Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Trả lời phóng viên Hãng thông tấn A.F.P (1)

Chúng tôi muốn được độc lập trong khối Liên hiệp Pháp, và chúng tôi lại muốn rằng sự hợp tác đó phải chặt chẽ thân thiện và do ý muốn của chúng tôi. Vì lẽ đó mà chúng tôi không chịu nhận bị coi chỉ là một hội viên thường, bị hạn chế trong khối Liên hiệp Pháp. Sự cản trở chính trong cuộc đàm phán Việt – Pháp hiện nay là ở vấn đề trưng cầu dân ý ở Nam Bộ. Chúng tôi muốn rằng ngày giờ và phương thức của cuộc trưng cầu dân ý đó phải được định đoạt một cách nhanh chóng và phải có đủ các đảm bảo để dân chúng Nam Bộ được tự do phát biểu ý kiến của họ. Tôi rất lạc quan và rất hy vọng đi tới kết quả.

Tôi tin tưởng ở nước Pháp mới. Hai nước Việt và Pháp có thể đi đến sự thoả thuận vì cả hai nước đều cần phải tương trợ lẫn nhau vì quyền lợi chung của hai nước, cần phải đi đến một sự hiểu biết lẫn nhau càng nhanh chóng càng hay, để cùng có thể sẵn sàng bắt tay vào một công việc thiết thực.

Tôi muốn có thể sớm trở về nước Việt Nam được, để mang lại cho dân chúng Việt Nam bằng chứng mối cảm tình của nước Pháp đối với họ.

Trả lời ngày 2-9-1946.

Báo Cứu quốc, số 336, ngày 5-9-1946.
cpv.org.vn

————————————

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Thư gửi kiều bào Việt Nam ở Pháp

Cùng tất cả kiều bào yêu quý,

Từ ngày Phái bộ và tôi đến nước Pháp, và trong ngày kỷ niệm Quốc khánh (ngày mồng 2 tháng 9), kiều bào ta, nơi thì phái người, nơi thì gửi điện ủng hộ Chính phủ và tôi, nhiều kiều bào lại quyên tiền hoặc thuốc giúp Tổ quốc.

Lòng thân ái đó rất là quý, chúng tôi rất cảm động và cám ơn. Nay tôi và Phái bộ sắp trở về nước, chúng tôi gửi lời chào và khuyên tất cả anh chị em kiều bào:

1- Phải triệt để đoàn kết,

2- Ra sức tuyên truyền và ủng hộ bằng mọi phương diện cho Tổ quốc,

3- Thực hành khẩu hiệu ĐờI SốNG MớI: CầN, KIệM, LIÊM, CHíNH,

4- Mỗi người cần biết thạo một nghề để mai sau về nước giúp ích cho cuộc xây dựng nước Việt Nam mới.

Lời chào đoàn kết và thân ái
Pari, ngày 12 tháng 9 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Bản chụp bút tích,
lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Nói chuyện với các nhà báo Pháp tại biệt thự Roayan Môngxô

Tôi có vừa ý với kết quả của Hội nghị Phôngtennơblô không ? Có và không. Không, vì chúng tôi đến đây với hai vấn đề chính, nền độc lập của nước Việt Nam trong Liên hiệp Pháp, và vấn đề Nam Bộ thì chưa có vấn đề nào giải quyết cả. Có, vì ở đây tôi được thấy rõ một sự thân thiện thành thực của Chính phủ và dân chúng Pháp và đã có dịp gặp nhiều bạn Pháp và ngoại quốc. ở Phôngtennơblô, cũng đã đạt được một vài kết quả. Trước hết là cuộc hội nghị không tan vỡ hẳn mà chỉ gián đoạn vì điều kiện khó khǎn hiện thời, và chúng tôi đợi lại tiếp tục trong một thời gian rất ngắn. Tôi lạc quan và mong rằng chúng ta sẽ đi đến một kết quả vừa ý cả cho quyền lợi Pháp cũng như quyền lợi Việt Nam, và như vậy vì chúng tôi tin ở nước Pháp, nước Pháp mới đã là một trong những nước thực hiểu nền độc lập của các dân tộc và nền dân chủ. Tôi có thể nói xa hơn: không những số mệnh của khối Liên hiệp Pháp mà cả số mệnh của hoà bình thế giới sẽ do ở kết quả cuộc đàm phán Việt – Pháp. Chẳng có lý gì bi quan cả, nhất là hai dân tộc Việt và Pháp sinh ra để phải thoả thuận với nhau. Vậy về nước chúng tôi sẽ làm gì ? Chúng tôi sẽ gây một bầu không khí hoà bình và trật tự và thân thiện làm việc với người Pháp, vì người Pháp cũng như người Việt Nam, chúng ta đều cần bắt đầu một công việc có lợi. Một mặt khác, chúng tôi mong rằng người Pháp cũng sẽ có tình thân thiện và hoà bình như chúng tôi, và sau cùng, tôi muốn nói ở đây rằng dân tộc Việt Nam hết sức hy vọng rằng Hội nghị hoà bình sẽ đem lại hoà bình thế giới. Tôi tin ở sự khôn khéo và lòng nhân đạo của đại biểu các nước bạn chúng tôi. Đó, hy vọng của chúng tôi là như vậy trong lúc chờ đợi hội nghị lại tiếp tục một ngày gần đây.

