Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Một vài ý kiến về các Uỷ ban kiến thiết, động viên dân chúng, tǎng gia sản xuất, Uỷ ban tản cư

1. Các Uỷ ban đó tuy phâncông để có cơ quan chuyên môn phụ trách, nhưng cần phải hợp tác chặt chẽ, vì có quan hệ rất mật thiết với nhau. Ban này không thể làm việc rời ban kia. Và những nhân viên lưu động cần phải làm kiêm 3 việc. Thí dụ: Khi đi ra ngoài, người phụ trách động viên dân chúng, phải xem xét việc tản cư và khuyến khích dân giúp đỡ đồng bào tản cư, đồng thời phải khuyên dân tǎng gia sản xuất và bày vẽ cách tǎng gia sản xuất. Nhân viên những Uỷ ban kia cũng thế.

2. Vì vậy, kế hoạch của các Uỷ ban cần phải ǎn khớp với nhau. Những nhân viên đi các nơi phải có đủ 3 kế hoạch để giải thích cho dân.

3. Uỷ ban kiến thiết, thì ngoài sự giúp ý kiến cho 3 ban kia, cần phải có kế hoạch ngoại giao và kinh tế. Nếu cần phải thoái, thì kiến thiết thế nào ? Kháng chiến thắng lợi, thì kiến thiết thế nào ?

ĐỘNG VIÊN DÂN CHÚNG

Cách làm:

a) Phải có người đi khắp các nơi khai hội, giải thích cho dân.

Nên dùng những thanh niên hǎng hái, giải thích cho họ hiểu, rồi phái họ đi làm.

b) Truyền đơn, rất phổ thông, rất giản đơn, giải thích từng việc.

c) Khẩu hiệu thiết thực, dán khắp các làng, viết khắp các tường.

d) Báo, hoạ báo, bích báo.

e) Ca kịch – Viết những bài ca vắn, dễ hiểu, dễ thuộc lòng, phát cho dân. Diễn những bản kịch giản đơn, cảm động.

f) Khai hội dân chúng – Sức 1 các làng, các đoàn thể, phải mấy ngày khai hội dân chúng một lần. Cán bộ giải thích và kiểm điểm các việc. Dân chúng phát biểu ý kiến. Hô khẩu hiệu. Toàn dân đọc lời thề (Uỷ ban phải in lời thề vắn tắt, thiết thực, cảm động, phát cho các làng).

g) Các uỷ viên phải thường đi tuần thị 2 .

h) Các tỉnh, huyện, làng đều có một Uỷ ban động viên dân chúng.

Từ huyện đến làng, Ban này có thể kiêm cả việc tản cư và tǎng gia sản xuất.

Nội dung:

– Về quân sự:

1. Vì sao phải kháng chiến. Vì sao kháng chiến phải trường kỳ, phải toàn diện, phải toàn dân. Thế nào là toàn diện, thế nào là toàn dân.

2. Mỗi một người (người già, phụ nữ, thanh niên, nhi đồng) phải giúp kháng chiến cách thế nào.

3. Giữ bí mật thế nào. Đề phòng Việt gian thế nào. Đề phòng tàu bay và nhảy dù thế nào.

4. Vì sao phải ra sức phá hoại những đường sá gần chiến khu.

5. Vì sao quân ta có khi tiến, có khi thoái. Khi bộ đội tiến, dân phải giúp thế nào. Khi thoái, dân phải giúp thế nào.

6. Vì sao thấy thắng trận không nên kiêu ngạo, thấy bại trận không nên hoảng.

7. Dân có thể tổ chức du kích thế nào.

8. Vì sao kháng chiến nhất định thắng lợi.

– Về xã hội:

a) Vì sao phải đoàn kết chặt chẽ.

b) Vì sao phải giúp đỡ đồng bào tản cư. Giàu thì giúp thế nào, nghèo thì giúp thế nào.

c) Vì sao không nên tǎng giá các vật liệu.

d) Vì sao phải giữ trật tự cho yên ổn, giữ cách thế nào. Canh gác nên thế nào.

– Về kinh tế:

1. Vì sao phải tǎng gia sản xuất.

2. Tǎng gia cách thế nào.

Nên có một đội tuyên truyền, trực tiếp dưới sự chỉ huy của Ban.

ỦY BAN TẢN CƯ

1. Kỳ, tỉnh, huyện, làng, đều phải có một Uỷ ban tản cư.

– Hệ thống liên lạc dọc phải rất mật thiết.

– Trong Uỷ ban phải có một vị danh vọng cao, làm chủ nhiệm, dễ kêu gọi dân.

– Trong Ban thường vụ cần có những người khéo tổ chức, nhiều sáng kiến, giỏi chạy vạy. Nên mời các thân hào, những người có danh vọng, đại biểu các giới làm uỷ viên hoặc cố vấn.

2. Công việc:

a) Điều tra – phải hỏi các nơi lập tức báo cáo rõ ràng số người có thể ở lại nơi họ đang ở bây giờ, và số người cần phải đem đi nơi khác, để cho Uỷ ban kỳ phân phát đi các tỉnh.

b) Phải có kế hoạch rõ ràng, chia đến tỉnh nào mấy người tản cư:

– Kế hoạch giúp đỡ họ lúc đi đường (trạm ǎn, trạm ngủ, giúp chở hành lý).

– Kế hoạch rõ cho các tỉnh phân phát huyện nào, làng nào, nhà ai nhận thu dung mấy người. Người tản cư đến tỉnh thì có chỗ đi ngay. Không thế thì người sẽ ứ lại, tỉnh và huyện không thể nuôi được.

c) Những nơi có đồn điền, Bộ Canh nông phải chuẩn bị cày cuốc và lương thực, sẵn sàng rồi thì thông tri cho Ban kỳ biết, nơi nào thu dung được mấy người để cho Ban kỳ phân phối.

d) Công nghệ – Phải khuyên và giúp những nhà tư sản tản cư, xuất vốn lập những thủ công nghệ. Họ đã có lợi, hơn là để tiền nằm không, lại giúp thu dung được một số đồng bào tản cư.

e) Khuyến khích những người tản cư, mỗi một người phải có một công việc tại nơi mình tản cư. Không để ai ngồi ǎn không. Khẩu hiệu là: Tản cư cũng tham gia kháng chiến!

Số người mỗi tỉnh có thể thu dung

Những tỉnh có thể dung 2 vạn người:

Hà Đông

Vĩnh Yên

Bắc Ninh

Bắc Giang

Hải Dương

Hưng Yên

Hà Nam

Có thể dung 1 vạn người Có thể dung 5 ngàn:

Nam Định Phúc Yên

Sơn Tây Tuyên Quang

Cao Bằng Cao Bằng

Thái Nguyên Hoà Bình

Thái Bình Ninh Bình

(Cộng cả hơn 210.000 người)

Về việc tản cư, Chính phủ cần phải giúp một số tiền.

TǍNG GIA SẢN XUẤT

1. Không để 1 tấc đất hoang.

– Tổ chức những đội khẩn hoang. Những đội giúp nhau cày gặt.

– Tổ chức nghĩa thương.

2. Tổ chức những hợp tác xã thủ công nghệ.

(Việc này, phải lợi dụng những kinh nghiệm nǎm ngoái).

Khẩu hiệu:

Tiền phương ra sức chiến đấu,

Hậu phương tǎng gia sản xuất,

Tiền hậu phương đều kháng chiến.

Thì kháng chiến quyết thắng lợi!

Viết ngày 27-12-1946.
Tài liệu lưu tại Trung tâm
lưu trữ Quốc gia I.
cpv.org.vn

Thư gửi anh em Hoa kiều

Cùng anh em Hoa kiều,

Hơn 80 nǎm Việt Nam mất nước, bà con Hoa kiều bị Pháp áp bức, chẳng thiếu cách gì. Nào giấy nhập khẩu, nào thuế kiều cư, kể sao cho xiết.

Nay, thực dân Pháp gây cuộc chiến tranh, Hoa kiều bị Pháp giết người, đốt phố, lại sai thổ phỉ cướp giết lung tung.

Thế mà chúng lại khoe miệng “Bảo hộ Hoa kiều”!

Dân tộc Trung Hoa 450 triệu, Hoa kiều ở đây 50 vạn người, mà lại phải chịu bọn Pháp “bảo hộ”, thật là một việc kỳ sỉ đại nhục.

Dân tộc Việt Nam, đồng vǎn đồng chủng. Tình nghĩa thân thiết, hơn mấy ngàn nǎm. Anh em Hoa kiều, làm ǎn ở đây với dân Việt Nam, cũng như ruột thịt.

