chung, thậm chí một đôi phần tử trở nên hủ hoá.

Ngày nay, Việt Minh một mặt cần phải chú ý đến sự huấn luyện cán bộ từ cấp xã trở lên. Một mặt thì các cán bộ cần phải tự phê bình kiểm điểm cho xứng đáng với nhiệm vụ nặng nề mà vẻ vang của mình. Và hội viên Việt Minh thì cần phải trở nên những người xung phong trong mọi công việc kháng chiến kiến quốc.

Tôi mong Hội nghị đặt những kế hoạch thiết thực để phát triển và củng cố Việt Minh trong dịp Thi đua ái quốc.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 20 tháng 4 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, chi nhánh
số 6, số 942, ngày 25-5-1948.
cpv.org.vn

Điện gửi gia đình cố Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng (21-4-1948)

Gửi gia đình Huỳnh Bộ trưởng,

Nhân ngày giỗ đầu cố Bộ trưởng, thay mặt Chính phủ, tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn Cụ và xin gửi gia đình Cụ lời chào thân ái và quyết thắng.

Ngày 21 tháng 4 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 930,
ngày 10-5-1948.
cpv.org.vn

Thư gửi Hội nghị dân quân toàn quốc (4-1948) (25)

Các vị đại biểu,

Nhân dịp này, tôi gửi lời thân ái chúc các đại biểu mạnh khoẻ, và nhờ các đại biểu chuyển lời hỏi thǎm toàn thể dân quân du kích. Sau đây là vài ý kiến của tôi đối với dân quân du kích.

Nói chung, thì dân quân du kích đã có công khá to trong cuộc kháng chiến này. Nhiều nơi, hoặc là đã phối hợp chặt chẽ với Vệ quốc quân, hoặc là tự mình đánh giặc. Công việc trừ gian, đánh thổ phỉ, diệt hội tề, phá giao thông, học chữ quốc ngữ, tǎng gia sản xuất, dân quân du kích đều hǎng hái cố gắng, và đã thu được những kết quả khá.

Dân quân du kích có những làng oanh liệt như làng Đình Bảng và một số làng khác. Có những chiến sĩ xuất sắc như Phạm Vǎn Trác, Lê Bình, Nguyễn Vǎn Y, Đỗ Vǎn Thìn, Đặng Vǎn Giêng, Phạm Vǎn Man và nhiều người khác. Chúng ta cũng phải khen ngợi những đội phụ lão du kích và phụ nữ du kích đã dũng cảm xung phong giết giặc.

Đó là những ưu điểm mà chúng ta cần phải phát triển thêm.

Nhưng dân quân du kích cũng còn những khuyết điểm cần phải sửa chữa ngay. Nhiều nơi chưa hiểu rõ ràng, chưa hiểu triệt để ý nghĩa du kích, vì vậy mà có khuynh hướng sai lầm, là ham đánh trận to, ham đánh những cứ điểm kiên cố của địch. Chưa thiết thực thi hành sự tự cấp, tự túc, xem thường việc tǎng gia sản xuất.

Chưa phối hợp thật chặt chẽ với Vệ quốc quân.

Chưa biết tự động tìm địch mà đánh.

Về mặt tổ chức và huấn luyện, thì ham hình thức, ít thiết thực.

Chúng ta phải kiên quyết và mau chóng sửa chữa những khuyết điểm ấy. Chúng ta phải:

1. Thiết thực tổ chức và thiết thực huấn luyện dân quân du kích từng làng. Lấy dân quân du kích làng làm nền tảng; đồng thời phải kiện toàn các đội du kích thoát ly.

2. Làm cho mỗi đội viên hiểu rõ và tin tưởng vào lực lượng của ta, tin tưởng vào vũ khí thô sơ của ta.

3. Phối hợp thật chặt chẽ với Vệ quốc quân.

4. Làm cho mỗi đội viên hiểu rõ cái nhiệm vụ vẻ vang của họ.

5. Làm cho họ hiểu rõ chiến thuật du kích là: phải luôn luôn giữ quyền chủ động, phải tìm địch mà đánh, phải luôn luôn khuấy rối phá hoại địch, phải cộng những thắng lợi nhỏ thành thắng lợi to.

6. Phải thực hành tự cấp tự túc bằng cách thiết thực, bằng tǎng gia sản xuất.

7. Phải thực hành những điều đó bằng cách thi đua. Làng này thi đua với làng khác, huyện, tỉnh, khu này thi đua với huyện, tỉnh, khu khác.

Tôi hứa rằng Chính phủ sẽ sẵn sàng khen thưởng những người và những đội xuất sắc nhất trong cuộc thi đua đó.

Với kế hoạch rõ ràng và thiết thực của Hội nghị, với lòng hǎng hái của toàn thể dân quân du kích, với sự giúp đỡ của đồng bào, tôi chắc rằng dân quân du kích sẽ làm tròn nhiệm vụ vẻ vang là: giết nhiều giặc, cướp nhiều súng, để giúp cho trường kỳ kháng chiến mau thắng lợi, thống nhất và độc lập mau thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 4 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Quân du kích,
số 2 và 3, ngày 15-4-1948.
cpv.org.vn

————————————-

(25) Hội nghị dân quân toàn quốc : Được tiến hành đầu tháng 4-1948, theo chủ trương của Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương, để đánh giá những mặt mạnh và mặt yếu của phong trào du kích chiến tranh.