Nói ngày 13-9-1946.

Báo Cứu quốc, số 346, ngày 15-9-1946.
cpv.org.vn

Lục quân ngày nay với các thứ binh khí

Đặc điểm của chiến tranh ngày nay là đánh thật nhanh để kết thúc những trận đánh trong một thời gian ngắn. Thứ binh khí thích hợp nhất cho lối đánh này là phi cơ, nên các nước đều hết sức khuếch trương không quân. Nhưng chỉ nhờ ở phi cơ đi ném bom hay dùng đại bác bắn phá không thể chiếm được thắng lợi trên mặt trận mà cần phải chú trọng đến lục quân. Dù đánh chớp nhoáng, dù đánh lâu dài, dù giữ thế công hay thế thủ, bao giờ cũng cần đến lục quân. Vì vậy, về quốc phòng, không thể không tổ chức lục quân được. Trong lục quân, người ta thường chia ra bộ binh, kỵ binh, pháo binh, công binh, chí trọng binh. Mỗi thứ binh ngũ ấy đều có binh khí riêng.

1. Bộ binh – Bộ binh ngoài súng trường, lưỡi lê, còn có súng máy hạng nhẹ, súng máy hạng nặng, súng bắn tạc đạn, đại bác bắn thẳng và đường queo, các máy thông tin, các tài liệu phòng hơi độc và hơi ngạt. Trước kia bộ binh thường áp dụng lối đánh tập đoàn hành động. Nhưng lối này đã bỏ từ lâu mà áp dụng lối đánh độc lập hành động để cho cá nhân được phép tuỳ cơ ứng biến. Lối đánh đã thay đổi, nên binh khí cũng tuỳ theo mà thay đổi. Người ta chia binh lực ra nhiều bộ đội nhỏ, trong đó mỗi binh sĩ đều có quyền sử dụng binh khí của mình, nên súng máy và súng bắn lựu đạn rất thích hợp cho những bộ đội độc lập tác chiến.

Trong bộ binh lại tổ chức thêm một bộ đội đặc biệt chuyên cầm máy xe tǎng, mạo hiểm xông vào tiến công bộ đội nào của bên địch không được địa hình tốt che chở.

Vì thế bộ binh ngày nay có thể vừa là kỵ binh, vừa là pháo binh được.

2. Kỵ binh – Kỵ binh xuất trận, lúc cần phải xung phong. Nhưng tự khi hoả khí phát triển, uy lực của kỵ binh đã giảm đi nhiều. Ngày nay, người ta chỉ lợi dụng sức hoạt động thần tốc của kỵ binh và uy lực của súng kỵ mã trong những trận đánh giáp lá cà.

Kỵ binh, ngoài súng trường, còn đem theo súng máy hạng nhẹ, súng máy hạng nặng và cả súng đại bác nữa. Để phòng ngự có hiệu quả, khi bên địch bắn dữ người ta đặt bên cạnh kỵ binh đoàn xe máy có lắp súng đại bác, và xe ô tô vận tải. Vì thế, kỵ binh cũng có thể độc lập chiến đấu được.

3. Pháo binh – Binh khí càng tiến bộ, chiến thuật càng đổi mới. Binh khí và chiến thuật bao giờ cũng đi đôi với nhau như hình với bóng. Từ sau cuộc Âu chiến, trước đến nay người ta đã phát minh ra rất nhiều các thứ súng đại bác, lòng rộng, bắn xa. Nào sơn pháo, dã pháo, nào bích kích pháo, cao xạ pháo, trọng pháo, không thiếu một thứ gì để tǎng gia uy lực của pháo binh.

Lại trên mặt trận phương pháp che giấu, phương pháp giả trang đã được nghiên cứu rất tinh xảo làm cho quân địch khó lòng mà tìm thấy đích để bắn. Vì thế trong pháo binh phải đặt thêm đội quan trắc chuyên xem xét mặt trận bên địch bằng những khí cụ rất tinh xảo như máy đo đạc, máy thu âm, máy tìm âm thanh phát ra từ đâu, đèn chiếu trên không, máy bay vô tuyến điện, máy chụp hình, v.v..

Trên mặt trận người ta còn thả hơi độc, hơi ngạt, nên thường lợi dụng đại bác để bắn những quả hơi sang mặt trận bên địch. Do đó trách nhiệm của pháo binh rất nặng nề.

4. Công binh – Nói đến công binh, có người cho là những người lính vác cuốc xẻng đi đào hào, đắp ụ, bắc cầu, xây cống. Đó là những công binh về thời trước. Còn công binh ngày nay phải hiểu biết những kỹ thuật về chiến tranh, phải là những đội quân cơ giới hoá biết dùng máy móc chạy bằng điện để kiến thiết trận địa, đào đường hầm, phá huỷ những chướng ngại vật trên cạn, dưới nước. Ngoài ra, công binh còn phải bắc dây điện tín, điện thoại, đặt máy vô tuyến điện, đặt đường sắt, bắc cầu qua sông, v.v..

Trong thời đại chiến tranh khoa học, nhất là từ khi phát minh ra nhiều binh khí chuyển vận bằng điện, công binh đã đóng vai tuồng quan trọng trong lục quân.