Vì vậy, tuy dân tộc Việt Nam đang phải kháng chiến, tình cảnh kiều bào khiến tôi động lòng.

Chính phủ Việt Nam đã hạ nghiêm lệnh, đối với Hoa kiều, tính mệnh, tài sản đều được bảo vệ.

Hoa kiều ở Huế và ở các nơi tổ chức cứu hội, giúp quân Việt Nam. Tình thân thiện đó tôi rất cám ơn và rất cảm động.

Trong cơn hoạn nạn, Hoa Việt, anh em cảm tình càng nồng, đoàn kết càng chặt.

Mai sau kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, hai dân tộc ta cùng hưởng hạnh phúc.

Việt Hoa thân thiện muôn nǎm!

Ngày 28 tháng 12 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, tr.16.
cpv.org.vn

Đoàn đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm báo công dâng Bác

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống của lực lượng Cảnh sát nhân dân và Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm lần thứ XIII, sáng ngày 19 tháng 6 năm 2012, đoàn đại biểu gồm 180 đoàn viên thanh niên tiêu biểu đại diện cho hơn 1300 đoàn viên thanh niên của Tổng cục đã đến trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh báo công dâng Người kết quả đã đạt được trong những năm qua.

Tong cuc canh sat phong chong toi pham 2012

Đoàn đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của các cấp uỷ Đảng và tổ chức Đoàn cấp trên, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống luôn được các tổ chức Đoàn trong Tổng cục quan tâm với nhiều nội dung phong phú, thiết thực gắn với hoạt động thực tiễn của đơn vị nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, lòng trung thành tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, tinh thần nhiệt huyết, dũng cảm trong thực hiện nhiệm vụ cho đoàn viên thanh niên.

Phát huy tốt vai trò xung kích của đoàn viên thanh niên, Tổng cục đã triển khai nhiều đợt thi đua cao điểm nhằm tấn công, trấn áp tội phạm bảo vệ trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tuyệt đối an toàn các sự kiện lớn của đất nước nhân dịp Tết Nguyên đán, Đại hội Đảng, các kỳ họp Quốc hội… Triển khai thực hiện có hiệu quả các phong trào “Thanh niên CAND học tập 6 điều Bác dạy –  Xung kích, sáng tạo, tình nguyện, lập công vì an ninh Tổ quốc”, “ Tuổi trẻ Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm văn hoá, kỷ cương, trách nhiệm”, tích cực hưởng ứng cuộc vận động “CAND chấp hành nghiêm điều lệnh: Xây dựng nếp sống văn hoá , vì nhân dân phục vụ”. Ban Chấp hành Đoàn đã trực tiếp dự thảo và tham mưu, đề xuất cho lãnh đạo Bộ Công an và Trung ương Đoàn tiến hành ký kết Nghị quyết liên tịch về “Phối hợp hành động phòng chống ma tuý trong thanh, thiếu niên giai đoạn 2010-2015”, qua đó bước đầu đã góp phần vào việc giáo dục, tuyên truyền hơn nữa tác hại của tệ nạn ma tuý, có tác dụng ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn ma túy trong thanh thiếu niên.

Trong nhiệm kỳ qua, Đoàn Thanh niên Tổng cục đã tổ chức nhiều các hoạt động chung sức cùng cộng đồng đền ơn, đáp nghĩa tiêu biểu như: Chiến dịch tình nguyện hè năm 2008 tại Quảng Trị và hoạt động tình nghĩa tại nước CHDCND Lào; Chiến dịch tình nguyện hè năm 2009 do Đoàn Thanh niên Tổng cục chủ trì phối hợp với các đơn vị khác đã huy động được với tổng giá trị quà tặng hơn 2 tỷ đồng; chủ trì và phối hợp với Đoàn Thanh niên thuộc Bộ Tổng Tham mưu – Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia, Tập đoàn Bưu chính viễn thông, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tổ chức Hành trình chung sức bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương hè 2011 tại huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi … Thông qua các phong trào, các đồng chí đoàn viên thanh niên đã thực sự trưởng thành, chín chắn trong suy nghĩ và có trách nhiệm trong hành động để thêm yêu quê hương đất nước, son sắc niềm tin vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa, yêu ngành, mến nghề, không ngại gian khổ để cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

Kết thúc buổi lễ, đồng chí Dương Thị Thanh Huyền – Uỷ viên Trung ương Đoàn, Bí thư Đoàn Thanh niên Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm thay mặt cho toàn thể đoàn viên thanh niên Tổng cục xin hứa với Bác sẽ tiếp tục đoàn kết, không ngừng tu dưỡng, học tập, rèn luyện về mọi mặt, hăng hái thi đua lập công xuất sắc vì sự nghiệp bảo vệ Đảng, bảo vệ lãnh tụ, bảo vệ an ninh Tổ quốc và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, của Bác và của nhân dân đã giành cho thanh niên nói chung và thanh niên Tổng cục nói riêng, xứng đáng với truyền thống anh hùng mà bao thế hệ cán bộ, chiến sỹ lực lượng cảnh sát đã dày công xây dựng./.

Duy Chính
bqllang.gov.vn

Phụ lục: Những Sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký trong thời gian từ 2-9-1945 đến 31-12-1946

NǍM 1945

1- Sắc lệnh số 23, ký ngày 10-9-1945, cử ông Vĩnh Thuỵ làm Cố vấn Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

2- Sắc lệnh số 29B, ký ngày 10-9-1945, về việc lưu dụng và cho nghỉ việc một số quan chức cũ ngành toà án ở Hà Nội.

3- Sắc lệnh số 31, ký ngày 13-9-1945, quy định về thể thức tổ chức các cuộc biểu tình.

4- Sắc lệnh số 33A, ký ngày 13-9-1945, quy định về quyền hạn của Ty Liêm phóng.

5- Sắc lệnh số 33B, ký ngày 13-9-1945, về trình tự thủ tục khi bắt người của Sở Liêm phóng và Sở Cảnh sát.

6- Sắc lệnh số 33C, ký ngày 13-9-1945, về việc lập Toà án Quân sự ở Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ và quy định quyền hạn xét xử của các Toà án đó.

7- Sắc lệnh số 33D, ký ngày 19-9-1945, về việc phóng thích tội nhân bị kết án trước ngày 19-8-1945.

8- Sắc lệnh số 34, ký ngày 20-9-1945, lập một Uỷ ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (gồm 7 người).

9- Sắc lệnh số 36, ký ngày 22-9-1945, về việc bãi bỏ các nghiệp đoàn Nông sản, Lâm sản, Kỹ nghệ, Khoáng sản, Thương mại (Nội thương, Ngoại thương), Vận tải, Ngân hàng.

10- Sắc lệnh số 37, ký ngày 26-9-1945, quy định các địa phương thuộc thẩm quyền xét xử của các Toà án Quân sự theo Sắc lệnh số 33C ngày 13-9-1945.

11- Sắc lệnh số 38, ký ngày 27-9-1945, về việc bỏ thuế môn bài và giảm phụ thu ngân sách.

12- Sắc lệnh số 39, ký ngày 26-9-1945, lập một Uỷ ban dự thảo thể lệ Tổng tuyển cử (gồm 9 người).

13- Sắc lệnh số 40, ký ngày 29-9-1945, về việc lập thêm một Toà án Quân sự ở Nha Trang và quy định các địa phương thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án Quân sự này.

14- Sắc lệnh số 41, ký ngày 3-10-1945, về việc bãi bỏ các công sở và các cơ quan thuộc phủ Toàn quyền Đông Dương trước đây.

15- Sắc lệnh số 42, ký ngày 4-10-1945, quy định cách tính thuế suất tiền lãi thương mại, kỹ nghệ, canh nông, lương bổng…

16 – Sắc lệnh số 48, ký ngày 9-10-1945, quy định về việc tạm thời áp dụng đạo luật cũ đối với các công ty, các hãng kỹ nghệ, thương mại ngoại quốc ở Việt Nam.

17- Sắc lệnh số 50, ký ngày 9-10-1945, về việc cấm xuất cảng thóc, gạo, ngô, đỗ hoặc các chế phẩm thuộc về ngũ cốc.

18- Sắc lệnh số 43, ký ngày 10-10-1945, về việc thiết lập một Quỹ tự trị cho Trường Đại học Việt Nam.

19- Sắc lệnh số 44, ký ngày 10-10-1945, về việc thành lập Hội đồng cố vấn học chính.

20- Sắc lệnh số 45, ký ngày 10-10-1945, về việc thiết lập một Ban đại học Vǎn khoa tại Hà Nội.