Hội nghị biểu dương những thành tích của dân quân, du kích toàn quốc trong các công tác đánh giặc, trừ gian, tiễu phỉ, phá tề, phá giao thông địch, tǎng gia sản xuất, tự cấp tự túc và học tập bổ túc vǎn hoá; biểu dương những đơn vị và đội viên du kích có nhiều thành tích xuất sắc.

Hội nghị cũng chỉ rõ những thiếu sót của dân quân du kích là chưa phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, chưa chủ động linh hoạt trong tác chiến mà còn nặng về hình thức trong tổ chức và huấn luyện. Tr.416.

Đoàn học sinh con gia đình Người có công tỉnh Quảng Nam báo công dâng Bác

anh bao cong Quang Nam 1
Đoàn học sinh con gia đình Người có công
tỉnh Quảng Nam báo công dâng Bác

Kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2012), ngày 03/7/2012 Đoàn học sinh gồm 65 em vượt khó học giỏi, là con các gia đình Người có công của tỉnh Quảng Nam tụ hội về trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh để báo công lên Người những thành tích rất đáng tự hào mà các em đã cố gắng phấn đấu  học tập và rèn luyện trong những năm qua.

anh bao cong Quang Nam 2
 Đại diện của  Đoàn  phát biểu cảm nghĩ và lời hứa với Bác

65 em vinh dự được về Thủ đô báo công dâng Bác dịp này là 65 bông hoa tươi thắm trong vườn hoa học tập của tỉnh Quảng Nam: Mặc dù trong cuộc sống mỗi em đều có hoàn cảnh khác nhau. Có em mồ côi cha mẹ, có em cha mẹ ốm đau vì nhiễm chất độc da cam… cuộc sống gia đình vô cùng vất vả, nhưng đều chung quyết tâm “Ngày nay học tập – ngày mai giúp đời” các em  đã vượt lên mọi khó khăn để trở thành những học sinh nhiều năm liền đạt danh hiệu học sinh giỏi xứng đáng là con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ. Trong đó tiêu biểu như:

Em Nguyễn Văn Trường – học sinh lớp 7, Trường THCS Nguyễn Du, thành phố Tam Kỳ. Cha bị tàn tật do chiến tranh, mẹ là thương binh 1/4 phải nằm một chỗ, nhưng vẫn cố gắng vượt qua khó khăn 7 năm liền đạt học sinh giỏi và đạt giải Nhì môn Toán cấp thành phố;

Em Bùi Lê Vân Anh – học sinh lớp 7, Trường THCS Lý Thường Kiệt, huyện Đại Lộc. Cha là thương binh 1/4, gia đình khó khăn nhưng em liên tục đạt học sinh giỏi, đạt giải Nhất môn tiếng Anh, giải Nhì về kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cấp huyện;

Em Trần Lê Viết Ái – học sinh lớp 9 Trường THCS Nguyễn Chí Thanh, huyện Duy Xuyên, nhà nghèo cha bị bệnh nặng nhưng em luôn có gắng và đạt danh hiệu học sinh giỏi nhiều năm liền, đạt Huy chương Vàng môn Bóng ném tại Hội khỏe Phù Đổng, giải Khuyến khích môn Văn cấp tỉnh;

Em Araat Thị Thiệt – dân tộc Cơ Tu, học sinh lớp 7, Trường THCS bán trú huyện Đông Giang; em Hiên Việt dân tộc Ta Riềng, Trường Dân tộc nội trú huyện Nam Giang; em Nguyễn Thị Vườn dân tộc Ca Dong huyện Nam Trà My… tất cả các em đã vượt qua khó khăn trèo đèo, lội suối để đến với cái chữ và đã trở thành con ngoan, trò giỏi;

Tại huyện Tây Giang còn có các em Bling Thị Nếp dân tộc Cơ Tu là học sinh lớp 8, Trường THCS  bán trú cụm xã Nguyễn Bá Ngọc huyện Tây Giang. Em là Liên đội trưởng đạt danh hiệu cháu ngoan Bác Hồ cấp tỉnh, cùng với bạn Hôih Thị Ngao đi vận động các bạn có hoàn cảnh khó khăn bỏ học quay trở lại lớp học, tìm về với cái chữ.

Thực hiện lời Bác dạy “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ” trong năm học 2011-2012, các em đã có nhiều hoạt động bổ ích như: Phong trào “Áo lụa tặng bà”, “Nói lời hay, làm việc tốt”, “Đôi bạn vượt khó” và đặc biệt là phong trào thiếu niên, nhi đồng học tập và làm theo gương Bác đã thực sự thu hút các bạn nhỏ tham gia sưu tầm về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí minh, từ đó đã giúp cho các cháu hiểu hơn về cuộc đời, sự nghiệp của Người.

Trong không khí thiêng liêng trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, các em đã thành kính hứa với Người sẽ tiếp tục cố gắng: “Phấn đấu trong học tập, rèn luyện, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn để xứng đáng là con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ ”.

Duy Chính
bqllang.gov.vn