5. Chí trọng binh – Trước kia, chí trọng binh thường ở mặt sau quân đội, dùng lừa ngựa, xe cộ để vận tải lương thực, súng đạn và đi thành đội dài. Nhưng ngày nay, binh khí luôn luôn hoạt động trên mặt trận vừa xa, vừa rộng, vừa dài, nên việc vận tải binh khí, quân nhu, lương thực tiếp tế cho quân đội rất là vất vả, khó khǎn. Vì thế, chí trọng binh không thể đi đằng sau bộ đội như lúc hành quân mà phải tiến ra hoạt động tận phòng tuyến thứ nhất mới có thể cung cấp đầy đủ cho bộ đội về mọi phương tiện.

Q.Th.

Báo Cứu quốc, số 344, ngày 13-9-1946.
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Xuphanuvông.

Tháng 8 năm 1945, cả Đông Dương thuộc Pháp sôi sục khí thế cách mạng. Nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia đứng dậy giành chính quyền sau 100 năm sống dưới ách nô lệ của thực dân Pháp. Lúc này Hoàng thân Xuphanuvông đang sống ở thành phố Vinh để xây dựng cầu Yên Xuân bắc qua sông Cả. Ngày 2-9-1945, Bác Hồ đã cử ông Lê Văn Hiến vào mời Hoàng thân ra Hà Nội để bàn việc Liên minh Việt – Lào trong tương lai nhằm chống thực dân Pháp đang âm mưu trở lại xâm lược Việt – Lào.

Đây là lần đầu tiên Hoàng thân được tiếp kiến vị Chủ tịch của nước Việt Nam. Nhưng trước đó, lúc đang là sinh viên của Trường Đại học Quốc gia cầu đường của Pháp ở Paris, Hoàng thân đã được nghe tên và đọc sách, báo cách mạng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc viết. Hoàng thân ngưỡng mộ và kính trọng vị lãnh tụ Việt Nam đó cho đến khi được tiếp kiến Bác Hồ, Hoàng thân đã vui mừng biết được Nguyễn Ái Quốc chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

bh - hoanfg thnan
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Xuphanuvông.

Những ngày ở Hà Nội, Bác Hồ và Hoàng thân thân thiết như người nhà. Hai vị cùng ăn cơm rau muống, muối vừng ngay trong nhà bếp và trải chiếu nằm ngủ bên nhau giữa sàn nhà.

Khi hai vị đã bàn bạc xong xuôi việc chuẩn bị kháng chiến chống thực dân, đế quốc thì Hoàng thân được điện của người anh ruột là Hoàng thân Phếtxarạt gọi về Lào để tham gia vào chính quyền cách mạng Lào mới được thành lập.

Mặc dầu sau Lễ Quốc khánh đầu tiên của Việt Nam, Bác Hồ rất bận nhưng vẫn lo chu đáo việc tiễn Hoàng thân trở về Lào. Bác đã giao cho Bí thư Xứ ủy, Chủ nhiệm Việt Minh Trung bộ Nguyễn Chí Thanh lập một đội giải phóng quân để hộ tống, bảo vệ Hoàng thân về Lào.

Theo dõi những diễn biến ở mặt trận Lào, Bác Hồ đã chỉ thị cho ông Nguyễn Đức Quỳ, đại diện ngoại giao của Việt Nam ở Thái Lan hết lòng chuẩn bị đón tiếp Hoàng thân và Liên quân lánh nạn qua đất Thái. Trong trận này Lê Thiệu Huy, Thư ký của Hoàng thân cùng vài chiến sỹ Việt Nam bảo vệ Hoàng thân đã hy sinh. Hoàng thân cũng bị thương nặng. Được Chính phủ Thái Lan và Thủ tướng Priđi Phnômyong giúp đỡ, nhân dân và liên quân Việt – Lào được cư trú và được chăm sóc trên đất Thái. Hoàng thân được đưa về Băng Cốc cứu chữa…

Sau khi bình phục, Hoàng thân đã tập hợp lại lực lượng khẩn trương mua sắm vũ khí, luyện tập quân sự… Việc chuẩn bị trở về Lào chiến đấu đang diễn ra thì các thế lực phản động Thái Lan do Pháp và Mỹ xúi giục, đã lật đổ Priđi Phnômyong, đưa Phibun Sôngkham lên làm Thủ tướng phản động, chống cộng điên cuồng, khủng bố Việt kiều và từ chối ủng hộ phong trào kháng chiến của nhân dân Lào.

Trong bối cảnh khó khăn đó, Bác Hồ đã phái ông Nguyễn Tử Quỳ đem một đội quân đi đón Hoàng thân. Đêm 18-11-1949, Hoàng thân cùng các cộng sự bí mật vượt sông Mê Kông từ Thái trở về Lào, được đội quân của Nguyễn Tử Quỳ đón tiếp, bảo vệ và hộ tống Hoàng thân về chiến khu Việt Bắc.

Những ngày ở Việt Bắc, Bác Hồ lại tiếp đón Hoàng thân như người bạn tâm đắc, lại cùng nằm chung trên sạp lán, cùng ăn chung cơm rau gian khổ ở chiến khu. Sau những lúc bàn bạc chuyện đánh Pháp, chống Mỹ giúp Lào trong công cuộc kháng chiến cứu nước, Bác Hồ và Hoàng thân lại cùng nhau đánh bóng chuyền, cùng ra ngồi câu cá thư giãn ven bờ suối; cùng chân đất vác cuốc đi trồng rau, trồng khoai tăng gia sản xuất.