21- Sắc lệnh số 46, ký ngày 10-10-1945, quy định thể thức tổ chức đoàn thể luật sư, những tiêu chuẩn của luật sư trong Toà thượng thẩm Hà Nội và Sài Gòn.

22- Sắc lệnh số 47, ký ngày 10-10-1945, về việc tạm thời sử dụng bộ luật cũ, trừ một số điểm thay đổi được ấn định trong sắc luật này.

23- Sắc lệnh số 49, ký ngày 12-10-1945 về việc ghi tiêu đề Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nǎm thứ nhấttrên các công vǎn, điện vǎn, công điện, trát, đơn từ, báo chí, chúc từ, v.v..

24- Sắc lệnh số 51B, ký ngày 12-10-1945 cho phép Giám đốc Ngân khố Trung ương Việt Nam trích một khoản ngân quỹ giao Bộ trưởng Bộ Cứu tế mua gạo dự trữ.

25- Sắc lệnh số 51, ký ngày 17-10-1945, quy định thể lệ Tổng tuyển cử, ấn định ngày 23-12-1945 sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử trong toàn quốc.

26- Sắc lệnh số 52, ký ngày 20-10-1945, về việc xá tội cho các tội phạm bị kết án trước ngày 19-8-1945.

27- Sắc lệnh số 53, ký ngày 20-10-1945, quy định tạm thời những người thuộc quốc tịch Việt Nam.

28- Sắc lệnh số 54, ký ngày 3-11-1945, quy định điều kiện về hưu cho công chức các ngạch.

29- Sắc lệnh số 55, ký ngày 3-11-1945, về việc tổ chức Hội đồng kỷ luật các viên chức ở các cơ quan và địa phương.

30- Sắc lệnh số 56, ký ngày 7-11-1945, uỷ nhiệm cho Bộ Quốc dân kinh tế (Nha kỹ nghệ) và Bộ Tuyên truyền kiểm soát việc sản xuất, nhập cảng và phân phối giấy, bìa trong cả nước.

31- Sắc lệnh số 57, ký ngày 10-11-1945, nghiêm cấm sản xuất, tàng trữ, tiêu thụ, mua bán rượu được chế từ ngũ cốc và mức phạt khi phạm các tội trên.

32- Sắc lệnh số 58, ký ngày 10-11-1945, về việc nghỉ gia hạn không lương cho công chức tất cả các ngạch.

33- Sắc lệnh số 59, ký ngày 15-11-1945, quy định về quyền thị thực và mức lệ phí đối với các loại khế ước.

34- Sắc lệnh số 60, ký ngày 16-11-1945, quy định về trình tự tiến hành trước Toà tại Hà Nội, Hải Phòng, Nam Bộ, Đà Nẵng.

35- Sắc lệnh số 61, ký ngày 21-11-1945, chuyển Sở Vô tuyến điện Việt Nam về Bộ Quốc phòng.

36 – Sắc lệnh số 62, ký ngày 20-11-1945, bãi bỏ Sở thương binh, chiến binh, nạn nhân chiến tranh và trẻ mồ côi thuộc địa.

37- Sắc lệnh số 63, ký ngày 22-11-1945, về tổ chức, quyền hạn, cách làm việc của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp (xã, huyện, tỉnh, kỳ).

38- Sắc lệnh số 64, ký ngày 23-11-1945, về việc thành lập và quy định quyền hạn Ban thanh tra đặc biệt và Toà án đặc biệt.

39- Sắc lệnh số 65, ký ngày 23-11-1945, quy định nhiệm vụ và quyền lợi của Đông Phương Bác Cổ học viện.

40- Sắc lệnh số 66, ký ngày 24-11-1945, về việc trưng dụng các y sĩ, dược sĩ của Chính phủ, Bộ Y tế và Quân đội.

41- Sắc lệnh số 67, ký ngày 28-11-1945, về việc thành lập và quy định nhiệm vụ của Uỷ ban tối cao tiếp tế và cứu tế.

42- Sắc lệnh số 68, ký ngày 30-11-1945, về việc trưng dụng, bồi thường bất động sản và việc trưng tập người.

43- Sắc lệnh số 69, ký ngày 1-12-1945, quy định các cơ quan thuộc Bộ Canh nông.

44- Sắc lệnh số 70, ký ngày 1-12-1945, cử Bộ trưởng Bộ Lao động Lê Vǎn Hiến làm đặc phái viên của Chính phủ ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

45- Sắc lệnh số 71 và 72, ký ngày 2-12-1945, về việc bổ sung thể lệ Tổng tuyển cử.

46- Sắc lệnh số 73, ký ngày 7-12-1945, quy định điều kiện và thể thức đối với người ngoại quốc muốn nhập quốc tịch Việt Nam.

47- Sắc lệnh số 74NV/CC, ký ngày 17-12-1945, quy định chế độ lương bổng cho các nhân viên công chức mắc bệnh lao hay phong phải nghỉ việc dài hạn.

48- Sắc lệnh số 75NV/CC, ký ngày 17-12-1945, về việc trưng tập viên chức tòng sự tại các công sở.

49- Sắc lệnh số 76, ký ngày 18-12-1945, hoãn ngày Tổng tuyển cử đến ngày 6-1-1946 và gia hạn nộp đơn ứng cử đến hết ngày 27-12-1945.

50- Sắc lệnh số 77, ký ngày 21-12-1945, về việc thành lập thành phố trực thuộc Chính phủ Trung ương, hoặc Kỳ; thị xã thuộc Kỳ hoặc tỉnh.

51- Sắc lệnh số 77B, ký ngày 24-12-1945, uỷ quyền cho Uỷ ban nhân dân Nam Bộ xét ân giảm cho tội nhân.

52- Sắc lệnh số 77C, ký ngày 28-12-1945, về việc thiết lập Toà án quân sự tại Phan Thiết.

53- Sắc lệnh số 78, ký ngày 31-12-1945, về việc lập một Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết của Chính phủ.

54- Sắc lệnh số 79, ký ngày 31-12-1945, về việc tổ chức lại Bình dân Ngân quỹ tổng cục.

55- Sắc lệnh số 80, ký ngày 31-12-1945, về việc cử người vào Ban thanh tra đặc biệt.

56- Sắc lệnh số 81, ký ngày 31-12-1945, cho phép các Bộ, các địa phương thực hiện các khoản dự chi nǎm 1946 trong khi chờ đợi ngân sách nǎm 1946 được duyệt y.

NǍM 1946

57- Sắc lệnh số 1-NV, ký ngày 8-1-1946, ân xá cho một phạm nhân người Hoa.

58- Sắc lệnh số 2-NV, ký ngày 8-1-1946, ân xá cho một phạm nhân người Hoa.

59- Sắc lệnh số 3, ký ngày 9-1-1946, về việc triệu tập Quốc hội.

60- Sắc lệnh số 4, ký ngày 14-1-1946, về việc cử người vào Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết.

61- Sắc lệnh số 5, ký ngày 15-1-1946, huỷ bỏ quyền quản lý và sử dụng đường sắt Hải Phòng – Vân Nam của Công ty hoả xa Vân Nam.

62- Sắc lệnh số 6, ký ngày 15-1-1946, định hình phạt đối với các tội trộm cắp, phá huỷ, cắt dây điện thoại và điện tín.

63- Sắc lệnh số 7, ký ngày 15-1-1946, bổ sung chức nǎng và nhiệm vụ của Toà án quân sự.

64- Sắc lệnh số 8, ký ngày 18-1-1946, về việc giải tán “Tổ chức Giuylơ Brêvin” (Fondation Jules Brévil).

65- Sắc lệnh số 9, ký ngày 18-1-1946, về việc giải tán “Hội bảo trợ phụ nữ và nhi đồng Annam” (Ligue pour la protection de la Femme et de L’ Enfant Annamites).

66- Sắc lệnh số 10, ký ngày 23-1-1946, sửa một số điều khoản của Sắc lệnh số 63 (22-11-1945) về tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp.

67- Sắc lệnh số 11, ký ngày 24-1-1946, về việc chia khu đối với những thị xã lớn.

68- Sắc lệnh số 12, ký ngày 24-1-1946, quy định quyền hạn của ông Bộ trưởng Bộ Kinh tế.

69- Sắc lệnh số 13, ký ngày 24-1-1946, quy định về cách tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán.

70- Sắc lệnh số 14, ký ngày 30-1-1946, về việc thành lập Nha Thể dục trung ương.

71- Sắc lệnh số 15, ký ngày 30-1-1946, về việc bãi bỏ thuế thổ trạch ở thôn quê kể từ ngày 1-1-1946.

72- Sắc lệnh số 16, ký ngày 30-1-1946, về việc thành lập Phòng Canh nông Bắc Bộ Việt Nam.