Lần này, từ Việt Bắc trở về Lào, Hoàng thân cùng Đảng Nhân dân cách mạng Lào mở Đại hội thành lập Chính phủ kháng chiến và Mặt trận Lào yêu nước. Đại hội đại biểu của nhân dân các bộ tộc Lào đã bầu Hoàng thân Xuphanuvông làm Thủ tướng Chính phủ kháng chiến Lào, kiêm Chủ tịch Mặt trận Lào yêu nước.

Từ đó, Bác Hồ đã cử quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam qua giúp Lào cùng đánh giặc. Hoàng thân đã cùng nhân dân Lào chiến đấu đánh Pháp, chống Mỹ cho đến ngày giành lại được độc lập tự do hoàn toàn cho đất nước Lào.

Trong hai ngày 1 và 2-12-1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Lào tuyên bố xóa bỏ vĩnh viễn chế độ phong kiến lỗi thời, tiếp nhận đơn xin thoái vị của vua Lào để thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Đại hội đã bầu Hoàng thân Xuphanuvông làm Chủ tịch nước kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Tối cao và bầu ông Cayxón Phômvihãn làm Thủ tướng Chính phủ.

* * *

Mùa xuân năm 1990, tôi được Ủy ban Khoa học – Xã hội Lào mời đến Viêng Chăn để dịch cuốn sách “Hoàng thân Xuphanuvông – nhà lãnh đạo cách mạng” (do các lãnh tụ, chính khách, văn nghệ sĩ, trí thức trên thế giới viết về Hoàng thân Xuphanuvông) ra tiếng Việt.

Đây là những ngày tôi được sống gần gũi trong gia đình Hoàng thân, mới thấu hiểu tình cảm sâu đậm của Bác Hồ đối với Hoàng thân cũng như Hoàng thân và gia đình đối với Bác Hồ.

Sống trong nhà Hoàng thân, thường trong bữa cơm, lúc ngồi nghỉ ngơi bên bàn trà, Hoàng thân thường kể chuyện Bác Hồ cho chúng tôi nghe rằng, hồi ở chiến khu Việt Bắc, Hoàng thân đã cùng Bác Hồ chơi thể thao, tập thể dục, múa hát tập thể với cán bộ trong cơ quan; cùng tăng gia sản xuất, cuốc đất trồng rau.

Có một buổi sáng Hoàng thân dậy sớm và hỏi tiến sĩ Xinava (nay là Thứ trưởng Bộ Năng lượng – Khoáng sản) con út rằng: “Có nhớ hôm nay là ngày gì không?” Xinava thưa: “Ngày 19Tháng 5 – Ngày sinh của Bác Hồ”.

Con nhớ thế là tốt – Hoàng thân nói: Vậy thì các con đi mua trái cây ngon và hoa tươi về chúng ta cúng Bác Hồ.

* * *

Một hôm, Hoàng thân dẫn tôi vào phòng riêng chỉ tay vào bức tranh Bác Hồ ngồi với Lênin do ông tự tay vẽ bằng sơn dầu lên bức tường cạnh bàn viết của mình. Sau đó Hoàng thân xúc động chỉ từng món quà Bác Hồ tặng lúc ở Việt Bắc và Hà Nội, rồi lấy từ trong hòm ra từng thứ quà của Bác Hồ và nâng niu trên tay chiếc khăn phu-la len, xúc động nói: “Đây là chiếc khăn len Bác Hồ tặng trước khi Bác qua đời chưa đầy một tháng”.

Về sau này được gặp gỡ và làm việc với Bác Hồ nhiều lần, nhưng Hoàng thân vẫn nhắc lại cái buổi ban đầu bằng giọng bồi hồi: “Cuộc tiếp kiến lần đầu tiên với Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp tôi khẳng định dứt khoát phải theo đuổi sự nghiệp cách mạng, đến với Đảng Cộng sản và dấn thân vào công cuộc chiến đấu cứu dân, cứu nước Lào”…

Nhà văn Trần Công Tấn
Theo 
www.sggp.org.vn

Kim Y
ến (st)

Điện gửi Chính phủ Việt Nam

Bản thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) đã ký ngày 14-9 với Chính phủ Pháp (42) . Bản sao sẽ gửi về bằng máy bay. Gửi lời chào thân ái cụ Huỳnh, các nhân viên trong Chính phủ, Quốc hội và đồng bào toàn quốc.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc,
số 355, ngày 24-9-1946.
cpv.org.vn

—————————-

42. Tạm ước 14-9: Sau khi Hội nghị Phôngtennơblô không đi đến kết quả, để kéo dài thêm thời gian hoà hoãn và để tỏ thiện chí của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó đang có mặt ở Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, đã tranh thủ dàn xếp ký với Chính phủ Pháp bản Tạm ước ngày 14-9-1946, tại Pari. Nội dung của Tạm ước là sự thoả thuận tạm thời giữa ta và Pháp về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ. Chính phủ ta nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam.

Tạm ước 14-9 là một sách lược ngoại giao tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm làm cho nhân dân ta có thêm thời gian để chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược. Tr.293.

Lời phát biểu với nhân dân Pháp qua đài phát thanh Pari

Bổn phận của tôi gọi tôi về nước để giữ nhiệm vụ của tôi. Trước khi rời đất Pháp, tôi muốn tuyên bố một lần nữa, lòng thân ái của tôi đối với nhân dân Pháp, lòng khǎng khít của tôi đối với lý tưởng dân chủ mà dân tộc Pháp là người tiên phong. Mối cảm tình ở xung quanh tôi trong thời kỳ tôi ở đất Pháp, làm cho tôi cảm thấy thấm thía đến tận thâm tâm. Những cử chỉ thân ái mà nhân dân Việt Nam, do tôi đại diện, nhận được của nhân dân Pháp, giúp rất nhiều vào việc xây đắp tình thân thiện giữa hai dân tộc.

Công việc ở Hội nghị Phôngtennơblô chưa đưa đến mục đích, chưa đưa đến kết quả cụ thể thật đấy, nhưng tôi hiểu biết nhân dân Pháp, tôi biết rằng lý tưởng thời 1789 lúc nào cũng vẫn mạnh mẽ trong nhân dân Pháp.

Tôi tin chắc rằng nhân dân Pháp rất muốn nối với Việt Nam, nước Cộng hoà chị em với nước Cộng hoà Pháp, những mối dây liên lạc chặt chẽ. Một khi những sự hiểu nhầm đã tiêu tan, hội nghị Việt- Pháp sẽ lại mở, không lâu nữa, tôi hy vọng rằng sẽ đi tới sự thoả thuận mà hai bên mong muốn. Nước Pháp, một nước chiến đấu cho tự do và dân chủ, đã tỏ rõ lòng tôn trọng chủ quyền và tư cách của Việt Nam trong Hiệp định 6-3-46.

Ngoài ra, không gì làm cho nước Pháp để nhiều tâm trí nghĩ tới bằng việc tìm cách làm bành trướng ảnh hưởng của nước Pháp trên thế giới. Thế mà phương tiện hoà bình dễ bành trướng ảnh hưởng đó chỉ có thể là khối Liên hiệp Pháp trong đó nước Việt Nam là một trong những hội viên đầu tiên.

Tất cả mọi điều đều làm cho hai dân tộc chúng ta thân ái nhau: lý tưởng chung và quyền lợi chung. Không có điều gì làm ngǎn cản sự tiến triển của lịch sử.

Tình thân thiện Việt – Pháp một ngày gần đây, do một hiệp ước công bằng định rõ, sẽ làm cho khối Liên hiệp Pháp có uy danh và thịnh vượng. Cả đến nền hoà bình thế giới cũng sẽ lợi rất nhiều do tình thân thiện bền chặt giữa chúng ta.

Một lần nữa, tôi thành thực cảm ơn Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp.

Nói tối ngày 15-9-1946.

Báo Cứu quốc,
số 348, ngày 17-9-1946.
cpv.org.vn

Hình thức chiến tranh ngày nay

Chiến tranh ngày nay phức tạp vô cùng. Trước kia chỉ có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay trên mặt nước, nên người ta gọi là bình diện chiến tranh. Ngày nay đánh nhau ở cả trên không và cả ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, nên người ta gọi là lập thể chiến tranh. Trước kia chỉ đánh nhau về một mặt quân sự, nhưng ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là toàn diện chiến tranh.

I- VỀ QUÂN SỰ:

1. Đánh nhau trên mặt đất:

a- Dã chiến.- Hai bên đánh nhau ở ngoài mặt trận bằng súng ống, xe tǎng, đại bác.

b- Hoá học chiến. – Dùng súng bắn hay tàu bay thả các thứ hơi ngạt và hơi độc.

c- Gián điệp chiến.- Ngoài mặt trận phái gián điệp lẩn sang bên địch tuyên truyền hay dò xét tình hình.

d- Phá hoại các cơ quan trọng yếu của bên địch.

2. Đánh nhau trên mặt bể:

a- Hạm đội hai bên đánh nhau.

b- Dùng tàu chiến phong toả địch.

c- Cắt đứt đường giao thông của bên địch và tìm cách che chở đường giao thông của bên mình.

d- Phá hoại các cǎn cứ hải quân.

3. Đánh nhau trên không:

a- Phi cơ hai bên chiến đấu ở trên không.

b- Phái phi cơ đi ném bom những nơi quan trọng của bên địch.

c- Cho tàu bay đi dò xét tình hình các mặt trận và rải truyền đơn tuyên truyền.

d- Bay lên trên không để phòng vệ những nơi quan trọng dưới mặt đất.

II. VỀ KINH TẾ

1- Đảo loạn hay phá hoại kinh tế của bên địch.

2- Đối với bên địch, thi hành chính sách phong toả làm cho chúng bị cô lập về kinh tế, không thể mua bán với các nước ngoài.

3- Tìm mọi cách ngǎn cản bên địch không thể trù liệu được tiền tài hay phẩm vật để sung vào chiến phí.

4- Tổng động viên để có thể thu được hoặc giữ lấy tất cả các nguồn lợi.

5- Dùng mọi phương pháp để trù liệu chiến phí.

6- Thi hành mọi phương sách làm cho nhân dân được sống yên ổn, no đủ trong lúc có chiến tranh.

III- VỀ CHÍNH TRỊ, TỨC LÀ VỀ NGOẠI GIAO, NỘI CHÍNH VÀ TUYÊN TRUYỀN:

1- Nêu cao chính nghĩa và kêu gọi dư luận tán đồng lập trường của mình.