73- Sắc lệnh số 17, ký ngày 31-1-1946, về việc bãi bỏ Bình dân Ngân quỹ tổng cục, quy định về việc tổ chức cơ quan và phân chia tài sản của Bình dân Ngân quỹ tổng cục.

74- Sắc lệnh số 18, ký ngày 31-1-1946, về thể lệ nộp lưu chiểu vǎn hoá phẩm.

75- Sắc lệnh số 18B, ký ngày 31-1-1946, về việc phát hành đồng bạc giấy Việt Nam từ vĩ tuyến 16trở vào Nam.

76- Sắc lệnh số 19, ký ngày 5-2-1946, về việc giải tán Uỷ ban trung ương Hội Tương trợ và Cứu tế xã hội Bắc Kỳ.

77- Sắc lệnh số 20, ký ngày 6-2-1946, về việc bãi bỏ Sở kiểm soát tài chính.

78- Sắc lệnh số 21, ký ngày 14-2-1946, quy định về tổ chức của Toà án quân sự thiết lập ở Bắc, Trung và Nam Bộ.

79- Sắc lệnh số 22A, ký ngày 18-2-1946, sửa đổi điều 65 của Sắc lệnh số 63 (22-11-1945).

80- Sắc lệnh số 22B, ký ngày 18-2-1946, trao quyền tư pháp cho Uỷ ban hành chính ở những nơi chưa có toà án riêng.

81- Sắc lệnh số 22C, ký ngày 18-2-1946, ấn định những ngày Tết, ngày kỷ niệm lịch sử và ngày lễ tôn giáo.

82- Sắc lệnh số 23, ký ngày 21-2-1946, về việc thành lập “Việt Nam Công an vụ”.

83- Sắc lệnh số 24NV/CC, ký ngày 21-2-1946, về việc cấp một tháng lương cho các công chức tình nguyện dự vào công việc tǎng gia sản xuất ở Cao Bằng.

84- Sắc lệnh số 25, ký ngày 25-2-1946, sửa đổi quy định quốc tịch Việt Nam.

85- Sắc lệnh số 26, ký ngày 25-2-1946, quy định những hành vi phá hoại tài sản công bị coi là trọng tội, sẽ bị truy tố và phạt tù hoặc xử tử.

86- Sắc lệnh số 27, ký ngày 28-2-1946, quy định những hành vi bắt cóc, tống tiền, ám sát sẽ bị truy tố và phạt tù hoặc xử tử.

87- Sắc lệnh số 28, ký ngày 15-3-1946, cử ông Tạ Quang Bửu làm Thứ trưởng Quốc phòng.

88- Sắc lệnh số 29, ký ngày 19-3-1946, trích một khoản ở ngân sách toàn quốc để Bộ Ngoại giao chi tiêu về những công việc đặc biệt.

89- Sắc lệnh số 30, ký ngày 22-3-1946, bổ nhiệm Giám đốc Việt Nam Công an vụ.

90- Sắc lệnh số 31NV/CC, ký ngày 22-3-1946, cử ông Phạm Khắc Hoè giữ chức Đổng lý Vǎn phòng Bộ Nội vụ.

91- Sắc lệnh số 32, ký ngày 22-3-1946, bổ sung về việc phân chia tài sản của Bình dân Ngân quỹ tổng cục.

92- Sắc lệnh số 33/QĐ, ký ngày 22-3-1946, quy định cấp bậc, quân phục, phù hiệu, cấp hiệu cho Lục quân toàn quốc.

93- Sắc lệnh số 34, ký ngày 25-3-1946, quy định tổ chức của Bộ Quốc phòng.

94- Sắc lệnh số 35, ký ngày 25-3-1946, cử người giữ các chức vụ trong Bộ Quốc phòng.

95- Sắc lệnh số 36, ký ngày 27-3-1946, quy định tổ chức bộ máy hành chính của Bộ Xã hội.

96- Sắc lệnh số 37, ký ngày 27-3-1946, cử người giữ các chức vụ Giám đốc Nha Y tế trung ương, Giám đốc Nha Cứu tế trung ương, Giám đốc Nha Lao động trung ương, Chánh Vǎn phòng Bộ Xã hội.

97- Sắc lệnh số 38, ký ngày 27-3-1946, về việc thiết lập Nha Thanh niên và Thể dục trung ương.

98- Sắc lệnh số 39, ký ngày 27-3-1946, bổ nhiệm Chánh Vǎn phòng Bộ Quốc phòng.

99- Sắc lệnh số 40, ký ngày 29-3-1946, về những quy định, luật lệ tạm thời cho phép bắt giam những công dân có hành vi phạm pháp.

100- Sắc lệnh số 41, ký ngày 29-3-1946, về những quy định tạm thời cho chế độ báo chí và xuất bản.

101- Sắc lệnh số 42, ký ngày 3-4-1946, quy định quyền bất khả xâm phạm đối với những người giữ chức Bộ trưởng hay Thứ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính, đại biểu Quốc hội.

102- Sắc lệnh số 43, ký ngày 3-4-1946, về việc lập “Hội đồng phân định thẩm quyền giữa Toà án quân sự, Toà án đặc biệt và Toà án thường”.

103- Sắc lệnh số 44, ký ngày 3-4-1946, cử người vào Ban Trung ương vận động đời sống mới.

104- Sắc lệnh số 45, ký ngày 5-4-1946, về việc tổ chức các cuộc lạc quyên.

105- Sắc lệnh số 46, ký ngày 5-4-1946, về việc lưu hành các loại giấy bạc.

106- Sắc lệnh số 47, ký ngày 7-4-1946, về việc Bộ Ngoại giao chia ra làm Nội bộ và Ngoại bộ.

107- Sắc lệnh số 48, ký ngày 10-4-1946, về việc thiết lập Đảm phụ quốc phòng trong cả nước.

108- Sắc lệnh số 50, ký ngày 13-4-1946, về tổ chức các cơ quan Bộ và thuộc Bộ của Bộ Giao thông Công chính.

109- Sắc lệnh số 51-SL, ký ngày 17-4-1946, về thẩm quyền của các toà án Việt Nam đối với mọi công dân.

110- Sắc lệnh số 52, ký ngày 22-4-1946, quy định thể thức xin lập hội (hoặc đoàn thể) của công dân Việt Nam.

111- Sắc lệnh số 53-QP, ký ngày 24-4-1946, bổ nhiệm người giữ chức vụ Chính trị Cục trưởng Bộ Quốc phòng.

112- Sắc lệnh số 54, ký ngày 24-4-1946, về việc in các tem bưu điện có chân dung Bảo Đại và Nam Phương.

113- Sắc lệnh số 56, ký ngày 29-4-1946, quy định quyền được nghỉ việc ngày Quốc tế Lao động 1-5 và được hưởng lương như ngày làm việc.

114- Sắc lệnh 56B, ký ngày 2-5-1946, tạm hoãn thời hạn những việc đǎng ký quyền cầm cố ở các phòng trước bạ và điền thổ trên toàn cõi Việt Nam.

115- Sắc lệnh số 57, ký ngày 3-5-1946, quy định mỗi Bộ của Chính phủ Việt Nam, Bộ trưởng và Thứ trưởng có một Vǎn phòng, có các Nha và có thể có một cơ quan thanh tra và một Ban cố vấn.

116- Sắc lệnh số 58, ký ngày 3-5-1946, quy định về tổ chức và chức nǎng các cơ quan thuộc Bộ Nội vụ.

117- Sắc lệnh số 59, ký ngày 3-5-1946 cử người vào Hội đồng phúc thẩm đặt tại Bộ Nội vụ.

118- Sắc lệnh số 60, ký ngày 6-5-1946, về việc đổi Uỷ ban kháng chiến toàn quốc thành Quân sự uỷ viên Hội.

119- Sắc lệnh số 61, ký ngày 6-5-1946, quy định về tổ chức của Bộ Quốc dân kinh tế.

120- Sắc lệnh số 62, ký ngày 8-5-1946, quy định các chức vụ của hệ thống tổ chức Bộ Canh nông.

121- Sắc lệnh số 63, ký ngày 8-5-1946, bổ nhiệm người phụ trách các tổ chức của Bộ Canh nông.

122- Sắc lệnh số 64, ký ngày 8-5-1946, quy định nhiệm vụ của Nha Lao động trung ương trong Bộ Xã hội.

123- Sắc lệnh số 65, ký ngày 10-5-1946, tạm hoãn thu thuế trực thu cho các tỉnh từ Khánh Hoà vào Nam.