2- Đề phòng nước thứ ba đi về phe với địch.

3- Trên trường quốc tế, làm thế nào cho nước mình không bị cô lập mà vẫn giữ được địa vị ưu thắng.

4- Dùng mọi mánh khoé ngoại giao để chiếm được thắng lợi.

IV- TƯ TƯỞNG CHIẾN TRANH (1) TỨC LÀ GIÁN ĐIỆP CHIẾN HAY CÂN NÃO CHIẾN:

1- Dò xét tình hình bên địch về mặt chính trị, kinh tế, quân sự.

2- Xúi giục những phần tử bất bình hoặc những dân tộc khác ở nước địch nổi dậy phản kháng hay gây chuyện.

3- Ngǎn cản công cuộc tổng động viên của bên địch.

4- Phá hoại máy nước, máy đèn, dây điện, các đường giao thông.

5- Gây những cuộc bãi công của thợ thuyền hay cuộc bạo động của nông dân.

6- ám sát những người quan trọng của bên địch, ngầm mưu cuộc đảo chính để đánh đổ chính phủ.

7- Phao những tin tức hay những chuyện làm cho địch và dân bên địch bối rối, hoang mang, mất nhuệ khí, không còn tin tưởng về thắng lợi cuối cùng nữa.

8- Làm cho bên địch tê liệt không còn đủ sức gây chiến.

9- Đưa ngoại giao của bên địch đến chỗ bế tắc.

10- Gây nội chiến và phong trào cách mạng ở nước địch.

Nói tóm lại, chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khǎn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được.

Q.Th.

Báo Cứu quốc,
số 351, ngày 20-9-1946
cpv.org.vn

——————————-

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

 

 

 

Thư gửi gia đình ông Raymông Ôbrắc

Cảng Xa-it, ngày 22 tháng 9 nǎm 1946

Các bạn thân mến của tôi,

Từ khi chúng tôi lên đường, biển lặng, thời tiết đẹp. Hàng ngày, chúng tôi ngắm mặt trời mọc và mặt trời lặn, quang cảnh thật hùng vĩ và tuyệt vời.

Trên tàu, chúng tôi không có nhiều việc để làm. Chúng tôi đọc sách báo, nói chuyện, nghỉ ngơi và chúng tôi nhớ đến các bạn. Những người bạn mới của chúng tôi, các sĩ quan và thuỷ thủ, đều rất dễ mến. Các đồng chí của tôi (Thiện 2 , Huỳnh 3 và bốn người nữa mà các bạn chưa quen biết) và tôi, chúng tôi đều mạnh khoẻ. Tôi gửi đến các bạn những tình cảm thân thiết nhất của tôi. Tôi ôm chặt Giǎng Pie, Catêrin và cô cháu bé nhỏ thân thiết của tôi. Tôi gửi

chiếc hôn yêu quý cho Ginét và gửi lời chào các bạn của chúng ta: Bi-u, Đaxchiê và các bạn khác.

Hồ Chí Minh

Thư tiếng Pháp,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư trả lời bà Sốtxi trong Hội liên hiệp phụ nữ Pháp

Trên chiến hạm Đuymông Đuyếcvin,
ngày 22 tháng 9 nǎm 1946

Thưa bà,

Tôi xin cảm ơn bà về bức thư của bà, bức thư đã làm cho tôi vô cùng xúc động. Rõ ràng trong thư bà đã nói lên tình cảm chung của những bà mẹ Pháp có con đang đi lính ở Đông Dương. Vậy trong thư này tôi xin phép được trả lời tất cả những người phụ nữ Pháp có con, chồng, anh em, chồng chưa cưới hoặc bạn bè hiện đang làm quân dịch ở Đông Dương.

Theo Tạm ước được ký ngày 14 tháng 9 vừa qua giữa Chính phủ Pháp và Chính phủ Việt Nam, thì hai bên phải đình chỉ mọi sự đối địch. Về phần tôi, tôi sẽ làm hết sức mình để cho điều khoản này cũng như mọi điều khoản khác được thi hành một cách trung thực. Tôi mong rằng về phía những người bạn Pháp của chúng tôi họ cũng sẽ hành động như vậy. Như thế máu sẽ thôi không đổ nữa, và những nỗi lo âu của các bà mẹ Pháp và Việt Nam sẽ không còn.

Tuy nhiên, việc xem xét kỹ lưỡng nguyên nhân của những sự kiện đau xót đã làm đổ máu mối quan hệ giữa nhân dân hai nước chúng ta là rất cần thiết.

Các bà yêu đất nước mình, các bà mong muốn nước mình được độc lập và thống nhất. Nếu có kẻ nào tìm cách xâm phạm nền độc lập và sự thống nhất ấy, thì tôi tin chắc rằng các bà sẽ đấu tranh đến cùng để bảo vệ nó. Chúng tôi cũng thế, chúng tôi yêu Tổ quốc Việt Nam của chúng tôi, chúng tôi cũng muốn Tổ quốc chúng tôi độc lập và thống nhất. Liệu các bà có kết tội chúng tôi vì chúng tôi đã đấu tranh chống những kẻ tìm cách chinh phục và chia cắt Tổ quốc chúng tôi không?