124- Sắc lệnh số 66, ký ngày 10-5-1946, cử một số cán bộ cho Bộ Ngoại giao.

125- Sắc lệnh số 67, ký ngày 13-5-1946, cử một số cán bộ cho Bộ Quốc dân kinh tế.

126- Sắc lệnh số 68, ký ngày 14-5-1946, bổ sung điều khoản về việc đặt Uỷ ban hành chính khu phố và cách tiến hành bầu cử, ứng cử.

127- Sắc lệnh số 69, ký ngày 16-5-1946, ấn định mức thuế điền thổ và thuế đồn điền áp dụng cho Bắc Bộ.

128- Sắc lệnh số 70, ký ngày 22-5-1946, về việc lập Uỷ ban hộ đê trung ương.

129- Sắc lệnh số 71, ký ngày 22-5-1946, về việc Quân đội của nước Việt Nam là một Quân đội quốc gia.

130- Sắc lệnh số 72, ký ngày 24-5-1946, bãi bỏ Sắc lệnh số 57 (10-11-1945).

131- Sắc lệnh số 73, ký ngày 24-5-1946, cử cán bộ cho Bộ Canh nông.

132- Sắc lệnh số 74, ký ngày 24-5-1946, cử cán bộ cho Bộ Giao thông Công chính.

133- Sắc lệnh số 75, ký ngày 29-5-1946, quy định tổ chức của Bộ Tài chính.

134- Sắc lệnh số 76, ký ngày 29-5-1946, sửa đổi điều khoản của Sắc lệnh số 77 (21-12-1945) về cách tổ chức chính quyền nhân dân ở thị xã, thành phố.

135- Sắc lệnh số 77, ký ngày 29-5-1946, ấn định trường hợp Chủ tịch Chính phủ được phép ban hành lệnh thiết quân luật.

136- Sắc lệnh số 78, ký ngày 29-5-1946, ấn định mức thuế điền thổ áp dụng cho Trung Bộ.

137- Sắc lệnh số 79, ký ngày 29-5-1946, về việc giảm thuế điền thổ cho nhân dân các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên.

138- Sắc lệnh số 80, ký ngày 29-5-1946, bổ nhiệm Chánh vǎn phòng Bộ Canh nông.

139- Sắc lệnh số 81, ký ngày 29-5-1946, ấn định danh sách đoàn Việt Nam đi Pari.

140- Sắc lệnh số 82, ký ngày 29-5-1946, cử người tạm thay các chức vụ trong Chính phủ trong thời gian những người đương chức đi vắng.

141- Sắc lệnh số 82B, ký ngày 29-5-1946, bổ nhiệm Cục trưởng Giao thông công chính.

142- Sắc lệnh số 83, ký ngày 29-5-1946 bổ nhiệm một số cán bộ Bộ Nội vụ.

143- Sắc lệnh số 84, ký ngày 29-5-1946, cấm sử dụng các loại xe tay trong toàn cõi Việt Nam.

144- Sắc lệnh số 84B, ký ngày 29-5-1946, về việc tuyên dương công trạng hoặc tặng thưởng “Huy chương Quân công” những người có công trong việc giành độc lập cho nước Việt Nam.

145- Sắc lệnh số 85, ký ngày 30-5-1946 cử người giữ chức Chánh vǎn phòng Bộ Nội vụ.

146- Sắc lệnh số 86, ký ngày 30-5-1946, cử ông Phạm Vǎn Đồng làm Đoàn trưởng phái đoàn Việt Nam sang Pari thay ông Nguyễn Tường Tam vì mắc bệnh không đi được.

147- Sắc lệnh số 87, ký ngày 30-5-1946, cử người giữ chức Tổng thanh tra các Nha của Bộ Canh nông.

148- Sắc lệnh số 88, ký ngày 30-5-1946, hạn chế việc giết thịt gia súc ở Bắc Bộ.

149- Sắc lệnh số 89, ký ngày 30-5-1946, về việc Chính phủ Việt Nam tạm thời giành quyền tìm kiếm mỏ.

150- Sắc lệnh số 90, ký ngày 30-5-1946, ấn định những khu mỏ thuộc quyền sở hữu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

151- Sắc lệnh số 203, ký ngày 7-11-1946, cử người vào Uỷ ban liên kiểm Việt – Pháp để thi hành bản Tạm ước Việt – Pháp ngày 14-9-1946.

152- Sắc lệnh số 204, ký ngày 8-11-1946, quy định những quyền lợi của các đại biểu Quốc hội khi đi dự họp.

153- Sắc lệnh số 205, ký ngày 9-11-1946, sáp nhập liên xã Hưng Đạo thuộc phủ Thanh Hà (Hải Dương) vào huyện Kim Thành cùng tỉnh.

154- Sắc lệnh số 206, ký ngày 15-11-1946, sửa đổi một số điểm về việc thu đảm phụ quốc phòng đối với ngành vận tải.

155- Sắc lệnh số 207, ký ngày 15-11-1946, tạm thay đổi mức thuế tối thiểu và thuế tổng nội đánh vào hàng hoá nhập vào Việt Nam.

156- Sắc lệnh số 208, ký ngày 16-11-1946, bổ nhiệm Giám đốc Nha Dân tộc thiểu số.

157- Sắc lệnh số 209, ký ngày 16-11-1946, bổ nhiệm cán bộ cho Bộ Quốc phòng.

158- Sắc lệnh số 210, ký ngày 16-11-1946, sửa đổi điều 2 của Sắc lệnh 134 về quyền lợi của các uỷ viên Hội đồng nhân dân và uỷ viên Uỷ ban hành chính huyện, châu.

159- Sắc lệnh số 211, ký ngày 16-11-1946, cho phép ông Phó Đổng lý sự vụ Bộ Quốc dân kinh tế được từ chức.

160- Sắc lệnh số 212, ký ngày 19-11-1946, bổ nhiệm người giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế.

161- Sắc lệnh số 213, ký ngày 20-11-1946, thay người giữ chức Cục trưởng Cục Giao thông Công chính.

162- Sắc lệnh số 214, ký ngày 20-11-1946, bổ nhiệm Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Quân huấn; Phó Cục trưởng Cục Chính trị; Tham mưu trưởng Bộ Quốc phòng; Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam.

163- Sắc lệnh số 215, ký ngày 20-11-1946, giải tán Nha Y tế trung ương, Nha Cứu tế trung ương, Nha Lao động trung ương.

164- Sắc lệnh số 216, ký ngày 21-11-1946, cử ông Phạm Ngọc Thạch giữ chức Thứ trưởng Chủ tịch phủ.

165- Sắc lệnh số 217, ký ngày 22-11-1946, ban hành quy chế hành nghề luật sư.

166- Sắc lệnh số 218, ký ngày 22-11-1946, cho phép ông Đổng lý Vǎn phòng Bộ Canh nông được từ chức.

167- Sắc lệnh số 219, ký ngày 22-11-1946, cho phép ông Phó Đổng lý sự vụ Bộ Canh nông được từ chức.

168- Sắc lệnh số 220, ký ngày 26-11-1946, ấn định tổ chức và quyền hạn của Bộ Kinh tế.

169- Sắc lệnh số 221, ký ngày 27-11-1946, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Cứu tế xã hội.

170- Sắc lệnh số 223, ký ngày 27-11-1946, ấn định hình phạt đối với tội đưa và nhận hối lộ, biển thủ công quỹ, tài sản công cộng.

171- Sắc lệnh số 224, ký ngày 27-11-1946, đổi tên Nha, Sở, Ty Thông tin Tuyên truyền thành Nha, Sở, Ty Thông tin.

172- Sắc lệnh số 225, ký ngày 28-11-1946, bổ nhiệm giám đốc Đại học vụ, Đổng lý sự vụ và Chánh Vǎn phòng Bộ Quốc gia giáo dục, Tổng Thanh tra trung ương.

173- Sắc lệnh số 226, ký ngày 28-11-1946, quy định về tổ chức của Bộ Lao động và nhiệm vụ của các phòng ban trực thuộc.

174- Sắc lệnh số 227, ký ngày 28-11-1946, quy định thể lệ việc công bố các thông cáo pháp định và tư pháp.

175- Sắc lệnh số 229, ký ngày 30-11-1946, quy định các cơ quan quân sự trên toàn cõi Việt Nam đều đặt dưới quyền Bộ Quốc phòng.

176- Sắc lệnh số 230, ký ngày 30-11-1946, bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp giữ chức Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc.

177- Sắc lệnh số 1/SL, ký ngày 20-12-1946, về việc thành lập Uỷ ban bảo vệ tại các khu quân sự, các đơn vị hành chính từ cấp tỉnh trở xuống.

178- Sắc lệnh số 2/SL, ký ngày 26-12-1946, về quyền thiết quân luật của các Uỷ ban kháng chiến khu.

179- Sắc lệnh số 3/SL, ký ngày 28-12-1946, về việc tạm hoãn các cuộc tuyển cử vào Hội đồng nhân dân, Uỷ ban hành chính và việc bổ sung người thay các uỷ viên hành chính không thể tiếp tục chức vụ cũ.

180- Sắc lệnh số 4/SL, ký ngày 28-12-1946, về quyền ân xá, ân giảm, phóng thích tội phạm của Uỷ ban bảo vệ cấp khu.

181- Sắc lệnh số 5/SL, ký ngày 31-12-1946, về việc thành lập Uỷ ban tản cư và di cư trung ương, Uỷ ban tản cư và di cư các cấp.

cpv.org.vn

Thư gửi Thống chế Tưởng Giới Thạch

Hà Nội, ngày 22 tháng 10 nǎm 1945

Thưa Ngài Thống chế Tưởng Giới Thạch,

Nhờ Ngài Bộ trưởng 1 Trần (Chen) chuyển giúp

Thưa Ngài,

Chúng tôi trân trọng thưa với Ngài rằng, chúng tôi – Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Ngài Cố vấn tối cao Nguyễn Vĩnh Thuỵ (cựu Hoàng đế Bảo Đại) – có nguyện vọng được đến Trùng Khánh để bày tỏ lòng kính trọng của chúng tôi với Ngài và ngài Bộ trưởng Trần.

Nếu được các Ngài chấp nhận, thì đấy là một sự ủng hộ tốt đẹp với chúng tôi.

Kính

Hồ Chí Minh
Nguyễn Vĩnh Thụy

United States – Vietnam Relations,
1945-1967, U.S Government printing
office, Washington, 1971, p.83.
cpv.org.vn

Bản ký kết ngày 19-11-1945 – Nguyên tắc chung tối cao của cuộc hợp tác giữa: Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội, Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Minh

1) Thành lập một chính phủ nhất trí, tổ chức cơ cấu quân sự tối cao (bao quát: danh xưng, tổ chức hệ thống, sắp đặt nhân sự và quốc huy, quốc kỳ, vân vân).

2) Định rõ chính cương, chính sách, phát biểu tuyên ngôn liên hợp (bao quát: nguyên tắc kiến quốc tối cao, ngoại giao, nội chính và chính sách đối với Hoa kiều, vân vân).

3) Hết thảy quân đội phải thuộc về quốc gia (bao quát: các đảng, các phái phải đem võ lực của mình ra chớ không có thể tự kiến quân 1 riêng).

4) Chỉ nói đến sự sinh tồn của quốc gia chớ không được nói đến những sự tranh giành của đảng phái (bao quát: hết thảy các đảng, các phái y theo quy tắc được tự do phát triển, hỗ tương bảo chứng, không được dùng thủ đoạn phi pháp để phá hoại đối phương).

5) Triệu khai hội nghị quân sự (bao quát: thương thảo việc tiến quân vào Trung Nam Bộ, và vấn đề kiến quân về hết thảy mọi phương diện).

6) Quyết không đổ máu giữa người Việt Nam với người Việt Nam.

7) Kiên quyết huỷ diệt các xí đồ thực dân của đế quốc Pháp để tranh lấy sự độc lập hoàn toàn của Việt Nam.

Ký tên: Nguyễn Hải Thần, Hồ Chí Minh, Vũ Hồng Khanh

Báo Việt Nam, số 19,
ngày 6-12-1945.
cpv.org.vn

——————————————-

1. Tuyên ngôn Độc lập nǎm 1776 của nước Mỹ: Trong cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Bắc Mỹ (1775-1781), các xứ thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ đã tổ chức các cuộc Đại hội đại biểu để thảo luận những biện pháp chống bọn thực dân Anh. Đại hội lần thứ hai họp ở Philađenphia nǎm 1775 đã cử ra một uỷ ban do Giépphécxơn làm Chủ tịch để thảo một bản nghị quyết tuyên bố các xứ thuộc địa là những nước tự do và độc lập, tách khỏi phạm vi quyền lực của Anh hoàng. Bản dự án nghị quyết này được đại biểu 13 bang thông qua ngày 4-7-1776 và trở thành Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ. Bản Tuyên ngôn này tiêu biểu cho nguyện vọng của các dân tộc thuộc địa ở Bắc Mỹ đấu tranh để giành lại độc lập, tự do cho nhân dân Mỹ lúc bấy giờ. Sau khi giành được độc lập, giai cấp tư sản Mỹ lên nắm chính quyền đã phản bội quyền lợi của nhân dân, thi hành chính sách phân biệt chủng tộc, áp bức bóc lột nhân dân trong nước, đồng thời xâm lược các nước khác. Chúng đã thực hiện những thủ đoạn tàn bạo của chủ nghĩa thực dân cũ, áp dụng chính sách thâm độc và nham hiểm của chủ nghĩa thực dân mới, thống trị về mặt kinh tế và lũng đoạn về chính trị, nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới, chà đạp trắng trợn lên những nguyên tắc tự do, bình đẳng đã ghi trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ. Tr.1.

Tinh thành đoàn kết

Ngày 24 tháng 11 nǎm 1945, sáu đại biểu là:

Hồ Chí Minh

Nguyễn Hải Thần

Vũ Hồng Khanh

Lê Tùng Sơn

Cù Huy Cận

Phan Trâm

khai hội thảo luận việc đoàn kết để cứu quốc. Trong cuộc thảo luận, các đại biểu đều khai thành bố công 1 rất là thân thiết.

Lúc khai hội rồi, các đại biểu đồng ý mấy điều sau này:

1) Hai bên đều đảm bảo không được công kích lẫn nhau bằng lời nói và bằng hành động.

2) Hai bên đều kêu gọi đoàn kết.

3) Hai bên đều kêu gọi ủng hộ kháng chiến ở Nam Bộ.

4) Hai bên đều phụ trách thực hiện ba điều trên đó.

Những việc thảo luận sẽ đồng thời tuyên bố sau.

Ký tên: Hồ Chí Minh

Nguyễn Hải Thần

Vũ Hồng Khanh

Lê Tùng Sơn

Cù Huy Cận

Phan Trâm

Báo Cứu quốc, số 101,
ngày 26-11-1945.
cpv.org.vn

———————————–

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Mười bốn điều thoả thuận giữa Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội, Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Minh (1)

Ngày 23 tháng 12 nǎm 1945

Việt Nam, Việt Minh hội, Quốc dân đảng hợp tác biện pháp mười bốn điều (phụ kiện bốn điều).

1- Cùng phát biểu tuyên ngôn đối nội, đối ngoại vào ngày 1-1-1946 về việc thành lập một Chính phủ lâm thời liên hiệp Việt Nam. Đồng thời Chánh, Phó Chủ tịch, Bộ trưởng, Thứ trưởng cử hành lễ tựu chức.

2- Chính phủ nhân sự 2 do các đảng phái liên tịch hội nghị quyết định theo nguyên tắc trong điều kiện phụ sau đây.

3- Lâm thời Chính phủ sẽ đưa ra Quốc dân đại biểu đại hội một bản tǎng thêm: đại biểu Quốc dân đảng: 50 người, Cách mệnh đồng minh hội: 20 người, giao cho Quốc hội truy nhận.

4- Quốc hội lần họp đầu tiên, sau khi phê chuẩn Lâm thời Chính phủ, Chánh Phó Chủ tịch cùng các Bộ trưởng, Thứ trưởng toàn thể từ chức, sẽ bầu Chánh Phó Chủ tịch chính thức.

5- Chánh Phó Chủ tịch Chính phủ liên hiệp sẽ chính thức tuyển trong các đảng phái và những nhân viên ưu tú trong xã hội các Bộ trưởng và Thứ trưởng rồi đề ra cho Quốc hội thông qua.

6- Nhiệm kỳ của Chính phủ liên hiệp Việt Nam sau này sẽ do Chế hiến Uỷ viên hội 1 của Quốc hội quyết định.

7- Danh xưng Quốc kỳ, Quốc huy của Chính phủ liên hiệp do Quốc hội quy định.

8- Trong khi Chính phủ chính thức chưa thành lập, kinh thường 2 triệu tập hội nghị liên tịch các đảng phái để giải quyết những trở ngại do cuộc hợp tác; nếu như tranh chấp không giải quyết thì một Điều giải uỷ viên hội do các người công chính 3 không đảng phái lập nên sẽ giải quyết, nếu như một bên mà không chịu sự trọng tài ấy mà phá liệt 4 thì bên ấy chịu trách nhiệm.