Người Pháp đã đau khổ vì bị chiếm đóng trong bốn nǎm. Trong bốn nǎm ấy, các bà đã tiến hành “cuộc kháng chiến và đánh du kích”. Người Việt Nam chúng tôi cũng đã đau khổ vì bị chiếm đóng trong hơn 80 nǎm; chúng tôi cũng đã kháng chiến và đánh du kích.

Vì sao những người kháng chiến Pháp được coi như những anh hùng? Vì sao những người du kích Việt Nam lại bị xem như những tên ǎn cướp và những kẻ giết người?

Người ta cho rằng những người Pháp đến Đông Dương là những người đi khai hoá. Tôi cũng mong như vậy! Nhưng người ta không thể khai hoá người khác bằng đại bác và xe tǎng!

Nếu những thanh niên Pháp đến Việt Nam như những công nhân, kỹ thuật viên hoặc nhà bác học, thì tôi xin bảo đảm với các bà rằng họ sẽ được đón tiếp nồng nhiệt như những người bạn, những người anh em. Và các bà mẹ Pháp sẽ không có điều gì phải lo ngại cho số phận của họ cả.

Nhưng, một khi những người này đến với tư cách là những kẻ đi chinh phục có võ trang và lại yên trí rằng tất cả những người yêu nước bản xứ đều là kẻ thù của họ, còn những người kia, về phía họ, họ đã quyết tâm đứng lên bảo vệ đất nước quê hương Gủa mình, thì sự đối địch là điều không thể tránh khỏi.

Hơn nữa, việc tuyên truyền thiên vị lại luôn luôn tìm cách thổi phồng các sự kiện và kích động tinh thần. Người ta nói với các bà có bao nhiêu người Pháp bị giết và bị thương, nhưng không hề nói với các bà là có bao nhiêu người kháng chiến Việt Nam bị chết và bị thương, bao nhiêu làng mạc Việt Nam bị thiêu huỷ.

Trong khi một bà mẹkPháp thương khóc đứa con của mình thì có biết bao nhiêu bà mẹ Việt Nam vừa khóc thương những người con bị chết lại vừa đau xót vì nỗi nhà tan cửa nát!

Cần phải nói với các bà rằng mỗi khi có một người Pháp chết thì ít nhất cũng có 10 người Việt Nam phải bỏ mạng, chỉ vì một lẽ đơn giản là người Pháp có máy bay, tàu bò và các thứ vũ khí tinh xảo khác, còn người Việt Nam thì không có những thứ đó!

Phải chấm dứt cuộc huynh đệ tương tàn này! Người Việt Nam và người Pháp chúng ta cũng theo đuổi một lý tưởng giống nhau: Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Chúng ta có cùng một mục đích giống nhau là chế độ dân chủ. Chúng ta cần nhờ cậy lẫn nhau. Người Việt Nam chúng tôi cũng yêu mến nước Pháp và những người Pháp bạn hữu, chúng tôi bảo đảm tôn trọng những quyền lợi kinh tế và vǎn hoá của người Pháp ở Việt Nam. Nhưng chính vì để thực hiện sự hợp tác bình đẳng và hữu nghị ấy, chúng tôi quyết dùng tất cả sức mình để giành được nền độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của chúng tôi.

Chỉ cần nước Pháp công nhận nền độc lập của chúng tôi thì nước Pháp sẽ chiếm được trái tim và tình cảm của tất cả những người Việt Nam! Và chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng khối Liên hiệp Pháp, một khối liên hiệp tự do, vững chắc và hữu nghị.

Theo tinh thần bốn bể đều là anh em, tôi yêu mến thanh niên Pháp cũng như yêu mến thanh niên Việt Nam. Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người Việt Nam đều đáng quý như nhau. Tôi thành thực mong muốn thanh niên Pháp và thanh niên Việt Nam hiểu biết lẫn nhau và yêu mến nhau như anh em.

Hỡi các bà mẹ Pháp! Tôi kêu gọi tinh thần yêu nước cao quý và tình mẫu tử của các bà. Các bà hãy giúp chúng tôi ngǎn chặn những sự hiểu lầm và mau chóng gây dựng mối tình hữu nghị và tinh thần hoà hợp giữa các con em chúng ta. Và các bà sẽ nhận được tấm lòng biết ơn của người con không chỉ của thanh niên Pháp mà cả của thanh niên Việt Nam.

Hồ Chí Minh

Bút tích tiếng Pháp,
lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
cpv.org.vn

Những bức điện gửi ngày 24-9-1946

Điện gửi Bộ trưởng phụ trách
Lục quân Pháp Misơlê

Gửi ngài Misơlê, Bộ trưởng phụ trách lục quân. Pari.

Tôi đang ở trên chiến hạm Đuymông Đuyếcvin. Thuyền trưởng Ônây (Oneil) và đoàn thuỷ thủ đều rất đáng mến.

Xin gửi Ngài những lời cảm ơn chân thành và hữu nghị.

Nhờ Ngài chuyển lời chúc mừng của tôi đến phu nhân Misơlê và hôn các cháu.

H.C.M.

Điện gửi tướng Gioăng,
Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp

Gửi Tướng quân Gioǎng, Tổng tham mưu trưởng. Pari.

Tôi rất mạnh khoẻ trên chiến hạm Đuymông Đuyếcvin. Thuyền trưởng Ônây và nhân viên trên tàu đều rất đáng mến.