9- Độc lập đệ nhất, đoàn kết đệ nhất 5 , cả hai bên đều lấy thái độ thân ái và tinh thành để cùng nhau thảo luận và giải quyết hết thảy mọi vấn đề khốn nạn 6 ở trước mắt. Nếu kẻ nào dám dùng võ lực để gây thành nội loạn, người trong nước sẽ cùng hắt hủi kẻ đó.

10- Hai bên đề xuất danh sách những người bị bắt giam của hai bên trước ngày 25-12-1945, toàn thể phải tha về.

11- Bắt đầu từ ngày 25-12-1945, hai bên đều thiết thực ủng hộ Tuyển cử Quốc hội và kháng chiến.

12- Từ ngày ấy, hai bên đều đình chỉ sự công kích lẫn nhau cả ngôn luận lẫn hành động thường.

13-7)

14- Những nghị quyết trên đây do Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh đều cùng ký và được thi hành ngay.

PHụ KIệN

1- Trong Chính phủ liên hiệp chính thức, Hồ Chí Minh tiên sinh làm Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần tiên sinh làm Phó Chủ tịch.

2- Sau khi Chính phủ liên hiệp chính thức thành lập, Bộ trưởng những Bộ Quân sự và Nội vụ, sẽ tạm là những người công chính trong xã hội không thuộc đảng phái và những người ở các đảng phái ngoài Việt Minh và Quốc dân đảng đảm nhận.

3- Chính phủ liên hiệp chính thức sẽ gồm có 10 Bộ, nhân sự các Bộ trưởng sẽ phân phối như sau: Việt Minh 2 người, Quốc dân đảng 2 người, Dân chủ đảng 2 người, Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội 2 người, vô đảng phái 2 người.

4- Biện pháp này lấy chữ Hán làm chuẩn tắc.

Ký tên: Nguyễn Hải Thần

Hồ Chí Minh

Vũ Hồng Khanh

Báo Việt Nam,
ngày 25-12-1945.
cpv.org.vn

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

2. Tuyên ngôn Độc lập nǎm 1776 của nước Mỹ: Trong cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Bắc Mỹ (1775-1781), các xứ thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ đã tổ chức các cuộc Đại hội đại biểu để thảo luận những biện pháp chống bọn thực dân Anh. Đại hội lần thứ hai họp ở Philađenphia nǎm 1775 đã cử ra một uỷ ban do Giépphécxơn làm Chủ tịch để thảo một bản nghị quyết tuyên bố các xứ thuộc địa là những nước tự do và độc lập, tách khỏi phạm vi quyền lực của Anh hoàng. Bản dự án nghị quyết này được đại biểu 13 bang thông qua ngày 4-7-1776 và trở thành Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ. Bản Tuyên ngôn này tiêu biểu cho nguyện vọng của các dân tộc thuộc địa ở Bắc Mỹ đấu tranh để giành lại độc lập, tự do cho nhân dân Mỹ lúc bấy giờ. Sau khi giành được độc lập, giai cấp tư sản Mỹ lên nắm chính quyền đã phản bội quyền lợi của nhân dân, thi hành chính sách phân biệt chủng tộc, áp bức bóc lột nhân dân trong nước, đồng thời xâm lược các nước khác. Chúng đã thực hiện những thủ đoạn tàn bạo của chủ nghĩa thực dân cũ, áp dụng chính sách thâm độc và nham hiểm của chủ nghĩa thực dân mới, thống trị về mặt kinh tế và lũng đoạn về chính trị, nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới, chà đạp trắng trợn lên những nguyên tắc tự do, bình đẳng đã ghi trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ. Tr.1.

3. Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền: Cuộc Cách mạng Pháp 1789 là cuộc cách mạng dân chủ tư sản điển hình.

Sau khi nền quân chủ phong kiến bị lật đổ, giai cấp tư sản Pháp lên nắm chính quyền. Hội nghị lập hiến do chính quyền của giai cấp tư sản tổ chức đã thông qua một vǎn kiện có tính chất cương lĩnh – bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền nổi tiếng của cách mạng Pháp. Bản Tuyên ngôn này đã công khai thừa nhận các quyền tự do dân chủ như tự do thân thể, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng… Bản Tuyên ngôn cũng thừa nhận quyền bình đẳng của mọi người trước pháp luật, quyền chống áp bức. Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp đã có ảnh hưởng lớn tới cuộc đấu tranh của nhân dân các nước đang chống chế độ phong kiến lúc bấy giờ.

Nhưng khi giai cấp tư sản đã giành được quyền thống trị, chúng đã phản bội lại các nguyên tắc tự do, bình đẳng, bác ái ghi trong Tuyên ngôn. Chúng ra sức áp bức bóc lột nhân dân trong nước và lợi dụng chiêu bài “khai hoá vǎn minh” để tiến hành chiến tranh xâm lược nhằm thống trị và nô dịch các thuộc địa, trong đó có nước Việt Nam ta. Tr.1.

4. Đồng minh: Liên minh các nước chống chủ nghĩa phát xít trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), hình thành vào cuối 1941 đầu 1942.

Tháng 1-1942, tại Oasinhtơn (Mỹ), 26 nước Đồng minh trong đó có Liên Xô (cũ), Anh, Mỹ ký chung vào bản Tuyên ngôn chống phát xít xâm lược và bảo đảm trong cuộc chiến tranh này không có sự giảng hoà riêng rẽ. Nhưng mục đích của việc ký Tuyên ngôn đó rất khác nhau. Liên Xô ký Tuyên ngôn này nhằm mục đích tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, khôi phục chế độ dân chủ ở châu Âu. Còn Mỹ và Anh ký Tuyên ngôn nhằm đánh bại thế lực của Đức và Nhật để xác lập quyền bá chủ thế giới. Về sau, các chính phủ Mỹ và Anh đã phản bội Đồng minh, phá hoại tất cả các điều khoản trong Tuyên ngôn đó. Tr.2.

5. Việt Minh (hay Mặt trận Việt Minh): Tên gọi tắt của Việt Nam độc lập đồng minh, được thành lập tại Pác Bó (Cao Bằng) ngày 19-5-1941, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tám (5-1941). Việt Minh gồm các thành viên là Đảng Cộng sản Đông Dương và các Hội cứu quốc như: Hội Công nhân cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội Quân nhân cứu quốc, Hội Phụ lão cứu quốc, Hội Phật giáo cứu quốc, Hội Nhi đồng cứu quốc…

Việt Minh là một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, các đảng phái chính trị, các dân tộc, các tôn giáo yêu nước để chống kẻ thù chính của dân tộc ta lúc ấy là thực dân Pháp và phát xít Nhật. Mặt trận đã áp dụng chính sách mềm dẻo để tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ được, phân hoá kẻ thù, cô lập cao độ kẻ thù chính nhằm tiêu diệt chúng, giành độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Mặt trận Việt Minh đã vận động toàn dân tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Để góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến mau đến thắng lợi, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc họp từ ngày 3 đến ngày 7-3-1951 đã thống nhất hai tổ chức Việt Nam độc lập đồng minh và Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam thành Mặt trận Liên – Việt. Tr.2.

6. Chính phủ lâm thời: Tức Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam, được thành lập theo quyết định của Quốc dân đại hội Tân Trào họp trong các ngày 16, 17, 18-8-1945.

Nghị quyết của Quốc dân đại hội ghi rõ: “Để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc giải phóng của chúng ta cho thắng lợi, Quốc dân đại hội quyết định thành lập Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam. Uỷ ban này cũng như Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam trước khi thành lập một chính phủ chính thức. Uỷ ban này thay mặt quốc dân mà giao thiệp với các nước ngoài và duy trì mọi công việc trong nước”. Về tổ chức, Uỷ ban giải phóng có một ban thường trực gồm 5 uỷ viên, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 25-8-1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban giải phóng dân tộc được cải tổ thành Chính phủ lâm thời với sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân, các đảng phái yêu nước, nhân sĩ tiến bộ. Nhiều uỷ viên Việt Minh trong Chính phủ tự nguyện nhường chỗ cho những người không phải Việt Minh. Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá hành động cao cả đó như sau: “Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân”. (Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng). Tr.3.

7. Hội nghị Têhêrǎng: Hội nghị của đại diện ba nước Liên Xô (cũ), Anh, Mỹ họp từ ngày 28-11 đến ngày 1-12-1943, tại Têhêrǎng (thủ đô Iran). Hội nghị đã thông qua kế hoạch tiêu diệt các lực lượng vũ trang của phát xít Đức, quyết định mở mặt trận thứ hai ở châu Âu trước ngày 1-5-1944 và thông qua Nghị quyết bảo đảm nền hoà bình lâu dài trên thế giới sau chiến tranh, v.v.. Nhưng sau đó, các giới cầm quyền Mỹ và Anh đã thi hành không đầy đủ các điều khoản đã được ký kết trong Hội nghị này. Tr.3

Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Bộ Công an báo công dâng Bác tại Khu Di tích K9

Chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát nhân dân (20/7/1962 – 20/7/2012), ngày 10 tháng 7 năm 2012, tại Khu Di tích K9, 68 cán bộ, chiến sĩ tiêu biểu đại diện cho trên 2 ngàn cán bộ, chiến sĩ Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đã tổ chức lễ báo công dâng Bác. Đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Xuân Lý, Cục trưởng đến dự và chủ trì buổi lễ.

 Canh sat moi truong bao congCục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Bộ Công an báo công dâng Bác

Đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong tình hình mới, ngày 29 tháng 11 năm 2006 lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường được thành lập, đây là lực lượng nòng cốt thực hiện công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Sau khi được thành lập, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đã nhanh chóng ổn định, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, lập nhiều chiến công tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển của ngành Cảnh sát về môi trường. Tính từ khi thành lập đến nay, đơn vị đã phát hiện, điều tra, khám phá được 18.400 vụ vi phạm pháp luật về môi trường, trong đó có trên 700 vụ vi phạm pháp luật phức tạp, nghiêm trọng; chuyển cơ quan điều tra khởi tố 550 vụ; xử phạt hành chính và truy thu hàng trăm tỷ đồng tiền phí môi trường cho Nhà nước và nhân dân, được quần chúng nhiệt liệt hoan nghênh.

Với những thành tích đóng góp đó, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đã được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhì, 4 năm liên tục được Bộ Công an tặng Cờ đơn vị xuất sắc (2008 -2011) và nhiều Bằng khen, Giấy khen của lãnh đạo các cấp.

Trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, cán bộ, chiến sĩ Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường hứa sẽ không ngừng học tập và làm theo 6 điều Bác dạy Công an nhân dân: “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính. Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ. Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành. Đối với nhân dân, phải kính trọng lễ phép. Đối với công việc, phải tận tụy. Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”. Nêu cao truyền thống “Đoàn kết, kỷ cương, sáng tạo, hiệu quả”, tận tụy trong công việc; xây dựng lực lượng Cảnh sát về môi trường ngày càng trưởng thành vững mạnh, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Hải Tiếp
bqllang.gov.vn

Đoàn kết

Ngày 24-12-1945, chúng tôi là Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh, thay mặt cho Việt Minh, Quốc dân đảng và Cách mệnh đồng minh hội cùng ký tên công nhận các điều ước sau đây:

1) Độc lập trên hết, đoàn kết trên hết. Cǎn cứ vào thái độ thân ái, tinh thành cùng nhau thảo luận để giải quyết hết thảy những vấn đề khó khǎn trước mắt. Ai dùng ngang vũ lực gây nên những cuộc nội loạn sẽ bị quốc dân ruồng bỏ.

2) Kể từ ngày 25-12-1945, đôi bên phải ủng hộ một cách thiết thực cuộc Tổng tuyển cử, Quốc hội và kháng chiến.

3) Bắt đầu từ ngày 25-12-1945, đôi bên đều đình chỉ hết thảy những việc công kích nhau bằng ngôn luận và hành động.

Ký tên: Hồ Chí Minh

Nguyễn Hải Thần

Vũ Hồng Khanh

Báo Cứu quốc, số 126,
ngày 26-12-1945.
cpv.org.vn

Quyết nghị của cuộc liên tịch Hội nghị các chính đảng ngày 23-2-1946

1- Thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến:

Sau những cuộc liên tịch hội nghị đại biểu các chính đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần chủ toạ, toàn thể nghị quyết thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến theo những điều kiện sau đây:

a) Chính phủ liên hiệp kháng chiến gồm có 10 bộ:

1. Nội vụ 6. Kinh tế

2. Quốc phòng 7. Xã hội

3. Ngoại giao 8. Tư pháp

4. Tài chính 9. Giao thông công chính

5. Giáo dục 10. Canh nông

b) Phân nhiệm:

– Hai bộ Quốc phòng và Nội vụ do những vị không đảng phái giữ.

– Các bộ Tài chính, Giáo dục, Giao thông công chính, Tư pháp do Việt Minh và Việt Nam Dân chủ đảng giữ.

– Các bộ Ngoại giao, Kinh tế, Xã hội, Canh nông do Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội giữ.

c) Để tỏ rõ tính cách thống nhất quốc gia của Chính phủ liên hiệp kháng chiến, hai bộ Giao thông công chính và Canh nông sẽ dành cho đồng bào Nam Bộ. Trong khi đại biểu Nam Bộ chưa tựu chức, Bộ Giao thông công chính sẽ do Việt Minh hoặc Việt Nam Dân chủ đảng phụ trách, Bộ Canh nông sẽ do Việt Nam Quốc dân đảng hoặc Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội phụ trách.

đ) Tên các Bộ trưởng sẽ công bố sau khi Quốc hội truy nhận.

2- Thành lập Uỷ viên kháng chiến hội.

Một Kháng chiến uỷ viên hội gồm có 9 vị sẽ thành lập để chuyên lo việc kháng chiến. Tên 9 uỷ viên sẽ công bố sau khi Quốc hội truy nhận.

3- Thành lập Quốc gia cố vấn đoàn.

Một Quốc gia cố vấn đoàn do Cố vấn tối cao Vĩnh Thuỵ làm Đoàn trưởng và gồm có những vị có đạo đức kinh nghiệm sẽ thành lập để giúp ý kiến cho Chính phủ.

Tên các vị đó sẽ được công bố sau khi Quốc hội truy nhận.

Toàn thể đại biểu có mặt trong hội nghị liên tịch đã đồng ý đǎng lên báo bản quyết nghị này.

Làm tại Hà Nội, ngày 25 tháng 2 nǎm 1946

Việt Minh Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội

Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần
Nguyễn Công Truyền, Nguyễn Thức

Dân chủ Việt Nam Quốc dân đảng:

Đỗ Đức Dục, Nguyễn Tường Tam
Hoàng Văn Đức, Vũ Hồng Khanh

Báo Độc lập, số 85,
ngày 26-2-1946.
cpv.org.vn

Hiệp định sơ bộ

Một bên là Chính phủ Cộng hoà Pháp do ông Xanhtơni (Sainteny), người thay mặt và có uỷ nhiệm chính thức của Thuỷ sư đô đốc Đácgiǎngliơ (Georges Thierry d’Argenlieu), Thượng sứ Pháp thụ nhiệm uỷ quyền của Chính phủ Cộng hoà Pháp, làm đại biểu.

Một bên là Chính phủ Cộng hoà Việt Nam do cụ Chủ tịch Hồ Chí Minh, và đặc uỷ viên của Hội đồng các Bộ trưởng là ông Vũ Hồng Khanh, làm đại biểu.

Hai bên đã thoả thuận về các khoản sau này:

1) Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Cộng hoà là một quốc gia tự do có Chính phủ của mình, Nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình, và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương ở trong khối Liên hiệp Pháp. Về việc hợp nhất ba “kỳ”, Chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận, nhưng quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết.

2) Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng thân thiện, tiếp đón quân đội Pháp khi nào quân đội ấy chiểu theo các hiệp định quốc tế đến thay thế quân đội Trung Hoa. Một Hiệp định phụ khoản đính theo Hiệp định sơ bộ này sẽ định rõ cách thức thi hành công việc thay thế ấy.

3) Các điều khoản kể trên sẽ được tức khắc thi hành. Sau khi ký hiệp định, hai Chính phủ lập tức quyết định mọi phương sách cần thiết để đình chỉ ngay cuộc xung đột, để giữ nguyên quân đội hai bên tại vị trí hiện thời và để gây một bầu không khí êm dịu cần thiết cho việc mở ngay cuộc điều đình thân thiện và thành thực. Trong cuộc điều đình ấy sẽ bàn về:

a) Những liên lạc ngoại giao của Việt Nam với nước ngoài.

b) Chế độ tương lai của Đông Dương.

c) Những quyền lợi kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam.

Các thành phố Hà Nội, Sài Gòn, Pari có thể được chọn làm nơi hội họp cuộc Hội nghị.

Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 nǎm 1946

HỒ CHÍ MINH – VŨ HỒNG KHANH – XANHTƠNI

Báo Cứu quốc, số 180,
ngày 8-3-1946.
cpv.org.vn