Xin gửi Ngài những lời cảm ơn chân thành và hữu nghị.

Xin gửi lời chúc mừng tới tướng quân phu nhân và hôn các cháu.

H.C.M.

Điện gửi Đô đốc Muydơlia

Gửi Đô đốc Muydơlia (Muselir). Pari.

Chúng tôi rời Cảng Xa-it hôm nay. Xin gửi Ngài những lời cảm ơn chân thành và hữu nghị.

H.C.M.

Điện gửi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Gửi Chính phủ Việt Nam. Hà Nội.

Chúng tôi rời Cảng Xa-ít ngày 24 tháng 9. Mọi người đều khoẻ mạnh. Gửi lời chào thân ái tới Cụ Huỳnh, Cụ Tố, Chính phủ và toàn thể đồng bào.

H.C.M.

Bút tích tiếng Pháp,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

 

 

 

Những bức điện gửi trên đường về nước

Điện gửi Tổng chỉ huy
Lực lượng Hải quân Lơmonniê

Gửi Ngài Lơmonniê (Lemonnier),

Tổng chỉ huy lực lượng Hải quân. Pari.

Cuộc hành trình tuyệt diệu trên chiến hạm Đuymông Đuyếcvin. Thuyền trưởng Ônây và đoàn thuỷ thủ rất đáng mến.

Xin gửi Ngài những lời cảm ơn chân thành và hữu nghị.

H.C.M.

Điện gửi Cụ Huỳnh Thúc Kháng
và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Gửi Cụ Huỳnh và Chính phủ Việt Nam. Hà Nội.

Chúng tôi qua Hồng Hải. Mọi việc đều tốt đẹp. Nếu đã nhận được bản sao Tạm ước, yêu cầu giải thích cho đồng bào và bắt đầu ngay những việc cần thiết để thực hiện Tạm ước đó.

Gửi lời chào thân ái đến Chính phủ, Quốc hội và toàn thể đồng bào.

H.C.M.

Điện gửi Chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Chúng tôi ở lại Gibuti (Djibouti) đến 30 tháng 9, sau đó ở Tơranhcômali, Xâylan (Trincomali, Ceylan) 1 từ ngày 9 đến ngày 10 tháng 10. Yêu cầu cho biết tình hình chung trong nước.

Địa chỉ: Chiến hạm Đuymông Đuyếcvin.

H.C.M.

Điện gửi Tiến sĩ Anây
Đại diện Chính phủ Ấn Độ tại Côlômbô

Gửi tiến sĩ Anây,

Đại diện Chính phủ ấn Độ tại Côlômbô,

Tôi gửi Ngài tấm ảnh của tôi và xin cảm ơn Ngài. Thư ký của tôi đã ghi sai tên họ của Ngài. Mong Ngài thứ lỗi. Gửi tới Ngài những lời chúc tốt đẹp nhất.

H.C.M.

Điện gửi Thủ tướng Ấn Độ Păngđi Nêru
(PANDIT NEHRU), Chính phủ Ấn Độ, Niu Đêli

Tôi đã gặp tiến sĩ đáng kính Anây (Aney). Xin cảm ơn tình hữu nghị của Ngài. Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi gửi lời chào anh em tới Ngài, Chính phủ và nhân dân của dân tộc ấn Độ vĩ đại.

H.C.M.

Điện gửi Cao ủy Pháp tại Sài Gòn

Điện mật.

Gửi Cao uỷ Pháp tại Sài Gòn.

Cảm ơn bức điện quý mến của Ngài. Tôi sẵn sàng gặp gỡ các Ngài, tuỳ theo sự sắp xếp của các Ngài.

H.C.M.

Điện gửi Mahátma Găngđi

Gửi Mahátma Gǎngđi (Mahatma Gandi)

Nhờ Chính phủ ấn Độ tại Đêli chuyển giúp.

Xin gửi tới Ngài lời chúc mừng nồng nhiệt nhất nhân kỷ niệm lần thứ 77 ngày sinh của Ngài và chúc Ngài trường thọ hai lần 77 tuổi.

Chủ tịch nước Việt Nam
Hồ Chí Minh
Trên chiến hạm Đuymông Đuyếcvin

Điện gửi tướng Gioăng,
Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp

Gửi Tướng Gioǎng,

Thưa Tướng quân, người bạn thân mến,

Chúng tôi vừa rời Cảng Xtơranhpôli ngày hôm nay. Còn chừng mươi ngày nữa là tôi sẽ về đến nước tôi.

Tôi vẫn rất khoẻ trên chiến hạm Đuymông Đuyếcvin. Tôi thành thật cảm ơn Ngài về điều đó.

Trung tá Tuytǎnggiơ (Tutenges), đã cùng tôi lượt đi, bây giờ lại cùng về với tôi, là một người can đảm. Nhân dịp này tôi phải báo để Ngài quan tâm tới trung tá.

Ngay khi về nước, tôi sẽ làm hết sức mình để củng cố tình hữu nghị và hợp tác giữa hai dân tộc chúng ta.

Tôi gửi Ngài những tình cảm hữu nghị quý báu nhất và nhờ Ngài chuyển lời chúc mừng của tôi tới tướng quân phu nhân và hôn các cháu.

H.C.M.

Bút tích tiếng Pháp, bản chụp
lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn